THƠ BÁC ĐẦY TRĂNG

Tìm thấy 7,788 tài liệu liên quan tới từ khóa "THƠ BÁC ĐẦY TRĂNG":

Cảm nghĩ về nhận định ''''Thơ Bác đầy trăng''''

CẢM NGHĨ VỀ NHẬN ĐỊNH ''''THƠ BÁC ĐẦY TRĂNG''''

Nhà văn Hoài Thanh có nói: “Thơ Bác đầy trăng”. Thật vậy, Bác đã viết nhiều bài thơ trăng. Trong số đó, bài “Ngắm trăng” là bài thơ tuyệt tác, mang phong vị Đường thi, được nhiều người ưa thích. NGẮM TRĂNG “Trong tù không rượu cũng không hoa Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ. Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ,Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”.Bài thơ rút trong “Nhật ký trong tù”; tập nhật ký bằng thơ được viết trong một hoàn cảnh đoạ đầy đau khổ, từ tháng 8-1942 đến tháng 9-1943 khi Bác Hồ bị bọn Tưởng Giới Thạch bắt giam một cách vô cớ. Bài thơ ghi lại một cảnh ngắm trăng trong nhà tù, qua đó nói lên một tình yêu trăng, yêu thiên nhiên tha thiết.Hai câu thơ đầu ẩn chứa một nụ cười thoáng hiện. Đang sống trong nghịch cảnh, và đó cũng là sự thật “Trong tù không rượu cúng không hoa” thế mà Bác vẫn thấy lòng mình bối rối, vô cùng xúc động trước vầng tăng xuất hiện trước cửa ngục đêm nay. Một niềm vui chợt đến cho thi nhân bao cảm xúc, bồi hồi.Trăng, hoa, rượu là ba thú vui tao nhã của khách tài tử văn chương. Đêm nay trong tù, Bác thiếu hản rượu và hoa, nhưng tâm hồn Bác vẫn dạt dào trước vẻ đẹp hữu tình của thiên nhiên. Câu thơ bình dị mà dồi dào cảm xúc. Bác vừa băn khoăn, vừa bối rối tự hỏi mình trước nghịch cảnh: Tâm hồn thì thơ mộng mà chân tay lại bị cùm trói, trăng đẹp thế mà chẳng có rượu, có hoa để thưởng trăng?“Trong tù không rượu cũng không hoa,Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ”.Sự tự ý thức về cảnh ngộ đã tạo cho tư thế ngắm trăng của người tù một ý nghia sâu sắc hơn các cuộc ngắm trăng, thưởng trăng thường tình. Qua song sắt nhà tù, Bác ngắm vầng trăng đẹp. Người tù ngắm trăng với tất cả tình yêu trăng, với một tâm thế “vượt ngục” đích thực? Song sắt nhà tù không thể nào giam hãm được tinh thần người tù có bản lĩnh phi thường như Bác:“Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ”…Từ phòng giam tăm tối, Bác hướng tới vầng trăng, nhìn về ánh sáng, tâm hồn thêm thư thái. Song sắt nhà tù tỉnh Quảng Tây không thể nào ngăn cách được người tù và vầng trăng! Máu và bạo lực không thể nào dìm được chân lý, vì người tù là một thi nhân, một chiến sĩ vĩ đại tuy “thân thể ở trong lao” nhưng “tinh thần” ở ngoài lao”Câu thứ tư nói về vầng trăng. Trăng có nét mặt, có ánh mắt và tâm tư. Trăng được nhân hóa như một người bạn tri âm, tri kỷ từ viễn xứ đến chốn ngục tù tăm tối thăm Bác. Trăng ái ngại nhìn Bác, cảm động không nói nên lời, Trăng và Bác tri ngộ “đối diện đàm tâm”, cảm thông nhau qua ánh mắt. Hai câu 3 và 4 được cấu trúc đăng đối tạo nên sự cân xứng hài hoà giữa người và trăng, giữa ngôn từ, hình ảnh và ý thơ:“Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ,Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”.Ta thấy: “Nhân, Nguyệt” rồi lại “Nguyệt, Thi gia” ở hai đầu câu thơ và cái song sắt nhà tù chắn ở giữa. Trăng và người tù tâm sự với nhau qua cái song sắt nhà tù đáng sợ ấy. Khoảnh khắc giao cảm giữa thiên nhiên và con người xuất hiện một sự hóa thân kỳ diệu: “Tù nhân” đã biến thành thi gia. Lời thơ đẹp đầy ý vị. Nó biểu hiện một tư thế ngắm trăng hiếm thấy. Tư thế ấy chính là phong thái ung dung, tự tại, lạc quan yêu đời, yêu tự do. “Ngắm trăng” là một bài thơ trữ tình đặc sắc. Bài thơ không hề có một chữ “thép” nào mà vẫn sáng ngời chất “thép”. Trong gian khổ tù đầy, tâm hồn Bác vẫn có những giây phút thảnh thơi, tự do ngắm trăng, thưởng trăng.Bác không chỉ ngắm trăng trong tù. Bác còn có biết bao vần thơ đặc sắc nói về trăng và niềm vui ngắm trăng: Ngắm trăng trung thu, ngắm trăng ngàn Việt Bắc, đi thuyền ngắm trăng,… Túi thơ của Bác đầy trăng: “Trăng vào cửa sổ đòi thơ…”, “… Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền…”, “Sao đưa thuyền chạy, thuyền chờ trăng thưo…” Trăng tròn, trăg sáng… xuất hiện trong thơ Bác vì Bác là một nhà thơ giàu tình yêu thiên nhiên, vì Bác là một chiến sĩ giàu tình yêu đất nước quê hương. Bác đã tô điểm cho nền thi ca dân tộc một số bài thơ trăng đẹp.Đọc bài thơ tứ tuyệt “Ngắm trăng” này, ta được thưởng một thi phẩm mang vẻ đẹp cổ kính, hoa lệ. Bác đã kế thừa thơ ca dân tộc, những bài ca dao ói về trăng làng quê thôn dã, trăng thanh nơi Côn Sơn của Nguyễn Trãi, trăng thề nguyền, trăng chia ly, trăng đoàn tụ, trăng Truyện Kiều. “Song thưa để mặc bóng trăng vào”… của Tam Nguyên Yên Đổ, v.v….Uống rượu, ngắm trăng là cái thú thanh cao của các tao nhân mặc khách xưa, nay – “Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén” (Nguyễn Trãi). Ngắm trăng, thưởng trăng đối với Bác Hồ là một nét đẹp của tâm hồn rất yêu đời và khát khao tự do. Tự do cho con người. Tự do để tận hưởng mọi vẻ đẹp thiên nhiên của quê hương xứ sở. Đó là cảm nhận của nhiều người khi đọc bài thơ “Ngắm trăng” của Hồ Chí Minh.
Xem thêm

2 Đọc thêm

dàn bài : thơ bác hồ đầy trăng

DÀN BÀI : THƠ BÁC HỒ ĐẦY TRĂNG

Trăng là nguồn cảm hứng vô tận của biết bao nhiêu thi nhân từ xưa cho đến nay, ánh trăng không chỉ mang lại vẻ đẹp cho thiên nhiên đất nước mà hơn thế, có những lúc ánh trăng còn trở thành người bạn tri kỉ. Để các thi nhân chia sẻ buồn vui, có lúc trăng như dòng suối mát làm tan đi những ưu phiền, mệt mỏi sau những giờ phút căng thẳng. Bác của chúng ta cũng thế, cũng tìm đến trăng nhưng sự xuất hiện trăng trong thơ Bác rất khác lạ so với bao thi nhân khác.Các thi nhân xưa thưởng thức trăng ở những nơi thanh tịnh có rượu có hoa còn Bác thì ánh trăng xuất hiện trong hoàn cảnh nghiệt ngã: trong nhà tù và trong hoàn cảnh chiến đấu rất bộn bề. Trong những giờ phút vất vả với biết bao nhiêu công việc của đất nước hay những lúc trong nhà tù tăm tối Bác cũng không hờ hững với trăng. Trăng như người bạn chia sẻ những nhọc nhằn, giải tỏa bao nhiêu áp lực trong cuộc sống. Chính vì thế mà nhà văn Hoài Thanh mới khẳng định Thơ Bác đầy trăng
Xem thêm

12 Đọc thêm

SOẠN BÀI: NGẮM TRĂNG

SOẠN BÀI: NGẮM TRĂNG

                        Hướng dẫn soạn văn, soạn bài, học tốt bài NGẮM TRĂNG (Hồ Chí Minh) I. VỀ TÁC PHẨM 1. Hoàn cảnh sáng tác Tháng 8-1942, Hồ Chí Minh từ Pác Bó (Cao Bằng) bí mật lên đường sang Trung Quốc để tranh thủ sự viện trợ quốc tế cho cách mạng Việt Nam, nhưng khi đến gần thị trấn Túc Vinh thì Người bị chính quyền địa phương ở đây bắt giữ, giải đi khắp gần 30 nhà giam của 13 huyện thuộc tỉnh Quảng Tây, bị đày đoạ hơn một năm trời. Thời gian này, Người đã viết Nhật kí trong tù bằng thơ chữ Hán, gồm 133 bài, phần lớn là thơ tứ tuyệt. Tập thơ thể hiện một tâm hồn cao đẹp, ý chí cách mạng kiên cường và nghệ thuật thi ca đặc sắc. 2. Tác phẩm Bài thơ Ngắm trăng được trích trong tập Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh. II. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Về các câu thơ dịch: - Câu thứ hai trong nguyên tác có nghĩa là “Trước cảnh đẹp đêm nay biết làm thế nào?”. Câu thơ dịch dịch thành: Cảnh đẹp đêm nay, khó hững hờ đã làm mất đi cái xốn xang, bối rối của nhân vật trữ tình (cũng là mất đi sự lãng mạn và nhạy cảm trước thiên nhiên trong tâm hồn của Bác). - Hai câu thơ cuối (bản dịch) cũng kém phần đăng đối hơn so với phiên âm. Hơn nữa từ nhòm và ngắm trong câu cuối là hai từ đồng nghĩa, khiến cho lời dịch không bảo đảm được sự cô đúc của ý tứ và thể thơ. 2. Thường người ta ngắm trăng vào những lúc thảnh thơi, thư thái. Thế nhưng ở đây, Hồ Chí Minh lại ngắm trăng trong một hoàn cảnh rất đặc biệt: ở trong tù. Khi Bác nói “Trong tù không rượu cũng không hoa” thì không có nghĩa là Bác đang than thở cũng không phải đó là một lời phê phán. Chỉ có thể nghĩ rằng, trước đêm trăng tuyệt đẹp ấy, Bác mong được thưởng trăng một cách trọn vẹn (và đúng là thật tiếc nếu không có rượu, có hoa). Chính việc nhớ đến rượu và hoa trong cảnh ngục tù này đã cho thấy, người tù không hề vướng bận gì về vật chất và những gian nan mà mình đang phải chịu. Người tù vẫn ung dung tự tại, vẫn thả hồn mình cùng với thiên nhiên. 3. Hai câu cuối của bài thơ chữ Hán đối nhau rất chỉnh: Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt, Nguyệt tòng song khích khán thi gia. Các từ chỉ người (nhân, thi gia) và các từ chỉ trăng (nguyệt) đặt ở hai đầu, ở giữa là cửa nhà tù (song). Thế nhưng, giữa người và trăng vẫn tìm được sự giao hoà với nhau. Cấu trúc đối này đã làm nổi bật tình cảm mãnh liệt giữa người và trăng, nổi bật sự gắn bó thân thiết của một mối quan hệ từ lâu đã trở thành tri kỉ (Bác với trăng). 4. Hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh hiện lên trong bài thơ nổi bật ở khía cạnh người chiến sĩ không chút bận tâm về gông cùm, đói rét,…Trước khó khăn, Bác vẫn giữ được phong thái ung dung, tự tại. Bài thơ còn thể hiện nổi bật tâm hồn nghệ sĩ của Bác Hồ, một tâm hồn luôn rộng mở với thiên nhiên. 5*. Nhận xét của Hoài Thanh: “Thơ Bác đầy trăng” là có ý chỉ thơ Bác có nhiều bài viết về trăng. Hơn nữa còn có nhiều bài miêu tả trăng rất đẹp và ấn tượng, ví dụ: - Các bài như: Ngắm trăng (vọng nguyệt), Trung thu, Đêm thu (Thu dạ), … là những bài thơ nằm trong tập Nhật kí trong tù. - Các bài như: Rằm tháng giêng (Nguyên tiêu), Cảnh khuya, Tin thắng trận (Báo tiệp),…là những bài Bác viết trong thời kì kháng chiến chống Pháp. Cuộc ngắm trăng trong bài Vọng nguyệt giống như các cuộc ngắm trăng khác trong những bài thơ được Bác làm khi phải chịu cảnh tù đày. Song có thể nói, mỗi bài thơ Bác viết về trăng lại có những nét riêng: trăng đầy sức sống, đầy sức xuân trong Rằm tháng giêng; trăng thi vị và tri kỉ trong Báo tiệp (Tin thắng trận),…Nói chung, ở tất cả những bài này, Bác đều đã cho người đọc thấy vẻ đẹp của một tâm hồn thi sĩ, luôn mở rộng lòng để giao hoà cùng với thiên nhiên. III. RÈN LUYỆN KỸ NĂNG Đọc bài thơ bằng giọng nhẹ nhàng, chậm rãi, thể hiện những suy nghĩ lắng sâu của tác giả.  Copyright ®  [ http://wWw.SoanBai.Com ]
Xem thêm

