TRIỆU CHỨNG KHI BỊ UNG THƯ PHỔI

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "TRIỆU CHỨNG KHI BỊ UNG THƯ PHỔI":

Những dấu hiệu của bệnh ung thư phổi ở cả nam và nữ

NHỮNG DẤU HIỆU CỦA BỆNH UNG THƯ PHỔI Ở CẢ NAM VÀ NỮ

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Với nam giới, căn bệnh ung thư phổi đứng đầu trong danh sách các bệnh ung thư, số người tử vong hàng năm trên toàn thế giới; với nữ giới thì nó cũng đứng thứ tư. Điều này cho thấy đây là một trong những dạng ung thư phổ biến bậc nhất hiện nay. Giới chuyên môn thì nhận định: ung thư phổi vẫn có thể chữa trị nếu như được phát hiện sớm, nhưng thực tế hiện nay thì những triệu chứng của căn bệnh này thường chẳng mấy ai chú ý. Hầu hết, bệnh nhân khi đến khám tại bệnh viện, lúc phát hiện ra bệnh ung thư phổi thì đã ở giai đoạn cuối.Những dấu hiệu nguy hiểm Khói thuốc là một nguy cơ quan trọng nhất và là nguyên nhân chủ yếu nhất dẫn đến ung thư phổi. Đây là nguyên nhân gây ra 80% số trường hợp ung thư phổi trên toàn thế giới. Những hợp chất nguy hại trong thuốc lá phá hủy các tế bào phổi. Qua thời gian, những tế bào bị phá hủy đó bị ung thư. Đó là lý do tại sao hút thuốc điếu, thuốc tẩu, hoặc xì-gà có thể gây ung thư phổi và những người không hút thuốc hít phải những chất trên cũng bị mắc ung thư. Một người hít càng nhiều khói thuốc thì nguy cơ mắc ung thư phổi càng lớn. Những nguyên nhân khác có thể gây ung thư phổi bao gồm chất rađon (khí gas hoạt tính), ami-ăng, thạch tín, crom, ni-ken và ô nhiễm không khí. Những người trên 65 tuổi khi chẩn đoán thường mắc bệnh ung thư phổi. Xét thực tế trong môi trường sống hiện nay thì nguy cơ tiềm tàng về căn bệnh ung thư phổi giữa nam và nữ gần tương đương nhau. Từ việc không khí ô nhiễm, cùng với đó là nhiều người phụ nữ “vô tình” hít phải khói thuốc lá đã khiến cho tỉ lệ mắc căn bệnh này giữa nam và nữ không có sự chênh lệch nhiều. Trên cơ sở nghiên cứu và kinh nghiệm khám chữa lâu năm, các bác sĩ của hai cơ sở y tế điều trị các căn bênh ung thư hàng đầu Việt Nam là Bệnh viên K Hà Nội và Bệnh viện Ung bướu thành phố Hồ Chí Minh đã đưa ra những lời khuyên cụ thể để mọi người tự phát hiện căn bệnh ung thư cho chính mình. Dấu hiệu nghiêm trọng nhất phải nhắc tới đó là cảm giác khó thở. Đôi khi cảm giác khó thở vẫn diễn ra với chúng ta nếu như có sự tác động từ ngoại lực và môi trường không khí có sự thay đổi. Tuy nhiên, nếu như triệu chứng này diễn ra thường xuyên thì cần phải xem xét lại vì có thể bạn đang có dấu hiệu của căn bệnh ung thư, vì lúc này các tế bào gây bệnh đã phát triển thành các khối u chèn vào các dây thần kinh, ảnh hưởng đến cơ quan hô hấp. Cùng với cảm giác khó thở thì triệu chứng ho dai dẳng nhiều ngày cũng là một trong những dấu hiệu cần xem xét kĩ. Đôi khi chúng ta ho có thể do viêm phổi, nhiễm trung phổi hoặc các bệnh về thanh quản nhưng việc ho dai dẳng nhiều ngày, uống nhiều loại thuốc mà không thấy thuyên giảm nhiều thì cần phải ngay lập tức tìm đến cơ sở y tế để khám xét. Dấu hiệu tiếp theo là triệu chứng giảm cân không rõ nguyên nhân. Bạn có thể ăn uống, sinh hoạt một cách hết sức bình thường nhưng trọng lượng cơ thể lại cứ sụt giảm một cách trầm trọng không rõ nguyên nhân, cũng chẳng có cảm giác ốm đau gì thì điều đó đồng nghĩa với việc bạn có thể đã bị bệnh ung thư phổi. Nếu chú ý hơn, những người có dấu hiệu bị mắc bệnh thường có cảm giác đau ngực, khi hoạt động cường độ cao sẽ khó thở thì gần như chắc chắn là bị ung thư phổi giai đoạn đầu. Một trong những dấu hiệu mà nhiều người cho là chẳng liên quan đó là cảm giác đau nhức ở các khớp ngón tay, ngón chân và cảm giác rất đau ở vai. Theo nghiên cứu, khi phổi bị các tế bào ung thư tấn công nó sẽ khiến cho việc lưu thông khí huyết trong cơ thể bị ảnh hưởng, từ đây nó sẽ tạo ra những dấu hiệu bất thường khiến cho các cơ, các khớp bị ảnh hưởng. Riêng ở phụ nữ, một trong những triệu chứng đặc biệt dó là các mô ở phần ngực to bất thường. Khi bạn thấy ngực của mình to lên mà không rõ nguyên nhân thì có thể lúc đó tế bào ung thư đã tấn công phổi. Các tế bào ung thư khi tấn công sẽ thay đổi các nội tiết tố từ đó khiến cho việc phát triển các mô ngực bỗng nhiên có những dấu hiệu bất thường. Cùng với một số những dấu hiệu như đờm có máu, thường xuyên bị nhiễm trùng, thay đổi tâm trạng bất thường… mà xuất hiện thì có nghĩa bạn cần ngay lập tức đến các bệnh viện để khám xét vì lúc đó nguy cơ bị bệnh ung thư phổi là rất cao.   Cảnh giác với những dấu hiệu ung thư ở cả nam và nữ. Ảnh minh họa. Lời khuyên của bác sĩ Về cơ bản, các bệnh ung thư khi được phát hiện sớm sẽ mang lại hiệu quả tốt trong việc điều trị và ngăn chặn bệnh, nhưng để khẳng định kết quả ra sao thì chẳng ai có thể nói trước được điều gì. Còn với các bác sĩ chuyên khoa điều trị ung thư phổi thì liều thuốc tốt nhất cho mỗi người để ngăn chặn căn bệnh quái ác này chính là thay đổi một số tập quán trong sinh hoạt giúp phòng tránh bệnh từng ngày, từng giờ. Một trong những lời khuyên mà các y bác sĩ vẫn nói đó chính là việc từ bỏ thuốc lá. Đây đã trở thành một vấn nạn toàn cầu chứ không riêng gì tại Việt Nam. Không hút thuốc chẳng những giúp cho bản thân mình tránh khỏi bệnh ung thư phổi mà còn tránh được những căn bệnh quái ác nữa. Một trong những nghiên cứu được giới khoa học khẳng định là có tới 90% người phụ nữ bị mắc bệnh ung thư là do thường xuyên tiếp xúc với khói thuốc lá. Trong số này, chỉ có một phần nhỏ là trực tiếp hút thuốc, còn phần lớn là tiếp xúc kiểu gián tiếp khi người trong gia đình, đồng nghiệp, bạn bè hút thuốc. Như vậy, việc từ bỏ thuốc lá chẳng những bảo vệ sức khỏe cho mình mà còn cả cho người thân. Với cuộc sống như hiện nay, không khí đang là một trong những vấn đề cần phải được quan tâm một cách nghiêm túc. Không khí ô nhiễm, các chất gây ung thư sẽ đi vào cơ thể qua đường hô hấp đặc biệt là những chất như khai thác mỏ quặng phóng xạ, môi trường rò rỉ hóa chất hoặc sử dụng thuốc trừ sâu… nên thực hiện các biện pháp bảo vệ hiệu quả, tránh hoặc giảm tối thiểu việc tiếp xúc với những yếu tố độc hại gây ung thư. Mọi người cũng nên có lối sống lành mạnh, khoa học. Việc tập thể dục hàng ngày, chịu khó vận động kết hợp với chế độ ăn uống hợp lí sẽ trở thành những “vắc-xin” cực tốt giúp cơ thể tránh được bệnh ung thư phổi. Các bác sĩ cũng có lời khuyên là nên ăn nhiều ra xanh để giúp cơ thể có nhiều chất để thanh lọc. Những thực phẩm như lơ xanh, rau chân vịt, hành, táo, cà chua, cam… sẽ giúp bạn phòng tránh ung thư phổi. Riêng với những người phụ nữ, ngoài việc tránh tiếp xúc với khói thuốc lá, môi trường ô nhiễm thì cũng cần hạn chế khói bếp. Người phụ nữ hàng ngày phải tiếp xúc với khói bếp, với mùi của hàng loạt các loại gia vị, thức ăn và từ các chất liệu đốt như gas, củi, than… chính vì điều này mà cần phải hạn chế một cách tối đa việc tiếp xúc để có thể ngăn chặn bệnh ung thư phổi từ chính cuộc sống thường nhật của chúng ta. * Bài viết có tham khảo các tài liệu của Bệnh viện K – Hà Nội và Bệnh viện Ung bướu Thành phố Hồ Chí Minh. Bài đã được đăng trên báo Pháp Luật và Cuộc Sống – một chuyên trang của báo Đời sống & Pháp luật.
Xem thêm

3 Đọc thêm

TIỂU LUẬN TÌM HIỂU VỀ BỆNH UNG THƯ

TIỂU LUẬN TÌM HIỂU VỀ BỆNH UNG THƯ

Ung thư là một nhóm các bệnh liên quan đến việc phân chia tế bào một cách vô tổ chức và những tế bào đó có khả năng xâm lấn những mô khác bằng cách phát triển trực tiếp vào mô lân cận hoặc di chuyển đến nơi xa (di căn). Hiện có khoảng 200 loại ung thư. Mỗi năm, 12,7 triệu người được chẩn đoán mắc bệnh ung thư và 7,6 triệu người chết vì căn bệnh này. Trong một so sánh tổng thể, cứ 4 người chết thì có 1 chết vì bệnh có bướu. Nam giới thường mắc bệnh ung thư phổi và phế quản và ung thư tuyến tiền liệt, ở nữ giới, ung thư vú là nguyên nhân gây tử vong nhiều nhất, tiếp theo là ung thư phổi và phế quản. Xu hướng này đang ngày càng tăng. Các chuyên gia ước tính rằng vào năm 2030, mỗi năm có khoảng 26 triệu người được chẩn đoán mắc bệnh ung thư trên toàn thế giới và 17 triệu người sẽ chết vì nó
Xem thêm

