BỆNH RỐI LOẠN MỠ TRONG MÁU

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "BỆNH RỐI LOẠN MỠ TRONG MÁU":

Rối Loạn Chuyễn Hóa Các Chất

Rối Loạn Chuyễn Hóa Các Chất

rối loạn chuyển hóa lipid rối loạn chuyển hóa lipid máu rối loạn chuyển hóa rối loạn chuyển hóa mỡ rối loạn chuyển hóa lipid máu là gì rối loạn chuyển hóa lipid là gì rối loạn chuyển hóa bẩm sinh rối loạn chuyển hóa glucid rối loạn chuyển hóa là gì rối loạn chuyển hóa porphyrin rối loạn chuyển hóa acid amin rối loạn chuyển hóa acid uric rối loạn chuyển hóa acid nucleic rối loạn chuyển hóa axit béo sơ đồ rối loạn chuyển hóa acid amin sơ đồ rối loạn chuyển hóa axit amin rối loạn chuyển hóa nước và điện giải sơ đồ về rối loạn chuyển hóa acid amin chế độ ăn rối loạn chuyển hóa rối loạn chuyển hóa tinh bột rối loạn chuyển hóa đường bẩm sinh rối loạn chuyển hóa tế bào cơ tim hội chứng rối loạn chuyển hóa bẩm sinh bệnh rối loạn chuyển hóa bẩm sinh bệnh rối loạn chuyển hóa là gì bệnh rối loạn chuyển hóa bệnh rối loạn chuyển hóa lipid máu rối loạn chuyển hóa canxi rối loạn chuyển hóa citrin rối loạn chuyển hóa chức năng gan rối loạn chuyển hóa cholesterol rối loạn chuyển hóa cơ thể rối loạn chuyển hóa chu trình ure rối loạn chuyển hóa chất rối loạn chuyển hóa nước và chất điện giải chữa rối loạn chuyển hóa tinh bột rối loạn chuyển hóa đường rối loạn chuyển hóa đồng rối loạn chuyển hóa đường huyết rối loạn chuyển hóa đường khi mang thai rối loạn chuyển hóa đạm rối loạn chuyển hóa đường galactose bệnh rối loạn chuyển hóa đường rối loạn chuyển hóa nước điện giải rối loạn chuyển hóa galactose rối loạn chuyển hóa glucose rối loạn chuyển hóa gluxit rối loạn chuyển hóa gan rối loạn chuyển hóa glucid thường gặp trẻ rối loạn chuyển hóa galactose bệnh rối loạn chuyển hóa glycogen rối loạn chuyển hóa hemoglobin rối loạn chuyển hóa insulin rối loạn chuyển hóa porphyrin là gì rối loạn chuyển hóa mỡ là gì rối loạn chuyển hóa lipoprotein là gì rối loạn chuyển hóa lipoprotein rối loạn chuyển hóa kali rối loạn chuyển hóa kiềm toan không dùng cho trẻ rối loạn chuyển hóa galactose rối loạn chuyển hóa lipid trong máu rối loạn chuyển hóa năng lượng rối loạn chuyển hoá lipid là gì bệnh lý rối loạn chuyển hóa sinh lý bệnh rối loạn chuyển hóa glucid sinh lý bệnh rối loạn chuyển hóa lipid sinh lý bệnh rối loạn chuyển hóa protid rối loạn chuyển hóa mỡ máu rối loạn chuyển hóa muối nước rối loạn chuyển hóa mỡ nhẹ rối loạn chuyển hóa mỡ trong máu bệnh rối loạn chuyển hóa mỡ máu bị rối loạn chuyển hóa mỡ rối loạn chuyển hóa natri rối loạn chuyển hóa nội tiết bệnh rối loạn chuyển hóa ở người là gì rối loạn chuyển hóa ở trẻ sơ sinh rối loạn chuyển hóa ở trẻ bệnh rối loạn chuyển hóa ở trẻ em rối loạn chuyển hóa sắt ở trẻ sơ sinh bệnh rối loạn chuyển hóa ở trẻ sơ sinh rối loạn chuyển hóa protein rối loạn chuyển hóa protid rối loạn chuyển hóa purin rối loạn chuyển hóa propionic rối loạn chuyển hóa sắt rối loạn chuyển hóa sắc tố mật rối loạn chuyển hóa sphingolipid rối loạn chuyển hóa trẻ sơ sinh bệnh rối loạn chuyển hóa sắt rối loạn chuyển hóa ty thể rối loạn chuyển hoá ure rối loạn chuyển hóa vitamin rối loạn chuyển hóa xương tỷ lệ rối loạn chuyển hóa lipid
Xem thêm

Đọc thêm

TIỂU ĐƯỜNG VÀ TIM MẠCH

TIỂU ĐƯỜNG VÀ TIM MẠCH

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Do tên gọi là tiểu đường nên 10 người hết 9 tưởng bệnh này nhiêu khê vì hậu quả của rối loạn biến dưỡng chất đường. Đúng là bệnh khởi phát do đường huyết không còn trong vòng kiểm soát của tụy tạng khiến đường ở lại trong máu quá lâu thay vì được huy động vào bắp thịt đúng tiến độ để sản sinh năng lượng cần thiết cho hoạt động của gia chủ, nhưng nếu tưởng chỉ vì thế nên bệnh có nhiều biến chứng nghiêm trọng thì sai. Bệnh tiểu đường khó chữa về lâu về dài vì bao giờ sớm muộn cũng dẫn đến rối loạn biến dưỡng chất béo, nghĩa là trước tăng đường huyết, sau tăng mỡ máu. Ốm mà tăng mỡ mới oan Đó là lý do tại sao nhiều bệnh nhân tiểu đường dù không dư cân hay béo phì, thường khi thậm chí suy dinh dưỡng nhưng vẫn tăng mỡ trong máu, đặc biệt là loại gây xơ vữa mạch máu, gây thuyên tắc vi mạch, như Triglyceride. Chẳng những thế, nhiều bệnh nhân có thể mình hạc xương mai nhưng không ngờ là lá gan lại nhiễm mỡ kéo theo tăng men gan do tế bào gan bị phá vỡ và trám chỗ bởi tế bào mỡ, theo kết quả nghiên cứu gần đây ở Mỹ. Chính vì thế mà thầy thuốc nhiều kinh nghiệm với bệnh tiểu đường bao giờ cũng theo dõi mỡ máu và men gan thay vì chỉ tập trung vào đường huyết.   Kiểm tra huyết áp và đường huyết để chủ động phòng bệnh tim mạch Ảnh: Ngọc Dung Một đủ khổ huống gì đến hai! Cũng vì rối loạn biến dưỡng, chất béo nhanh chân ăn theo nên bệnh tim mạch bao giờ cũng đồng hành với bệnh tiểu đường. Chuyên gia ngành tim mạch đã quả quyết là phía sau của hơn 50% trường hợp tai biến mạch máu não và nhồi máu cơ tim có bàn tay phá hoại ngấm ngầm của bệnh tiểu đường. Đáng nói hơn nữa là tỉ lệ tử vong của đối tượng vừa cao huyết áp vừa bị bệnh tiểu đường cao gấp 3 lần người tuy có bệnh tim mạch nhưng không vướng bệnh tiểu đường. Người có bệnh tim mạch vì thế cần được đồng thời tầm soát bệnh tiểu đường thay vì chỉ chú trọng vào tim, vào mạch. Hở sườn hỏi sao không đo ván! Cũng vì tình trạng xơ vữa động mạch nên hệ thống vi mạch bao giờ cũng là miếng mồi ngon trong bệnh tiểu đường. Mạch máu càng xa trái tim càng dễ tắc nghẽn, vì: - Dòng máu đậm đặc hơn bình thường do tăng mỡ máu. - Mạch máu dễ bị thương tổn, mạch máu càng nhỏ càng là điểm yếu, do tác hại của rối loạn biến dưỡng chất đường khiến tiểu cầu, chất mỡ, chất vôi… có cơ hội kết dính vào mặt trong thành mạch. - Mạch máu co thắt thái quá vì trục trặc lúc nào cũng chực chờ trong khâu thần kinh - nội tiết của người bệnh có lượng đường huyết không ổn định. Đường huyết càng dao động, hiện tượng xơ vữa vi mạch càng nhanh chân chiếm thế thượng phong. Tình trạng thiếu dưỡng khí cục bộ khi đó không mời cũng đến. Hậu quả tất nhiên nghiêm trọng nếu nơi thiếu dưỡng khí là não bộ, thành tim, cầu thận, đáy mắt… Nhiều mặt giáp công mới mong thủ hòa Muốn ngăn chặn biến chứng nghiêm trọng của bệnh tiểu đường phải bảo vệ cho bằng được mạng lưới mạch máu li ti. Mục tiêu đó khó khả thi nếu chỉ trông mong vào viên thuốc hạ đường huyết bằng hóa chất tổng hợp. Bằng chứng là tỉ lệ biến chứng của bệnh tiểu đường ở các nước tiên tiến, nơi không thiếu thuốc đặc hiệu, vẫn chưa được cải thiện. Do vậy càng lúc càng có nhiều thầy thuốc chuyên khoa trở về với dược liệu thiên nhiên. Đó là lý do tại sao trên toa thuốc của nhiều thầy thuốc chữa bệnh tiểu đường theo quan điểm toàn diện đã từ lâu có mặt cây thuốc với công năng vừa giảm mỡ máu vừa bảo vệ thành mạch trước hiện tượng xơ vữa. Chỉ hạ đường huyết trong bệnh tiểu đường, chỉ tập trung chữa bệnh tiểu đường mà quên phòng ngừa bệnh tim mạch là giải pháp rõ ràng phiến diện.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Ðề phòng rối loạn tuần hoàn não