1 Đọc thêm

Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác

PHÂN TÍCH BÀI THƠ VIẾNG LĂNG BÁC

Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác Bài làm: Sinh thời, Bác Hồ luôn luôn nghĩ đến miền Nam, ngày đêm thương nhớ miền Nam. Với Bác, miền Nam là niềm vui, là hạnh phúc, là nỗi đau không lúc nào nguôi: “Miền Nam trong trái tim tôi”. Niềm mong mỏi thiết tha của Bác là miền Nam mau được giải phóng. Miền Nam cũng ngày đêm thương nhớ Bác, mong ngày giải phóng để được gặp Bác kính yêu. Nhưng tiếc thay, khi Bắc Nam sum họp một nhà thì Bác không còn nữa. Lòng thương nhớ, nỗi niềm đau đớn của đồng bào và chiến sĩ miền Nam dồn nén bao nhiêu năm đã được nhà thơ Viễn Phương thể hiện trong bài Viếng lăng Bác. Bài thơ không những chỉ thể hiện dòng cảm xúc trào dâng của nhà thơ mà còn thể hiện hình tượng lãnh tụ Hồ Chí Minh bằng những hình ảnh vừa quen thuộc, vừa giàu sức khái quát, vừa lung linh gợi cảm. Bằng cảm xúc chân thực và ngôn ngữ thơ gợi cảm, Viễn Phương đã nói hộ chúng ta một chân lý: Bác Hồ vĩ đại sống mãi trong lòng nhân dân ta. Bài thơ ra đời năm 1976, khi lần đầu tiên sau giải phóng miền Nam, Viễn phương ra thăm Lăng Bác. Bài thơ rất ngắn gọn, súc tích nhưng có sức gợi tạo nên sự xúc động cho người đọc. Ngôn ngữ thơ tuôn trào theo theo dòng cảm xúc chân thành, tha thiết. Mở đầu bài thơ, Viễn Phương đã bày tỏ ngay tình cảm sâu nặng, ruột thịt của mình bằng câu thơ giản dị: Con ở miềm Nam ra thăm lăng Bác. Tình cảm giữa miền Nam và Bác Hồ luôn luôn là tình cảm ruột thịt “Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà” (Tố Hữu) và tình cảm của miền Nam đối với Bác cũng là tình cảm nhớ mong da diết “Miền Nam mong Bác nỗi mong cha” (Tố Hữu). Tự đáy lòng của người con đến thăm cha, Viễn Phương nói với Bác: Con ở miền Nam…. Câu thơ giản dị nhưng bao hàm một ý nghĩa lớn. Trong tim Bác và trong tim miền Bắc, Miền Nam luôn luôn là nỗi đau chia cắt, nỗi nhớ thương, là niềm tự hào, là biểu tượng anh hùng, bất khuất, dũng cảm, kiên cường, là thành đồng Tổ Quốc… Giờ đây, nhà thơ mang theo cả niềm tự hào đó của đồng bào miền Nam để đến với Bác. Hình ảnh đầu tiên trong lăng làm nhà thơ xúc động là hình ảnh hàng tre: Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng Hàng tre bát ngát cuốn hút cảm xúc của nhà thơ. Qua hình ảnh hàng tre quen thuộc tác giả gửi gắm một ý nghĩa tượng trưng nhằm ca ngợi Bác, ca ngợi dân tộc. Chắc rằng, cũng như mọi người Việt Nam, trong tâm khảm nhà thơ, cây tre là hình ảnh giản dị, thân thuộc, đời đời gắn bó với quê hương làng xóm. Hàng tre xanh xanh trong vườn Bác gợi cho người đọc nhiều liên tưởng. Hàng tre gợi hình ảnh mọi miền quê hương đất nước, nhất là hình ảnh miền Nam yêu thương. Tre kiên cường trong bão táp mưa sa như dân tộc ta vững vàng qua phong ba bão tố, như Bác Hồ suốt đời sống giản dị nhưng kiên cường tranh đấu vì độc lập tự do của dân tộc. Hoà vào dòng người thăm lăng, nhà thơ tiếp tục dòng suy tưởng. Lời thơ bỗng dạt dào một cảm xúc tự hào, thành kính, thương nhớ Bác: Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân Ai đã từng một lần đi viếng lăng Bác mới hiểu hết hàm ý trong câu thơ của Viễn Phương. Ngày ngày, mặt trời - chúa tể của thiên nhiên - thán phục một mặt trời trong lăng rất đỏ. Mặt trời rất đỏ, hình ảnh tượng trưng cho Bác Hồ - là mặt trời cách mạng, là nguồn ánh sáng rực rỡ không bao giờ tắt, mãi mãi chiếu rọi con đường đi tới của dân tộc Việt Nam. Nhiều nhà thơ đã sử dụng hình ảnh mặt trời để thể hiện ánh sáng của lý tưởng cách mạng, nhưng đối sánh hai hình ảnh mặt trời của Viễn Phương quả là rất độc đáo. Đây là một sáng tạo nghệ thuật có tác dụng bộc lộ nội dung rất hiệu quả. Không nhiều lời, chỉ một hình ảnh mặt trời rất đỏ, nhà thơ đã khái quát được hình ảnh Bác Hồ vĩ đại. Nhà thơ đã nói hộ chúng rằng: Bác Hồ là mặt trời cách mạng đẹp nhất, rực rỡ nhất, chói lọi nhất luôn luôn toả sáng trong tâm hồn người Việt Nam. Cùng với mặt trời ngày ngày đi qua trên lăng là dòng người đi trong thương nhớ. Nhịp thơ chầm chậm như bước chân của dòng người lặng lẽ đi trong suy tưởng, bao trùm một một không khí thương nhớ Bác không nguôi, thành kính kết tràng hoa tình yêu dâng bảy mươi chín mùa xuân của Người. “Người ta là hoa của đất”, nhà thơ thật sâu sắc và tinh tế khi tôn quí nhân dân. Mỗi người dân là một bông hoa và dòng người đi trong thương nhớ chính là tràng hoa dâng lên Bác. Ngày ngày… ngày ngày …, thời gian không ngừng trôi và lòng người Việt Nam không bao giờ nguôi tình cảm nhớ thương, yêu quí, kính trọng đối với Bác. Đặc biệt xúc động là khi vào trong lăng, thấy Bác nằm nghỉ, nhà thơ sững sờ, nghẹn ngào, đau đớn: Bác nằm trong giấc ngủ bình yên Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền, Vẫn biết trời xanh là mãi mãi , Mà sao nghe nhói ở trong tim Bác nằm đó như đang trong giấc ngủ bình yên sau bảy mươi chín mùa xuân không hề nghỉ. Từ ánh điện mờ ở trong lăng, nhà thơ liên tưởng đến một hình ảnh rất đẹp: vầng trăng sáng dịu hiền. Hình ảnh đó đã đưa người đọc vào một thế giới huyền diệu, trong sáng và thanh khiết; càng gợi ta nghĩ đến tình yêu thiên nhiên, yêu trăng nồng nàn của Bác. Vầng trăng kia đã bao lần sáng lên trong thơ Người. Cả khi trong ngục: “Người ngắm trăng soi qua cửa sổ, trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”. Cả những khi bận rộn việc nước việc quân, Bác vẫn thấy “trung thu trăng sáng như gương”, “rằm xuân lồng lộng trăng soi”, “trăng ngân đầy thuyền”, “trăng vào cửa sổ đòi thơ”, “trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa…” Giờ đây, Bác nằm đó, trong giấc ngủ bình yên, giữa vầng trăng sáng dịu hiền. Vẫn biết rằng Bác như trời xanh, mãi mãi sống trong sự nghiệp của chúng ta. Nhưng con tim nhà thơ đau đớn vô cùng khi đứng trước Người. Mà sao nghe nhói ở trong tim, chỉ một chữ nhói cũng đủ nói lên nỗi quặn đau, thương nhớ không gì bù đắp được vì mất Bác, vì nỗi thiếu vắng Bác. Và nỗi đau không còn kìm ném được nữa, nó trào lên dữ dội khi nhà thơ chia tay với Bác: Mai về miền Nam, thương trào nước mắt Muốn làm con chim hót quanh lăng Muốn làm bông hoa toả hương đâu đây Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này. Thương Bác, thương đến trào nước mắt, một tình cảm yêu quý mãnh liệt, trọn vẹn như tình cảm của người con đối với người cha ruột thịt. Nhà thơ chia tay Bác trong tiếng khóc nấc nở nghẹn ngào. Làm sao ngăn được dòng nước mắt thương nhớ Bác-một con người vừa vĩ đại, thanh cao, vừa gần gũi thân thiết với chúng ta, một con người suốt đời hy sinh, cống hiến cho dân tộc nay vĩnh viễn nằm lại trong lăng? Nhà thơ lưu lưyến không muốn rời xa Bác, chỉ ước muốn biến thành con chim, bông hoa, cây tre, góp tiếng hót, làn hương quanh nơi Bác nghỉ cho trọn niềm trung hiếu với Người. Đoạn thơ dạt dào tình cảm, nhịp điệu thiết tha, cùng với hình ảnh cây tre trung hiếu một lần nữa truyền đến người đọc sự xúc động nghẹn ngào. Bài thơ ngắn, nhưng tác giả đã thành công khi sử dụng hàng loạt hình ảnh ẩn dụ mang tính tượng trưng sâu sắc. Các hình ảnh hàng tre xanh xanh, giữa bão táp mưa sa, đến các hình ảnh mặt trời rất đỏ, tràng hoa, bảy mươi chín mùa xuân, vầng trăng sáng dịu hiền, trời xanh là mãi mãi đã gợi cho người đọc thấy trọn vẹn hình tượng Bác Hồ gần gũi, cao quý, thanh khiết, vĩ đại biết bao. Ngoài ra, nó còn gợi đến hình ảnh quê hương, đất nước, nhân dân. Nhà thơ đã có nhiều dụng ý khi sử dụng các hình ảnh rất đẹp, rất lớn lao của vũ trụ: mặt trời, vầng trăng, trời xanh. Những hình ảnh đó tượng trưng cho cái vĩ đại, lớn lao của Bác Hồ. Bác như vầng mặt trời rực rỡ, như vầng trăng sáng dịu hiền, như bầu trời xanh. Ở Bác toả ra ánh sáng của trí tuệ thiên tài và lấp lánh ánh sáng của một tâm hồn cao đẹp. Còn hình ảnh hàng tre xanh xanh lại tượng trưng cho cái bình dị, gần gũi của Người. Và hơn thế nữa, tất cả các hình ảnh ấy đều gợi cho ta thấy sự bất tử của Bác Hồ. Người sống mãi trong lòng nhân dân ta, trong sự nghiệp của chúng ta. Mãi mãi là vị cha già thân thiết, yêu quý của chúng ta. Viếng lăng Bác không những là tiếng khóc đau đớn, nghẹn ngào trước sự ra đi của Bác, là lòng thương nhớ không nguôi, lòng kính phục vô hạn của nhà thơ Viễn Phương và của nhân dân ta đối với Bác Hồ mà bài thơ còn diễn tả thành công hình tượng Bác Hồ vĩ đại bằng những hình ảnh đẹp, nhịp điệu tha thiết, cảm xúc nồng nàn chân thực. Âm hưởng của bài thơ ngân vang mãi trong lòng người đọc. Bài thơ được phổ nhạc càng trở nên truyền cảm sâu xa, làm xúc động hàng triệu trái tim Việt Nam từ 1976 đến nay. Trong hai cuộc kháng chiến, nhà thơ Viễn Phương hoạt động ở Nam Bộ, và đã sáng tác nhiều bài thơ về Bác Hồ. Có bài tác giả viết khi bị địch giam cầm ở các trại giam Phú Lợi, Lê Văn Duyệt, không có giấy bút, Viễn Phương sáng tác thầm trong đầu và đọc cho các đồng chí cùng khám nghe. Kỳ diệu thay, Viễn Phương chỉ đọc một vài lần, mọi người đều thuộc, rồi những khi bị địch bắt đi lao động, họ lại đọc cho bạn tù ở khám khác nghe, cứ vậy thơ Viễn Phương được lan truyền trong nhà tù. Phải đến bài thơ Viếng Lăng Bác, Viễn Phương mới thực sự có một bài thơ hay về Bác. Dưới đây là cuộc trò chuyện giữa ông và phóng viên VNQĐ PV: Thưa nhà thơ Viễn Phương, trong một lần nào đó, tôi được đọc một bài viết của anh Lê Quang Vịnh trên báo Sài Gòn Giải phóng, kể rằng: “Lúc tôi 25 tuổi, bị bọn Mỹ – Diệm kết án tử hình rồi chuyển thành trung thân khổ sai và đày ra Côn Đảo. Trong chuồng cọp, địa ngục trần gian của nhà tù ấy, tôi bị bắt buộc phải nằm dưới hầm suốt ngày...". Trên vách chuồng cọp, tôi thấy chi chít những chữ ghi bằng nhiều cách khác nhau. Có những dòng được khắc trên vôi bằng cái xương cá mắm. Có những chữ bằng máu, có những ghi bằng than. Tôi đọc được bài thơ dài, chỗ này ghi một đoạn, chỗ khác ghi một khúc ráp lại rất vần với nhau. Hôm nay mười chín tháng năm: Lòng con sáng tựa đêm rằm trung thu Con đang chúc thọ dưới mồ Con đang dựng một rừng cờ trong tim Đêm nay mộng hóa thành chim Bay qua lưới sắt con tìm đến cha Sau này mới biết là thơ Viễn Phương, bài Chúc thọ dưới mồ. Tôi nghĩ rằng đó cũng là hạnh phúc lớn của nhà thơ: Góp phần mình vào công cuộc giải phóng đất nước. Nhà thơ Viễn Phương: Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kiệt xuất của dân tộc ta là nguồn cảm hứng vô tận của người sáng tạo văn, thơ, nhac, họa. Trong kháng chiến chống Pháp và Mỹ, các nhà thơ sống ở Nam Bộ đều có những tác phẩm viết về Bác. Trong nhà tù của giặc, tôi luôn luôn nghĩ về Bác. Bác là nguồn động viên, cổ các chiến sĩ trong nhà tù. Tôi đã viết bài thơ Chúc thọ dưới mồ, được các đồng chí trong tù thuộc, truyền cho nhau. Tuy lời thơ còn mộc mạc nhưng là tấm lòng thành kính của tôi đối với Người. PV: Phải đến khi đất nước thống nhất, ra thăm miền Bắc, anh mới có Viếng Lăng Bác, đầy đủ độ chín và ngôn từ. Anh có thể cho biết bài thơ ra đời trong hoàn cảnh nào? Nhà thơ Viễn Phương: Khi Bác còn sống, nhân dân miền Nam mong muốn đất nước giải phóng để đón Bác vào thăm. Nhưng rồi, ước mơ ấy không được toại nguyện. Khi miền Nam giải phóng, mọi người đều muốn ra thăm miền Bắc, viếng lăng Bác. Năm 1976, tôi ra Hà Nội, được đến viếng Bác. Sáng hôm ấy mưa phùn, Hà Nội lây phây trong gió rét, tôi được nối vào dòng người vào lăng Bác. Chúng tôi đi từ hướng chùa Một Cột. Sương toả mênh mông, những hàng tre xanh sẫm, những gốc đào hoa đỏ rực… Tất cả đều thiêng liêng. Đến bên Bác, ai cũng muốn dừng thật lâu. Bác nằm đó, thanh thản, giản dị, hiền từ như đang ngủ. Anh sáng dịu dàng toả xuống như giữa một đêm trăng thanh miền thôn dã. Tôi không cầm nổi nước mắt. Ra khỏi làng, tôi đi như người mộng du và tứ thơ bật ra: Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát. Lời thơ thật giản dị. Tôi nghĩ, Bác của chúng ta vốn giản dị, Người ghét sự cầu kỳ, làm dáng. Giản dị, trong sáng, sâu sắc cũng là bao quát trong thơ Bác. Tôi viết như là ý nghĩ của mình. Và, đó cũng là tâm tư của nhân dân và chiến sỹ ở Nam Bộ với Bác. Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ Mặt trời của vũ trụ đối với mặt trời trong lăng. Đó cũng là hàm chứa sự vĩnh cửu của sự nghiệp Bác Hồ tạo dựng và nhân dân ta, Đảng ta đã thực hiện: xây dựng một đất nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh như di chúc của Bác. Hoa tươi là nét đẹp của thiên nhiên, hàng ngày dâng lên Bác rất nhiều nhưng tôi nghĩ đến: Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ Kết tràng hoa dâng Bảy mươi chín mùa xuân Dòng người vây quanh Bác trở thành hoa. Và dâng cho Bảy mươi chín màu xuân, là hoa tươi của cuộc sống. Toàn bài Viếng Lăng Bác mang một không khí trang nghiêm, thành kính. Đoạn kết, tôi muốn nói lên tình cảm của nhân dân, chiến sỹ miền Nam hứa với Bác: Mai về miền Nam thương trào nước mắt Muốn làm con chim hót quanh lăng Muốn làm đoá hoa toả hương đâu đây Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này
Xem thêm

5 Đọc thêm

Kiểm tra học kỳ 2 môn ngữ văn

KIỂM TRA HỌC KỲ 2 MÔN NGỮ VĂN

Câu 2.chủ đề bài thơ “ánh trăng”của Nguyễn Duy là gì? A. cảm xúc của tác giả về vẻ đẹp ánh trăng B. miêu tả cảnh môt đêm trăng sáng C. bày tỏ tấm lòng ân ngiã thuỷ chung với quá khứ D. bày tỏ cảm xúc về cuộc sống ở thành thị và nông thôn Câu 3.tình cảm chủ đạo trong bài thơ “Viếng lăng Bác”của Viễn Phương là gì? A.nỗi đau đớn tiếc thương của nhà thơ khi Bác không còn nữa B.niềm xúc động thiêng liêng,tấm lòng thiết tha, thành kính của tác giả đối với Bác Hồ C: Tâm trạng bâng khuâng của tác giả trong hành trình từ nam ra bắc thăm Bác . D:những suy nghĩ về quê hương đất nước của tác giả khi vào lăng viếng Bác . Câu 4:Từ nào dưới đây là từ tượng thanh ? A.kiêu hãnh B.xa xăm C.khe khẽ D.lộn xộn
Xem thêm

