3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA GIAI CẤP NÔNG DÂN TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN Ở TỈNH BÌNH ĐỊNH

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA GIAI CẤP NÔNG DÂN TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN Ở TỈNH BÌNH ĐỊNH":

Đề tài Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn tỉnh Hà Nam giai đoạn 1997 - 2010

ĐỀ TÀI CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN TỈNH HÀ NAM GIAI ĐOẠN 1997 - 2010

Đề tài Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn tỉnh Hà Nam giai đoạn 1997 - 2010 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn tỉnh Hà Nam giai đoạn 1997 - 2010” làm luận văn Thạc sĩ Lịch sử. Sở dĩ chúng tôi chọn mốc thời gian từ năm 1997 đến năm 2010 bởi vì ngày 1-1-1997 tỉnh Hà Nam chính thức được thành lập trên cơ sở tỉnh Nam Hà cũ còn năm 2010 là năm tỉnh hoàn thành kế hoạch 5 năm phát triển KT – XH (2006 - 2010). Nghiên cứu đề tài này tôi cũng mong muốn được góp công sức nhỏ bé của mình vào sự phát triển của tỉnh Hà Nam, đồng thời đề tài này phục vụ tốt cho công tác giảng dạy lịch sử địa phương trong các trường phổ thông trung học trên địa bàn tỉnh Hà Nam. Đề tài Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn tỉnh Hà Nam giai đoạn 1997 - 2010 2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ Đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nên việc nghiên cứu về nông nghiệp và công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trở thành vấn đề được quan tâm trong nhiều công trình nghiên cứu. Có thể kể đến một số nghiên cứu như sau: - “Giáo trình kinh tế nông nghiệp” của Nguyễn Thế Nhã, Vũ Đình Thắng, NXB Thống Kê (2002) và “Địa lý kinh tế - xã hội đại cương” của Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên), Nguyễn Viết Thịnh, Lê Thông, NXB ĐHSP Hà Nội (2005). Hai công trình này đã đề cập đến những vấn đề cơ bản trong kinh tế nông nghiệp như: đặc điểm và các nhân tố tác động đến sự phát triển và phân bố nông nghiệp; các vấn đề phát triển nông nghiệp bền vững, sự phân bố địa lý của sản xuất nông nghiệp; vai trò, các điều kiện và đặc điểm phát triển của nông nghiệp ở các nước, các vùng khác nhau trên thế giới và ở Việt Nam... Đó là những cơ sở quan trọng giúp tác giả đưa ra được những phân tích, nhận định quan trọng trong quá trình nghiên cứu thực trạng phát triển nông nghiệp tỉnh Hà Nam. Đề tài Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn tỉnh Hà Nam giai đoạn 1997 - 2010 - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam “Môt số vấn đề về công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn thời kỳ 2001 – 2020”, nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội (2001); GS.TS Nguyễn Kế Tuấn “Công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Việt Nam, con đường và bước đi”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội (2006); GS.TS Nguyễn Đình Phan “Những biện pháp chủ yếu thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn vùng đồng bằng Sông Hồng”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội, (2002); TS Đặng Kim Sơn “Công nghiệp hóa từ nông nghiệp, lí luận thực tiễn và triển vọng áp dụng ở Việt Nam”, Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội (2001)…Những công trình nghiên cứu này đều tập trung vào phân tích những vấn đề lí luận cơ bản, vai trò, yếu tố tác động, sự cần thiết và nội dung của công nghiệp hóa nói chung và công nghiệp hóa nông thôn nói riêng và phương hướng, nội dung, giải pháp thực hiện chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp… - Các luận văn Thạc sĩ về đề tài công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn như:“Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 1996 - 2010” của Cao Thị Hoa, luận văn Thạc sĩ khoa học Lịch Sử, Trường ĐHSP Hà Nội (2011). Trong luận văn này tác giả đã tìm hiểu tình hình nông nghiệp, nông thôn ở huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh trước năm 1996; công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 1996 – 2010 và tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh từ đó đưa ra các giải pháp nhằm thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở huyện Yên Phong. Hay đề tài “Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa (1991 - 2007)” của Đào Thị Diệu, luận văn Thạc sĩ khoa học Lịch sử, ĐHSP Hà Nội (2008). Trong luận văn này tác giả đã khái quát huyện Nga Sơn, nông nghiệp, nông thôn Nga Sơn trước năm 1991; quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Nga Sơn (1991 - 2000) và quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Nga Sơn (2001 - 2007) từ đó nêu ra vai trò và những tồn tại trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. - Về phía tỉnh Hà Nam, có đề tài “Kinh tế Hà Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa” của Đỗ Văn Dũng, luận văn Thạc sĩ khoa học Địa Lý, Trường ĐHSP Hà Nội (2009). Trong luận văn này tác giả đã nêu ra cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển kinh tế và công nghiệp hóa; thực trạng phát triển kinh tế Hà Nam thời kì 1997 – 2008 và định hướng giải pháp phát triển kinh tế Hà Nam trong thời kì công nghiệp hóa. Và “Báo cáo quy hoạch phát triển nông nghiệp tỉnh Hà Nam giai đoạn 2010 – 2015 và định hướng đến năm 2020” của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Nam (2011), Báo cáo này đã trình bầy tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Hà Nam; thực trạng sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2000 – 2010 và quy hoạch tổng thể phát triển nông nghiệp đến năm 2020. Các công trình trên nhìn chung đã nghiên cứu luận giải những cơ sở lý luận và thực tiễn của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trên từng khía cạnh và mức độ khác nhau, giúp tôi có được những quan điểm nhận thức chung về lý luận và tài liệu cần thiết để kế thừa trong quá trình thực hiện luận văn của mình. Tuy vậy, vấn đề “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn tỉnh Hà Nam giai đoạn 1997 - 2010” cho đến nay vẫn chưa có một luận văn, công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống. 3. MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 3.1. Mục đích nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở hệ thống hóa và làm sáng tỏ những vấn đề lí luận về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Luận văn phân tích thực trạng, đề ra phương hướng, mục tiêu và những giải pháp chủ yếu để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh Hà Nam. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu - Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn. - Phân tích đánh giá thực trạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn và tác động của nó đến quá trình phát triển kinh tế xã hội ở tỉnh Hà Nam. - Xây dựng được quan điểm phát triển nông nghiệp, nông thôn của tỉnh Hà Nam, đồng thời đưa ra phương hướng, mục tiêu, đề xuất và các biện pháp phù hợp với tình hình đặc điểm của địa phương vào sự phát triển chung của cả nước nhằm đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn của tỉnh đến năm 2015. 4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng mà luận văn tập trung nghiên cứu là: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn tỉnh Hà Nam giai đoạn 1997 - 2010” 4.2. Phạm vi nghiên cứu - Về không gian trên địa bàn tỉnh Hà Nam - Về thời gian từ năm 1997 đến năm 2010 (Năm 1997 tỉnh Hà Nam được tách ra từ tỉnh Nam Hà cũ và năm 2010 là năm tỉnh hoàn thành kế hoạch phát triển KT – XH 5 năm (2006 - 2010)). - Công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn là vấn đề rất rộng lớn và phức tạp, phạm vi nghiên cứu của luận văn chỉ tập trung vào những nội dung cơ bản về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn; xây dựng cơ sở hạ tầng nông nghiệp nông thôn; phát triển nguồn nhân lực; phát triển các làng nghề…trong khoảng thời gian 1997 đến năm 2010. 5. NGUỒN TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5.1. Nguồn tư liệu - Nguồn tài liệu đầu tiên là các sách viết về vùng đất phủ Lý Nhân xưa cũng như tỉnh Hà Nam hiện nay. Các sách viết về phủ Lý Nhân xưa sẽ giúp dựng lại lịch sử phát triển của vùng đất Hà Nam trước năm 1997. Các sách viết về Hà Nam từ sau năm 1997 đến nay được khai thác để tạo cơ sở lý luận và thực tiễn cho đề tài. - Nguồn tài liệu thứ hai tạo cơ sở lý luận cho đề tài chính là công trình của các tác giả đề cập đến vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn. - Nguồn tài liệu chính để chúng tôi thực hiện đề tài là các số liệu thống kê, các báo cáo năm, các văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Nam có liên quan đến vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn được khai thác để sử dụng cho đề tài. Bên cạnh đó, tôi sẽ thực hiện khảo sát, điền dã để thu thập thêm tư liệu thực tế cho đề tài. Đề tài Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn tỉnh Hà Nam giai đoạn 1997 - 2010
Xem thêm

133 Đọc thêm

1 ĐẢNG BỘ TỈNH HƯNG YÊN TÁI LẬP BƯỚC VÀO THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CNH, HĐH (1997 2015) (SỬA)

1 ĐẢNG BỘ TỈNH HƯNG YÊN TÁI LẬP BƯỚC VÀO THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CNH, HĐH (1997 2015) (SỬA)