ÐỀ PHÒNG RỐI LOẠN TUẦN HOÀN NÃO

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Những bệnh mạn tính như rối loạn mỡ máu, tăng huyết áp, béo phì, nghiện rượu, nghiện thuốc lá, thuốc lào, áp lực công việc... là những yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh này. Nhiều yếu tố nguy cơ gây bệnh Ở người khỏe mạnh, lưu lượng tưới máu não là 55ml máu/100g não/phút. Nếu lưu lượng máu não thấp dưới 20ml/100g/phút thì não sẽ bị thiếu máu, khi đó gọi là rối loạn tuần hoàn não. Hoạt động tim mạch bảo đảm sự tưới máu đầy đủ cho não. Những yếu tố dẫn đến rối loạn tuần hoàn não gồm các bệnh mạn tính như: tăng huyết áp, xơ cứng mạch não, tình trạng rối loạn mỡ máu, nồng độ đường tăng trong máu, các bệnh van tim, rối loạn nhịp tim, suy thận mạn... Bên cạnh đó, sự thay đổi về thời tiết, khí hậu, thời khắc sinh học... là những yếu tố nguy cơ dẫn đến rối loạn tuần hoàn não. Một số nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy, tai biến mạch máu não phát triển nhiều vào tháng 8, tháng 12 và tháng 1 ở đồng bằng sông Cửu Long. Ở Hà Nội thấy tai biến mạch máu não xảy ra vào các tháng 2, 3, 10, 11 có liên quan đến mùa lạnh, gió mùa Đông Bắc. Nghiên cứu cũng cho biết, về thời sinh học, con người có 2 khoảng thời gian dễ gặp rủi ro về tuần hoàn não nhất là vào thời điểm từ 4 - 5 giờ sáng và 5 - 6 giờ chiều. Các yếu tố như thói quen, tập quán sinh hoạt, trình độ văn hóa và bệnh tật ảnh hưởng nhiều đến tỷ lệ mắc bệnh. Trên thực tế có nhiều người không biết trị số huyết áp của mình; số khác lại rất thờ ơ với các biểu hiện đau đầu, mỏi chi... nên không biết cách để phòng tránh rối loạn tuần hoàn não. Người uống nhiều rượu, bia, nghiện thuốc lá, thuốc lào là yếu tố nguy cơ gây rối loạn tuần hoàn não. Những người thừa cân, béo phì, ít vận động dễ bị tăng huyết áp, tiểu đường, tim mạch... cũng tác động xấu đến rối loạn tuần hoàn não. Những người bị căng thẳng, stress cũng dễ mắc bệnh.    Sơ đồ tổn thương rối loạn tuần hoàn não. Biểu hiện của rối loạn tuần hoàn não Người bị rối loạn tuần hoàn não hay gọi là thiểu năng tuần hoàn não, ở giai đoạn đầu có thể bù trừ, nếu không được phát hiện và điều trị, thời gian sau chuyển sang giai đoạn mất bù với cơn thiếu máu não thoáng qua. Các dấu hiệu của bệnh bao gồm: mỏi tay chân ở một bên người, có cảm giác tê bì, co giật ở chi, có khi đang nói chuyện người bệnh dừng lại không nói được, hay đột nhiên có người đi ngoài đường không nhớ đường về nhà... Khi đã có những rối loạn này mà không được điều trị sớm, bệnh sẽ tiến triển nặng hơn, nhất là người bệnh có sẵn các yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp, bệnh tiểu đường, tim mạch... Trường hợp tai biến mạch máu não là biểu hiện của rối loạn tuần hoàn não cấp tính. Những triệu chứng của tai biến mạch máu não là: đau đầu dữ dội, hôn mê, nôn và buồn nôn, liệt chi, méo tiếng, mất tiếng, xuất huyết não ở các vị trí đặc biệt như chảy máu não thất, chảy máu tiểu não, nhồi máu não... bệnh nhân rất dễ tử vong. Rối loạn tuần hoàn não mạn tính là tình trạng thiếu máu não mạn tính với các bệnh cảnh sa sút trí tuệ ở người già, đau đầu, chóng mặt... Rối loạn tuần hoàn não còn được phân loại theo vị trí tổn thương như ở vùng não bán cầu, vùng trán, vùng thái dương, vùng chẩm, vùng thân não, tiểu não... Trong các rối loạn tuần hoàn não, ít nhiều đều có phù não, gây ra các rối loạn về tâm lý, như người bệnh dễ nóng giận, buồn vui, hay quên, thậm chí không gọi tên được người thân ngồi trước mặt. Những rối loạn khác có thể gặp là rối loạn thần kinh thực vật như cảm giác nóng bừng bừng, toát mồ hôi, nghẹt thở, lạnh các đầu chi, nổi da gà, rối loạn kích thích, rối loạn đại tiểu tiện... Chẩn đoán bệnh phải dựa vào việc hỏi bệnh, thăm khám lâm sàng kết hợp với các xét nghiệm thăm dò chức năng thần kinh. Việc điều trị chủ yếu nhằm tái lập sự cung cấp máu bình thường với đầy đủ ôxy cho não. Thầy thuốc tùy theo loại và mức độ rối loạn tuần hoàn não để chọn thuốc, liều dùng thích hợp để lập lại cân bằng não bị suy giảm. Hiện nay có rất nhiều thuốc có tác dụng tăng cường tuần hoàn não như tanakan, vinpocetin, piracetam, các thuốc Đông y là chế phẩm từ cây ginkgo biloba... Lời khuyên của bác sĩ Mọi người cần nhận thức rõ những yếu tố nguy cơ để phòng bệnh, kiểm soát đường máu, tránh các yếu tố gây stress. Đối với người cao tuổi và những người có sẵn nhiều nguy cơ nên khám sức khỏe thường xuyên, thận trọng với những giờ đỉnh của huyết áp nhất là vào buổi sáng. Khi nghi ngờ bị thiểu năng tuần hoàn não: có đau đầu, chóng mặt, buồn nôn..., cần đi khám bệnh ngay. Hàng ngày cần có chế độ ăn uống hợp lý như ăn nhiều rau, quả, cá, hạn chế ăn thịt, không nên ăn mỡ động vật. Hạn chế đến mức tối đa uống rượu, bia. Nên bỏ thuốc lá hoặc thuốc lào. Tập thể dục đều đặn để ngăn ngừa một số bệnh như tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, thừa cân vì các bệnh này gián tiếp làm xuất hiện bệnh thiểu năng tuần hoàn não. Khi đã được chẩn đoán bị thiểu năng tuần hoàn não, cần tuân theo những lời tư vấn của bác sĩ, nhất là chế độ ăn, tập luyện, dùng thuốc. Người cao tuổi không nên tắm nước lạnh, nhất là vào mùa lạnh, nên mặc ấm, nơi nằm ngủ tránh gió lùa. Mùa đông mỗi lúc thức dậy, cần cử động chân tay một lúc mới ngồi dậy, tránh lạnh đột ngột.    
Xem thêm

2 Đọc thêm

Phòng mỡ máu để tránh bệnh tim mạch

PHÒNG MỠ MÁU ĐỂ TRÁNH BỆNH TIM MẠCH

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Bên cạnh chất đạm và chất đường, chất béo là hoạt chất không thể thiếu trong cơ thể con người vì nó vừa là nguồn dự trữ năng lượng vừa là thành phần thiết yếu trong cấu trúc của tế bào. Mỡ không phải lúc nào cũng hại Dù gầy hay mập, cơ thể lúc nào cũng cần được tiếp tế chất béo. Vấn đề chỉ là với số lượng bao nhiêu và với thể loại nào của chất béo. Bệnh hoạn chỉ xảy ra nếu vì lý do nào đó tiến trình biến dưỡng chất béo bị rối loạn. Khi đó chất mỡ trong máu tăng cao cho dù có nhịn ăn thịt mỡ vì cơ thể tự tổng hợp chất béo, chẳng hạn từ chất đường thặng dư trong máu, như trong trường hợp của người bệnh đái tháo đường. Éo le chính ở chỗ lá gan mỗi khi gia tốc tiến trình tổng hợp chất béo lại tập trung vào loại mỡ máu gây xơ vữa mạch máu, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não, suy thận…, điển hình là 2 loại mang tên triglyceride (viết tắt là TGL) và cholesterol xấu (LDL). Nếu nghĩ 2 loại mỡ này lúc nào cũng là thủ phạm thì oan. Về cơ bản, lá gan tổng hợp 2 loại chất béo này để vừa cung ứng năng lượng bền bỉ vừa cung cấp vật liệu cho tiến trình phục hồi ở các cơ quan bị tổn thương. Hai chất mỡ này chỉ trở thành yếu tố gây bệnh vì là đòn bẩy của tình trạng xơ vữa mạch máu khi có thừa trong máu hay có mặt quá lâu trong máu do dòng máu quá đậm đặc.   Vận động thể dục thể thao là cách tốt nhất để phòng tránh tăng mỡ máu (Ảnh: Hoàng Triều) Hành trình của chất mỡ trong máu Nếu nghĩ TGL và LDL lúc nào cũng sẵn sàng sinh sự khiến mạch máu chai cứng vì mảng xơ vữa dán chặt vào thành mạch máu thì sai. Hai chất này sở dĩ còn thừa trên đường “công tác” là vì tế bào không dùng hết; nói đúng hơn, muốn dùng nhưng dùng không được. Lý do là vì hệ thống men cần thiết cho tiến trình dung nạp chất béo qua thành tế bào bị mất hoạt tính. Hậu quả là chất mỡ trong máu chạy ngang tế bào nhưng lại không giao hàng đúng hẹn, đúng chỗ, đúng nhu cầu. Thay vì đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, chất mỡ lại tiếp tục rong chơi. Nếu chỉ có thế thì tuy trục trặc nhưng vẫn còn may. Đằng này chất mỡ trong máu khi gặp điều kiện thuận tiện, chẳng hạn vì “kẹt xe” quá lâu trên đường vận chuyển do dòng máu quá đậm đặc do tiểu cầu kết dính dưới ảnh hưởng của stress, bởi mạch máu co thắt thái quá vì gia chủ căng thẳng thần kinh cao độ, do mặt trong mạch máu bị trầy xước trước tác hại của chất ôxy hóa sản sinh từ khói thuốc lá, độ cồn, dược phẩm dùng sai… rất dễ tấp vào thành mạch máu rồi ở lại không về. Từ đó, mảng xơ vữa thành hình, mạch máu bắt đầu mất dần tính đàn hồi vì tụ điểm xơ vữa lan rộng. Khi đó, kháng lực ngoại biên của mạng lưới mạch máu tăng dần với tiến độ càng lúc càng nhanh. Trái tim vì thế phải tăng năng suất để cố đẩy máu qua chỗ kẹt. Bệnh cao huyết áp khi đó “vào nhà”. Tình trạng máu không thông vì xơ vữa mạch máu càng dễ trở nên nghiêm trọng ở nơi mạch máu nhỏ li ti như đáy mắt, não bộ, cầu thận… Biến chứng nguy hiểm của bệnh cao huyết áp như xuất huyết đáy mắt, đột quỵ, suy thận… chỉ còn là chuyện không chóng thì chầy! Tốt nhất là nên tập thể dục thể thao Tất cả chuyện nhiêu khê sẽ không xảy ra, không là đòn bẩy để bệnh tim mạch đứng đầu về tỉ lệ tử vong nếu có cách nào để chất mỡ được dùng cho hết thay vì lãng phí để rồi sinh bệnh. Đó là lý do tại sao ngày càng có nhiều thầy thuốc không chỉ tập trung vào việc hạ mỡ máu bằng thuốc đặc hiệu trong bệnh cao huyết áp, đái tháo đường, viêm thận… vì có khéo thế nào vẫn chỉ là chữa cháy mà thôi; trái lại, họ đã nhìn xa hơn khi đặt lên cao mục tiêu điều chỉnh mỡ máu bằng cách áp dụng hoạt chất sinh học trong cây thuốc, thực phẩm. Nếu tưởng phải có thuốc nào cầu kỳ mới xong thì sai. Ít ai ngờ là chuyên gia về bệnh tim mạch ở ĐH Thể dục Thể thao Cologne (Đức) quả quyết vận động thể dục thể thao là cách tốt nhất để phòng tránh tăng mỡ máu. Chất béo không đồng nghĩa với chất có hại, miễn là hàm lượng mỡ trong máu, trong gan, trong mô dưới da đừng vượt quá định mức bình thường.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Không được để thiếu máu lên não