31 Đọc thêm

KIM LOẠI NẶNG TRONG NƯỚC SINH HOẠT TÁC HẠI PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH VÀ NGƯỠNG CHO PHÉP

KIM LOẠI NẶNG TRONG NƯỚC SINH HOẠT TÁC HẠI PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH VÀ NGƯỠNG CHO PHÉP

As tự do cũng như hợp chất của nó rất độc. Trong hợp chất thì hợp chất củaAs(III) là độc nhất. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã xếp As vào nhóm độc loại Agồm: Hg, Pb, Se, Cd, As. Người bị nhiễm độc As thường có tỷ lệ bị đột biến NSTrất cao. Ngoài việc gây nhiễm độc cấp tính As còn gây độc mãn tính do tích luỹNhóm 5 - TTA. K19 Đại học Nông nghiệp Hà NộiTrang 12Chuyên đềXÁC ĐỊNH HÀM LƯỢNG VÀ NGƯỠNG CHO PHÉP CỦA MỘT SỐ KIMLOẠI NẶNG TRONG NƯỚC SINH HOẠT. TÁC HẠI CỦA CHÚNG ĐỐI VỚISỨC KHỎE CON NGƯỜItrong gan với các mức độ khác nhau, liều gây tử vong là 0,1g ( tính theo As2O3)Từ lâu, Asen ở dạng hợp chất vô cơ đã được sử dụng làm chất độc (thạchtín), một lượng lớn Asen loại này có thể gây chết người, mức độ nhiễm nhẹ hơn cóthể thương tổn các mô hay các hệ thống của cơ thể. Asen có thể gây 19 loại bệnhkhác nhau, trong đó có các bệnh nan y như ung thư da, phổi.Sự nhiễm độc Asen được gọi là Asenicosis. Đó là một tai họa môi trườngđối với sức khỏe con người. Những biểu hiện của bệnh nhiễm độc Asen là chứngsạm da (melanosis), dày biểu bì (kerarosis), từ đó dẫn đến hoại thư hay ung thư da,viêm răng, khớp... Hiên tại trên thế giới chưa có phương pháp hữu hiệu chữa bệnhnhiễm độc Asen.Asen ảnh hưởng đối với thực vật như một chất ngăn cản quá trình trao đổichất, làm giảm năng suất cây trồng. Tổ chức Y tế thế giới đã hạ thấp nồng độ giớihạn cho phép của Asen trong nước cấp uống trực tiếp xuống 10 µg/l. USEPA và
Xem thêm

26 Đọc thêm

Tỏi giúp ngăn ngừa ung thư phổi

TỎI GIÚP NGĂN NGỪA UNG THƯ PHỔI

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Khảo sát của các nhà khoa học Trung Quốc tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tỉnh Giang Tô vừa được công bố trên tạp chí Cancer Prevention Research cho thấy việc dùng tỏi sống ít nhất 2 lần mỗi tuần có thể hạn chế nguy cơ ung thư phổi, ngay cả ở những người hút thuốc lá. Nhóm nghiên cứu đã so sánh chế độ ăn uống và thói quen sinh hoạt của 1.424 bệnh nhân ung thư phổi với 4.500 người không mắc bệnh này. Kết quả cho thấy những người thường dùng tỏi sống trong bữa ăn có thể kéo giảm nguy cơ ung thư phổi xuống 40% so với người không dùng.   Tỏi có thể hạn chế ung thư phổi (Ảnh: Internet) Với những người hút thuốc lá, tỉ lệ giảm nguy cơ nói trên vào khoảng 30%. Thành phần chủ yếu trong tỏi được ghi nhận là allicin nhưng nhóm nghiên cứu không rõ liệu tỏi được nấu chín có tác dụng tốt như vậy hay không. Một số nghiêu cứu trước đây nêu các bằng chứng cho thấy tỏi có thể kéo giảm khoảng 1/3 nguy cơ bị khối u ở ruột, hạn chế ung thư dạ dày, ung thư ruột kết cũng như ngăn ngừa bệnh tim mạch và đột quỵ do bệnh này.
Xem thêm

1 Đọc thêm

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ GÂY DÍNH MÀNG PHỔI BẰNG POVIDONE IOD QUA ỐNG DẪN LƯU NHỎ TRONG ĐIỀU TRỊ TRÀN DỊCH MÀNG PHỔI DO UNG THƯ

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ GÂY DÍNH MÀNG PHỔI BẰNG POVIDONE IOD QUA ỐNG DẪN LƯU NHỎ TRONG ĐIỀU TRỊ TRÀN DỊCH MÀNG PHỔI DO UNG THƯ

TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 18 - 6/2019ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ GÂY DÍNH MÀNG PHỔI BẰNGPOVIDONE IOD QUA ỐNG DẪN LƯU NHỎ TRONG ĐIỀU TRỊTRÀN DỊCH MÀNG PHỔI DO UNG THƯNguyễn Minh Thế1, Hoàng Thanh Toàn1Phạm Thị Như Ý1, Nguyễn Hải Công1TÓM TẮTMục tiêu: Tràn dịch màng phổi do ung thư chiếm khoảng 10 -15% trong bệnh lýung thư, gây nhiều triệu chứng ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ungthư. Điều trị giai đoạn này chủ yếu là điều trị giảm nhẹ triệu chứng. Trong đó việc ngănchặn sự tái lập dịch màng phổi là một biện pháp giúp giảm khó thở. Gây dính màng phổibằng Povidone iod qua ống dẫn lưu nhỏ là phương pháp xâm lấn tối thiểu, hiệu quả cao.Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả, nhằm đánhgiá hiệu quả, tính an toàn của phương pháp gây dính màng phổi bằng Povidone iod quaống dẫn lưu nhỏ trong điều trị tràn dịch màng phổi do ung thư. 16 bệnh nhân điều trị tạikhoa Lao và Bệnh phổi bệnh viện quân y 175, từ 1/2018 – 4/2019.Kết quả: Độ tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 58,94 ± 8,5 tuổi, namchiếm 62,5%, nữ chiếm 37,5%. Trong đó nhóm tràn dịch màng phổi do ung thư phổichiếm tỷ lệ cao nhất 81,3%. Hiệu quả gây dính màng phổi hoàn toàn là 81,3%, gây dínhmột phần là 18,7%, không có trường hợp nào thất bại. Thời gian trung bình của đặt dẫnlưu gây dính là 7,125 ± 2,25 ngày. Biến chứng hay gặp nhất là đau ngực chiếm 43,75%,tiếp theo là sốt chiếm 12,5%.Kết luận: Nghiên cứu này bước đầu cho thấy kết quả khả quan và an toàn củaphương pháp gây xơ hóa màng phổi bằng Povidone iod trong điều trị tràn dịch màngBệnh viên Quân y 175Người phản hồi (Corresponding): Nguyễn Minh Thế (bsnt15the@gmail.com)Ngày nhận bài: 12/5/2019, ngày phản biện: 28/5/2019Ngày bài báo được đăng: 30/6/20191
Xem thêm

