QUY HOẠCH CÁC VÙNG NÔNG NGHIỆP SẢN XUẤT HÀNG HÓA

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "QUY HOẠCH CÁC VÙNG NÔNG NGHIỆP SẢN XUẤT HÀNG HÓA":

BÁO CÁO QUY HOẠCH VÙNG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP HÀNG HÓA TẬP TRUNG TP UÔNG BÍ TỈNH QUẢNG NINH ĐẾN NĂM 2015 ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2020

BÁO CÁO QUY HOẠCH VÙNG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP HÀNG HÓA TẬP TRUNG TP UÔNG BÍ TỈNH QUẢNG NINH ĐẾN NĂM 2015 ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2020

giúp người dân thoát nghèo, từng bước làm giầu trên chính mảnh đất của mình.Bên cạnh những kết quả đã đạt được, ngành nông nghiệp thành phố vẫncòn bộc lộ những hạn chế nhất định như: tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm,chưa hình thành được nhiều vùng sản xuất hàng hóa nông sản tập trung; Sự phốihợp giữa các bên trong “liên kết 4 nhà” chưa chặt chẽ. Sản xuất cơ bản vẫn pháttriển theo chiều rộng mà chưa chú trọng vào chiều sâu, chủ yếu dựa trên khaithác các nguồn lực tự nhiên và đầu tư vật chất. Nguy cơ môi trường đất, nước,không khí...bị ô nhiễm tăng cao do những tác động tiêu cực trong hoạt động sảnxuất nông nghiệp. Do vậy, việc lập “Quy hoạch vùng sản xuất hàng hóa nôngnghiệp tập trung thành phố Uông Bí đến năm 2020” là cần thiết, nhằm tậptrung thu hút đầu tư, đưa tiến bộ kỹ thuật vào trong sản xuất để nâng cao chấtlượng và tăng nhanh giá trị nông sản, tạo bước đột phá trong phát triển nôngnghiệp, góp phần đưa kinh tế thành phố đạt mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đạihóa vào năm 2020, hoàn thành chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nôngthôn mới mà Đảng và chính quyền các cấp đã đề ra.II. NHỮNG CĂN CỨ LẬP DỰ ÁN- Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ngày 28/10/2008 về việc thực hiện Nghịquyết hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nôngnghiệp, nông dân và nông thôn;- Nghị định số 04/2008/N Đ - CP ngày 11/1/2008 của Chính phủ về sửađổi bổ sung một số điều của Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 07/9/2006 củaChính phủ về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xãhội, quy hoạch ngành;- Quyết định số 721/QĐ-BNN-KH ngày 17/03/2009 của Bộ trưởng Bộnông nghiệp và PTNT ban hành quy định về quản lý quy hoạch ngành nôngnghiệp và PTNT;- Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/06/2010 của Thủ tướng Chính phủPhê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn2010 - 2020;1
Xem thêm

72 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA Ở HUYỆN BẮC QUANG TỈNH HÀ GIANG TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA Ở HUYỆN BẮC QUANG TỈNH HÀ GIANG TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