KHÔNG ĐƯỢC ĐỂ THIẾU MÁU LÊN NÃO

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Não rất nhạy cảm với việc thiếu oxy, nhu cầu oxy của tổ chức não gấp 5 lần so với tim. Não là cơ quan trọng yếu của cơ thể, vì vậy thiếu máu não sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ nói chung và nhất là với hệ thần kinh trung ương. Nếu ngừng tuần hoàn não từ 6 - 7 giây sẽ bị ngất, ngừng 40 - 110 giây sẽ bị mất các phản xạ, ngừng 5 phút thì tế bào não sẽ chết, không hồi phục được. Việc thiếu máu lên não là do rối loạn tuần hoàn não (RLTHN), bệnh lý này có thể gặp ở mọi lứa tuổi, mọi đối tượng, và hiện nay, các bệnh mạn tính như mỡ trong máu, cao huyết áp, béo phì, nghiện rượu, thuốc lá… và những áp lực của công việc, cuộc sống ô niễm đang làm cho chứng bệnh này có xu hướng mắc phải nhiều hơn. Dấu hiệu của rối loạn tuần hoàn não RLTHN có thể xảy ra cấp tính nhưng bệnh cũng có thể trở thành mạn tính kéo dài nếu không điều trị đúng, những biểu hiện của RLTHN:   Đau đầu là triệu chứng hay gặp nhất trong rối loạn tuần hoàn não, thường chiếm tỷ lệ rất cao (khoảng 90%) và cũng là triệu chứng xuất hiện sớm nhất (Ảnh minh họa) Đau đầu là triệu chứng hay gặp nhất trong RLTHN, thường chiếm tỷ lệ rất cao (khoảng 90%) và cũng là triệu chứng xuất hiện sớm nhất. Tính chất của đau đầu lan toả khắp đầu, nhức hoặc ê ẩm, nặng đầu. Kèm theo đau nhức đầu là ù tai, chóng mặt, hoa mắt, mất thăng bằng (khó ngồi, khó đứng dậy), nhất là lúc đang nằm mà thay đổi tư thế (nằm nghiêng chuyển sang nằm ngửa). Tỷ lệ bị chóng mặt chiếm tỷ lệ khá cao (khoảng 87%). Nặng hơn là có thể xây xẩm mặt mày, mất ý thức, đột quỵ. Người bệnh có thể buồn nôn hoặc nôn, có thể liệt nửa người, nói khó… Người bệnh cũng có thể bị chứng dị cảm như thấy tê đầu ngón tay, ngón chân hoặc tê bì tay chân hoặc có cảm giác kiến bò. Bệnh RLTHN có thể chỉ thoáng qua trong vài giây, vài phút nhưng có khi cũng có thể xảy ra hàng giờ, mấy ngày liền. RLTHN thường xảy ra vào giữa đêm hoặc lúc gần sáng. Bệnh RLTHN thường cũng có nhức đầu ê ẩm từng đợt, nhất là thay đổi thời tiết, chóng quên, rối loạn tâm lý như hay cáu giận, buồn vui lẫn lộn, mất ngủ kéo dài hoặc rối loạn giấc ngủ (ngủ ít, ngủ không ngon giấc, đang ngủ lại bị tỉnh giấc không thể nào ngủ lại được nữa…). RLTHN gây nên hiện tượng thiếu máu não và cũng có thể gây nên phù não. Điều đáng lo ngại nhất của rối lọan tuần hoàn não là gây nên các biến chứng nặng nề như nhũn não hoặc xuất huyết não gây liệt nửa người hoặc tử vong đột ngột.   Điều đáng lo ngại nhất của rối lọan tuần hoàn não là gây nên các biến chứng nặng nề như nhũn não hoặc xuất huyết não gây liệt nửa người hoặc tử vong đột ngột. (Ảnh minh họa) Giải pháp cho bệnh RLTHN! Hiều được điều đó, Viện Y dược học dân tộc TP.HCM đã nghiên cứu thành công hiệu quả điều trị của bài thuốc bổ dương hoàn ngũ thang cải tiến, giúp bổ khí thông huyết, tăng cường sự lưu thông của khí huyết tới não và các chi, làm bền thành mạch, đánh tan huyết khối, ngăn ngừa tình trạng thiếu máu lên não dù là thoảng qua. Trong bài thuốc có các vị như: Bạch thược, xuyên khung: Giúp hoạt huyết, giảm đau đầu, chóng mặt, hoa mắt. Đương quy, đào nhân bổ huyết, giảm đau, an thần dễ ngủ. Hoàng kỳ, nhân sâm: Đại bổ nguyên khí tăng cường sinh lực, tăng sức co bóp của tim, hạ mỡ máu, trị cơ thể suy nhược mệt mỏi. Địa long tăng cường dinh dưỡng, hoạt huyết chống kết tập tiểu cầu. Kế thừa và phát huy thành công từ nghiên cứu lâm sàng của bài thuốc bổ dương hoàn ngũ thang, Công ty cổ phần BV Pharma liên kết với Viện Y dược học dân tộc sản xuất thành phẩm thuốc giúp bổ khí thông huyết đạt hiệu quả cao trong điều trị rối loạn tuần hoàn não trên dây chuyền đạt chuẩn GMP –WHO (kiểm soát chặt chẽ nguyên liệu đầu vào – sản xuất – đến thành phẩm đều đạt tiêu chuẩn của BYT quy định). Hãy chăm sóc cho bản thân và gia đình ngay từ hôm nay.
Xem thêm

2 Đọc thêm

4 mẹo nhỏ ngăn ngừa gan nhiễm mỡ

4 MẸO NHỎ NGĂN NGỪA GAN NHIỄM MỠ

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Khi bị bệnh viêm gan do nhiễm mỡ, có thể dẫn đến bệnh xơ gan (chứng xơ hóa, xơ cứng gan) và rất dễ có khả năng phát triển thành bệnh ung thư gan. Theo nghiên cứu y tế, gan nhiễm mỡ chủ yếu là do những thói quen xấu trong cuộc sống, chẳng hạn như uống rượu và béo phì. Để tránh những rắc rối gây ra bởi căn bệnh này, chúng ta cần hình thành thói quen sống tốt trong cuộc sống hàng ngày để ngăn chặn sự gan nhiễm mỡ. Dưới đây là 4 cách có thể giúp bạn ngăn ngừa gan nhiễm mỡ: Tập thể dục hàng ngày Bạn nên có các bài tập vừa phải mỗi ngày. Bạn có thể lựa chọn môn thể thao phù hợp theo sức khỏe thể chất của mình. Các bài tập vừa phải có thể tiêu thụ các chất béo trong gan để ngăn chặn căn bệnh này một cách hiệu quả. Bạn có thể tăng số lượng , thời gian tập luyện dần dần. Giảm tiêu thụ các loại thực phẩm có chứa nhiều chất béo Bạn nên giảm tiêu thụ các loại thực phẩm có chứa năng lượng, đường và chất béo cao. Mục đích đầu tiên là để kiểm soát năng lượng để giữ cho trọng lượng luôn đạt tiêu chuẩn. Bạn phải chắc chắn rằng năng lượng tiêu thụ phải cao hơn năng lượng hấp thu. Bên cạnh đó, bạn cần phải bỏ hút thuốc lá và tránh xa, các món tráng miệng và thức ăn chiên xào trong cuộc sống hàng ngày.   Người béo phì dễ bị gan nhiễm mỡ (Ảnh: Internet) Hạn chế ăn gan động vật , các loại thực phẩm có chứa hàm lượng cholesterol cao cũng nên được giảm trong bữa ăn tối. Điều quan trọng là bạn ý thức được là loại bỏ các chất béo dư thừa trong cơ thể. Duy trì chế độ ăn uống cân bằng Chế độ ăn uống cân bằng trong bữa ăn hàng ngày được bao gồm thực phẩm thô và thức ăn tinh chế vừa phải. Bạn cần phải cung cấp cho cơ thể 80-100 gram protein mỗi ngày, đảm bảo đủ protein để có thể loại bỏ chất béo trong gan. Hàm lượng lecithin và vitamin E trong thực phẩm thô nên được tăng lên, đảm bảo các chất dinh dưỡng để có thể làm giảm cholesterol và loại bỏ mỡ dư thừa, đường và chất độc từ cơ thể con người. Đồng thời, bạn nên ăn rau và trái cây đầy đủ để đáp ứng nhu cầu vitamin và chất xơ cho cơ thể con người. Cẩn thận khi dùng thuốc Tất cả các loại thuốc sẽ đi qua gan sau khi vào cơ thể con người. Vì vậy, sử dụng thuốc không đúng cách sẽ gây tổn thương nghiệm trọng đến gạn. Trong thực tế, một số loại thuốc điều trị một số bệnh khác đe dọa sức khỏe của gan. Ngoại trừ các thói quen ăn uống trong cuộc sống, trạng thái tinh thần cũng có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của các cơ quan nội tạng. Bạn nên giữ hạnh phúc và nghỉ ngơi đầy đủ trong cuộc sống hàng ngày để bảo vệ gan đến mức độ đầy đủ. Trong chế độ ăn uống hàng ngày, có một số loại thực phẩm có thể loại bỏ chất béo trong gan. Những thực phẩm này chủ yếu bao gồm dưa chuột, tỏi, hành tây, gừng, sữa, đậu nành, thịt rùa... Triệu chứng của bệnh gan nhiễm mỡ Cũng như các loại bệnh viêm gan khác, người bị bệnh viêm gan do nhiễm mỡ lúc bắt đầu thường không có triệu chứng đặc thù ngoài những biểu hiện như mệt mỏi, có cảm giác đầy trướng và khó chịu ở vùng thượng vị. Nếu bệnh viêm gan do nhiễm mỡ tiến triển thành bệnh xơ gan, những triệu chứng rối loạn gan có thể phát triển, khiến người bệnh bị vàng da (do sự tích lũy chất bilirubin – sắc tố màu da cam); trướng bụng và phù, gây ra bởi việc sụt giảm lượng protein sản xuất từ gan; xuất hiện nhiều vùng thâm tím trên cơ thể; có biểu hiện rối loạn tâm thần. Theo đó, bệnh nhân gan nhiễm mỡ nên trao đổi với bác sĩ dinh dưỡng trước khi bắt đầu bất kỳ loại chế độ ăn uống mới hoặc chương trình tập luyện. Những người dễ bị bệnh gan nhiễm mỡ  - Người thừa cân, béo phì. - Tiểu đường type 2. - Nghiện rượu. - Suy dinh dưỡng thiếu protein, giảm cân quá nhanh. - Dùng thuốc độc cho gan.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Trứng vịt lộn - món ăn khoái khẩu có thể gây đột quỵ

