 ATS ATOMATIC TRANFER SWITCH LÀ HỆ THỐNG CHUYỂN ĐIỆN TỰ ĐỘNG TỪ ĐIỆ LƯỚI NÀY SANG ĐIỆN LƯỚI KHÁC VÀ NGƯỢC LẠI KHI CÒ SỰ MẤT ĐIỆN GIỮA MỘT TRONG HAI NGUỒN ĐIỆN LƯỚI HOẶC MÁY PHÁT

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa " ATS ATOMATIC TRANFER SWITCH LÀ HỆ THỐNG CHUYỂN ĐIỆN TỰ ĐỘNG TỪ ĐIỆ LƯỚI NÀY SANG ĐIỆN LƯỚI KHÁC VÀ NGƯỢC LẠI KHI CÒ SỰ MẤT ĐIỆN GIỮA MỘT TRONG HAI NGUỒN ĐIỆN LƯỚI HOẶC MÁY PHÁT":

BÀI TẬP LỚN THIẾT KẾ TỰ ĐỘNG HÓA QUÁ TRÌNH CÔNG NGHỆ : TÌM HIỂU, PHÂN TÍCH, THIẾT KẾ BỘ TỰ ĐỘNG CHUYỂN ĐỔI MẠCH ATS

BÀI TẬP LỚN THIẾT KẾ TỰ ĐỘNG HÓA QUÁ TRÌNH CÔNG NGHỆ : TÌM HIỂU, PHÂN TÍCH, THIẾT KẾ BỘ TỰ ĐỘNG CHUYỂN ĐỔI MẠCH ATS

Ngày nay, nền kinh tế nước ta đang phát triển mạnh mẽ, đời sống nhân dân được nâng cao nhanh chóng. Nhu cầu điện năng trong các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và sinh hoạt tăng trưởng không ngừng. Công nghiệp luôn là khách hàng tiêu thụ điện năng lớn nhất. Trong tình hình kinh tế thị trường hiện nay, các xí nghiệp lớn nhỏ, các tổ hợp sản xuất đều phải tự hạch toán kinh doanh trong cuộc cạnh tranh quyết liệt và chất lượng và giá cả sản phẩm. Điện năng thực sự đóng góp một phần quan trọng vào lỗ lãi của xí nghiệp. Nếu 1 tháng xảy ra mất điện 12 ngày xí nghiệp sẽ có thể không có lãi, nếu mất lâu hơn xí nghiệp sẽ thua lỗ. Chất lượng điện xấu (Chủ yếu là điện áp thấp) ảnh hưởng lớn đến chất lượng sản phẩm, gây thứ phẩm, phế phẩm, giảm hiệu suất lao động. Chất lượng điện áp đặc biệt quan trọng với xí nghiệp may, xí nghiệp hoá chất, xí nghiệp chế tạo lắp đặt cơ khí điện tử chính xác. Vì thế đảm bảo độ tin cậy cung cấp điện và nâng cao chất lượng điện năng là mối quan tâm hàng đầu của đề án thiết kế cấp điện cho xí nghiệp công nghiệp. Thương mại, dịch vụ chiếm tỷ lệ ngày càng quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và đã thực sự trở thành khách hàng quan trọng của ngành điện lực. Các khách sạn quốc doanh, liên doanh, tư nhân ngày càng nhiều, ngày càng cao tầng, kèm với các thiết bị nội thất ngày càng cao cấp, sang trọng. Mức sống tăng nhanh khách trong nước đến khách sạn tăng theo. Đặc biệt với chính sách mở cửa các khách sạn ngày càng thu hút nhiều khách quốc tế đến tham quan, du lịch, công tác tại Việt nam. Khu vực khách hàng này không thể để mất điện. Tóm lại mức điện dảm bảo liên tục cấp điện tuỳ thuộc vào tính chất và yêu cầu của phụ tải. Đối với những công trình quan trọng cấp quốc gia như Hội trường Quốc hội, Nhà khách chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, Đại sứ quán, khu quân sự, sân bay, hải cảng, khách sạn cao cấp... phải đảm bảo được cấp điện ở mức độ cao nhất, nghĩa là với bất kỳ tình huống nào cũng không được để mất điện. Những đối tượng kinh tế như nhà máy, xí nghiệp tổ hợp sản xuất tốt nhất là đặt thêm máy phát dự phòng, khi mất điện lưới sẽ dùng máy điện cấp điện cho những phụ tải quan trọng như lò, phân xưởng sản xuất chính,... Một trong các biện pháp để nâng cao độ tin cậy cung cấp điện là đặt các phân tử dự trữ trong hệ thống điện. Để đưa các phân tử dự trữ vào làm việc nhanh chóng và an toàn người ta thường sử dụng các thiết bị tự động đóng dự trữ, hay còn gọi là bộ đổi nguồn tự động (ATS: Automatic transfer switch). Bộ đổi nguồn tự động sử dụng phụ tải điện phòng khi xảy ra sự mất điện. Bộ đổi nguồn tự động được nối giữa 2 nguồn mạch lưới chính và mạch điện dự phòng. Khi xảy ra mất điện nguồn lưới chính, khác chuyển đổi sẽ chuyển phụ tải từ nguồn dự phòng hay là nguồn thứ hai. Chuyển đổi là tự động nếu khoá kiểu tự động hoặc phải thao tác bằng tay nếu khoá là kiểu bằng tay hoặc kiểu không tự động. Tải có thể được chuyển về nguồn cấp chính 1 cách tự động hoặc bằng tay khi điện áp lưới chính được phục hồi. Thiết bị tự động đóng dự trữ đem lại những hiệu quả sau: Tăng độ tin cậy cung cấp điện, làm giảm sơ đồ cung cấp điện, giảm được các máy biến áp hoặc đường dây phải làm việc song song. Và cũng nhờ việc giảm các phần tử làm việc song song nên hạn chế được dòng điện ngắn mạch, làm cho mạch rơ le bảo vệ đỡ phức tạp và giảm bớt số nhân viên phải trực nhật, vận hành ở các trạm.  
Xem thêm

22 Đọc thêm

KHÁI QUÁT HỆ THỐNG ĐIỆN OTO

KHÁI QUÁT HỆ THỐNG ĐIỆN OTO

động cơ.LƯU Ý:Khi động cơ khởi động, vành răng sẽ dẫn độngrôto. Để tránh cho máy đề không quay quá nhanhdo động cơ, chức năng ly hợp được bổ sung. Rôtosẽ không bị hỏng do tốc độ cao.(2/2)B.Sau khi khởi động động cơKhi khoá điện được nhả ra khỏi vị trí START,chiều của dòng điện, chạy trong cuộn giữ,thay đổi và bánh răng chủ động trở về vị tríban đầu của nó. Khi dòng điện ngừng chạytrong cuộn dây stato, máy đề sẽ ngừng quay.(2/2)-5-TÀI LIỆU CHIA SẺ TRÊN DIỄN ĐÀN WWW.OTO-HUI.COMHệ Thống NạpHệ Thống NạpThệ thống nạp sản suất ra điện năng để cungcấp nguồn cần thiết cho các chi tiết điện và đểnạp ắc quy khi động cơ của xe ôtô hoạt động.Ngay sau khi động cơ khởi động, dây đai dẫn
Xem thêm

13 Đọc thêm

ĐỒ ÁN THIẾT KẾ MẠNG ĐIỆN 110KV

ĐỒ ÁN THIẾT KẾ MẠNG ĐIỆN 110KV

Trong hệ thống điện cần phải có sự cân bằng công suất tác dụng và phản kháng. Cân bằng công suất là một trong những bài toán quan trọng nhằm đánh giá khả năng cung cấp của các nguồn cho phụ tải, từ đó lập phương án nối dây thích hợp và xác định dung lượng bù hợp lý.Tại mỗi thời điểm luôn phải đảm bảo cân bằng giữa lượng điện năng sản xuất và tiêu thụ. Mỗi mức cân bằng công suất tác dụng P và công suất phản kháng Q để xác định một giá trị tần số và điện áp.Để đơn giản bài toán, ta coi sự thay đổi công suất tác dụng P ảnh hưởng chủ yếu đến tần số, còn sự cân bằng công suất phản kháng Q ảnh hưởng chủ yếu đến điện áp. Cụ thể là khi nguồn phát không đủ công suất P cho phụ tải thì tần số bị giảm đi và ngược lại. Khi thiếu công suất Q thì điện áp bị giảm và ngược lại.Trong mạng điện, tổn thất công suất phản kháng lớn hơn công suất tác dụng, nên khi các máy phát điện được lựa chọn theo sự cân bằng công suất tác dụng thì trong mạng điện thiếu công suất phản kháng. Điều này dẫn đến xấu các tình trạng làm việc của các hộ dùng điện, thậm chí làm ngừng sự truyền động của các máy công cụ trong xí nghiệp, gây thiệt hại rất lớn, đồng thời làm hạ thấp điện áp của mạng và làm xấu tình trạng làm việc của mạng. cho nên việc bù công suất phản kháng là vô cùng cần thiết.
Xem thêm

36 Đọc thêm

QUY HOẠCH HỆ THỐNG THOÁT NƯỚC CHO KHU ĐÔ THỊ MỚI CỬA TIỀN, PHƯỜNG VINH TÂN, THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN

QUY HOẠCH HỆ THỐNG THOÁT NƯỚC CHO KHU ĐÔ THỊ MỚI CỬA TIỀN, PHƯỜNG VINH TÂN, THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN

trung chảy về các hố thăm sau đó theo các tuyến cống đặt ở vỉa hè trực tiếp ra hố tiếpnhận. Căn cứ vào thiết kế đường thì cống thoát nước mưa được bố trí giữa lòng đườnghoặc hai bên vỉa hè đối với đường lớn 1 chiều.I.3.3. Cấp điện và chiếu sáng đô thị :Nguồn điện của TP Vinh được lấy từ lưới cao áp Quốc gia, được xây dựng với nhiềutuyến cao thế với tổng công suất lắp ráp là 500000 KW. Hiện nay điện lưới được phủ100% trên địa bàn thành phố với điện thế ổn định cho sinh hoạt và kinh doanh. Quyhoạch chiếu sáng đô thị tuân theo các quy định trong QCXDVN 01:2008/BXD. Đến năm2020 đảm bảo 100% tuyến đường chính đô thị được chiếu sáng phù hợp, các ngõ cóchiều rộng lớn hơn 3m phải được chiếu sáng bằng đèn cao áp theo hướng hiện đại. Chọnthiết kế chiếu sáng đường phố, các cảnh quan khác như công viên phải hài hòa, phù hợpvới cây trồng hai bên đường.Ưu tiên sử dụng các nguồn năng lượng tự nhiên như gió,nắng, nhiên liệu sinh học … trong cấp điện, chiếu sáng và thông gió.I.3.4. Đặc điểm về kinh tế:13Thành phố Vinh nằm giữa hai khu kinh tế lớn là Nghi Sơn (Thanh Hóa) và VũngÁng (Hà Tĩnh), bên cạnh thành phố là khu kinh tế Đông Nam (Nghệ An). Năm 2010, Tốcđộ tăng trưởng giá trị SX so với cùng kỳ là 18,1%, thu nhập bình quân đầu người đạt 38,1triệu đồng, thu ngân sách đạt 2800 tỷ đồng. Vinh cũng được biết đến là một thành phố trẻnăng động, có nhiều tòa nhà cao tầng. Hiện có rất nhiều dự án phát triển đô thị tại đây.Trong tương lai không xa, Vinh sẽ là một thành phố hiện đại xứng tầm là đô thị trung tâmvùng Bắc Trung Bộ. Về cơ cấu kinh tế, Đến 2010, ngành công nghiệp chiếm tỷ lệ 41%,dịch vụ 57,3%, nông nghiệp 1,61%I.4. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KHU ĐÔ THỊ CỬA TIỀN:I.4.1. Quy mô đất đai – công trình :Khu đô thị mới Cửa Tiền có quy mô 22,15 ha, trước đây là vùng đất sâu trũng, nênkhi xây dựng dự án, chủ đầu tư đã khảo sát, nghiên cứu kỹ lưỡng và thực hiện san nềntheo quy hoạch mới nhất của TP Vinh. Đất được quy hoạch giải tỏa từ đất ao, đất ruộng
Xem thêm