tế của cả ngƣời quản lý, nhà sản xuất và ngƣời tiêu dùng thông qua tín hiệugiá cả thị trƣờng. Chính cái "phong vũ biểu" giá cả thị trƣờng sẽ cung cấp tínhiệu, thông tin nhanh nhạy để điều tiết hành vi kinh tế của các chủ thể kinh tếsao cho có lợi nhất. Thông qua sự vận động của giá cả, thị trƣờng có tác dụngđịnh hƣớng cho ngƣời sản xuất điều chỉnh quy mô sản xuất, thay đổi mặthàng, thay đổi kỹ thuật sản xuất cho phù hợp với nhu cầu của thị trƣờng. Thịtrƣờng ngày càng phát triển góp phần làm cho nông nghiệp hàng hóa cũngngày càng đa dạng, phong phú. Nó cũng lựa chọn, đòi hỏi cao về số lƣợng vàchất lƣợng, phong phú về chủng loại nông sản hàng hóa. Nhân tố thị trƣờngảnh hƣởng đến phát triển nông nghiệp hàng hóa ở đây đƣợc xem xét trên 2góc độ: Thị trƣờng đầu vào và thị trƣờng đầu ra.Thị trường đầu vào: Bao gồm đất đai, lao động, khoa học, công nghệsản xuất, vốn... trong đó đặc biệt là thị trƣờng đất và lao động. Cũng nhƣ cáchàng hoá khác, đất đai và lao động cũng trở thành hàng hoá.- Trong nông nghiệp, đất đai tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất rasản phẩm, nó vừa là tƣ liệu lao động, vừa là đối tƣợng lao động và là tƣ liệusản xuất chủ yếu, không thể thay thế đƣợc; hiệu quả của sản xuất nông nghiệpphụ thuộc vào hiệu quả sử dụng đất đai. Xác định rõ quyền sử dụng đất ổnSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyênhttp://www.lrc-tnu.edu.vnnông nghiệp của mình. Mặt khác, quá trình mua - bán, luân chuyển, chuyểnnhƣợng quyền sử dụng đất sẽ dẫn đến đất đai vận động theo hƣớng tập trung,hình thành nên các trang trại, đồn điền, có quy mô sản xuất hàng hóa phù hợp,đem lại lợi nhuận cao. Ngƣời nông dân làm chủ sử dụng đất là điểm khởi đầucho sự phát triển nông nghiệp hàng hóa[4].- Cũng nhƣ đất đai, sức lao động là một trong hai yếu tố cơ bản cấuthành quá trình sản xuất và tái sản xuất nông nghiệp. Mở rộng thị trƣờng lao
Xem thêm

63 Đọc thêm

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA TẠI XÃ VĂN KHÊ HUYỆN MÊ LINH THÀNH PHỐ HÀ NỘI

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA TẠI XÃ VĂN KHÊ HUYỆN MÊ LINH THÀNH PHỐ HÀ NỘI

17Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu câytrồng vật nuôi là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nướctrên thế giới. Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhàhoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là mong muốn củanông dân - những người trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp [21].Hiện nay, các nhà khoa học đều cho rằng, vấn đề đánh giá hiệu quả sử dụngđất không chỉ xem xét đơn thuần ở một mặt hay một khía cạnh nào đó mà phải xemxét trên tổng thể các mặt bao gồm: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quảmôi trường.∗ Hiệu quả kinh tếTheo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là quyluật tiết kiệm thời gian và phân phối có kế hoạch thời gian lao động theo các ngànhsản xuất khác nhau. Theo nhà kinh tế Samuel – Nordhuas thì “Hiệu quả là khônglãng phí”. Theo các nhà khoa học Đức (Stienier, Hanau, Rusteruyer, Simmerman)hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kếtquả hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong mộtthời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích cho xã hội [21].Hiệu quả kinh tế là một phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới nền sảnxuất hàng hoá và với tất cả các phạm trù. Nó được thể hiện bằng hệ thống các chỉtiêu nhằm phản ánh các mục tiêu cụ thể của các cơ sở sản xuất phù hợp với yêu cầucủa xã hội và được xác định bằng cách so sánh kết quả thu được với chi phí bỏ ra.Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu phản ánh trình độ và chất lượng sử dụng các yếu tố củasản xuất - kinh doanh nhằm đạt được kết quả kinh tế tối đa với chi phí tối thiểu [8].Tuy nhiên trong khái niệm hiệu quả kinh tế chỉ hoàn thiện khi mà trong đósản xuất đạt được hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân phối.Hiệu quả kỹ thuật: phản ánh một giá trị sản phẩm thu được trên một đơn vịchi phí đầu vào.Hiệu quả phân phối: phản ánh bằng giả trị sản phẩm tăng thêm trên một chi
Xem thêm

Đọc thêm

SẢN XUẤT HÀNG HÓA TRONG NÔNG NGHIỆP, NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG, LIÊN HỆ CÁC VÙNG Ở VIỆT NAM

SẢN XUẤT HÀNG HÓA TRONG NÔNG NGHIỆP, NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG, LIÊN HỆ CÁC VÙNG Ở VIỆT NAM

Sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp, nhân tố ảnh hưởng, liên hệ các vùng ở việt nam

37 Đọc thêm

PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TRÊN ÑỊA BÀN HUYỆN PHÚ THIỆN TỈNH GIA LAI

PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TRÊN ÑỊA BÀN HUYỆN PHÚ THIỆN TỈNH GIA LAI

nâng cao chất lượng ñàn gia súc, gia cầm.- Có chính sách ñãi ngộ thõa ñáng ñể khai thác, phát huy tốt cácnguồn lực khoa học- công nghệ, các thành phần kinh tế tham gianguyên cứu, thu hút thanh niên tri thức trẻ về nông thôn.a. Giải pháp Chính sách về ñất ñaiTiếp tục khẳng ñịnh ñất ñai là sở hữu toàn dân, nhà nước thốngnhất theo quy hoạch kế hoạch ñể sử dụng có hiệu quả; giao cho hộ giañình sử dụng lâu dài, mở rộng hạn mức sử dụng ñất, thúc ñẩy quá trìnhtích tụ ñất ñai; công nhận quyền sử dụng ñất sử dụng theo cơ chế thịtrường, trở thành một nguồn vốn trong sản xuất kinh doanh.Chuyển ñổi ñất nông nghiệp nhằm khắc phục tình trạng manh mún,quy hoạch lại ñồng ruộng, phát triển hệ thống kênh mương thuỷ lợi.Trên cơ sở hiện trạng và rà soát lại diện tích rừng sử dụng hiệu quảnguồn tài nguyên ñất.b. Giải pháp chính sách về vốn cho phát triển nông nghiệpRà soát ñiều chỉnh cơ cấu ñầu tư ngân sách, giảm bớt ñầu tư chocác công trình khác, tăng ñầu tư phát triển cho nông nghiệp, nông thôn,tăng năm sau cao hơn năm trước.Cải cách thủ tục hành chính tạo cơ chế thoáng ưu tiên thu hút cácthành phần kinh tế ñầu tư vào Nông - Lâm nghiệp, ñặt biệt là chuyểngiao khoa học kỹ thuật, về giống, chế biến, bao tiêu sản phẩm sau thuhoạch.Tạo môi trường thu hút các nguồn vốn do các doanh nghiệp vàhộ cá thể tự bỏ ra ñể ñầu tư sản xuất sản phẩm mới hoặc mở rộng cơ sởcũ, ñầu tư nâng cấp trang thiết bị, cơ giới hoá sản xuất.+ Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ñầu tư- Thể chế hóa ngân hàng tín dụng và ñầu tư phát triển nông thôn.Đa dạng hóa các hình thức cho vay.Footer Page 10 of 126.
Xem thêm

Đọc thêm

Ảnh hưởng của nước thải đô thị và công nghiệp đến hàm lượng kim loại nặng trong đất sản xuất nông nghiệp ở huyện Thanh Trì Hà Nội

ẢNH HƯỞNG CỦA NƯỚC THẢI ĐÔ THỊ VÀ CÔNG NGHIỆP ĐẾN HÀM LƯỢNG KIM LOẠI NẶNG TRONG ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN THANH TRÌ HÀ NỘI

Thanh Trì là huyện ngoại thành phía nam Hà Nội. Thanh Trì được quy hoạch là khu đô thị và khu công nghiệp. Đất sản xuất nông nghiệp ở các khu vực này thường bị ô nhiễm KLN. Nước thải công nghiệp ra môi trường vẫn chưa được xử lý triệt để. Mặt khác, tốc độ gia tăng dân số quá nhanh, cơ sở hạ tầng chưa kịp quy hoạch nâng cấp tổng thể, ý thức của một số người dân lại quá kém trong nhận thức và bảo vệ môi trường chung. Nguồn nước thải sản xuất và nước thải sinh hoạt của người dân xuống sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu... làm nguồn nước sông ô nhiễm khá nghiêm trọng. Từ những thực trạng cấp thiết trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Ảnh hưởng của nước thải đô thị và công nghiệp đến hàm lượng kim loại nặng trong đất sản xuất nông nghiệp ở huyện Thanh Trì Hà Nội.”
Xem thêm

59 Đọc thêm

ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP CHẤT LƯỢNG CAO TỈNH BẮC GIANG GIAI ĐOẠN 2015 2030

ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP CHẤT LƯỢNG CAO TỈNH BẮC GIANG GIAI ĐOẠN 2015 2030