TRỨNG VỊT LỘN - MÓN ĂN KHOÁI KHẨU CÓ THỂ GÂY ĐỘT QUỴ

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Trứng vịt lộn được coi là món ăn bổ dưỡng và được nhiều người yêu thích. Đông y coi trứng lộn là “món ăn - bài thuốc bổ”. Theo Đông y, món trứng vịt lộn ăn cùng gia vị như rau răm, gừng tươi là một bài thuốc, dùng chữa các chứng thiếu máu, suy nhược, còi cọc, đau đầu chóng mặt, yếu sinh lý… Nghiên cứu dinh dưỡng hiện đại cho thấy trong một trứng vịt lộn có 182kcal năng lượng; 13,6g protein; 12,4g lipit; 82mg canxi; 212mg phốtpho; 600mg cholesterol… Ngoài ra, còn có nhiều betacaroten (435µg); vitamin A (875µg), một số ít sắt, gluxit, vitamin B1 và C… Nguy hiểm cho sức khỏe khi ăn nhiều trứng vịt lộn Lương y Trần Văn Quảng, Hội Đông y Việt Nam chia sẻ trên báo Kiến Thức, nhiều trường hợp bị xơ gan trướng bụng do ăn nhiều trứng, nhất là trứng vịt lộn. Trứng vịt tính lạnh, mát, người tỳ vị hư ăn vào dễ đầy trệ, không tiêu, gây báng bụng. Đặc biệt, người bị ung nhọt độc ăn vào dễ bị đùn thịt thừa, gây nguy hiểm cho tính mạng.   Ảnh minh họa. GS Bùi Minh Đức, Viện Dinh dưỡng Quốc gia cho biết, so với trứng thường, trứng lộn tốt hơn nhiều. Tuy nhiên, việc sử dụng nhất thiết phải đúng liều lượng và đúng cách thì mới đem lại hiệu quả. Ăn nhiều trứng vịt lộn mỗi ngày và ăn liên tục có thể làm tăng lượng cholesterol xấu trong máu, góp phần gây ra các bệnh tim mạch, huyết áp, đái tháo đường... và protein không tốt cho người bị bệnh gút. Những người có bệnh cao huyết áp, tiểu đường, viêm gan, gan nhiễm mỡ, tim mạch... cũng nên kiêng hoặc không ăn nhiều vì có thể sẽ làm tắc nghẽn động mạch, tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim và đột quỵ. Ngoài ra, những người tăng cholesterol máu (rối loạn chuyển hóa mỡ), bệnh rối loạn chuyển hóa đạm (gút), suy gan, thận… không nên ăn. Trẻ em dưới 5 tuổi cũng không nên ăn do sự chuyển hóa các chất của hệ thống tiêu hóa của trẻ chưa kiện toàn dễ gây sình bụng, tiêu chảy… Ăn bao nhiêu trứng vịt lộn là đủ? Đây cũng là câu hỏi nhiều người thắc mắc. Về vấn đề này, bác sĩ Hoàng Xuân Đại đã có những lời khuyên trên báo Sức khỏe và Đời sống như sau: Đối với trẻ từ 5 - 12 tuổi, lúc đầu chỉ nên ăn nửa quả trứng vịt lộn hay 1 - 2 quả trứng cút lộn mỗi ngày. Một liệu trình là 15 ngày liền. Trứng lộn thích hợp cho trẻ nhỏ bị còi cọc, thể lực yếu… Có thể cho ăn thường xuyên mỗi ngày 1 quả trứng vịt lộn hay 5 quả trứng cút lộn (có khả năng cải thiện chiều cao cho trẻ vì trong trứng lộn chứa hàm lượng canxi cao). Với trẻ từ 12 tuổi và người lớn có thể ăn 1 - 2 quả trứng vịt lộn hay 5 - 10 quả trứng cút lộn. Ăn trứng vịt lộn hay trứng cút lộn rất thích hợp với những người hay ốm yếu, cơ thể suy nhược, xanh xao thiếu máu… Thời gian ăn có thể kéo dài liên tục từ 60 - 90 ngày. Nên nhớ rằng, trong thời gian bồi bổ bằng trứng lộn, không nên hút thuốc lá, không uống rượu bia, đồng thời năng tập thể dục đều đặn.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Tác dụng của mỡ trăn

Tác dụng của mỡ trăn

Tác dụng của mỡ trăn – Trăn là loài bò sát có rất nhiều ở Việt Nam và các nước Đông Nam Á. Trăn là loài động vật quý và các bộ phận cơ thể của nó như: thịt, mỡ, máu, xương, da được dùng để làm thuốc. Trong dân gian thường sử dụng mỡ trăn để chữa trị nhiều bệnh. http:wapmaster.vntacdungcuamotran.html http:wapmaster.vn

Đọc thêm

STRESS: NGUY CƠ DẪN ĐẾN BỆNH TIM

STRESS: NGUY CƠ DẪN ĐẾN BỆNH TIM

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Stress đòi hỏi lượng hormone và năng lượng từ chất béo ít hơn nhưng lại liên tục, do đó gây nên tình trạng tăng huyết áp, nhịp tim đập quá mức cần thiết. Điều này dẫn tới sự rối loạn về huyết động, làm cho áp lực tại thành mạch tăng lên, gây những nguy hiểm. Theo các nhà khoa học, stress là trạng thái mà mỗi người phải tự nỗ lực bản thân mình một cách cao nhất, mặc dù họ không mong muốn, nhằm để đáp ứng với những tình huống và sự kiện trong cuộc sống của họ. Điều này có nghĩa, stress không chỉ là phản ứng của cơ thể trước những thách thức mang tính thể chất, tâm lý mà còn là những phản ứng thuộc về hành vi, tinh thần và tình cảm. Căng thẳng thần kinh: Khởi phát của bệnh tim Những căng thẳng thần kinh thường gặp trong cuộc sống hiện đại khác với những căng thẳng mang tính thể chất. Những căng thẳng này thường không giảm đi mà thường xuyên tăng lên và kéo dài liên tục. Phản ứng với những căng thẳng này đòi hỏi lượng hormone và năng lượng từ chất béo ít hơn nhưng lại liên tục. Tuy nhiên, cơ thể phản ứng trước sự căng thẳng về tinh thần hay thể chất là như nhau. Do đó, lượng hormone và chất béo được huy động trong những căng thẳng thần kinh không được tiêu thụ hết, dẫn tới tình trạng tăng huyết áp, nhịp tim đập quá mức cần thiết. Điều này dẫn tới sự rối loạn về huyết động, làm cho áp lực tại thành mạch tăng lên, đặc biệt có thể xảy ra ở mạch vành mạch máu nuôi tim.   Ở một số người, đôi khi sự căng thẳng về tinh thần, tình cảm và quá trình thiếu máu cục bộ cơ tim diễn ra một cách lặng lẽ. (Ảnh minh họa) Khi rối loạn huyết động tăng và các hormone do căng thẳng gây ra lưu hành liên tục trong máu sẽ làm tổn thương niêm mạc thành mạch. Được huy động bởi các hormone này, các tiểu cầu trong máu vận chuyển đến và bám dính tại thành mạch với mục đích làm giảm quá trình tổn thương. Nhưng chính quá trình này lại làm cho thành mạch dày lên và dẫn đến nguy cơ tắc mạch. Bên cạnh đó, cholesterol tỷ trọng thấp cũng được sản xuất ra từ các tế bào mỡ trong quá trình phản ứng với căng thẳng. Theo thời gian, những thay đổi này sẽ dẫn đến quá trình xơ vữa ở động mạch vành, làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Những hậu quả khác Khi động mạch vành hẹp đến mức giảm lưu lượng máu một cách nghiêm trọng, sẽ dẫn đến việc máu cung cấp cho cơ tim không đủ để duy trì hoạt động co bóp, trong khi tim cần co bóp nhiều hơn để đáp ứng với sự căng thẳng. Kết quả là, cơ tim thiếu máu cục bộ. Hơn nữa, chính những hormone tiết ra do căng thẳng cũng có thể gây co nhỏ thành mạch nên càng làm giảm lượng máu lưu thông qua mạch vành và cơn đau tim xảy ra. Sự thiếu máu cục bộ cơ tim đi kèm với những hoạt động thể lực gắng sức sẽ gây ra cơn đau tim thắt ngực. Ở một số người, đôi khi sự căng thẳng về tinh thần, tình cảm và quá trình thiếu máu cục bộ cơ tim diễn ra một cách lặng lẽ. Điều này càng nguy hiểm hơn vì ở những người đó không nhận thấy dấu hiệu đau ngực hay khó chịu nên họ sẽ không coi trọng, lo lắng bệnh tình để có hướng điều trị kịp thời đúng đắn, dẫn tới hậu quả khôn lường.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Những công dụng tuyệt vời của hành và tỏi