Đọc thêm

Thiết kế cấp điện cho phân xưởng cơ khí

THIẾT KẾ CẤP ĐIỆN CHO PHÂN XƯỞNG CƠ KHÍ

Số liệu cơ bản (các số liệu trong phụ lục kèm theo. Động cơ các máy công tắc đều là động cơ 3 pha ). Diện tích chiếm chỗ một máy công tác là 3x3=9 m2. Trạm biến áp 220,4 kV đặt trong nhà. Nội dung nhiệm vụ : Xác định phụ tải tính toán (động lực và chiếu sáng) cho phân xưởng. Lập sơ đồ và thiết kế mạng điện cung cấp cho toàn phân xưởng. Thiết kế trạm biến áp phân phối 220,4 kV cấp điện cho phân xưởng. Kiểm tra tổn thất điện áp lớn nhất, xác định tổn thất công suất và chi phí điện năng cho phân xưởng, biết phân xưởng làm việc với T¬¬max = 4500hnăm. Tính chiếu sáng cho phân xưởng, đảm bảo độ rọi E = 80lx. Sản phẩm: Thuyết minh tính toán : 01 quyển. Bản vẽ: Các phương án cấp điện; Sơ đồ mạng điện động lực và chiếu sáng; Sơ đồ nguyên lý và sơ đồ kết cấu trạm biến áp phân xưởng. Phụ lục Phụ lục hình ảnh: Chương I: II. 3: Hình 1: Minh họa các đại lượng Ptt,Ptb,Pđm. Chương II: I. 1: Hình 2: Sơ đồ nguyên lý cung cấp điện từ MBA. Chương II: I. 3. 3.12: Hình 3: Sơ đồ cấp điện hình tia. Chương IV: V. 4. 4.12: Hình 4: Sơ đồ phân bố công suất trong xí nghiệp cơ khí. Hình 5: Sơ đồ nguyên lý và lắp đặt tụ bù. Hình 6: Sơ đồ cung cấp điện cho xí nghiệp với phương án 1: Mạng hình tia. Chương V: V: Hình 7: Trạm biến áp kiểu kín (xây, trong nhà) 1 máy biến áp và 1 máy phát dự phòng. Chương VII: III: Hình 8: Sơ đồ nguyên lý chiếu sáng phân xưởng cơ khí. Phụ lục bảng: Chương I: III: Bảng 1: Thống kê danh sách các phụ tải của phân xưởng cơ khí. Chương IV: II. 1: Bảng 2: Bảng chọn mật độ dòng kinh tế. Chương IV: III: Bảng 3: Số liệu tính toán tiết diện dây dẫn. Chương IV: III. 3: Bảng 4: Cáp từ tủ phân phối đến các tủ động lực. Chương IV: V. 4. 4. 4: Bảng 5: Bảng chọn các thông số tụ bù. Bảng 6: Lựa chọn dây dẫn. Bảng 7: Bảng chọn áptômát đầu ra cho tủ động lực. Bảng 8: Bảng tính chọn áptômát cho từng máy nhóm I. Bảng 9: Bảng tính chọn áptômát cho từng máy nhóm II. Bảng 10: Bảng tính chọn áptômát cho từng máy nhóm III. Bảng 11: Bảng tính chọn áptômát cho từng máy nhóm IV. Bảng 12: Bảng tính chọn áptômát cho từng máy nhóm V. Bảng 13: Bảng tính chọn áptômát cho từng máy nhóm VI. Chương V: III: Bảng 14: Bảng tra cứu các máy phát điện. Lời Mở Đầu Điện năng là một dạng năng lượng có nhiều ưu điểm như: Dễ dàng chuyển thành các dạng năng lượng khác (nhiệt, cơ, hóa, …) dễ dàng truyền tải và phân phối. Chính vì vậy điện năng được sử dụng rất rộng rãi trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người. Điện năng là nguồn năng lượng chính của các nghành công nghiệp, là điều kiện quan trọng trong phát triển đô thị và các khu vực dân cư. Ngày nay nền kinh tế nước ta đang từng bước phát triển, đời sống nhân dân đang từng bước được nâng cao, cùng với nhu cầu đó thì nhu cầu về điện năng trong các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và sinh hoạt cũng từng bước phát triển không ngừng. Đặc biệt với chủ trương kinh tế mới của nhà nước, vốn nước ngoài tăng lên làm cho các nhà máy, xí nghiệp mới mọc lên càng nhiều. Do đó đòi hỏi phải có hệ thống cung cấp điện an toàn, tin cậy để sản xuất và sinh hoạt. Để làm được điều này thì nước ta cần phải có một đội ngũ con người đông đảo và tài năng để có thể kế thừa, đưa ứng dụng công nghệ điện vào trong đời sống. Sau khi học môn Cung Cấp điện, em được giao đề tài đồ án: “ Thiết kế cấp điện cho phân xưởng cơ khí” Chương I :Xác định phụ tải tính toán cho phân xưởng Khái niệm về phụ tải điện: Phụ tải điện là số liệu đầu tiên quan trọng nhất để tính toán thiết kế hệ thống cung cấp điện. Xác định phụ tải điện quá lớn so với thực tế sẽ dẫn đến chọn thiết bị quá lớn làm tăng vốn đầu tư. Xác định phụ tải điện quá nhỏ sẽ bị quá tải gây cháy nổ hư hại công trình làm mất điện. Xác định chính xác phụ tải điện là việc làm khó. Công trình điện thường phải thiết kế lắp đặt trước khi có đối tượng sử dụng điện. Ví dụ, cần thiết kế và lắp đặt trạm biến áp trung gian để cấp điện cho khu chế xuất ngay từ giai đoạn xây dựng cơ sở hạ tầng(đường giao thông, điện nước) sau đó mời các xí nghiệp vào mua đất xây dựng nhà máy. Khi thiết kế lắp đặt đường dây cao áp và trạm biến áp trung gian cấp điện cho khu chế xuất người thiết kế chỉ biết các thông tin rất ít : Diện tích khu chế xuất và tính chất của các xí nghiệp sẽ xây dựng tại đó (công nghiệp nặng,nhẹ). Phụ tải cần xác định trong giai đoạn tính toán thiết kế hệ thống cung cấp điện gọi là phụ tải tính toán. Cần lưu ý phân biệt phụ tải tính toán và phụ tải thực tế. Phụ tải tính toán là phụ tải gần đúng chỉ dùng để tính toán thiết kế hệ thống cung cấp điện, còn phụ tải thực tế là phụ tải chính xác có thể xác định được bằng đồng hồ đo điện trong quá trình vận hành. Có nhiều phương pháp xác định phụ tải điện. Cần căn cứ vào lượng thông tin thu nhận được qua từng giai đoạn thiết kế để lựa chọn phương pháp phù hợp. Càng nhiều thông tin về đối tượng sử dụng càng lựa chọn được phương án chính xác. Phụ tải động lực: Cơ sở lý luận : Đặc điểm hộ tiêu thụ: Thiết bị hay còn gọi là thiết bị tiêu thụ là những thiết bị tiêu thụ điện năng như : động cơ điện,lò điện, đèn điện… Hộ tiêu thụ là một bộ phận quan trọng của hệ thống cung cấp điện, nơi biến đổi điện năng thành các dạng năng lượng khác để sử dụng sản xuất dân dụng… Phụ tải điện là một đại lượng đặc trưng cho công suất tiêu thụ của các thiết bị hoặc các hộ tiêu thị điện năng. Xác định phụ tải là công việc đầu tiên của công tác thiết kế hệ thống điện nhằm mục lựa chọn và kiểm tra các phần tử mang điện và máy biến áp theo điều kiện phát nóng, lựa chọn các thiết bị bảo vệ … Khi thiết kế và vận hành hệ thống điện cung cấp cho xí nghiệp chú ý 3 thông số cơ bản sau : Công suất tác dụng P. Cống suất phản kháng Q. Dòng điện I. Tùy theo tầm quan trọng trong ngành kinh tế xã hội, các hộ tiêu thụ được cung cấp điện với mức độ tin cậy khác nhau và phân thành 3 loại : + Hộ tiêu thụ loại 1 : Là những hộ tiêu thụ khi ngừng sự cung cấp điện sẽ gây nên những hậu quả nguy hiểm đến tính mạng con người, làm thiệt hại lớn về kinh tế dẫn đến sự hư hỏng thiết bị, gây rối loạn và công nghệ phức tạp, làm hư hỏng hàng loạt sản phẩm hoặc có ảnh hưởng không tốt về nhiều phương diện. VD : Xí nghiệp luyện kim, xí nghiệp hóa chất, cơ quan nhà nước… Đối với loại này phải có 2 nguồn độc lập hoặc có nguồn dự phòng. + Hộ tiêu thụ loại 2 : Là những hộ ngừng cung cấp điện dẫn đến thiệt hại về kinh tế do ngừng sản xuất, hư hỏng sản phẩm, lãng phí lao động. VD : Nhà máy cơ khí, nhà máy thực phẩm công nghệ nhẹ… Đối với loại này hoặc không có thêm nguồn dự phòng thuộc vào sự so sánh giữa vốn đầu tư và hiệu quả kinh tế khi ngừng cung cấp điện. Cho phép mất điện 1 đến 2 giờ. + Hộ tiêu thụ loại 3 : Là tất cả các hộ tiêu thụ còn lại, ngoài hộ loại 1 và 2, cho phép cung cấp điện tin cậy cho phép thấp. nghĩa là cho phép mất điện trong thời gian sửa chữa khắc phục sự cố, cho phép từ 4 đến 5 giờ. Những yêu cầu cần thiết trong cung cấp điện: Độ tin cậy cung cấp điện: tùy thuộc vào loại hộ tiêu thụ trong điều kiện cho phép ta cố gắng chọn phương án độ tin cậy càng cao. Chất lượng điện: Đánh giá bằng tần số và điện áp. Tần số do cơ quan hệ thống điện điều chỉnh. Do đó người thiết kế chỉ quan tâm đến chất lượng điện áp. Nói chung điện áp ở cao thế và trung thế chỉ có thể giao động quanh giá trị ± 5% điện áp định mức. An toàn trong cung cấp điện : Hệ thống cung cấp điện phải vận hành với người và thiết bị. Do đó phải chọn hồ sơ hợp lý, mạch lạc, rõ ràng. Kinh tế : So sánh đánh giá thông qua tính toán từ đó chọn phương án hợp lý ít tốn kém. Xác định phụ tải tính toán: Hiện nay có nhiều phương pháp xác định phụ tải tính toán. Thông thường những phương pháp đơn giản thì cho kết quả không chính xác, ngược lại muốn độ chính xác cao thì phương pháp tính toán lại phức tạp. Do vậy, phải biết cân nhắc để lựa chọn phương pháp tính cho phù hợp. Nguyên tắc chung để tính toán phụ tải là tính từng thiết bị dùng điện trở ngược về phía nguồn. Mục đích của việc tính toán phụ tải: Chọn tiết diện dây dẫn của lưới điện cung cấp một cách kinh tế. Chọn số lượng và công suất máy biến áp hợp lý. Chọn tiết diện thanh dẫn của thiết bị phân phối có tính kinh tế. Chọn các thiết bị chuyển mạch bảo vệ hợp lý. Sau đây là một số phương án tính toán : Xác định phụ tải theo công suất tiêu hao điện năng trên đơn vị sản phẩm: Đối với các hộ tiêu thụ có đồ thị phụ tải không thay đổi hoặc ít thay đổi, phụ tải tính toán được lấy bằng giá trị trung bình của các phụ tải lớn nhất, hệ số đóng điện của các hộ tiêu thụ này bằng 1, còn hệ số phụ tải thay đổi rất ít. Phụ tải tính toán được tính theo công suất tiêu hao điện năng trên một đơn vị sản phẩm, khi cho trước tổng sản phẩm sản xuất trong một khoảng thời gian. Trong đó: Mca: Số sản phẩm sản xuất trong 1 ca. Tca: Thời gian của ca phụ tải lớn nhất. W0 : Suất tiêu hao điện năng trên một đơn vị sản phẩm (kwh1đvsp). Khi biết W0 và tổng sản phẩm sản xuất trong năm M của phân xưởng hay xí nghiệp, phụ tải tính toán sẽ là : Tmax: Thời gian sử dụng công suất lớn nhất. Được sử dụng tính toán đối với các thiết bị có đồ thị phụ tải ít biến đổi như quạt gió, bơm nước … Khi đó P_tt=P_tb kết quả tương đối chính xác. Xác định phụ tải tính toán theo công suất phụ tải trên một đơn vị diện tích sản phẩm: F: Diện tích bố trí nhóm hộ tiêu thụ. P0 : Suất phụ tải trên một đơn vị diện tích sản xuất là m2, kwm2 Phương pháp này chỉ cho kết quả gần đúng. Nó được dùng để tính các phụ tải phân xưởng. Có mật độ máy móc sản xuất phân bố tương đối đều. Xác định phụ tải theo công suất đặt: Xác định đồ thị phụ tải theo hệ số Kmax và công suất trung bình Ptb: Phụ tải tính toán cho một nhóm n máy xác định theo công thức căn cứ vào công suất trung bình Ptt và hệ số cực đại Kmax. Trong đó: Với là công suất trung bình của nhóm này trong thời gian khảo sát, thường lấy là 1 ca hay 1 ngày đêm. Ptt – Công suất định mức của máy, nhà chế tạo cho. Ksd – Hệ số sử dụng, tra bảng 1.1 trang 225 Giáo trình Cung cấp điện, ví dụ với nhóm máy gia công kim loại ( tiện, cưa, khoan, bào ) của phân xưởng cơ khí tra được Ksd = 0,2 – 0,4. Cosφ – Hệ số suất của nhóm máy gia công Cosφ = 0,6 – 0,7. Hình 1 . Minh họa các đại lượng Ptt,Ptb,Pdm. Kmax hệ số cực đại, tra bảng 1.4 trang 227 Giáo trình Cung cấp điện ( theo nhq và ksd ) , nhq là số thiết bị dùng hiệu quả, nếu số thiết bị giả thuyết có công suất bằng nhau, có cùng chế độ làm việc và gây ra 1 phụ tải tính toán đúng gần bằng phụ tải tính toán do nhóm thiết bị thực tế gây ra. Ý nghĩa thực tế của nhq là ở chỗ : một nhóm máy bất kỳ bao gồm nhiều máy có công suất khác nhau, đặc tính kỹ thuật khác nhau, chế độ làm việc, quá trình công nghệ khác nhau rất khó tính toán phụ tải điện. Người ta đưa vào đại lượng trung gian nhq nhằm giúp cho việc xác định phụ tải điện của nhóm máy dễ dàng tiện lợi mà sai số phạm phải là cho phép. Các bước xác định như sau : Xác định n1 – Số động cơ có công suất lớn hơn hoặc bằng 1 nửa công suất động cơ lớn nhất. Xác định P1 Công suất của n1 động cơ trên. Xác định các tỷ số : Tra bảng 1.5 trang 228 Giáo trình Cung cấp điện ( theo n và P ) tìm được nhq. Xác định nhq theo biểu thức: nhq = n . nhq Tính toán đỉnh nhọn : Phụ tải đỉnh nhọn kéo dài từ 1 đến 2 giây thì được họi là phụ tải đỉnh nhọn. Phụ tải đỉnh nhọn thường được tính dưới dòng đỉnh nhọn Iđn. Dòng điện này dùng để kiểm tra độ lệch điện áp, chọn các thiết bị bảo vệ tính toán khởi động của động cơ. Đối với 1 máy : Iđn = Imax = Kmin.Iđm Kmin: Hệ số máy của động cơ. Đối với động cơ điện không đồng bộ roto lồng sóc Kmin = 5 ÷ 7. Đối với động cơ điện một chiều hoặc roto dây quấn Kmin= 2,5. Đối với lò điện Kmin=1. Lò điện hồ quang và máy biến áp hàn Kmin = 3. Đối với nhóm máy lò điện đỉnh nhọn xuất hiện khi có dòng mở máy lớn nhất trong nhóm máy:
Xem thêm

96 Đọc thêm

Thiết kế lưới điện khu vực và tính ổn định động khi xảy ra ngắn mạch ba pha tại đầu đường dây gần máy phát điện

THIẾT KẾ LƯỚI ĐIỆN KHU VỰC VÀ TÍNH ỔN ĐỊNH ĐỘNG KHI XẢY RA NGẮN MẠCH BA PHA TẠI ĐẦU ĐƯỜNG DÂY GẦN MÁY PHÁT ĐIỆN

Điện năng là một nguồn năng lượng quan trọng của hệ thống năng lượng quốc gia, nó được sử dụng rộng rãi trên hầu hết các lĩnh vực như: sản xuất kinh tế, đời sống xã hội, nghiên cứu khoa học… Đối với mỗi đất nước, sự phát triển của ngành điện là tiền đề cho các lĩnh vực khác phát triển.Hiện nay nước ta đang phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nên nhu cầu về điện năng đòi hỏi ngày càng cao về số lượng cũng như chất lượng. Để đáp ứng được về số lượng thì ngành điện nói chung phải có kế hoạch tìm và khai thác tốt các nguồn năng lượng có thể biến đổi chúng thành điện năng. Mặt khác để đảm bảo về chất lượng có điện năng cần phải xây dựng hệ thống truyền tải, phân phối điện năng hiện đại, có phương thức vận hành tối ưu nhất đảm bảo các yêu cầu về kỹ thuật cũng như kinh tế. Xuất phát từ yêu cầu thực tế, em được nhà trường và khoa Hệ Thống Điện giao cho thực hiện đề tài tốt nghiệp: “Thiết kế lưới điện khu vực và tính ổn định động khi xảy ra ngắn mạch ba pha tại đầu đường dây gần máy phát điện”. Đồ án tốt nghiệp gồm 2 phần: •Phần I: từ chương 1 đến chương 8 với nội dung: “Thiết kế mạng lưới điện khu vực 110 kV”.•Phần II: gồm chương 9 đến chương 11 với nội dung: “Tính ổn định động khi xảy ra ngắn mạch ba pha chạm đất tại đầu đường dây gần máy phát điện”.
Xem thêm