ĐẢNG BỘ TỈNH HƯNG YÊN VỚI SỰ NGHIỆP ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ (19972015) Sau những năm đầu thực hiện đường lối đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện và có ý nghĩa quan trọng. Với những nền tảng tạo được, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (61996) quyết định chuyển đất nuớc sang thời kỳ mới – thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.Mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh” . Để đáp ứng với tình hình và nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn mới, ngày 6111996, Quốc hội khóa IX kỳ họp thứ X ra Nghị quyết về việc chia tỉnh Hải Hưng thành hai tỉnh Hải Dương và Hưng Yên. Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị và Nghị quyết của Quốc hội, bắt đầu từ ngày 0111997, tỉnh Hưng Yên chính thức được tái lập sau 29 năm hợp nhất với tỉnh Hải Dương (từ tháng 11968). 1. Những thuận lợi, khó khăn và thách thức mới của tỉnh Hưng Yên sau khi tái lập Sau khi tái lập, tỉnh Hưng Yên có những thuận lợi cơ bản, đồng thời phải đối mặt với nhiều khó khăn thử thách to lớn. Những thuận lợi cơ bản Một là, Hưng Yên là vùng đất văn hiến, giàu truyền thống. Đất đai trù phú, cây trồng và vật nuôi phong phú, đa dạng. Một số nghề truyền thống đang từng bước được khôi phục. Sau hơn mười năm tiến hành công cuộc đổi mới, Hưng Yên đã có những cơ sở vật chất nhất định được xây dựng; Đảng bộ và chính quyền đã có thêm kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo; một số địa phương có kinh nghiệm về chuyển dịch cơ cấu cây trồng, phát triển sản xuất, dịch vụ, từng bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Hai là, với vị trí nằm trong trọng điểm kinh tế phía Bắc, là cửa ngõ phía Đông của Thủ đô Hà Nội, có 23 km Quốc lộ 5, đường sắt chạy qua, Hưng Yên có thế mạnh lớn trong việc thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài, dịch vụ và du lịch có nhiều triển vọng. Ba là, việc tái lập tỉnh có ý nghĩa vô cùng quan trọng, tạo không khí hồ hởi, phấn khởi, là động lực phát triển giúp Đảng bộ và chính quyền tỉnh Hưng Yên có sự chỉ đạo sát sao hơn với thực tế địa phương, khai thác triệt để thế mạnh và tiềm năng của tỉnh, bắt kịp với tình hình mới và cơ chế mới, từ đó nhanh chóng ổn định và thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh nói riêng và của đất nước nói chung. Cùng với những thuận lợi cơ bản trên, tỉnh Hưng Yên cũng đứng trước những khó khăn, thách thức rất lớn. Thứ nhất, điểm xuất phát của tỉnh sau tái lập còn thấp: GDP bình quân đầu người năm 1996 khoảng 180 USD, thu ngân sách trên địa bàn tỉnh chỉ đáp ứng 13 so với yêu cầu. Trong những năm đổi mới, mặc dù có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế bước đầu nhưng nhìn chung vẫn là một tỉnh thuần nông, sản xuất manh mún, hàng hóa nông nghiệp ít, chất lượng chưa cao. Tài nguyên khoáng sản hạn chế. Kết cấu hạ tầng ít được chú trọng phát triển. Hệ thống giao thông vận tải khó khăn, đường bộ tỉnh và liên huyện chủ yếu rải đá lại hẹp. Thứ hai, trong nông nghiệp, cùng với việc chuyển dịch cơ cấu thì việc khảo nghiệm, đánh giá các loại cây trồng từng vùng, từng vụ chưa tốt, chưa gắn với quy trình kỹ thuật đã hạn chế sản xuất; hệ thống cơ sở hạ tầng nông nghiệp chưa phát triển đồng bộ; lực lượng lao động thừa còn lớn, tỷ lệ được đào tạo có trình độ kỹ thuật, tay nghề còn thấp. Ngành thương mại, dịch vụ du lịch của tỉnh kém phát triển do chưa được đầu tư, quan tâm. Sự quản lý của chính quyền và sự hỗ trợ cuả các ngành chức năng cho sự phát triển của thương mại, du lịch chưa được đúng mức. Ngành du lịch hầu như chưa phát triển, chưa có khách sạn lớn. Các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh như Phố Hiến, Đa Hòa Dạ Trạch… chưa được tu bổ tôn tạo, nâng cấp đúng mức. Thứ ba, cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ phát triển văn hóa, xã hội còn nghèo nàn, lạc hâu. Mạng lưới giáo dục đào tạo không đồng bộ, thiết bị dạy và học thiếu thốn, giản đơn, đặc biệt là đối với ngành học mầm non. Nhiều địa phương, trường cấp I, II còn dùng chung cơ sở vật chất, còn 3 trường liên cấp II và III. Phần lớn các bệnh viện xây dựng từ những năm trước tuy được nâng cấp, sửa chữa, hoặc xây dựng cao tầng cho một số khu điều trị, cấp cứu nhưng một số bệnh viện vẫn còn sử dụng nhà cấp 4 cho bệnh nhân nằm điều trị. Trang thiết bị cơ sở vật chất chưa đáp ứng được nhu cầu khám, chữa bệnh của bệnh nhân. Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao tuy được đẩy mạnh dưới nhiều hình thức song cơ sở vật chất còn thiếu. Đứng trước những thuận lợi và khó khăn nói trên, dưới sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, Ban Chấp hành lâm thời Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đã khẩn trương kiện toàn và ổn định tổ chức, lãnh đạo nhân dân vượt qua những khó khăn ban đầu, mau chóng ổn định kinh tế xã hội. 2. Chủ trương và và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh nhằm đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH Căn cứ vào tình hình cụ thể của tỉnh, để đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lần thứ XIV (111997) chủ trương: huy động mọi lực lượng, tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức, đưa công cuộc đổi mới phát triển một cách toàn diện và đồng bộ, tăng trưởng kinh tế nhanh, vững chắc và có hiệu quả đi đôi với giải quyết những vấn đề bức xúc về xã hội, tăng cường an ninh quốc phòng, cải thiện một bước mức sống nhân dân, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, nâng cao tích luỹ nội bộ, tạo tiền đề vững chắc cho bước phát triển cao. Nhằm tạo điểu kiện cho việc tăng trưởng của tất cả các ngành nghề và thu hút đầu tư trong tỉnh, Tỉnh uỷ Hưng Yên đã chủ động ban hành Nghị quyết số 04 ANQTU về phát triển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp; Nghị quyết số 03NQTU ngày 2061998 về đẩy mạnh hợp tác đầu tư trên địa bàn tỉnh Hưng Yên. Đây là những quyết định hợp lý, kịp thời phát huy nội lực, thu hút ngoại lực để phát triển kinh tế địa phương. Trong Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm đầu thế kỷ XXI của Đảng, Đại hội lần thứ XV Đảng bộ tỉnh Hưng Yên (2001) xác định: Cần phát huy mọi nguồn lực, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhằm xây dựng Hưng Yên giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đảng bộ tỉnh chủ trương xây dựng, phát triển đồng bộ và lành mạnh hóa thị trường. Đổi mới cơ chế thu hút các nguồn vốn đầu tư và cơ cấu đầu tư. Ra sức khai thác, phát huy nội lực và tranh thủ nguồn lực từ bên ngoài để thu hút các nguồn vốn đầu tư; kết hợp nội lực và ngoại lực thành nguồn lực tổng hợp. Tiếp tục đổi mới cơ cấu đầu tư, tăng tỷ trọng đầu tư và thúc đẩy nhanh hơn công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn. Ưu tiên đầu tư cho các vùng kinh tế có khả năng phát triển nhanh như thị xã, đô thị Phố Nối, các khu công nghiệp, các thị trấn, huyện lỵ, để tạo động lực thúc đẩy kinh tế của tỉnh phát triển; chú ý đến đầu tư hỗ trợ các xã khó khăn, vùng có khó khăn để vươn lên. Khuyến khích và tạo điều kiện để các nhà đầu tư nước ngoài, tỉnh ngoài đầu tư kinh doanh vào Hưng Yên. Trong chiến lược phát triển đất nước đến năm 2010, nhằm tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong nông nghiệp, phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lần thứ XVI (122005) xác định: Huy động tối đa các nguồn lực để tập trung cho đầu tư phát triển, huy động vốn đầu tư. Tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, hỗ trợ vùng khó khăn, lĩnh vực cần quan tâm như: xử lý chất thải, môi trường, phát triển văn hoá du lịch... Đẩy nhanh tiến độ công nghiệp hoá hiện đại hoá, chủ động tích cực hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển kinh tế thị trường. Phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trước hết là công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn; quan tâm đào tạo và thu hút nhân tài, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, cán bộ khoa học kỹ thuật và công nhân lành nghề. Tích cực chủ động hội nhập kinh tế quốc tế bằng các giải pháp cụ thể. Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý đảm bảo đưa nền kinh tế tăng trưởng nhanh, bền vững. Chuyển dần lao động nông nghiệp sang công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ; tăng năng suất lao động, đạt hiệu quả kinh tế cao. Nhằm nâng cao chất lượng phát triển kinh tế xã hội, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lần thứ XVII (2010), chỉ rõ: Nhiệm vụ cấp thiết là đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hoá, phát triển nhanh và bền vững gắn với tập trung xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với xây dựng nông thôn mới. Xây dựng nông thôn mới theo hướng văn minh, giầu đẹp, kinh tế phát triển, kết cấu hạ tầng kinh tếxã hội đồng bộ, hiện đại; giữ gìn, phát huy các giá trị văn hoá truyền thống và các ngành nghề truyền thống ở từng địa phương. Phát triển nhanh công nghiệp theo hướng hiện đại, thích ứng và hội nhập nhanh với nền kinh tế quốc tế. Tập trung phát triển công nghiệp theo hướng ưu tiên mạnh những ngành, sản phẩm có nhiều lợi thế, có ý nghĩa chiến lược, hiệu quả và bền vững. Tiếp tục rà soát hoàn chỉnh quy hoạch phát triển công nghiệp; bổ sung cơ chế kịp thời, tạo sự hấp dẫn hơn nữa đối với các nhà đầu tư; ưu tiên các dự án lớn, có sản phẩm và sức cạnh tranh cao, có hàm lượng công nghệ tiên tiến và đóng góp nguồn thu nhiều cho ngân sách, sử dụng nguyên liệu và lao động tại chỗ, thân thiện với môi trường. Phát huy lợi thế, phát triển mạnh các loại hình dịch vụ, khuyến khích và tạo cơ chế hấp dẫn để phát triển các loại hình dịch vụ nhà ở công cùng với dịch vụ vui chơi giải trí, văn hoá, thể thao cho người lao động ở các khu công nghiệp tập trung; ưu tiên phát triển dịch vụ phụ trợ, phục vụ phát triển công nghiệp. Để thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các giải pháp, cải thiện môi trường đầu tư, bổ sung cơ chế, chính sách tạo sự hấp dẫn thu hút các nhà đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh, Đại hội lần thứ XVIII của Đảng bộ Hưng Yên (112015), chỉ đạo tập trung thu hút đầu tư, phát huy hiệu quả các khu, cụm công nghiệp tạo nền tảng cho công nghiệp hóa hiện đại hóa; rà soát, bổ sung các quy hoạch phát triển công nghiệp, cụm công nghiệp, công nghiệp phụ trợ để thực hiện các nội dung định hướng tái cơ cấu ngành sản xuất, phát huy tối đa lợi thế, gắn kết giữa sản xuất với tiêu thụ sản phẩm và phát triển bền vững. Có cơ chế, chính sách tạo vốn, huy động cao các nguồn lực cho đầu tư hạ tầng, phát triển các khu, cụm công nghiệp; đặc biệt ưu tiên phát triển các khu, cụm công nghiệp lớn để thu hút các dự án công nghiệp công nghệ cao, tiên tiến, hiện đại, công nghiệp sạch... có giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường, tăng thu ngân sách, tập trung. 3. Những thành tựu quá trình phát triển kinh tế, văn hóa xã hội của tỉnh Hưng Yên Trải qua 75 năm thành lập và phát triển, Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đã không ngừng trưởng thành và lớn mạnh. Từ Chi bộ Cộng sản đầu tiên (Chi bộ Sài Thị) Khoái Châu, đến nay toàn Đảng bộ đã có hàng vạn đảng viên. Đảng bộ đã lãnh đạo nhân dân chuyển sang cơ chế mới, thực hiện kinh tế thị trường và sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng đa dạng hoá sở hữu, tạo ra một bước chuyển căn bản trên chặng đường đổi mới. Từ một tỉnh nông nghiệp, tình trạng thiếu lương thực trầm trọng và phổ biến, công nghiệp kém phát triển, ngày nay Hưng Yên đã trở thành vùng quê trù phú với cơ cấu kinh tế hợp lý, phát huy cao độ tiềm năng, nguồn lực của địa phương, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội không ngừng được đầu tư nâng cấp, có những cơ sở công thương nghiệp dịch vụ đáng kể, là một tỉnh có tốc độ tăng trưởng cao, thu hút được sự hợp tác đầu tư của các thành phần kinh tế. Thắng lợi đầu tiên mang tính quyết định và có ý nghĩa quan trọng trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá là kinh tế Hưng Yên phát triển với tốc độ cao và khá ổn định.Tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm trên 12,%năm những năm (19972000), 12,8% những năm đầu thế kỷ XXI (2001 – 2005); 11,7% những năm (2005 – 2010). Bước vào những năm 2011 – 2015, mặc dù suy thoái kinh tế toàn cầu, kinh tế đất nước tăng trưởng chững lại song tăng trưởng kinh tế của tỉnh Hưng Yên vẫn đạt 7,8%. Thu ngân sách của tỉnh tăng từ dưới 1.00 tỷ đồng trước khi tách tỉnh lên 3.000 tỷ đồng năm 2010 và 8.000 tỷ đồng năm 2015, vượt kế hoạch Trung ương giao và vượt chỉ tiêu hằng năm. Thu nhập bình quân trên đầu người tăng từ 160 USD năm 1996 lên 20 triệu đồng năm 2010 và 40 triệu đồng năm 2015. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, theo hướng tăng tỷ lệ ngành công nghiệp, thương mại – dịch vụ và giảm ngành tỷ trọng ngành nông nghiệp.Cơ cấu công nghiệp chuyển dịch tích cực. Các khu công nghiệp hoạt động hiệu quả, tỷ lệ lấp đầy đạt khá, đóng góp nhiều vào nguồn thu ngoại tệ qua các hoạt động xuất khẩu hàng hóa như khu công nghiệp Thăng Long II, khu công nghiệp Phố Nối A… Đến năm 2015, toàn tỉnh có 1.225 dự án với tổng số vốn đầu tư đăng ký tương đương là 7,1 tỷ USD. Cơ cấu nông nghiệp có chuyển dịch tích cực, thu nhập trên 1ha canh tác đạt trên 150 triệu đồng. Sau 4 năm thực hiện xây dựng nông thôn mới, tổng nguồn vốn đã huy động đạt gần 40 nghìn tỷ đồng, hết năm 2015 bình quân toàn tỉnh đạt 14,7 tiêu chíxã, 18 xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới. Cùng với những kết quả tích cực trong phát triển kinh tế, văn hoá xã hội của tỉnh cúng có nhiều mặt tiến bộ. Sự nghiệp giáo dục đào tạo tiếp tục phát triển, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài. Đến năm 2015, toàn tỉnh có 157 trường đạt chuẩn quốc gia, tăng 75 trường so với năm 2005. Hưng Yên là tỉnh thứ 6 đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, là tỉnh thứ 7 đạt chuẩn giáo dục tiểu học mức độ II. Tỉnh đã triển khai tích cực y tế dự phòng, hạn chế và dập tắt kịp thời các dịch bệnh, không để dịch bênh lớn xảy ra trên địa bàn; đầu tư mua sắm nhiều thiết bị vật tư y tế hiện đại. Trên địa bàn tỉnh, thành lập mới nhiều bệnh viện chuyên khoa cấp tỉnh, trung tâm y tế tuyến huyện, xã được đầu tư, mở rộng hoặc xây mới. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” từng bước đi vào chiều sâu. Tổ chức tốt các hoạt động nhân dịp lễ kỷ niệm các ngày lễ lớn, trong đó có lễ kỷ niệm 180 năm thành lập tỉnh Hưng Yên và Lễ kỷ niệm cấp quốc gia 100 năm ngày sinh Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh.Công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được chú trọng, trong đó Khu di tích Phố Hiến được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt. Bên cạnh những kết quả đạt được, kinh tế xã hội của tỉnh còn nhiều hạn chế. Mặc dù nằm trong tam giác kinh tế phát triển Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh nhưng Hưng Yên chưa khai thác và tận dụng triệt để lợi thế để phát triển: Một số chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế xã hội chưa đạt mục tiêu đề ra.Sản xuất nông nghiệp quy mô còn nhỏ, tiến độ xây dựng hạ tầng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp còn chậm. Một số dự án trọng điểm không đạt tiến độ. Chất lượng đào tạo, nhất là đào tạo nghề chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển. Việc triển khai học tập, quán triệt thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Đảng ở một số địa phương chất lượng chưa cao. Công tác phát triển đảng viên ở khu vực nông thôn, doanh nghiệp ngoài nhà nước còn hạn chế. Còn hiện tượng nhũng nhiễu, gây bức xúc cho doanh nghiệp và người dân. Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí kết quả chưa cao. Trong những năm tới, để xây dựng tỉnh Hưng Yên sớm trở thành một tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại hóa, Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh phải khai thác triệt để động lực của tam giác kinh tế Bắc Bộ; đổi mới tư duy trong thu hút đầu tư trong nuớc và nước ngoài theo hướng tập trung xây dựng các khu công nghiệp lớn với kết cấu hạ tầng, hiện đại, sử dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất; chuyển đổi mạnh mẽ cơ cấu kinh tế nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới hiện đại, đồng bộ, trong đó chú trọng sản xuất nông nghiệp hàng hóa và đưa công nghệ sạch vào sản xuất nông nghiệp nhằm tăng giá trị nông sản hàng hóa và bảo vệ môi trường, xây dựng nông thôn phát triển bền vững; tăng cường chất lượng xây dựng văn hóa và con người Hưng Yên; đẩy mạnh công tác bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh; xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh và Đảng bộ trong sạch, vững đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập quốc tế.
Xem thêm

