QUAN HỆ LÃNH SỰ LÀ GÌ

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "QUAN HỆ LÃNH SỰ LÀ GÌ":

Bài tập bán trắc nghiệm bài tập giữa kỳ Tư pháp quốc tế

Bài tập bán trắc nghiệm bài tập giữa kỳ Tư pháp quốc tế

Bài tập bán trắc nghiệm Bài tập giữa kỳ Tư pháp quốc tế Nhận định sau đúng hay sai? Giải thích ? 1. Nếu hai công dân Việt Nam kết hôn tại nước ngoài thì theo pháp luật ViệtNam, quan hệ hôn nhân đó phải là quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài. Đây là một nhận định sai. Bởi vì, Giữa 2 công dân việt nam với nhau kết hôn ở nước ngoài mà quan hệ đó được xác lập,thực hiện,thay đổi,chấm dứt ở nước ngoài (có nghĩa là quan hệ đó phải phát sinh ở nước ngoài và theo pháp luật nước ngoài) liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài mới được xem là quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên trong trường hợp 2 công dân việt nam đăng kí kết hôn ở đại sứ quán hay lãnh sự quán của việt nam đặt trụ sở tại nước ngoài thì sẽ kết hôn trong vùng lãnh thổ đặc biệt và tuân theo pháp luật việt nam nên không được xem là quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài. 2. Xung đột pháp luật chỉ phát sính trong các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài (theo nghĩa rộng). Đây là một nhận định đúng. Bởi vì, xung đột pháp luật chỉ phát sinh trong các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài theo nghĩa rộng (hôn nhân gia đình,tố tụng dân sự,thương mại,lao động,dân sự có yếu tố nước ngoài) còn trong các lĩnh vực quan hệ pháp luật khác như hình sự,hành chính…..v.v…tuy pháp luật các nước khác nhau cũng quy định khác nhau nhưng không xảy ra xung đột.vd trong quan hệ hình sự,hành chính mang tính hiệu lực theo lãnh thổ rất nghiêm ngặt và không bao giờ có quy phạm xung đột và cho phép áp dụng luật nước ngoài 3. Tất cả các quan hệ có yếu tố nước ngoài đều thuộc đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế. Đây là một nhận định sai. Bởi vì, đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế là nhứng quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài theo nghĩa rộng.Còn những quan hệ phát sinh trong đời sống quốc tế giữa các quốc gia và rộng hơn là giữa các chủ thể của công pháp quốc tế thì thuộc đối tượng điều chỉnh của công pháp quốc tế.
Xem thêm

Đọc thêm

Bài tập nhóm luật Hình sự: Tội giết người thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

Bài tập nhóm luật Hình sự: Tội giết người thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

Tội giết người thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Bài tập nhóm Luật Hình sự 1 MỞ BÀI – TÌNH HUỐNG Đối với mỗi con người tính mạng, sức khỏe là thứ vốn quý, là nhân tố đảm bảo cho sự tồn tại của mỗi người. Chính bởi vậy, hành vi giết người dưới mọi hình thức và lí do đều là hành vi dã man, tàn ác và không thể tha thứ. Nó không chỉ gây ra nỗi đau cho gia đình người bị hại mà còn gây mất trật tự xã hội, tạo tâm lí lo sợ trong quần chúng. Trong Bộ Luật Hình sự Việt Nam đã quy định rất rõ ràng, cụ thể về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người. Để có thể hiểu rõ được về tội danh trên, ta cùng phân tích và làm rõ thông qua việc nghiên cứu, tìm hiểu tình huống sau đây: Huynh (33 tuổi) vay của chị dâu là Nga 1,9 tỷ đồng để lấy vốn làm ăn. Do làm ăn thua lỗ, hạn cho vay đã hết và chị Nga ráo riết đòi nợ mà Huynh không có tiền trả, Huynh đã dùng dao giết chết chị Nga để không phải trả nợ. Tội giết người mà Huynh đã thực hiện được quy định tại khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự. Câu hỏi: 1. Tội phạm mà Huynh đã thực hiện thuộc loại tội gì theo phân loại tội phạm tại khoản 3 Điều 8 Bộ Luật Hình sự. 2. Khách thể của tội phạm và đối tượng tác động của tội phạm trong trường hợp này là gì? Hãy giải thích. 3. Phát biểu sau đây về vụ án này là đúng hay sai? Tại sao? Nếu toà án tuyên phạt 15 năm tù đối với Huynh thì có nghĩa là tội phạm mà Huynh thực hiện là tội phạm rất nghiêm trọng. 4. Giả sử Huynh là người có quốc tịch Trung Quốc và vụ án trên xảy ra tại Hải Phòng thì Huynh có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam không? Tại sao? GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG I. Tội phạm mà Huynh đã thực hiện thuộc loại tội gì theo phân loại tội phạm tại khoản 3 Điều 8 Bộ luật Hình sự. Muốn biết tội phạm của một người đã thực hiện thuộc loại tội gì, ta phải căn cứ vào việc xác định xem người phạm tội đó thực hiện tội phạm gì, tội phạm đó được phản ánh trong khoản nào, điều nào của Bộ Luật Hình sự, và mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội phạm đó. Cùng với đó là cách phân loại tội phạm theo khoản 3 điều 8 Bộ Luật Hình Sự ta sẽ kết luận được loại tội phạm mà Huynh phạm phải. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật được quy định trong Bộ luật Hình sự và phải chịu hình phạt. Trên thực tế, những hành vi phạm tội có mức độ nguy hiểm cho xã hội và có tính chất khác nhau. Tội phạm được phân ra thành các nhóm khác nhau, được quy định tại khoản 3 Điều 8 Bộ luật Hình sự: “Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình”. Do làm ăn thua lỗ, hạn cho vay đã hết và chị Nga ráo riết đòi nợ mà Huynh không có tiền trả, trong tình thế túng quẫn, Huynh đã dùng dao giết chết chị Nga để không phải trả nợ. Hành vi dùng dao giết chết chị Nga của Huynh đã đủ cấu thành tội giết người theo quy định tại điểm q khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự: Vì động cơ đê hèn”, cụ thể ở đây là để không phải trả khoản nợ mà chị Nga ráo riết đòi. Khung hình phạt cho tội phạm mà Huynh đã thực hiện ở đây là “phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình”. Như vậy mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội phạm mà Huynh đã thực hiện là trên mười lăm năm, tù chung thân hoặc tử hình đúng với quy định tại khoản 3 điều 8 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, có thể đi đến kết luận: hành vi của Huynh nói trên đã cấu thành tội giết người quy định tại điểm q khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình Sự và tội phạm Huynh đã thực hiện thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. II. Khách thể của tội phạm và đối tượng tác động của tội phạm trong trường hợp này 1. Khách thể của tội phạm Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại. Theo luật hình sự Việt Nam, những quan hệ xã hội được coi là khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội đã được xác định trong khoản 1 Điều 8 của Bộ luật Hình sự: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”. Khoa học luật hình sự Việt Nam phân biệt ba loại khách thể của tội phạm là khách thể chung, khách thể loại và khách thể trực tiếp. Trong đó Khách thể trực tiếp của tội phạm là quan hệ xã hội cụ thể bị loại tội phạm cụ thể trực tiếp xâm hại. Bất kỳ một tội phạm nào đều có khách thể trực tiếp, đó có thể là quan hệ xã hội cụ thể như quan hệ sở hữu hoặc quan hệ nhân thân. Ở tình huống này, tội phạm mà Huynh đã thực hiện đã xâm hại đến quan hệ nhân thân, cụ thể ở đây là quyền sống của chị Nga, mà nó là một quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ, vì vậy khách thể của tội phạm trong trường hợp này là quyền sống của chị Nga. Huynh đã vay chị dâu là Nga 1,9 tỷ đồng để làm ăn nhưng do làm ăn thua lỗ và hạn cho vay đã hết, vì không muốn trả nợ, Huynh đã cầm dao giết chị Nga. Hành vi cầm dao giết chị Nga nhằm trốn nợ của Huynh đã xâm phạm đến quan hệ nhân thân là quyền sống của chị Nga. Vậy, Huynh đã xâm phạm nghiêm trọng đến quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Đó là quan hệ nhân thân về sức khỏe, là tính mạng, là quyền sống của con người quyền thiêng liêng nhất và bất khả xâm phạm của mỗi người. 