3 Đọc thêm

Bình Con đường mùa đông

BÌNH CON ĐƯỜNG MÙA ĐÔNG

Con đường mùa đông Puskin - 1826 Xuyên qua sương mù gợn sóng Mặt trăng nhô ra Trăng buồn bã dội ánh sáng. Lên cánh đồng u buồn Trên đường mùa đông buồn tẻ Xe tam mã vun vút lao đi, Lục lạc đơn điệu Mệt mỏi rung lên Có gì vang lên thân thiết Trong các khúc hát ngân nga của xà ích Khi thì niềm vui rộn rã Khi thì nỗi buồn tâm tình… Không một ánh lửa mái lều Rừng sâu và tuyết… Ngược chiều tôi Chỉ có cột sọc chỉ đường Chạy tới… Chán ngán, buồn qua,… ngày mai, Nhina Ngày mai, quay về với em yêu Tôi sẽ lặng người bên lò sưởi, Ngắm em không chán mắt. Kim đồng hồ tích tắc Quay hết vòng đều đều của nó, Và xua đám người tẻ ngắt Nửa đêm, không rẽ chia ta. Buồn quá Nhina đường tôi đi tẻ ngắt, Bác xà ích lặng lẽ thiu thiu, Tiếng lục lạc đơn điệu, Mặt trăng mờ sương (Bản dịch nghĩa) Xuyên những làn sương gợn sóng Mảnh trăng mờ ảo chiếu qua, Buồn rải ánh vàng lai láng Lên cánh đồng buồn dăng xa Trên đường mùa đông vắng vẻ Cỗ xe tam mã băng đi, Nhạc ngựa đều đều buồn tẻ Đều đều khắc khoải lòng quê. Bài ca của người xà ích Có gì phảng phất thân yêu Như niềm vui mừng khôn xiết Như nỗi buồn nặng đìu hiu… Không một mái lều, ánh lửa, Tuyết trắng và rừng bao la… Chỉ những cột dài cây số Bên đường sừng sững chào ta. Ôi buồn đau, ôi cô lẻ… Trở về với em ngày mai, Nhina, bên lò lửa đỏ, Ngắm em, ngắm mãi không thôi. Kim đồng hồ kêu tích tắc Xoay đi những vòng nhịp nhàng, Và xua lũ người tẻ ngắt Để ta bên nhau trong đêm. Sầu lắm, Nhina, đường xa vắng, Ngủ quên bác xà ích lặng im, Nhạc ngựa đều đều buông xa thẳm, Sương mờ che lấp ánh trăng nghiêng. (Thúy Toàn dịch thơ) Lời bình “Con đường mùa đông” là nhà thơ trữ tình nổi tiếng của Puskin, đã được phổ nhạc, trở thành ca khúc lưu truyền rộng rãi. Puskin viết bài thơ này vào mùa đông năm 1826, khi ông còn bị quản thúc tại miền quê Mikhailôpxcôiê, vùng quê ngoại thuộc tây Bắc Nga. Âm điệu trữ tình chủ đạo của bài thơ là âm điệu buồn. Từ cảnh vật đến lòng người tỏa rộng và thấm sâu một nỗi buồn cô đơn. Bốn khổ thơ đầu là một không gian nghệ thuật phủ mở một lớp sương mù bao la, mênh mông. Ánh trăng dội ánh sáng xuống cánh đồng khi mặt trăng nhô ra, xuyên qua màn sương mù gợn sóng. Cảnh vật vắng lặng, bao la và buồn man mác: “Xuyên những làn sương gợn sóng Mảnh trăng mờ ảo chiếu qua, Buồn rải ánh vàng lai láng Lên cánh đồng buồn dăng xa”. Cái nhìn mênh mang về màn sương mờ, ánh trăng mờ và cánh đồng mờ xa. Hình như nhà thơ đăm chiêu cảm nhận cảnh vật trong sự mơ màng và xúc động. Nhìn xa rồi nhìn gần, nhân vật trữ tình lặng ngắm con đường mùa đông vắng vẻ. Chỉ có một cỗ xe tam mã băng đi về phía trước, “xe vun vút lao đi”. Tiếng lục lạc đơn điệu, mệt mỏi rung lên. Bao dặm đường xa đã vượt qua, người lữ hành không chỉ “buồn” mà còn “mệt mỏi”. Tâm hồn như dịu lại trong tiếng hát “ngân nga” của người xà ích. Khúc hát vang lên “thân thiết”, bài dân ca Nga lúc vui, lúc buồn như đang xoa dịu bao nỗi buồn trong lòng nhà thơ: “Khi thì niềm vui rộn rã Khi thì nỗi buồn tâm tình”… Nhà thơ lấy âm thanh “vun vút” của chiếc xe lao đi, tiếng lục lạc, tiếng hát… để diễn tả cảnh vật và con đường mùa đông giữa đêm khuya vô cùng vắng vẻ, mênh mông và buồn. Nỗi lòng của người lữ khách cô đơn và buồn không kể xiết! Cảnh vật càng trở nên cô quạnh. Chiếc xe tam mã, người lữ hành… như đang bị bao vây bởi “rừng sâu và tuyết”. Chỉ có, chỉ thấy những cột cây số “hữu tình mà vô cảm” đang ngược chiều, chạy tới, không gian đã trải rộng lại trải rộng thêm ra. Con đường mùa đông đã dài lại được kéo dài tưởng như vô tận. Bao phủ cảnh vật là màu trắng của tuyết, màu đen sẫm của rừng. Cảnh sắc thiên nhiên mùa đông nước Nga được miêu tả một cách tinh tế và chọn lọc nhằm tô đậm nỗi buồn cô đơn và lạnh lẽo của người lữ khách. “Không một mái lều, ánh lửa, Tuyết trắng và rừng bao la… Chỉ những cột dài cây số Bên đường sừng sững chào ta.” Hai khổ thơ 5 và 6 nói lên tâm trạng nhớ thương của người lữ khách. Bài hát của người xà ích lúc vui lúc buồn cũng không thể xoa dịu bao nỗi buồn cô đơn đầy ắp trong lòng chàng trai đang ngồi trên cỗ xe tam mã lao vun vút trên con đường mùa đông giữa đêm khuya lạnh lẽo. Đó là hành trình đi cày của nhà thơ. Con đường mùa đông xa lắc đầy tuyết còn mang ý nghĩa tượng trưng cho mọi thử thách gian khổ mà chàng trai quý tộc khao khát tự do đang nếm trải. Câu thơ: “Ôi đau buồn, ôi cô lẻ…” nói lên nỗi buồn cô đơn của người đi đày. Nhưng không tuyệt vọng, không bi luỵ. Nhà thơ thầm gọi tên người yêu. Hy vọng được trở về trong sum họp đầy hạnh phúc. Hai tiếng “ngày mai… ngày mai…” trong nguyên tác như một điệp âm của khúc tâm tình xôn xao. Hy vọng được trở về gặp lại người yêu. Trong tuyết lạnh mà nghĩ về lò lửa đỏ, mái ấm hạnh phúc gia đình, trong chia li mà nghĩ đến đoàn tụ, trong xa vắng mà hy vọng trở về gặp Nhina - người yêu thương - đó là “nỗi buồn trong sáng” như lời nhận xét của nhà phê bình văn học Biêlinxki. Lòng người lữ hành dịu lại, man mác bâng khuâng: “Ôi buồn đau, ôi cô lẻ… Trở về với em ngày mai, Nhina, bên lò lửa đỏ, Ngắm em, ngắm mãi không thôi.” Rồi chàng chìm trong mộng tưởng. “Ngắm em không chán mắt… Nửa đêm, không rẽ chia ta”. Phải chăng chiếc đồng hồ cổ và tiếng kêu “tích tắc” của nó như một kỷ vật nhắc nhở bao hoài niệm thương yêu? Khổ thơ cuối bài diễn tả sâu hơn tâm trạng người lữ hành, từ mơ tưởng trở về thực tại, với con đường mùa đông lạnh lẽo, con đường đi đày với nỗi buồn xa vắng cô đơn. Lại thì thầm nhắc tên người yêu để cố xua đi một phần nào nỗi buồn cô đơn: “Buồn quá, Nhina, đường tôi đi tẻ ngắt…”. Bác xà ích đã thiu thiu ngủ trong lặng lẽ. Con đường mùa đông càng về khuya càng trở nên vắng vẻ, hiện lên trong ánh trăng và sương mở. Tiếng lục lạc đơn điệu vẫn rung lên như nhịp điệu của một bài ca buồn. Người lữ khách lặng lẽ ngắm mặt trăng nhòe đi trong màn sương. Lấy tiếng lục lạc và mặt trăng mờ sương là 2 nét vẽ tài hoa để tô đậm nỗi buồn cô đơn và sự vắng lặng của con đường mùa đông một đêm tuyết lạnh. Đây là khổ thơ dịch hay nhất của Thúy Toàn: “Sầu lắm, Nhina, đường xa vắng, Ngủ quên bác xà ích lặng im, Nhạc ngựa đều đều buông xa thẳm, Sương mờ che lấp ánh trăng nghiêng” Trong bài thơ “Con đường mùa đông” này, từ “buồn” xuất hiện với tần số rất cao. Có trăng buồn và cánh đồng buồn. Có con đường mùa đông buồn tẻ và vắng lặng. Có tâm hồn chán ngán buồn… buồn quá, buồn cô đơn. Có tiếng lục lạc đơn điệu buồn. Sự xuất hiện của những cột cây số, rừng sâu và tuyết… càng làm cho nỗi buồn thêm phần cô đơn và lạnh lẽo. Có điều, sự xuất hiện của bài dân ca Nga qua tiếng hát của xà ích và hình ảnh Nhina, cô gái Nga cùng với ngọn lửa lò sưởi là những điểm tựa nâng đỡ tâm hồn người lữ khách một đêm trăng mờ sương trên con đường mùa đông tuyết trắng. Chất trữ tình nồng nàn, chất thi vị đậm đà của bài thơ này được thể hiện một cách tài hoa qua cảnh sắc và âm thanh ấy. Con đường mùa đông là con đường lưu đày, là con đường li biệt. Người lữ hành - trong tâm tưởng - vẫn mang theo hình ảnh người con gái Nga yêu thương, vẫn hy vọng ngày mai trở về, sum họp trong mái ấm hạnh phúc. Cảm hứng đoàn tụ yêu thương và cảm hứng tự do tạo nên sắc điệu thẩm mĩ trong áng thơ chứa chan thi vị này.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Phân tích bài thơ Đồng chí của Chính Hữu

PHÂN TÍCH BÀI THƠ ĐỒNG CHÍ CỦA CHÍNH HỮU

Chính Hữu(1926-2007), tên thật: Trần Đình Đắc, quê ở Can Lộc, Hà Tĩnh, là nhà thơ - chiến sĩ trong suốt thời gian chống Pháp – Mỹ. Sáng tác chủ yếu tập trung vào hình ảnh người lính trong hai cuộc kháng chiến. Đặc biệt là tình cảm đồng chí, đồng đội, sự gắn bó của tiền tuyến với hậu phương. - Thơ của ông bình dị, cô đọng, hàm súc, cảm xúc dồn nén; vừa mang nét rắn rỏi, gân guốc của người sinh ra từ mảnh đất miền Trung đầy nắng gió, vừa mang nét hào hoa, lãng mạn của người lính trung đoàn Thủ đô đã từng sống nhiều năm ở mảnh đất Hà thành. -Tác phẩm tiêu biểu: Bài thơ “Ngày về”, “Tuyển tập thơ Chính Hữu”, “Đầu súng trăng treo”...
Xem thêm

7 Đọc thêm

Cách làm bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ

CÁCH LÀM BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT BÀI THƠ, ĐOẠN THƠ

A. TÓM TẮT KIẾN THỨC CƠ BẢN: - Nghi luận về một đoạn thơ, bài thơ là trỡnh bày nhận xột, đánh giá của mỡnh về nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ ấy. - Nghi luận về một đoạn thơ, bài thơ là trỡnh bày nhận xột, đánh giá của mỡnh về nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ ấy. - Nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ được thể hiện qua ngôn từ, hình ảnh, giọng điệu…..Bài nghị luận cần phân tích các yếu tố ấy để có những nhận xét đánh giá cụ thể, xác đáng . - Bài nghị luận về đoạn thơ, bài thơ cần có bố cục mạch lạc, râ rµng, có lời văn gợi cảm, thể hiện rung động chân thành của người viết. * Bố cục của bài văn nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ: 1. Mở bài: Giới thiệu về đoạn thơ hoặc bài thơ đó và nêu ý kiến đánh giá sơ bộ của mình. 2. Thân bài: Lần lượt trình bày suy nghĩ đánh giá về nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ đó. 3. Kết bài: Khái quát giá trị và ý nghĩa của đoạn thơ, bài thơ đó. B. CÁC DẠNG ĐỀ: I. Dạng đề 2 hoặc 3 điểm: Đề 1: Viết đoạn văn ngắn (khoảng từ 15 đến 20 dòng) trình bày cảm nhận của em về vẻ đẹp của hai nhân vật Thuý Kiều và Thuý Vân, qua đó nhận xét về nghệ thuật miêu tả nhân vật của Nguyễn Du ? Gợi ý: 1. Mở đoạn: - Giới thiệu khái quát tác giả, tác phẩm, nghệ thuật miêu tả nhân vật của Nguyễn Du . 2. Thân đoạn : a. Chân dung của Thuý Vân: - Bằng bút pháp ước lệ, biện pháp nghệ thuật so sánh ẩn dụ gợi tả vẻ đẹp duyên dáng , thanh cao, trong trắng của người thiếu nữ. - Chân dung Thuý Vân là chân dung mang tính cách, số phận. Vẻ đẹp của Vân tạo sự hài hào, êm đềm với xung quanh. Báo hiệu một cuộc đời bình lặng, suôn sẻ. b. Chân dung Thuý Kiều: - Vẫn bằng bút pháp ước lệ , nhưng khác tả Vân tác giả đó dành một phần để tả sắc, còn hai phần để tả tài năng của nàng. Vẻ đẹp của Kiều là vể đẹp của cả sắc, tài, tình. - Chân dung của Kiều cũng là chân dung mang số phận. Dự cảm một cuộc đời nhiều biến động và bất hạnh. 3. Kết đoạn: - Khẳng định lại về tài năng miờu tả nhõn vật của Nguyễn Du. Đề 2: Viết một đoạn văn (khoảng 15 đến 20 dũng) phân tích cơ sở hình thành tình đồng chí của những người lính trong bài "Đồng chí" của Chính Hữu. Gợi ý: 1. Mở đoạn: - Giới thiệu khỏi quát về tác giả tác phẩm, vị trí của đoạn trích. 2. Thân đoạn: Cơ sở của tình đồng chí: - Họ có chung lí tưởng. - Họ chiến đấu cùng nhau. - Họ sinh hoạt cùng nhau. - Nghệ thuật: chi tiết chân thực, hình ảnh gợi cảm và cô đúc, giàu ý nghĩa biểu tượng. 3. Kết đoạn: - Nhấn mạnh lại về vẻ đẹp, sự bền chặt của tình đồng chí được nảy nở và vun đúc trong gian khó. II. Dạng đề 5 hoặc 7 điểm: Đề 1: Phân tích đoạn trích “Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga” (Nguyễn Đình Chiểu) để thấy Lục vân Tiên đã hành động rất đúng với lí tưởng: "Nhớ câu kiến ngãi bất vi Làm người thế ấy cũng phi anh hùng." Gợi ý: 1. Mở bài: - Truyện Lục Vân Tiên - tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Đình Chiểu đề cao những con người trung hiếu, trọng nghĩa. - Vân Tiên một hình tượng đẹp nêu cao lí tưởng nhân nghĩa đó hành động đúng theo lí tưởng. - Vị trí đoạn trích 2. Thân bài: a. Vân Tiên đánh tan bọn cướp cứu người gặp nạn : - Vân Tiên con nhà thường dân, một thí sinh trên đường vào kinh đô dự thi gặp bọn cướp hung dữ. - Vân Tiên không quản ngại nguy hiểm xông vào đánh tan bọn cướp, giết tướng cướp, cứu người bị nạn. b. Vân Tiên từ chối sự đền ơn đáp nghĩa của Kiều Nguyệt Nga: - Nghe người gặp nạn kể lại sư tình Vân Tiên động lòng thương cảm, tỏ thái độ đàng hoàng, lịch sự. - Nguyệt Nga thiết tha mời chàng về nhà để đền ơn. - Vân Tiên cương quyết từ chối (Quan niệm của chàng thể hiện lí tưởng sống cao đẹp : “ Làm ơn há để trông người trả ơn”. Thấy việc nghĩa không làm không phải là anh hùng. 3. Kết bài: - Lí tưởng sống của Vân Tiên phù hợp với đạo lí của nhân dân. - Nguyễn Đình Chiểu gửi gắm tâm huyết, lẽ sống của mình vào hình tượng Vân Tiên. Đề 2: Phân tích tình yêu quê hương trong bài thơ: “Quê hương” của Tế Hanh. Gợi ý: 1. Mở bài: - Giới thiệu tình yêu quê hương, nêu ý kiến khái quát của mình về tình yêu quê hương trong bài thơ. 2. Thân bài: - Khái quát chung về bài thơ: một tình yêu tha thiết trong sáng, đậm chất lí tưởng lãng mạn. - Cảnh ra khơi: vẻ đẹp trê trung, giàu sức sống, đầy khí thế vượt Trường Giang. - Cảnh trở về: đông vui, no đủ, bình yên. - Nỗi nhớ: hình ảnh đọng lại, vẻ đẹp, sức mạnh, mùi nồng mặn của quê hương. 3. Kết bài: Cả bài thơ là một khúc ca quê hương tươi sáng, ngọt ngào, nó là sản phẩm của một tâm hồn trẻ trung, thiết tha đầy thơ mộng. Đề 3 Phân tích bài thơ “Viếng lăng Bác” của Viễn Phương Gợi ý: 1. Mở bài: - Cuộc đời và sự nghiệp của Bác là nguồn cảm hứng vô tận cuả thơ ca. - Bài thơ “Viếng lăng Bác” đã thể hiện được những cảm súc chân thành tha thiết. 2. Thân bài a. Khổ 1: - Mở đầu bằng lối xưng hô: "con” tự nhiên gần gũi. - Ấn tượng về hàng tre quanh lăng Bác.(Tre t­îng trưng cho sức sống và tâm hồn Việt Nam). b. Khổ 2: - Mặt trời thật đi qua trên lăng ngày ngày, từ đó liên tưởng và so sánh Bác cũng là một mặt trời rất đỏ (Mặt trời tượng trưng, đem ánh sáng đến cho dân tộc, ánh sáng đó toả sáng mãi mãi). - Lòng tiếc thương vô hạn của nhân dân: hình ảnh dòng người nối dài vô tân như kết thành tràng hoa dâng Bác. c. Khổ 3: - Có cảm giác Bác đang ngủ, một giấc ngủ bình yên có trăng làm bạn. - Nhưng trở về với thực tại: Bác đã đi xa, một nỗi đau nhức nhối. d. Khổ 4: - Lưu luyến bịn rịn không muốn xa Bác. - Muốn làm “chim, hoa, tre” để được gần Bác - “Cây tre trung hiếu” thực hiện lí tưởng của Bác, và lời dậy của Bác : “trung với nước hiếu với dân”. 3. Kết bài: - Nghệ thuật: Bài thơ giàu cảm xúc, âm hưởng trầm lắng, lời thơ tự nhiên. - Bài thơ gây ấn tượng sâu đậm, trước hết là tiếng nói chân thành, tha thiết của nhà thơ và của chúng ta đối với Bác Hồ kính yêu. C. BÀI TẬP Dạng đề 2 hoặc 3 điểm: Đề 3: Cảm nhận về bức tranh cá thứ nhất và thứ hai trong bài thơ : “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận.(bằng một đoạn văn từ 15 đến 20 dũng) Gợi ý: 1. Mở đoạn: - Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm, vị trí đoạn trích. 2. Thân đoạn: - Bức tranh cỏ thứ nhất: là những nột vẽ tài hoa về bức tranh cá trong tưởng tượng, trong mơ ước. - Bức tranh cỏ thứ hai: là bức tranh hiện thực được vẽ bằng bút pháp lóng mạn. Trên ngư trường những người dân vừa ca hát, vừa gừ mỏi chốo đuổi bắt cá. - Bức tranh cá đầy màu sắc và ánh sáng, có giá trị thẩm mĩ đặc sắc gợi tả và ngợi ca biển quê hương rất giàu và đẹp. 3. Kết đoạn: Bức tranh cá thể hiện cảm hứng vũ trụ, tình yêu biển của Huy Cận.
Xem thêm