115 Đọc thêm

PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÍ CÔNG SUẤT CHO NGUỒN PHÁT PHÂN TÁN HỆ THỐNG VI LƯỚI (MICOGRID)

PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÍ CÔNG SUẤT CHO NGUỒN PHÁT PHÂN TÁN HỆ THỐNG VI LƯỚI (MICOGRID)

ivTÓM TẮTVới sự gia tăng mức độ cảnh báo toàn cầu về năng lượng, các máy phát phântán dựa trên các nguồn năng lượng tái tạo (DGs) sẽ đóng một vai trò quan trọngtrong việc sản xuất điện năng. Máy phát phân tán dựa trên năng lượng mặt trời(quang điện và quang nhiệt), gió, sinh khối, thủy điện nhỏ vùng với việc sử dụngpin nhiên liệu và máy phát điện tua bin nhỏ đã có những bước phát triển mạnh mẽvà đáng kể trong những năm qua.Một vi lưới (microgrid) bao gồm một nhóm phụ tải và các nguồn phân tán, cóthể hoạt động như một hệ thống có điều khiển riêng biệt. Sự kết nối của các DG vớilưới điện thông qua một bộ chuyển đổi điện tử công suất đã nhận được sự quan tâmngày càng tăng cao, chủ yếu liên quan đến việc vận hành an toàn và bảo vệ các thiếtbị.Trong quá trình hoa ̣t đô ̣ng của các bô ̣ pin năng lươ ̣ng mă ̣t trời kế t nố i lưới điê ̣nphân phố i, ngoài việc phải hoạt động tại điểm có công suất lớn nhất theo sự thay đổicủa cường độ bức xạ mặt trời thì yêu cầu về tối thiểu hóa tổng độ méo dạng sónghài (THD) là một yêu cầu cần phải đạ t đươ ̣c để đảm bảo chấ t lươ ̣ng điê ̣n năng theotiêu chuẩn IEC – 1547.Còn trong lĩnh vực năng lượng gió, đối với các máy phát điện gió công suấtnhỏ chỉ được thiết kế để hoạt động độc lập. Vì vậy, việc thiết kế bộ chuyển đổi nănglượng gió hòa đồng bộ lưới điện phân phối là một yêu cầu cấp thiết hiện nay.Luận văn tập trung xử lí vấn đề duy trì vận hành bình thường cho các phụ tảikhi lưới điện chuyển từ trạng thái nối lưới sang trạng thái vận hành độc lập do mấtnguồn điện lưới. Xây dựng phương pháp ổn định điện áp cho phụ tải trong một thờigian sau khi xuất hiện sự cố mất nguồn điện lưới đồng thời tối ưu hóa công suấtphát điện của các nguồn phân tán (mặt trời và gió) và nâng cao chất lượng điệnnăng trong điều kiện thay đổi của môi trường bên ngoài.
Xem thêm

114 Đọc thêm

Lý thuyết. Dòng điện không đổi. Nguồn điện

LÝ THUYẾT. DÒNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI. NGUỒN ĐIỆN

1. Dòng điện là dòng dịch chuyển có hướng của các hạt mang điện. I. Dòng điện Theo các kiến thức đã học ta biết: 1. Dòng điện là dòng dịch chuyển có hướng của các hạt mang điện. 2. Dòng điện trong kim loại là dòng dịch chuyển có hướng của các hạt electron tự do. 3. Chiều của dòng điện được quy ước là chiều dịch chuyển có hướng của các điện tích dương trong vậy dẫn. Chiều qui ước của dòng điện chạy qua dây dẫn kim loại ngược chiều với chiều dịch chuyển có hướng của các hạt điện tích trong kim loại đó. 4. Dòng điện chạy trong vật dẫn có thể gây những tác dụng phụ: tác dụng từ, nhiệt, cơ, hóa, sinh... trong đó tác dụng từ là tác dụng đặc trưng nhất. Đối với mỗi tác dụng em h ãy kể tên một dụng cụ chủ yếu dựa vào tác đụng của dòng điện. 5. Trị số của dòng điện cho biết mức độ mạnh hay yếu của dòng điện. Dại lương này được do băng ampe kế và đơn vị ampe(A)/ II. Cường độ dòng điện,  dòng điện không đổi. 1. Nếu có một đại lượng điện tích ∆q dịch chuyển qua tiết diện S của dây dẫn trong thời gian ∆t thì cường độ dòng điện là:        ( 7.1) Vậy cương độ dòng điện được xác định bằng thương số của điện lượng ∆q và dịch chuyển qua tiết diện thẳng và vật dẫn trong khoảng thời gian ∆t và khoảng thời gian đó. 2. Dòng điện không đổi: Dòng điện không đổi là dòng điện có chiều và cường độ không đổi theo thời gian.  Thay cho  công thức 7.1, cường độ dòng điện khôn g đổi được tính theo công thức:  (7.2) Trong đó,  q là điện lượng chuyển qua tiết diện thẳng của vật dẫn trong khoảng thời gian  t. 3. Đơn vị của cường độ dòng điện và điện lượng. a) Đơn vị của cường độ dòng điện trong hệ SI là ampe được xác định là: Ampe là một trong bảy đơn vị cơ bản của hệ SI. b) Đơn vị của điện lượng là Culông (C), được định nghĩa theo đơn vị ampe. 1C = 1 A.s. III. Nguồn điện 1. Điều kiện để có dòng điện. a) Theo kiến thức đã học ta biết: + Các vật  cho dòng điện chạy qua được gọi là vật dẫn. Các hạt mang điện trong các vật dẫn có đặc điểm là có thể dịch chuyển tự do. + Phải có hiệu điện thế giữa hai đầu một đoạn mạch hay giữa hai đầu một bóng đèn để có dòng điện chạy qua chúng. b) Kết luận: Điều kiện để có dòng điện là phải có một hiệu điện thế đặt vào hai đầu vật dẫn điện. 2. Nguồn điện. Nguồn điện là dụng cụ để duy trì hiệu điện thế giữa hai cực của nguồn điện. Hiệu điện thế được duy trì ngay cả khi có dòng điện chạy qua các vật dẫn nối liền giữa hai cực  của nó.  Có nghĩa là sự tích điện khác nhau ở các cực của nguồn điện tiếp tục được duy trì. Điều này được thể hiện trong nhiều nguồn điện bằng cách tách các electron ra khỏi cức của nguồn điện. Khi đó có một cực thừa electron gọi là cực âm, một cực còn lại thiều hoặc ít electron được gọi là cực dương. Việc tách đo do các lực bản chất khác với lực điện gọi là lực lạ. IV. Suất điện động của nguồn điện. 1. Công của nguồn điện Công của các lực lạ thực hiện làm dịch chuyển các điện tích qua nguồn được gọi là công của nguồn điện. Nguồn điện là một nguồn năng lượng vì nó có khả năng thực hiện công khi dịch chuyển các điện tích dương bên trong nguồn điện ngược chiều điện trường hoặc dịch chuyển các điện tích âm bên trong nguồn điện cùng chiều điện trường. 2. Suất điện động của nguồn điện. a) Định nghĩa: Suất điện động ξ của một nguồn điện là đại lượng đặc trưng cho khả năng thực hiện công của nguồn điện vì và được đo bằng thương số giữa công A của lực lạ thực hiện dịch chuyển một điện tích q ngược chiều điện trường và độ lớn của điện tích q đó. b) Công thức: ξ= (7.3) c) Đơn vị. Từ định nghĩa và công thức (7.3), ta thấy suất điện động có cùng đơn vị với hiệu điện thế và hiệu điện thế là Vôn (V): 1V= 1J/1C Số vôn ghi trên mỗi nguồn điện cho biết trị số của suất điện động của nguồn điện đó. Như đã biết số vôn này cúng là giá trị của hiệu điện thế giữa hai đầu của nguôn điện khi mạch hở. Vì vậy, suất điện động của nguồn điện có giá trị bằng hiệu điện thế giữa hai cực của nó khi mạch hở. Trong mạch điện kín, dòng điện chạy qua mạch ngoài và cả mạch trong. Như vậy, nguồn điện cũng là một vật dẫn và cũng có điện trở. Điện trờ này được gọi là điện trở trong của nguồn điện. Vì vậy mỗi nguồn điện được đặc trung bằng suất điện động ξ và điện trở trong r của nó. VI. PIN và Acquy (Đọc thêm)
Xem thêm