2. Đối tượng tác động của tội phạm Đối tượng tác động của tội phạm là bộ phận của khách thể của tội phạm, bị hành vi phạm tội tác động đến để gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Đối tượng tác động của tội phạm gồm một số loại: con người; các đối tượng vật chất với ý nghĩa là khách thể của quan hệ xã hội và hoạt động bình thường của chủ thể. Đối với tội giết người thì đối tượng tác động của tội phạm là con người. Trong số những quan hệ xã hội khác nhau thì có những quan hệ xã hội chỉ có thể bị gây thiệt hại khi có sự biến đổi tình trạng bình thường của con người. Trong trường hợp này con người trở thành đối tượng tác động của tội phạm. Quan hệ nhân thân là quan hệ xã hội thuộc loại này. Hành vi dùng dao giết chết chị Nga của Huynh đã làm biến đổi con người chị Nga về mặt sức khỏe, gây thiệt hại; cụ thể là dẫn đến cái chết của chị Nga. Tội phạm giết người là hành vi xâm hại trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự được quy định tại Chương XII của Bộ luật Hình sự. Hành vi giết người của Huynh được quy định cụ thể trong Điều 93 của chương này. Vì vậy, đối tượng tác động của tội phạm trong trường hợp này là chị Nga. Luật hình sự Việt Nam bảo vệ các quan hệ xã hội thông qua việc bảo đảm tình trạng bình thường cho các bộ phận cấu thành của các quan hệ xã hội đó. Sự bảo vệ các đối tượng tác động cụ thể luôn luôn có ý nghĩa là bảo vệ các bộ phận của quan hệ xã hội và qua đó để bảo vệ toàn bộ quan hệ xã hội. III. Nếu toà án tuyên phạt 15 năm tù đối với Huynh thì có nghĩa là tội phạm mà Huynh thực hiện là tội phạm rất nghiêm trọng là đúng hay sai? Tại sao. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi được quy định trong bộ luật Hình sự thì tội phạm được chia làm bốn loại: tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Khoản 3 Điều 8 Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999 (có sửa đổi, bổ sung năm 2009) có quy định: “Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình”. Ta không thể dựa vào mức án tòa tuyên phạt là 15 năm tù mà khẳng định là Huynh phạm phải tội rất nghiêm trọng. Đối với tình huống này thì tội phạm mà Huynh đã thực hiện thuộc loại tội giết người theo điểm q khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung ngày 19 tháng 6 năm 2009). Trong trường hợp nếu toà án tuyên phạt 15 năm tù đối với Huynh thì có nghĩa là tội phạm mà Huynh thực hiện là tội phạm rất nghiêm trọng là sai. Vì khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung ngày 19 tháng 6 năm 2009) có quy định: “Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình: a) Giết nhiều người; b) Giết phụ nữ mà biết là có thai; c) Giết trẻ em; d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân; đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình; e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại phạm mợt tội rất nghiêm trọng; g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác; h) Để lấy bộ phận cơ thể nạn nhân; i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ; k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp; l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người; m) Thuê giết người hoặc giết người thuê; n) Có tính chất côn đồ; o) Có tổ chức; p) Tái phạm nguy hiểm; q) Vì động cơ đê hèn”. Vậy, mức cao nhất của khung hình phạt dành cho tội này là tù chung thân hoặc tử hình nên tội mà Huynh đã thực hiện thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (theo khoản 3 Điều 8 Bộ luật Hình sự Việt Nam). Qua đó, ta thấy được khi xét xử một loại tội phạm nào đó, ta phải xem xét kỹ mọi mặt của cấu thành tội phạm một cách chi tiết, từ đó mới đưa ra quyết định đúng đắn nhất về phân loại tội pham. IV. Giả sử Huynh là người có quốc tịch Trung Quốc và vụ án trên xảy ra tại Hải Phòng thì Huynh có thể phải chịu trách trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam không ? Tại sao ? Điều 5 Bộ luật Hình sự nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung ngày 19 tháng 6 năm 2009) có quy định: “1. Bộ luật Hình sự được áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 2. Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng các quyền miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia hoặc theo tập quán quốc tế, thì vấn đề trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao”. Như vậy, mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đều phải chịu trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam trừ một số người nước ngoài phạm tội ở Việt Nam nhưng trách nhiệm hình sự của họ sẽ được giải quyết bằng con đường ngoại giao (khoản 2 điều 5 Bộ luật Hình Sự). Bộ luật Hình Sự không quy định cụ thể các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người nước ngoài phạm tội ở Việt Nam mà căn cứ để xác định việc không truy cứu trách nhiệm hình sự lại là đặc quyền ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo quy định của pháp luật hoặc theo tục lệ quốc tế, dựa trên quan hệ bình đẳng của các nước trong quan hệ quốc tế. Thông thường những người được hưởng đặc quyền ngoại giao là những người đứng đầu Nhà nước, những đại diện ngoại giao, các thành viên của các đoàn ngoại giao như cố vấn, bí thư…; còn theo tục lệ quốc tế thì vợ hoặc chồng, con chưa thành niên của những người này cũng được hưởng quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự. Người có đặc quyền ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự có thể không bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật hính sự Việt Nam, nhưng họ có thể vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật của nước mà họ mang quốc tịch, thậm chí họ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật Việt Nam nếu điều ước quốc tế quy định hoặc thông qua con đường ngoại giao, Nhà nước mà họ mang quốc tịch và Nhà nước Việt Nam thỏa thuận sẽ truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật Việt Nam. Vì vậy, trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người nước ngoài phạm tội ở Việt Nam là trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự có điều kiện mà điều kiện đó chính là lý do về ngoại giao. Áp dụng trong tình huống này, ta cần xét 2 trường hợp cụ thể như sau : • Trường hợp 1: Huynh là công dân có quốc tịch Trung Quốc, có hành vi phạm tội giết người (theo khoản 1 Điều 93 Bộ Luật Hình sự) trên lãnh thổ Việt Nam và không thuộc đối tượng được hưởng các quyền miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia hoặc theo tập quán quốc tế. Vậy, theo nguyên tắc lãnh thổ, luật hình sự của mỗi quốc gia có hiệu lực đối với tất cả các tội phạm xảy ra trên lãnh thổ của mình, nên Huynh phải chịu trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam (theo khoản 1 Điều 5 Bộ luật Hình sự). • Trường hợp 2 : Huynh là công dân có quốc tịch Trung Quốc, có hành vi phạm tội giết người (theo khoản 1 Điều 93 Bộ Luật Hình sự) trên lãnh thổ Việt Nam nhưng Huynh thuộc đối tượng được hưởng các quyền miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia hoặc theo tập quán quốc tế thì vấn đề trách nhiệm hình sự của Huynh sẽ được giải quyết bằng con đường ngoại giao (khoản 2 Điều 5 Bộ luật Hình sự). Huynh có thể không bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật Việt Nam, nhưng có thể vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật Trung Quốc. Tuy nhiên, Huynh vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật Việt Nam nếu điều ước quốc tế quy định hoặc thông qua con đường ngoại giao Nhà nước Trung Quốc và Nhà nước Việt Nam thỏa thuận sẽ truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật Việt Nam. KẾT LUẬN Qua vụ án nêu trên, việc xác định khung hình phạt trong trường hợp hành vi phạm tội thỏa mãn dấu hiệu của nhiều cấu thành tội phạm là một vấn đề phức tạp. Việc phân biệt các tình tiết định tội, định khung hình phạt đối với các trường hợp phạm tội cụ thể, để từ đó có cơ sỏ kết luận người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có phạm tội hay không, nếu phạm tội thì phạm tội gì và theo khung hình phạt nào của Bộ Luật Hình sự là vấn đề vô cùng quan trọng. Với một vụ án cụ thể thì việc hiểu rõ luật, áp dụng đúng quy định của luật là một điều hết sức cần thiết để từ đó, ta có thể định tội danh và đưa ra khung hình phạt phù hợp với kẻ phạm tội. Điều này cũng sẽ giúp tránh khỏi những sai sót không đáng có trong thực tiễn xét xử.
Xem thêm