1. Tính cấp thiết của đề tàiSau gần 30 năm đổi mới, Việt Nam nói chung và Bắc Giang nói riêng đã đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ trong tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xóa đói giảm nghèo, công bằng xã hội… Nhiều ngành lĩnh vực đang phát huy được lợi thế của ngành, đặc biệt là ngành sản xuất nông nghiệp (Nông lâm Thủy sản). Trong những năm qua, tỉnh đã chú trọng ưu tiên phát triển nông nghiệp, Giá trị trong ngành không những tăng về sản lượng mà chất lượng ngày được đảm bảo, đa dạng hóa sản xuất, thâm canh tăng vụ…, cụ thể theo Sở Kế hoạch và Đầu tư Bắc Giang giá trị sản xuất nông nghiệp toàn tỉnh tính theo giá 2010, năm 2010 là 13590 tỷ đồng, năm 2013 là 15481 tỷ đồng đã góp phần tăng trưởng kinh tế của tỉnh, tăng thu nhập cho người nông dân, mức sống người dân cải thiện. Để có kết quả đạt được đó là nhờ vào các mô hình phát triển nông nghiệp mà tỉnh định hướng, áp dụng như: Trang trại chăn nuôi gà đồi Yên Thế, các gia trại trồng hoa thành phố Bắc Giang, sản xuất mỳ Chũ sạch, các mô hình VAC (vườn ao chuồng)... Được sự quan tâm của tỉnh mà các Chương trình, dự án được triển khái để phát triển nông nghiệp như: Chương trình phát triển nông nghiệp hàng hóa tập trung gắn với xây dựng nông thôn mới giai đoạn (2011 2015), Đề án phát triển sản xuất nấm tỉnh Bắc Giang giai đoạn (2012 2015)…Theo định hướng phát triển của tỉnh (Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Bắc Giang đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, ngày 18122014) mà tỉnh thông qua thì nông nghiệp Bắc Giang sẽ tiến tới một nền nông nghiệp chất lượng cao. Tuy nhiên, ngoài những thuận lợi đóng góp tích cực trong tiến trình CNHHĐH của tỉnh thì ngành sản xuất nông nghiệp cũng gặp phải rất nhiều khó khănTình trạng “được mùa, mất giá” vẫn diễn ra ở hầu hết các mặt hàng nông sản làm cho người nông dân luôn thấp thỏm, lo lắng, cùng với đó là sự ép giá của các thương lái làm cho đời sống của người nông dân bếp bênh, từ thực tế đó mà đã gây khó khăn cho ngành như: Về vốn, giống cây trồng vật nuôi, thị trường cho nông sản đầu ra, công nghệ chế biến bảo quản, chất lượng nông sản... Từ những khó khăn đó cần có giải pháp để nâng cao vị thế, sức cạnh tranh của hàng nông sản mà tỉnh có thế mạnh, từng bước phát triển nông sản theo hướng chất lượng cao, góp phần bảo vệ môi trường…
Xem thêm