Đọc thêm

báo cáo Thực tập dịch tễ học ung thư gan

BÁO CÁO THỰC TẬP DỊCH TỄ HỌC UNG THƯ GAN

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÕ TRƯỜNG TOẢN LỚP ĐH Y KHÓA 5. TCDY025220211516 TIỂU NHÓM 3 TÊN ĐỀ TÀI “NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH HIỆN MẮC UNG THƯ GAN VÀ CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ DẪN ĐẾN UNG THƯ GAN TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU CẦN THƠ TRONG NĂM 2016” Đề cương luận văn chuyên ngành Y Người hướng dẫn khoa học: ThS.BS Trần Lê Minh Thái HẬU GIANG 2016 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT Tiếng Việt BN Bệnh nhân FNH U tăng sản dạng khối lành tính HCC Ung thư biểu mô tế bào gan UTG Ung thư gan UTGNP Ung thư gan nguyên phát UTGTP Ung thư gan thứ phát UTTBG Ung thư tế bào gan Tiếng Anh ALT Aspartate Amino Transferase AST Alanin Amino Transferase CCC Cholangiocarcinoma FNH Focal Nodular Hyperplasia HBV Hepatitis B virus HCC Hepatocellular carcinoma HCV Hepatitis C virus IARC International Agency for Research on Cancer NCEP – ATP III National Cholesterol Education Program – Adult Treatment Panel III 2001 WHO World Health Organization MỤC LỤC ĐẶT VẤN ĐỀ Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1. Sơ lược về ung thư gan 1.1.1. Định nghĩa UTG 1.1.2. Các loại UTG 1.1.3. Các giai đoạn UTG 1.1.4. Các yếu tố nguy cơ 1.1.5. Giải phẫu bệnh 1.1.6. Triệu chứng cơ năng và thực thể 1.1.7. Chẩn đoán 1.1.8. Các phương pháp điều trị UTG 1.2. Tình hình ung thư trên thế giới 1.3. Tình hình ung thư gan ở Việt Nam Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 2.1.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu 2.1.3. Thiêt kế 2.1.4. Cỡ mẫu 2.1.5. Phương pháp chọn cỡ mẫu 2.1.6. Trình bày phương pháp thu thập số liệu 2.1.7. Các biến số nghiên cứu TÀI LIỆU THAM KHẢO Trang 1 3 3 3 4 4 8 8 9 10 11 12 15 15 15 15 15 15 16 16 19 ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư là khối mô tân tạo, với những đặc điểm riêng biệt, hình thành do tế bào tăng sản quá mức bình thường, phát triển rất nhanh, lan rộng hủy hoại, có thể di căn khắp nơi trong cơ thể, dễ tái phát và có thể làm chết người 7. Theo Globocan 2008, trên Thế giới có 12,7 triệu ca mới mắc ung thư trong đó ung thư gan đứng hàng thứ 6 chiếm 5,9% và 7,6 triệu ca chết do ung thư trong đó tử vong do ung thư gan đứng hàng thứ 3 chiếm 9,2% 8. Theo Globocan 2012, trên toàn Thế giới có 14,1 triệu ca mới mắc ung thư và 8,2 triệu ca tử vong, nguyên nhân phổ biến nhất gây tử vong ung thư là ung thư gan (745.000 ca) đứng hàng thứ 2 chỉ sau ung thư phổi (1,6 triệu ca), ung thư dạ dày đứng thứ 3 (723.000 ca). Hiệp hội nghiên cứu ung thư quốc tế IARC cũng cho biết, khoảng 21,4 triệu trường hợp mắc mới ung thư sẽ được phát hiện vào năm 2030 và sẽ tập trung chủ yếu tại các nước nghèo, nơi có mức sống thấp và Tỷ lệ mắc bệnh cao nhất thế giới 3. Năm 2004, ở Thành phố Hồ Chí Minh trong 10 loại ung thư thường gặp nhất thì ung thư gan đứng hàng thứ nhất ở nam (xuất độ 38,2 trường hợp trên 100.000 dân mỗi năm) và đứng hàng thứ 6 ở nữ (xuất độ 8,3 trường hợp trên 100.000 dân mỗi năm) 2. Ở Hà Nội, ung thư gan đứng hàng thứ 3 ở nam và hàng thứ 7 ở nữ trong 10 loại ung thư thường gặp nhất 1. Theo tiên đoán Hiệp hội ung thư Hoa Kỳ thì nước Mỹ năm 2016 khoảng 39.230 ca sẽ mắc bệnh ung thư gan (28.410 nam và 10.820 nữ), trong đó khoảng 27.170 (18.280 nam và 8.890 nữ) người sẽ chết vì ung thư gan 9. Theo tác giả Mai Trọng Khoa (2012) ung thư gan là loại ung thư đứng thứ 2 về số ca ở nam và thứ 3 ở nữ. Tỷ lệ tử vong hàng đầu ở cả 2 giới, nam nhiều hơn nữ. Đặc biệt, căn bệnh ung thư này đang có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây. Năm 2012, cả nước ghi nhận gần 22.000 ca ung thư gan thì gần 21.000 người tử vong trong cùng năm ấy 4. Theo thống kê mới nhất từ GLOBOCAN 2012, nước ta hiện nay ung thư gan là ung thư đứng hàng thứ 2 chỉ sau ung thư phổi, và là loại ung thư gây tử vong hàng đầu ở nam giới 10. Ung thư gan là căn bệnh có tiên lượng khá thấp nếu được phát hiện muộn. Theo tác giả, đa số bệnh nhân đến phòng khám khi đã muộn, 60% đã ở giai đoạn trung gian và tiến triển. Vì thế tỷ lệ tử vong rất cao, thời gian sống trung bình không quá 1 năm 4. Điều kiện sống thay đổi, thói quen sinh hoạt, kèm theo đó là sự thay đổi khí hậu toàn cầu dẫn tới sự khắc nghiệt của thời tiết, môi trường bị ô nhiễm nặng nề, là một trong những nguyên nhân khiến số người mắc ung thư gan tăng trong những năm gần đây. Nồng độ các phân tử phóng xạ tự do trong môi trường tăng cao khiến cho nguy cơ tiếp xúc với lượng phóng xạ gia tăng và là điều kiện thuận lợi cho sự xuất hiện của ung thư. Ung thư gan là một vấn nạn nghiêm trọng của con người nên việc điều trị rất quan trọng trong chương trình Phòng chống ung thư ở mọi quốc gia. Muốn nâng cao chất lượng điều trị, không chỉ hoàn chỉnh về kĩ thuật của mỗi phương pháp, thiết bị, mà còn phải có kinh nghiệm, kiến thức, chẩn đoán chính xác, xây dựng phác đồ điều trị cho mỗi bệnh nhân một cách hợp lý. Quan trọng hơn hết là tìm hiểu các yếu tố nguy cơ gây ra bệnh ung thư gan để tư vấn cho người dân nhằm mục đích giảm thiểu số lượng người mắc trong tương lai. Vì thế nên nhóm chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu tình hình hiện mắc ung thư gan và các yếu tố nguy cơ dẫn đến ung thư gan tại bệnh viện Ung bướu Cần Thơ trong năm 2016” với mục tiêu: 1. Xác định tỷ lệ bệnh nhân ung thư gan tại Bệnh viện Ung bướu Cần Thơ trong năm 2016. 2. Khảo sát các yếu tố nguy cơ dẫn đến ung thư gan tại Bệnh viện Ung bướu Cần Thơ trong năm 2016. Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1. Sơ lược về ung thư gan Ung thư gan là ung thư thường gặp nhất của hệ gan mật. Ung thư gan có thể nguyên phát hoặc thứ phát, trong đó UTGNP chiếm 80% trường hợp 17. Do đó chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu về ung thư gan nguyên phát 1.1.1. Định nghĩa ung thư gan nguyên phát Ung thư gan nguyên phát là ung thư xuất phát từ tế bào biểu mô của nhu mô gan gồm ung thư biểu mô tế bào gan và ung thư biểu mô tế bào ống mật trong gan 5. 1.1.2. Các loại ung thư gan (UTG): a. Ung thư gan nguyên phát (UTGNP): Là dạng ung thư bắt đầu trong tế bào gan, được chia thành các loại khác nhau dựa trên các loại tế bào trở thành ung thư. Các loại bao gồm:  Ung thư biểu mô tế bào gan (HCC): Đây là hình thức phổ biến nhất của ung thư gan nguyên phát ở cả trẻ em và người lớn.  Cholangiocarcinoma: Đây là loại ung thư bắt đầu trong ống giống như ống mật nhỏ trong gan, đôi khi được gọi là ung thư ống mật.  U nguyên bào gan: Đây là loại hiếm của ung thư gan ảnh hưởng đến trẻ em dưới 4 tuổi. Hầu hết trẻ em bị u nguyên bào gan có thể được điều trị thành công.  Angiosarcoma hoặc hemangiosarcoma: Những bệnh ung thư hiếm bắt đầu vào các mạch máu của gan và phát triển rất nhanh chóng 7. b. Ung thư gan thứ phát (UTGTP): Là tình trạng khối u từ các khu vực khác trên cơ thể đã lan tới gan. Đặc biệt, gan là một “mảnh đất màu mỡ” cho ung thư lan rộng vì tại đây có nguồn cung cấp máu dồi dào và có các chất dịch cơ thể giúp thúc đẩy quá trình tăng trưởng tế bào. Nguy cơ ung thư gan thứ phát phụ thuộc vào vị trí ban đầu của khối ung thư. Ví dụ, ung thư đường tiêu hóa thường lây lan đến gan qua các mạch máu. Ung thư gan thứ phát có thể xảy ra khi được chẩn đoán vị trí ung thư ban đầu, hoặc nhiều tháng, nhiều năm sau khi khối u ban đầu đã được điều trị. Hầu hết ung thư gan thứ phát có nguồn gốc từ đại tràng, trực tràng, tụy, dạ dày, thực quản, vú, phổi và một số vị trí khác. Một số yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc ung thư di căn gan, bao gồm độ tuổi, giới tính của bệnh nhân, vị trí ung thư ban đầu, loại mô học, và thời gian phát triển của khối u. Một số loại ung thư, như ung thư đại tràng, ung thư biểu mô tế bào gan, di căn được giới hạn ở gan. Trong khi, hầu hết các khối u di căn đến gan, như ung thư vú và phổi, lây lan sang các vị trí khác tại cùng một thời điểm. 1.1.3. Các giai đoạn của ung thư gan Giai đoạn I: Ở giai đoạn này, ung thư gan là một khối u đơn hạn chế trong gan mà không phát triển để xâm nhập bất kỳ mạch máu. Giai đoạn II: Ung thư gan ở giai đoạn này có thể là một khối u duy nhất đã phát triển để xâm nhập vào mạch máu ở gần đó, hoặc nó có thể nhiều khối u nhỏ trong gan. Giai đoạn III: Giai đoạn này có thể cho thấy ung thư bao gồm một số khối u lớn hơn. Hoặc ung thư có thể là một khối u lớn đã phát triển để xâm nhập tĩnh mạch chính của gan hoặc xâm lược cấu trúc gần đó, chẳng hạn như túi mật. Giai đoạn IV: Ở giai đoạn này, ung thư gan đã lan tràn ra ngoài gan đến các khu vực khác của cơ thể. 1.1.4. Các yếu tố nguy cơ 1.1.4.1 Virus viêm gan B (HBV) Nguy cơ của những người mang HBV mạn tính bị UTG cao hơn người bình thường rất nhiều – từ hàng chục đến hàng trăm lần. Trên thế giới khoảng từ 350 – 400 triệu người mang HBV mạn tính. Con số này ở nước ta ước tính dao độngt ừ 8 – 10 triệu người. Tiêu chuẩn chẩn đoán viêm gan virus B: o Thể vàng da điển hình: Có tiền sử truyền máu hay các chế phẩm của máu, tiêm chích, quan hệ tình dục không an toàn trong khoảng từ 4 tuần đến 6 tháng. Lâm sàng: có thể có các triệu chứng chán ăn, mệt mỏi, vàng da, tiểu ít sẫm màu, đau tức vùng gan, nôn, buồn nôn, phân bạc màu... Cận lâm sàng: AST, ALT tăng cao (thường tăng trên 5 lần so với giá trị bình thường); Bilirubin tăng cao, chủ yếu là Bilirubin trực tiếp; HBsAg (+) hoặc () và antiHBc IgM (+). o Một số thể lâm sàng khác: Thể không vàng da: + Lâm sàng: có thể có mệt mỏi, chán ăn, đau cơ. + Xét nghiệm: AST, ALT tăng cao, antiHBc IgM (+) và HBsAg (+). Thể vàng da kéo dài: + Lâm sàng: Có các triệu chứng lâm sàng giống như thể điển hình, kèm theo có ngứa. Tình trạng vàng da thường kéo dài trên 6 tuần, có khi 34 tháng. + Xét nghiệm: AST, ALT tăng cao, Bilirubin tăng cao, chủ yếu là Bilirubin trực tiếp, HBsAg (+) hoặc () và antiHBc IgM (+). Thể viêm gan tối cấp: + Lâm sàng: Người bệnh có biểu hiện suy gan cấp kèm theo các biểu hiện của bệnh lý não gan. + Xét nghiệm: AST, ALT tăng cao, Bilirubin tăng cao, chủ yếu là Bilirubin trực tiếp, HBsAg (+) hoặc () và antiHBc IgM (+), thời gian đông máu kéo dài, giảm tiểu cầu. 1.1.4.2 Virus viêm gan C (HCV) Cũng là một trong những nguyên nhân chính gây ung thư tế bào gan. Có khoảng 170 – 200 triệu người mang virus HCV mạn tính. Tỷ lệ bị nhiễm HCV ở người UTG khá cao: ở nước Ý – từ 44 – 66%; Tây Ban Nha – từ 60 – 75%; Nhật Bản – từ 80 90%. Tỷ lệ UTG ở người xơ gan do HCV sau 25 – 30 năm là khoảng 25 – 30%. Tiêu chuẩn chẩn đoán viêm gan virus C: o Chẩn đoán xác định viêm gan virus C cấp HCV RNA dương tính, antiHCV có thể âm tính hoặc dương tính: HCV RNA thường dương tính 2 tuần sau khi phơi nhiễm, trong khi anti HCV xuất hiện sau 8 12 tuần. AST, ALT bình thường hoặc tăng. Thời gian mắc bệnh dưới 6 tháng: Người bệnh được theo dõi có chuyển huyết thanh từ anti HCV âm tính thành dương tính, có thể có biểu hiện lâm sàng hoặc không. o Chẩn đoán xác định viêm gan virus C mạn Anti HCV dương tính, HCV RNA dương tính; Thời gian mắc bệnh > 6 tháng, hoặc có biểu hiện xơ gan (được xác định bằng chỉ số APRI, hoặc sinh thiết gan có hình ảnh viêm gan mạn và xơ hóa có ý nghĩa, hoặc FibroScan, Fibrotest có xơ hóa > F2) mà không do căn nguyên khác. o Chẩn đoán viêm gan C ở trẻ em Xét nghiệm antiHCV khi trẻ 18 tháng tuổi trở lên Xác định HCV RNA ở thời điểm 1 2 tháng sau sinh để chẩn đoán sớm hơn. 1.1.4.3 Rượu Nghiện rượu được xác định là một yếu tố gây UTG. Khi lượng Alcohol dùng > 80gngày và kéo dài, nguy cơ UTG tăng lên. Tuy nhiên, cơ chế chủ yếu là thông qua xơ gan. Ít có bằng chứng tác động trực tiếp gây UTG của rượu. Cũng đã có bằng chứng về tác động hiệp đồng giữa rượu và nhiễm HBV, HCV trong việc làm tăng nguy cơ UTG. 1.1.4.4 Aflatoxin B1 (AFB1) Là một độc tố được tạo ra bởi nấm Aspergillus, loại nấm này phát triển rất nhanh chóng trong các loại lương thực – thực phẩm: ngô, sắn, đậu, gạo, chuối,…khi bảo quản trong môi trường nóng, ẩm. AFB1 là một chất gây ung thư rất mạnh. Trong quá trình chuyển hóa, nó gắn vào DNA gây tổn thương tế bào và đột biến gen P53. 1.1.4.5 Xơ gan Đa số ung thư tế bào gan phát triển trên nền xơ gan (Châu Á: 70 – 90%). Xơ gan càng nặng thì khả năng UTG càng cao. Tiêu chuẩn chẩn đoán xơ gan: o Giai đoạn còn bù: Dựa vào các biểu hiện lâm sàng: gan chắc, cứng. Cận lâm sàng: Siêu âm + Nhu mô không đồng nhất, gan sáng hơn bình thường, phân thùy đuôi to, bờ mấp mô không đều. + Tĩnh mạch cửa, tĩnh mạch lách, tĩnh mạch mạc treo tràng trên bị giãn. + Lách tăng kích thước, có thể có cổ trướng. + Tràn dịch màng phổi. Chụp cắt lớp vi tính Cộng hưởng từ Sinh thiết gan o Giai đoạn mất bù: Lâm sàng: + Hội chứng suy tế bào gan:vàng da, vàng mắt, dấu sao mạch , lòng bàn tay son, phù chi, báng bụng, sức khỏe sa sút, ăn uống kém. + Hội chứng tăng áp lực tĩnh mạch cửa: Lách to, tuần hoàn bàng hệ, báng bụng… Cận lâm sàng: siêu âm, chụp cắt lớp vi tính, sinh thiết gan. 1.1.4.6 Một số yếu tố khác Đang được xem xét đó là: gan nhiễm mỡ, béo phì, đái tháo đường, thuốc lá và thuốc tránh thai. 1.1.5. Giải phẫu bệnh  Đại thể: tùy thuộc vào kích thước và số lượng u mà gan có thể to vừa hoặc rất to. Thông thường, khối ung thư có màu vàng nhạt hoặc vàng hơi xám, các khối u lớn thường bị hoại tử ở giữa, xung quanh u có thể có một vỏ xơ. Theo phân loại Eggel, UTG về hình thái học được chia làm 3 thể: Thể một nhân: tùy theo kích thước, khối lớn có thể chiếm gần hết gan. Thể nhiều nhân: trong gan có nhiều khối to nhỏ khác nhau. Thể lan tỏa: tổ chức ung thư không rõ ranh giới xâm lấn vào nhu mô và các mạch máu trong gan. Ở Việt Nam, phần lớn ung thư tế bào gan đều xuất hiện trên nền gan xơ (80 – 90%).  Vi thể: theo cấu trúc và sắp xếp, người ta chia các thể: thể bè, thể giả nang tuyến, thể đảo, thể nang, thể đặc, thể tế bào sang. Các tế bào ung thư còn có sự biến đổi của bào tương, có các không bào và giọt mật, nhân to nhưng nhìn chung khá giống các tế bào gan bình thường. Căn cứ vào đặc điểm này người ta cũng phân chia về mặt vi thể ung thư tế bào gan với độ biệt hóa khác nhau 6. 1.1.6. Triệu chứng cơ năng và thực thể 1.1.6.1 Cơ năng Giai đoạn không có triệu chứng lâm sàng rõ rệt : Phần lớn các bệnh nhân được phát hiện một cách tình cờ.Một số bệnh nhân có khối u gan khá lớn : 45 cm cũng không có triệu chứng rõ rệt hoặc dễ lầm với các triệu chứng của bệnh gan mạn tính như : mệt mỏi, chán ăn, đầy bụng, khó tiêu ,đau nhẹ hạ sườn phải , sốt nhẹ, đau xương khớp . Giai đoạn có triệu chứng : khi có triệu chứng lâm sàng, bệnh thường đã ở giai đoạn muộn. Các triệu chứng thường gặp là : • Gầy sút nhanh : có thể trong thời gian ngắn giảm tới 45 kg. • Đau hạ sườn Phải : ban đầu đau ít, thường là đau âm ỉ, về sau có thể đau rất mạnh suốt ngày đêm, một số có cơn đau dữ dội do vỡ nhân ung thư. • Mệt mỏi, ăn kém , bụng đầy trướng. 1.1.6.2 Thực thể • Gan to, thường không đều,mặt có thể nhẵn hoặc lổn nhổn, mật độ chắc cứng, ấn có thể đau, một số trường hợp nghe thấy có tiếng thổi. • Các triệu chứng đi kèm : cổ trướng, tuần hoàn bàng hệ, vàng da, xuất huyết dưới da 6. 1.1.6.3 Cận lâm sàng Alphafetoprotein (αFP): là một protein bào thai. Ở người bình thường < 10ngml. Khi > 20 ngml được coi là cao. Có giá trị chẩn đoán xác định khi > 400 ngml. Khoảng 70 – 75% các trường hợp UTG ở nước ta có αFP cao nhưng chỉ khoảng 50 – 60% đạt ngưỡng có giá trị chẩn đoán. Siêu âm: là một kỹ thuật khá phổ biến và tin cậy trong chẩn đoán UTGNP. Hình ảnh khối u khu trú trong gan có các dạng giảm âm, tăng âm, hay hỗn hợp. Có thể phối hợp với siêu âm Doppler để tăng thêm hiệu quả của chẩn đoán. Chụp cắt lớp vi tính (CT) và cộng hưởng từ (MRI): cho phép phát hiện các khối ung thư bé. Đặc điểm trên CT và MRI các khối u gan > 2cm ngấm thuốc rất mạnh ở thì động mạch và thoát thuốc rất nhanh ở thì tĩnh mạch. Chụp cản quang động mạch gan (Angiography): thường được sử dụng để chẩn đoán khối u gan bé, chẩn đoán phân biệt và kết hợp với điều trị nút mạch hóa chất. Sinh thiết gan dưới sự hướng dẫn của siêu âm: CT hoặc MRI bằng kim bé hoặc kim lớn 6. 1.1.7. Chẩn đoán Để giúp cho chẩn đoán, tiên lượng và điều trị các bệnh nhân nghi ngờ UTG cần có thêm các thông tin: Bệnh sử: viêm gan B, C hoặc bệnh gan mạn tính như viêm gan mạn, xơ gan, nghiện bia rượu. Đánh giá toàn trạng, tình trạng gan, cổ trướng, vàng da, xuất huyết dưới da. Xét nghiệm bổ sung: ALT, AST, γGT, Albumin, Bilirubin, đông máu, HBsAg và AntiHCV (nếu dương tính – định lượng HBVDNA hoặc HCVRNA). Chụp XQ phổi thẳng hoặc CT phổi (Chẩn đoán phân biệt với UTG thứ phát). Chẩn đoán xác định Có bằng chứng về mô bệnh học hoặc tế bào học. U gan  αFP > 400 ng  Nhiễm HBV hoặc HCV Kiểm tra trên siêu âm thấy có u : + U < 1 cm : Kiểm tra 3 tháng1 lần – trong 18 tháng • U to ra : thực hiện theo quy trình với các u >1 cm • U giữ nguyên kích thước : sau 18 tháng kiểm tra thường quy: 6 tháng – 12 tháng 1 lần. + U: 1 – 2 cm : Chẩn đoán xác định khi: • Hình ảnh điển hình với 2 phương pháp chẩn đoán hình ảnh động (siêu âm có thuốc cản âm, CT. MRI, chụp động mạch gan). • Hình ảnh điển hình với một phương pháp + αFP > 200ngml. + U >2 cm : hình ảnh điển hình với một phương pháp chẩn đoán hình ảnh • Hình ảnh không điển hình + αFP > 400ngml 6. 1.1.8. Các phương pháp điều trị ung thư gan Hóa trị đường toàn thân Phương pháp tắc mạch kết hợp hóa trị Xạ trị Các phương pháp hủy u gan qua da Phẫu thuật cắt gan 5.
Xem thêm