Đọc thêm

Bộ luật tố tụng hình sự 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành

BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 2003 VÀ CÁC VĂN BẢN HƯỚNG DẪN THI HÀNH

BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 512001QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10; Bộ luật này quy định trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Phần thứ nhất NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG Chương I NHIỆM VỤ VÀ HIỆU LỰC CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ Điều 1. Nhiệm vụ của Bộ luật tố tụng hình sự Bộ luật tố tụng hình sự quy định trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, của các cơ quan, tổ chức và công dân; hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự, nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Bộ luật tố tụng hình sự góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Điều 2. Hiệu lực của Bộ luật tố tụng hình sự Mọi hoạt động tố tụng hình sự trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải được tiến hành theo quy định của Bộ luật này. Hoạt động tố tụng hình sự đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là công dân nước thành viên của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập thì được tiến hành theo quy định của điều ước quốc tế đó. Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng các đặc quyền ngoại giao hoặc quyền ưu đãi, miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập hoặc theo tập quán quốc tế, thì vụ án được giải quyết bằng con đường ngoại giao.
Xem thêm

284 Đọc thêm

Bài tập nhóm luật Hình sự: tình huống về tội giết người

Bài tập nhóm luật Hình sự: tình huống về tội giết người

Tình huống về tội giết người Bài tập nhóm Luật Hình sự 1 ĐỀ BÀI: Huynh (33 tuổi) vay của chị dâu là Nga 1,9 tỷ đồng để lấy vốn làm ăn. Do làm ăn thua lỗ, hạn cho vay đã hết và chị Nga ráo riết đòi nợ mà Huynh không có tiền trả, Huynh đã dùng dao giết chết chị Nga để không phải trả nợ. Tội giết người mà Huynh đã thực hiện được quy định tại khoản 1 Điều 93 BLHS. Câu hỏi: 1.Tội phạm mà Huynh đã thực hiện thuộc loại tội gì theo phân loại tội phạm tại khoản 3 Điều 8 BLHS. (2 điểm) 2. Khách thể của tội phạm và đối tượng tác động của tội phạm trong trường hợp này là gì? Hãy giải thích. (2 điểm) 3. Phát biểu sau đây về vụ án này là đúng hay sai? Tại sao? Nếu toà án tuyên phạt 15 năm tù đối với Huynh thì có nghĩa là tội phạm mà Huynh thực hiện là tội phạm rất nghiêm trọng. (1 điểm) 4. Giả sử Huynh là người có quốc tịch Trung Quốc và vụ án trên xảy ra tại Hải Phòng thì Huynh có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam không? Tại sao? (2 điểm) LỜI MỞ ĐẦU Trong số các quyền nhân thân, quyền sống của con người là quyền tự nhiên, thiêng liêng và cao quý nhất, không một quyền nào có thể so sánh được. Bởi lẽ, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Khi quyền sống của con người bị xâm phạm thì mục tiêu phấn đấu của loài người sẽ trở nên vô nghĩa; động lực phát triển của xã hội sẽ bị triệt tiêu. Thêm vào đó, con người còn là chủ thể của quan hệ xã hội, nếu quyền sống của con người bị xâm phạm thì các quan hệ xã hội sẽ bị phá vỡ. Chính vì những lí do trên mà mục tiêu bảo vệ quyền sống của con người luôn được đặt lên hàng đầu đối với mọi dân tộc, mọi quốc gia, mọi thời đại và mọi chế độ. Cũng vì ý nghĩa đặc biệt quan trọng của quyền sống của con người mà trong BLHS năm 1999, ngay sau các tội phạm an ninh quốc gia, nhà làm luật đã qui định các tội xâm phạm nhân thân. Trong số các tội xâm phạm nhân thân thì tội giết người được quy định đầu tiên và là một trong ba tội có hình phạt nghiêm khắc nhất tử hình. Thực tế xã hội hiện nay cho thấy, cùng với sự phát triển của xã hội, nhất là trong giai đoạn thời kì kinh tế nước ta hội nhập với kinh tế thế giới thì các loại tội phạm nói chung cũng như cũng như tội giết người nói riêng càng trở nên phức tạp hơn. Nhận thức được tầm quan trọng của viêc phòng chống tội phạm, dưa trên kiến thức về lí luận và thực tiễn, em đã mạnh dạn chọn đề tài số2 cho bài tập nhóm số 1 môn Luật hình sự Việt Nam. Đây là tình huống liên quan đến tội giết người được quy định tại Điều 93 BLHS 1999. BÀI LÀM 1.Tội phạm mà Huynh đã thực hiện thuộc loại tội gì theo phân loại tội phạm tại khoản 3 Điều 8 BLHS Huynh phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, vìcó mức cao nhất của khung hình phạt là tử hình. Điều 8 BLHS có nêu: “2. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. 3. Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.” Theo cách phân loại tội phạm của BLHS, tội phạm tuy có chung các dấu hiệu (tính nguy hiểm cho xã hội, tính có lỗi, tính trái pháp luật và tính chịu hình phạt) nhưng những hành vi phạm tội cụ thể có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau. Chính vì sự khác nhau như vậy mà vấn đề phân hóa và cụ thể hóa tôi phạm đc đặt ra như là nguyên tắc của luật Hình sự Việt Nam. Theo khoản 2 Điều 8 BLHS, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi đc quy định trong bộ luật, tội phạm đc chia thành 4 loại: tội phạm ít nghiệm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đăc biệt nghiêm trọng. Và mỗi loại tội phạm đc gắn với 1 khung hình phạt khác nhau đc quy định tại khoản 3 Điều 8 BLHS. Huynh phạm tội giết người vì động cơ đê hèn, điểm q, khoản 1, Điều 93 BLHS. Giết người là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật.Chủ thể của tội phạm là Huynh, 33 tuổi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và mặc nhiên được thừa nhận có năng lực trách nhiệm hình sự. Khách thể của tội phạm là quyền sống của chị Nga, hành vi phạm tội là dùng dao gây án dẫn đến hậu quả là chị Nga chết. Ở hành vi phạm tội của Huynh, bị cáo đã giết chị dâu là Nga để không phải trả nợ khoản tiền 1,9 tỉ đồng đã quá hạn vay. Nhân dân ta có truyền thống đoàn kết thương yêu đùm bọc, giúp đỡ nhau. Trong quan hệ vay mượn cũng là biểu hiện của tinh thần đó. Khi gặp khó khăn, túng thiếu Huynh đã được Nga cưu mang giúp đỡ, cho vay tiền. Lẽ ra Huynh phải biết ơn, ngược lại kẻ được cưu mang giúp đỡ lại giết người cưu mang, giúp đỡ mình nhằm trốn nợ. Từ những phân tích trên cùng với việc tổng kết kinh nghiệm xét xử nhiều năm ở nước ta thì trường hợp giết chủ nợ để trốn nợ của Huynh được kết luận là hành vi giết người vì động cơ đê hèn được quy định tại điểm q khoản 1 Điều 93 BLHS. Căn cứ vào khoản 1 Điều 93 BLHS “Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình…” thì tội phạm mà Huynh thực hiện có mức cao nhất của khung hình phạt là tử hình, căn cứ tiếp vào khoản 3 Điều 8 BLHS tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gậy nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên 15 năm tù, tù chung thân hoặc tử hìnhthì tội phạm mà Huynh thực hiện là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Giả sử hành vi Huynh giết chị Nga chỉ do mâu thuẫn và không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 93 thì căn cứ theo khoản 2 Điều này, Huynh chỉ phải chịu hình phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm, tức Huynh phạm tội rất nghiêm trọng, với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội giảm nhẹ hơn so với tình huống của đề bài. 2. Khách thể của tội phạm và đối tượng tác động của tội phạm trong trường hợp này là gì? Hãy giải thích Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại. Theo pháp luật hình sự Viêt Nam, những quan hệ xã hội được coi là khách thể bảo vệ của luật hình sự là những quan hệ xã hội được quy định tại Điều 8 của BLHS. Hành vi bị coi là tội phạm, theo luật Hình sự Việt Nam, là hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho một trong những quan hệ xã hội đã được xác định đó. Nhưng như vậy không có nghĩa hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội này trong mọi trường hợp đều bị coi là tội phạm mà chỉ trong những trường hợp nhất định – những trường hợp đã được cụ thể hóa qua những quy phạm pháp luật hình sự ở phần các tội phạm của BLHS. Hành vi Huỳnh giết chị Nga trong trường hợp này được quy định tại Điều 93 BLHS, thuộc các tội xâm phạm tính mạng của con người. Khách thể của nhóm tội này là một trong những khách thể quan trọng nhất được luật hình sự bảo vệ. Đó là quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng.Huynh đã trực tiếp xâm hại quyền sống của chị Nga bằng cách tước đoạt một cách trái pháp luật mạng sống của nạn nhân. Đối tượng tác động của tội phạm là bộ phận của khách thể của tội phạm, bị hành vi phạm tội tác động đến gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ, mà ta đã biết khách thể gồm có các bộ phận: Chủ thể của các quan hệ xã hội. Nội dung của các quan hệ xã hội: Là hoạt động của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ xã hội. Đối tượng của các quan hệ xã hội: Là các sự vật khác nhau của thế giới bên ngoài cũng như các lợi ích mà qua đó các quan hệ xã hội phát sinh và tồn tại. Trong tình huống đề bài nêu chủ thể của quan hệ nhân thân là chị Nga đã bị hành vi giết người của Huynh tước đoạt mạng sống, như vậy chị Nga chính là đối tượng tác động của tội phạm. Hơn thế trong số những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ có những quan hệ chỉ có thể gây thiệt hại khi có sự biến đổi tình trạng bình thường của con người. Quan hệ nhân thân là quan hệ xã hội thuộc loại này. Các tội phạm quy đinh trong Chương XII BLHS đều có đối tượng tác động là con người. Cụ thể ở trong trường hợp này là tại Điều 93 BLHS. 3. Phát biểu sau đây về vụ án này là đúng hay sai? Tại sao? Nếu toà án tuyên phạt 15 năm tù đối với Huynh thì có nghĩa là tội phạm mà Huynh thực hiện là tội phạm rất nghiêm trọng. (1 điểm) Phát biểu “Nếu tòa án tuyên phạt 15 năm tù đối với Huynh thì có nghĩa là tội phạm mà Huynh thực hiện là tội phạm rất nghiêm trọng” là sai. Điều 8 BLHS nêu rõ việc phân chia tội phạm thành tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi được quy định trong Bộ luật này. Việc nhận định tội phạm nào có tính chất và mức độ nguy hiểm hơn cho xã hội dựa vào mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội đó. Căn cứ vào Điều 44 BLHS thì khi quyết định hình phạt, Toà án căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Như vậy tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm chỉ là một trong các tiêu chí để quyết định hình phạt, vì vậy hình phạt đối với hành vi phạm tội không phải là căn cứ để xác định tội phạm thuộc loại gì. Việc quyết định hình phạt đối với Huynh phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như nhân thân của Huynh, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Dù hành vi của Huynh là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, có mức hình phạt cao nhất là tử hình, nhưng có thể Tòa án chỉ quyết định phạt Huynh mười lăm năm tù, nằm trong mức “từ mười hai đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình” theo khoản 1 Điều 93. Đây là mức hình phạt cao nhất mà tội phạm rất nghiêm trọng phải nhận. Giả thiết trường hợp của Huynh có một số tình tiết giảm nhẹ: 1, Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại và khắc phục hậu quả (điểm b, khoản 1, Điều 46). 2,Người phạm tội tự thú (điểm o, khoản 1, Điều 46) 3, Người phạm tội thành khẩn khai báo,ăn năn hối cải (điểm p, khoản 1, Điều 46) Khi đó, áp dụng Điều 47 BLHS về quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật thì hình phạt mà Huynh phải nhận có thể nhẹ hơn mức thấp nhất của khung hình phạt được quy định là dưới mười hai năm. 4. Giả sử Huynh là người có quốc tịch Trung Quốc và vụ án trên xảy ra tại Hải Phòng thì Huynh có phải chịu trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam hay không? Tại sao? Khoản 2 Điều 5 BLHS nói về hiệu lực của BLHS đối với những hành vi phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “2. Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng các quyền miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia hoặc theo tập quán quốc tế, thì vấn đề trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao.” Căn cứ vào khoản 2 Điều 5 BLHS thì sẽ có 2 trường hợp xảy ra với hành động phạm tội của Huynh: a, Trường hợp 1: Nếu Huynh không thuộc các đối tượng được quy định tại khoản 2 Điều 5 Huynh là người mang quốc tịch Trung Quốc, phạm tội giết người ở Hải Phòng thuộc lãnh thổ Việt Nam; mặt khác, Huynh không thuộc đối tượng được hưởng các quyền miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kí kết hoặc tham gia hoặc theo điều ước quốc tế thì Huynh bị xử lí về hành vi giết người theo BLHS Việt Nam. Như vậy Huynh vẫn sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự bình thường như theo khoản 1 Điều 5 BLHS: Bộ luật Hình sự được áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cụ thể theo như đã nêu ở phần 1 thì Huynh phạm tội đặc biệt nghiêm trọng và có thể phải chịu mức án cao nhất là tử hình với tội danh giết người vì động cơ đê hèn được quy định tại điểm q, khoản 1 Điều 93 BLHS. b, Trường hợp 2: Huynh thuộc các đối tượng được quy định tại khoản 2 Điều 5 Nếu Huynh thuộc đối tượng được hưởng các quyền miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kí kết hoặc tham gia hoặc theo tập quán quốc tế, giả dụ Huynh là viên chức ngoại giao hoặc thành viên gia đình của viên chức ngoại giao… khi đó Huynh sẽ được miễn trừ xét xử hình sự và không phải chịu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam. Tuy nhiên không phải cứ thuộc đối tượng tại khoản 2 điều 5 BLDS là Huynh sẽ không phải chịu TNHS, nếu nước cử từ bỏ quyền miễn trừ đối với Huynh một cách rõ ràng, thì khi đó Huynh sẽ phải chịu TNHS một cách bình thường.
Xem thêm

Đọc thêm

Căn cứ pháp lí và thực tiễn áp dụng vấn đề miễn trừ tư pháp của quốc gia trong tư pháp quốc tế

Căn cứ pháp lí và thực tiễn áp dụng vấn đề miễn trừ tư pháp của quốc gia trong tư pháp quốc tế