5 Đọc thêm

Bài Phân tích bài đây thôn vĩ dạ của Hàn Mặc Tử

BÀI PHÂN TÍCH BÀI ĐÂY THÔN VĨ DẠ CỦA HÀN MẶC TỬ

Sao anh không về chơi thôn Vĩ? Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc Lá trúc che ngang mặt chữ điền? Gió theo lối gió, mây đường mây, Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay; Thuyền ai đậu bến sông trăng đó Có chở trăng về kịp tối nay? Mơ khách đường xa khách đường xa, Áo em trắng qúa nhìn không ra; Ở đây sương khói mờ nhân ảnh Ai biết tình ai có đậm đà? “Mở cửa nhìn trăng, trăng tái mặt, Khép phòng đốt nến, nến rơi châu…” Mấy ai đã từng say trăng như Hàn Mặc Tử? “Trăng sõng soài trêncành liễu - Đợi gió đông về để lả lơi…” (“Bẽn lẽn”) – Thi sĩ còn nói đến thuyền trăng, sông trăng, sóng trăng… Cả một trời trăng mộng ảo, huyền diệu. Thơ Hàn Mặc Tử rợn ngợp ánh trăng, thể hiện tâm hồn “say trăng” với tình yêu tha thiết cuộc đờ, vừa thực vừa mơ. Ông là một trong những nhà thơ lỗi lạc nhất của phong trào Thơ mói (1932-1941). Với 28 tuổi đời (1912-1940), ông để lại cho nền thơ ca dân tộc hàng trăm bài thơ và một số kịch thơ. Thơ của ông như trào ra máu và nước mắt, có khôgn ít hình tượng kinh dị. Cũng chưa ai viết thơ hay về mùa xuân và thiếu nữ (“Mùa xuân chín”), về Huế đẹp và thơ(“Đây thôn Vĩ Giạ”) như Hàn Mặc Tử. “Đây thôn Vĩ Giạ” rút trong tập “Thơ điên” xuất bản năm 1940, sau khi nhà thơ qua đời. Bài thơ nói rất hay về Huế, về cảnh sắc thiên nhiên hữu tình, về con người xứ Huế, nhất là các cô gái duyên dáng, đa tình, đáng yêu – tình yêu thơ mộng say đắm, lung linh trong ánh sáng huyền ảo. Bài thơ giãi bày một nỗi niềm bâng khuâng, một khao khát về hạnh phúc của thi sĩ đa tình, có nhiều duyên nợ với cảnh và con người Vĩ Giạ. Câu đầu “dịu ngọt” như một lời chào mời, vừa mừng vui hội, vừa nhẹ nhàng trách móc người thương biết bao nhớ đợi chờ. Giọng thơ êm dịu, đằm thắm và tình tứ: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”. Có mấy xa xôi. Cảnh cũ người xưa thấp thoáng trong vần thơ đẹp mang hoài niệm. Bao kỷ niệm sống dậy trong một hồn thơ. Nó gắn liền với cảnh sắc vườn tược và con người xứ Huế mộng mơ: “Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc Lá trúc che ngang mặtchwx điền?” Cảnh được nói đến là một sáng bình minh đẹp. Nhìn từ xa, say mê ngắm nhìn những ngọn cau, tàu cau ngời lên màu nắng mới, “nắng mới lên” rực rỡ. Hàng cau như đón chào người thân thương sau bao ngày xa cách. Hàng cau cao vút là hình ảnh thân thuộc thôn Vĩ Giạ từ bao đời nay. Quên sao được màu xanh cây lá nơi đây. Nhà thơ trầm trồ thốt lên khi đứng trước một màu xanh vườn tược thôn Vĩ Giạ: “vườn ai mướt quá xanh như ngọc”. Sương đêm ướt đẫm cây cỏ hoa lá. Màu xanh mỡ màng, non tơ ngời lên, bóng lên dưới ánh mai hồng, trông “mượt quá” một màu xanh như ngọc bích. Đất đai màu mỡ, khí hậu ôn hoà, con người cần cù chăm bón mới có “màu xanh như ngọc” ấy. Thiên nhiên rạo rực, trẻ trung và đầy sức sống. Cũng nói về màu xanh ngọc bích, trước đó (1938) Xuân Diệu đã từng viết: “Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá…” (“Thơ duyên). Hai chữ “vườn ai” đã gợi ra nhiều ngạc nhiên và man mác. Câu thứ tư tả thiếu nữ với khóm trúc vườn đầy đặn, phúc hậu. “Lá trúc che ngang” là một nét vẽ thần tình đã tô đậm nét đẹp của cô gái Huế duyên dáng, dịu dàng, kín đáo, tình tứ đáng yêu. Hàn Mặc Tử hơn một lần nói về trcs và thiếu nữ. Khóm trúc như toả bóng xanh mát che chở cho một mối tình đẹp đang nảy nơ: “Thầm thì với ai ngôì dưới trúc Nghe ra ý nhị và thơ ngây” (“Mùa xuân chín”) Câu 3, 4 trong khổ thơ đầu tả cau, tả nắng, tả vườn, tả trúc và thiếu nữ với một gam màu nhẹ thoáng, ẩn hiện, mơ hồ. Đặc sắc nhất là hai hình ảnh so sánh và ẩn dụ. (xanh như ngọc… mặt chữ điền) Cảnh và người nơi Vĩ Giạ thật hồn hậu, thân thuộc đáng yêu. Vĩ Giạ - một làng quê nằm bên bờ Hương Giang, thuộc ngoại ô cố đô Huế. Vĩ Giạ đẹp với những con đò thơ mộng, những mảnh vườn xanh tươi bốn mùa, sum sê hoa trái. Những ngôi nhà xinh xắn thấp thoáng ẩn hiện sau hàng cau, khóm trúc, mà ở đây thường dìu dặt câu Nam ai, Nam bình qua tiếng đàn tranh, đàn thập lục huyền diệu, réo rắt. Thôn Vĩ Giạ đẹp nênthơ. Hàn Mặc Tử đã dành cho Vĩ Giạ vần thơ đẹp nhất với tất cả lòng tha thiết mến thương. Khổ thơ thứ hai nói về cảnh trời mây, sông nước. Một không gian nghệ thuật thoáng đãng, mơ hồ, xa xăm. Hai câu 5, 6 là bức tranh tả gió, mây, dòng sông và hoa (hoa bắp). Giọng thơ nhẹ nhàng, thoáng buồn. Nghệ thuật đối tạo nên bốn phiên cảnh hài hoà, cân xứng và sống động. Gió mây đôi ngả như mối tình nhà thơ, tưởng gần đấy mà xa vời, cách trở. Dòng Hương Giang êm trôi lờ lững, trong tâm tưởng thi nhân trở nên “buồn thiu”, nhiều bâng khuâng, man mác. Hoa bắp lay nhè nhẹ đung đưa trong gió thoảng. Nhịp điệu khoan thai thơ mộng của miền sông Hương, núi Ngự được diễn tả rất tinh tế. Các điệp ngữ luyến láy gợi nên nhiều vương vấn mộng mơ: “Gió theo lối gió, mây đường mây Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay”. Hai câu tiếp theo nhà thơ hỏi “ai” hay hỏi mình khi nhìn thấy hay nhớ tới con đò mộng nằm bến sông trăng. Sông Hương quê em trở thành sông trăng. Hàn Mặc Tử với tình yêu Vĩ Giạ mà sáng tạo nên vần thơ đẹp nói về dòng sông Hương với những con đò dưới vầng trăng. Nguyễn Công Trứ đã từng viết: “Gió trăng chứa một thuyền đầy”. Hàn Mặc Tử cũng góp cho nền thơ Việt Nam hiện đại một vần thơ trăng độc đáo: “Thuyền ai đậu bến sông trăng đo Có chở trăng về kịp tối nay?” Tâm hồn nhà thơ xao xuyến khi nhìn sông trăng và con thuyền. Thuyền em hay “thuyền ai” vừa thân quen, vừa xa lạ. Chất thơ mộng ảo “Đây thôn Vĩ Giạ” là ở những thi liệu ấy. Câu thơ gợi tả một hồn thơ đang rung động trước vẻ đẹp hữu tình của xứ Huế miền Trung, nói lên một tình yêu kín đáo, dịu dàng, thơ mộng và thoáng buồn. Khổ thơ thứ ba nói về cô gái xứ Huế và tâm tình thi nhân. Đương thời nhà thơ Nguyễn Bính đã viết về thiếu nữ sông Hương: “Những nàng thiếu nữ sông Hương – Da thơm là phấn, má hường là son”…Vĩ Giạ mưa nhiều, những buổi sớm mai và chiều tà phủ mờ sương khói. “Sương khói” trong Đường thi thường gắn liền với tình cố hương. Ở đây sông khói làm nhoà đi, mờ đi áo trắng em, nên anh nhìn mãi vẫn không ra hình dáng em (nhân ảnh). Người thiếu nữ Huế thoáng hiện, trắng trong, kín đáo và duyên dáng. Gần mà xa. Thực mà mơ. Câu thơ chập chờn, bâng khuâng. Ta đã biết Hàn Mặc Tử từng có một mối tình với một thiếu nữ Huế mang tên một loài hoa đẹp. Phải chăng nhà thơ muốn nói về mối tình này? “Mơ khách đường xa, khách đường xa Áo em trắng quá nhìn không ra Ở đây sương khói mờ nhân ảnh Ai biết tình ai có đậm đà”. “Mơ khách đường xa, khách đường xa… ai biết… ai có…” các điệp ngữ luyến láy ấy tạo nên nhạc điệu sâu lắng, dịu buồn, mênh mang. Người đọc thêm cảm thương cho nhà thơ tài hoa, đa tình mà bạc mệnh, từng say đắm với bao mối tình nhưng suốt cuộc đời phải sống trong cô đơn bệnh tật. Cũng cần nói đôi lời về chữ “ai” trong bài thơ này. Cả 4 lần chữ “ai” xuất hiện đều mơ hồ ám ảnh: “vườn ai mướt quá xanh như ngọc?” – “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó?” – “Ai biết tình ai có đậm đà?”. Con người mà nhà thơ nói đến là con người xa vắng, trong hoài niệm bâng khuâng. Nhà thơ luôn cảm thấy mình hụt hẫng, chơi với trước một mối tình đơn phương mộng ảo. Một chút hi vọng mong manh mà tha thiết như đang nhạt nhoà và mờ đi cùng sương khói? Hàn Mặc Tử đã để lại cho ta một bài thơ tình thật hay. Cảnh và người, mộng và thực, say đắm và bâng khuâng, ngạc nhiên và thẫn thờ… bao hình ảnh và cảm xúc đẹp hội tụ trong ba khổ thơ thất ngôn, câu chữ toàn bích. “Đây thôn Vĩ Giạ” là một bài thơ tình tuyệt tác. Cái màu xanh như ngọc của vườn ai, con thuyền ai trên sông trăng, và cái màu trắng của áo em như đang dẫn hồn ta đi về miền sương khói của Vĩ Giạ thôn một thời xa vắng: “Ở đây sương khói mờ nhân ảnh Ai biết tình ai có đậm đà?”
Xem thêm

3 Đọc thêm

Về bài thơ Mới ra tù tập leo núi (Tân xuất ngục, học đăng sơn) của Hồ Chí Minh

VỀ BÀI THƠ MỚI RA TÙ TẬP LEO NÚI (TÂN XUẤT NGỤC, HỌC ĐĂNG SƠN) CỦA HỒ CHÍ MINH

Bài thơ không có trong tập Nhật kí trong tù, nhưng vẫn nhất quán trong một phong cách nghệ thuật, nên có thể xem như bài thơ khép lại của cả tập. DÀN BÀI    Bài thơ không có trong tập Nhật kí trong tù, nhưng vẫn nhất quán trong một phong cách nghệ thuật, nên có thể xem như bài thơ khép lại của cả tập. 1. Bút pháp cổ điển    - Đề tài của bài thơ: “Đăng sơn, ức hữu” (lên núi, nhớ bạn), một đề - quen thuộc của thơ ca cổ điển phương Đông.    - Điểm nhìn thiên nhiên từ trên cao nhìn ra xa và nhìn xuống, bao quát cả một không gian rộng lớn: mây trời, núi non, sông nước. Hình ảnh “Vân ủng trùng sơn, sơn ủng vân” miêu tả sự quấn quýt, hoà quyện giữa mây núi, sông nước... Đây cũng là một nét quen thuộc trong cách cảm thụ về thiên nhiên của Bác (mây núi, trăng sao...). Tiếp theo là một câu thơ khắc hoạ hình ảnh của một bậc hiền triết ung dung, nhàn tản đi giữa mây trời. 2. Bút pháp miêu tả bằng những nét chấm phá, gợi hơn là tả, gọi ra linh hồn: tạo vật    Cảnh hùng vĩ của núi non, một dòng sông tinh khiết (tịnh vô trần).    - Câu thơ thứ hai là một câu thơ tả thực, nói về vẻ đẹp của một dòng sông đầy ánh sáng và trong sạch. Nhưng nó còn hàm chứa một ý: Bác tự nói về mình bằng một sự khẳng định pha chút tự hào, rằng Bác vẫn giữ trọn khí tiết người Cộng sản (Lòng sông gương sáng bụi không mờ).    - Cảm xúc”bồi hồi” trong tâm hồn Bác vì niềm vui được trả tự do, vì nỗi nhớ, nỗi mong đau đáu hướng về các đồng chí của mình và Tổ quốc. “Bồi hồi độc bộ”, là một hình ảnh thể hiện chiều sâu tâm trạng để: “Dao vọng Nam thiên ức cố nhân".    - Thực tế Bác phải lê từng bước chân để tập đi. Nhưng trong thơ, hình ảnh Bác thật ung dung, sang trọng. Bác đã vượt lên đau đớn về thể chất, rèn luyện sức khoẻ, sức nhìn để mau chóng trở về Tổ quốc. Đó là một nghị lực phi thường,    - Một tỉnh thần thép vĩ đại ở con người Bác được thể hiện trong hồn thơ vừa cổ điển vừa hiện đại. Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Soạn bài Ngắm trăng + Không đề (Hồ Chí Minh)

SOẠN BÀI NGẮM TRĂNG + KHÔNG ĐỀ (HỒ CHÍ MINH)

Câu 1. Bác Hồ ngắm trăng trong hoàn cảnh nào?Câu 2.Hình ảnh nào cho thấy tình cảm gắn bó giữa Bác với trăng?Câu 3. Bài thơ nói lên điều gì về Bác Hồ? Câu 1. Bác Hồ ngắm trăng trong hoàn cảnh nào? Bác Hồ ngắm trăng trong hoàn cảnh Bác đang bị chính quyền Tưởng Giới Thạch giam giữ tại một nhà lao ở Trung Quốc. Câu 2. Hình ảnh nào cho thấy tình cảm gắn bó giữa Bác với trăng? Hình ảnh: Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ cho ta thấy tình cảm gắn bó giữa Bác và trăng. Câu 3. Bài thơ nói lên điều gì về Bác Hồ? Bài thơ nói lên tình cảm yêu thiên nhiên tha thiết của Bác Hồ. Bài thơ cũng nói lên nghị lực gang thép của Người: ở trong tù cực kì gian khổ thiếu thốn, Người vẫn quên đi cảnh xích xiềng, vẫn ung dung thư thái ngắm trăng, thường thức vẻ đẹp của trăng như một nhà thơ. Nội dung: Ca ngợi tinh thần lạc quan yêu đời, yêu cuộc sống, yêu thiên nhiên của Bác Hồ. Dù khó khăn, gian khổ nhưng Bác vẫn gắn bó với thiên nhiên. KHÔNG ĐỀ Câu 1. Bác Hồ ngắm trăng trong hoàn cảnh nào? Những từ ngữ nào nói lên hoàn cảnh đó? Bài thơ được Bác sáng tác khi Người đang ở chiến khu Việt Bắc để lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp Các từ ngữ: Đường non, rừng sâu cho ta biết điều đó. Câu 2. Tìm những hình ảnh nói lên lòng yêu đời và phong thái ung dung của Bác Hồ? Hình ảnh sau đây nói lên lòng yêu đời và phong thái ung dung ủa Bác Hồ: Việc quân việc nước đã bàn Xách bương, dắt trẻ ra vườn tưới rau.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Đề thi thử vào lớp 10 môn ngữ văn đề số 65