11 Đọc thêm

TIỂU LUẬN CAO HỌC, HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH ĐỂ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

TIỂU LUẬN CAO HỌC, HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH ĐỂ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Sau gần ba mươi năm thực hiện đường lối đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta đã có những chuyển biến rõ rệt. Tuy nhiên những kết quả đạt được vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của đất nước, nông nghiệp phát triển còn manh múm, kém bền vững, sức cạnh tranh thấp, chuyển giao khoa học, công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực nông nghiệp còn hạn chế. Trong xu thế phát triển hiện nay, không thể có một nước công nghiệp mà nông nghiệp, nông thôn còn lạc hậu và đời sống nông dân còn thấp. Vì vậy, xây dựng nông thôn mới được Đảng và Nhà nước ta xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới nhằm mục đích nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn; Nâng cao dân trí, đào tạo nông dân có trình độ sản xuất cao, có nhận thức chính trị đúng đắn; Xây dựng nền nông nghiệp phát triển bền vững theo hướng hiện đại; Nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả trong sản xuất; Sản phẩm nông nghiệp có sức cạnh tranh cao... Để thực hiện được mục đích này cần phải huy động một lượng vốn không nhỏ, nhưng trong điều kiện hiện nay thì đây thực sự là bài toán không dễ tìm ra lời giải. Các giải pháp chủ yếu để huy động vốn thực hiện chương trình nông thôn mới là chung, tuy nhiên ở mỗi địa phương lại có sự vận dụng bằng những cách khác nhau dẫn đến thành công của mỗi địa phương cũng ở mức độ khác nhau. Cùng với các địa phương cả nước trên địa bàn huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc đã và đang trong giai đoạn triển khai chương trình. Một trong những khó khăn lớn mà địa phương gặp phải đó chính là thiếu vốn để thực hiện chương trình. Đây cũng chính là nguyên nhân chính làm giảm tiến độ triển khai chương trình của huyện trong những năm qua. Với ý nghĩa trên, em đã chọn đề tài “Huy động nguồn lực tài chính để xây dựng nông thôn mới ở huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài tiểu luận môn Phương pháp luận nghiên cứu khoa học.
Xem thêm

Đọc thêm

TÀI LIỆU THAM KHẢO VAI TRÒ CỦA hệ THỐNG CHÍNH TRỊ cơ sở TRONG xây DỰNG NÔNG THÔN mới ở BÌNH DƯƠNG HIỆN NAY

TÀI LIỆU THAM KHẢO VAI TRÒ CỦA hệ THỐNG CHÍNH TRỊ cơ sở TRONG xây DỰNG NÔNG THÔN mới ở BÌNH DƯƠNG HIỆN NAY

Với đặc thù từ một nước nông nghiệp lạc hậu quá độ lên CNXH, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn đặc biệt quan tâm đến vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Nghị quyết Trung ương 7 khóa X khẳng định: “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá xây dựng và bảo vệ Tổ quốc 18, tr.123. Một trong những nhiệm vụ trọng tâm, cốt lõi nhất trong giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn hiện nay là xây dựng nông thôn mới. Đây là nhiệm vụ chính trị có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong xây dựng và phát triển giai cấp nông dân, góp phần củng cố vững chắc khối liên minh công – nông – trí trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Xem thêm

Đọc thêm

tiểu luận cao học Thực trạng việc thực thi chinh sách về xây dựng kinh tế nông thôn mới giai đoạn 2010 2012 trên địa bàn thành phố việt trì

tiểu luận cao học Thực trạng việc thực thi chinh sách về xây dựng kinh tế nông thôn mới giai đoạn 2010 2012 trên địa bàn thành phố việt trì