76 Đọc thêm

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO VAY HỘ SẢN XUẤT TẠI CHI NHÁNH NHNN & PTNT HUYỆN QUỲNH PHỤ

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO VAY HỘ SẢN XUẤT TẠI CHI NHÁNH NHNN & PTNT HUYỆN QUỲNH PHỤ

1.Tính cấp thiết của đề tài. Trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, từ nền kinh tế hành chính quan liêu bao cấp sang cơ chế hoạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế quốc dân bao gồm nhiều thành phần kinh tế, nhiều ngành nghề với quy mô và trình độ khác nhau, công nghệ khác nhau. Phát triển nông – lâm – ngư nghiệp gắn liền công nghệ chế biến và xây dựng nông thôn mới. Để đưa nền kinh tế nông thôn phát triển ngang tầm nền kinh tế thành thị, từng bước công nghiệp hóa hiện đại hóa trong nông nghiệp. Vì thế việc phát triển và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ hàng đầu, nó có tầm quan trọng trong việc nâng cao và ổn định đời sống của hộ sản xuất nông nghiệp, không ngừng tăng cường và phát triển đời sống mới ở nông thôn. Muốn đạt được mục đích trên trước hết phải chú ý đến nền sản xuất nông nghiệp hiện nay bằng cách trong sản xuất nông nghiệp phải thay đổi cơ cấu và tính chất trong quan hệ sản xuất nông nghiệp, lấy sản xuất hộ nông dân là mặt trận hàng đầu, thông qua việc đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, đẩy mạnh việc phát triển trong chăn nuôi gia súc, gắn liền với việc sản xuất hàng hóa tiêu dùng phải đẩy mạnh sản xuất hàng hóa xuất khẩu, mở rộng kinh tế đối ngoại phát triển kinh tế dịch vụ, đẩy mạnh việc mở rộng và phát triển ngành nghề truyền thống. Từng bước xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng, xây dựng nền công nghiệp nặng với bước đi thích hợp. Ngày 02 tháng 03 năm 1993 Thủ tướng Chính Phủ ra nghị định số 14 ban hành quy định về chính sách cho hộ sản xuất vay vốn để phát triển nông lâm ngư nghiệp và kinh tế nông thôn. Kèm theo nghị định này có những quy định cụ thể về chính sách cho vay hộ sản xuất. Mục đích khai thác hết tiềm năng thế mạnh của từng vùng, sức lao động, năng lực trình độ tổ chức sản xuất tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội, nâng cao đời sống của các hộ sản xuất hết đói nghèo. Tạo điều kiện cho các hộ sản xuất có điều kiện vươn lên làm giàu chính đáng. Để thực hiện thắng lợi đường lối phát triển kinh tế của Đảng, thực hiện nghiêm túc chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ...chính sách cho hộ sản xuất vay vốn để phát triển nông lâm ngư nghiệp và kinh tế nông thôn. Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn dưới sự chỉ đạo của Ngân hàng nhà nước đã tổ chức triển khai tới toàn ngành, việc đầu tư cho các hộ sản xuất có nhu cầu vay vốn để sẩn xuất kinh doanh không phân biệt các thành phần kinh tế. Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chấp nhận khó khăn vì lợi ích kinh tế của đất nước và của ngành đã vượt qua những bước thăng trầm đứng vững lên trong cơ chế thị trường chuyển hướng đầu tư tín dụng về với nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Người nông dân mấy năm qua đã gắn bó, gần gũi, thực sự đã là người bạn đồng hành với ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn. Họ đã tiếp nhận vốn vay và sử dụng có hiệu quả nên thực sự đã hết được nghèo đói, một số hộ đã vượt lên làm giàu chính đáng vì vậy đầu tư vốn cho hộ sản xuất là rất cần thiết, thực sự là ý đảng lòng dân luôn được các cấp các ngành quan tâm giúp đỡ. Chính vì vậy, em chọn đề tài: “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho vay hộ sản xuất tại chi nhánh NHNN & PTNT huyện Quỳnh Phụ”
Xem thêm

58 Đọc thêm

PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ BỔ SUNG ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI, MÔI TRƯỜNG TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG ĐẤT XÃ MÊ LINH

PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ BỔ SUNG ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI, MÔI TRƯỜNG TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG ĐẤT XÃ MÊ LINH

môi trường xanh sạch.1.2. Các quan điểm sử dụng đất cho đến năm 2020 và xa hơnĐất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là nguồnnội lực và nguồn vốn to lớn của đất nước. Mê Linh là xã có quỹ đất đai hạn chế, bìnhquân diện tích các loại đất trên đầu người thuộc loại thấp so với bình quân toàn quốc.Vì vậy, quan điểm hàng đầu là khai thác, sử dụng đất đúng mục đích, tiết kiệm, hợp lý,có hiệu quả, phát huy tối đa tiềm năng, nguồn lực về đất theo các mục đích khác nhau.1.3 Định hướng sử dụng đất- Hình thành cơ cấu cây trồng vật nuôi hợp lý. Mở rộng quy mô đàn trâu bò, khuyếnkhích chăn nuội.21- Xây dựng khu công nghiệp Mê Linh , các cơ sở chế biến nông lâm sản với kỹ thuậtchế biến hiện đại nhằm tạo ra sản phẩm có giá trị cao.- Tập trung xây dựng các cơ sở hạ tầng, cơ sở văn hóa, thể thao, phát triển giao thông,thủy lợi phục vụ nhu cầu sản xuất và sinh các địa phương- Phát triển trường học, mở rộng đất giáo dục, đất chợ, đất tín ngưỡng.- Mở rộng khu dân cư nông thôn đáp ứng nhu cầu thiết yếu của nhân dân trên địa bànxã.II. PHƯƠNG ÁN ĐIỀU CHỈNH QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT2.1. Chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong kỳ điều chỉnh quy hoạch sử dụngđất- Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm đạt 8.9 % ( theo giá cố định năm 2010).Trong đó: Giá trị sản xuất nông nghiệp, thuỷ sản tăng 2,1%/năm, Công nghiệp xâydựng cơ bản tăng 13,8%/năm, Thương mại dịch vụ tăng 8,5%/năm.- Tổng vốn đầu tư phát tiển toàn xã đạt 318,3 tỷ đồng.- Giảm tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn mới 2.64 %/năm- Đến năm 2020: Cơ cấu kinh tế:
Xem thêm