ĐỀ THI THỬ VÀO LỚP 10 MÔN NGỮ VĂN ĐỀ SỐ 65

I. trắc nghiệm 1. Hình ảnh trung tâm nhất trong bài Đoàn thuyền đánh cá là gì ? A. Hình ảnh con thuyền B. Hình ảnh người  dân lao động C. Cảnh thiên nhiên biển cả D. Cả A, B, C. 2. Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá được bố cục theo trình tự nào ? A. Trình tự thời gian từ hoàng hôn tới bình minh. B. Trình tự một chuyến ra khơi của đoàn thuyền đánh cá. C. Cả A, B. 3. Trong bài thơ Đoàn thuyền đánh cá có rất nhiều từ hát được lặp đi lặp lại. Vậy nội dung các câu hát có ý nghĩa như thế nào ? A. Biểu hiện sức sống căng tràn của thiên nhiên. B. Biểu hiện niềm vui, sự phấn chấn của người lao động. C. Thể hiện sức mạnh vô địch của con người. D. Thể hiện sự bao la hùng vĩ của biển cả. 4. Con thuyền đánh cá trong bài thơ mang vẻ đẹp kì vĩ, khổng lồ, hòa nhập với thiên nhiên rộng lớn. Hãy tìm trong bài thơ khổ thơ mang nội dung đó ? ……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………. 5. Điền Đ (đúng), hoặc S (sai) vào ô trống cuối mỗi dòng sau về các loài cá được nhắc đến trong bài thơ Đoàn thuyền đánh cá : A. Cá bạc, cá thu, cá nhụ, cá chim, cá đé. B. Cá bạc, cá nhụ, cá thu, cá đuối, cá song. C. Cá bạc, cá thu, cá nhụ, cá chim, cá đé, cá song. 6. Huy Cận kể tên nhiều loài cá như vậy trong bài Đoàn thuyền đánh cá nhằm mục đích gì ? A. Ca ngợi sự giàu có, phong phú đa dạng về các loài cá của biển cả. B. Nhấn mạnh sự nhộn nhịp của cảnh đánh cá. C. Thể hiện niềm vui sướng của người dân miền biển. 7. Để thể hiện các nội dung trên, tác giả đã sử dụng nghệ thuật nào ? A. Lời thơ dõng dạc, điệu thơ như khúc hát say mê, hào hứng. B. Hình ảnh đặc sắc kết hợp bút pháp lãng mạn và sức tưởng tượng phong phú. C. Sử dụng nhiều biện pháp tu từ nhân hóa, so sánh. D. Giọng thơ khỏe khoắn, sôi nổi, bay bổng. E. Tất cả các ý trên. 8. Đọc bài thơ sau của Hồ Chí Minh và thực hiện các yêu cầu ở phía dưới. Tiếng suối trong như tiếng hát xa Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ, Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà. (Cảnh khuya) a) Em hãy chuyển bài thơ trên thành một đoạn văn miêu tả không sử dụng phép so sánh cũng như các biện pháp nghệ thuật khác. …………………………………………………………………………………………………………………. …………………………………………………………………………………………………………………. …………………………………………………………………………………………………………………. b) So sánh bài thơ của Bác với đoạn văn vừa viết, rồi khoanh tròn vào chữ cái trước nhận xét đúng : A. Đoạn văn viết không giúp cho người đọc hình dung cảnh rừng về khuya và nỗi lo lắng cho vận mệnh đất nước của Bác. B. Bài thơ của Bác giúp em hình dung cụ thể hơn thiên nhiên ở núi rừng Việt Bắc về đêm khuya và đặc biệt là hình ảnh Bác. C. Đoạn văn giúp người đọc hình dung cụ thể hơn. 9. Điền các từ : tết, xanh, hồng, trắng, vào chỗ trống trong khổ thơ sau cho thích hợp : Dải mây …………… đỏ dần trên đỉnh núi, Sương ……………….. lam ôm ấp nóc nhà gianh, Trên con đường viền trắng mép đồi……………. Người các ấp tưng bừng ra chợ…….……………. (Đoàn Văn Cừ, Chợ Tết) II. tự luận 1. Hãy chọn một số câu thơ có giá trị nghệ thuật độc đáo trong bài Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận để viết một bài văn có tên đề : Những hình ảnh thơ tráng lệ và lãng mạn 2. Viết lời bình cho khổ thơ sau đây : Câu hát căng buồm với gió khơi Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời Mặt trời đội biển nhô màu mới Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi. (Đoàn thuyền đánh cá, Huy Cận)   Đáp án  I. trắc nghiệm Câu Nội dung trả lời 1 B 2 C 3 B 4 Thuyền ta lái gió với buồm trăng   Lướt giữa mây cao với biển bằng Ra đậu dặm xa dò bụng biển Dàn đan thế trận lưới vây giăng 5 A,B  (Sai)  ;       C (Đúng) 6 A 7 E 8 a) Về khuya cảnh rừng Việt Bắc có tiếng suối chảy róc rách, có trăng soi bóng vào cây cổ thụ, vào hoa rừng. Đặc biệt là hình bóng Bác đêm khuya đang lo lắng cho vận mệnh đất nước.   b) Chọn B 9 Điền lần lượt : Trắng, hồng, xanh, tết II. Tự luận 1. Hãy chọn một số câu thơ trong bài Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận để viết một bài văn có tên đề : Những hình ảnh thơ tráng lệ và lãng mạn. Bài làm Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận là bài ca tuyệt đẹp của con người lao động mới hăng say, khỏe khoắn giữa thiên nhiên kì ảo. Gam màu chủ yếu của bức tranh thơ này là màu sáng lóng lánh. Để rồi, khi đọc thi phẩm ta cảm tưởng lạc vào đêm hoa đăng chiến thắng trên biển – Hào hùng, tráng lệ và lãng mạn. Như bao bài thơ khác, thiên nhiên xuất hiện trong Đoàn thuyền đánh cá thật quen thuộc : mặt trời, trăng, sao, gió, mây… Tuy nhiên, bằng cái nhìn của một con người mới XHCN, đi giữa miền Bắc hòa bình với ngòi bút miêu tả theo phong cách ấn tượng đầy tài năng của Huy Cận, thiên nhiên đã trở nên chân thực, sống động mà tráng lệ, rực rỡ kì vĩ, lớn lao mà tinh tế. Bên cạnh hình ảnh thiên nhiên ấy, con người hiện lên khoáng đạt, lãng mạn, tin yêu cuộc sống và tinh thần hăng hái lao động. Đặt mình vào tư cách con người lao động trên biển khơi mênh mông, Huy Cận đã lắng nghe được sự hòa hợp tuyệt diệu giữa thiên nhiên và con người. Bài thơ miêu tả hành trình ra khơi và trở về trong thắng lợi của đoàn thuyền đánh cá gắn với hình ảnh mặt trời tráng lệ : “Mặt trời xuống biển như hòn lửa” – “Mặt trời đội biển nhô màu mới”. Trong câu thơ đầu tác giả sử dụng hình ảnh ví von vô cùng biểu cảm, giàu sức gợi và chuẩn xác. Khi mặt trời xuống biển là lúc có hình dáng quả cầu đỏ sẫm. Những tia sáng phản chiếu dưới mặt nước, lung linh như hoa lửa. Vẫn mang nét tráng lệ, nhưng khác với hình ảnh mặt trời hoàng hôn ở phần đầu bài thơ, hình ảnh mặt trời ở cuối bài thơ lại là linh hồn của bình minh và đồng hiện cùng với sự cập bến đầy tốt lành của đoàn thuyền đánh cá. Hình ảnh bao quát bài thơ cho ta cảm giác về vũ trụ bao la thơ mộng. Đó là mối quan hệ tương hợp giữa con người với thiiên nhiên trong lao động, với mặt trời tráng lệ, với đêm trăng huyền ảo, với mây trời, sóng nước và với cá – sinh lực, tinh lực của biển. Những hình ảnh thơ tráng lệ và lãng mạn trong bài chủ yếu là những hình ảnh miêu tả trực tiếp thiên nhiên nhưng đã gián tiếp làm rõ vẻ đẹp khỏe khoắn, khoáng đạt, tinh thần lao động hăng say, nhiệt tình của con người. Chúng ta hãy đọc những vần thơ : … Câu hát căng buồm cung gió khơi … Thuyền ta lái gió với buồm trăng … Ta hát bài ca gọi cá vào … Đêm thở : sao lùa nước Hạ Long Hàng loạt các hình ảnh thiên nhiên hiện ra cùng với hoạt động và tiếng hát của con người cùng đưa con thuyền lao động tiến vào trùng dương. Trăng, sao, điểm tô cho bức vẽ con người xông pha vào đại dương bao la thêm phơi phới hơn. Nhịp điệu lao động của con người đã mang nhịp thiên nhiên, vũ trụ một cách nhịp nhàng, hài hòa. Trong bài thơ : trời, mây, biển cả được tráng lệ hóa để mang hồn lao động, con người lao động được cao cả hóa  để mang tầm vũ trụ. Gấp trang thơ của Huy Cận lại, những hình ảnh thơ tráng lệ và lãng mạn vẫn còn mãi trong trí tưởng tượng của chúng ta. Với cách sử dụng màu sắc, với cách vận dụng các thủ pháp ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa và thậm xưng, Huy Cận đã sáng tạo nhiều hình ảnh đẹp, đầy ý nghĩa. Một không gian tráng lệ tràn ngập niềm vui và câu hát, một rạng đông trên biển và một rạng đông trong lòng người, vì đối với Huy Cận “Trời mỗi ngày lại sáng”  và “biển đang hát” . 2. Viết lời bình cho khổ thơ sau đây : Câu hát căng buồm với gió khơi Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời Mặt trời đội biển nhô màu mới Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi. (Đoàn thuyền đánh cá, Huy Cận) Bài làm Đoàn thuyền đánh cá là bài thơ nổi tiếng của Huy Cận sau cách mạng Tháng Tám, được in trong tập thơ “Trời mỗi ngày lại sáng“. Đây là bài thơ có kết cấu độc đáo : đoàn thuyền đánh cá xuất phát khi đêm xuống trên biển và trở về khi bình minh đón chào một ngày mới trên biển. Cả bài thơ là bức tranh lao động lung linh sáng đẹp trên biển, vừa là tiếng hát lạc quan của những chủ nhân biển khơi. Khổ thơ cuối khép lại bài thơ bằng âm hưởng của tiếng hát vui say lao động vẫn ngân nga trong lòng người : Câu hát căng buồm với gió khơi Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời Mặt trời đội biển nhô màu mới Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi Câu đầu tiên của khổ thơ này được lặp lại gần như nguyên vẹn câu thứ tư của khổ thơ đầu bài thơ, chỉ thay một chữ “cùng” bằng “với“, nó có ý nghĩa diễn tả : tạo ra cảm giác tuần hoàn, câu hát căng buồm đưa thuyền đi thì giờ đây vẫn câu hát căng buồm lại đưa thuyền về. Nhưng bây giờ đoàn thuyền trở về trong một tư thế mới “chạy đua cùng mặt trời “. Màu nắng chan hòa làm thành quả lao động thêm rực rỡ. Hình ảnh mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi là sự kết hợp giữa màu sắc của mắt cá và ánh sáng chan hòa của mặt trời. Câu thơ kết là hay nhất bởi cách dùng chữ thật tài tình : Mặt trời đội biển nhô màu mới – Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi. Huy Cận miêu tả chính xác chuyển động của mặt trời, chuyển động từ từ, ban đầu là ánh sáng nhô lên, sau đó mặt trời mới ló ra, mặt trời nhô lên kết thúc một đêm tương xứng với mặt trời xuống biển – kết thúc một ngày ở đầu bài thơ. Và thành quả tốt đẹp (mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi) chính là cao trào của bài ca lao động. Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận là một bài ca ngợi ca lao động, ngợi ca biển trời quê hương giàu đẹp và những chủ nhân của đất nước. Sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên, tấm lòng và tình cảm của Huy Cận cùng với trí tưởng tượng phong phú của nhà thơ tạo thêm sức hấp dẫn, ấn tượng về cuộc sống mới và con người mới.
Xem thêm

5 Đọc thêm

CẢM NHẬN VỀ ÁNH TRĂNG CỦA NHÀ THƠ NGUYỄN DUY

CẢM NHẬN VỀ ÁNH TRĂNG CỦA NHÀ THƠ NGUYỄN DUY

Trăng- hình ảnh giản dị mà quen thuộc, trong sáng và trữ tình. Trăng đã trở thành đề tài thường xuyên xuất hiện trên những trang thơ của các thi sĩ qua bao thời đại. Nếu như “ Tĩnh dạ tứ” cũa Lí Bạch tả cảnh đêm trăng sáng tuyệt đẹp gợi lên nỗi niềm nhớ quê hương, “ Vọng nguyệt” của Hồ Chí Minh thể hiện tâm hồn lạc quan, phong thái ung dung và lòng yêu thiên nhiên tha thiết của Bác thì đến với bài thớ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy, chúng ta bắt gặp hình ảnh vầng trăng mang ý nghĩa triết lí sâu sắc.Đó chính là đạo lí “uống nước nhớ nguồn”. Trăng- hình ảnh giản dị mà quen thuộc, trong sáng và trữ tình. Trăng đã trở thành đề tài thường xuyên xuất hiện trên những trang thơ của các thi sĩ qua bao thời đại. Nếu như “ Tĩnh dạ tứ” cũa Lí Bạch tả cảnh đêm trăng sáng tuyệt đẹp gợi lên nỗi niềm nhớ quê hương, “ Vọng nguyệt” của Hồ Chí Minh thể hiện tâm hồn lạc quan, phong thái ung dung và lòng yêu thiên nhiên tha thiết của Bác thì đến với bài thớ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy, chúng ta bắt gặp hình ảnh vầng trăng mang ý nghĩa triết lí sâu sắc.Đó chính là đạo lí “uống nước nhớ nguồn”. Những sáng tác thơ của Nguyễn Duy sâu lắng và thấn đẫm cái hồn của ca dao, dân ca Việt Nam . Thơ ông không cố tìm ra cái mới mà lại khai thác, đi sâu vào cái nghĩa tình muôn đời của người Việt. “Ánh trăng” là một bài thơ như vậy.Trăng đối với nhà thơ có ý nghĩa đặïc biệt: đó là vầng trăng tri kỉ, vầng trăng tình nghĩa và vầng trăng thức tỉnh. Nó như một hồi chuông cảng tỉnh cho mỗi con người có lối sống quên đi quá khứ. Tác giả đã mở đầu bài thơ với hình ảnh trăng trong kí ức thuổi thơ của nhà thơ và trong chiến tranh: “Hồi nhỏ sống với đồng với sông rồi với bể hồi chiến tranh ở rừng vầng trăng thành tri kỉ” Hình ảnh vầng trăng đang được trải rộng ra trong cái không gian êm đềm và trong sáng của thuổi thơ. Hai câu thơ với vỏn vẹn mười chữ nhưng dường như đã diễn tả một cách khái quát về sự vận động cả cuộc sống con người. Mỗi con người sinh ra và lớn lên có nhiều thứ để gắn bó và liên kết. Cánh đồng, sông và bể là nhưng nơi chốn cất giữ bao kỉ niệm của một thời ấu thơ mà khó có thể quên được. Cũng chính nới đó, ta bắt gặp hình ảnh vầng trăng. Với cách gieo vần lưng “đồng”, “sông” và điệp từ “ với” đã diễn tả tuổi thơ được đi nhiều, tiếp xúc nhiều và được hưởng hạnh phúc ngắm những cảnh đẹp của bãi bồi thiên nhiên cũa tác giả.Tuổi thơ như thế không phải ai cũng có được ! Khi lớn lên, vầng trăng đã tho tác giả vào chiến trường để “chờ giặc tới’.Trăng luôn sát cách bên người lính, cùng họ trải nghiệm sương gió, vượt qua những đau thương và khốc liệt của bom đạn kẻ thù. Người lính hành quân dưới ánh trăng dát vàng con đường, ngủ dưới ánh trăng, và cũng dưới ánh trăng sáng đù, tâm sự của những người lính lại mở ra để vơi đi bớt nỗi cô đơn, nỗi nhớ nhà. Trăng đã thật sự trởø thành “tri kỉ” của người lính trong nhưng năm tháng máu lửa. Khổ thơ thứ hai như một lời nhắc nhở về những năm tháng đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước hiền hậu, bình dị. Vầng trăng đù, người bạn tri kỉ đó, ngỡ như sẽ không bao giờ quên được: “Trần trụi với thiên nhiên hồn nhiên như cây cỏ ngỡ không bao giờ quên cái vầng trăng tình nghĩa” Vần lưng một lần nữa lại xuất hiện: “trần trụi”, “hồn nhiên”, “thiên nhiên” làm cho âm điệu câu thơ thêm liền mạch, dường như nguồn cảm xúc cũa tác giả vẫng đang tràn đầy. Chính cái hình ảnh so sánh ẩn dụ đã tô đâm lên cái chất trần trụi, cái chất hồn nhiên của người lính trong nhữnh năm tháng ở rừng. Cái vầng trăng mộc mạc và giản dị đó là tâm hồn của những người nhà quê, của đồng, của sông. của bể và của những người lính hồn nhiên, chân chất ấy. Thế rồi cái tâm hồn - vầng trăng ấy sẽ phài làm quen với môt hoàn cảnh sống hoàn toàn mới mẻ: “Từ hồi về thành phố quen ánh điện, cửa gương vầng trăng đi qua ngõ như người dưng qua đường” Thời gian trôi qua cuốn theo mọi thứ như một cơn lốc, chỉ có tình cảm là còn ở lại trong tâm hồn mỗi con người như một ánh dương chói loà. Thế nhưng con người không thể kháng cự lại sự thay đổi đó.Người lính năm xưa nay cũng làm quen dần với những thứ xa hoa nơi “ánh điện, cửa gương”. Vàorồi trong chính sự xa hoa đó, người lính đã quên đi người bạn tri kỉ của mình, người bạn mà tưởng chừng chẳng thể quên được, “người tri kỉ ấy” đi qua ngõ nhà mình nhưng mình lại xem như không quen không biết. Phép nhân hoá vầng trăng trong câu thơ thật sự có cái gì đó làm rung động lòng người đoc bởi vì vầng trăng ấy chính là một con người. Cũng chính phép nhân hoá đó làm cho người đọc cảm thương cho một “người bạn” bị chính người bạn thân một thời của mình lãng quên. Sự ồn ã của phố phường, những công việc mưu sinh và những nhu cầu vật chất thường nhật khác đã lôi kéo con gười ra khỏi những giá trị tinh thần ấy, một phần vô tâm của con người đã lấn át lí trí của người lính, khiến họ trở thành kẻ quay lưng với quá khứ. Con người khi được sống đầy đủ về mặt vật chất thì thường hay quên đi những giá trị tinh thần, quên đi cái nền tảng cơ bản củacuộc sống, đó chình là tình cảm con người. Nhưng rồi một tình huống bất ngờ xảy ra buộc ngươiø lính phải đối mặt: “Thình lình đèn điện tắt phòng buyn -đinh tối om vội bật tung cửa sổ đột ngột vầng trăng tròn” Khi đèn điện tắt, cũng là khi không còn được sống trong cái xa hoa, đầy đủ về vật chất, người lính bỗng phải đối diện với cái thực tại tối tăm. Trong cái “thình lình”, “đột ngột” ấy, người lính vôi bật tung cửa sổ và bất ngờ nhận ra một cái gì đó. Đó chẳng phải ai xa lạ mà chính là người bạn tri kỉ năm xưa của mình đây hay sao? Con người ấy không hề biết được rằng cái người bạn tri kỉ, tình nghĩa, người bạn đã bị anh ta lãng quên luôn ở ngoài kia để chờ đợi anh ta. “Người bạn ấy” không bao giờ bỏ rơi con người, không bao giờ oán giận hay trách móc con người vì họ đã quên đi mình. Vầng trăng ấy vẫn rất vị tha và khoan dung, nó cũng sẵn sàng đón nhận tấm lòng của một con người biết sám hối, biết vươn lên hoàn thiện mình. Cuộc đời mỗi con người không ai có thể đóan biết trước được. Không ai mãi sống trong một cuộc sống yên bình mà không có khó khăn, thử thách. Cũng như một dòng sông, đời người là một chuỗi dài với những qunh co, uốn khúc . Và chính trong những khúc quanh ấy, những biến cố ấy, con người mới thật sự hiểu được cái gì là quan trọng, cái gì sẽ gắn bó với họ trong suốt hành trình dài và rộng của cuộc đới. Dường như người lính trong bài thơ đã hiểu được điều đó! “Ngửa mặt lên nhìn mặt có cái gì rưng rưng như là đồng là bể như là sông là rừng” Khi người đối mặt với trăng, có cái gì đókhiến cho người lính áy náydù cho không bị quở trách một lời nào. Hai từ “mặt” trong cùng một dòng thô: mặt trăng và mặt người đang cùng nhau trò chuyện . Người lính cảm thấy có cái gì “rưng rưng” tự trong tận đáy lòng và dường như nước mắt đang muốn trào ra vì xúc động trước lòng vị tha của người bạn “tri kỉ” của mình . Đối mặt với vầng trăng, bỗng người lính cảm thấy như đang xem một thước phim quay chậm về tuổi thơ của mình ngày nào, nới có “sông” và có “bể” .Chính những thước phim quay chậm ấy làm người lính trào dâng nhưng nỗi niềm và ngững giọt nước mắt tuôn ra tự nhiên, không chút gượng ép nào! Những giọt nước mắt ấy đã phần nào làm cho người lính trở nên thanh thản hơn, làm tâm hồn anh trong sáng lại. Một lần nữa những hình tượng trong tuổi thơ và chiến tranh được láy lại làm sáng tỏ những điều mà con người cảm nhận được. Cái tâm hồn ấy, cái vẻ đẹp mộc mạc ấy không bao giờ bị mất đi, nó luôn lặng lẽ sống trong tâm hồn mỗi con người và nó sẽ lên tiếng khi con người bị tổn thương. Đoạn thơ hay ở chất thơ mộc mạc, chân thành, ngôn ngữ bình dị mà thấm thía, những hình ảnh đi vào lòng người. Vầng trăng trong khổ thớ thứ ba đã thực sự thức tỉnh con người: “Trăng cứ tròn vành vạnh kề chi người vô tình ánh trăng im phăng phắc đủ cho ta giật mình” Khổ thơ cuối cùnh mang tính hàm súc độc đáo và đạt tới chiều sâu tư tưởng và triết lí. “Trăng tròn vành vạnh” là vẻ đẹp của trăng vẫn viên mãn, tròn đầy và không hề bị suy suyển dù cho trải qua biết bao thăng trầm. Trăng chỉ im lặng phăng phắc, trăng không nói gì cả, trăng chỉ nhìn, nhưng cái nhìn đó đủù khiến cho con người giật mình. Ánh trăng như một tấm gương để cho con người soi mình qua đó, để con người nhận ra mình để thức tỉnh lương tri. Con người có thể chối bỏ, có thể lãng quên bất cứ điều gì trong tâm hồn anh ta . Nhưng dù gì đi nũa thì những giá trị văn hoá tinh thần của dân tộc cũng luôn vậy bọc và che chởù cho con người. “Ánh trăng” đã đi vào lòng người đọc bao thế hệ như một lời nhắc nhở đối với mỗi người: Nếu ai đã lỡ quên đi, đã lỡ đánh mất những giá trị tinh thần qúy giá thì hãy thức tỉnh và tìmlại những giá trị đó. còn ai chưa biết coi trọng những giá trị ấy thì hãy nâng niu những kí ức quý giá của mình ngay từ bây giờ, đừng để quá muộn. Bài thơ không chỉ hay về mắt nội dung mà cón có những nét đột phá trong nghệ thuật. Thể thơ năm chữ được vận dụng sáng tạo, các chữ đầu dòng thơ không viết hoa thể hiện những cảm xúc liền mạch của nhà thơ. Nhịp thơ biến ảo rất nhanh, giọng điệu tâmtình dã gấy ấn tượng mạnh trong lòng người đọc/./ Tham khảo thêm: http://tuthienbao.com/forum/showthre...146#post244146
Xem thêm