MỞ ĐẦU1. Tính cấp thiết của đề tài.Thành phố Việt Trì – trung tâm chính trị, hành chính và kinh tế, xã hội của tỉnh Phú Thọ và trung tâm của liên tỉnh phía Bắc. Thành phố Việt Trì còn là một trong những đô thị có nhiều tiềm năng về du lịch, là cửa ngõ giao lưu kinh tế văn hóa giữa những vùng châu thổ sông Hồng và vùng miền núi phía Tây Bắc, giữa thủ đô Hà Nội và vùng Tây Bắc Việt Nam. Gần 50 năm xây dựng và phát triển, thành phố Việt Trì đã có những bước phát triển khá cả về chất và lượng. Những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng kinh tế của thành phố Việt Trì đã có những bước phát triển tương đối mạnh, đồng đều tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 13,6% , thể hiện rõ vai trò của đô thị trung tâm. Tuy nhiên, khu vực nông nghiệp của thành phố vẫn còn nhiều hạn chế: nông nghiệp phát triển kém bền vững, sức cạnh tranh thấp, chuyển giao khoa học công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế, nông nghiệp nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng như giao thông thủy lợi, trường học, trạm y tế, cấp nước... còn kém, môi trường ô nhiễm, đời sống vật chất và tinh thần của người nông dân còn hạn chế, thu nhập thấp, chênh lệch giàu nghèo giữa khu vực thành thị và nông thôn thành phố gây ra những vẫn đề bức xúc. Do đó, để phấn đấu trở thành một trong mười một đô thị lớn nhất được Thủ tướng Chính phủ cho phép đầu tư và thực sự trở thành Thành phố du lịch lễ hội về với cội nguồn của dân tộc Việt Nam, thành phố phải nỗ lực phấn đấu. phát huy nội lực, tranh thủ sự giúp đỡ của tỉnh, của Trung ương và các tổ chức để xây dựng và phát triển nhanh, mạnh trong thời gian tới. Với mục đích phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người nông dân, Hội nghị lần thứ bảy khóa X, Ban chấp hành Trung Ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra nghị quyết về nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Để thực hiện Nghị quyết của Trung Ương, Chính phủ đã xây dựng Chương trình hành động nhằm mục tiêu: xây dựng nền nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, tập trung đào tạo nguồn nhân lực ở nông thôn, nâng cao thu nhập của người dân, nâng cao chất lượng vật chất và tinh thần của dân cư nông thôn, hoàn thiện đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, xây dựng nông thôn mới bền vững theo hướng văn minh, giàu đẹp, bảo vệ môi trường sinh thái, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, nâng cao năng lực phòng chống giảm nhẹ thiên tai, thích ứng và đối phó với biến đổi khí hậu. Trên cơ sở Nghị quyết và chương trình hành động của Chính phủ,Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ và thành phố Việt Trì đã tổ chức học tập, quán triệt quan điểm của Nghị quyết hội nghị lần thứ bảy, Ban chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, và lên kế hoạch triển khai những chính sách của Đảng và Nhà nước và chương trình hành động của Chính Phủ thực hiện nghị quyết hội nghị lần thứ bảy khóa X của Ban chấp hành trung ương Đảng. Những chính sách hỗ trợ nông nghiệp, nông thôn, nông dân được thực hiện ở thành phố Việt Trì giai đoạn 20102012, mà nếu được triển khai, thực thi một cách đúng đắn, bám sát tình hình thực tiễn, sẽ đạt được mục tiêu tổng quát theo tinh thần của Nghị quyết hội nghị lần thứ bảy khóa X của Ban chấp hành Trung ương Đảng : không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân nông thôn, xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và có sức cạnh tranh cao, xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội hiện đại, xã hội nông thôn ổn định, xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh của giai cấp công nhân nông dân trí thức vững mạnh, tạo nền tảng kinh tế xã hội và chính trị vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.Từ đó, tôi quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Thực trạng việc thực thi chính sách về xây dựng kinh tế nông thôn mới giai đoạn 20102012 trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ”.
Xem thêm

Đọc thêm

NGHỊ QUYẾT đại hội đoàn TOÀN TỈNH lần THỨ XII NHIỆM kỳ 2012 – 2017

NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐOÀN TOÀN TỈNH LẦN THỨ XII NHIỆM KỲ 2012 – 2017

Câu 1: Bạn hãy cho biết mục tiêu, phương hướng công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi tỉnh Bình Định nhiệm kỳ 2012 2017? Trả lời: a. Mục tiêu Xây dựng thế hệ thanh niên Bình Định giàu lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, hiểu biết lịch sử, truyền thống quê hương, đất nước; sống chấp hành pháp luật, trách nhiệm, vì cộng đồng; có năng lực, bản lĩnh trong hội nhập quốc tế, có tri thức, sức khoẻ, kỹ năng và tác phong công nghiệp; nâng cao chất lượng tổ chức Đoàn, mở rộng mặt trận tập hợp, đoàn kết thanh niên; hỗ trợ và phát huy tinh thần xung kích, sáng tạo của thanh niên trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, góp phần xây dựng quê hương Bình Định ngày càng giàu đẹp. b. Phương hướng Tập trung giáo dục chủ nghĩa Mác Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; lý tưởng, đạo đức cách mạng, truyền thống lịch sử dân tộc; xây dựng chuẩn mực về đạo đức, lối sống và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho thanh thiếu nhi. Khai thác tiềm năng, cổ vũ và phát huy mạnh mẽ tinh thần xung kích, sáng tạo của thanh niên trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, xây dựng quê hương Bình Định ngày càng giàu đẹp, chung sức bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Huy động các nguồn lực xã hội chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của thanh niên; xây dựng môi trường tích cực hỗ trợ thanh niên học tập, rèn luyện, lập thân, lập nghiệp; quan tâm giúp đỡ các đối tượng thanh thiếu niên yếu thế, thanh thiếu niên vùng khó khăn có cơ hội phát triển. Xây dựng tổ chức Đoàn vững mạnh toàn diện, bảo đảm vai trò nòng cốt chính trị trong tổ chức và hoạt động của Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Hội Sinh viên Việt Nam của tỉnh; nâng cao chất chính trị của đoàn viên, mở rộng mặt trận tập hợp, đoàn kết thanh niên; tích cực tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng và phát huy tính chủ động của đội ngũ cán bộ Đoàn. Nêu cao trách nhiệm chăm sóc, giáo dục thiếu niên, nhi đồng và phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh; đổi mới nội dung, phương thức hoạt động phù hợp với từng độ tuổi. Đẩy mạnh các hoạt động giao lưu thanh niên quốc tế, kết nối thanh niên người Bình Định ở ngoài tỉnh chung tay xây dựng quê hương.
Xem thêm

5 Đọc thêm

HỘI NÔNG DÂN TỈNH THANH HOÁ 1986 2014

HỘI NÔNG DÂN TỈNH THANH HOÁ 1986 2014

1. Lí do chọn đề tài Nước ta là một nước nông nghiệp, nông dân chiếm đại đa số trong dân tộc, nông dân là lực lượng sản xuất chính tạo ra của cải vật chất để nuôi sống toàn bộ xã hội. Đồng thời, nông dân Việt Nam vốn có truyền thống yêu nước cách mạng và có sức mạnh vĩ đại trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhất là từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, có đường lối cách mạng và đường lối nông vận đúng đắn, khoa học đã phát huy được sức mạnh của nông dân. Đặc biệt, cũng từ năm 1930 Đảng đã tổ chức một đoàn thể chính trị riêng của nông dân để tổ chức đấu tranh cho nông dân, từ đó phong trào của nông dân chuyển từ đấu tranh “tự phát” sang “tự giác” đạt được những thắng lợi rất to lớn. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Hội Nông dân vận động, tổ chức nông dân cách mạng đã thu được từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nông dân cùng với công nhân là lực lượng cơ bản, nòng cốt trong lực lượng cách mạng Việt Nam. Trong Mặt trận dân tộc thống nhất, nông dân liên minh với công nhân và trí thức cách mạng là cơ sở vững chắc của khối đoàn kết dân tộc giải quyết các nhiệm vụ cách mạng. Xuất phát từ vai trò, sức mạnh của giai cấp nông dân Việt Nam, Luận cương chính trị tháng 10 năm 1930 của Đảng ta đã khẳng định: “ …Trong cuộc cách mạng tư sản dân quyền , vô sản giai cấp và nông dân là hai lực lượng chính” “Dân cày là hạng người chiếm đại đa số ở Đông Dương (hơn 90%), họ là một động lực mạnh cho cách mạng tư sản dân quyền”, “ Vấn đề thổ địa là cái cốt của cách mạng tư sản dân quyền , vô sản giai cấp có đứng đầu và cùng với quần chúng dân cày mà tranh đấu để bênh vực quyền lợi hằng ngày cho dân cày và để thực hành thổ địa cách mạng cho triệt để thì mới có thể giành quyền lãnh đạo dân cày được ”, 75, tr.19 Với cơ cấu chiếm hơn 70% dân số, nông dân nước ta hiện vẫn là lực lượng xã hội đông đảo nhất và có vai trò rất quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, cho phát triển kinh tế xã hội đất nước và xây dựng nông thôn mới. Việc nhận thức đúng đắn vai trò của nông dân nước ta hiện nay, một mặt, là cơ sở để tiếp tục động viên, khuyến khích nông dân tích cực tham gia các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; mặt khác, là căn cứ để có những giải pháp nhằm tiếp tục phát huy tốt vai trò sức mạnh đó, góp phần đưa cách mạng nước ta nhanh chóng đạt tới mục tiêu đã đề ra. Chính vì vậy, khi nghiên cứu lịch sử dân tộc Việt Nam chúng ta không thể không nghiên cứu nông dân và Hội Nông dân Việt Nam. Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa là một bộ phận của Hội Nông dân cả nước, bên cạnh những đặc điểm chung của Hội Nông dân cả nước, Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa mang những đặc điểm riêng. Giống như nông dân toàn quốc, nông dân và Hội Nông dân Thanh Hóa cũng có vị trí, vai trò quan trọng trong sự nghiệp cách mạng đối với cả nước và đối với địa phương. Chính vì thế, nghiên cứu về vấn đề Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa không những giúp chúng ta hiểu sâu sắc Hội Nông dân và phong trào nông dân Thanh Hóa mà còn hiểu sâu sắc hơn Hội Nông dân toàn quốc. Đồng thời, chúng ta có nhận thức đúng đắn về vai trò của tổ chức Hội Nông dân trong Mặt trận dân tộc thống nhất, hiểu rõ vai trò của giai cấp nông dân đối với phong trào giải phóng dân tộc. Từ năm 1986 đến nay đất nước ta đang trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế thế giới, nền kinh tế xã hội nước ta nói chung và kinh tế nông nghiệp, nông thôn nói riêng đã và đang thu được những thành quả quan trọng. Tuy nhiên, chúng ta cũng đứng trước những khó khăn, thách thức to lớn hơn trước. Đặc biệt, trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội nước ta, nâng cao đời sống nhân dân, bảo vệ Tổ quốc hiện nay còn nhiều vướng mắc, khó khăn, tồn tại, đặc biệt là vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn đang có những vấn đề bất cập đặt ra đòi hỏi chúng ta phải giải quyết. Chính vì vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam hiện nay đã rất quan tâm giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn, xây dựng nông thôn mới để thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế xã hội của đất nước. Kết quả nghiên cứu của Luận văn còn đóng góp một số tư liệu mới sưu tập được phục vụ cho công tác giảng dạy, học tập, nghiên cứu, biên soạn lịch sử trong các nhà trường và công tác giáo dục truyền thống của Hội Nông dân, cho giai cấp nông dân, thế hệ trẻ, nhân dân Thanh Hoá và nhiều tỉnh khác. Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2014 có ý nghĩa khoa học, ý nghĩa về thực tiễn sâu sắc, thiết thực. Xuất phát từ những lý do đó, chúng tôi đã chọn vấn đề: “Hội Nông dân tỉnh Thanh Hoá 1986 2014” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ khoa học lịch sử của mình.
Xem thêm

143 Đọc thêm

tiểu luận cao học Phát triển hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn huyện thái thụy, tỉn

tiểu luận cao học Phát triển hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn huyện thái thụy, tỉn