3 Đọc thêm

HỆ THỐNG CẢNH BÁO TRỘM QUA SMS

HỆ THỐNG CẢNH BÁO TRỘM QUA SMS

1.Tóm tắtTrong nội dung đồ án tốt nghiệp, nhóm chúng tôi sẽ thực hiện xây dựng mô hình “ hệ thống cảnh báo trộm qua SMS” thực hiện các chức năng sau: + Khi có người lạ đột nhập vào ngôi nhà và đi vào vùng quét của cảm biến hồng ngoại thì hệ thống sẽ bật đèn, báo chuông và đồng thời gửi tin nhắn cảnh báo tới cho các thuê bao đã được thiết lập trong hệ thống. + Hệ thống có thể thiết lập tối đa 3 số thuê bao nhận tin nhắn cảnh báo, mọi thao tác thực hiện bằng bàn phím, hiển thị trên LCD và hoàn toàn được bảo mật bằng mật khẩu. + Ngoài ra phương án dự phòng trong trường hợp bị mất điện hoặc bị kẻ gian cắt điện cũng được tính tới bằng việc tự động chuyển qua dùng acquy. Nguyên lý hoạt động của hệ thống: Trong những trường hợp có người lạ đột nhập vào nhà, thân nhiệt của người sẽ bức xạ ra tia hồng ngoại và cảm biến hồng ngoại sẽ nhận được tia bức xạ đó khi người đi vào vùng quét của cảm biến hồng ngoại. Từ tín hiệu ra của cảm biến khi có người lạ đột nhập thông qua module phát và thu RF đối với cảm biến không dây hoặc truyền trực tiếp đối với cảm biến có dây, tín hiệu được gửi về vi điều khiển xử lí. Khi đó hệ thống sẽ gửi tin nhắn cảnh báo đến số điện thoại người dùng đồng thời hú chuông báo động và bật đèn.Hệ thống cũng hỗ trợ việc thay đổi số điện thoại trong trường hợp người dùng muốn thay đổi số thuê bao nhận tin nhắn một cách dễ dàng và bảo mật. Người dùng có thể thiết lập tối đa 3 số điện thoại để khi có người lạ đột nhập thì hệ thống sẽ gửi tin nhắn cảnh báo tới các số đã được thiết lập này. Ngoài ra phương án dự phòng trong trường hợp bị mất điện hoặc bị kẻ gian cắt điện cũng được tính tới bằng việc tự động chuyển qua dùng acquy.2.Nội dung nghiên cứuĐể thực hiện thành công đề tài “Hệ thống cảnh báo trộm qua SMS”, nhóm chúng tôi lần lượt nghiên cứu các nội dung lý thuyết liên quan: Nghiên cứu tổng quan về công nghệ GSM. Nghiên cứu tổng quan về SMS.. Nghiên cứu về các linh kiện sử dụng trong mạch gồm có : Module Sim908, PIC 16F887, cảm biến hồng ngoại PIR, LCD 20x4, module thu phát RF, Relay. Nghiên cứu về ngôn ngữ lập trình CCS C và phần mềm PIC C Compiler.Những nội dung lý thuyết nêu trên được trình bày lần lượt trong chương 2 và chương 3 của đồ án.
Xem thêm

73 Đọc thêm

CÁC SỰ CỐ HIỂN THỊ TRÊN BỘ ĐIỀU KHIỂN

CÁC SỰ CỐ HIỂN THỊ TRÊN BỘ ĐIỀU KHIỂN

CÁC SỰ CỐ HIỂN THỊ TRÊN BỘ ĐIỀU KHIỂN: Áp dụng cho Deap Sea – model 7220 & 7320Sự cố/ hiển thịEngine under speed Gen.under frequency (Tốc độ vàtần số máy phát thấp)Nguyên nhânBộ điều tốc của động cơ bị hỏngGen. over current (Dòng điệnmáy phát quá tải )Battery under voltage (Điện ápbình điện thấp)Fuel level low (Mức nhiên liệuthấp)Main under voltage (Điện áplưới thấp)Main over voltage (Điện áplưới cao)Main under frequency (Tần sốđiện lưới thấp)Gen phase seq wrong (Ngượcthứ tự pha)Gen short circuit (Máy phátngắn mạch)Negative phase sequency(Dòng điện 3 pha không cânbằng)Coolant temp high (Nhiệt độ
Xem thêm

5 Đọc thêm

KHẢO SÁT ĐỘNG CƠ BƯỚC

KHẢO SÁT ĐỘNG CƠ BƯỚC

Máy điện bao gồm động cơ điện và máy phát điện. Máy phát điện biến đổi cơ năng thành điện năng. Động cơ điện biến đổi điện năng thành cơ năng. Trong thực tế động cơ điện được sử dụng rộng rãi hơn. Trong điều khiển chuyển động kỹ thuật số động cơ bước là cơ cấu chấp hành đặc biệt hữu hiệu bởi nó có thể thực hiện trung thành các lệnh đưa ra dưới dạng số. Chúng được sử dụng rộng rãi trong các hệ thống tự động, điều khiển xa và nhiều thiết bị điện tử khác, nổi bật là trong các lĩnh vực sau: điều khiển đọc ổ cứng, ổ mềm, và máy in trong hệ máy tính, điều khiển robot, điều khiển tiêu cự trong các hệ quang học, điều khiển vị trí trong các hệ quang khắc phức tạp, điều khiển bắt, bám mục tiêu trong các khí tài quan sát, điều khiển lập trình trong các thiết bị gia công, cắt gọt, điều khiển các cơ cấu lái phương chiều trong máy bay,… Động cơ bước là loại động cơ điện có nguyên tắc và ứng dụng khác biệt với đa số các động cơ điện thông thường.
Xem thêm

29 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU VÀ ĐÁNH GIÁ ĐỘ TIN CẬY CỦA LƯỚI ĐIỆN PHÂN PHỐI LỘ 471 E3 7 THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

NGHIÊN CỨU VÀ ĐÁNH GIÁ ĐỘ TIN CẬY CỦA LƯỚI ĐIỆN PHÂN PHỐI LỘ 471 E3 7 THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

Số trạng thái của hệ thống điện rất lớn (bằng 2n với n là số phần tử).Các trạng thái của hệ thống cũng được đặc trưng bởi:-Thời gian trung bình hệ thống ở trạng thái đó, gọi là thời gian trạng thái Ti ;-Tần suất trạng thái f i , là số lần hệ thống rơi vào trạng thái i trong một đơnvị thời gian;-Xác suất trạng thái Pi , là xác suất hệ thống ở trạng thái i, đó chính là thờigian tương đối hệ thống ở trạng thái i.Các trạng thái của hệ thống điện được chia làm hai tập: Tập trạng thái tốt trongđó hệ thống điện làm việc tốt; Tập trạng thái hỏng trong đó hệ thống điện bị hỏngtheo tiêu chuẩn đã chọn.Trên hình 1.1 thể hiện mối quan hệ giữa trạng thái hỏng của hai phần tử chínhcủa hệ thống điệnmáy phát và đường dây (bao gồm cả máy biến áp) với cáctrạng thái hỏng của hệ thống điện. ơ đồ trên hình 1.1 cho các trạng thái hỏng củahệ thống điện, tức là các trạng thái không hoàn thành nhiệm vụ gồm: Phụ tải bị mấtđiện; hệ thống điện bị sụp đổ, mất điện một phần hoặc toàn hệ thống.Các nguyên nhân trực tiếp khiến phụ tải mất điện gồm: Thiếu công suất phát;Nút tải bị cô lập do sự cố đường dây cấp điện trực tiếp; Đường dây bị quá tải hoặcđiện áp nút không đạt yêu cầu; Hệ thống điện bị phân rã.Trạng thái hỏng của máy phát và đường dây có gây ra các trạng thái hỏng củahệ thống điện hay không còn tùy thuộc vào cấu trúc hệ thống điện: độ dư thừa công
Xem thêm

Đọc thêm

Đồ án bảo vệ rơ le trong hệ thống điện

ĐỒ ÁN BẢO VỆ RƠ LE TRONG HỆ THỐNG ĐIỆN

Khi thiết kế hoặc vận hành bất kì 1 hệ thống điện nào cũng phải kể đến các khả năng phát sinh các hư hỏng và tình trạng làm việc không bình thường trong hệ thống điện ấy. Ngắn mạch là loại sự cố có thể xảy ra và nguy hiểm nhất trong hệ thống điện. Hậu quả của ngắn mạch là: Làm giảm thấp điện áp ở phần lớn của hệ thống điện Phá hủy các phần tử sự cố bằng tia lửa điện. Phá hủy các phần tủ có dòng điện ngắn mạch chạy qua do tác dụng của nhiệt và cơ. Phá vỡ sự ổn định của hệ thống. Ngoài các loại hư hỏng, trong hệ thống điện còn có các tình trạng làm việc không bình thường như là quá tải. Khi quá tải, dòng điện tăng cao làm nhiệt độ của các phần dẫn điện vượt quá giới hạn cho phép, làm cho cách điện của chúng bị già cỗi và đôi khi bị phá hỏng. Để đảm bảo sự làm việc liên tục của các phần tử không hư hỏng trong hệ thống điện cần có các thiết bị phát ghi nhận sự phát sinh của hư hỏng với thời gian bé nhất, phát hiện ra các phần tử bị hư hỏng và cắt nó ra khỏi hệ thống điện. Thiết bị này được thực hiện nhờ các khí cụ tự động gọi là rơ le. Thiết bị bảo vệ thực hiện nhờ những rơ le gọi là thiết bị bảo vệ rơ le. Như vậy, nhiệm vụ chính của thiết bị bảo vệ rơ le là tự động cắt phần tử hư hỏng ra khỏi hệ thống điện. Ngoài ra, còn ghi nhận và phát hiện những tình trạng làm việc không bình thường của các phần tử trong hệ thống điện. Tùy mức độ mà bảo vệ rơ le có thể tác động hoặc báo tín hiệu đi cắt máy cắt.
Xem thêm