3 Đọc thêm

Đề thi giữa học kì 2 lớp 9 môn Văn THCS Kim Thư năm 2015

ĐỀ THI GIỮA HỌC KÌ 2 LỚP 9 MÔN VĂN THCS KIM THƯ NĂM 2015

Đề thi giữa kì 2 lớp 9 môn Văn THCS Kim Thư năm 2015 Phần I. (4,0 điểm). Cho đoạn văn: “… Trong những hành trang ấy, có lẽ sự chuẩn bị bản thân con người là quan trọng nhất. Từ cổ chí kim, bao giờ con người cũng là động lực phát triển của lịch sử. Trong thế kỉ tới mà ai ai cũng thừa nhận rằng nền kinh tế tri thức sẽ phát triển mạnh mẽ thì vai trò con người lại càng nổi trội”.                                                 ( Hành trang vào thế kỷ mới – Vũ Khoan.                                                            Ngữ văn 9, Tập 2, NXBGD – 2006) 1. Câu chủ đề của đoạn văn trên nằm ở vị trí nào? Đoạn văn trên sử dụng phép liên kết nào là chủ yếu? Từ được in đậm trong câu “Trong những hành trang ấy, có lẽ sự chuẩn bị bản thân con người là quan trọng nhất.” là thành phần biệt lập gì ?           2. Trong văn bản tác giả chỉ ra một trong những cái mạnh của con ng­ời Việt Nam là " Thông minh nhạy bén với cái mới" còn cái yếu là " khả năng thực hành và sáng tạo bị hạn chế do lối học chay, học vẹt nặng nề".        Hãy viết một đoạn văn nghị luận (Khoảng 10 dũng) trình bày suy nghĩ của em về ý kiến trên?  3. Em đã và sẽ làm gì để chuẩn bị hành trang cho bản thân mình để vững bước vào thế kỷ 21? Phần II: (6 điểm)   Cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh là nguồn cảm hứng vô tận cho sáng tạo nghệ thuật. Mở đầu tác phẩm của mình, một nhà thơ viết: "Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác... Và sau đó, tác giả thấy: ...Bác nằm trong giấc ngủ bình yên Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền Vẫn biết trời xanh là mãi mãi Mà sao nghe nhói ở trong tim!..." Câu 1: Những câu thơ trên trích trong tác phẩm nào? Nêu tên tác giả và hoàn cảnh ra đời của bài thơ ấy.           Câu 2: Từ những câu đã dẫn kết hợp với những hiểu biết của em về bài thơ, hãy cho biết cảm xúc trong bài được biểu hiện theo trình tự nào? Sự thật là Người đã ra đi nhưng vì sao nhà thơ vẫn dùng từ thăm và cụm từ giấc ngủ bình yên?            Câu 3: Dựa vào khổ thơ trên, hãy viết một đoạn văn khoảng 15 câu theo phép lập luận quy nạp (có sử dụng phép lặp và có một câu chứa thành phần phụ chú) để làm rõ lòng kính yêu và niềm xót thương vô hạn của tác giả đối với Bác khi vào trong lăng.          Câu 4: Trăng là hình ảnh xuất hiện nhiều trong thi ca. Hãy chép chính xác một câu thơ khác đã học có hình ảnh trăng và ghi rõ tên tác giả, tác phẩm. Đáp án đề thi giữa kì 2 lớp 9 môn Văn THCS Kim Thư năm 2015 Phần I: (4 điểm) Câu 1 (1,0 điểm). Câu chủ đề nằm ở đầu đoạn. Đoạn văn trên sử dụng phép liên kết chủ yếu là: phép lặp. Có lẽ là thành phần biệt lập tình thái trong câu Câu 2.(2đ) a. Yêu cầu về kĩ năng: Biết cách làm bài nghị luận xã hội. Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt trôi chảy; không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp. b, Yêu cầu về nội dung: Thí sinh cần làm rõ các nội dung sau: - Nêu được vấn đề cần nghị luận - Suy nghĩ về cái mạnh của con người Việt nam: Thông minh, nhạy bén với cái mới (Vận dụng các thao tác nghị luận để làm rõ cái mạnh của con người Việt Nam; ý nghĩa, tác dụng của nó) (0,5đ) - Suy nghĩ về cái yếu của con người Việt nam: Khả năng thực hành và sáng tạo bị hạn chế do lối học chay, học vẹt nặng nề ( Vận dụng các thao tác nghị luận để làm rõ cái yếu của con người Việt Nam; ý nghĩa, tác dụng của nó) (0,5đ) - liên hệ bản thân: Thấy được cái mạnh của bản thân để từ đó có hướng phát huy, Khắc phục những cái yếu, nhất là lối học chay, học vẹt; tăng cường kĩ năng thực hành và vận dụng... 1đ Câu 3. Em đã và sẽ làm gì để chuẩn bị hành trang cho bản thân mình để vững bước vào thế kỷ 21? (1đ)    Liên hệ những hành động việc làm để chở thành con ngoan trò giỏi, tích lũy kiến thức Rèn luyện về đạo đức, sức khỏe để trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.(Trình bày mạch lạc bằng 1 đoạn văn khoảng 5 dòng).   Phần II: (6 điểm) Câu 1: Đoạn thơ trên được trích trong bài Viếng lăng Bác của nhà thơ Viễn Phương. Bài thơ được viết năm 1976, sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc, đất nước thống nhất, Lăng Hồ Chủ tịch vừa khánh thành. Viễn Phương ra thăm miền Bắc, vào lăng viếng Bác. Câu 2: Cảm xúc trong bài thơ được biểu hiện theo trình tự từ ngoài vào trong, rồi lại trở ra ngoài, hợp với thời gian một chuyến viếng lăng Bác. - Từ "thăm" thể hiện tình cảm của nhà thơ đối với Bác vừa kính yêu, vừa gần gũi. - Cụm từ "giấc ngủ bình yên" là một cách nói tránh, nói giảm nhằm miêu tả tư thế ung dung thanh thản của Bác - vị lãnh tụ cả đời lo cho dân, cho nước, có đêm nào yên giấc nay đã có được giấc ngủ bình yên. Câu 3: Đoạn văn viết cần đạt được những yêu cầu sau: - Bám sát nội dung khổ thơ: phân tích được hình ảnh của Bác được miêu tả trong tư thế ung dung thanh thản, thấy được cảm xúc trào dâng của nhà thơ khi đứng trước Bác. - Không viết quá dài hoặc quá ngắn so với yêu cầu 10 câu của đề. Trình tự nghị luận là qui nạp, có sử dụng phép lặp và một thành phần phụ chú. Câu 4: Một bài thơ có nhắc đến trăng, ví dụ như Ánh trăng của Nguyễn Duy "Trăng cứ tròn vành vạnh/ kể chi người vô tình/ ánh trăng im phăng phắc/ đủ cho ta giật mình". Hay "Đầu súng trăng treo" trong Đồng chí của Chính Hữu... Nguồn
Xem thêm

3 Đọc thêm

" Chất thép" trong thơ Hồ Chí Minh

" CHẤT THÉP" TRONG THƠ HỒ CHÍ MINH

Về " Chất thép" trong thơ Hồ Chí Minh Thời gian gần đây, trên báo chí xuất hiện nhiều quan niệm hạ thấp chức năng, vai trò xã hội của văn học, nghệ thuật (chẳng hạn như quan niệm văn học, nghệ thuật chỉ là nỗi buồn đau và đề cao quá đáng “sức mạnh của nỗi buồn” (!); hoặc nói rằng văn nghệ chẳng bao giờ là “vũ khí” gì cả ! v.v…) và thực tế là trên văn đàn đầy những tiếng rên rỉ bất lực (chứ không phải là nỗi buồn có sức mạnh như các thi sĩ lãng mạn cách mạng trước đây : “Buồn ta ấy lửa đang nhen – buồn ta ấy rượu lên men say nồng !”…). Nếu như trước đây, chúng ta có lúc cực đoan trong việc thể hiện cái anh hùng, cái cao cả thì có thể nói, giờ đây người ta lại rơi vào cực đoan khác : giọng điệu bi lụy (chứ không phải là bi kịch theo ý nghĩa mỹ học của từ này) dường như trở thành “gam” chủ đạo !... Để góp phần làm sáng tỏ vấn đề trên, trong bài viết này, chúng ta hãy tìm hiểu quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hóa văn nghệ, chủ yếu ở khía cạnh thiên chức của văn nghệ sĩ . Khi nói về mặt trận văn hóa văn nghệ, điều quan trọng hàng đầu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh là thiên chức của văn nghệ sĩ. Về vấn đề này, sau khi bài thơ Cảm tưởng đọc “Thiên gia thi” của Người được công bố, người ta coi đó là tuyên ngôn nghệ thuật của Người và đó cũng là ý tưởng lớn cấu thành đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng. Tuy nhiên, do cách dịch bài thơ chưa hết ý nên đã xảy ra sự hiểu sai lệch quan niệm của Người. Nguyên văn bài thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bằng chữ Hán như sau : Cổ thi thiên ái thiên nhiên mỹ Sơn, thủy, yên, hoa,tuyết,nguyệt, phong. Hiện đại thi trung ưng hữu thiết Thi gia đã yếu hội xung phong. Bản dịch Nhật ký trong tù của Viện Văn học (NXB Văn học, 1960) dịch là : Thơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp (1) Mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông . Nay ở trong thơ nên có thép Nhà thơ cũng phải biết xung phong . Bản dịch này đã trở thành quen thuộc, được giảng dạy ở trường phổ thông cũng như đại học và hầu như được nhắc đến ở mọi bài viết khi đề cập đến thơ Hồ Chí Minh, đến tư tưởng văn hóa văn nghệ của Người. Theo bản dịch này, nhiều người cho rằng Người đối lập thơ xưa với thơ nay, coi thơ xưa chỉ là thứ văn nghệ mua vui, ngâm hoa,vịnh nguyệt suông, v.v…Hiểu như vậy là thô thiển, sai lệch. Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu sáng tạo và tài tình tinh hoa của thơ xưa (cổ thi) trong những bài thơ tức cảnh của mình. “Thiên nhiên đẹp” vào trong thơ Người càng mỹ lệ hơn, lung linh hơn, kỳ ảo hơn : “Lòng theo vời vợi mảnh trăng thu…” và : “Sông núi muôn trùng trải gấm phơi !...” vân vân… Điều chúng ta cần thấy rõ là thiên nhiên trong thơ Người gắn bó với con người tạo nên bức tranh sinh động của sự sống bất diệt. Và điều quan trọng hơn là, cảm hứng thi ca được khơi nguồn từ thiên nhiên ấy luôn hướng tới tâm điểm là cảm hứng anh hùng ca. Nói cách khác, thơ Người khai thác vẻ đẹp hùng vĩ, tráng lệ, thanh cao, tinh khôi của thiên nhiên và chính nhờ đó, cảm hứng anh hùng ca cách mạng được nhân lên để trở thành chất thép trong thơ Người : Yên ba thâm xứ đàm quân sự Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền (Nguyên tiêu) Nghĩa là : Giữa nơi khói sóng thăm thẳm, bàn việc quân. Nửa đêm trở về, thuyền chở đầy ánh trăng . hoặc : Cử đầu hồng nhật cận Đối ngạn nhất chi mai . (Thượng sơn) Nghĩa là : Ngẩng đầu thấy gần mặt trời Nhìn bên suối thấy một nhành mai. (Những câu thơ dẫn trên đây, bản dịch cũ đều không diễn tả hết ý, chẳng hạn như bài Thượng sơn dịch là “Ngẩng đầu mặt trời đỏ / Bên suối một nhành mai” thì đã bỏ mất chữ “cận” (nghĩa là “gần”) làm mất đi vẻ đẹp hùng vĩ, lớn lao của Thi nhân – Lãnh tụ, đây là một bức tranh bằng thơ (thi trung hữu họa): những câu thơ đã làm hiện ra trước mắt ta hình ảnh lớn lao, kỳ vỹ của Thi nhân – Lãnh tụ : Người đứng trên núi cao lồng lộng, đầu đã gần chạm mặt trời – đó là biểu tượng của dáng đứng người anh hùng; còn nhành mai bên suối là vẻ đep bình dị mà lãng mạn bay bổng của tâm hồn Thi nhân!...). Trở lại bài thơ Cảm tưởng đọc “Thiên gia thi”, ta thấy bản dịch của Viện Văn học đã bỏ mất chữ “thiên” trong câu đầu “Cổ thi thiên ái thiên nhiên mỹ” cho nên đã dẫn đến cách hiểu sai lệch như đã nói trên. Thực ra ý thơ của Người nói rằng thơ xưa thiên (thiên lệch) về ca ngợi thiên nhiên, thơ nay nên có thêm chất thép, thơ còn phải là vũ khí đấu tranh, nhà thơ phải tham gia đấu tranh cách mạng . Mười năm sau khi xuất bản tập Nhật ký trong tù, giáo sư Đặng Thai Mai mới viết bài Đọc lại tập thơ Nhật ký trong tù và giáo sư đã chỉ ra sự sai sót như đã nêu trên. Giáo sư viết : “Bốn câu thơ trên đây là quan điểm của Bác về hai vấn đề : tình cảm thiên nhiên trong thơ và lập trường đúng đắn của người thi sĩ trong thời đại mới…Có lẽ nên nói ngay rằng : ở đây không hề có thái độ cự tuyệt hoàn toàn đối với tình cảm thiên nhiên trong thơ và cũng không hề có thái độ phủ định tuyệt đối đối với giá trị thơ cổ điển. Nhưng một điểm Bác thấy cần phê phán trong “cổ thi” . Ấy là chỗ tình cảm thiên nhiên của các nhà thơ cổ có chỗ thiên lệch (rất tiếc là bài dịch chưa lột được hết ý của hai chữ “thiên ái” này). Thiên lệch ở chỗ nào ? Hai câu cuối bài thơ trả lời câu hỏi bằng cách nêu rõ yêu cầu của thời đại cần có chất thép và nhà thơ cũng phải biết xung phong” (2). Giáo sư Đặng Thai Mai đã chỉ rõ thơ Hồ Chí Minh bao hàm hai yếu tố hòa hợp với nhau rất nhuần nhụy: chất trữ tình và chất thép. Và đó cũng chính là đòi hỏi của Người đối với thơ hiện đại. 23 năm sau khi bản dịch Nhật ký trong tù được công bố, nhân dịp kỷ niệm 40 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm này (1943-1983), tại một Hội nghị khoa học lớn ở Hà Nội, đồng chí Hà Huy Giáp đã đề xuất ý kiến : “…Bác không phê bình thơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp, Bác chỉ phê bình thơ xưa thiên về cảnh thiên nhiên đẹp, ít chú ý đến việc phục vụ cho sự nghiệp xây dựng một xã hội con người đẹp…Tiếc rằng bài này chưa hết ý nghĩa hai chữ “thiên ái”…Tại sao lại không dùng chữ “thiên”? (Thơ xưa thiên cảnh thiên nhiên đẹp)”…Và đồng chí Hà Huy Giáp đề nghị dịch lại bài thơ là : “Thơ xưa thiên cảnh thiên nhiên đẹp, Mây gió trăng hoa tuyết núi sông. Thơ thời nay nên pha chất thép, Nhà thơ cũng phải biết xung phong Sự phân tích của giáo sư Đặng Thai Mai và đồng chí Hà Huy Giáp nói trên là đúng đắn. Song, bản dịch thơ mà đồng chí Hà Huy Giáp đề xuất tuy lấy lại được chữ “thiên” nhưng lại bỏ mất chữ “ái” ! Thêm nữa, chữ “pha” trong câu ba của bản dịch vừa thô vừa không thể hiện được ý thơ nguyên tắc : thi trung ưng hữu thiết - ở trong thơ có chất thép, chất thép là hạt nhân của thơ chứ đâu phải là sự pha trộn giữa chất thép và thơ ! Hơn nữa, thơ của Người là thơ của bậc tiên phong đạo cốt, “bay cánh hạc ung dung” như cụ Bùi Bằng Đoàn đã viết về Người : “Thao bút nhưng thành thoái lỗ thi !” (Vung bút thành thơ đuổi giặc thù). Dịch như thế khác nào diệt đó vậy !... Vấn đề dịch thơ Hồ Chí Minh, từ lâu đã có nhiều ý kiến tranh luận, đôi khi trái ngược. Nhiều người đề nghị tổ chức dịch lại toàn bộ phần thơ chữ Hán của Người, nhưng có không ít người lại cho rằng cứ để nguyên như bản dịch cũ với lý do : bản dịch đã thấm vào tình cảm, trở thành cảm xúc thẩm mỹ phổ biến và bền vững, thành châm ngôn, tục ngữ, hiện diện trong đời sống hàng ngày của công chúng rồi. Vì thế, dịch lại có nghĩa là sẽ phải thay đổi tâm lý tiếp nhận đã bền vững của công chúng, điều đó quả là khó khăn và không nên !...Vấn đề này, hy vọng là các nhà nghiên cứu, dịch thuật sẽ giải quyết mỹ mãn ...
Xem thêm