NHỮNG CÔNG DỤNG TUYỆT VỜI CỦA HÀNH VÀ TỎI

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} 1. Trong môi trường dày đặc khói xăng dầu, khói nhà máy, khói thuốc lá…, bệnh đường hô hấp, từ viêm mũi dị ứng cho đến bệnh phổi tắc nghẽn, cứ như là chuyện bình thường ở xứ mình. Sau khi so sánh tác dụng, các nhà nghiên cứu trước sau vẫn xếp củ hành vào nhóm đứng đầu về tính kháng sinh trên cơ chế sinh học, nghĩa là không gây phản ứng phụ bất lợi cho cơ thể. Sau khi so sánh công năng của hàng trăm loại dược liệu theo tiêu chí dược lý thực nghiệm, chuyên gia trên quê hương của Tolstoi đã không ngần ngại đánh giá củ hành như món ăn có tính diệt khuẩn không thua bất kỳ loại thuốc kháng sinh nào đang lưu hành. Thầy thuốc ở vùng Bắc Âu đã từ bao đời dùng củ hành như thực phẩm hỗ trợ cho người bị lao phổi, căn bệnh vẫn còn đang hoành hành trên xứ mình.   Ảnh minh họa 2. Bệnh tim sở dĩ nhiêu khê vì thành mạch máu xơ vữa, dòng máu quá đậm đặc, vì mạch máu co thắt thái quá. Hàng trăm kết quả nghiên cứu trong hai thập niên gần đây cho thấy củ tỏi là gia vị thừa sức ăn thua đủ với chất mỡ trong máu. Khác với cơ chế thông thường của nhiều loại thuốc chống mỡ trong máu theo kiểu tìm cách giảm lượng cholesterol một cách thụ động, tỏi có tác dụng rốt ráo hơn nhiều thông qua ảnh hưởng trực tiếp trên chức năng biến dưỡng chất béo của lá gan. Thay vì chạy theo chất mỡ trong máu, củ tỏi phản công bằng cách thúc đẩy phản ứng tổng hợp loại chất béo hữu ích cho cơ thể (HDL). Chất này càng cao thì chất béo loại gây xơ vữa mạch máu, viêm gan, suy thận… phải chịu phần lép vế vì chất này kéo lượng mỡ thừa trong máu về gan để tái chế, nghĩa là dung cho hết, dung cho đúng, thay vì lãng phí. Điểm khó xưa nay cho nhà điều trị chính là vì không thiếu thuốc để giảm chất béo độc hại như Triglyceride, LDL… nhưng phải đánh đổi với nhiều phản ứng phụ, trong khi thuốc tăng chất béo loại hữu ích thì vẫn thiếu. Tưởng đành chịu vậy thì sai vì tỏi chính là đáp án! Tỏi không nên thiếu trong khẩu phần của người bị bệnh tim mạch, hay toàn diện hơn nữa, trong chế độ dinh dưỡng của bất cứ ai muốn chủ động kiểm soát lượng chất mỡ trong máu mà không muốn phó thác một cách may rủi vào viên thuốc hóa chất, tuy hữu hiệu lúc tối lửa tắt đèn nhưng vô tình khi phải dùng dài lâu.
Xem thêm

1 Đọc thêm

HẠ HUYẾT ÁP TƯ THẾ Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYP 2 ĐẾN KHÁM VÀ ĐIỀU TRỊ TẠI KHOA ĐIỀU TRỊ BAN NGÀY BỆNH VIỆN NỘI TIẾT TƯ NĂM 2015

HẠ HUYẾT ÁP TƯ THẾ Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYP 2 ĐẾN KHÁM VÀ ĐIỀU TRỊ TẠI KHOA ĐIỀU TRỊ BAN NGÀY BỆNH VIỆN NỘI TIẾT TƯ NĂM 2015

ĐẶT VẤN ĐỀ• Hạ huyết áp tư thế thường gặp ở BN ĐTĐ: 8.2 – 43%• Hạ huyết áp tư thế là một yếu tố nguy cơ độc lập của độtquỵ, biến cố tim mạch, bệnh thận mãn tính và tử vongchung.• Triệu chứng hạ huyết áp tư thế không điển hình nên dễ bịbỏ sót chẩn đoán.1. Xác định tỉ lệ hạ huyết áp tư thế ở bệnhnhân đái tháo đường týp 2 đến khám vàđiều trị tại khoa Điều trị Ban ngày – Bệnhviện Nội tiết Trung ương năm 2015.Mục tiêu2. Mô tả một số yếu tố liên quan giữa hạhuyết áp tư thế trên những bệnh nhân đếnkhám và điều trị.Tổng quan tài liệu1. Bệnh ĐTĐĐịnh nghĩa:ĐTĐ là một bệnh rối loạn chuyểnhóa do nhiều nguyên nhân, đặc trưngbởi tình trạng tăng glucose máu mạntính và rối loạn chuyển hóa glucid, lipid,protid do hậu quả của thiếu hụt tiết
Xem thêm

29 Đọc thêm

Nghiên cứu các chỉ số mỡ cơ thể, mỡ tạng và mỡ dưới da ở bệnh nhân thừa cân-béo phì

Nghiên cứu các chỉ số mỡ cơ thể, mỡ tạng và mỡ dưới da ở bệnh nhân thừa cân-béo phì

ĐẶT VẤN ĐỀ Tổ chức y tế thế giới định nghĩa béo phì là tình trạng tích lũy mỡ quá mức và không bình thường tại một vùng cơ thể hay toàn thân đến mức ảnh hưởng tới sức khỏe. Béo phì là tình trạng sức khỏe có nguyên nhân dinh dưỡng. Thường ở một người trưởng thành khỏe mạnh, dinh dưỡng hợp lý, cân nặng của họ giao động trong một giới hạn nhất định.Tuy vậy, hiện nay, thừa cân và béo phì là một bệnh dinh dưỡng thường gặp nhất và mang tính chất toàn cầu. Tại các nước phát triển và cả các nước đang phát triển tỉ lệ mắc và tần suất của bệnh đang gia tăng một cách rõ rệt và đáng báo động. Béo phì là một bệnh dịch toàn cầu, số người béo phì trên thế giới lên đến 1,5 tỉ người. Tại Việt nam, năm 2006 Viện dinh dưỡng quốc gia Việt Nam đã công bố kết quả điều tra về thừa cân béo phì trên quy mô toàn quốc gồm 7600 hộ gia đình với 14.245 người trưởng thành (25 đến 64 tuổi) cho thấy có 16,8% người thừa cân béo phì [39]. Theo tác giả Trần Hữu Dàng, Nguyễn Đức Hoàng qua nghiên cứu 50 đối tượng béo phì tại Huế cho thấy: Tăng huyết áp chiếp tỉ lệ 70%, đái tháo đường chiếm tỉ lệ 16%, rối loạn dung nạp glucose chiếm tỉ lệ 16%. Có sự tương quan giữa tăng huyết áp, đái tháo đường và béo phì. Tác giả cho thấy những triệu chứng trên liên quan đến hội chứng chuyển hóa. Đái tháo đường cũng như rối loạn đường huyết gia tăng ở béo phì, gia tăng với tuổi tác. Tỉ lệ béo phì tăng cao ở những người vừa tăng huyết áp vừa đái tháo đường nhất là đái tháo đường type 2 [9]. Trên lâm sàng béo phì được đánh giá qua các chỉ số nhân trắc như BMI, đo vòng bụng và chỉ số vòng bụng/vòng mông, trong đó vòng bụng được ưu tiên hơn do liên quan mô mỡ dưới da bụng và nội tạng. Được xem như béo phì dạng nam khi mô mỡ chiếm ưu thế ở phần trên cơ thể, bụng và các tạng, tỉ lệ vòng eo/vòng mông ≥ 1 [42]. Hiện nay mô mỡ được xem là một cơ quan nội tiết phóng thích nhiều adipokine gây kháng insulin và phóng thích nhiều yếu tố nguy cơ tim mạch. Về phương diện lâm sàng, gần đây người ta chú ý đến tỉ lệ mỡ cơ thể (Body Fat Percentage = BFP) và mức mỡ nội tạng (Visceral Fat Level = VFL). Hai thông số này được xem như những chỉ số nhân trắc tương đương với BMI và vòng bụng trong đánh giá nguy cơ tim mạch [40]. Đề kháng insulin (KI) được định nghĩa là tình trạng của (tế bào, cơ quan hay cơ thể) cần một lượng insulin nhiều hơn bình thường để đáp ứng sinh học bình thường. Trên người đề kháng insulin được xác định khi nồng độ insulin tăng cao lúc đói hoặc sau khi làm nghiệm pháp dung nạp glucose. Có thể nói cách khác KI xảy ra khi tế bào của tổ chức đích không đáp ứng hoặc bản thân các tế bào của tổ chức đích chống lại sự gia tăng của insulin máu [42]. Năm 1998 TCYTTG (WHO) đã đưa ra định nghĩa thống nhất: “Được xem là KI khi chỉ số HOMA lớn hơn tứ phân vị cao nhât trong nhóm chứng”.Theo những thống kê mới nhất từ NHANES III (National Health and Nutrition Examination Survey III), 35% người trưởng thành và hơn 40% người ngoài 50 tuổi mắc hội chứng chuyển hóa [7]. Hội chứng chuyển hóa ảnh hưởng 20-30% dân số ở độ tuổi trung niên và tỉ lệ này ngày càng tăng do sự gia tăng của béo phì và lối sống tĩnh tại. Kể từ khi hội chứng chuyển hóa được định hình năm 1998, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện ở nhiều quốc gia khác nhau đồng thời tỉ lệ đái tháo đường , nhất là đái tháo đường type 2, béo phì, tăng huyết áp cũng gia tăng trên mọi quốc gia. Tỉ lệ đái tháo đường típ 2 tăng bùng nỗ ở các nước công nghiệp mới phát triển ở Nam Á, Châu Á Thái Bình Dương. Tuy nhiên các nghiên cứu dùng hình ảnh học cho thấy dù chỉ số khối cơ thể (BMI) như nhau nhưng khối lượng mỡ tạng của người Châu Á (Ấn Độ) cao hơn người Châu Âu. Ngoài ra các nghiên cứu dịch tễ cho thấy tỉ lệ các yếu tố nguy cơ của bệnh đái tháo đường và tim mạch bắc đầu gia tăng ở mức BMI và vòng eo thấp hơn người da trắng nhiều [7]. Trên thế giới chưa có nhiều nghiên cứu mỡ cơ thể, mỡ tạng và mỡ dưới da ở bệnh nhân thừa cân-béo phì, cũng như mối tương quan giữa các chỉ số mỡ với tình trạng đề kháng insulin trên bệnh nhân thừa cân-béo phì. Ở Việt Nam chưa có nghiên cứu hoàn chỉnh về các chỉ số mỡ cơ thể, mỡ tạng và mỡ dưới da ở bệnh nhân thừa cân-béo phì. Trước thực tế khách quan đó, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu các chỉ số mỡ cơ thể, mỡ tạng và mỡ dưới da ở bệnh nhân thừa cân-béo phì”. Nhằm 2 mục tiêu: 1) Đánh giá tỉ lệ mỡ cơ thể, mỡ tạng và mỡ dưới da ở bệnh nhân thừa cân-béo phì. 2) Khảo sát mối tương quan giữa chỉ số mỡ cơ thể, mỡ tạng và mỡ dưới da toàn thân với tình trạng kháng insulin trên bệnh nhân thừa cân-béo phì.
Xem thêm