Căn cứ pháp lí và thực tiễn áp dụng vấn đề miễn trừ tư pháp của quốc gia trong tư pháp quốc tế Chuyên mục Bài tập học kỳ, Tư pháp quốc tế 1. Thực tiễn quyền miễn trừ tư pháp quốc gia trong Tư pháp quốc tế Việt Nam Thứ nhất, Tại Việt Nam hiện nay, về mặt lý luận, quyền miễn trừ tư pháp quốc gia bao gồm quyền miễn trừ xét xử, quyền miễn trừ đối với các biện pháp cưỡng chế nhằm đảm bảo đơn kiện, quyền miễn trừ đối với các biện pháp cưỡng chế bảo đảm thi hành phán quyết của tòa án nước ngoài. Thứ hai, Pháp luật thực định của Việt Nam chưa có quy định chính thức nào về nội dung của quyền miễn trừ tư pháp quốc gia. Pháp lệnh về quyền ưu đãi, miễn trừ dành cho cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự và cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam ngày 0791993 có một số quy định về quyền miễn trừ tư pháp. Theo khoản 1 Điều 12 Pháp lệnh, “viên chức ngoại giao được hưởng quyền miễn trừ xét xử về hình sự tại Việt Nam. Họ cũng được hưởng quyền miễn trừ xét xử về dân sự và xử phạt hành chính”. Và khoản 3 Điều 12 Pháp lệnh quy định: “viên chức ngoại giao được hưởng quyền miễn trừ đối với các biện pháp thi hành án”. Đây chỉ là những quy định về quyền miễn trừ dành cho viên chức ngoại giao và thành viên gia đình của họ (khoản 1 Điều 17 Pháp lệnh). Không có quy phạm cụ thể nào của Pháp lệnh quy định chi tiết nhà nước nước ngoài có quyền miễn trừ tư pháp quốc gia ở Việt Nam. Khoản 4 Điều 2 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 chỉ quy định: “Cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài được hưởng các quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao hoặc các quyền ưu đãi, miễn trừ lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia thì vụ việc dân sự có liên quan đến cá nhân, cơ quan, tổ chức đó được giải quyết bằng con đường ngoại giao”. Nhưng ta có thể theo logic suy luận người đại diện cho quốc gia được hưởng quyền miễn trừ tư pháp thì đương nhiên bản thân quốc gia cũng là đối tượng được hưởng quyền miễn trừ tư pháp. Trước đây, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (đã hết hiệu lực thi hành) có quy định: “vụ án dân sự có liên quan đến nhà nước nước ngoài hoặc người được hưởng quy chế ngoại giao được giải quyết bằng con đường ngoại giao, trừ trường hợp nhà nước nước ngoài hoặc người được hưởng quy chế ngoại giao đồng ý tham gia tố tụng tại tòa án Việt Nam”. Đây là văn bản pháp luật duy nhất có quy định về quyền miễn trừ của nhà nước nước ngoài trong tố tụng dân sự quốc tế nhưng cũng không đề cập đến nội dung của quyền miễn trừ. Tuy nhiên, từ ngày 01012005 khi Bộ luật Tố tụng dân sự có hiệu lực pháp luật thì không còn có quy phạm nào thừa nhận quyền miễn trừ tư pháp của nhà nước nước ngoài ở Việt Nam. Nội dung quyền miễn trừ của quốc gia đã được quy định thống nhất trong các văn bản của LHQ, các điều ước quốc tế có liên quan và được cụ thể hóa vào văn bản pháp luật của nhiều nước. Chính vì vậy, việc quy định một cách rõ ràng, cụ thể nội dung quyền miễn trừ của quốc gia trong pháp luật Việt Nam cũng góp phần đưa TPQT Việt Nam tiến gần hơn với các chuẩn mực của đời sống pháp lý quốc tế trong vấn đề này. Thứ ba, Phần lớn các quan điểm hiện nay đều tán đồng Thuyết quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đối của quốc gia.Theo Giáo trình Tư pháp quốc tế của Trường Đại học Luật Hà Nội “nội dung thuyết miễn trừ theo chức năng hoàn toàn trái với các nguyên tắc cơ bản của công pháp quốc tế cũng như của TPQT, không có lợi cho việc thúc đẩy giao lưu dân sự quốc tế”. Tương tự, theo giáo trình của Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội “nội dung thuyết miễn trừ theo chức năng hoàn toàn trái với các nguyên tắc cơ bản của công pháp quốc tế cũng như của TPQT. Pháp luật Việt Nam cũng như thực tiễn tư pháp Việt Nam luôn luôn bảo đảm tôn trọng quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đối của nhà nước nước ngoài bằng con đường ngoại giao, trừ trường hợp nhà nước đó đồng ý tham gia tố tụng tại tòa án Việt Nam”. Dường như về mặt lý luận, Việt Nam chỉ chấp nhận Thuyết quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đối của quốc gia. Trước đây đã từng xảy ra vụ việc: Năm 1999, một doanh nghiệp có tên là Mohamed Enterprises của Tanzania ký hợp đồng và thanh toán trước toàn bộ số tiền khoảng 1,4 triệu USD để mua 6.000 tấn gạo của Công ty Thanh Hòa ở Tiền Giang. Sau đó, Công ty Thanh Hòa đã thuê một tàu chở gạo để thực hiện hợp đồng trên. Nhưng con tàu mà Công ty Thanh Hòa thuê lại là một con tàu “ma”, trên đường chở gạo đã trốn bặt tăm. Không nhận được gạo, Công ty Mohamed Enterprises đã khởi kiện đối tác của Việt Nam… Sự việc cứ kéo dài không được xử lý dứt điểm. Bốn năm sau (2003), tàu Sài Gòn của Công ty SEA Saigon cập cảng Tanzania đã bị bắt giữ làm con tin nhằm tạo áp lực buộc phía Việt Nam thanh toán số nợ năm 1999. Ngày 2272005, Tòa án Tanzania tuyên phạt phía Việt Nam gần 2 triệu USD bao gồm tiền bồi thường thiệt hại từ hợp đồng gạo với Công ty Mohamed Enterprises và tiền lãi phát sinh. Phán quyết ghi rõ, Chính phủ Việt Nam là bị đơn thứ 12 của vụ án. Theo tòa án, quyền miễn trừ tư pháp của nhà nước Việt Nam trong trường hợp này không tuyệt đối vì Chính phủ Việt Nam đã tham gia tích cực vào các giai đoạn của việc thực hiện hợp đồng. Vì vậy, Chính phủ Việt Nam không được hưởng quyền miễn trừ xét xử3. Vụ việc trên cho thấy, nếu nhà nước Việt Nam tham gia vào quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài với tư cách một bên chủ thể thì trong những trường hợp cụ thể nhất định sẽ không được hưởng quyền miễn trừ, nghĩa là nhà nước Việt Nam phải tham gia như một chủ thể bình thường khác. Như vậy, rõ ràng việc tuyệt đối hóa quyền miễn trừ tư pháp không có lợi cho nhà nước Việt Nam và đặc biệt là các cá nhân, pháp nhân Việt Nam trong các quan hệ Tư pháp quốc tế. Đây sẽ là cơ sở để nhà nước nước ngoài không tuân thủ một số nghĩa vụ của họ bởi vì nhà nước nước ngoài được hưởng quyền miễn trừ tuyệt đối ở Việt Nam trong khi nhà nước Việt Nam không được hưởng quyền miễn trừ tuyệt đối ở nước ngoài. Tại Việt Nam chưa có Luật về quyền miễn trừ tư pháp quốc gia và trong các văn bản pháp luật hiện hành chưa có quy định chính thức nào quy định trực tiếp về vấn đề này. Tuy nhiên, khi xét một số quy định khác của pháp luật ta có thể thấy một số điểm cần lưu ý. Theo khoản 1 và 3 Điều 12 Pháp lệnh về quyền ưu đãi, miễn trừ thì viên chức ngoại giao không được hưởng quyền miễn trừ trong trường hợp họ “tham gia với tư cách cá nhân vào các vụ tranh chấp liên quan đến bất động sản tư nhân có trên lãnh thổ Việt Nam; việc thừa kế; hoạt động thương mại hoặc nghề nghiệp mà viên chức ngoại giao tiến hành tại Việt Nam ngoài phạm vi chức năng chính thức của họ”. Quy định này thể hiện rõ quan điểm đối với viên chức ngoại giao thì quyền miễn trừ của họ chỉ là tương đối, nghĩa là quyền miễn trừ không bị giới hạn ở bất cứ lĩnh vực quan hệ dân sự nào nhưng bị hạn chế, hay không được hưởng, trong một số trường hợp cụ thể. Tuy nhiên, đối với nhà nước nước ngoài thì pháp lệnh lại không đề cập và Bộ luật Tố tụng dân sự cũng không có quy định nào về vấn đề này. Có thể thấy, việc thừa nhận một cách cứng nhắc quyền miễn trừ tuyệt đối của nhà nước nước ngoài ở Việt