48 Đọc thêm

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY CHUỖI LIÊN KẾT SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP TẠI THÁI BÌNH

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY CHUỖI LIÊN KẾT SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP TẠI THÁI BÌNH

• 2. Thực trạng chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ sảnphẩm nông nghiệp• Thời gian gần đây, việc tiêu thụ một số loại nông sản nhưgạo, muối, dưa hấu, dư chột… gặp nhiều khó khăn. Tìnhtrạng trên có nhiều nguyên nhân, trước hết do được mùa,sản lượng các loại sản phẩm này tăng cao (muối, dưa hấu,…) trong khi đó nhu cầu trong nước tăng chậm hơn, xuấtkhẩu gặp khó khăn. Bên cạnh đó, công tác quy hoạch và tổchức thực hiện quy hoạch chưa tốt, chưa sát với thực tiễn;tổ chức sản xuất nhưng thiếu thông tin về thị trường; liênkết sản xuất và tiêu thụ nông sản chưa hiệu quả; còn nhiềubất cập trong khâu bảo quản, vận chuyển, thông quan xuấtkhẩu hàng hóa.•   Trước tình hình trên, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủđã chỉ đạo các Bộ, cơ quan, địa phương triển khai nhiềugiải pháp nhằm hỗ trợ cho sản xuất, tiêu thụ nông sản.• Trước mắt, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện công tác xúc tiếnthương mại, mở rộng thị trường; nâng cao chất lượng dựbáo, tăng cường thông tin về thị trường; tạo thuận lợi chongười dân và doanh nghiệp tiếp cận vốn, tín dụng với lãisuất ưu đãi phục vụ sản xuất, kinh doanh nông sản; tiếp tụcphát triển các kênh phân phối nội địa; có biện pháp canthiệp thị trường phù hợp để hỗ trợ tiêu thụ nông sản (nhưmua tạm trữ thóc, gạo)…•  •  Để giải quyết một cách căn cơ, hiệu quả tình trạng “được
Xem thêm

20 Đọc thêm

QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI XÃ VŨ HOÀ, HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH GIAI ĐOẠN 2005 2015

QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI XÃ VŨ HOÀ, HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH GIAI ĐOẠN 2005 2015