29 Đọc thêm

Nghiên cứu nạo vét hạch theo bản đồ trong phẫu thuật điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn I, II, IIIA (FULL TEXT)

NGHIÊN CỨU NẠO VÉT HẠCH THEO BẢN ĐỒ TRONG PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ UNG THƯ PHỔI KHÔNG TẾ BÀO NHỎ GIAI ĐOẠN I, II, IIIA (FULL TEXT)

ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư phổi nguyên phát (UTPNP) là một bệnh thường gặp đứng đầu trong các ung thư ở nam giới và đứng thứ ba ở nữ giới, là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong các bệnh ung thư ở người lớn. Tỷ lệ mắc cho đến nay vẫn tiếp tục gia tăng ở phần lớn các nước trên thế giới. Năm 2008 thế giới có khoảng 1,6 triệu người mới mắc và gần 1,4 người chết, đến năm 2012 con số này là 1,82 triệu và 1,59 triệu tương ứng. Ở châu Âu mỗi năm có khoảng 375.000 người mới mắc, so với tất cả các loại ung thư thì UTPNP chiếm tỷ lệ 13% nhưng gây tử vong cao đến 28% [1],[2],[3]. Phân loại của WHO chia UTP thành hai nhóm chính dựa vào đặc điểm mô bệnh học, UTP không tế bào nhỏ chiếm khoảng 80 - 85%, UTP loại tế bào nhỏ chiếm khoảng 10 - 15%. Nhìn chung bệnh có tiên lượng xấu, tỷ lệ sống thêm 5 năm còn thấp dưới 25% [4],[5]. Các triệu chứng của bệnh thường nghèo nàn và không đặc hiệu, vì vậy rất khó khăn cho việc chẩn đoán và điều trị sớm. Điều trị UTP không tế bào nhỏ (UTPKTBN) là đa mô thức phối hợp giữa phẫu thuật, xạ trị, hóa trị và điều trị đích tùy thuộc vào type mô bệnh học, giai đoạn bệnh và thể trạng bệnh nhân. Trong đó phẫu thuật đóng vai trò then chốt và cơ bản ở giai đoạn sớm, hóa trị và xạ trị có vai trò bổ trợ, khoảng 25 - 30% số bệnh nhân đến sớm còn chỉ định phẫu thuật [6],[7]. Phẫu thuật điều trị UTPKTBN đến nay đã phát triển mạnh mẽ với những phương pháp mới đạt kết quả đáng khích lệ, phẫu thuật đạt triệt căn thì ngoài việc cắt bỏ thùy phổi giải quyết khối u nguyên phát cần phải nạo vét hạch vùng lấy hết tổn thương. Đánh giá di căn hạch vùng chủ yếu dựa vào chẩn đoán hình ảnh như CLVT, MRI, PET/CT… và mang tính định hướng trước phẫu thuật. Còn để xác định chính xác hạch di căn vẫn phải dựa vào chẩn đoán mô bệnh học mà bệnh phẩm lấy được chủ yếu là từ phẫu thuật. Bản đồ hạch của phổi được sắp xếp gồm 14 nhóm, tỷ lệ di căn vào mỗi nhóm hạch là khác nhau, khả năng nạo vét triệt để ở mỗi nhóm có những khó khăn riêng do vị trí giải phẫu vì vậy tiên lượng bệnh khác nhau. Nạo vét hạch vùng vừa mang tính điều trị triệt căn, vừa lấy bệnh phẩm chẩn đoán mô bệnh học để xác định chính xác sự di căn của từng nhóm hạch, từ đó đánh giá đúng giai đoạn và tiên lượng bệnh. Đây là loại phẫu thuật nặng nề vì can thiệp liên quan trực tiếp đến hai chức năng sống là hô hấp và tuần hoàn. Ginsberg cho rằng có 2,4 - 6,2% bệnh nhân tử vong do phẫu thuật, vì vậy việc nhận định các nhóm hạch nào thường bị di căn là vô cùng quan trọng, nhằm lấy hết những hạch bị tổn thương giảm nguy cơ tái phát cải thiện thời gian sống thêm, tránh nạo vét hạch mở rộng không cần thiết gây nguy hiểm và có thể xảy ra tai biến [8],[9]. Ở nước ta, các công trình nghiên cứu về UTPKTBN đã được thực hiện khá nhiều, tuy nhiên nghiên cứu đánh giá chi tiết về phẫu thuật nạo vét hạch vùng hệ thống theo bản đồ thì chưa được thực hiện. Đây là yêu cầu bức thiết mà nghiên cứu này thực hiện nhằm mục tiêu: 1. Xác định di căn hạch vùng và phương pháp nạo vét hạch theo bản đồ trong phẫu thuật điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ. 2. Đánh giá kết quả điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn I, II, IIIA được phẫu thuật nạo vét hạch theo bản đồ tại Bệnh Viện K.
Xem thêm

192 Đọc thêm

CHẨN ĐOÁN VÀ XỬ TRÍ CẤP CỨU TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI

CHẨN ĐOÁN VÀ XỬ TRÍ CẤP CỨU TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI

3.4. TKMP do chấn thương- Chẩn đoán lâm sàng TKMP do chấn thương nhiều khi khó vì bệnh cảnh chấn thương che lấp,có thể có các tổn thương chỉ điểm như gãy xương sườn, các vết thương thành ngực, tràn khí dướida sau chấn thương. Có thể phối hợp với tràn máu màng phổi- XQ có hình ảnh tràn khí, có thể có tràn máu phối hợp. Đôi khi các trường hợp TKMP ít khóphát hiện trên phim phổi (đặc biệt khi bn nằm) thì phải chụp CT ngực.4. Điều trị4.1. TKMP tự nhiên- Việc điều trị bao gồm hút khí và phòng tái phát.- Các biện pháp:+ Hút khí với một catheter màng phổi, rút ngay catheter khi hết khí.+ Đặt một dẫn lưu màng phổi.+ Gây dính màng phổi: bơm chất gây dính vào màng phổi qua dẫn lưu hay qua nội soi màng phổi+ Soi màng phổi.+ Phẫu thuật qua nội soi có video trợ giúp.+ Mở ngực.Việc lựa chọn biện pháp nào phụ thuộc vào mức độ TKMP, vào mức độ nặng của các triệuchứng, vào loại TKMP tự nhiên tiên phát hay thứ phát.4.1.1. Hút khí màng phổi để làm giãn nở phổi:a) TKMP tự nhiên tiên phát:- Nếu lượng khí ít (khoảng cách bờ phổi bị xẹp và lồng ngực + Có thể theo dõi, cho bệnh nhân thở oxy dòng cao 10 lít/phút. Theo dõi bệnh nhân 6-8 giờ, chụplại phim phổi.+ Nếu TKMP không tăng lên về kích cỡ và bệnh nhân không có triệu chứng, có thể cho về nhànghỉ ngơi, ngừng các hoạt động mạnh, trở lại viện nếu khó thở tăng và đau ngực.+ Màng phổi sẽ hấp thu khí với tốc độ 2%/ngày với thở khí trời, nếu thở oxy liều cao tốc độ hấpthu khí sẽ tăng gấp 4 lần.
Xem thêm

9 Đọc thêm

TRÌ HOÃN LÀM VIỆC NÀY KHIẾN TÔI SUÝT MẤT MẠNG VÌ UNG THƯ CỔ TỬ CUNG

TRÌ HOÃN LÀM VIỆC NÀY KHIẾN TÔI SUÝT MẤT MẠNG VÌ UNG THƯ CỔ TỬ CUNG

Trì hoãn làm việc này khiến tôi suýt mất mạng vì ungthư cổ tử cung27-09-201614:06:24Frankie Apleyard, một phụ nữ người Anh, suýt phải trả giá bằng chính mạngsống của mình vì không thực hiện xét nghiệm này.•••Nếu không nói ra, chị em sẽ không biết ung thư cổ tử cung có những triệu chứng lạ như vậySự thật đằng sau câu chuyện vắc-xin HPV làm tăng nguy cơ ung thư cổ tử cungNhững dấu hiệu ung thư cổ tử cung dễ bị nhầm lẫn với bệnh phụ khoa khácNhư nhiều cặp đôi khác, tôi và bạn trai, Tom, thường trò chuyện về tương lai – và về khả năng cócon. Tuy nhiên, đó vẫn là kế hoạch của vài năm nữa. Dù vậy, tôi thậm chí cảm thấy mình vô cùng maymắn khi được tham gia vào cuộc trò chuyện như vậy.Thế mà cơ hội lần đầu tiên được làm mẹ đã gần như tuột khỏi tầm tay tôi.Đầu năm 2012, tôi được mời làm xét nghiệm soi tế bào cổ tử cung đầu tiên của mình tại phòng khámcủa bác sĩ phụ khoa của mình. Thời điểm đó, tôi đang làm quản lý bán lẻ ở Leeds, công việc vô cùngbận rộn và vì ở khá xa phòng khám của bác sĩ nên tôi dường như chẳng bao giờ sắp xếp được thờigian đi khám theo hẹn. Tất nhiên, cũng kèm trong đó là cảm giác ngượng ngùng nếu phải trút bỏ nộiy trước mặt một người lạ.Frankie Apleyard từng trải qua khủng hoảng khi phải quyết định cắt bỏ hoàn toàn tử cung.Mặc dù trong tâm trí, tôi biết mình phải thực hiện xét nghiệm này nhưng dường như ung thư cổ tửcung vẫn là thứ gì đó mà tôi nghĩ không dành cho mình.Thật sai lầm. Cuối cùng, tôi đã đến làm xét nghiệm tế bào cổ tử cung, hơn 1 năm sau lịch hẹn, vàotháng 6 năm 2013. Tôi bị sốc nặng khi được thông báo rằng có những tế bào bất thường nghiêm
Xem thêm

5 Đọc thêm

1 ĐIẾU THUỐC LÁ CÓ 7000 CHẤT ĐỘC VÀ KHOẢNG 70 CHẤT GÂY UNG THƯ!

1 ĐIẾU THUỐC LÁ CÓ 7000 CHẤT ĐỘC VÀ KHOẢNG 70 CHẤT GÂY UNG THƯ!

1 điếu thuốc lá có 7000 chất độc và khoảng 70 chất gây ung thư!Khói thuốc lá chứa khoảng 7.000 chất độc và trong đó có ít nhất 70 chất cực độc có thể gây bệnh ung thư, phổKhói thuốc không chỉ ảnh hưởng tới sức khỏe của người hút mà nó còn gây nguy hại đến người xun1001 tác hại của thuốc láHút thuốc lá có hại cho sức khỏe là điều mà hầu như ai cũng biết và trên vỏ mỗi bao thuốc đều có cảnh báo. Tuy nhiênVà chỉ đến khi chính bản thân họ bị phát hiện mắc bệnh ung thư do thuốc lá, họ mới tá hỏa chạy thầy chạy thuốc, tìm đNhưng họ đâu biết rằng, khói thuốc không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe của người hút mà nó còn gây nguy hạVì ung thư phổi chỉ thường gặp ở những người ngoài 50 tuổi nên hiện tượng xảy ra với cậu bé 5 tuổi này khiến các báHình ảnh từ phim chụp X-Quang và hình ảnh chụp CCT phần phổi của Tráng Tráng khiến các bác sỹ giật mình, bởi, haHơn nữa, không chỉ hít phải khói thuốc tại nhà, bà nội của cậu bé thường đưa cháu đến chơi nhà những người bạn có cTrường hợp khá điển hình này đã phần nào cho thấy nguy hại của thuốc lá đối với sức khỏe nói chung và sức khỏe trẻ“Khói thuốc lá chứa khoảng 7000 chất độc và trong đó có khoảng 70 chất gây ung thư.Điển hình là các chất: Nitrosamines (một chất gây ung thư rất mạnh có nhiều trong thuốc lá), axeton (chất tẩy trong thuNhững chất này khi đi vào cơ thể sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thần kinh, mạch máu và nội tiết gây ra bệnh tim mạch,Không chỉ nguy hại tới sức khỏe của người hút, bác sỹ Phương còn khuyến cáo tác hại của khói thuốc lá đối với sức kỞ người lớn hút thuốc thụ động gây ung thư phổi, các bệnh về tim mạch, gây các triệu chứng kích thích đường hô hấpBỏ thuốc lá không bao giờ là quá muộn
Xem thêm

3 Đọc thêm

 COPDTRONG CỘNG ĐỒNG

COPDTRONG CỘNG ĐỒNG

+ Liều duy trì :140,4 mg/kg/giờ cho người không hút thuốc lá khỏe mạn h .0,7 mg/kg/giờ cho người hút thuốc .0,2 mg/kg/giờ cho bệnh nhân suy tim xung huyết và/ hoặc bệnh gan .Chuyển sang điều trò ùng :Thực hiên ngay khi bệnh nhân có thể.Cho tổng liều tiêm trong ngày và chia làm hai, uống mỗi 12 giờ loại tác dụng kéo dài.Ngưng truyền và bắt đầu cho uống cùng lúc .Theo dõi hiệu quả và độc tính.d. Kháng sinh:Kháng sinh chỉ có lợi trên những b/n có ít nhất 2 / 3 triệu chứng : tăng khó thở, tăng sốlượng đàm, đàm đụcĐa số đợt cấp là do nhiễm trùng nên sử dụng kháng sinh là cần thiết nhưng phải đúngchỉ đònh:Nên cho KS trong đợt cấp do nhiễm trùngThời gian điều trị : 5-7 ngàyChọn KS dựa vào :- Phổ VK tại chỗ và tình trạng kháng thuốc15• Xếp loại nguy cơ và điều trị kháng sinhNghi ngờ đợt cấpCOPDTuổi
Xem thêm

18 Đọc thêm

Chửa trứng và biến chứng ung thư nhau thai

CHỬA TRỨNG VÀ BIẾN CHỨNG UNG THƯ NHAU THAI

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Chửa trứng không còn là chuyện lạ đối với phụ nữ Việt Nam. Nhưng những tác hại của chửa trứng đối với sức khỏe sinh sản, hay biến chứng thành ung thư nhau thai của chửa trứng thì không phải chị em nào cũng biết. Chửa trứng là gì? Bình thường nhau thai có nhiệm vụ nuôi dưỡng bào thai trong thời kỳ thai nghén. Khi nhau thai sản sinh quá mức, phát triển thành khối không được kiểm soát được gọi là chửa trứng. Đa số trường hợp chửa trứng không có bào thai, gọi là “chửa trứng hoàn toàn”. Một số trường hợp có bào thai, nhưng không sống được gọi là “chửa trứng bán phần”. Gọi là chửa trứng vì trong dạ con có nhiều nang trông như các quả trứng, hoặc chùm nho. Đó là do các lông nhau thai sinh sôi và căng phồng. Cho đến nay, y học vẫn chưa tìm ra được chính xác nguyên nhân gây chửa trứng. Tuy nhiên, những nghiên cứu khoa học cho thấy có thể do sai sót của yếu tố di truyền trong quá trình thụ tinh đã dẫn đến những bất thường ở bộ nhiễm sắc thể. Khoảng 90% trường hợp thai trứng bắt nguồn từ người cha và 10% từ người mẹ. Nếu phụ nữ mang thai trên 35 tuổi, quá trình thụ tinh dễ gặp bất thường. Ngoài ra, những nguyên nhân như sai sót ở trứng, bất thường ở dạ con, thiếu các chất dinh dưỡng như đạm, acid folic... dễ có nguy cơ bị thai trứng toàn phần. Bình thường, chửa trứng không nguy hiểm, vì khoảng 80% chửa trứng là lành tính, bệnh khỏi sau khi nạo lấy hết nhau thai hoặc cắt dạ con ở người không có nhu cầu sinh đẻ nữa. Khoảng 10 - 15% chửa trứng trở thành loại xâm nhập, bệnh ăn sâu vào thành dạ con, gây chảy máu và các tác hại nguy hiểm khác. Khoảng 2 - 3% chửa trứng trở thành ung thư nhau thai. Khi đã thành ung thư nhau thai, bệnh phát triển nhanh, lan rộng, di chuyển tới các nơi khác như phổi, não...   Hình ảnh chửa trứng Phân biệt chửa trứng và biến chứng ung thư nhau thai   Chửa trứng và ung thư nhau thai có những biểu hiện giống nhau và khá điển hình, đó là: chảy máu âm đạo; ra dịch, các vật bất thường; đau bụng dưới; nôn hoặc buồn nôn; chảy dịch đầu vú bất thường; bụng dưới to như có thai; bụng không nhỏ lại sau khi sinh. Nếu không điều trị sớm, bệnh nhân sẽ dễ bị khó thở, liệt, co giật. Vì thế, khi có các biểu hiện kể trên, chị em nên đi khám chuyên khoa sản để xác định bệnh, từ đó có hướng điều trị phù hợp và kịp thời. Sau khi làm các xét nghiệm cần thiết, nếu đã xác định chắc chắn là chửa trứng, bệnh nhân sẽ được tư vấn cách điều trị. Bệnh nhân sẽ được điều trị bệnh kết hợp như tiền sản giật, sản giật, thiếu máu, rối loạn điện giải. Sau đó bác sĩ sẽ tiến hành phẫu thuật lấy khối thai bằng cách hút nạo. Phương pháp này giúp tiết kiệm thời gian thực hiện và không gây biến chứng tử cung. Nếu bệnh nhân chưa có con hoặc chưa sinh đủ con, bác sĩ sẽ nạo sạch trứng trong buồng tử cung. Với những phụ nữ đã sinh đủ con, tốt nhất là cắt buồng tử cung. Tiếp theo, bệnh nhân chửa trứng lành tính phải làm xét nghiệm máu, nước tiểu 2 tuần/lần cho đến khi lượng hCG trở về bình thường. Khi hCG đã về mức cho phép, bệnh nhân vẫn phải tiếp tục thử nước tiểu 4 tuần/lần trong thời gian 6 tháng, cùng với việc làm các xét nghiệm khác và siêu âm nếu bác sĩ yêu cầu. Như trên đã nói, có khoảng 2 - 3% trường hợp chửa trứng ác tính, tức là ung thư nhau thai. Ung thư nhau thai chiếm tỷ lệ khá cao ở Việt Nam và nhiều quốc gia châu Á khác, khoảng 30/1.000 ca sinh và 2,6/1.000 ca có thai. Ung thư có nguồn gốc từ sự đột biến gen của những tế bào nuôi, một thành phần trong số những tế bào chịu trách nhiệm hình thành các tổ chức có nhiệm vụ nuôi dưỡng bào thai (bánh nhau, cuống rốn...). Tuy nhiên, những nguyên nhân của sự đột biến vẫn chưa được rõ. Người ta ghi nhận ung thư nhau có thể xảy ra trong một lần mang thai và ở những phụ nữ có tiền căn sản khoa bất thường trước đó, như: thai trứng (chiếm đến 50% các trường hợp ung thư nhau), sẩy thai tự nhiên (khoảng 20%), thai ngoài tử cung (chỉ 2%)... Đa số các trường hợp ung thư nhau thai thường không có dấu hiệu báo trước đến khi bệnh bộc phát. Khi đã mắc bệnh, các triệu chứng thường gặp là: Thai phụ có thể nôn nhiều và kéo dài. Bụng to hơn tuổi thai. Phần lớn các trường hợp đều có dấu hiệu xuất huyết âm đạo (có thể rỉ rả hoặc ồ ạt). Đau bụng từng cơn hoặc liên tục. Đau ngực, khó thở, ho ra máu..., nếu đã có di căn phổi. Có triệu chứng thần kinh nếu có di căn não. Khi bệnh nhân có nghi ngờ bị ung thư nhau thai, cần làm một số khảo sát và xét nghiệm cận lâm sàng để hỗ trợ thêm cho việc chẩn đoán như: sự tăng cao bất thường của nồng độ Beta hCG trong máu và trong nước tiểu. Siêu âm bụng sẽ giúp xác nhận tình trạng không có thai trong tử cung và cho phép các bác sĩ tiến hành nạo lòng tử cung để sinh thiết. Ngoài ra, qua siêu âm, các bác sĩ có thể phát hiện các di căn ở gan. Chụp Xquang phổi cũng cần để giúp phát hiện các di căn phổi nếu có. Lời khuyên của thầy thuốc Tuy nguy hiểm, nhưng ung thư nhau lại là một trong những loại ung thư nhạy với hóa trị. Nếu chưa bị di căn, bệnh có thể chữa khỏi hoàn toàn. Hiện nay, phương pháp điều trị chủ yếu là hóa trị và phẫu thuật, trong đó, hóa trị đóng vai trò tiên quyết trong việc điều trị ung thư nhau. Sau khi đã hóa trị và đạt được kết quả tốt, tùy từng trường hợp cụ thể, các bác sĩ sẽ chỉ định phẫu thuật cắt bỏ buồng tử cung và hai buồng trứng, hay cân nhắc khả năng phẫu thuật bảo tồn, tức là chỉ lấy bỏ bướu tử cung hoặc âm đạo cho bệnh nhân. Sau phẫu thuật, bệnh nhân cần đi khám lại, thử máu, nước tiểu định kỳ theo chỉ dẫn của thầy thuốc. Với những người có nguyện vọng sinh con, ngoài tuân thủ chung, bệnh nhân cần có biện pháp tránh thai ngay sau chữa bệnh và chỉ có thai sau 1 năm từ ngày chữa bệnh. Bệnh nhân điều trị ung thư nhau thai thành công, khi mang thai lại cần được theo dõi chặt chẽ để phát hiện, điều trị kịp thời các biến chứng ác tính sau đó.      
Xem thêm