33 Đọc thêm

Bài C3 trang 54 sgk vật lý 7

BÀI C3 TRANG 54 SGK VẬT LÝ 7

Hãy kể tên các nguồn C3. Hãy kể tên các nguồn điện có trong hình 19.2 và một vài nguồn điện khác mà em biết. Hãy quan sát hình 19.2 hoặc những chiếc pin thật và chỉ ra đâu là cực dương, đâu là cực âm của mỗi nguồn điện này. Bài giải: Các nguồn điện có trong hình 19.2 SGK: pin tiểu, pin tròn, pin vuông pin dạng cúc áo, ắc quy Các nguồn điện khác: Đinamô xe đạp, pin mặt trời, máy phát điện, ổ điện trong nhà. Chỉ ra cực dương và cực âm: - Pin tròn: cực âm là đáy bằng (vỏ pin), cực dương là núm nhỏ nhô lên (đầu có ghi dấu +) - Pin vuông: cực âm là đầu loe ra (có ghi dấu -), cực dương là đầu khum tròn (có ghi dấu +) - Pin dạng cúc áo: cực dương là đáy bằng, to (có ghi dấu +), cực âm là mặt tròn nhỏ ở đáy kia (có ghi dấu -) - Ắc quy: hai cực có dạng giống nhau, gần cực dương có ghi dấu (+) gần cực âm có ghi dấu (-) ở thành ắc quy.                
Xem thêm

1 Đọc thêm

MẶT BẰNG VÀ LỊCH TRÌNH THI CÔNG XÂY DỰNG MỎ

MẶT BẰNG VÀ LỊCH TRÌNH THI CÔNG XÂY DỰNG MỎ

VI.1 ĐỊA HÌNH VÀ YÊU CẦU XÂY DỰNG MẶT BẰNG CÔNG NGHIỆP 1. Địa hình và các yếu tố ảnh hưởng đến công tác thiết kế tổng đồ mặt mỏ Khu mỏ có địa hình đồi núi thấp đến trung bình. Độ cao từ 50m 150m, khu vực phía Nam và phía Tây núi có độ cao 200 250m. Địa hình phân cắt, mạng sông suối dày đặc, về mùa mưa ảnh hưởng nhiều đến giao thông đi lại. Sau quá trình khai thác lộ thiên, khu mỏ đã sẵn có một số mặt bằng có thể san lấp thêm để tạo mặt bằng cho sản xuất và sinh hoạt. Mặt khác, do điều kiện mỏ cách trung tâm thị xã Cẩm Phả 15km nên việc xây dựng khu tập thể cho cán bộ công nhân viên là rất cần thiết. Mỏ Đông Ngã Hai có suối Ngã Hai chảy từ trung tâm mỏ qua phía Đông Bắc, phía Bắc rồi chảy theo hướng Tây đổ vào sông Diễn Vọng, nước chảy quanh năm, lưu lượng nước thay đổi theo mùa. Ngoài ra còn có một số suối và khe suối có lưu vực nhỏ, chảy về hướng Tây, Tây Bắc và đổ tiếp ra sông Diễn Vọng. Nguồn năng lượng cung cấp cho mỏ chủ yếu là nguồn điện lưới Quốc gia và nguồn điện máy phát dự phòng. Nguồn nước sinh hoạt cho mỏ ở đây được cung cấp bằng các đường ống dẫn từ suối qua hệ thống xử lý nguồn nước ở trong khu mỏ để phục vụ sinh hoạt. 2. Yêu cầu xây dựng mặt bằng công nghiệp Khi thiết kế tổng đồ mặt mỏ cần xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến việc bố trí các công trình trên mặt mỏ: Quy trình công nghệ của xí nghiệp, dạng vận tải giữa các phân xưởng, điều kiện cung cấp năng lượng, yêu cầu kiến trúc, điều kiện tự nhiên và trình tự phát triển của xí nghiệp. Trên cơ sở đó, việc thiết kế cần đảm bảo các nguyên tắc và yêu cầu sau: Giảm diện tích sân công nghiệp xuống mức tối thiểu nhưng phải đảm bảo bố trí hết nhà, các công trình của xí nghiệp đồng thời đảm bảo khả năng mở rộng khi cần thiết. Quy khối nhà và các công trình đối với các xí nghiệp lớn. Bố trí các phân xưởng và thiết bị phù hợp với quy trình sản xuất và hướng vận tải. Các phân xưởng phụ bố trí cạnh các phân xưởng chính mà chúng phục vụ. Sân công nghiệp bố trí gần đường giao thông, nguồn nước, nguồn cung cấp điện để tiện cho việc cung cấp. Các trạm cung cấp năng lượng bố trí gần trung tâm tiêu thụ hoặc gần phụ tải tiêu thụ lớn nhất. Các đường xe phải thẳng và hệ thống điện nước kỹ thuật phải được bố trí dọc theo các đường xe. Khi bố trí các công trình cần chú ý đến độ sâu, tính chất của điều kiện địa chất thủy văn bất lợi, địa chất bất lợi dưới ngầm. Bảo đảm khoảng cách an toàn và đường đi giữa các công trình. Chú ý giảm bớt khối lượng công việc làm đất. Đưa dần từng công trình vào hoạt động nhằm giảm áp lực đầu tư, tập huấn và bồi dưỡng cán bộ.
Xem thêm