Nam sẽ làm thiệt hại cho chúng ta vì chắc chắn trong quy định của pháp luật nhiều quốc gia chỉ dành cho nhà nước Việt Nam quyền miễn trừ tương đối tại quốc gia đó. Nên chăng, trong điều kiện giao lưu kinh tế thương mại hiện nay cũng như cùng với sự phát triển của Tư pháp quốc tế hiện đại, Việt Nam nên chấp nhận thuyết quyền miễn trừ tương đối của quốc gia khi tham gia vào các quan hệ kinh tế, dân sự quốc tế để bảo vệ hiệu quả lợi ích của các công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam khi tham gia vào các quan hệ dân sự với quốc gia nước ngoài. Pháp luật Việt Nam cần có quy định về những trường hợp cụ thể nhà nước nước ngoài không được hưởng quyền miễn trừ tại Việt Nam khi tham gia vào các quan hệ dân sự quốc tế. Thứ tư, Nhiều quan điểm hiện nay vẫn hiểu quyền miễn trừ tương đối theo hướng quốc gia bị hạn chế một số lĩnh vực quan hệ dân sự quốc tế không được hưởng quyền miễn trừ, còn trong những lĩnh vực mà quốc gia được hưởng quyền miễn trừ thì quốc gia sẽ được hưởng quyền miễn trừ trong bất cứ trường hợp nào mà quốc gia tham gia. Quan điểm này là không chính xác. Sự tương đối ở đây đó là có những trường hợp cụ thể mà quốc gia không được hưởng quyền miễn trừ, còn phạm vi của quyền miễn trừ vẫn bao trùm tất cả các lĩnh vực quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài mà quốc gia tham gia. Nếu hiểu không chính xác thuyết miễn trừ sẽ dẫn đến tình trạng không bảo vệ được lợi ích hợp pháp của quốc gia khi tham gia các quan hệ dân sự quốc tế, hoặc không tôn trọng lợi ích hợp pháp của quốc gia khác, vi phạm nguyên tắc tôn trọng chủ quyền của quốc gia. 2. Lý thuyết học thuyết miễn trừ tư pháp quốc gia trong Tư pháp quốc tế a. Quyền miễn trừ tư pháp quốc gia trong tư pháp quốc tế Quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia thể hiện qua các nội dung: Miễn trừ xét xử tại bất cứ Tòa án nào. Nội dung quyền này thể hiện nếu không có sự đồng ý của quốc gia thì không có một tòa án nước ngoài nào có thẩm quyền thụ lý và giải quyết vụ kiện mà quốc gia là bị đơn (trong lĩnh vực dân sự). Điều đó cũng có nghĩa là khi tham gia vào quan hệ dân sự với một quốc gia, cá nhân và pháp nhân nước ngoài không được phép đệ đơn kiện quốc gia đó tại bất kỳ tòa án nào, kể cả tại tòa án của chính quốc gia đó, trừ khi quốc gia đó cho phép. Các tranh chấp phải được giải quyết bằng thương lượng trực tiếp hoặc bằng con đường ngoại giao giữa các quốc gia. Quốc gia đồng ý cho cá nhân, pháp nhân nước ngoài kiện mình cũng có nghĩa là đồng ý cho tòa án thụ lý xét xử vụ kiện mà quốc gia là bị đơn Miễn trừ đối với các biện pháp cưỡng chế nhằm đảm bảo đơn kiện, nếu quốc gia đồng ý cho tổ chức, cá nhân nước ngoài kiện mình, tức là đồng ý cho Tòa án nước ngoài xét xử vụ kiện mà quốc gia là bị đơn. Nội dung của quyền này thể hiện trong trường hợp nếu một quốc gia đồng ý để tòa án nước ngoài thụ lý, giải quyết một vụ tranh chấp mà quốc gia là một bên tham gia thì tòa án nước ngoài đó được quyền xét xử nhưng tòa án không được áp dụng bất cứ một biện pháp cưỡng chế nào như bắt giữ, tịch thu tài sản của quốc gia để phục vụ cho việc xét xử. Tòa án chỉ được áp dụng các biện pháp này nếu được quốc gia cho phép. Và như vậy, tài sản của quốc gia hưởng quyền bất khả xâm phạm, không thể bị áp dụng trái với ý nguyện của quốc gia sở hữu. Điều 18 Công ước của Liên Hiệp Quốc về quyền miễn trừ tài phán và miễn trừ tài sản của quốc gia quy định: “Không có biện pháp cưỡng chế tiền tố tụng nào như tịch thu, chiếm giữ tài sản trái pháp luật của quốc gia được áp dụng trong một vụ kiện trước một tòa án nước ngoài…”. Miễn trừ đối với các biện pháp cưỡng chế nhằm đảm bảo thi hành quyết định của Tòa án trong trường hợp quốc gia không đồng ý cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài kiện, đồng ý cho Tòa án xét xử. Trong trường hợp quốc gia đồng ý cho một tòa án nước ngoài giải quyết một tranh chấp mà quốc gia là một bên tham gia và nếu quốc gia là bên thua kiện thì bản án của tòa án nước ngoài đó cũng phải được quốc gia tự nguyện thi hành. Nếu không có sự đồng ý của quốc gia thì không thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế như bắt giữ, tịch thu tài sản của quốc gia nhằm cưỡng chế thi hành bản án đó. Ngay cả khi quốc gia từ bỏ quyền miễn trừ xét xử thì quyền miễn trừ đối với các biện pháp cưỡng chế bảo đảm thi hành phán quyết của tòa án vẫn phải được tôn trọng. Các nội dung nêu trên của quyền miễn trừ tư pháp quốc gia có quan hệ gắn bó mật thiết với nhau. Quốc gia có quyền từ bỏ từng nội dung hoặc tất cả các nội dung của quyền miễn trừ tư pháp của mình bởi vì đây là quyền của quốc gia chứ không phải nghĩa vụ của quốc gia. b. Các quan điểm khác nhau về quyền miễn trừ của quốc gia Quyền miễn trừ tư pháp quốc gia khi tham gia vào quan hệ dân sự quốc tế đã được thừa nhận trong pháp luật quốc tế (các điều ước quốc tế, tập quán quốc tế) và pháp luật hầu hết các nước. Tuy nhiên, pháp luật của các nước lại có những quan điểm khác nhau về mức độ hưởng quyền này của quốc gia. Về cơ bản có hai quan điểm chính về vấn đề này: Quyền miễn trừ tư pháp quốc gia là tuyệt đối, nghĩa là quốc gia phải được hưởng quyền này trong tất cả các lĩnh vực quan hệ dân sự mà quốc gia tham gia và trong bất kỳ trường hợp nào. Những người theo quan điểm này xuất phát từ chủ quyền quốc gia là tuyệt đối và bất khả xâm phạm, bất kỳ chủ thể nào cũng không có quyền vượt lên trên chủ quyền quốc gia. Thậm chí, quyền miễn trừ này còn được mở rộng cho người đứng đầu của quốc gia khi tham gia vào các mối quan hệ với tư cách người đứng đầu quốc gia hay tư cách cá nhân. Cần nhận thức rõ vấn đề ở đây, khi thừa nhận quyền miễn trừ của quốc gia khi tham gia vào các quan hệ dân sự quốc tế là tuyệt đối thì điều này có nghĩa là quốc gia sẽ được hưởng quyền miễn trừ trong tất cả các lĩnh vực quan hệ dân sự quốc tế và trong tất cả các trường hợp mà quốc gia tham gia với tư cách là một bên chủ thể trong quan hệ dân sự quốc tế. Việc quốc gia từ bỏ quyền miễn trừ tuyệt đối của mình phải được thể hiện rõ rang bằng các quy định trong hợp đồng, trong pháp luật quốc gia, trong điều ước quốc tế mà quốc gia kí kết hoặc tham gia, bằng con đường ngoại giao. Quyền miễn trừ tư pháp quốc gia là tương đối (miễn trừ chức năng), do các học giả của các nước theo chế độ chính trị tư bản chủ nghĩa khởi xướng và xây dựng nhằm loại trừ khả năng hưởng quyền miễn trừ của các công ty thuộc sở hữu nhà nước của các nước theo chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa khi tham gia vào các quan hệ kinh tế thương mại quốc tế. Học thuyết này nhanh chóng được các nước khác ủng hộ và cụ thể hóa vào các đạo luật quốc gia. Theo học thuyết này, quốc gia khi tham gia vào các quan hệ dân sự quốc tế sẽ được hưởng quyền miễn trừ về tài phán và quyền miễn trừ về tài sản trong tất cả các lĩnh vực quan hệ dân sự. Tuy nhiên, có những trường hợp quốc gia sẽ không được hưởng quyền này mà phải tham gia với tư cách một chủ thể dân sự như các chủ thể thông thường khác. Như vậy, Thuyết quyền miễn trừ tương đối chấp nhận cho quốc gia được hưởng quyền miễn trừ trong tất cả các lĩnh vực quan hệ dân sự mà quốc gia tham gia, nhưng lại hạn chế những trường hợp mà quốc gia sẽ không được hưởng quyền miễn trừ.
Xem thêm