2 Đọc thêm

Giáo án thơ trăng sáng cho trẻ mầm non

GIÁO ÁN THƠ TRĂNG SÁNG CHO TRẺ MẦM NON

Giáo án thơ trăng sáng cho trẻ mầm nonGiáo án thơ trăng sáng cho trẻ mầm nonGiáo án thơ trăng sáng cho trẻ mầm nonGiáo án thơ trăng sáng cho trẻ mầm nonGiáo án thơ trăng sáng cho trẻ mầm nonGiáo án thơ trăng sáng cho trẻ mầm nonGiáo án thơ trăng sáng cho trẻ mầm nonGiáo án thơ trăng sáng cho trẻ mầm nonGiáo án thơ trăng sáng cho trẻ mầm non

2 Đọc thêm

Tìm hiểu và phân tích văn học Thu Vịnh

TÌM HIỂU VÀ PHÂN TÍCH VĂN HỌC THU VỊNH

Cảm hứng chủ đạo Thu vịnh có nghĩa là vịnh mùa thu, cũng có thể hiểu mùa thu làm thơ ngâm vịnh. Bài thơ nói lên những rung động của tâm hồn. Nguyễn Khuyến, trước cảnh đẹp mùa thu; ngập ngừng bày tỏ một nỗi niềm thầm kín trước thời cuộc. Phân tích 1. Đề Câu 1, tả vẻ đẹp trời thu nơi đồng quê: xanh ngắt, thăm thẳm “mấy từng cao”. Còn có cái bao la, mênh mông của bầu trời mà ta cảm nhân được. Câu 2 tả một nét thu hữu tình. Gió thu nhè nhẹ, lành lạnh “hắt hiu” gợi buồn, khẽ lay động những ngọn tre, ngọn măng trên luỹ tre làng. “Cần trúc lơ thơ” là một hình ảnh đầy chất thơ mang theo hồn quê man mác. 2. Thực Cảnh thu sáng sớm hay hoàng hôn, chập tối hay canh khuya? Mặt ao thu “nước biếc” bao phủ mơ màng một làn sương “như từng khói phủ”. Đêm đêm nhà thơ mở rộng cửa sổ (song thưa) để đón trăng thu. Hai chữ “để mặc” trong câu thơ “Song thưa để mặc bóng trăng vào” rất thần tình, gợi tả tâm hồn rộng mở và thanh cao của thi nhân. Nguyễn Khuyến thưởng trăng nào có khác gì Nguyễn Trãi 600 năm về trước: “Hé cửa đêm chờ hương quế lọt” (Hương quế: trăng). Phần thực tả trăng nước mùa thu mang vẻ đẹp êm đềm, thơ mộng. Nhà thơ như đang chan hòa, đang trang trải lòng mình với thiên nhiên. 3. Luận Lấy hoa để nhắc lại hoài niệm; lấy tiếng ngỗng không chỉ mượn động để tả tĩnh mà còn để gợi tả nỗi niềm cô đơn của mình. “Hoa năm ngoái” như một chứng nhân buồn. Có khác gì Đỗ Phủ xưa: “Khóm cúc tuôn rơi dòng lệ cũ”? “Ngỗng nước nào”, một câu hỏi nhiều bâng khuâng. Quê hương mình, đất nước mình… nhưng hồn quê nay đã sầu tủi, hồn nước nay đã bơ vơ… đã thành “nước nào” rồi. Tiếng chích chòe, tiếng cuốc kêu, tiếng ngỗng gọi đàn trong thơ Nguyễn Khuyến đầy ám ảnh. Lấy cái nhìn thấy đối với cái nghe thấy, lấy thời gian đối với không gian, Nguyễn Khuyến đã khơi gợi trong hồn ta cái chất thơ của tình thu quyện vào trong cảnh thu. Thu vịnh là như thế! 4. Kết Niềm hứng khởi và nỗi thẹn của nhà thơ. Ngập ngừng muốn cất bút làm thơ để vịnh thu, nhưng rồi lại thẹn. Thẹn với ai? Với danh sĩ Đào Tiềm đời nhà Tấn bên Trung Quốc ngày xưa. Thẹn về tài thơ hay thẹn về khí tiết? Lấy điển tích này diễn đạt bằng một so sánh, Nguyễn Khuyến khiêm tốn và kín đáo giãi bày tâm sự mình, khẳng định lương tâm một nhà nho quyết giữ vững khí tiết: “Rằng quan nhà Nguyễn cáo về đã lâu” (Di chúc). Kết luận Có yêu mùa thu nhiều lắm mới tả, mới vịnh mùa thu hay như vậy. Một nét thu là một nét vẽ thoáng và nhẹ, thanh và trong, thực và mộng. Bầu trời và mặt nước, ngọn tre và làn gió thu, bóng trăng và màn sương khói, chùm hoa và tiếng ngỗng trời… chứa đựng cả một hồn thu đồng quê xa xưa. Trong cái hồn thu ấy thoáng hiện tâm tình, tâm hồn thi nhân: thanh cao, giàu khí tiết, lặng lẽ và cô đơn. Cảnh thu, tình thu đẹp mà thoáng buồn, đầy chất thơ. “Thu vịnh” là một bài thơ kiệt tác.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Đọc hiểu bài thơ "Ánh trăng" của Nguyễn Duy

ĐỌC HIỂU BÀI THƠ "ÁNH TRĂNG" CỦA NGUYỄN DUY

I - TÌM HIỂU CHUNG 1. Tác giả: - Nhà thơ Nguyễn Duy (tên khai sinh là Nguyễn Duy Nhuệ), sinh năm1948, tại xã Đông Vệ, thành phố Thanh Hoá. Tham gia công tác từ 1965, làm tiểu đội trưởng dân quân trực chiến khu vực Hàm Rồng - Thanh Hoá. Năm 1966, nhập ngũ tại Bộ tư lệnh Thông tin, lính đường dây, tham gia chiến đấu tại các chiến trường: Khe Sanh - Đường 9 - Nam Lào. Năm 1979, tham gia mặt trận phía Nam và phía Bắc. Từ 1976, chuyển khỏi quân đội về làm báo Văn nghệ Giải phóng. Hiện công tác tại tuần báo Văn nghệ. Tác phẩm đã xuất bản: Cát trắng (thơ, 1973); Ánh trăng (thơ, 1984); Nhìn ra bể rộng trời cao (bút ký, 1985); Khoảng cách (tiểu thuyết, 1985); Mẹ và em (thơ, 1987); Đường xa (thơ, 1989); Quà tặng (thơ, 1990); Về (thơ, 1994). Nhà thơ đã được nhận: Giải nhất thơ tuần báo Văn nghệ (1973); Tặng thưởng loại A về thơ của Hội Nhà văn Việt Nam (1985). - Xuất hiện vào chặng cuối của chiến tranh chống Mĩ cứu nước, từ khoảng 1972 trở đi, Nguyễn Duy đã trở thành một gương mặt tiêu biểu cho lớp nhà thơ trẻ thời chống Mĩ. Cho đến nay, Nguyễn Duy vẫn là một trong số không nhiều nhà thơ "thời ấy" còn sung sức và được bạn đọc yêu thích. Có thể thấy tài năng và con đường thơ của ông phát triển và khẳng định gắn chặt với những năm tháng đầy biến động của lịch sử dân tộc. Những năm cuối cùng của cuộc chiến tranh, với chùm thơ đăng trên báo Văn nghệ, 1972, Nguyễn Duy đã chiếm được lòng mến mộ của độc giả. Nhà phê bình Hoài Thanh có công phát hiện và giới thiệu Nguyễn Duy. Ông khẳng định ở thơ Nguyễn Duy có một vẻ đẹp "không gì so sánh được", "quen thuộc mà không nhàm chán", "Nguyễn Duy đặc biệt thấm thía cái cao đẹp của những cuộc đời cần cù, gian khổ, không tuổi, không tên", chất thơ của Nguyễn Duy chính là "cái hiền hậu, một cái gì rất Việt Nam". Cuộc thi thơ báo Văn nghệ 1972-1973 tiếp tục khẳng định tài năng của nhà thơ trẻ này bằng việc trao Giải Nhất (đồng giải với Nguyễn Đức Mậu, Hoàng Nhuận Cầm và Lâm Thị Mĩ Dạ) cho chùm thơ 4 bài của Nguyễn Duy (Tre Việt Nam, Hơi ấm ổ rơm, Giọt nước mắt và nụ cười, Bầu trời vuông). Năm 1973, tập thơ đầu tay của ông ra đời, tập Cát trắng. Tập thơ tuy không phải bài nào cũng đạt, nhưng người đọc đều thấy có nét đặc sắc riêng dễ nhận ra. Đó là sự dung dị, đằm thắm chất dân gian mà vẫn mới lạ, là cái chân chất, chắc bền sâu kín. Nguyễn Duy thường hướng nhiều về đất, ca ngợi cái sức mạnh âm thầm lặng lẽ, cái cần cù bền bỉ và chịu đựng hi sinh. Những bài như Tre Việt Nam, Hơi ấm ổ rơm, Bầu trời vuông, Giọt nước mắt và nụ cười, Em bé lạc mẹ,... là những bài thơ như thế. Sau chiến thắng 1975, Nguyễn Duy vẫn say sưa và tiếp tục con đường thơ của mình. Tiếng thơ của ông ngày càng đậm đà, ổn định một phong cách, một giọng điệu quen thuộc, mà vẫn rất hấp dẫn đối với người đọc. Tập thơ nổi bật của Nguyễn Duy là tập ánh trăng (1984). Tập thơ được coi là một bước tiến trong thơ Nguyễn Duy, tập thơ đã được tặng giải A của Hội nhà văn Việt Nam 1984 (cùng tập thơ Hoa trên đá của Chế Lan Viên). ánh trăng tiếp tục viết về bộ đội, về công cuộc đời người lính sau chiến tranh với những vần thơ tha thiết và thấm thía những trăn trở băn khoăn (ánh trăng, Nghe tắc kè kêu trong thành phố...). Cũng ở tập thơ này Nguyễn Duy còn dành nhiều bài thơ viết về tuổi thơ, ruộng đồng, cây cỏ, những vùng quê với những con người thân thuộc bằng một tình cảm thiết tha, nặng tình, nặng nghĩa (Đò lèn, Tuổi thơ, Cầu Bố, ông già sông Hòng, Gửi Huế, Lời của cây, Sông Thao, Đà Lạt một lần trăng...). Vẫn tiếp tục chất giọng ca dao đậm đà, thân thuộc, nhiều bài trong ánh trăng viết theo thể lục bát hết sức nhuần nhị, ngọt ngào, nhiều khi khó mà biết phân biệt được những bài ca dao (Từ điển tác giả, tác phẩm văn học Việt Nam dùng cho nhà trường, NXB Đại học Sư phạm, 2004). 2. Tác phẩm: Bài thơ ánh trăng được tác giả Nguyễn Duy viết năm 1978, sau đưa vào tập ánh trăng - tập thơ được tặng giải A của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1984. Bài thơ được xem như là niềm thôi thúc của tác giả, nhớ về cội nguồn và ý thức trước lẽ sống thuỷ chung. II - GIÁ TRỊ TÁC PHẨM ánh trăng của Nguyễn Duy mang sức sáng nối liền quá khứ - hiện tại, là tấm gương trăng để soi lòng. Con người của gốc lúa bờ tre, của nắng nỏ trời xanh, của lời ru trọn kiếp người không đi hết, của "Nước chè tươi rót vàng mơ" ấy thường hay giật mình giữa chốn đô hội ồn ào: Tắc kè... tắc kè... tôi giật mình (...) cái âm thanh của rừng lạc về thành phố (...) Chợt hiện về thăm thẳm núi non kia" (Nghe tắc kè kêu trong thành phố) Những năm tháng "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước" đã trở thành nguồn mạch hồi ức thường trực trong tâm hồn nhà thơ. Cho nên chỉ một tiếng tắc kè kêu cũng đủ khơi cho nguồn mạch ấy dào dạt chảy. Thì ra, người vốn thiết tha với đồng quê bình dị, say sưa với ca dao hò vè cũng là người ân tình với quá khứ gian lao, nặng lòng với núi rừng một thủa. Với ánh trăng, Nguyễn Duy lại thêm một cái "giật mình". Trăng cứ tròn vành vạnh kể chi người vô tình ánh trăng im phăng phắc đủ cho ta giật mình. Mạch cảm xúc đi từ quá khứ đến hiện tại và lắng kết trong cái "giật mình" cuối bài thơ. Trăng hiện diện trong quá khứ, đột ngột sáng trong hiện tại và mặc nhiên vằng vặc trong suy ngẫm nhân tình. Vầng trăng tình nghĩa sáng trong không gian và thời gian kí ức: Hồi nhỏ sống với đồng với sông rồi với bể hồi chiến tranh ở rừng vầng trăng thành tri kỉ Trần trụi với thiên nhiên hồn nhiên như cây cỏ ngỡ không bao giờ quên cái vầng trăng tình nghĩa Con người và thiên nhiên hài hoà trong mối kết giao tri kỉ, thuỷ chung. Từ những năm tháng tuổi thơ bươn trải nhọc nhằn gắn bó với đồng, với sông rồi với bể cho đến những năm tháng chiến tranh gian khổ sống với rừng, bao giờ trăng cũng gần gũi, thân thiết. Giữa con người với thiên nhiên, với trăng là mối quan hệ chung sống, quan hệ thâm tình khăng khít. Trăng là người bạn đồng hành trên mỗi bước đường gian lao nên trăng hiện diện như là hình ảnh của quá khứ, là hiện thân của kí ức chan hoà tình nghĩa. Người ta cứ đinh ninh về sự bền chặt của mối giao tình ấy, nhưng: Từ hồi về thành phố quen ánh điện, cửa gương vầng trăng đi qua ngõ như người dưng qua đường Cuộc sống hiện đại với ánh sáng chói loà của ánh điện, cửa gương đã làm lu mờ ánh sáng của vầng trăng. Tác giả đã tạo ra sự đối lập giữa hình ảnh vầng trăng tri kỉ, tình nghĩa trong quá khứ và vầng trăng "như người dưng qua đường" trong hiện tại. Sự đối lập này diễn tả những đổi thay trong tình cảm của con người. Thủa trước, ta hồn nhiên sống với đồng, với sông, với bể, với gian lao "ở rừng", khi ấy trăng chan hoà tình nghĩa, thiên nhiên và con người gần gũi, hoà hợp. Bây giờ, thói quen cuộc sống phương tiện đủ đầy khiến ta không còn thấy trăng là tri kỉ, nghĩa tình nữa. Nhà thơ nói về trăng là để nói thế thái, nhân tình. Tuy nhiên, cuộc sống hiện đại luôn có những bất trắc. Và chính trong những bất trắc ấy, ánh sáng của quá khứ, của ân tình lại bừng tỏ, là lúc người ta nhận thấy giá trị của quá khứ gian lao mà tình nghĩa, thiếu thốn mà đủ đầy: Thình lình đèn điện tắt phòng buyn-đinh tối om vội bật tung cửa sổ đột ngột vầng trăng tròn Đây là khổ thơ quan trọng trong cấu tứ của toàn bài, là sự chuyển biến có ý nghĩa bước ngoặt của mạch cảm xúc, bộc lộ rõ chủ đề tư tưởng của bài thơ. Không chỉ là sự thay thế đúng lúc của ánh trăng cho ánh điện, ở đây còn là sự thức tỉnh, bừng ngộ về ý nghĩa của những ngày tháng đã qua, của những cái bình dị của cuộc sống, của tự nhiên, là sức sống vượt ra ngoài không gian, thời gian của tri kỉ, nghĩa tình. Các từ "bật tung", "đột ngột" diễn tả trạng thái cảm xúc mạnh mẽ, bất ngờ. Có cái gì như thảng thốt, lo âu trong hình ảnh "vội bật tung cửa sổ". Vầng trăng tròn đâu phải khi "đèn điện tắt" mới có?! Cũng như những tháng năm quá khứ, vẻ đẹp của đồng, sông, bể, rừng không hề mất đi. Chỉ có điều con người có nhận ra hay không mà thôi. Và thế là trong cái khoảnh khắc "thình lình" đối diện với trăng ấy, ân tình xưa "rưng rưng" sống dậy, thổn thức lòng người: Ngửa mặt lên nhìn mặt có cái gì rưng rưng như là đồng là bể như là sông là rừng Đối diện với trăng là đối diện với chính mình, với con người hiện tại và cả với con người trong quá khứ. Sự đồng hiện thời gian - không gian / trăng - người được thể hiện bằng ngôn ngữ lập thể. Vầng trăng mang ý nghĩa biểu tượng. Mặt trăng đối diện với mặt người, mặt trăng cũng là mặt người, là quá khứ đang sáng trong thực tại, trăng là tri kỉ, ân tình xưa,... Từ khổ thơ đầu là vầng trăng (4 lần) đến khổ thơ cuối bài là ánh trăng. ánh trăng bất chợt soi chiếu, thản nhiên và độ lượng, sự im lặng của ánh trăng là sự im lặng của chân lí. Bình dị, mộc mạc nhưng đủ khiến "ta giật mình". Cái chân lí giản đơn đã thành đạo lí: "Uống nước nhớ nguồn". (Sưu tầm)
Xem thêm