2 Đọc thêm

ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH CẮT LỚP VI TÍNH Ở BỆNH NHÂN UNGTHƯ PHỔI NGUYÊN PHÁT ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN PHẠMNGỌC THẠCH

ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH CẮT LỚP VI TÍNH Ở BỆNH NHÂN UNGTHƯ PHỔI NGUYÊN PHÁT ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN PHẠMNGỌC THẠCH

hang là 2,03±0,63 mm (1,0-3,0).Đồng Đức Hưng bờ rõ 15,2%; bờđa cung 59,2%; bờ lởm chởm 16%; tổnthương tạo hang 6,4%; vôi hóa 3,2% [7].Theo Wang H., khối u có vết nứt là 30,8%;bờ tròn chỉ có 6%; bờ tua gai và đa cung94% [10]. Cung Văn Công bờ tua gai và đathùy chiếm tỉ lệ cao nhất lần lượt là 41,1%và 34,8% [6]. Dấu hiệu bờ tua gai rất cógiá trị trong chẩn đoán UTP, mặc dù dấuhiệu này cũng có thể gặp trong một số cáctổn thương lành tính khác như viêm phổitổ chức hóa, u lao hay trong các khối xơhóa trong bệnh phổi silicosis.Kết quả nghiên cứu khối u có kíchthước &gt; 5 cm chiếm tỉ lệ cao nhất 44,3%;tiếp đến là kích thước khối u từ 3 – 5 cmcó tỉ lệ 34,2%; Kích thước khối u chiếm tỉ lệ 21,5%. Kích thước càng lớn thìbờ đa cung, tua gai càng cao, pỞ nhóm &gt; 5 cm vôi hoá 17,1%; tạo hang34,3%. Mật độ không đồng nhất tăng dầntheo kích thước khối u (từ 5,9% tăng lên65,7%), trong khi đó tỉ lệ mật độ đồng nhấttỉ lệ nghịch với tăng kích thước khối u (từ94,1% giảm xuống còn 34,3%) có ý nghĩathống kê pTheo kết quả nghiên cứu bắtthuốc cản quang mạng ở 60,8% đối tượng
Xem thêm

Đọc thêm

NÊN LÀM GÌ KHI HO DAI DẲNG?

NÊN LÀM GÌ KHI HO DAI DẲNG?

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Ho dai dẳng, ho thành từng cơn, ho rát cả họng, khổ sở vì ho – là triệu chứng rất dễ gặp trong điều kiện môi trường sống có nhiều ô nhiễm, thời tiết ẩm ướt, thay đổi trạng thái từ lạnh sang nóng đột ngột... Vậy người bệnh cần phải làm gì để bệnh ho thuyên giảm? Ho - vì sao, như thế nào? Ho là một phát thở ra mạnh và đột ngột. Ho là cơ chế tự vệ sinh lý quan trọng để tống ra ngoài các dị vật ở phần trên của đường hô hấp có thể gây tắc đường thở. Ho cũng có thể là triệu chứng của một số rối loạn trong cơ thể. Người ta có thể chủ động ho, nhưng trong đa số trường hợp, ho xảy ra ngoài ý muốn và động tác này có tính chất phản xạ. Tuy nhiên, nhiều virut và vi khuẩn có thể truyền nhiễm từ người này sang người khác thông qua ho. Các nhà chuyên môn phân triệu chứng ho như sau: Ho cấp: Là tình trạng ho xảy ra đột ngột, thông thường nhất là do hít phải bụi hoặc chất kích thích. Ho cấp cũng có thể do các nguyên nhân: Do nhiễm khuẩn, viêm họng, viêm thanh quản, viêm tai, viêm xoang, viêm phế quản, viêm phổi, tràn dịch màng phổi. Cũng có khi triệu chứng ho xuất hiện trong các bệnh dị ứng tai mũi họng và hen. Triệu chứng ho cấp cũng có thể do bệnh gây ứ máu ở phổi như: bệnh phù phổi, tim và thường gặp ở người có tiền sử mắc các bệnh tim mạch, tăng huyết áp... Ho thành cơn: Ho nhiều lần kế tiếp nhau trong một thời gian ngắn, điển hình là cơn ho gà; người bệnh ho liền một cơn, sau đó hít một hơi dài và tiếp tục ho nữa. Cơn ho kéo dài thường gây tăng áp lực trong lồng ngực, gây ứ huyết tĩnh mạch chủ trên làm cho người bệnh đỏ mặt, tĩnh mạch cổ phồng, cơn ho có thể làm chảy nước mắt, đôi khi còn gây ra phản xạ nôn nữa. Người bệnh có thể đau ê ẩm ngực, lưng và bụng do các cơ hô hấp co bóp quá mức.   Người ho có thể dùng chanh, quất trộn với mật ong để ngậm (Ảnh minh họa) Ho khan kéo dài: là tình trạng ho không khạc ra đờm mặc dù người bệnh có thể ho nhiều. Tuy nhiên, có người nuốt đờm hoặc vì không muốn khạc hay vì không biết khạc đờm. Ho khan kéo dài cần chú ý đến: Bệnh của thanh quản, viêm tai, viêm xương chũm mạn tính; Do ung thư phế quản: xảy ra ở người có thâm niên hút thuốc lá, thuốc lào lâu năm (trên 10 năm). Ho khan kéo dài còn do các bệnh tổ chức kẽ của phổi như xơ phổi, phù phổi bán cấp, ung thư phổi hoặc lao kê hoặc do tràn dịch mạn tính màng phổi. Ho kéo dài cũng có thể do một số chất độc gây kích thích trực tiếp do cơ chế miễn dịch dị ứng (hen). Một số trường hợp rối loạn tinh thần có biểu hiện ho nhiều, không có tổn thương trên đường hô hấp. Nhưng đó là những trường hợp hiếm gặp. Ho khan kéo dài còn do tác dụng phụ của một số thuốc, nhất là thuốc điều trị bệnh tăng huyết áp (coversyl). Ho có đờm: Là tình trạng người bệnh bị ho và cảm thấy nặng ngực, ho thường khạc ra chất nhầy và đờm. Bệnh nhân có cảm giác nghẹt thở và khó thở, mệt lả. Các triệu chứng thường tăng lên khi đi bộ và nói chuyện. Ho có đờm đa số nguyên nhân là do viêm phế quản mạn tính, cũng có khi là triệu chứng ho sau khi viêm họng, viêm mũi và viêm xoang... Ở một người nghiện thuốc lào, thuốc lá lâu năm bị ho có đờm kéo dài, đồng thời tính chất của ho thay đổi hoặc ho ông ổng là dấu hiệu của báo động ung thư phế quản. Ho khạc đờm nhiều kèm theo bội nhiễm luôn phải chú ý đến ung thư họng - thanh quản, thực quản, khí quản... Ho ra máu: Là tình trạng ho khạc thấy máu xuất hiện kèm theo. Nó có nhiều mức độ từ nhẹ đến nặng. Đó có thể là một dấu hiệu của các bệnh viêm phổi cấp và mạn tính, ung thư phổi... Ho ra máu có thể xảy ra đột ngột trong lúc người bệnh cảm thấy khỏe mạnh hoặc sau khi hoạt động mạnh... Thông thường, 90% trường hợp ho ra máu là do bệnh lao đang tiến triển (nếu kèm ho kéo dài, sốt nhẹ, sút cân thì càng chắc chắn). Nếu ho ra máu chút ít lẫn trong đờm, tái phát một vài lần mà không có sốt hoặc sút cân cũng nên nghĩ đến bệnh lao. Cần làm gì khi bị ho? Ho là cơ chế bảo vệ tốt của bộ máy hô hấp, đôi khi rất hữu ích nên phải tôn trọng. Trong trường hợp ho cấp dưới 3 ngày mà không có sốt, không kèm theo đau ngực, không khó thở, không khạc đờm máu, mủ thì không cần dùng thuốc.   Bệnh nhân ho nên uống nhiều nước mỗi ngày, tránh ở môi trường khô và lạnh (nhất là điều hòa); tránh các yếu tố gây kích thích như khói thuốc, khói than, bụi, mùi khí lạ, phấn hoa, lông súc vật...; không ăn uống đồ quá nóng gây kích thích vòm họng, giữ ấm cổ, ngực. (Ảnh minh họa) Ho có thể chỉ là một triệu chứng gây khó chịu, nhưng cũng có thể biểu hiện một bệnh lý nghiêm trọng, đặc biệt với trẻ em và người cao tuổi. Phải dè chừng khi ho có kèm theo sốt, khó thở, tím tái, ho kéo dài, suy kiệt..., bệnh nhân cần được khám xét cẩn thận. Người bệnh ho trên 5 ngày, bất luận là tình trạng ho thế nào thì cần phải đi khám ngay. Nếu ho kéo dài hơn 3 tuần, điều trị bằng thuốc không giảm, có kèm theo sốt, ho có đờm xanh, nâu gỉ, vàng, ho ra máu, thở nông hoặc đau ngực khi ho có thể là dấu hiệu của một số bệnh lý nguy hiểm... Đối với các bệnh nhân có tiền sử hen, lao phổi, huyết áp tăng, đau dạ dày, sụt cân nhiều, nên đến bác sĩ tìm nguyên nhân để điều trị tận gốc như: hen, viêm phế quản mạn, suy tim sung huyết, viêm phổi, lao phổi, viêm họng, viêm amidan, ung thư phổi... Điều quan trọng nhất là phải phòng bệnh, nhất là vào ngày lạnh. Người bệnh cần năng luyện tập thể dục thể thao phù hợp, ăn uống hợp lý, vệ sinh răng miệng, rèn luyện tính thích nghi với thời tiết, khí hậu, tạo môi trường sống trong sạch - đó mới có hiệu quả thiết thực, lâu dài cho sức khỏe. Bệnh nhân ho nên uống nhiều nước mỗi ngày, tránh ở môi trường khô và lạnh (nhất là điều hòa); tránh các yếu tố gây kích thích như khói thuốc, khói than, bụi, mùi khí lạ, phấn hoa, lông súc vật...; không ăn uống đồ quá nóng gây kích thích vòm họng, giữ ấm cổ, ngực. Nên xông hơi nóng cho đường mũi họng bằng tinh dầu bạc hà, khuynh diệp. Việc hít ngửi hơi nóng sẽ giúp làm loãng chất nhầy, chất đờm đặc giúp khạc ra đờm dễ dàng hơn. Nên nghỉ ngơi nhiều, ăn hoa quả, uống nước cam, chanh, ăn tỏi, hành, hẹ để hỗ trợ thêm hệ miễn dịch. Người bị ho cấp, ho từng cơn và ho khan thể nhẹ có thể áp dụng các liệu pháp dân gian như: có thể sử dụng chanh và mật ong trộn lẫn hoặc pha chanh với mật ong vào nước ấm để uống giúp trị ho, viêm họng. Cách khác là có thể dùng quất và mật ong hấp lên để ngậm giúp trị ho mà không cần dùng thuốc. 
Xem thêm