LỜI NÓI ĐẦU Đất đai là tài sản vô cùng quý giá của mỗi quốc gia. Nó là điều kiện, cơ sơ, nền tảng để phát triển các ngành kinh tếxã hội như: công nghiệp xây dựng, du lịch, dịch vụ... Theo hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Nhà nước quản lý thống nhất, quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật nhằm đảm bảo sử dụng đất đai đúng mục đích và có hiêụ quả “. Quy hoạch sử dụng đất đai là công cụ quản lý không thể thiếu trong việc tổ chức sử dụng đất đai của các ngành kinh tế xã hội và của các địa phương. Động thời quy hoạch đất đai mang tính chất dự báo và thể hiện mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế của các ngành và các vùng lãnh thổ trên từng địa bàn cụ thể theo các mục đích sử dụng đất đai hợp lý, có hiệu quả. Qua quá trình khảo sát thực tế việc quy hoạch đất đai tại huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình cùng thầy giáoPGS, TS Ngô Đức Cát, được sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của thầy,các anh chị trong đoàn. đặc biệt là sự hướng dẫn của cô giáoTh.S Vũ Thị Thảo, em đã lựa chọn được đề tài nghiên cứu: “Quy hoạch sử dụng đất đai xã Vũ Hoà, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình giai đoạn 20052015 “. Mục đích của đề tài này là nghiên cứu, tìm hiểu sâu hơn quá trình quy hoạch sử dụng đất đai, lấy kinh nghiệm thực tiễn từ một địa phương cụ thể, vận dụng những kiến thức đã học vàocông tác quy hoạch, sử dụng đất cấp xã, nắm được công việc thực tế của một người làm quy hoạch sử dụng đất đai. Đề tài được nghiên cứu thông qua phương pháp biện chứng và phân tích tổng hợp. Với phương pháp này quá trình quy hoạch sử dụng đất đai được xem xét từ cơ sở lý thuyết đến quy hoạch cụ thể tại một địa phương. Các hoạt động thực tiễn được phân tích, tổng kết để làm sáng tỏ, phong phú thêm những vấn đề về lí luận. Nội dung của đề tài bao gồm 3 chương: CHƯƠNG I: Cơ sở khoa học của việc quy hoạch sử dụng đất đai. CHƯƠNG II: Phương án quy hoạch sử dụng đất xã Vũ Hoà, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. CHƯƠNG III : GIải pháp tổ chức và thực hiện quy hoạch sử dụng đất . Do thời gian nghiên cứu có hạn, năng lực, kinh nghiệm thực tế còn nhiều hạn chế nên báo cáo không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vvậy em rất mong được sự giúp đỡ của các thầy, cô giáo và bạn đọc.CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI CẤP XÃ 1. Khái niệm và vai trò vủa quy hoạch sử dụng đất: a. Khái niệm: Quy hoạch đất đai là việc kinh doanh hay điều chỉnh việc khoanh định đối với các loại đất cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tếxã hội của từng địa phương và rong phạm vi cả nước, là sự tính toán, phân bổ việc sử dụng đất đai cụ thể về số lượng, chất lượng, vị trí không gian. Mục tiêu của quy hoạch đất đai là làm căn cứ cho việc xây dựng kế hoạch đất đai, nhằm lựa chon phương án sử dụng đất đai hiệu quả cao nhất về kinh tế, xã hội, môi trường sinh thái, an ninh quốc phòng. Theo như giáo trình: “ Quản lý Nhà Nước về đất đai “ thì quy hoạch đất đai là việc bố trí, sắp xếp các loại đất cho các đối tượng sử dụng theo phạm vi không gian và trong từng thời gian nhất định, với mục đích phục vụ tốt nhất cho chiến lược phát triển kinh tếxã hội của Đất nước và cho phép sử dụng hợp lý các yếu tố đất đai. b. Vai trò cảu quy hoạch đất đai. Quy hoạch đất đai là một trong những công cụ quan trọng và là nội dung không thể thiếu trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai. Đồng thời quy hoạch đất đai còn góp phần thúc đẩy quá trình hiện đại hoá Đất nước bằng việc khoanh định, phân bổ đất đai chocác ngành, các khu vực sử dụng đungd mục đích, đem lạihiệu quả kinh tế cao. Quy hoạch đất đai còn là cơ sở đảm bảo cho sự lãnh đạo, quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước. Thông qua quy hoạch, thông qua sự bố trí, sắp xếp sử dụng các loại đất đai đã được phê duyệt và được thể hiện trên các bản quy hoạch, Nhà nước kiểm soát được mọi diễn biến về tình hình sử dụng và biến động đất đai trong cả nước. Từ đó ngăn chặn được tình trạng sử dụng đất đai lãng phí, bừa bãi, sử dụng không đúng mục