3 Đọc thêm

Đề thi thử vào lớp 10 môn Văn năm 2014 THCS Nghi Văn

ĐỀ THI THỬ VÀO LỚP 10 MÔN VĂN NĂM 2014 THCS NGHI VĂN

Câu 1: (2,0 điểm) Cho đoạn văn: “… Trong những hành trang ấy, có lẽ sự chuẩn bị bản thân con người là quan trọng nhất. Từ cổ chí kim, bao giờ con người cũng là động lực phát triển của lịch sử. Trong thế kỉ tới mà ai ai cũng thừa nhận rằng nền kinh tế tri thức sẽ phát triển mạnh mẽ thì vai trò con người lại càng nổi trội”.                                                                  ( Ngữ văn 9, Tập 2, NXBGD ) a. Đoạn văn trên được trích từ văn bản nào? Tác giả là ai? b. Câu chủ đề của đoạn văn trên là câu nào? c. Phương thức biểu đạt chính của đoạn văn? d. Từ được in đậm trong câu “Trong những hành trang ấy, có lẽ sự chuẩn bị bản thân con người là quan trọng nhất.” là thành phần biệt lập gì ? Câu 2: (3,0 điểm) Cảm nhận của em về nhân vật bác Phi – líp trong văn bản Bố của Xi – mông của nhà văn Pháp Guy đơ Mô – pa - xăng.Từ nhân vật bác Phi – líp suy nghĩ về lòng nhân ái của con người trong cuộc sống. Câu 3: (5,0 điểm) Phân tích đoạn đoạn thơ sau:        “Ngửa mặt lên nhìn mặt  có cái gì rưng rưng                                             như là đồng là bể  như là sông là rừng          Trăng cứ tròn vành vạnh                                            kể chi người vô tình         ánh trăng im phăng phắc   đủ cho ta giật mình.”                                (Trích Ánh trăng – Nguyễn Duy, Ngữ văn 9 – Tập I)   Hết   ĐÁP ÁN ĐỀ THI THỬ VÀO LỚP 10 MÔN VĂN NĂM 2014 - THCS NGHI VĂN, NGHỆ AN  Câu 1: (2,0 điểm) Chiết đến 0,25 điểm. a. Đoạn văn trên trích từ văn bản Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới(0,25 điểm), tác giả Vũ Khoan(0,25 điểm). b. Câu chủ đề là câu 1(0,5 điểm). c. Phương thức biểu đạt chính của đoạn văn là phương thức lập luận(0,5 điểm). d. Từ “có lẽ” là thành phần biệt lập tình thái(0,5 điểm). Câu 2: (3,0 điểm) a. Mở bài: (0,25 điểm) Đi từ tác giả đến tác phẩm đến nhân vật. b. Thân bài:  (2,5 điểm) * Cảm nhận về bác Phi Líp:  (1,5 điểm)  Bác phi líp là người  lao động bình thường, giản dị và có phẩm chất tâm hồn đẹp đẽ. Ý 1: Cảm nhận về ngoại hình. Ý 2:  …Tâm hồn đẹp đẽ: - Bác là người nhân hậu, vị tha, không thờ ơ trước nỗi đau của người khác. - Bác là người rất cao thượng, bao dung. * Suy nghĩ về lòng nhân ái của con người trong cuộc sống: (1,0 điểm) - Học sinh hiểu được lòng nhân ái chính là biết yêu thương sẻ chia, quan tâm đến mọi người. - Trong cuộc sống hiện nay có biết bao người có lòng nhân ái bao la.Đó là con cái yêu thương Cha mẹ, ông bà, anh em ruột thịt yêu thương đùm bọc lẫn nhau, bạn bè, bà con lối xóm khi tối lửa tắt đèn có nhau. +  Yêu thương không chỉ bằng lời nói suông mà bằng những hành động cụ thể….. - Biểu hiện cao nhất của lòng nhân ái là đức hy sinh. + Những chiến sĩ đã cống hiến tuổi xuân cho đất nước(chống Pháp và chống Mĩ) + Các chiến sĩ đang ngày đêm bảo vệ vùng trời vùng biển(liên hệ tới việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan HD981) - Lòng nhân ái chính là truyền thống của dân tộc ta. c. Kết bài: ( 0,25 điểm) Qua nhân vật bác Phi – líp, tác giả đã gửi đến chúng ta bức thông điệp… Câu 3: (5,0 điểm) a. Mở bài: Giới thiệu đoạn thơ, nêu rõ vị trí của đoạn.Khái quát nội dung(có thể nêu ở thân bài).(0,25 điểm) b. Thân Bài:  (4,5 điểm) 1. Luận điểm: (0,5 điểm) Hai khổ thơ cuối ghi lại tình huống gặp lại vầng trăng và sự thức tỉnh, một bài học làm người. 2: Phân tích: (4,0 điểm) Ý 1:  Người lính(con người) gặp lại vầng trăng(người bạn cũ…) trong một tình huống thật bất ngờ khó trốn chạy.....Trong khoảnh khắc ấy, người lính năm xưa bàng hoàng thức tỉnh. Bao kỉ niệm xưa ùa về….   Nghệ thuật: Từ láy(rưng rưng) , điệp ngữ(như là) thể hiện sự rung động xao xuyến hướng về kỉ niệm tốt đẹp, ân hận vì nhận ra lỗi lầm của mình. Ý 2:  Trăng(người bạn cũ, quá khứ) vẫn thủy chung mặc cho ai thay lòng đổi dạ. Trăng vẫn bao dung độ lượng, không đòi hỏi đền đáp.  c. Kết bài: (0,25 điểm) Khái quát ý nghĩa đoạn thơ: Đoạn thơ có ý nghĩa triết lí sâu sắc,  thức tỉnh những ai dễ dàng lãng quên quá khứ tốt đẹp. Cần biết sống thủy chung, nghĩa tình. Các em chú ý theo dõi các đề thi thử vào lớp 10 THPT môn Văn năm 2014 tiếp theo trên Tuyensinh247 nhé! Theo Dethi.Violet
Xem thêm

3 Đọc thêm

Cảm nhận khi đọc bài thơ Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh của Lý Bạch.

CẢM NHẬN KHI ĐỌC BÀI THƠ CẢM NGHĨ TRONG ĐÊM THANH TĨNH CỦA LÝ BẠCH.

Quả thật Lý Bạch với tình yêu quê hương đất nước tha thiết, mãnh liệt được nâng cánh bằng những cảm hứng lãng mạn tuyệt vời. Tĩnh dạ tứ đã hâm nóng những mạch cảm xúc trong ta, ta yêu quý trân trọng và hoà cùng những dòng thơ Lý Bạch chính là làm cho giá trị đích thực của thi ca chuyển tải thế giới nội tâm con người sống mãi với thời gian.      Có ai đi xa mà chẳng nhớ về quê hương làng xóm. Nơi đã gắn bó máu thịt trong tâm hồn mỗi người chúng ta. Với Lý Bạch, thi nhân suốt đời chống kiếm lãng du luôn nặng tình với quê hương. Tình cảm ấy thể hiện da diết mãnh liệt, dâng trào, nó được nâng cánh bằng cảm hứng lãng mạn, bay bổng diệu kỳ qua bài Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh. Đầu giường ánh trăng rọi Ngỡ mặt đất phủ sương Ngẩng đầu nhìn trăng sáng Cúi đầu nhớ cố hương Từ xưa đến nay các thi nhân bao giờ cũng mượn cảnh để bày tỏ nỗi niềm tâm sự. Một bức tranh đẹp ập vào mắt ta trước tiên cũng là cảnh và sau đó là tình, tả tâm trạng ẩn chứa bên trong Lý Bạch - “thi tiên” của đời Đường Trung Quốc ngay từ những dòng thơ đầu đã dẫn ta vào một thế giới tràn đầy ảo diệu. Sàng tiền minh nguyệt quang Nghi thị địa thượng sương Ấn tưọng đầu tiên là trăng, trăng ở khắp mọi nơi không chỉ giới tận nơi đầu giường lữ khách. Đêm khuya thanh tĩnh, bốn bề vắng lặng ta nghe những bước trăng nhẹ nhàng len lỏi phủ khắp không gian. Trăng như dòng suối miên man chảy trong đêm sâu. Trăng dịu mát vuốt ve cảnh vật trong cái tĩnh lặng đến khôn cùng. Trong đêm thâu, không gian bốn bề vắng lặng, không một tiếng gió thổi, một tiếng côn trùng kêu, cũng chẳng có một tiếng chuông chùa ngân buông... chỉ có trăng sáng trải khắp không gian. Ánh trăng gợi cảm giác lâng lâng lạ thường, ánh trăng giờ đây là chủ thể. Thiên nhiên hiện lên với vẻ đẹp trong sáng nhất. Cuộc sống trở về những nhịp thâm trầm, trút bỏ cái náo động, xô bồ của ban ngày. Trăng đẹp hiền dịu biết bao, trăng tìm đến với con người. Bác Hồ của chúng ta cũng là một lãnh tụ rất yêu trăng: Trăng vào cửa sổ đòi thơ Việc quân đang bận xin chờ hôm sau Bác Hồ đành từ chối người bạn tri âm tri kỷ bởi còn bận việc nước. Còn với Lý Bạch người lãng tử trong phút dừng chân nơi quán trọ để trọn lòng mình đến với trăng. Trăng đẹp và thơ mộng quá. Đêm đã sang canh êm đềm thanh tĩnh lúc này chỉ có trăng và nhà thơ. Và rồi không thể hững hờ với vầng trăng đã từng làm bạn từ ngày còn hẹn hò trên núi Nga Mi. Lý Bạch ngẩng đầu ngắm trăng, trăng gặp thi nhân như hai kẻ tri âm tri kỷ, cảm động không nói nên lời. Trong phút đối diện bất ngờ ấy, sự liên tưởng lãng mạn kèm theo sự hoài nghi diệu kỳ. Trăng hay là sương mặt đất? Ánh trăng hắt qua song cửa hay là sương khói mông lung? Trăng thực đấy mà sao mờ mờ, ảo ảo khó nắm bắt đến kỳ lạ. Cái sương khói của ánh trăng làm cho câu thơ ngập trong không khí mơ màng, hư hư thực thực, trăng sáng mà sáng bàng bạc huyền ảo. Trăng ở quanh thi nhân như tầng tầng lớp lớp. Trăng làm cho căn phòng hẹp của thi nhân và mặt đất bao la hoà làm một, và cũng rất tự nhiên: Cửu đầu vọng minh nguyệt, Đê đầu tư cố hương (Ngẩng đầu nhìn trăng sáng Cúi đầu nhớ cô hương) Đêm nay nhìn trăng sáng nơi quê người, nỗi lòng mãnh liệt, tha thiết trong lòng đứa con xa quê trỗi dậy, day dứt khôn nguôi. Ánh trăng thời trai trẻ năm nào trên núi Nga Mi hiện về. Quá khứ, hiện tại, quê nhà, quê người, thành công, thất bại, hy vọng.. đan xen trĩu nặng trong lòng tác giả, ánh trăng đêm nay sáng quá và nó gợi bao kỷ niệm. Ngẩng đầu nhìn trăng là tư thế hướng ngoại, cúi đầu là nhớ về cố hương (hướng nội). Hai tư thế ngẩng đầu, và cúi đầu, hai tâm trạng nhìn và nhớ, hai đối tượng làm trĩu lòng kẻ xa quê. Hai hình ảnh trăng sáng và cố hương đi sóng đôi nhau biểu hiện một tâm hồn yêu thiên nhiên, yêu quê hương tha thiết. Nhớ cố hương là nhớ tới gia đình, người thân, nhớ tới thời thơ ấu với bao mộng tưởng đẹp đẽ. Thế mới biết quê hương là những gì thiêng liêng nhất, một ngôi nhà, một góc phố, một cánh đồng, một dòng sông... Nhà thơ Chế Lan Viên có câu: Khi ta ở chỉ là nơi đất ở Khi ta đi đất bỗng hoá tâm hồn (Tiếng hát con tàu) Tình yêu quê hương đã thành máu, thành hồn. Nó được thể hiện qua những cung bậc của tình cảm. Nỗi nhớ quê hương qua sự khơi gợi của ánh trăng dội về mãnh liệt. Tình yêu quê hương với cả một bức tranh chan chứa ánh trăng làm nền bay cao mãi, xa mãi, ngân vang mãi khúc nhạc lòng của chàng trai trẻ ngày nào trên núi Nga Mi. Câu thơ cuối khép lại nhưng tình nhưng ý còn chưa dứt. Dù chỉ trong hai mươi chữ, nhưng cuối cùng ấn tượng đậm nét trong ta về Lý Bạch là một con người luôn gắn bó với cố hương. Quả thật Lý Bạch với tình yêu quê hương đất nước tha  thiết, mãnh liệt được nâng cánh bằng những cảm hứng lãng mạn tuyệt vời. Tĩnh dạ tứ đã hâm nóng những mạch cảm xúc trong ta, ta yêu quý trân trọng và hoà cùng những dòng thơ Lý Bạch chính là làm cho giá trị đích thực của thi ca chuyển tải thế giới nội tâm con người sống mãi với thời gian. Lý Bạch đã góp phần làm cho diện mạo thơ Đường thêm phong phú. Trích: loigiaihay.com
Xem thêm

2 Đọc thêm

Cùng chủ đề