2 Đọc thêm

10 dấu hiệu ung thư mọi người hay bỏ qua

10 DẤU HIỆU UNG THƯ MỌI NGƯỜI HAY BỎ QUA

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Ho dai dẳng, khàn giọng “Hầu hết các cơn ho không phải do ung thư. Tuy nhiên, nếu ho dai dẳng, bạn nên đi khám vì có thể bạn đã mắc bệnh ung thư phổi” - bác sĩ Therese Bartholomew Bevers từ Trung tâm Phòng chống Ung thư Anderson – Mỹ cho biết. Trong trường hợp ho khan kèm máu, các chuyên gia khuyên bạn nên đi chụp X-quang hoặc CT scan để loại trừ khả năng mắc bệnh ung thư.   Nếu ho lâu ngày, ho ra máu, có thể bạn đã mắc bệnh ung thư phổi Có sự khác biệt khi đi ngoài Nếu việc đi tiêu không dễ dàng như trước đây hoặc phân có dấu hiệu khác thường, đó có thể là dấu hiệu của ung thư ruột kết, bác sĩ Bartholomew Bevers cho biết. Nếu gặp triệu chứng này, bạn nên hỏi ý kiến bác sĩ để được nội soi. Có máu trong nước tiểu Tương tự, nếu trong nước tiểu có máu, bạn có khả năng mắc bệnh ung thư bàng quang hoặc thận. Tuy nhiên, đây cũng là dấu hiệu của việc nhiễm trùng đường tiết niệu. Các chuyên gia khuyên bạn nên đến bệnh viện kiểm tra xem mình có bị nhiễm trùng hay không, sau đó tìm hiểu các khả năng khác.   Các đốm đen - dấu hiệu nhận biết ung thư da Đau dai dẳng không rõ nguyên nhân “Hầu hết các cơn đau không phải dấu hiệu ung thư nhưng nếu bạn đau đớn trong thời gian dài, nên đi kiểm tra” - bác sĩ Bartholomew Bevers tư vấn. Ví dụ, đau đầu dai dẳng có thể là dấu hiệu của bệnh ung thư não, đau ngực dai dẳng là dấu hiệu của ung thư phổi, đau nhiều ở vùng bụng có thể là ung thư buồng trứng. Xuất hiện nhiều nốt ruồi lạ Không phải tất cả nốt ruồi là dấu hiệu của khối u ác tính nhưng đốm đen mới xuất hiện hoặc một nốt ruồi phát triển thành hình dạng lạ là điều đáng chú ý. Trong trường hợp này, chuyên gia Bartholomew Bevers khuyên bạn cần đến bác sĩ da liều để tầm soát ung thư da. Vết thương không lành Nếu bạn có một vết loét suốt 3 tuần vẫn chưa lành, nên nói điều này cho bác sĩ vì đây có thể là dấu hiệu của ung thư biểu mô (carcinoma). Chảy máu bất ngờ Chảy máu âm đạo ngoài chu kỳ có thể là dấu hiệu sớm của bệnh ung thư cổ tử cung, trong khi chảy máu từ trực tràng có thể là dấu hiệu ung thư ruột kết, bác sĩ Bartholomew Bevers cho biết. Sụt cân không rõ nguyên nhân Nếu trọng lượng bạn sút nhanh không kiểm soát (không phải do bạn tự giảm cân), nên đến bệnh viện kiểm tra vì có khả năng bạn có khối u lành tính hoặc ác tính trên người.   Giảm cân không rõ nguyên nhân là dấu hiệu của nhiều bệnh, trong đó có ung thư U, bướu lạ Khi có bất cứ khối u, bướu lạ nào mới xuất hiện trên cơ thể, bạn nên đến bác sĩ ngay. Có thể khối u chỉ là nang lành tính nhưng thỉnh thoảng đó có thể là dấu hiệu của bệnh ung thư ảnh hưởng các mô nằm sâu dưới da. Ví dụ: U ở ngực là triệu chứng phổ biến của bệnh ung thư vú. Khó nuốt Hai bệnh ung thư đứng sau triệu chứng này là ung thư cổ và ung thư thực quản. Những người xuất hiện triệu chứng này sẽ bắt đầu có dấu hiệu thay đổi chế độ ăn uống, thường muốn dùng thức ăn mềm nhiều hơn. Nếu triệu chứng này kéo dài, bạn cần đến bác sĩ để được tư vấn.
Xem thêm

2 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU PHÂN LOẠI MÔ BỆNH HỌC UNG THƯ BIỂU MÔ PHỔI THEO WHO 2004 VÀ IASLC ATS ERS 2011 CÓ SỬ DỤNG DẤU ẤN HÓA MÔ MIỄN DỊCH

NGHIÊN CỨU PHÂN LOẠI MÔ BỆNH HỌC UNG THƯ BIỂU MÔ PHỔI THEO WHO 2004 VÀ IASLC ATS ERS 2011 CÓ SỬ DỤNG DẤU ẤN HÓA MÔ MIỄN DỊCH

độ” mô học. Mặc dù phân loại này đã đáp ứng được những đòi hỏi của việcđịnh typ mô bệnh học ung thư phổi khi đó, song không phải không có nhữngnghiên cứu phân loại mới, ví dụ các u nhầy, ung thư tế bào nhẫn, ung thư đahình, các u typ tuyến nước bọt… Những typ mô bệnh học mới này đã đượccác nhà bệnh học tái hiện lại, bổ sung, hoàn chỉnh thêm và là cơ sở cho phânloại mới của WHO lần thứ 3 (1999). Phân loại mới này có các mã hình tháihọc của phân loại quốc tế các bệnh u (ICD-O) và danh pháp hệ thống hóa về yhọc (S,NOMED). Nếu so sánh phân loại lần thứ nhất (1967) và lần thứ hai(1981), người ta dễ dàng nhận thấy về cơ bản hai phân loại này không khácnhau nhiều, song phân loại lần thứ 3 có nhiều thay đổi so với hai phân loạitrước đó, nhiều typ/thứ typ mới được thừa nhận và chưa từng có trong cácphân loại trước đó.Dù có nhiều phân loại mô học UTP của các tác giả hoặc nhóm tác giả đãcông bố và được áp dụng trong thực hành lâm sàng ở nơi này, nơi khác, songkể từ khi có phân loại mô học ung thư phổi của WHO lần đầu tiên (1967),phân loại này ngay lập tức đã được đón nhận khá rộng rãi. Người ta hoannghênh và đón nhận các phân loại của WHO vì những lý do chính sau: (1) Đểxây dựng và hoàn thiện các phân loại này, WHO đã tập hợp được trí tuệ cácnhà bệnh học phổi hàng đầu thế giới, do một Ban soạn thảo có uy tín (họ lànhững người có nhiều nghiên ứu về phân lọai mô học UTP đã công bố) đảmtrách, được nhiều Trung tâm bệnh học hàng đầu thế giới kiểm định, tái hiệnlại và do đó nó mang tính hoàn thiện và tính tổng hợp về mặt tri thức. (2) Việcsử dụng loại của WHO sẽ mang lại hiệu quả trong việc tìm tiếng nói chung6trên toàn cầu, dễ so sánh đối chiếu các nghiên cứu giữa các quốc gia, khu vựcvà do vậy dễ dàng cho việc hợp tác nghiên cứu, phòng bệnh, phát hiện và điềutrị ung thư phổi. (3) Các phòng xét nghiệm giải phẫu bệnh trên toàn thế giớiđều có thể áp dụng được vì nó không đòi hỏi các kỹ thuật nhuộm đặc biệt.
Xem thêm

142 Đọc thêm

Ô nhiễm không khí là thủ phạm gây ung thư

Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ LÀ THỦ PHẠM GÂY UNG THƯ

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ngày 17.10, đã xếp ô nhiễm không khí ngoài trời là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây các căn bệnh ung thư ở người. Ông Kurt Straif, giám đốc IARC, cho biết trước đây cơ quan nghiên cứu ung thư này vẫn đánh giá một số thành phần gây ô nhiễm không khí như khói động cơ diesel là chất gây ung thư, song đây là lần đầu tiên IARC coi ô nhiễm không khí nói chung là nguyên nhân gây ra các căn bệnh chết người này.   WHO cảnh báo ô nhiễm không khí là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây các căn bệnh ung thư ở người. (Ảnh minh họa) “Không khí mà chúng ta hít thở đã trở nên ô nhiễm với nhiều chất gây ung thư”, hãng tin AFP dẫn lời Kurt Straif, chuyên viên của Cơ quan nghiên cứu quốc tế về ung thư của WHO (IARC), cho biết. “Đến nay chúng ta biết rằng ô nhiễm không khí không chỉ là mối nguy hiểm lớn đối với sức khỏe nói chung mà còn là một nguyên nhân hàng đầu gây ra căn bệnh ung thư chết người”, ông thông báo. Cùng với nhiều chất nguy hiểm như amiăng, thuốc lá, phóng xạ tia cực tím, WHO coi ô nhiễm không khí là chất sinh ung thư trong môi trường nguy hiểm nhất, hơn cả việc hút thuốc thụ động. Theo ông Straif, các nguồn gây ô nhiễm lớn nhất là khí thải từ giao thông vận tải, các nhà máy điện, sản xuất công nghiệp và nông nghiệp. Việc phân loại trên được đưa ra sau khi nhóm các nhà khoa học thuộc IARC phân tích hơn 1000 nghiên cứu trên toàn thế giới và đưa ra đủ bằng chứng cho thấy ô nhiễm không khí ngoài trời là nguyên nhân chính dẫn đến ung thư phổi. Trước đó, ô nhiễm không khí cũng được xác định là nguyên nhân làm gia tăng tỷ lệ người mắc các bệnh về đường hô hấp và tim mạch. Theo các số liệu thống kê mới nhất của IARC, năm 2010, hơn 220.000 trường hợp tử vong do ung thư phổi trên toàn thế giới có liên quan đến ô nhiễm không khí và đây cũng là nguyên nhân liên quan đến tăng nguy cơ gây ung thư bàng quang.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Dioxin độc chất nguy hiểm

DIOXIN ĐỘC CHẤT NGUY HIỂM

Dioxin chất độc nguy hiểm còn mãi. Các con đường xâm nhập của Dioxin vào trong cơ thể người. Con đường tiêu hóa, qua da và qua hệ hô hấp. Khi nó đi vào trong có thể người nó sẽ gây ra hàng loạt các căn bệnh ung thu như ung thư vú, ung thư phổi, ung thư xương...Nó ảnh hưởng tới quá trình sinh sản, giảm khả năng miễn dịch của cơ thể, ảnh hưởng đến trí não, gây dị tật bẩm sinh và các căn bệnh nguy hiểm khác.