Đọc thêm

Nghiên cứu rối loạn đường máu và lipid máu ở bệnh nhân sau ghép thận tại Bệnh viện Chợ Rẫy

Nghiên cứu rối loạn đường máu và lipid máu ở bệnh nhân sau ghép thận tại Bệnh viện Chợ Rẫy

ĐẶT VẤN ĐỀ Ghép thận là một ngành của y học hiện đại. Nhờ sự phát triển của ngành phẫu thuật, ý tưởng ghép tạng trong đó có ghép thận trong điều trị thay thế các tạng phủ bị hư hại chức năng do nhiều nguyên nhân bệnh đã hình thành từ lâu. Nhưng trước đây, thực hiện đều thất bại vì lý do rào cản miễn dịch. Vào giữa thập niên 1950, mổ ghép đồng loại thành công ở trường hợp song sinh cùng trứng đã mở đường cho ngành ghép phát triển, rồi sự ra đời của ngành miễn dịch ghép và các loại thuốc ức chế miễn dịch làm cho hàng trăm ngàn người hiện nay được ghép thận và nhiều loại tạng ghép khác với tỉ lệ thành công cao. Người ta miệt mài nghiên cứu về miễn dịch ghép, mở rộng tiêu chuẩn tương hợp trong miễn dịch ghép và trong nhiều thập kỷ qua ghép thận đã mang lại nhiều lợi ích to lớn cho bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối (STMGĐC). Trong các biện pháp điều trị suy thận mạn giai đoạn cuối, ghép thận được xem là phương pháp mang lại hiệu quả nhất, không những thay thế chức năng bài tiết mà còn hồi phục chức năng nội tiết của thận. Từ những thành công đầu tiên về ghép thận ở Boston do đội ngũ của J.P.Merrill và đội ngũ của J.Hamburger ở Paris. Tính đến nay đã có hơn 400.000 trường hợp ghép thận đã được thực hiện trên toàn thế giới [36]. Việc theo dõi và điều trị bệnh nhân suy thận mạn giai đọan cuối ngày càng nhiều và tốn kém. Ngày nay ghép thận đã được thực hiện ở nhiều trung tâm và đã cải thiện chất lượng cuộc sống của nhiều bệnh nhân.Vì sau ghép thận thì chức năng thận, các triệu chứng và các biến chứng của suy thận mạn giai đoạn cuối được giảm đáng kể và giảm tỷ lệ tử vong. Sau ghép thận phải dùng thuốc ức chế miễn dịch và glucocorticoid để chống thải ghép, thường phải dùng liều cao ở giai đoạn sớm sau ghép thận, và từ từ giảm liều duy trì kéo dài. Khi dùng các thuốc ức chế miễn dịch và glucocorticoid kéo dài sẽ gây ra nhiều biến chứng như tăng huyết áp, tăng lipid máu, đái tháo đường và loãng xương. Trong đó tăng lipid máu và đái tháo đường là hai biến chứng phổ biến [93]. Trong nghiên cứu của Rostaing L và cs [93] năm 2005 trên 538 bệnh nhân sau 6 tháng ghép thận, kết quả tỉ lệ bệnh đái tháo đường mới mắc và lipid máu đều tăng cao có ý nghĩa thống kê. Theo Brennan CD và cs [53] tăng lipid máu sau ghép thận thường là tăng triglyceride. Các thuốc ức chế miễn dịch như cyclosporine, tacrolimus đều gây tăng lipid máu. Tacrolimus thường gây đái tháo đường [73]. Đái tháo đường và rối loạn lipid máu là yếu tố nguy cơ của bệnh mạch vành. Tăng đường huyết và tăng lipid máu lâu dài sẽ dẫn đến nhiều biến chứng ở tim, thận, mắt, mạch máu lớn và mạch máu nhỏ [15],[45]. Do đó cần nghiên cứu 2 loại rối loạn này ở bệnh nhân ghép thận để phát hiện sớm nhằm điều chỉnh thuốc ức chế miễn dịch và điều trị bệnh kịp thời, giảm biến chứng và cải thiện tỷ lệ tử vong cho bệnh nhân. Mathew JT và cs (năm 2003) đã nghiên cứu trên 174 bn ghép thận, tỷ lệ ĐTĐ mới phát hiện sau ghép là 21,4% [81]. Phạm Văn Bùi và cs năm 2010 nghiên cứu trên 33 bệnh nhân kết quả có 75% bệnh nhân bị rối loạn lipid máu, 35,7% bệnh nhân có đái tháo đường sau ghép [4]. Rối loạn đường máu và lipid máu sau ghép thận - những yếu tố nguy cơ tim mạch ảnh hưởng đến tiên lượng bệnh nhân là những vấn đề cần được nghiên cứu tại Việt Nam nói chung và tại thành phố Hồ Chí Minh nói riêng thông qua đề tài “Nghiên cứu rối loạn đường máu và lipid máu ở bệnh nhân sau ghép thận tại Bệnh viện Chợ Rẫy ” với các mục tiêu sau: 1. Khảo sát một số đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng, phác đồ điều trị, rối loạn đường máu và rối loạn lipid máu ở bệnh nhân trước ghép và sau ghép thận 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng được sử dụng thuốc chống thải ghép. 2. Xác định mối liên quan giữa việc sử dụng các thuốc chống thải ghép với rối loạn đường máu và rối loạn lipid máu trên những bệnh nhân này .
Xem thêm

Đọc thêm

Nghiên cứu rối loạn lipid máu và hiệu quả điều trị Atorvastatin ở bệnh nhân suy thận mạn lọc máu chu kỳ

Nghiên cứu rối loạn lipid máu và hiệu quả điều trị Atorvastatin ở bệnh nhân suy thận mạn lọc máu chu kỳ

ĐẶT VẤN ĐỀ Suy thận mạn là tình trạng suy giảm chức năng thận một cách thường xuyên, liên tục, là hậu quả của các bệnh thận mạn tính do giảm sút từ từ số lượng nephron làm giảm mức lọc cầu thận. Tỉ lệ mắc suy thận mạn giai đoạn cuối tăng lên dần có khuynh hướng gia tăng theo thời gian, phụ thuộc vào nguyên nhân dẫn đến suy thận mạn[4],[24]. Trên thế giới theo số liệu của Ủy ban Quốc gia về đánh giá sức khỏe ở Pháp năm 2005: tỉ lệ mới mắc suy thận mạn giai đoạn cuối là 120 trường hợp/1triệu dân/năm, ở Mỹ và Nhật là 300 trường hợp/1 triệu dân/năm và từ nguồn dữ liệu của Hội Thận Quốc Gia Hoa Kỳ (NKF) tính đến cuối năm 2007 trên toàn thế giới số lượng bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối được điều trị là 2.150.000 người. Số bệnh nhân được lọc máu nhiều nhất trên thế giới là Hoa Kỳ, Châu Âu và Nhật Bản [24],[21]. Tại Việt nam theo nghiên cứu của Phạm Mạnh Hùng và cộng sự suy thận mạn ở các vùng có tỉ lệ khác nhau, dao động từ 0,06 – 0,81% dân được khảo sát [21]. Ngày nay với sự tiến bộ của các thế hệ máy, các kỷ thuật lọc máu tiên tiến ra đời đã góp phần làm cho tuổi thọ bệnh nhân suy thận mạn được kéo dài hơn, thay đổi chất lượng cuộc sống của người bệnh. Mặc dù có những tiến bộ đáng kể trong các kỷ thuật lọc máu, nhưng trong một số nghiên cứu cho thấy tỉ lệ mới mắc của xơ vữa mạch máu vẫn không giảm, tỉ lệ tử vong do nguyên nhân tim mạch ở các bệnh nhân lọc máu chu kỳ tăng cao. Thống kê năm 2011 tại Mỹ tử vong do bệnh tim mạch là nguyên nhân đứng hàng đầu ở những bệnh nhân có bệnh thận mạn [3],[77]. Ở những bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối và đặc biệt là bệnh nhân lọc máu, tỷ lệ lâm sàng bệnh tim động mạch vành là 40% và tỷ lệ tử vong bệnh tim mạch là cao hơn 10 đến 30 lần so với dân số chung cùng giới, tuổi và chủng tộc [89]. Nhiều tác giả nghiên cứu tình trạng rối loạn lipid máu và mối liên quan với biến chứng tim mạch ở bệnh nhân suy thận mạn nhằm góp phần giảm tỉ lệ tử vong. Tuy nhiên tỉ lệ tử vong do biến chứng tim mạch ở bệnh nhân lọc máu cao gấp ba lần so với không lọc máu, những biến chứng tim mạch ở bệnh nhân suy thận mạn vẫn là nguyên nhân gây tử vong chính [24] Rối loạn lipid máu trên bệnh nhân suy thận mạn đã được nhiều công trình nghiên cứu y học trong nước và trên thế giới nói đến. Tuy nhiên tại Việt Nam vấn đề điều trị dự phòng nguy cơ tim mạch do tăng lipid máu bằng atorvastatin chưa có tác giả nào nghiên cứu. Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu rối loạn lipid máu và hiệu quả điều trị Atorvastatin ở bệnh nhân suy thận mạn lọc máu chu kỳ ” Với 02 mục tiêu: 1. Khảo sát rối loạn một số thành phần lipid máu và xác định mối tương quan giữa các thành phần lipid máu với các yếu tố: Mức lọc cầu thận, hemoglobine máu, protid máu, protein niệu ở bệnh nhân suy thận mạn lọc máu chu kỳ. 2. Đánh giá hiệu quả và tác dụng phụ của Atorvastatin sau 3 tháng điều trị trên bệnh nhân suy thận mạn lọc máu chu kỳ có rối loạn lipid máu.
Xem thêm