Đọc thêm

Đại cương ngoại giao ( có hướng dẫn chi tiết )

Đại cương ngoại giao ( có hướng dẫn chi tiết )

PHẦN LÝ THYẾTCâu 1: Trình bày hệ thống các cơ quan quan hệ đối ngoại của nhà nước.Trả lời:Ngày nay, mọi quốc gia dù lớn hay nhỏ, giàu hay nghèo, dù theo chế độ quân chủ hay chế độ cộng hoà…đều có một cơ quan chuyên trách chịu trách nhiệm về công tác đối ngoại. Hệ thống tổ chức các cơ quan quan hệ đối ngoại của các nước đều bao gồm hai loại: Các cơ quan quan hệ đối ngoại trung ương và các cơ quan đại diện ở nước ngoài.1.1. Các cơ quan quan hệ đối ngoại Trung ương1.1.1. Các cơ quan chính trị do Hiến pháp quy địnhThông thường, cơ quan này bao gồm nguyên thủ quốc gia (cá nhân hoặc tập thể), Chính phủ và Thủ tướng, Bộ Ngoại giao và Bộ trưởng Ngoại giao.Nguyên thủ quốc gia là Vua ở các nước theo chế độ quân chủ và Chủ tịch hoặc Tổng thống ở các nước theo chế độ cộng hoà. Trách nhiệm, hoạt động của nguyên thủ quốc gia do Hiến pháp quy định. Tuy nhiên, cũng có khi quyền hạn của nguyên thủ quốc gia không được ghi trong Hiến pháp. Song, trên thực tế ai cũng thừa nhận nguyên thủ quốc gia có thể trực tiếp quan hệ với các nước khác, tiếp xúc trực tiếp với các nguyên thủ quốc gia nước khác, chính thức hoá các thoả thuận về chính sách đối ngoại. Những điều ước, văn bản, tuyên bố quan trọng thuộc chính sách đối ngoại thường do nguyên thủ quốc gia ký.Chính phủ là cơ quan chính trị do hiến pháp quy định, có chức năng lãnh đạo chính trị chung trong quan hệ đối ngoại, có thẩm quyền thiết lập và điều chỉnh các mối quan hệ giữa các cộng đồng bên trong phạm vi lãnh thổ quốc gia và quan hệ giữa các cộng đồng ấy với các thực thể khác bên ngoài lãnh thổ. Chức năng này là một bộ phận của chức năng chung của Chính phủ: Cơ quan hành pháp có thẩm quyền thực hiện chính sách chung và điều hành mọi công việc của quốc gia, cơ quan hành chính của nhà nước. Người đứng đầu Chính phủ được gọi là Thủ tướng, có quyền đại diện cho quốc gia, và Chính phủ trong các quan hệ đối ngoại trong phạm vi quyền hạn của mình được hiến pháp quy định, có quyền tiến hành hoạt động hàng ngày trong các lĩnh vực ấy. Thủ tướng có quyền đi dự các phiên họp của Đại hội đồng Liên hợp quốc không cần có sự uỷ quyền đặc biệt nào.Bộ Ngoại giao là cơ quan thực thi đường lối, chính sách đối ngoại của Nhà nước, Chính phủ về các công việc đối ngoại. Ở một số nước, cơ quan này được gọi với tên khác, như Bộ Quan hệ đối ngoại, hay Bộ Các công việc quốc tế… Bộ trưởng Ngoại giao là người lãnh đạo cơ quan phụ trách quan hệ đối ngoại của Chính phủ, được quyền liên hệ với các nước khác, không cần có một sự uỷ quyền đặc biệt nào, trong phạm vi quyền hạn được hiến pháp quy định.Khi ra nước ngoài, nguyên thủ quốc gia, Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao được hưởng mọi đặc quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao ở mức cao nhất: quyền bất khả xâm phạm, bất khả tài phán, liện hệ bằng mật mã, đặc quyền danh dự…Về nội dung hoạt động, các cơ quan quan hệ đối ngoại của các nước về cơ bản thường giống nhau, nhưng về cơ cấu tổ chức đối khi khác nhau tuỳ theo đặc điểm chính trị, kinh tế, chiến lược của từng nước.1.1.2. Các cơ quan chuyên môn có tính chất công ướcTrong hệ thống tổ chức bộ máy đối ngoại của nhà nước có những cơ quan được tổ chức và hoạt động trên cơ sở những hiệp ước, hiệp định quốc tế, hoặc trên cơ sở tập quán, truyền thống được hình thành và thừa nhận trong quan hệ quốc tế. Chúng được gọi là các cơ quan chuyên môn có tính chất công ước. Đây là những cơ quan về chuyên môn của nhà nước có quan hệ với nước khác. Những cơ quan này được tổ chức theo ngành dọc, trực thuộc các bộ, ngành chuyên môn. Các bộ, ngành này có liên quan, quan hệ với nước ngoài là do thực chất nội dung công việc của họ. Nói cách khác, nếu không quan hệ với nước khác thì họ khó có thể hoàn thành được các công việc được giao phó, ví dụ ngành hàng không, bưu điện, thông tin, ngoại thương, văn hoá… Điều quan trọng cần lưu ý là: Tất cả mối quan hệ của các cơ quan này với nước ngoài không mang tính chất quan hệ chính trị, mà chỉ mang tính chất chuyên môn, các cơ quan này không hoạt động trên cơ sở hiến pháp, mà trên cơ sở công ước quốc tế.1.2. Các cơ quan đại diện của Nhà nước1.2.1. Cơ quan đại diện thường trúLà các cơ quan hàng ngày làm công tác ở nước ngoài, đại diện cho quyền lợi quốc gia, quyền lợi dân tộc, quyền lợi công dân, pháp nhân nước cử đi. Các cơ quan đại diện thường trú thường bao gồm: Đại sứ quán, Công sứ quán, Cơ quan đại diện tại các tổ chức quốc tế; Đại biện quán; Tổng lãnh sự quán, Lãnh sự quán. Tuỳ theo chức năng, tính chất hoạt động, người ta phân cơ quan đại diện thường trú thành: cơ quan đại diện thường trú ngoại giao (Đại sứ quán Công sứ quán Cơ quan đại diện tại Liên hợp quốc); và cơ quan đại diện thường trú không ngoại giao (Tổng lãnh sự quán Lãnh sự quán các tổ chức phục vụ triển lãm, hội nghị kỹ thuật thường xuyên, v.v..).Địa vị pháp lý của các cơ quan đại diện thường trú không ngoại giao gần giống với quy chế pháp lý quốc tế của các cơ quan đại diện ngoại giao nhưng ở mức độ thấp hơn. Các cơ quan đại diện thường trú không ngoại giao không mang tính chất chính trị, ngoại giao, mà chỉ mang tính chất chuyên môn, kỹ thuật thuần tuý, trừ trường hợp được giao kiêm thêm nhiệm vụ về ngoại giao như cơ quan lãnh sự ở những nước không lập Đại sứ quán, Công sứ quán, Đại biện quán.1.2.2. Các cơ quan đại diện lâm thờiThường bao gồm các đoàn đại biểu, các đại diện riêng lẻ, đặc phái viên được cử ra nước ngoài hoạt động trong một thời gian nào đó; hoặc các quan sát viên ở các hội nghị quốc tế, ủy ban quốc tế; hoặc các đại diện cá biệt được cử đi dự các ngày lễ nhà nước, các ngày lễ đăng quang, quốc tang…Câu 2: Đặc quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao gồm những quyền cơ bản nào? Phân tích quyền miễn trừ xét xử. Lấy ví dụ thực tế để minh hoạ.Trả lời:Đặc quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao là những quyền lợi và ưu đãi đặc biệt dành cho cơ quan đại diện ngoại giao và các thành viên cơ quan đại diện nhằm tạo điều kiện cho họ thực hiện có hiệu quả chức năng đại diện ở nước sở tại.Đặc quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao gồm những quyền cơ bản sau:1. Quyền bất khả xâm phạmCơ quan đại diện và thành viên cơ quan đại diện ngoại giao không thể hoàn thành được sứ mạng của họ, nếu họ bị phụ thuộc vào chính quyền nước sở tại. Đặc quyền dành cho họ là nhằm tạo điều kiện để họ được tự do hoàn toàn, không bị xâm phạm trong bất kỳ trường hợp nào, trong suốt thời gian họ thực hiện chức năng đại diện của họ ở nước tiếp nhận. Quyền ưu đãi bất khả xâm phạm bao gồm:1.1. Quyền bất khả xâm phạm thân thể1.2. Quyền bất khả xâm phạm trụ sở, nhà ở, phương tiện thông tin liên lạc, hồ sơ tài liệu, phương tiện giao thông2. Quyền miễn trừ2.1. Miễn trừ xét xửCông ước Viên 1961 quy định miễn trừ xét xử hình sự, dân sự, đối với thành viên cơ quan đại diện. Đây là sự đảm bảo cần thiết để các viên chức ngoại giao và các thành viên ngoại giao khác của cơ quan đại diện ngoại giao hoàn toàn độc lập, tự do thực hiện chức năng đại diện mà Nhà nước giao phó. Công ước Viên 1961 cũng nhấn mạnh: mọi thành viên cơ quan đều phải tôn trọng luật pháp nước tiếp nhận và đều bị xét xử tại toà án nước cử đi khi phạm tội. Mức độ được hưởng quyền miễn trừ xét xử đối với các cấp thành viên cơ quan đại diện được quy định cụ thể trong các điều khoản Công ước Viên 1961.2.1.1. Miễn trừ xét xử hình sự Đối với viên chức ngoại giaoTheo Điều 31 Công ước Viên 1961, tất cả những người có thân phận ngoại giao đều được hưởng quyền miễn trừ xét xử: không bị bắt, bị truy tố, bị giam, bị xét xử và không bị ra toà làm chứng. Khi vi phạm pháp luật nước tiếp nhận, viên chức ngoại giao không bị xét xử ở nước tiếp nhận. Điều này không có nghĩa là nhà ngoại giao không có trách nhiệm tội phạm khi phạm tội, không có nghĩa là nhà ngoại giao không có trách nhiệm hình sự. Họ vẫn bị xét xử tại toà án nước cử đi, bị pháp luật nước cử đi trừng trị khi phạm tội. Để làm việc này, nước tiếp nhận thông báo bằng con đường ngoại giao cho nước cử đi về tội danh của họ; nước cử đi có thể triệu họ về nước và xét xử họ tại toà án. Viên chức ngoại giao không có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ. Nước tiếp nhận có thể yêu cầu họ cung cấp chứng cứ bằng thư, nhưng nếu họ từ chối, thì không được cưỡng ép. Trong trường hợp đó, người điều tra của nước tiếp nhận phải đến cơ quan đại diện nơi họ làm việc để lấy chứng cứ. Việc cung cấp chứng cứ cũng có khi được thực hiện, nếu họ tự nguyện. Nhưng hình thức thực hiện như thế nào là do họ tự chọn. Nước cử, với lý do rõ ràng, có thể từ bỏ quyền miễn trừ này đối với viên chức ngoại giao (Điều 32.1.2). Đối với thành viên khác của cơ quan đại diệnTheo Điều 37, Công ước Viên 1961, quyền miễn trừ xét xử cũng được dành cho:+ Thành viên gia đình viên chức ngoại giao;
Xem thêm

Đọc thêm

SKKN MỆNH ĐỀ QUAN HỆ VÀ ĐẠI TỪ QUAN HỆ TRONG TIẾNG ANH

SKKN MỆNH ĐỀ QUAN HỆ VÀ ĐẠI TỪ QUAN HỆ TRONG TIẾNG ANH

(Người đàn ông mà tôi đã nói chuyện có vẻ rất vui)5Chú ý: - Ta có thể thay thế đại từ quan hệ “whom” bằng đại từ quan hệ “who” hoặc“that” ( nếu không có giới từ đứng trước “whom” ) và đại từ quan hệ “whom” cũng cóthể bỏ đi được ( nếu không có giới từ đứng trước ).Eg: + The man whom ( who, that) I spoke to is very happy.Ta có thể viết : + The man to whom I spoke is very happy.+ The man I spoke to is very happy.c) Whose (Của người đó):- Whose: Chỉ quyền sở hữu.- Whose: Dùng để thay thế cho các tính từ sở hữu (my, your, his, her, our, their và cácdanh từ chủ sở hữu trong sở hữu cách).Eg: + He met the girl whose eyes were blue.(Anh ta đã gặp một cô gái mắt xanh)+ The men whose houses were damaged will compensated.(Những người mà nhà cửa bị thiệt hại sẽ được đền bù)d) Which (Cái mà, vật mà, điều mà...)- Là đại từ quan hệ thay thế cho danh từ chỉ đồ vật, con vật, sự kiện...... “which” có thểlàm chủ ngữ hay tân ngữ cho động từ trong mệnh đề quan hệ.* Which (làm chủ ngữ)Eg: + The book which is on the table is mine.(Cuốn sách ở trên bàn là của tôi)+ Can you see the horse which won the match?(Bạn có nhìn thấy con ngựa thắng cuộc không)* Which (làm tân ngữ)Eg: + The film which we saw last night wasn't very good.(Bộ phim mà chúng tôi xem tối hôm qua không hay lắm)
Xem thêm