31 Đọc thêm

10 DẤU HIỆU CẢNH BÁO UNG THƯ Ở NAM GIỚI

10 DẤU HIỆU CẢNH BÁO UNG THƯ Ở NAM GIỚI

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Đau họng Đau họng cũng có thể là một trong những dấu hiệu đáng lo ngại của ung thư. Bạn nên kiểm tra trong cổ họng có xuất hiện những đốm màu trắng, đỏ hay xanh ở xung quanh chỗ đau hay không. Ho dai dẳng Nếu sau một thời gian uống thuốc, những cơn ho dai dẳng vẫn không khỏi thì đó có thể là triệu chứng cho thấy bạn đang mắc phải căn bệnh ung thư phổi.   Ho dai dẳng có thể là dấu hiệu của căn bệnh ung thư phổi. (Ảnh minh họa) Đau khi tiểu tiện Ung thư tiền liệt tuyến là một trong những loại ung thư phổ biến ở nam giới hiện nay. Nếu bạn cảm thấy đau khi tiểu tiện hay thấy máu trong nước tiểu thì tốt nhân bạn nên đến bệnh viện kiểm tra ngay lập tức. Đây có thể là một trong những dấu hiệu ung thư không thể chủ quan. Sự thay đổi làn da Các chuyên gia tin rằng, những người đàn ông trên 50 tuổi thường có nguy cơ mắc bệnh ung thư da. Vì thế, chẳng hạn khi bạn thấy màu sắc làn da thay đổi bất thường thì cũng nên đến viện kiểm tra. Đau bụng kéo dài Trong trường hợp bạn liên tục bị đau bụng hay gặp phải những cơn đau bất thường ở bụng dưới thì bạn nên nhanh chóng đến gặp bác sĩ. Triệu chứng này có thể liên quan đến bệnh máu trắng, ung thư thực quản hay ung thư gan. Sốt cao Dấu hiệu sớm của bệnh ung thư máu là người bệnh bị ốm thường kèm theo sốt cao và run rẩy.   Ảnh minh họa Khó nuốt Biểu hiện ban đầu của căn bệnh ung thư phổi là người bệnh cảm thấy đau cổ họng khi nuốt thức ăn. Nếu thường xuyên bị như vậy, bạn nên đến bệnh viện kiểm tra. Vết bầm Nếu đột nhiên bạn thấy trên cơ thể xuất hiện một số vết bầm thì bạn cũng nên đến bệnh viện kiểm tra, bởi đây cũng có thể là một trong những dấu hiệu cho thấy bạn mắc phải căn bệnh ung thư máu. Sút cân nhanh chóng Sút cân một cách nhanh chóng là một trong những dấu hiệu liên quan đến căn bệnh ung thư gan hoặc ung thư ruột kết.   Ảnh minh họa Mệt mỏi Bạn luôn cảm thấy mệt mỏi mặc dù không phải làm công việc gì nặng nhọc? Nếu vậy, bạn nên đến bệnh viện kiểm tra, bởi đây có thể là dấu hiệu của căn bệnh ung thư máu và u lym phô.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Nguy cơ dễ mắc các bệnh ung thư từ thực phẩm

NGUY CƠ DỄ MẮC CÁC BỆNH UNG THƯ TỪ THỰC PHẨM

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Cho đến nay những kết quả nghiên cứu để tìm ra phương pháp điều trị căn bệnh chết người này vẫn chưa có nhiều tiến triển. Trong quá trình nghiên cứu tìm ra phương pháp chữa bệnh, các nhà khoa học đã phát hiện ra nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi bất thường của các tế bào. Ngoài các tác nhân vật lý, hoá học, môi trường, vi khuẩn, căng thẳng áp lực, cảm xúc thì chế độ ăn uống cũng là một trong những nguyên nhân gây nên căn bệnh chết người này. Từ những nghiên cứu tổng hợp, các nhà khoa học khuyến cáo nên hạn chế ăn những thực phẩm dưới đây: 1. Chất béo Những người ăn nhiều chất béo dễ mắc các bệnh ung thư vú và ung thư ruột. Axit mật có vai trò giúp tiêu hoá lượng chất béo. Loại axit này được chia thành nhiều chất khác nhau bởi vi khuẩn Clostridium trong ruột, trong đó có 3-methylchola-threne được coi như có khả năng gây ung thư ruột già. Nếu càng ăn nhiều chất béo thì lượng acid mật tiết ra càng cao, lượng 3 - methylchola - threne càng nhiều, nguy cơ ung thư ruột già càng cao. Còn với bệnh ung thư vú thì ăn nhiều chất béo làm tăng prolactin - những chất được coi như “bạn đồng hành” của ung thư vú. Những người cùng lúc ăn nhiều chất béo và chất đạm thì nguy cơ ung thư lại càng cao hơn, nhất là ung thư vú, ung thư tử cung, ung thư thận, ung thư ruột, ung thư tuyến tuỵ. 2. Rượu   Những người nghiện rượu, uống rượu nhiều trong thời gian dài dễ mắc các bệnh ung thư miệng, ung thư thanh quản, ung thư thực quản, ung thư vòm họng. (Ảnh minh họa) Những người nghiện rượu, uống rượu nhiều trong thời gian dài dễ mắc các bệnh ung thư miệng, ung thư thanh quản, ung thư thực quản, ung thư vòm họng. Rượu cũng là một trong nhừng nguyên nhân gây ra những bệnh về gan như xơ cứng gan, ung thư gan. Những phụ nữ uống rượu sẽ có nguy cơ mắc bệnh ung thư vú cao hơn những người không uống. 3. Thuốc lá   Đã có nhiều dẫn chứng khoa học về việc thuốc lá là nguyên nhân của nhiều loại ung thư ở cả nam và nữ, nhất là ung thư phổi. Có tới 85% tử vong ung thư phổi là do hút thuốc lá. (Ảnh minh họa) Dù không phải là thực phẩm nhưng thuốc lá thường gắn liền với thói quen sinh hoạt và được dùng với lượng lớn không kém gì thực phẩm. Đã có nhiều dẫn chứng khoa học về việc thuốc lá là nguyên nhân của nhiều loại ung thư ở cả nam và nữ, nhất là ung thư phổi. Có tới 85% tử vong ung thư phổi là do hút thuốc lá. Hút thuốc lá cũng là nguy cơ ung thư miệng, bọng đái, thận, tụy tạng. Người hít khói thuốc dư cũng chịu nhiều rủi ro cho sức khỏe. 4. Thực phẩm dư thừa hoá chất diệt sâu bọ Nhiều nghiên cứu cho thấy, một số thuốc diệt sâu bọ là nguy cơ gây ung thư khi con người tiếp xúc lâu với phân lượng cao, như là hít qua phổi, ngấm qua da hoặc lẫn trong thực phẩm. 5. Gia vị Hiện nay có rất nhiều loại gia vị thực phẩm được sử dụng để bảo quản, tăng mùi vị và màu sắc cho thực phẩm. Theo quy định thì các gia vị này phải đảm bảo an toàn cho người sử dụng, nhưng trên thực tế không ít cơ sở đã dùng các gia vị rất độc hại cho sức khỏe. Chẳng hạn, đường hóa học cyclamate và saccharin được cho là làm tăng nguy cơ ung thư bàng quang nhưng vẫn được dùng trên 40 quốc gia. Chất nitrit và nitrat (có trong thực phẩm hun khói) nếu dùng nhiều sẽ gây ung thư gan, ruột già.... 6. Thực phẩm nướng hoặc chiên   Ăn nhiều đồ nướng cũng dễ mắc các bệnh ung thư (Ảnh minh họa) Quá trình chiên kỹ hoặc chiên đi chiên lại nhiều lần sẽ tạo ra sản phẩm phụ gọi là acrylamide. Acrylamide - một khối u chứa chất độc thần kinh mạnh, có tác dụng phụ cả trên não và cả đối với hệ thống sinh sản, tiêu hóa. Do đó, tốt nhất là hạn chế ăn các đồ ăn nướng và chiên. 7. Thực phẩm bị mốc   Thực phẩm bị mốc cũng là mầm mống gây ung thư (Ảnh minh họa) Nhiều người thường cho rằng nấm mốc trong thực phẩm khô đơn giản chỉ là một dạng vi sinh vật vô hại, có thể lau rửa sạch mà không ảnh hưởng gì đến chất lượng thực phẩm. Tuy nhiên, theo cảnh báo của các chuyên gia, chính những nấm mốc này lại mang mầm bệnh ung thư nguy hiểm đến tính mạng con người. Gạo, lúa mỳ, đậu, ngô, đậu phộng và các loại thực phẩm khác rất dễ ẩm mốc khi bị ô nhiễm, mốc sẽ sản sinh ra chất độc hại gây ung thư là streptozotocin aflatoxin. Ðể hạn chế mắc các bệnh ung thư, các nhà khoa học đã đưa ra những lời khuyên hữu ích sau đây: - Ăn nhiều rau quả tươi và các  thực phẩm có nguồn gốc từ thực vật bởi đây là nguồn cung cấp cho cơ thể các vitamin, khoáng chất và chất xơ cần thiết sẽ giúp cơ thể có được sức đề kháng tốt để chống lại các yếu tố gây ung thư. Mỗi người mỗi ngày nên ăn ít nhất 500g rau tươi và quả chín, nên ăn đa dạng các loại rau xanh, quả tươi để thay đổi khẩu vị và tạo nên sự dồi dào của các vitamin, khoáng chất tự nhiên do chúng mang lại. - Hạn chế ăn thịt màu đỏ, chất béo và muối trong bữa ăn hằng ngày. Nên chọn lọc thực phẩm ít chất béo, có thể sử dụng các loại sữa đã tách bơ, ăn ít các món chiên, xào, hạn chế ăn mặn tối đa. - Chất lượng thực phẩm phải được đảm bảo tươi sống, sạch sẽ, hợp vệ sinh. Ăn chín uống sôi. Không chế biến thức ăn ở nhiệt độ cao, nướng rán thực phẩm quá cháy. - Ðảm bảo cân nặng cơ thể hợp lý: đừng để quá gầy hay quá béo. Thường xuyên rèn luyện thân thể bằng các môn thể thao phù hợp với cân nặng và sức khỏe của mình. - Hạn chế uống rượu bia và các chất kích thích.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Cùng chủ đề