Đọc thêm

Câu hỏi trắc nghiệm block 5 bài sinh lý bệnh đại cương về rối loạn chức năng gan mật

Câu hỏi trắc nghiệm block 5 bài sinh lý bệnh đại cương về rối loạn chức năng gan mật

Nội dung của tài liệu trình bày 60 câu hỏi trắc nghiệm sinh lý bệnh đại cương về rối loạn chức năng gan mật như cơ chế nhiễm mỡ gan trong nghiện rượu; tăng bilirubin gián tiếp trong máu; tăng bilirubin gián tiếp trong máu; hội chứng mất acid mật; xơ gan, rối loạn đông máu... Mời các bạn cùng tham khảo tài liệu.

Đọc thêm

Những lý do không ngờ dẫn tới ngất xỉu

NHỮNG LÝ DO KHÔNG NGỜ DẪN TỚI NGẤT XỈU

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Ngất xỉu là biểu hiện ban đầu của nhiều bệnh nguy hiểm.  Căng thẳng và lo lắng quá mức Khi căng thẳng hoặc lo lắng, cơ thể chúng ta có xu hướng thở dốc và hoàn toàn không có khả năng tự điều chỉnh lại nhịp thở của mình. Đặc biệt khi căng thẳng hoặc lo lắng quá mức, cơ thể sẽ xuất hiện một loạt những biểu hiện bệnh lý như choáng váng, tê liệt tạm thời, loạn nhịp tim, mờ mắt, đỏ bừng mặt, ngứa ran ở tay, xung quanh miệng và cuối cùng là ngất xỉu. Vì thế, các chuyên gia y tế khuyến cáo chúng ta nên thường xuyên khám sức khỏe định kỳ nhằm phòng tránh các loại bệnh nguy hiểm. Tụt huyết áp Huyết áp lý tưởng của một người khỏe mạnh là 120/80 mmHg. Vì thế, bạn sẽ được chẩn đoán là huyết áp thấp nếu chỉ số huyết áp cơ thể bạn dưới 120/80mmHg. Huyết áp của một cơ thể khỏe mạnh cũng thường tụt khi bạn chuyển tư thế đột ngột từ nằm sang đứng hoặc đang ngồi chuyển sang nằm. Tuy nhiên, tụt huyết áp sẽ gây ra chóng mặt, choáng váng và ngất ở các bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường, thần kinh, mất nước hoặc mất máu. Tác dụng phụ của thuốc Một số loại thuốc như thuốc lợi tiểu, thuốc phiện, thuốc hạ huyết áp, hoặc thuốc giúp giãn mạch máu nitroglycerin đều có tác dụng phụ khiến người bệnh ngất xỉu.   Tác dụng phụ của thuốc được ghi trên giấy chỉ định trước khi sử dụng thuốc, tuy nhiên nhiều bệnh nhân vẫn bất ngờ trước những những tác dụng phụ mà các loại thuốc này gây ra. Bệnh tim mạch Bệnh nhân mắc các bệnh liên quan tới hệ tim mạch là một trong những nhóm đối tượng thường xuyên bị ngất xỉu. Nguyên nhân chính là hệ tim mạch của những bệnh nhân này không điều hòa được nhịp tim. Tim đập quá nhanh hoặc quá chậm đều gây ra hiện tượng rối loạn tuần hoàn não, khiến bệnh nhân mệt mỏi và choáng váng. Ngất xỉu có thể xảy ra khi nhịp tim đang đập quá nhanh bỗng dừng đột ngột. Nếu hiện tượng này kéo dài quá 5 giây sẽ gây nguy hiểm cho bệnh nhân. Vì thế bệnh nhân mắc các bệnh về tim mạch được khuyến cáo không nên xúc động mạnh. Hạ đường huyết Khi lượng đường trong máu giảm xuống dưới mức 70 mg/dL, cơ thể sẽ có những biểu hiện như mệt mỏi, run tay, chân, đổ mồ hôi, mặt tái nhợt và cuối cùng là ngất xỉu. Vì thế, các chuyên gia y tế khuyên các bệnh nhân tiểu đường nên ăn uống điều độ nhằm ổn định lượng đường trong máu và tránh những hậu quả đáng tiếc có thể xảy ra. Rối loạn cấu trúc tim Bác sỹ David G. Benditt thuộc Trung tâm Điều chỉnh Chứng rối loạn nhịp tim, Sở Y tế, Đại học Y Minnesota, Mỹ cho biết: “Những rối loạn cấu trúc của cơ tim, van tim hay mạch máu đều có thể khiến bệnh nhân bị ngất. Hiện tượng này có thể gây nguy hiểm tới tính mạng của bệnh nhân”. Mất nước Mất nước là hiện tượng cơ thể không nhận được đủ lượng nước cần thiết, gây tụt huyết áp, suy nhược cơ thể, chóng mặt, mệt mỏi, và buồn nôn. Trong một nghiên cứu về “Sinh lý học và Ứng dụng của Sinh lý học” được công bố trên tạp chí European Journal, các nhà nghiên cứu cho biết tình trạng mất nước có thể gây nguy hiểm tới tính mạng của con người. Vì thế chúng ta nên uống nhiều nước mỗi ngày và biết cách tự chăm sóc sức khỏe bản thân. Thiếu máu Triệu chứng chính của bệnh thiếu máu là mệt mỏi. Khi bị thiếu máu, cơ thể sẽ không nhận đủ lượng oxy lên não khiến bạn cảm thấy choáng váng, chóng mặt thậm chí ngất xỉu. Thiếu Vitamin B12 cũng có thể gây ra hiện tượng thiếu máu. Vì thế, để bảo vệ sức khỏe, chúng ta nên tăng cường ăn các loại thực phẩm dầu dinh dưỡng và bổ máu như gan, thịt bò, ức gà hay bông cải xanh... Rối loạn thần kinh Hệ thần kinh là cơ quan trung ương điều khiển và ảnh hưởng trực tiếp tới các hệ, cơ quan khác trên cơ thể. Khi hệ thần kinh bị rối loạn, tín hiệu giữa não bộ và các hệ khác bị gián đoạn. Rối loạn thần kinh ảnh hưởng trực tiếp tới hệ tim mạch gây rối loạn nhịp tim, ảnh hưởng tới huyết áp. Đây cũng là nguyên nhân chính gây ra hiện tượng hoa mắt, chóng mặt và ngất xỉu. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới hiện tượng ngất xỉu. Để bảo vệ sức khỏe, các chuyên gia y tế khuyên chúng ta nên chú ý tới chế độ ăn uống và thường xuyên kiểm tra sức khỏe định kỳ. 
Xem thêm

2 Đọc thêm

Phụ nữ mãn kinh tăng rủi ro bệnh tim mạch

PHỤ NỮ MÃN KINH TĂNG RỦI RO BỆNH TIM MẠCH

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Các nhà nghiên cứu đã khảo sát dữ liệu y khoa, trong đó có mẫu máu và kết quả chụp cắt lớp tim của 456 phụ nữ Mỹ tuổi 51, tất cả họ không điều trị hormone thay thế vào thời điểm khảo sát. Họ thấy rằng sự suy giảm của hormone estradiol - loại hormone quan trọng nhất trong nhóm hormone sinh dục nữ - khi phụ nữ bước vào giai đoạn mãn kinh có liên quan đến sự thay đổi của quá trình tích trữ mỡ trong cơ thể. Theo đó, mỡ sẽ tích tụ ở xung quanh quả tim nhiều hơn, làm gia tăng rủi ro bị bệnh tim mạch. Không chỉ việc mãn kinh mà sự tăng cân ở phụ nữ trước và sau mãn kinh cũng góp phần làm gia tăng rủi ro bệnh tim mạch. Kết quả này đúng kể cả khi tính toán đến các yếu tố sức khỏe khác như béo phì, hút thuốc, uống rượu, sử dụng thuốc, mang bệnh mạn tính, độ tuổi, chủng tộc. Theo nhóm nghiên cứu, từ kết quả này có thể nghiên cứu thêm để xây dựng chiến lược giảm mỡ tim mạch cho phụ nữ sau mãn kinh để giảm nguy cơ bệnh tim mạch cho họ.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Nghiên cứu bệnh tim đái tháo đường qua chỉ số Tei trên bệnh nhân đái tháo đường týp 2

Nghiên cứu bệnh tim đái tháo đường qua chỉ số Tei trên bệnh nhân đái tháo đường týp 2