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Đề tài có tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn: Về lý luận, hợp tác xã (HTX) là một tổ chức kinh tế vừa có ý nghĩa kinh tế vừa mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc. Có thể nói, ý tưởng HTX là một ý tưởng hợp tác kinh tế vĩ đại của các bậc tiền bối. Ý tưởng này đã hình thành một cách tự nhiên từ những đòi hỏi, nhu cầu thực tế của con người trong hoạt động kinh tế. Những lý luận về kinh tế hợp tác mà nòng cốt là hợp tác xã đã được Mác, Ăngghen, LêNin nghiên cứu và đi vào hoạt động thực tiễn của nước Nga. Dựa trên cơ sở lý luận đó cùng với việc hiểu được vị trí, vai trò, ý nghĩa của “Kinh tế Nhà nước cùng với kinh tế tập thể trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế”. Khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, chuyển nền kinh tế sang hoạt động theo cơ chế thị trường, HTX cũng được đổi mới cả về nội dung, hình thức hoạt động, biểu hiện cụ thể ở việc ban hành Luật HTX (năm 1996). Tuy nhiên, trong thực tế hoạt động theo mô hình HTX kiểu mới của các HTX nông nghiệp vấp phải rất nhiều khó khăn làm cho hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp. Tổng kết 5 năm thực hiện chuyển đổi HTX theo Luật HTX (1996), Hội nghị Trung ương 5 khóa IX (32002) đã ra Nghị quyết về: Tiếp tục đổi mới phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể, trong đó nhấn mạnh Nhà nước phải tạo điều kiện thuận lợi cho HTX nông nghiệp phát triển. Trên cơ sở Nghị quyết của Đảng và thực tiễn hoạt động của HTX kiểu mới, kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XI (ngày 26112003) đã thông qua Luật HTX mới (Luật HTX năm 2003 có hiệu lực thi hành từ ngày 172004). Về thực tiễn, sau 7 năm hoạt động theo tinh thần của Luật HTX mới 2003, các HTX đã có những bước phát triển nhưng chưa đều, chưa thực sự đi sâu, đi sát vào đời sống của người lao động nhất là các hợp tác xã nông nghiệp (HTX NN) ở các địa phương. Điều đó cho thấy, để phát triển HTX, trong đó có HTXNN, cần tiếp tục nghiên cứu, đổi mới chính sách. Huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình – được biết đến là một huyện thuần nông và phát triển kinh tế nông nghiệp có ý nghĩa lớn đối với phát triển kinh tế xã hội của huyện. Để phát triển nông nghiệp thì một yếu tố giữ vai trò quan trọng đó chính là hoạt động của các HTXNN. Từ khi triển khai thực hiện Luật HTX năm 1996 và năm 2003 đến nay, HTX nông nghiệp ở huyện Thái Thụy có bước phát triển mới, đã đáp ứng được một phần nhu cầu của nông dân, của hộ sản xuất kinh doanh nông nghiệp, đóng góp quan trọng vào quá trình phát triển kinh tếxã hội của địa bàn. Tuy nhiên, HTX nông nghiệp ở huyện Thái Thụy cũng còn tồn tại một số yếu kém như: Hầu hết các HTXNN kiểu mới đều thiếu vốn, trong lúc các thủ tục để vay vốn còn nhiều bất cập; cơ sở vật chất, kỹ thuật của các HTXNN vừa thiếu, vừa lạc hậu nên gây nhiều khó khăn trong việc mở rộng hoạt động SXKD; thiếu cán bộ có năng lực quản lý, có tâm huyết và khả năng điều hành các hoạt động; phương hướng kinh doanh không ổn định. Vì vậy, hiệu quả kinh tế của HTX còn thấp, thu nhập của người lao động trong các HTX còn thấp, sức hấp dẫn của các HTXNN chưa cao, HTX nông nghiệp phát triển chưa tương xứng với tiềm năng và vai trò kinh tếxã hội vốn có của nó… Như vậy, sự tồn tại của các HTX nông nghiệp kiểu mới là cần thiết nhất là trong quá trình huyện đang đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) nông nghiệp, nông thôn. Nhưng không phải là sự tồn tại một cách hình thức mà phải thực sự hoạt động có hiệu quả thì người nông dân mới thấy hết được ý nghĩa, vai trò của nó. Vấn đề cơ bản và cấp bách đặt ra đối với huyện Thái Thuy, tỉnh Thái Bình là phải đánh giá đúng tình hình và kết quả hoạt động của các HTX, rút ra những kinh nghiệm và đề ra những giải pháp tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả kinh tế của các HTX nông nghiệp kiểu mới. Đề tài “Phát triển hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình trong giai đoạn hiện nay”, để nhìn lại quá trình hoạt động của HTX DVNN trong những năm qua, rút ra những hạn chế, những bài học thành công. Từ đó, đề ra các giải pháp góp phần thực hiện mục tiêu, các yêu cầu đặt ra đối với hoạt động của một HTX DVNN. Hướng tới mục tiêu CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trong những năm sắp tới của huyện
Xem thêm

Đọc thêm

HỘI NÔNG DÂN TỈNH THANH HOÁ 1986 2014

HỘI NÔNG DÂN TỈNH THANH HOÁ 1986 2014

1. Lí do chọn đề tài Nước ta là một nước nông nghiệp, nông dân chiếm đại đa số trong dân tộc, nông dân là lực lượng sản xuất chính tạo ra của cải vật chất để nuôi sống toàn bộ xã hội. Đồng thời, nông dân Việt Nam vốn có truyền thống yêu nước cách mạng và có sức mạnh vĩ đại trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhất là từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, có đường lối cách mạng và đường lối nông vận đúng đắn, khoa học đã phát huy được sức mạnh của nông dân. Đặc biệt, cũng từ năm 1930 Đảng đã tổ chức một đoàn thể chính trị riêng của nông dân để tổ chức đấu tranh cho nông dân, từ đó phong trào của nông dân chuyển từ đấu tranh “tự phát” sang “tự giác” đạt được những thắng lợi rất to lớn. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Hội Nông dân vận động, tổ chức nông dân cách mạng đã thu được từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nông dân cùng với công nhân là lực lượng cơ bản, nòng cốt trong lực lượng cách mạng Việt Nam. Trong Mặt trận dân tộc thống nhất, nông dân liên minh với công nhân và trí thức cách mạng là cơ sở vững chắc của khối đoàn kết dân tộc giải quyết các nhiệm vụ cách mạng. Xuất phát từ vai trò, sức mạnh của giai cấp nông dân Việt Nam, Luận cương chính trị tháng 10 năm 1930 của Đảng ta đã khẳng định: “ …Trong cuộc cách mạng tư sản dân quyền , vô sản giai cấp và nông dân là hai lực lượng chính” “Dân cày là hạng người chiếm đại đa số ở Đông Dương (hơn 90%), họ là một động lực mạnh cho cách mạng tư sản dân quyền”, “ Vấn đề thổ địa là cái cốt của cách mạng tư sản dân quyền , vô sản giai cấp có đứng đầu và cùng với quần chúng dân cày mà tranh đấu để bênh vực quyền lợi hằng ngày cho dân cày và để thực hành thổ địa cách mạng cho triệt để thì mới có thể giành quyền lãnh đạo dân cày được”75, tr.19. Với cơ cấu chiếm hơn 70% dân số, nông dân nước ta hiện vẫn là lực lượng xã hội đông đảo nhất và có vai trò rất quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, cho phát triển kinh tế xã hội đất nước và xây dựng nông thôn mới. Việc nhận thức đúng đắn vai trò của nông dân nước ta hiện nay, một mặt, là cơ sở để tiếp tục động viên, khuyến khích nông dân tích cực tham gia các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; mặt khác, là căn cứ để có những giải pháp nhằm tiếp tục phát huy tốt vai trò sức mạnh đó, góp phần đưa cách mạng nước ta nhanh chóng đạt tới mục tiêu đã đề ra. Chính vì vậy, khi nghiên cứu lịch sử dân tộc Việt Nam chúng ta không thể không nghiên cứu nông dân và Hội Nông dân Việt Nam. Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa là một bộ phận của Hội Nông dân cả nước, bên cạnh những đặc điểm chung của Hội Nông dân cả nước, Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa mang những đặc điểm riêng. Giống như nông dân toàn quốc, nông dân và Hội Nông dân Thanh Hóa cũng có vị trí, vai trò quan trọng trong sự nghiệp cách mạng đối với cả nước và đối với địa phương. Chính vì thế, nghiên cứu về vấn đề Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa không những giúp chúng ta hiểu sâu sắc Hội Nông dân và phong trào nông dân Thanh Hóa mà còn hiểu sâu sắc hơn Hội Nông dân toàn quốc. Đồng thời, chúng ta có nhận thức đúng đắn về vai trò của tổ chức Hội Nông dân trong Mặt trận dân tộc thống nhất, hiểu rõ vai trò của giai cấp nông dân đối với phong trào giải phóng dân tộc. Từ năm 1986 đến nay đất nước ta đang trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế thế giới, nền kinh tế xã hội nước ta nói chung và kinh tế nông nghiệp, nông thôn nói riêng đã và đang thu được những thành quả quan trọng. Tuy nhiên, chúng ta cũng đứng trước những khó khăn, thách thức to lớn hơn trước. Đặc biệt, trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội nước ta, nâng cao đời sống nhân dân, bảo vệ Tổ quốc hiện nay còn nhiều vướng mắc, khó khăn, tồn tại, đặc biệt là vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn đang có những vấn đề bất cập đặt ra đòi hỏi chúng ta phải giải quyết. Chính vì vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam hiện nay đã rất quan tâm giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn, xây dựng nông thôn mới để thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế xã hội của đất nước. Kết quả nghiên cứu của Luận văn còn đóng góp một số tư liệu mới sưu tập được phục vụ cho công tác giảng dạy, học tập, nghiên cứu, biên soạn lịch sử trong các nhà trường và công tác giáo dục truyền thống của Hội Nông dân, cho giai cấp nông dân, thế hệ trẻ, nhân dân Thanh Hoá và nhiều tỉnh khác. Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2014 có ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, thiết thực. Xuất phát từ những lý do đó, chúng tôi đã chọn vấn đề: “Hội Nông dân tỉnh Thanh Hoá 1986 2014” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ khoa học lịch sử của mình.
Xem thêm

140 Đọc thêm

Giải pháp mở rộng cho vay và hoàn thiện kế toán cho vay hộ sản xuất tại NHNo & PTNT huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên

GIẢI PHÁP MỞ RỘNG CHO VAY VÀ HOÀN THIỆN KẾ TOÁN CHO VAY HỘ SẢN XUẤT TẠI NHNO & PTNT HUYỆN VĂN LÂM TỈNH HƯNG YÊN

Trong công cuộc đổi mới kinh tế hiện nay, Đảng và Nhà nước luôn khẳng định vai trò quan trọng của phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn trong công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước. Đảng ta đã khẳng định: “Sự phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hoá , hiện đại hoá đất nước có vai trò cực kỳ quan trọng cả trước mắt và lâu dài, làm cơ sở để ổn định và phát triển kinh tế xã hội đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng XHCN” (Trích nghị quyết hội nghị TW lần 6 khoá VIII của Đảng cộng sản Việt Nam) Việt Nam sau hơn 15 năm đổi mới kinh tế nông nghiệp nông thôn có nhiều khởi sắc, đời sống nhân dân ngày càng được hoàn thiện. Tuy nhiên để đẩy mạnh hơn nữa phát triển sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn là vấn đề hết sức quan trọng . Nó phải được xem xét thực thi có hiệu quả tất cả các ngành từ TW đến địa phương đặc biệt là vấn đề vốn phục vụ phát triển. Như chúng ta đã biết nguồn vốn tín dụng chủ yếu là do Ngân hàng đảm nhiệm, bằng các hình thức huy động Ngân hàng đã tập trung về tay mình một lượng vốn để phục vụ phát triển thông qua hoạt động cho vay. Vì 80% nghiệp vụ hoạt động của Ngân hàng là hoạt động cho vay. Chính vì vậy việc mở rộng cho vay và hoàn thiện cho vay hộ sản xuất là vấn đề hết sức quan trọng. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề em đã chọn đề tài. “Giải pháp mở rộng cho vay và hoàn thiện kế toán cho vay hộ sản xuất tại NHNo & PTNT huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên”. Là một sinh viên qua quá trình học tập ở trường và nghiên cứu thực tế tại chi nhánh NHNo&PTNT huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên. Với khả năng còn nhiều hạn chế kinh nghiệp chưa có, thời gian thực tập ngắn, phạm vi nghiên cứu hẹp nên bài luận văn của em không tránh khỏi những sai sót. Em rất mong được sự giúp đỡ của thầy cô và các cô chú NHNo&PTNT huyện Văn Lâm để bài luận văn của em được hoàn chỉnh hơn. Luận văn của em ngoài phần mở đầu và phần kết luận được kết cấu thành 3 chương. Chương I: Lý luận cơ bản về tín dụng và kế toán cho vay hộ sản xuất tại NHTM. Chương II: Thực trạng kế toán cho vay và kế toán cho vay hộ sản xuất tại NHNo&PTNT huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên. Chương III: Giải pháp nhằm mở rộng cho vay và hoàn thiện kế toán cho vay tại NHNo&PTNT huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên. Em xin chân thành cảm ơn.
Xem thêm

75 Đọc thêm

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ TÁC ĐỘNG CỦA NHÀ NƯỚC TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN LÊN SẢN XUẤT HÀNG HÓA Ở TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ TÁC ĐỘNG CỦA NHÀ NƯỚC TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN LÊN SẢN XUẤT HÀNG HÓA Ở TỈNH THÁI NGUYÊN

Trong thời gian vừa qua, dưới tác động của cơ chế quản lý kinh tế mới sản xuất nông nghiệp nước ta đã có những tiến bộ vượt bậc. Kinh tế hộ nông dân (KTHND) đang ngày càng giữ vai trò chính trong việc phát triển kinh tế xã hội (KTXH) nông thôn và là một trong những tiền đề quan trọng đưa đất nước ta chuyển sang một thời kỳ phát triển mới thời kỳ đẩy tới một bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước

204 Đọc thêm

HOẠT ĐỘNG CHO VAY HỘ NÔNG DÂN TAỊ NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HUYỆN QUAN SƠN, TỈNH THANH HÓA

HOẠT ĐỘNG CHO VAY HỘ NÔNG DÂN TAỊ NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HUYỆN QUAN SƠN, TỈNH THANH HÓA

Khóa luận tốt nghiệpGVHD: PGS.TS. Mai Văn XuânBa là, kinh tế HND nhờ có quy mô nhỏ bé nên dễ dàng thích ứng với cơ chế thịtrường, tạo điều kiện mở rộng thị trường vốn, thu hút nhiều nguồn đầu tư. Hơn nữa dotính độc lập tự chủ trong SXKD người nông dân ngày càng biết tính toán sao cho sửuếdụng đất đai, tiền vốn và lao động có hiệu quả nhất. Chính nhờ cơ chế thị trường đãgiúp cho HND lựa chọn được quy mô, hình thức tổ chức sản xuất, biết lựa chọn thờitếHgian và địa điểm mua bán hợp lý sao cho mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất.Bốn là, kinh tế HND góp phần khôi phục và phát triển các ngành nghề truyềnthống và các ngành nghề mới nông thôn góp phần giải quyết việc làm, giải quyếtcho xã hội, tăng thêm thu nhập cho người dân.hthời gian nhàn rỗi nông thôn, bảo tồn các nghề truyền thống đồng thời tạo ra của cảiin
Xem thêm

75 Đọc thêm

Quan điểm của đảng về phát triển kinh tế nước ta thời kỳ trước đổi mới (1975 1986)

Quan điểm của đảng về phát triển kinh tế nước ta thời kỳ trước đổi mới (1975 1986)

. Quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế nước ta thời kỳ trước đổi mới (19751986). 1. Công nghiệp hóa. 1.1. Hoàn cảnh. Nước ta là một nước nông nghiệp lạc hậu, kém phát triển. Kinh tế gặp nhiều khó khăn do chiến tranh : Sản xuất nông – công nghiệp đình đốn; lưu thông, phân phối ách tắc; lạm phát lên đến ba con số. Đời sống của tầng lớp nhân dân vô cùng sa sút. Ở nông thôn, có tới hàng triệu gia đình nông dân thiếu ăn. Ở thành thị, lương tháng công nhân, viên chức chỉ đủ sống 10 – 15 ngày. => Đất nước rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội trầm trọng. 1.2. Tính tất yếu của việc tiến hành công nghiệp hóa. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là vấn đề có tính quy luật đối với tất cả các nước đi lên XHCN, từ nền kinh tế lạc hậu, bỏ qua chế độ TBCN Tính quy luật đó do các cơ sở khách quan sau đây quy định : + Nhằm xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của CNXH. + Do các yêu cầu về nhiều mặt khác của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN đòi hỏi phải tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa tạo ra cơ sở vật chất – kỹ thuật cho thực hiện thành công các mặt đó. + Do tác dụng có tính cách mạng của công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên những mặt cơ bản để nâng cao năng suất lao động, tăng trưởng kinh tế, tăng
Xem thêm

Đọc thêm

MỘT SỐ GIẢI PHÁP TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN BỊ THU HỒI ĐẤT DO TÁC ĐỘNG CỦA ĐÔ THỊ HÓA Ở NGOẠI THÀNH HÀ NỘI

MỘT SỐ GIẢI PHÁP TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN BỊ THU HỒI ĐẤT DO TÁC ĐỘNG CỦA ĐÔ THỊ HÓA Ở NGOẠI THÀNH HÀ NỘI

Đô thị hóa là xu hướng phát triển tất yếu của các quốc gia trên thế giới. Qúa trình đô thị hóa có tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống kinh tếxã hội, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế quốc gia. Song song với những lợi ích không nhỏ đã đạt được, quá trình đô thị hóa cũng làm nảy sinh nhiều bức xúc, trong đó có vấn đề người dân bị thu hồi đất, rơi vào tình trạng bị mất việc làm. Là một nước đang phát triển, Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật trên. Hiện nay, quá trình hiện đại hóa và đô thị hóa đang được đẩy mạnh nên vấn đề nông dân bị thu hồi đất, vấn đề tạo việc làm mới cho những nông dân này vẫn luôn là mối quan tâm của Đảng, Nhà nước và của mọi người dân trong xã hội. Thực tế cho thấy Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều cố gắng tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất bằng các hoạt động cụ thể như ban hành cơ chế, chính sách khuyến khích tạo việc làm, hỗ trợ vốn, đề ra các chương trình quốc gia giải quyết việc làm…Việc thực hiện tốt các chương trình này đã góp phần tích cực giải quyết việc làm cho người lao động. Tuy nhiên, hiện nay, nhu cầu việc làm ngày càng tăng, do đó vấn đề tạo việc làm cho người lao động nói chung và người lao động bị ảnh hưởng trong quá trình đô thị hóa nói riêng đang là một vấn đề nhạy cảm và rất được quan tâm. Với mục tiêu đề xuất các giải pháp về lao động và việc làm cho những người nông dân bị thu hồi đất do quá trình đô thị hóa ở ngoại thành Hà Nội nhằm nâng cao đời sống và thu nhập cho người dân tôi đã chọn đề tài: “Một số giải pháp tạo việc làm cho người lao động nông nghiệp nông thôn bị thu hồi đất do tác động của đô thị hóa ở ngoại thành Hà Nội”. Qua việc tìm hiểu nguyên nhân và thực trạng của vấn đề này tôi muốn có một vài đóng góp nhỏ nhằm giải quyết vấn đề còn nhiều tranh cãi này trong xu thế công nghiệp hóa, hiện đại hóa và trong tiến trình hội nhập như hiện nay. Nội dung chính của đề tài bao gồm: Chương I: Cơ sở lý luận về lao động và việc làm cho người lao động nông nghiệp nông thôn. Chương II: Thực trạng tạo việc làm cho lao động nông nghiệp nông thôn bị thu hồi đất ở ngoại thành Hà Nội. Chương III: Những biện pháp nhằm giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất ở ngoại thành Hà Nội. Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới giảng viên Hoàng Văn Định, người đã tận tình hướng dẫn và cung cấp cho tôi những kinh nghiệm quý báu để hoàn thành bài viết này. Tôi cũng xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Chu Tiến Quang, người đã hướng dẫn tôi tại cơ sở thực tập, cung cấp cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm để hoàn tất quá trình thực tập của mình. Do còn nhiều hạn chế về trình độ, năng lực, và thời gian hoàn thành bài viết có hạn nên tôi khó tránh khỏi những sai sót trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu đề tài. Rất mong nhận được sự thông cảm, góp ý của thầy cô giáo và các bạn để hoàn thiện hơn về vấn đề này.
Xem thêm

92 Đọc thêm

Đề tài Mở rộng tín dụng làng nghề đối với Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện Xuân Trường tỉnh Nam Định

Đề tài Mở rộng tín dụng làng nghề đối với Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện Xuân Trường tỉnh Nam Định