6 Đọc thêm

NHỮNG TRỤC TRẶC CỦA MÁY GIẶT BẠN CÓ THỂ TỰ XỬ LÝ

NHỮNG TRỤC TRẶC CỦA MÁY GIẶT BẠN CÓ THỂ TỰ XỬ LÝ

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Máy giặt có hiện tượng rung mạnh và kêu to Khi máy giặt bị rung mạnh, có thể nguyên nhân xuất phát từ cách kê máy giặt bị lệch và không cân bằng ở 4 góc chân. Để giải quyết tình trạng rung này, cách đơn giản nhất bạn chỉ cần làm đó là điều chỉnh lại vị trí kê máy giặt sao cho máy trông thật vững chãi, chắc chắn và tạo được cảm giác an toàn. Trong trường hợp máy giặt kêu to, hai nguyên nhân chủ yếu gây ra hiện tượng này đó chính là: quần áo trong thùng bị xoắn gây rối đội hình giặt, hoặc có vật thể lạ trong máy giặt mà bạn chưa kịp lấy ra từ trong túi quần hay áo. Để khắc phục, bạn chỉ cần tắt máy, kiểm tra lại quần áo và chú ý làm tơi quần áo. Máy giặt xả nước liên tục không ngừng Lý do là vì van xả của máy giặt đang bị kẹt vì các vật thể lạ theo quần áo đi vào trong máy giặt. Trong trường hợp rò rỉ ở mức độ thấp, bạn giặt máy bình thường sau thời gian vật thể lạ sẽ tự động theo đường nước trôi nhanh ra ngoài, máy giặt quay trở về trạng thái như bình thường. Ở mức độ nặng hơn, hãy nhờ chuyên gia của trung tâm bảo hành để kịp thời sửa chữa.   Có những trục trặc của máy giặt bạn có thể tự khắc phục thay vì mất tiền gọi thợ sửa chữa. Dù đang ở chế độ xả tràn nhưng nước không chảy ra khỏi ống xả Thông thường trong trường hợp này người giặt đã không tuân thủ theo đúng hướng dẫn được ghi ở tờhướng dẫn sử dụng. Nguyên nhân chính gây ra hiện tượng này, đó là: người dùng đã cài đặt mức nước và áp suất thấp hơn mức bình thường, động thái mà bạn cần làm chỉ là tùy chỉnh lại mức nước cùng áp suất sao cho tỷ lệ cấp nước đạt tiêu chuẩn là 15 lít/ phút. Nước không chảy vào thùng khi giặt và vắt Đây là hiện tượng cũng thường xảy ra trong quá trình giặt, hãy thử kiểm tra lại xem bạn có đang bỏ sót bất kỳ một giai đoạn nào trước khi bắt đầu giặt hay không? Đầu tiên kiểm tra lại nguồn cung cấp nước, sau đó là vòi cấp nước đã mở hay chưa, cuối cùng là kiểm tra lưới kim loại- phần lưu thông lượng nước ra vào có bị tắt nghẽn không? Thời gian xả nước giặt quá lâu Bạn cần phải kiểm tra ngay ống xả nước có được nối đúng như quy định hay không, nếu chưa ống xả bị nghẽn có thể là nguyên nhân dẫn đến tình trạng thời gian xả bị kéo dài. Thêm một nguyên nhân khác có thể gây ra tình trạng này đó là ống xả nước nhà bạn bị biến dạng hay méo mó do tác nhân bên ngoài tác động, hãy tắt máy và kiểm tra lại chúng một cách cẩn thận. Máy giặt không thực hiện chức năng vắt Thông thường nhất sẽ có 3 nguyên nhân gây ra hiện tượng này, hãy ra soát và kiểm tra cẩn thận trước khi bạn gọi người của trung tâm bảo hành đến. Thứ nhất: kiểm tra thật kỹ nắp máy giặt đã đóng chưa, thứ hai: có thể phần đồ giặt bị dồn về một phía của thùng vắt, chỉ cần điều chỉnh lại sao cho đồ cân bằng là được. Thứ ba: kiểm tra lại ổng xả nước có bị tình trạng nghẹt hay không.   Máy giặt trong trạng thái không hoạt động dù cắm điện Khi gặp trường hợp này, thông thường người dùng sẽ nghĩ rằng máy giặt bị hỏng, tuy nhiên tình trạng vẫn chưa đến mức độ nghiêm trọng đến vậy. Bạn nên ưu tiên kiểm tra các phần quan trọng như sau: công tắc nguồn POWER SWITCH và nút khởi động START/PAUSE xem bạn đã nhấn chưa, dây điện và nguồn điện có thực sự ổn chưa? Máy giặt giặt quần áo không sạch Trong thùng máy giặt, lượng nước và lượng quần áo không cân bằng, đây là nguyên nhân thường gặp phải khi xảy ra hiện tượng giặt quần áo không sạch như mong muốn. Thứ hai là do việc vệ sinh của thùng máy và lồng giặt chưa thật kỹ lưỡng nên làm ảnh hưởng đến quần áo. Chỉ cần điều chỉnh và chú ý quan sát hơn bạn sẽ cải thiện được việc giặt cho cả gia đình. Bột giặt còn dính trên quần áo Sau khi máy giặt hoàn thành các quá trình: giặt, xả, vắt, bạn phát hiện ra quần áo vẫn còn vương những hạt bột giặt li ti. Bạn tự hỏi nguyên nhân nào gây ra tình trạng này? Có thể bạn đã dùng quá dư thừa bột giặt, nên lượng dư còn tồn đọng trên quần áo, nguyên nhân tiếp nữa có thể xuất phát từ nhiệt của nước quá thấp, nhiệt độ phải thấp hơn 40 độ C thì nước mới hòa tan được hết lượng bột giặt. Quá trình bơm nước vào máy giặt rất yếu Nguồn nước của máy giặt quá yếu sẽ làm cho bạn mất khá nhiều thời gian cho việc giặt, có thể gây hại đến máy về lâu dài. Có hai cách để cải thiện quá trình bơm nước vào máy giặt, bạn có thể thử như sau: hãy đặt máy giặt nơi có áp lực nước mạnh hơn; đổ trực tiếp nước vào máy giặt hoặc dùng bơm trợ lực để máy được hoạt động nhanh hơn. Ở giữa tiến trình giặt hoặc xả, máy giặt bỗng cấp nước Thông thường, khi đang ở giữa tiến trình xả hoặc giặt, máy giặt sẽ ngưng việc cấp nước, đây là nguyên tắc của bất kỳ một máy giặt nào. Thế nhưng vì sao máy giặt bạn bỗng có hiện tượng cấp nước? Có lẽ bạn đã mắc phải lỗi cơ bản sau: bạn mở nắp và bỏ thêm đồ giặt vào, tiếp đến là mực nước bạn cung cấp cho máy giặt không đủ, chỉ cần chú ý một chút máy giặt sẽ hoạt động tốt như bình thường. Bảng điều khiển bị nóng lên trong khi giặt và sau khi giặt Do những phần bên dưới bảng điều khiển phát nhiệt khi máy giặt hoạt động. Máy giặt ngưng khi đang hoạt động Nắp máy giặt mở khi đang ở tiến trình vắt. Hãy đóng nắp máy giặt khi máy đang vận hành. Đồ giặt bị dồn về một phía thùng giặt/vắt. Hãy điều chỉnh đồ giặt lại cho cân bằng Cửa máy giặt không mở được Chương trình giặt còn đang chạy. Khóa cửa chưa được tháo ra. Có nước tron thùng máy giặt.   Những lưu ý khi sử dụng máy giặt: Máy giặt không nên để nơi ẩm ướt dễ bị rò rỉ điện. Để tránh dòng điện rò, nên cắm vào ổ cắm có nối đất. Nên đặt máy ở nơi thông gió, thoáng khí. Không được xoay ngược bộ phận định giờ. Sau khi dùng xong, nên lau sạch các vết bẩn trong và ngoài máy giặt. Điều này có lợi làm cho máy được bảo quản tốt và tránh vi khuẩn sinh sôi. Không nên đặt máy trong nhà bếp, vì hơi nước, hơi dầu mỡ, hơi mặn… bám vào máy dễ làm ẩm, gỉ… máy giặt. Định kỳ một năm một lần tháo bánh sóng làm vệ sinh sạch sẽ những vết bụi bẩn bám lâu ngày. Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng để có biện pháp tra dầu mỡ vào những chi tiết quy định như các ổ trục của bộ phận chuyển động. Thời gian sử dụng máy giặt không nên kéo dài (tránh giặt liên tục hết mẻ này đến mẻ khác). Khi sử dụng máy giặt không nên bỏ đi, hay đi ngủ. Cần chú ý để xử lý những sự cố có thể xảy ra. Nếu thấy máy nóng hoặc phát ra tiếng động lạ phải lập tức dừng ngay việc giặt lại để kiểm tra. Thông thường quần áo dạng sợi tổng hợp hay hàng tơ, lông nên giặt khoảng 2-4 phút; quần áo bình thường giặt 6-8 phút; nếu quần áo quá bẩn thì giặt từ 10-12 phút. Sau đó chuyển sang chế độ xả. Rút ngắn thời gian sử dụng hợp lý ngoài việc tiết kiệm điện, nước còn kéo dài tuổi thọ của cả quần áo và máy. Nếu quần áo quá bẩn nên ngâm nước khoảng 20 phút bên ngoài, chà sạch các cổ áo sau đó cho vào máy. Tỷ lệ trọng lượng của nước và quần áo là 20:1 là ở chế độ tiết kiệm. Nên dùng bột giặt ít bọt nhưng có năng lực tẩy rửa cao khi giặt bằng máy. Điều này làm cho khi xả được mau sạch và có thể tiết kiệm được 1-2 lần nước. Tùy theo loại quần áo mà chọn chế độ giặt thích hợp. Các loại vải cao cấp như tơ lụa nên chọn chế độ giặt nhẹ; quần áo bình thường chọn chế độ vừa, chỉ có quần áo dày như Jean, kaki… mới dùng chế độ giặt mạnh. Muốn tiết kiệm điện, nước rút ngắn thời gian giặt và quần áo được giặt sạch, sau lần giặt đầu tiên nên lấy ra vắt cho hết nước bẩn đi rồi hãy giặt tiếp (vì ở các chế độ xả máy không tự vắt được, điều này làm các chất bẩn khó thoát ra hết bên ngoài). Nếu phải giặt bằng nước ấm, nhiệt độ thích hợp nhất dùng cho máy giặt là 40 độ C. Ở nhiệt độ này, bột giặt sẽ ngấm tốt vào quần áo và lôi kéo chất bẩn ra ngoài. Nếu nước nóng quá, sẽ làm quần áo bị biến hình, nhăn nhúm, mất tính đàn hồi. Quần áo dính nhiều xăng, dầu không được cho vào máy giặt. Quần áo đã dùng xăng để tẩy cũng không được giặt bằng máy, vì rất có thể gây ra cháy, hư máy hay làm hỏng các quần áo khác. Các loại quần áo như len, thun mỏng dễ giãn, dạ… không nên giặt bằng máy vì các loại này không chịu được ma sát, giằng kéo. Tương tự như vậy các loại vải cao cấp cũng không nên giặt bằng máy, có thể làm quần áo bị sờn, bạc do ma sát mạnh. Phải kê máy giặt thật vững chắc, trên một mặt phẳng, bốn chân phải tiếp đất không cập kênh. Nước trong thùng giặt phải có đủ để máy không rung. Cần chú ý ở chế độ vắt kiệt, quần áo bên trong dễ bị lệch tâm làm cho khi quay máy bị rung, dễ làm hỏng máy giặt.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Soạn câu hỏi ngắn mạch

SOẠN CÂU HỎI NGẮN MẠCH

các câu hỏi của ngắn mạch trong hệ thống điện Câu hỏi chương 12: Tổng quan ngắn mạch và sơ đò thay thế Câu 1: Khái niệm hiện tượng ngắn mạch? Nêu các dạng ngắn mạch? + Hiện tượng ngắn mạch: là hiện tượng các pha chạm nhau hoặc chạm đất. + Các dạng ngắn mạch: có 4 dạng Ngắn mạch 3 pha (N(3)): chiếm 5% Ngắn mạch 2 pha (N(2)): chiếm 10% Ngắn mạch 2 pha chạm nhau, chạm đất (N(1,1)): chiếm 20% Ngắn mạch 1 pha chạm đất (N(1)): chiếm 65% Câu 2: Nêu nguyên nhân và hậu quả xảy ra ngắn mạch? + Nguyên nhân: Do cách điện bị hỏng Do tác động cơ khí (con người hoặc loài vật) Do gió bão, … Do sét đánh gây phóng điện Do thao tác nhầm + Hậu quả: Dòng ngắn mạch rất lớn gây: + Phát nóng cục bộ, nhiệt độ tăng cao + Sinh ra lực từ động Gây sụt áp lưới điện Gây mất ổn định hệ thống Gây nhiễu đường dây thông tin ở gần Làm gián đoạn cung cấp điện Câu 3: Ngắn mạch đối xứng, bất đối xứng, sự cố phức tạp là gì? + Ngắn mạch đối xứng: là dạng ngắn mạch vẫn duy trì được hệ thống dòng, áp 3 pha ở tình trạng đối xứng. + Ngắn mạch bất đối xứng: là dạng ngắn mạch làm cho hệ thống dòng, áp 3 pha mất đối xứng. + Sự cố phức tạp: là hiện tượng xuất hiện nhiều dạng ngắn mạch không đối xứng ngang, dọc trong hệ thống điện. Vd: Đứt dây kèm theo chạm đất, chạm đất 2 pha tại 2 điểm khác nhau trong hệ thống có trung tính cách ly. N(3), N(2), N(1), N(1,1) Câu 4: Phân tích các thành phần dòng ngắn mạch? Dòng xung kích là gì? + Các thành phần dòng ngắn mạch: gồm 2 thành phần Dòng cưỡng bức (phát sinh do điện áp nguồn), có tính sin, theo chu kỳ => ick Tự do (không do nguồn tác dụng, phi chu kỳ) => ia + Dòng xung kích (ixk): là trị đỉnh của dòng ngắn m
Xem thêm

5 Đọc thêm

Thiết kế, chế tạo Modul tự động điêu khiển đèn chiếu sáng sử dụng bằng máy phát năng lượng gió