ĐẶT VẤN ĐỀ Đái tháo đường là một trong những căn bệnh không lây nhiễm phổ biến nhất trên toàn cầu và cũng là một trong ba bệnh có tốc độ phát triển nhanh nhất hiện nay (ung thư, bệnh tim mạch và đái tháo đường). Theo Hiệp Hội Đái Tháo Đường Quốc Tế bệnh đái tháo đường là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ tư hoặc thứ năm ở các nước phát triển.Thống kê của Liên đoàn đái tháo đường thế giớivào năm 2013 có khoảng 382 triệu người mắc bệnh ĐTĐ và ước tính sẽ tăng đến 592 triệu người vào năm 2035 [53]. Đái tháo đường (ĐTĐ) đặc biệt ĐTĐ type 2 là một bệnh rối loạn về chuyển hóa do sự suy giảm chức năng tế bào beta trên nền đề kháng insulin. Bệnh được đặc trưng bởi tình trạng tăng glucose máu vả rối loạn chuyển hóa các chất dinh dưỡng trong đó sự gia tăng glucose máu lâu ngày dẫn đến tình trạng tổn thương, rối loạn và suy giảm của nhiều cơ quan[3]. Vì thế khi nói đến đái tháo đường type 2 người ta thường nghĩ ngay đến biến chứng tim mạch. Đây là các biến chứng có thể đặc hiệu hay không đặc hiệu xảy ra sớm và thường gặp. Đặc điểm biến chứng như bệnh cơ tim đái tháo đường, rối loạn nhịp tim, thiếu máu cơ tim và bệnh lý thần kinh tự động tim thường xảy ra sớm ở phần lớn các trường hợp và cũng thường thầm lặng trong nhiều năm trước khi có biểu hiện lâm sàng cần phải can thiệp. Theo nghiên cứu dịch tễ của Frangminham tỷ lệ suy tim ở bệnh nhân ĐTĐ cao gấp 2 lần ở nam, gấp 5 lần ở nữ so với người không bị ĐTĐ, thậm chí sau khi đã loại trừ bệnh mạch vành, bệnh tim do thấp và các yếu tố nguy cơ tim mạch như tăng huyết áp (THA), béo phì, rối loạn lipid máu thì tỷ lệ bệnh cơ tim ở bệnh nhân ĐTĐ vẫn cao gấp 4 – 5 lần so với người không bị bệnh này. Bệnh tim đái tháo đường là một bệnh lý liên quan đến vi mạch mạch vành, thường đi kèm tăng huyết áp và xơ vữa động mạch vành (động mạch vành thượng tâm mạc), xảy ra âm thầm và sớm với các biểu hiện của rối loạn chức năng tâm trương, sau đó rối loạn chức năng tâm thu thất trái. Các biến chứng của đái tháo đường ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống cũng như gây nhiều tốn kém về kinh tế cho người bệnh. Nhiều nghiên cứu dịch tễ học đã cho thấy nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch ở bệnh nhân đái tháo đường cao hơn so với người không bị đái tháo đường là 2-3 lần ở nam giới và 3-5 lần ở nữ giới. Chính vì vậy việc phát hiện sớm các rối loạn về cấu trúc và chức năng thất trái ở bệnh nhân đái tháo đường là hết sức quan trọng trong vấn đề theo dõi, điều trị cũng như phòng bệnh.Việc chọn lựa một phương pháp thăm dò không thâm nhập, hiện đại với tỷ lệ phát hiện cao bệnh lý tim đồng thời khảo sát được cấu trúc và chức năng của tim, có thể nói siêu âm tim là một trong những phương tiện thăm dò ưu việt đối với bệnh nhân đái tháo đường hiện đang được sử dụng tại các trung tâm tim mạch trên thế giới, tại Việt Nam có nhiều công trình nghiên cứu về bệnh đái tháo đường, tại địa phương chúng tôi, tỷ lệ bệnh nhân đái tháo đường tương đối phổ biến nhưng chưa được quan tâm và nghiên cứu một cách đúng mức nhất là lĩnh vực siêu âm Doppler tim [25]. Gần đây nhất một thông số siêu âm Doppler tim mới do Tei và cộng sự đề xuất nhằm đánh giá chức năng toàn bộ thất trái bằng chỉ số chức năng cơ tim hay chỉ số Tei (Tei index), một chỉ số đơn giản, dễ thực hiện, ít bị ảnh hưởng bởi tuổi, huyết áp, tần số tim, tiền gánh so với các chỉ số kinh điển khác. Trên thế giới đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về chỉ số Tei trong đánh giá chức năng thất trái ở các bệnh như nhồi máu cơ tim, thông liên nhĩ, tăng áp phổi, suy tim, tăng huyết áp nguyên phát [61]. Ở Việt Nam cũng đã có một vài nghiên cứu về chỉ số Tei ở người bình thường và gần đây nhất là trong đánh giá chức năng thất trái ở bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát, tuy nhiên đối với đánh giá chức năng thất trái ở bệnh nhân đái tháo đường chưa thấy đề cập nhiều trong y văn [10]. Mục tiêu của đề tài: 1. Đặc điểm yếu tố nguy cơ, một số chỉ số đánh gía hình thái và chức năng thất trái qua siêu âm và chỉ số Tei trên bệnh nhân đái tháo đường type 2. 2. Đánh giá mối liên quan giữa chỉ số Tei và một số thông số hình thái và chức năng thất trái với một số yếu tố nguy cơ liên quan trên những bệnh nhân đái tháo đường type 2.
Xem thêm

Đọc thêm

Tổng hợp các bệnh di truyền

TỔNG HỢP CÁC BỆNH DI TRUYỀN

1Bệnh mù màu, máu khó đôngDo gen lặn nằm trên NST giới tính X quy đinh. Biểu hiện cả nam và nữ nhưng biểu hiện ở nam với tỉ lệ cao hơn.Mù màu là không có khả năng phân biệt giữa các sắc thái nhất định của màu sắc. Mặc dù nhiều người gọi nó là không phân biệt màu, không phân biệt màu mô tả thiếu tầm nhìn tổng số màu sắc. Khả năng nhìn thấy sắc thái của màu xám chỉ là hiếm. Bệnh máu khó đông hay còn gọi là bệnh Hemophilia, là bệnh rối loạn đông máu di truyền do giảm các yếu tố đông máu VIII và IX. Xuất huyết thường xảy ra khi người bệnh máu khó đông bị ngã, va đập, xây xát hay chấn thương. Hình thái xuất huyết thường thấy là những mảng bầm tím dưới da, đám tụ máu trong cơ, chảy máu không cầm ở vị trí chấn thương.Triệu chứng thường gặp là chảy máu ở các khớp lớn như: khớp gối, khuỷu tay, cổ chân, thậm chí chảy máu não.
Xem thêm

5 Đọc thêm

CHUYÊN ĐỀ Y HỌC TỔNG HỢP NHỮNG CÁCH PHÒNG TRÁNH, CHỮA BỆNH TIỂU ĐƯỜNG, GAN NHIỄM MỠ VÀ THỨC ĂN BÀI THUỐC, CÂY THUỐC QUÝ VỚI NGƯỜI BỆNH TIỂU ĐƯỜNG HỎI ĐÁP BÁC SĨ.

CHUYÊN ĐỀ Y HỌC TỔNG HỢP NHỮNG CÁCH PHÒNG TRÁNH, CHỮA BỆNH TIỂU ĐƯỜNG, GAN NHIỄM MỠ VÀ THỨC ĂN BÀI THUỐC, CÂY THUỐC QUÝ VỚI NGƯỜI BỆNH TIỂU ĐƯỜNG HỎI ĐÁP BÁC SĨ.

LỜI NÓI ĐẦU Đái tháo đường (ĐTĐ) là bệnh mạn tính, có yếu tố di truyền, do hậu quả của tình trạng thiếu Insulin tuyệt đối hoặc tương đối. Đặc trưng của bệnh ĐTĐ: • Tình trạng tăng đường huyết. • Các rối loạn chuyển hóa: đường, đạm, mỡ, chất khoáng. • Các rối loạn trên sẽ dẫn đến các biến chứng:  Biến chứng cấp tính: hôn mê, dễ nhiễm trùng.  Biến chứng mạn tính: trên mạch máu lớn, mạch máu nhỏ. • Diễn tiến tự nhiên của bệnh ĐTĐ týp 2 lâu ngày dẫn đến tình trạng kiệt quệ tế bào bêta của tụy (có vai trò tiết Insulin). Người mắc bệnh tiểu đường cần giữ thói quen ăn đúng giờ; chỉ ăn nhiều thịt (trong khuôn khổ cho phép) trong 2 bữa; các bữa còn lại ăn rau và các sản phẩm ngũ cốc. Chế độ ăn kiêng giữ một vai trò quan trọng trong việc điều trị bệnh tiểu đường ở bất kỳ tuổi nào. Có thể điều trị bằng chế độ ăn (như tiểu đường nhẹ, tiểu đường tiềm tàng) hoặc kết hợp với các thuốc hạ đường huyết đối với các thể tiểu đường mức độ trung bình và nặng. Hỏi đáp với bác sĩ: Thưa bác sĩ, tôi là một bệnh nhân mắc tiểu đường. Nghe nói nếu áp dụng chế độ ăn kiêng có thể chữa khỏi bệnh này? Điều này có đúng không? Nếu đúng, xin bác sĩ chỉ giúp tôi thế nào là thực đơn ăn kiêng đối với bệnh nhân mắc tiểu đường? Xin cảm ơn. ...... Thời gian gần đây người dân thường rỉ tai nhau tìm mua “ trái thần kỳ” để thử cảm giác biến chua thanh ngọt, thậm chí là chữa tiểu đường , béo phì và làm Bosai… Thực hư của cây thần kỳ này như thế nào??? Trân trọng giới thiệu cùng quý vị bạn đọc tham khảo và phát triển tài liệu: CHUYÊN ĐỀ Y HỌC TỔNG HỢP NHỮNG CÁCH PHÒNG TRÁNH, CHỮA BỆNH TIỂU ĐƯỜNG, GAN NHIỄM MỠ VÀ THỨC ĂN BÀI THUỐC, CÂY THUỐC QUÝ VỚI NGƯỜI BỆNH TIỂU ĐƯỜNG HỎI ĐÁP BÁC SĨ. Chân trọng cảm ơn
Xem thêm

Đọc thêm

Cùng chủ đề