Đề tài Mở rộng tín dụng làng nghề đối với Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện Xuân Trường tỉnh Nam Định Làng nghề là một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế xã hội. Phát triển làng nghề là tạo công ăn việc làm, thu hút nguồn lao động dồi dào, vốn nhàn rỗi trong dân cƣ, nhằm nâng cao chất lƣợng cuộc sống của dân cƣ vùng nông thôn, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển, góp phần thực hiện công cuộc đổi mới công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc, hội nhập kinh tế. Làng nghề cần có nguồn vốn dồi dào để phát triển, mà nguồn vốn đó chủ yếu là nguồn cung từ các tổ chức tín dụng. Xuân Trƣờng là một huyện giàu tiềm năng phát triển kinh tế, có nhiều làng nghề vì vậy nhu cầu vốn cho phát triển loại hình kinh tế này ngày càng lớn. Hiện nay, ngoài nguồn cung vốn từ tổ chức tín dụng gắn liền với kinh tế nông nghiệp là NHNo&PTNT là nguồn cung ứng vốn chủ yếu, tuy nhiên ở địa phƣơng có sự xuất hiện của các tổ chức tín dụng khác nhƣ: quỹ tín dụng nhân dân (nay là Ngân hàng Hợp tác xã) và các NHTM khác…Việc NHNo&PTNT mở rộng tín dụng đối với làng nghề càng trở nên cấp thiết nhằm thúc đẩy sự phát triển của hệ thống ngân hàng và sự phát triển của nền kinh tế. Nhận thức đƣợc vấn đề nêu trên và xuất phát từ thực tế làng nghề, tín dụng làng nghề tại huyện Xuân Trƣờng, tôi xin chọn đề tài “Mở rộng tín dụng ngân hàng đối với làng nghề tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - chi nhánh huyện Xuân Trƣờng tỉnh Nam Định” làm mục tiêu nghiên cứu với mong muốn đóng góp một số ý kiến cho công tác mở rộng tín dụng đối với làng nghề để có hiệu quả hơn nữa. 2. Mục đích nghiên cứu  Nghiên cứu vấn đề cơ bản về làng nghề và mở rộng tín dụng ngân hàng đối với làng nghề.  Phân tích thực trạng tín dụng, mở rộng tín dụng đối với làng nghề tại chi nhánh NHNo&PTNT huyện Xuân Trƣờng- tỉnh Nam Định.2  Đƣa ra giải pháp mở rộng tín dụng ngân hàng đối với làng nghề tại chi nhánh NHNo&PTNT Huyện Xuân Trƣờng- tỉnh Nam Định 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Luận văn nghiên cứu thực trạng và một số giải pháp mở rộng tín dụng ngân hàng đối với làng nghề tại chi nhánh NHNo&PTNT huyện Xuân Trƣờng tỉnh Nam Định. Nguồn số liệu đƣợc sử dụng để phân tích trong luận văn là trong khoảng thời gian từ năm 2011 đến năm 2013. 4. Phƣơng pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng các biện pháp nghiên cứu duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phƣơng pháp phân tích tổng hợp, điều tra chọn mẫu trong nghiên cứu lý thuyết, thống kê kinh tế và phân tích kinh tế. 5. Kết cấu của luận văn Tên của luận văn “ Mở rộng tín dụng làng nghề đối với Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện Xuân Trƣờng tỉnh Nam Định” Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng: Chƣơng I: Tổng quan về mở rộng tín dụng ngân hàng đối với làng nghề. Chƣơng II: Thực trạng mở rộng tín dụng ngân hàng đối với làng nghề tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Xuân Trƣờng tỉnh Nam Định. Chƣơng III: Giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cƣờng mở rộng tín dụng ngân hàng đối với làng nghề tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện Xuân Trƣờng tỉnh Nam Định.3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ MỞ RỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI LÀNG NGHỀ 1.1 VAI TRÒ CỦA LÀNG NGHỀ TRONG NỀN KINH TẾ 1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của làng nghề Theo thông tƣ số 116/2006/TT-BNN, ngày 18/12/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, quy định Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cƣ cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cƣ tƣơng tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động theo ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau. Đặc trưng của làng nghề Làng nghề có vốn đầu tƣ không lớn nhƣng giá trị làm ra không nhỏ, thời gian thu hồi vốn nhanh. Kết cấu hạ tầng làng nghề đòi hỏi không cao nhƣ các ngành công nghiệp hiện đại, các khu công nghiệp tập trung. Phân loại các làng nghề Theo thời gian hình thành: + Làng nghề truyền thống: làng nghề xuất hiện từ lâu trong lịch sử và còn tồn tại đến ngày nay. + Làng nghề mới: những ngành nghề hình thành do sự lan tỏa của các làng nghề truyền thống hoặc đƣợc du nhập từ các địa phƣơng khác. Theo ngành nghề: bao gồm: + Làng nghề thủ công + Làng nghề thủ công mỹ nghệ + Làng nghề công nghiệp tiêu dùng + Làng nghề chế biến lƣơng thực thực phẩm + Làng nghề sản xuất vật liệu, xây dựng4 + Làng nghề buôn bán và dịch vụ Tiêu chuẩn làng nghề Theo thông tƣ số 116/2006/TT-BNN, ngày 18/12/2006 của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn quy định tiêu chuẩn để công nhận làng nghề gồm 3 tiêu chí:  Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn.  Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định, tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận.  Chấp hành tốt chính sách pháp luật của nhà nƣớc. 1.1.2 Vai trò của làng nghề trong sự phát triển kinh tế xã hội Làng nghề là cơ sở sản xuất quan trọng đầu tiên trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế. Các làng nghề tiểu thủ công nghiệp phát triển sẽ thúc đẩy phân công lao động ở nông thôn theo định hƣớng CNH, HĐH; thu hút lao động dƣ thừa từ nông nghiệp. Đây là yếu tố, điều kiện quan trọng để CNH, HĐH của nền kinh tế. Các làng nghề ở nông thôn sử dụng nguồn tài nguyên, lao động dồi dào ở nông thôn, khai thác nguồn vốn tự có trong dân, mở rộng sản xuất, thu hút lao động, giải quyết đƣợc công ăn việc làm cho ngƣời lao động và tích lũy vốn cho CNH, HĐH. Sự phát triển của làng nghề ở nông thôn hình thành đội ngũ những ngƣời thợ, nhà quản lý tùy theo quy mô, mô hình sản xuất. Cùng với việc sáng tạo, áp dụng các công nghệ tiên tiến vào việc cải tạo nghề truyền thống nhằm tăng năng suất và chất lƣợng sản phẩm, có khả năng cung ứng sản phẩm thủ công mỹ nghệ ra thị trƣờng nƣớc ngoài. Việc xuất khẩu các sản phẩm thủ công mỹ nghệ làm thúc đẩy tăng trƣởng và phát triển kinh tế, truyền bá văn hóa truyền thống và góp phần quảng bá du lịch.5 Phát triển làng nghề là sự bảo tồn và phát triển công nghiệp cổ truyền trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đề tài Mở rộng tín dụng làng nghề đối với Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện Xuân Trường tỉnh Nam Định Đề tài Mở rộng tín dụng làng nghề đối với Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện Xuân Trường tỉnh Nam Định Đề tài Mở rộng tín dụng làng nghề đối với Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện Xuân Trường tỉnh Nam Định Đề tài Mở rộng tín dụng làng nghề đối với Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện Xuân Trường tỉnh Nam Định Đề tài Mở rộng tín dụng làng nghề đối với Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện Xuân Trường tỉnh Nam Định Đề tài Mở rộng tín dụng làng nghề đối với Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện Xuân Trường tỉnh Nam Định Đề tài Mở rộng tín dụng làng nghề đối với Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện Xuân Trường tỉnh Nam Định Đề tài Mở rộng tín dụng làng nghề đối với Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện Xuân Trường tỉnh Nam Định Đề tài Mở rộng tín dụng làng nghề đối với Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện Xuân Trường tỉnh Nam Định Đề tài Mở rộng tín dụng làng nghề đối với Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện Xuân Trường tỉnh Nam Định Đề tài Mở rộng tín dụng làng nghề đối với Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện Xuân Trường tỉnh Nam Định Đề tài Mở rộng tín dụng làng nghề đối với Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện Xuân Trường tỉnh Nam Định Đề tài Mở rộng tín dụng làng nghề đối với Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện Xuân Trường tỉnh Nam Định Đề tài Mở rộng tín dụng làng nghề đối với Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện Xuân Trường tỉnh Nam Định Đề tài Mở rộng tín dụng làng nghề đối với Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện Xuân Trường tỉnh Nam Định Đề tài Mở rộng tín dụng làng nghề đối với Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện Xuân Trường tỉnh Nam Định Đề tài Mở rộng tín dụng làng nghề đối với Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện Xuân Trường tỉnh Nam Định
Xem thêm

Đọc thêm

Luận văn thạc sĩ báo chí học Thông tin khoa học kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn trên báo chí hưng yên hiện nay

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC THÔNG TIN KHOA HỌC KỸ THUẬT PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN TRÊN BÁO CHÍ HƯNG YÊN HIỆN NAY

Chương 1BÁO CHÍ VỚI VIỆC THÔNG TIN KHOA HỌC KỸ THUẬT PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN HIỆN NAY1.1. Một số khái niệm liên quan1.1.1. Các khái niệm liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn Qua nghiên cứu cuốn Từ điển Tiếng Việt thông dụng của NXB Giáo dục (2007), Từ điển bách khoa Việt Nam 2, NXB Từ điển bách khoa, Hà Nội (2002), Từ điển Tiếng Việt của NXB KHXH, Hà Nội (1977) chúng tôi thống nhất các khái niệm sử dụng trong luận văn như sau:Nông nghiệp: Là ngành sản xuất chủ yếu của xã hội có nhiệm vụ cung cấp sản phẩm trồng trọt và sản phẩm chăn nuôi. Nông thôn: Là vùng tập trung dân cư làm nghề nông; phân biệt với thành thị.Nông dân: Là người sống chủ yếu bằng nghề làm nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi).Kinh tế nông nghiệp (KTNN): Là một trong hai ngành kinh tế cơ bản của nền kinh tế quốc dân (nông nghiệp và công nghiệp), là ngành sản xuất vật chất chủ yếu, sản xuất thực phẩm cho nhân dân và nguyên liệu cho công nghiệp. Kinh tế nông nghiệp có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế của đất nước, nó gồm hai nhóm ngành chính là trồng trọt và chăn nuôi.Công nghiệp hóa Hiện đại hóa nông nghiệp: Là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ giới hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ nhất là công nghệ sinh học, đưa thiết bị kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa.Công nghiệp hóa hiện đại hóa nông thôn: Là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, quy hoạch phát triển nông thôn, tổ chức lại sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp, xây dựng nông thôn dân chủ, công bằng, văn minh, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân ở nông thôn.1.1.2. Khái niệm thông tin và thông tin khoa học kỹ thuật trên báo chí Thông tinTheo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì Thông tin (information) là sự phản ánh sự vật, sự việc, hiện tượng của thế giới khách quan và các hoạt động của con người trong đời sống xã hội. Điều cơ bản là con người thông qua việc cảm nhận thông tin làm tăng hiểu biết cho mình và tiến hành những hoạt động có ích cho cộng đồng.Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng của NXB Giáo dục 2007:Thông tin là truyền tin, đưa tin báo cho nhau biết 44, tr755 Khoa học kỹ thuậtBách khoa toàn thư mở Wikipedia cho rằng: Khoa học kỹ thuật là các ngành khoa học liên quan tới việc phát triển kỹ thuật và thiết kế các sản phẩm trong đó có ứng dụng các kiến thức khoa học tự nhiên.Ngoài ra, khoa học kỹ thuật còn là tên gộp chung những khoa học cụ thể được hình thành trên cơ sở ứng dụng những tri thức lý thuyết của các khoa học cơ bản vào trong hoạt động thực tiễn, chủ yếu là sản xuất vật chất và dịch vụ bằng con đường tạo ra những phương tiện kỹ thuật và phương pháp công nghệ thích hợp. 41, tr508Trên cơ sở khái niệm thông tin, khoa học kỹ thuật chúng tôi đưa ra khái niệm về Thông tin KHKT sử dụng trong luận văn này như sau: Thông tin khoa học kỹ thuật: Là hình thức thông tin mà trong đó nội dung thông điệp phổ biến, tuyên truyền về những kiến thức, kỹ năng, phương pháp áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất nhằm nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm làm ra.
Xem thêm