Đọc thêm

QUAN HỆ LAO ĐỘNG VÀ QUAN HỆ GIỮA XÃ VIÊN HỢP TÁC XÃ VỚI HỢP TÁC XÃ

QUAN HỆ LAO ĐỘNG VÀ QUAN HỆ GIỮA XÃ VIÊN HỢP TÁC XÃ VỚI HỢP TÁC XÃ

+ Quan hệ lao động: NSDLĐ có quyền quy định quy chế phân phối trong đơn vị, cóquyền quyết định các mức lương theo từng vị trí công việc, có quyền và nghĩa vụtrả lương cho NLĐ từ khối tài sản mình đang sở hữu hoặc quản lý.+ Quan hệ giữa xã viên HTX với HTX: phân phối lợi nhuận theo vốn góp và mứcđộ sử dụng dịch vụ của xã viên.• Một số điểm khác nhau khác:_ Mục tiêu cốt lõi của quan hệ xã viên và HTX là nhằm phục vụ xã viên tốt hơn.Còn trong quan hệ lao động, mục tiêu là đôi bên cùng có lợi._ Trong các nguồn hình thành vốn và tài sản của HTX có vốn góp của xã viên; xãviên lại là thành viên của HTX do đó xã viên cũng phải cùng HTX chịu tránh nhiệmvề các khoản nợ của HTX (chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn góp). Còn trongquan hệ lao động, nếu doanh nghiệp hay NSDLĐ có các khoản nợ, thì NLĐ khôngliên quan, không chịu trách nhiệm cùng chi trả các khoản nợ đó.Sở dĩ có sự khác nhau như vậy là do: sự phụ thuộc của NLĐ – đây là phương diện,đặc điểm quan trọng để phân biệt quan hệ lao động với các quan hệ tương đồngkhác.
Xem thêm

4 Đọc thêm

 MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢNXUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT

MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢNXUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT

tổ chức quản lý và quan hệ phân phối có vai trò quan trọng. Những quan hệ này cóthể góp phần củng cố quan hệ sở hữu và cũng có thể làm biến dạng quan hệ sở hữu.Các hệ thống quan hệ sản xuất ở mỗi giai đoạn lịch sử đều tồn tại trong mộtphương thức sản xuất nhất định . Hệ thống quan hệ sản xuất thống trị mỗi hình tháikinh tế xã hội ấy. Vì vậy khi nghiên cứu, xem xét tính chất của một hình thái xã hộithì không thể nào nhìn ở trình độ của lực lượng sản xuất mà còn phải xem xét đếntính chất của các quan hệ sản xuất.Quan hệ kinh tế tổ chức xuất hiện trong quá trình tổ chức sản xuất. Nó vừa biểuhiện quan hệ giữa người với người, vừa biểu hiện trạng thái tự nhiên kĩ thuật củanền sản xuất. Quan hệ kinh tế tổ chức phản ánh trình độ phân công lao động xã hội,chuyên môn hoá và hợp tác hoá sản xuất. Nó do tính chất và trình độ phát triển củalực lượng sản xuất quy định.3. Quy luật về sự phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuấtLực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản xuất,chúng tồn tại không tách rời nhau mà tác động biện chứng lẫn nhau hình thành quyluật phổ biến của toàn bộ lịch sử loài người, quy luật về sự phù hợp quan hệ sảnxuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Quy luật này vạch rõ tính chấtphụ thuộc khách quan của quan hệ sản xuất và phát triển của lực lượng sản xuất.Đến lượt mình, quan hệ sản xuất tác động trở lại đối với lực lượng sản xuất. Quyluật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sảnxuất là quy luật cơ bản của sự phát triển xã hội loài người. Sự tác động của nó tronglịch sử làm cho xã hội chuyển từ hình thái kinh tế xã hội thấp lên hình thái kinh tếxã hội cao hơn.a, Những tác động cửa lực lượng sản xuất lên quan hệ sản xuất5Quan hệ sản xuất được hình thành, biến đổi và phát triển đều do lực lượng sảnxuất quyết định.Trong quá trình sản xuất, để lao động bớt nặng nhọc và đạt hiệu quả cao hơn,
Xem thêm

11 Đọc thêm

bài tập mệnh đề quan hệ

bài tập mệnh đề quan hệ

bài tập giúp nâng cao ngữ pháp tiếng anh. giúp học sinh hiểu hơn về mệnh đề quan hệ và cách dùng, làm được bài tập về viết lại câu có sử dụng mệnh đề quan hệ. EXERCISE I : Write who, that, which, or nothing to complete these sentences : 1. Have you got the money ___________ I lent you yesterday ? 2.Peter, ___________ I had seen earlier, wasn’t at the party. 3. This is the machine ___________ cost half a million pounds. 4. Mary, ___________ had been listening to the conversation, looked angry. 5. Have you read the book ___________ I gave you ? 6. The hous, ___________ they bought three months ago, looks lovely. 7. Mrs.Jackson, ___________ had been very ill, died yesterday. 8. Is this the person ___________ stole your handbag ? 9. The dog, ___________ had been very quiet, suddenly started barking. 10. I didn’t receive the letters ___________ she sent me. 11. My mother, ___________ hadn’t been expecting visitors, looked surprised. 12. The old man, ______ had been talking to them earlier, knew that they were in the building. 13. The horse, _________ had been injured by the flying stones, was very frightened. 14. We didn’t like the secetary ___________ the agency sent. 15. I didn’t find the money ___________ you said you’d left. EXERCISE II : Join each pair of sentences using relative pronouns : 1. This is the man. I met him in Paris. _____________________________________________
Xem thêm

Đọc thêm

ĐẶC TRƯNG CỦA SỰ TÌNH QUAN HỆ

ĐẶC TRƯNG CỦA SỰ TÌNH QUAN HỆ

TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 3. 2009Trong Cuộc tang thương, nhân vật Ngô Tòng do gia cảnh éo le, từ bỏ vùng quêThái Bình cùng mẹ lên Hà Nội sinh sống là bước ra một không gian rộng lớn hơn, tựđặt mình trong nhiều mối quan hệ phức tạp hơn. Thay vì các mối quan hệ họ hàng(Một giọt máu đào hơn ao nước lã), làng xóm (Bán anh em xa mua láng giềng gần)như trước đây; trong môi trường sống mới, Ngô Tòng phải làm quen với nhiều mốiquan hệ mới: quan hệ làm ăn buôn bán (với bà Lang C), quan hệ bạn bè cùng học(với Lê Cần), quan hệ đồng nghiệp (trong sở Kho bạc)... Dường như nhận thức đượcsự phức tạp của cuộc sống nơi phố phường, Ngô Tòng không muốn quảng giao, chỉthân thiết với mình Lê Cần - người bạn học có cùng cảnh ngộ. Tưởng thế là đượcyên ổn trong cuộc đời đầy bất trắc, nào ngờ chính Lê Cần - người bạn thân thiết vàNgọc Lan - người vợ yêu quí đã phản bội Ngô Tòng, dan díu với nhau. Một kết cụcbi thảm ngoài sức tưởng tượng đã khiến Ngô Tòng không sao chịu đựng nổi: “Cậuđã như con chim bị tên bay lạc, thấy cây cong càng thêm giật mình. Bây giờ cậu chỉcòn tìm chỗ nào vắng vẻ, sống qua ngày làm bạn với cái đau đớn mà thôi, chớ sựđời đã tắt lửa lòng, còn chen vào chốn bụi hồng làm chi? Tư tưởng cậu quay về cảcõi tôn giáo siêu việt; tinh thần cậu như muốn quy y mà tín ngưỡng một đấng đại từđại bi, để cầu sự an ủi trong lòng”... Ngô Tòng đã chết trên đường tìm đến cửa Phật.Sự tha hoá của Ngô Tòng là ở chỗ con người không đứng vững, đã sụp đổ trước sứctấn công quyết liệt, những trận đòn “vu hồi” của hoàn cảnh sống. Từ bi kịch gia đình(cha theo gái trẻ bỏ rơi hai mẹ con) đến bi kịch cá nhân (vợ ngoại tình) của NgôTòng, cũng là sự vận động của cốt truyện trong Cuộc tang thương, tác giả đã làmhiện lên một môi trường sống mà ở đó con người chỉ mải mê chạy theo cám dỗ, thỏamãn những dục vọng riêng tư thấp hèn, chà đạp lên luân thường đạo lý. Chứng kiếnxã hội điên đảo, quay cuồng trong lối sống cá nhân ích kỷ, con người trong sáng màyếu đuối của Ngô Tòng như một cây non bị giông gió cuộc đời quăng quật và cáichết đến với Ngô Tòng thật khó tránh khỏi.Cuộc đời của Bạch Thuỷ trong Cành hoa điểm tuyết cũng bắt đầu trở nên truânchuyên kể từ lúc đặt chân đến chốn Hà thành. Mười tám tuổi với nhan sắc nức tiếng
Xem thêm

103 Đọc thêm

QUAN HỆ NGHĨA VỤ CÓ ĐỐI TƯỢNG LÀ CÔNG VIỆC TRONG QUAN HỆ DÂN SỰ

QUAN HỆ NGHĨA VỤ CÓ ĐỐI TƯỢNG LÀ CÔNG VIỆC TRONG QUAN HỆ DÂN SỰ

Quan hệ nghĩa vụ có đối tượng là công việc trong quan hệ dân sự Trong quan hệ nghĩa vụ, hành vi của các chủ thể sẽ tác động vào một tài sản,một công việc cụ thể nào đó. Những tài sản, công việc này chính là đối tượng củaviệc thực hiện nghĩa vụ dân sự. Tùy thuộc vào tính chất và nội dung của từng quanhệ nghĩa vụ cụ thể mà đối tượng của nó có thể là một tài sản, một công việc phảilàm hoặc một công việc không được làm.Công việc không được thực hiện là đối tượng của nghĩa vụ trong nhữngtrường hợp, các bên thỏa thuận mà theo đó người có nghĩa vụ không được thực hiệncông việc theo nội dung mà các bên đã xác định. Nếu các bên đã thỏa thuận mộtbên không thực hiện một công việc đã xác định mà bên có nghĩa vụ lại thực hiệncông việc đó thì được coi là vi phạm nghĩa vụ.Tình huống sau có thể giúp làm hiểu rõ hơn về một quan hệ nghĩa vụ có đốitượng là công việc không được thực hiện, để qua đó xác định được quyền và nghĩavụcủacácbênphátsinh.Trần An là sinh viên trường Đại học Luật Hà Nội, thành phố Hà Nội. Do điềukiện gia đình ở xa, An phải thuê trọ tại nhà ông Nguyễn Tâm, trú tại thành phố HàNội. Ông Tâm có xây một khu nhà gồm 5 gian nhà nhỏ nằm liên tiếp nhau trên khuđất ông đứng tên chủ sở hữu để cho thuê, gian nhà chính gia đình ông Tâm ở cũngngay cạnh đó, ngoài ra xung quanh còn có các hộ gia định khác. Trong bản hợpđồng thuê nhà giữa An và ông Tâm, ngoài những thỏa thuận về giá thuê nhà, thờihạn thuê nhà, thời gian nộp tiền thuê nhà, việc sử dụng điện, nước và một số thỏa
Xem thêm