THIẾT KẾ, CHẾ TẠO MODUL TỰ ĐỘNG ĐIÊU KHIỂN ĐÈN CHIẾU SÁNG SỬ DỤNG BẰNG MÁY PHÁT NĂNG LƯỢNG GIÓ

Hiện nay ở Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung nhu cầu về năng lượng điện ngày một tăng cao trong đó các nhà máy điện sử dụng nguồn năng lượng truyền thống như thủy điện nhiệt điện… là các dạng năng lượng đang ngày càng cạn kiệt và gây mất cân bằng sinh thái ô nhiễm môi trường. Nguồn điện năng khai thác từ các nhà máy nguyên tử có chi phí lớn và cũng tiềm ẩn nguy cơ gây mất an toàn. Bởi vậy việc sử dụng nguồn năng lượng sạch có khả năng tái tạo như năng lượng gió, năng lượng mặt trời là một xu hướng đang được phát triển mạnh trên thế giới.Tuy nhiên nguồn năng lượng mặt trời cũng đang trong giai đoạn phát triển và mới chỉ được thực hiện với công suất nhỏ.Do vậy việc sử dụng nguồn năng lượng tái tạo từ gió đang ngày càng được phát triển ở nhiều quốc gia trên toàn cầu.Với nhu cầu trên, em đã được giao đề tài :“ Thiết kế, chế tạo module tự động điều khiển đèn chiếu sáng sử dụng máy phát năng lượng gió ’’ , em mong muốn đóng góp 1 phần nào trong việc đẩy mạnh thiết kế, chế tạo nguồn năng lượng nước ta. Nội dung đồ án gồm các Chương :Chương 1 : Tổng quan về năng lượng mặt trờiChương2 : Cấu tạo và nguyên lý hoạt động của Tuabin gióChương 3 : Thiết kế module điều khiển
Xem thêm

45 Đọc thêm

 ĐIỀU KHIỂN CÔNG SUẤT CỦA HỆTHỐNG ĐIỆN GIÓ21

ĐIỀU KHIỂN CÔNG SUẤT CỦA HỆTHỐNG ĐIỆN GIÓ21

8Chương 2TỔNG QUAN CỦA BÀI TOÀN ĐIỀU KHIỂN CÔNGSUẤT HỆ THỐNG ĐIỆN GIÓHiện nay xu thế năng lượng mới phát triển mang tính toàn cầu. Trongnhững năm 70, thế kỷ XX, một cuộc khủng hoảng năng lượng đã khiến cho cảnhân loại lo lắng về sự thiếu hụt các nguồn nhiên liệu bởi vì nguồn năng lượngtruyền thống (hoá thạch, thuỷ năng…) vốn được coi là nguồn năng lượng chủyếu hiện tại, và có thể sử dụng trong khoảng 4- 5 thập kỷ nữa giờ đây đang cạndần và trở nên đắt đỏ. Đây là nguyên nhân dẫn đến các cuộc chạy đua giữa cácquốc gia trong lĩnh vực nghiên cứu, ứng dụng những nguồn năng lượng tái tạo.Năng lượng gió là một trong những nguồn năng lượng tái tạo được loàingười đang nhắm đến cho nhu cầu năng lượng trên thế giới trong tương lai.Hiện nay, năng lượng gió đã mang đến nhiều hứa hẹn.Tuy nhiên nếu muốn đẩy mạnh nguồn năng lượng nầy trong tương lai,con người cần hoàn chỉnh thêm công nghệ này, cũng như làm thế nào để đạtđược năng suất điện năng cao để từ đó có thể hạ giá thành và đi sâu vào thịtrường cạnh tranh với những nguồn năng lượng khác. Đó là chủ đề của đề tàinghiên cứu “ Điều khiển công suất của hệ thống điện gió” hướng đến. Sau đâylà một số đề tài được nghiên cứu liên quan đến điều khiển công suất của hệthống điện gió.2.1. Các đề tài đã được nghiên cứu liên quan đến điều khiển công suất tácdụng và phản kháng của hệ thống điện gió trong nước và ngoài nước2.1.1. Trong nướcĐề tài NCKH cấp bộ “Nghiên cứu cải thiện chất lượng hệ thống điềukhiển máy phát điện không đồng bộ nguồn kép bằng phương pháp điều khiểnphi tuyến” của Đặng Danh Hoằng (2008). Các kết quả mô phỏng của đề tàinày thực hiện như sau:
Xem thêm

31 Đọc thêm

Hệ truyền động xung áp một chiều

HỆ TRUYỀN ĐỘNG XUNG ÁP MỘT CHIỀU

TRƯỜNG ĐH CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI NỘI DUNG Động cơ một chiều kích từ độc lập Π 32 có số liệu sau: Pđm = 2.2Kw; Uưđm = 220V; ¬Iđm = 24A; nđm = 1500vp; jĐC = 0,105kg.m2; Rư = 0,285(Ω); Lư = 0,0247(H); Ukt = 220V; Ikt = 0,3A Mạch xung áp đảo chiều Yêu cầu bài toán: Xây dựng hệ truyền động có tốc độ động cơ điều chỉnh từ 0vp đến 1500vp khi mang tải định mức PHẦN THUYẾT MINH 1. Khái quát chung về hệ truyền động xung áp động cơ một chiều 2. Tính chọn mạch lực và các thiết bị liên quan 3. Thiết kế và mô phỏng mạch điều khiển cho bộ xung áp 4. Phân tích hoạt động của mạch điều khiển 5. Phương pháp điều chỉnh và ổn định tốc độ cho hệ thống truyền động điện. I Khái quát chung về hệ truyền động xung áp một chiều 1 Tổng quan động cơ một chiều 1.1. Cấu tạo và đặc tính cơ của động cơ một chiều Động cơ một chiều bao gồm 2 phần phần cảm (phần tĩnh) và phần ứng(phần quay). Phần cảm (stator) Phần cảm gọi là stator, gồm lõi thép làm bằng thép đúc, vừa là mạch từ vừalà vỏ máy và các cực từ chính có dây quấn kích từ (hình 1.1), dòng điện chạytrong dây quấn kích từ sao cho các cực từ tạo ra có cực tính liên tiếp luân phiênnhau. Cực từ chính gắn với vỏ máy nhờ các bulông. Ngoài ra máy điện một chiềucòn có nắp máy, cực từ phụ và cơ cấu chổi than. Hình 1.1 Cực từ chính Phần ứng (rotor) Rôto gồm lõi thép, dây quấn phần ứng, cổ góp và trục máy. Hình 1.2 Lá thép rôto Hình 1.3 Dây quấn phần ứng máy điện 1 chiều 1. Lõi thép phần ứng: Hình trụ làm bằng các lá thép kĩ thuật điện dày 0,5mm, phủ sơn cách điện ghép lại. Các lá thép được dập các lỗ thông gió và rãnh để đặt dây quấn phần ứng (hình 1.2). 2. Dây quấn phần ứng: Gồm nhiều phần tử mắc nối tiếp nhau, đặt trong cácrãnh của phần ứng tạo thành một hoặc nhiều vòng kín. Phần tử của dây quấn làmột bối dây gồm một hoặc nhiều vòng dây, hai đầu nối với hai phiến góp củavành góp (hình 1.3a). hai cạnh tác dụng của phần tử đặt trong hai rãnh dưới haicực từ khác tên (hình 1.3b). 3. Cổ góp (vành góp) hay còn gọi là vành đổi chiều gồm nhiều phiến đồnghình đuôi nhạn được ghép thành một khối hình trụ, cách điện với nhau và cáchđiện với trục máy.Các bộ phận khác như trục máy, quạt làm mát máy… 1.2 Nguyên lý làm việc của động cơ điện một chiều Trên hình 1.4 khi cho điện áp một chiều U vào hai chổi điện A và B, trongdây quấn phần ứng có dòng điện. Các thanh dẫn ab và cd mang dòng điện nằmtrong từ trường sẽ chịu lực tác dụng tương hỗ lên nhau tạo nên mômen tác dụnglên rôto, làm quay rôto. Chiều lực tác dụng được xác định theo quy tắc bàn tay trái(hình 1.4a). Hình 1.4 Mô tả nguyên lý làm việc của động cơ điện một chiều Khi phần ứng quay được nửa vòng, vị trí thanh dẫn ab, cd đổi chỗ nhau(hình 1.4b), nhờ có phiến góp đổi chiều dòng điện, nên dòng điện một chiều biếnđổi thành dòng điện xoay chiều đưa vào dây quấn phần ứng, giữ cho chiều lực tác dụng không đổi, do đó lực tác dụng lên rôto cũng theo một chiều nhất định, đảm bảo động cơ có chiều quay không đổi.Chế độ làm việc định mức của máy điện nói chung và của động cơ điện mộtchiều nói riêng là chế độ làm việc trong những điều kiện mà nhà chế tạo quy định.Chế độ đó được đặc trưng bằng những đại lượng ghi trên nhãn máy gọi là nhữngđại lượng định mức. 1.Công suất định mức Pđm(kW hay W). 2.Điện áp định mức Uđm(V). 3.Dòng điện định mức Iđm(A). 4.Tốc độ định mức nđm(vòngph). Ngoài ra còn ghi kiểu máy, phương pháp kích thích, dòng điện kích từ… Chú ý: Công suất định mức chỉ công suất đưa ra của máy điện. Đối với máy phát điện đó là công suất đưa ra ở đầu cực máy phát, còn đối với động cơ đó là công suất đưa ra trên đầu trục động cơ 2 Tổng quan về bộ biến đổi xung áp 2.1.Cấu trúc và phân loại bộ biến đổi xung áp Bộ biến đổi xung áp giảm áp Sơ đồ nguyên lý Nguyên lý hoạt động : Phần tử điều chỉnh quy ước là khóa S ( van bán dẫn điều khiển được )Đặc điểm của sơ đồ này là khóa S, cuộn cảm và tải mắc nối tiếp. Tải có tính chấtcảm kháng hoặc dung kháng. Bộ lọc L C. Điôt mắc ngược với Ud để thoát dòngtải khi ngắt khóa K.+ S đóng thì U được đặt vào đầu của bộ lọc. Nếu bỏ qua tổn thất trong cácvan và các phần tử thì Ud=U+ S mở thì hở mạch giữa nguồn và tải, nhưng vẫn có dòng id do năng lượngtích lũy trong cuộn L và cảm kháng của tải, dòng khép kín qua D, do vậy Ud=0 Như vậy, Ud ≤ U. Tương ứng ta có bộ biến đổi hạ áp. Bộ biến đổi xung áp tăng áp Đặc điểm:
Xem thêm

26 Đọc thêm

Cùng chủ đề