125 Đọc thêm

ĐÁP ÁN BÀI DỰ THI TÌM HIỂU " CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM 85 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN

ĐÁP ÁN BÀI DỰ THI TÌM HIỂU " CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM 85 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN

BÀI DỰ THITìm hiểu " Công đoàn Việt Nam 85 năm xây dựng và phát triểnHọ và tên: ………………….Chức vụ: ………………………..Đơn vị công tác: Văn phòng HĐND-UBND huyện Quang Bình - Hà Giang.Câu hỏi 1: Hãy cho biết, tổ chức Công đoàn Việt Nam được thành lập vàongày, tháng, năm nào? Tên gọi của tổ chức Công đoàn Việt Nam qua các thờikỳ? Từ khi thành lập đến nay Công đoàn Việt Nam đã trải qua mấy kỳ Đại hội?Trả lời:Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ Icủa thực dân Pháp (từ năm 1897 đến năm 1914) và nhanh chóng trưởng thànhtrong đợt khai thác thuộc địa lần thứ II (từ năm 1919 đến năm 1929). Do phải chịuhai tầng áp bức, bóc lột tàn bạo của chế độ thuộc địa nửa phong kiến nên đời sốngcủa giai cấp công nhân và nhân dân lao động nước ta vô cùng khổ cực. Bởi vậy cáccuộc đấu tranh của công nhân lao động các hầm mỏ, nhà máy, đồn điền đã liêntiếp nổ ra chống lại chế độ tư bản và bọn phong kiến. Ban đầu các cuộc đấu tranhcòn diễn ra lẻ tẻ, mang tính tự phát, nhưng về sau đã có sự liên kết, có tính tổ chứcchặt chẽ hơn.Từ sự đòi hỏi của phong trào và nhu cầu của cuộc đấu tranh, nhiều nơi đãthành lập những Hội nghề, Nghiệp đoàn, Công hội. Tiêu biểu nhất là Công hội BaSon (Sài Gòn - Gia Định) được thành lập năm 1920 do đồng chí Tôn Đức Thắng(sau này là Chủ tịch Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam) đứng đầu. Tuyphạm vi hoạt động chỉ cơ sở, thời gian hoạt động không lâu (năm 1926 tự giảitán) nhưng Công hội Ba Son đã có ảnh hưởng lớn trong phong trào công nhânNam Bộ, để lại một dấu ấn trong lịch sử hình thành và phát triển của tổ chức Côngđoàn Việt Nam.Người đặt cơ sở lý luận và nền tảng tư tưởng cho việc thành lập Công đoànViệt Nam là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Năm 1923 khi viết tác phẩm nổi tiếng “Bảnán chế độ thực dân Pháp”, Người đã nói: “… Việc cần thiết hiện nay là phát độngmột cuộc tuyên truyền để thành lập các tổ chức Công đoàn các nước thuộc địa,nửa thuộc địa và phát triển các Công đoàn hiện có còn dưới hình thức phôi thai”.
Xem thêm

13 Đọc thêm

SỰ THAM GIA của CỘNG ĐỒNG TRONG PHÁT TRIỂN ĐƯỜNG GIAO THÔNG NÔNG THÔN tại HUYỆN yên KHÁNH, TỈNH NINH BÌNH

SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG PHÁT TRIỂN ĐƯỜNG GIAO THÔNG NÔNG THÔN TẠI HUYỆN YÊN KHÁNH, TỈNH NINH BÌNH

Họ c viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 1 PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Hiện nay, 70% dân số nước ta đang sống ở khu vực nông thôn. Vì thế, để đạt được mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp có trình độ khoa học tiên tiến thì nhất thiết phải có sự đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, nhất là đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn. Cơ sở hạ tầng (CSHT) nông thôn phát triển sẽ tác động đến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của khu vực nông thôn, tạo điều kiện cạnh tranh lành mạnh, tăng sức thu hút vốn đầu tư nước ngoài và sức huy động nguồn vốn trong nước vào thị trường nông nghiệp, nông thôn. Giao thông nông thôn (GTNT) là một bộ phận quan trọng trong kết cấu hạ tầng, là tiền đề cho phát triển kinh tế xã hội (KT – XH) khu vực nông thôn. Thực tế đã chứng minh, nơi nào CSHT giao thông hoàn chỉnh thì ở đó KT – XH phát triển nhanh và bền vững. Đặc biệt là hiện nay việc đầu tư xây dựng CSHT giao thông còn là một trong những tiêu chí và là nền tảng cho việc xây dựng nên diện mạo nông thôn mới. GTNT là một trong những mắt xích thiết yếu, nối các vùng nông thôn với hệ thống quốc lộ, tỉnh lộ, khu đô thị, khu công nghiệp, khu chế xuất. Những vùng có mạng lưới giao thông đảm bảo sẽ góp phần thu hút nguồn lao động, hạ giá thành trong sản xuất và mở rộng thị trường nông thôn, kích thích kinh tế hộ nông dân tăng gia sản xuất, làm thay đổi bộ mặt nông thôn, thu nhập của các hộ nông dân tăng, đời sống nông dân được nâng lên, thực hiện mục tiêu xoá đói, giảm nghèo ở nông thôn. Chính vì vậy, việc phát triển đường GTNT là vấn đề có vai trò quan trọng trong chủ trương phát triển nông thôn bền vững theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa (CNH – HĐH), không những cần sự tham gia của các cấp chính quyền mà còn cần sự tham gia của cộng đồng để mang lại lợi ích cho tất cả các bên liên quan. Với phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm,
Xem thêm

132 Đọc thêm

Đội ngũ trí thức việt nam với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước1

Đội ngũ trí thức việt nam với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước1

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đại hội lần thứ VI (1986) của Đảng Cộng sản Việt Nam được coi là cột mốc lịch sử quan trọng trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta. Đại hội đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện, mở ra bước ngoặt trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để đưa nước ta trở thành một nước tiên tiến nhanh chóng hoà nhập vào dòng tiến hoá chung của nhân loại, chúng ta chỉ có một con đường là đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa. Đảng ra cũng xác định rằng để thực hiện được những mục tiêu của sự nghiệp đổi mới, không chỉ bằng nhiệt tình và lòng dũng cảm như trước đây mà cần phải phát huy hoạt động trí tuệ và tài năng sáng tạo của toàn Đảng, toàn dân. Đội ngũ trí thức là đại biểu tập trung cho trí tuệ dân tộc. Trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa ở nước ta thì trí thức tham gia trực tiếp và chủ yếu vào nâng cao dân trí, là bộ phận nguồn lực khoa học kỹ thuật, trí thức góp phần lớn lao vào việc phát triển lực lượng sản xuất. Đảng và Nhà nước ta đánh giá cao vai trò của đội ngũ trí thức trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên không phải mọi cấp, mọi người dân hay một bộ phận không nhỏ trí thức chưa nhận thức được đầy đủ và sâu sắc vai trò của đội ngũ trí thức trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay. Đây là một thực trạng đã và đang tồn tại ở nước ta. Vì vậy, để làm rõ hơn vai trò của đội ngũ trí thức là một nhân tố cơ bản trong việc thực hiện thành công công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, em xin chọn đề tài “Đội ngũ trí thức Việt Nam với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình.
Xem thêm

Đọc thêm

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO VAY HỘ SẢN XUẤT TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HUYỆN LÝ NHÂN – HÀ NAM

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO VAY HỘ SẢN XUẤT TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HUYỆN LÝ NHÂN – HÀ NAM

LỜI MỞ ĐẦU Từ sau công cuộc chuyển đổi nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường, nước ta đã chuyển biến sâu sắc, căn bản và toàn diện. Trong đó, phát triển mọi thành phần kinh tế của Đảng và Nhà nước là chủ trương xuyên suốt trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Cùng với sự ra đời của nhiều loại hình kinh tế khác, loại hình kinh tế hộ sản xuất đã thực sự khẳng định mình, mang lại hiệu quả to lớn đối với nền kinh tế nói chung và lĩnh vực nông nghiệp nông thôn nói riêng, góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống của các hộ nông dân ở nông thôn. Do đó phát triển kinh tế hộ sản xuất là yêu cầu cấp thiết cho sự phát triển kinh tế nói chung nhất là đối với một đất nước đang phát triển như Việt Nam. Khó khăn hiện nay của các hộ sản xuất là vấn đề vốn cho sản xuất kinh doanh, trong khi thị trường vốn chưa phát triển thì sự giúp đỡ về vốn của các Ngân hàng thương mại có ý nghĩa vô cùng quan trọng cho quá trình phát triển của hộ sản xuất. Với tư cách là người bạn đồng hành của nông nghiệp và nông dân trong những năm qua Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam nói chung và ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Lý Nhân nói riêng đã và đang là kênh chuyển tải vốn đến các hộ sản xuất góp phần tạo công ăn việc làm, giúp nông dân làm giàu bằng chính sức lao động của mình. Tuy nhiên trên thực tế việc mở rộng cho vay vốn đối với hộ sản xuất ngày càng khó khăn do món vay nhỏ, chi phí nghiệp vụ cao. Bởi vậy mở rộng cho vay phải đi kèm với việc nâng cao chất lượng, đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay của ngân hàng. Nhận thức được những vấn đề trên và xuất phát từ thực tiễn hoạt động cho vay vốn đến hộ sản xuất tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Lý Nhân, em chọn đề tài thực tập:“Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay hộ sản xuất tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Lý Nhân – Hà Nam”.
Xem thêm

82 Đọc thêm

Cùng chủ đề