3 Đọc thêm

BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC CẦN THIẾT CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG ĐI LÀM VIỆC TẠI CÁC THỊ TRƯỜNG KHÁC

BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC CẦN THIẾT CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG ĐI LÀM VIỆC TẠI CÁC THỊ TRƯỜNG KHÁC

+ Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sáng tạo, năngsuất cao vì lợi ích bản thân, gia đình, tập thể và xã hội;+ Thường xuyên tu dưỡng và phát huy những phẩm chất tốt đẹp của conngười Việt Nam; quan hệ giữa người với người phải thân ái, giữa cấp trên và cấpdưới phải tôn trọng và đoàn kết; xây dựng gia đình hạnh phúc, no ấm.8. Trách nhiệm của ngƣời lao động Việt Nam khi làm việc ở nƣớc ngoàitrong việc giữ gìn và phát huy truyền thống bản sắc văn hoá dân tộcNgười lao động Việt Nam sống và làm việc có thời hạn ở nước ngoài là4những sứ giả giới thiệu và quảng bá nền văn hoá của dân tộc Việt Nam với các dântộc khác, đồng thời, tiếp thu tinh hoa văn hoá của các dân tộc trên thế giới để làmgiàu cho nền văn hoá của dân tộc Việt Nam. Dù sống ở đâu và làm bất cứ côngviệc nào, chúng ta cũng phải nhận thức sâu sắc được vinh dự và trách nhiệm này đểluôn phấn đấu hoàn thiện mình, trau dồi bản lĩnh tự tin, tự trọng để góp phần tônvinh dân tộc Việt Nam, kiên quyết tránh những việc xấu làm tổn hại đến danh dự,đến hình ảnh của đất nước và dân tộc ta.Là người làm công ăn lương được pháp luật nước sở tại bảo hộ, mỗi chúngta phải tuân thủ Pháp luật nước sở tại, chấp hành nội quy, kỷ luật lao động, tuânthủ quy định của người sử dụng lao động;Có ý thức học hỏi nâng cao trình độ tay nghề, ngoại ngữ, rèn luyện tácphong làm việc công nghiệp hiện đại, tiên tiến; tác phong sinh hoạt văn minh, lịchsự; phấn đấu để tự bảo vệ quyền lợi chính đáng của bản thân;Quan hệ ứng xử đúng mực với chủ sử dụng, với đồng nghiệp, với cộng đồngvà người dân nước sở tại.Cảnh giác với những thủ đoạn khác nhau của các thế lực thù địch làm mêmuội con người bằng các loại văn hóa phẩm độc hại, với những luận điệu mị dân,lừa bịp, thúc đẩy lối sống hưởng lạc, thực dụng, quên quá khứ, bàng quan chính trị,xa rời lý tưởng, dễ bị cám dỗ không phân biệt thật giả, đúng sai, tạo điều kiện
Xem thêm

38 Đọc thêm

Hành vi phạm tội của người nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam

Hành vi phạm tội của người nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam

Hành vi phạm tội của người nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam A là quốc tịch nước Canada. A có hành vi phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam và bị bắt tại Anh. Hỏi: a. Hành vi phạm tội của A có bị xử lý theo Bộ luật hình sự Việt Nam không? b. Giả định A là người thuộc đối tượng được đặc miễn ngoại giao thì hành vi của A có bị coi là tội phạm không? c. Hãy cho biết quan điểm cá nhân về quy định tại Điều 5 Bộ luật hình sự Việt Nam. Bài làm a. Về nguyên tắc thì A bị xử lý theo Bộ luật hình sự Việt Nam theo khoản 1 điều 5 bộ luật hình sự Việt Nam: Bộ luật hình sự được áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tuy nhiên do A là người Canada nên việc xử lý A phải căn cứ vào khoản 2 điều 5 của bộ luật hình sự. Nếu A là đối tượng thuộc khoản 2, điều 5 bộ luật hình sự thì vấn đề trách nhiệm hình sự của A được giải quyết bằng con đường ngoại giao: Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước CHXHCN Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng các quyền miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các điều ước quốc tế mà nước CHXHCN Việt Nam ký kết hoặc tham gia hoặc theo tập quán quốc tế, thì trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao. Như vậy câu trả lời chính xác là có thể. b. Dù A là người thuộc đối tượng được đặc miễn ngoại giao thì hành vi của A vẫn bị coi là tội phạm. Hành vi của A là tội phạm theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam vì nó thoả mãn những đặc điểm của tội phạm: + Tính nguy nguy hiểm cho xã hội + Tính có lỗi + Tính trái pháp luật hình sự + Tính chịu hình phạt Hành vi của A là tội phạm tuy nhiên do A ( chủ thể của tội phạm) thuộc đối tượng được đặc miễn ngoại giao nên vấn đề trách nhiệm hình sự của A được giải quyết bằng con đường ngoại giao theo quy định tại khoan 2, điều 5 Bộ luật hình sự Việt Nam: Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng các quyền miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các điều ước quốc tế mà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia hoặc theo tập quán quốc tế, thì vấn đề trách nhiệm của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao. c. Quan điểm của cá nhân em về quy định tại điều 5 bộ luật hình sự Việt Nam. Điều 5 của bộ luật hình sự Việt Nam quy định về : Hiệu lực của bộ luật hình sự đối với những hành vi phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 1. Bộ luật hình sự được áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ nước cộng hoà xã hội chủ nghĩ Việt Nam. 2. Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng các quyền miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia hoặc theo tập quán quốc tế, thì vấn đề trách nhiệm hình sự của họ được giải quýêt bằng con đường ngoại giao. Quan điểm cá nhân em cho rằng điều 5 quy định về hiệu lực của bộ luật hình sự đối với những hành vi phạm tội trên lãnh thổ nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một điều luật đúng hợp lý vừa thể hiện được tính nghiêm khắc vừa có sự kết hợp hài hoà với những thông lệ ngoại giao và tập quán quốc tế điều đó nói lên rằng Việt Nam rất tôn trọng những điều ước, điều khoản mà mình đã ký kết, đây là một điều kiện rất quan trọng để chúng ta ngày càng hội nhập sâu rộng với thế giới. Tuy vậy không vì điều đó mà việc thực hiện pháp chế bị ảnh hưởng mà trái lại điều luật này đã quy định rất rõ là mọi hành vi phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam đều được áp dụng thoe bộ luật này. Bên cạnh sự đúng đắn và hợp lý đó em còn thấy rằng để thực hiện được điều luật này phải có một chính quyền đủ mạnh và phải có sự phối hợp giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Vì một khi nhà nước mình không đủ mạnh để gây áp lực và quốc gia khác không hợp tác thì không thể xử lý được một hành vi phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam mà bị bắt ở nước ngoài khi mình yêu cầu dẫn độ về nước để xử lý theo bộ luật hình sự Việt Nam mà không được nước đó chấp nhận. Một ví dụ điển hình năm 2001 Lý Tống dùng máy bay từ Thái Lan xâm phạm vào lãnh thổ Việt Nam rải truyền đơn rồi tẩu thoát về Thái Lan sau đó bị bắt, nhà nước ta đã yêu cầu phía Thái Lan dấn độ Lý Tống về Việt Nam để xử lý theo bộ luật hình sự Việt Nam nhưng không được phía Thái Lan chấp nhận. Nên hành vi tội phạm mà Lý Tống thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam nhưng vẫn không bị xư lý theo Bộ luật hình sự Việt Nam. Như vậy ta thấy để thực hiện triệt để được điều luật nay cần phải có một nhà nước mạnh và sự cần thiết phải tiến hành ký kết các hiệp ước tương trợ tư pháp giữa các quốc gia.
Xem thêm

Đọc thêm

GEORGES PEREC (19361982)

GEORGES PEREC (19361982)

Tóm lại, Đảo Ellis không gi khác hơn một nhà máy chế tạo người Mỹ, một nhà máy biến những dân di cư thành dân nhập cư, một nhà máy kiểu Mỹ, nhanh chóng và hiệu quả như một lò heo ở Chicago: ở đầu này dây chuyền, người ta nhét một người Áinhĩlan, một người Dothái ở Ukraine hay một người vùng đông nam nước Ý, ở đầu kia — sau khi kiểm tra mắt, kiểm tra các bọc túi, chích ngừa, tẩy uế — một người Mỹ ló ra. Nhưng đồng thời, năm này qua năm khác, những điều kiện thu nhận trở nên ngày càng chặt chẽ. Dần dần, “cánh cửa vàng” khép lại trên cái nước Mỹ phi thường, nơi những con gà tây mái nướng chín tới rơi thẳng vào đĩa ăn của các bạn, nơi đường phố lát đá bằng vàng, đất là sở hữu của mọi người. Thật ra, kể từ 1914, việc di dân bắt đầu ngưng, trước tiên là do chiến tranh, sau đó là do một loạt những biện pháp phân biệt đối xử chiếu theo phẩm chất (Literacy Act) và số lượng (phần trăm) cụ thể là cấm những “kẻ bị vứt bỏ khốn khổ” và những “đám người lúc nhúc” vào Hoa Kỳ. Năm 1924, những thủ tục di dân được giao cho các lãnh sự quán Mỹ ở châu Âu và Đảo Ellis chỉ còn là một trung tâm giam giữ dành cho những di dân trong hoàn cảnh giấy tờ bất thường. Trong thời gian Thế Chiến thứ hai và ngay sau đó, Đảo Ellis, đi đến tận cùng đường hướng ẩn kín của mình, biến thành một nhà tù giam những thành phần bị tình nghi hoạt động chống Mỹ (những người Ý phátxít, những người Đức theo quốc xã, những người cộng sản hay được coi là cộng sản). Năm 1954, Đảo Ellis vĩnh viễn đóng cửa. Ngày nay đảo là một di tích cấp quốc gia, cũng như núi Rushmore, Old Faithful và bức tượng của Bartholdi, dưới sự quản lý của các Cảnh Sát cơ động đội nón hướng đạo đón khách tham quan, mỗi năm sáu tháng, mỗi ngày bốn lần.
Xem thêm

Đọc thêm

Quan hệ ngang bằng (parity)

QUAN HỆ NGANG BẰNG (PARITY)

Quan hệ ngang bằng (parity)

39 Đọc thêm

Cùng chủ đề