đích. Mặt khác, thông qua quy hoạch buộc các đối tượng chỉ được phép sử dụng đất đai trong phạm vi ranh giới của mình, động thời giúp cho Nhà nước có cơ sở để quản lý đất đai chắc chắn và trật tự hơn, các tranh chấp vướng mắc đất đai có cơ sở để giải quyết dễ dàng hơn. Quy hoạch đất đai còn là cơ sở để lập kế hoạch sử dụng đất đai. Kế hoạch sử dụng đất thể hiện tất cả các mục tiêu, quan điểm và chỉ tiêu tổng thể của quy hoạch. Như vậy, việc xây dựng kế hoạch phải dựa vào quy hoạch, coi quy hoạch là một trong các căn cứ không thể thiếu được của kế hoạch. Quy hoạch càng có cơ sở khoa học càng chính xác bao nhiêu thì kế hoạch càng co điều kiện để thực hiện chính xác bấy nhiêu. Quy hoạch đất đai tạo điều kiện để sử dụng đất đai và nhà ở hợp lý. Trên cơ sở phân hạng đất đai, Nhà nước đã bố trí, sắp xếp các laọi đất đai cho các loại đối tượng quản lý và sử dụng. Đồng thời quy hoạch đất đai tạo điều kiện cho việc tính thuế, xác định giá của các loại đất hợp lý. Việc tính thuế và xác định giá cả đất đaiphải căn cứ vào việc đánh giá phân hạng cácloại đất đai và quy mô đất đai của các đối tượng sử dụng. Như vậy quy hoạch sử dụng đất đai càng có cơ sở khoa học, thì việc tính thuế , giá cả đất đai càng hợp lý, chính xác hơn. Nói tóm lại, quy hoạch đất đai có vai trò vô cùng quan trọng đối với việc quản lý Nhà nước về đất đai nói riêng và đối với sự nghiệp phất triển kinh tế Đất nước nói chung. Hiện nay công tác quy hoạch đất đai ở nước ta được tiến hành ở 4 cấp: quy hoạch đất đai cả nước, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Trong đó quy hoạch đất cấp xã là quy hoạch đất đai chi tiết nhất. Khi thực hiện quy hoạch đất đai cần chú ý thực hiện theo đúng quy trình. Bởi vì có như vậy công tác quy hoạch đất đai mới đạt được chất lượng và hiệu quả kinh tếxã hội. Quy trình quy hoạch đất đai là trình tự các bước cần thiết phải làm trong công tác quy hoạch đất đai ở mỗi địa phương. Mặc dù hiện nay đã có rất nhiều văn bản,tài liệu của Chính phủ và Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn lập quy trình quy hoạch đất đai nhưng khi xuống các địa phương lại thực hiện không chính xác hoặ không đúng theo quy trình, một số địa phương còn bỏ bớt một số bước, hay nội dung các bước bị trùng lặp nên chất lượng quy hoạch đất đai chưa cao. Do đó việc thực hiện quy hoạch đất đai theo đúng quy trình mà Bộ Tài nguyên và Môi trường đưa ra là rất quan trọng và cần thiết2. Yêu cầu đối với quy hoạch sử dụng đất. Khi tiến hành lập quy hoạch đất đai phải căn cứ vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tếxã hội của địa phương, có như vậy mới đảm bảo đem lại hiệu quả kinh tếxã hội và hiệu quả sử dụng đất. Quy hoạch đất đai phải chính xác và đảm bảo tính thống nhất. Quy hoạch đất đai của cấp dưới phải phù hợp với quy hoạch đất đai của cấp trên. Và trong qua trình lập quy hoạch phải điều tra nghiêm cứu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của địa phương để có phương án quy hoạch đất phù hợp. Quy hoạch đất đai của kỳ này phải căn cứ vào quy hoạch sử dụng đất đai của kì trước, tức là rút ra những điều mà quy hoạch đất đai kì trước đã làm được thì quy hoạch lần này không phải thực hiện lại và những gì chưa làm được thì phải làm lại, khắc phục những khó khăn, hạn chế trong làn quy hoach trước. 3. Quy định pháp lý về nội dung quy hoạch sử dụng đất. Trước đây luật đất đai 1993 chỉ quy định nội dung quy hoạch đất đai là sự khoanh định các loại đất như đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp của từng địa phương, của cả nước và sự điều chỉnh việc khoanh định đó cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tếxã hội của điạ phương. Luật Đất đai năm 2003 đã kế thừa và bổ sung đầy đủ thêm nội dung quy hoạch đất đai và trong Nghị định số 1812004NĐCP cụ thể hoá nội dung này cho các địa phương dễ dàng thực hiện. Cụ thể như sau:3.1. Điều tra nghiên cứu, phân tíc, tổng hợp điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội trên địa bàn thực hiện quy hoạch. Về điều kiện tự nhiên cần nắm được tình hình về địa hình, thời tiết, khí hậu, các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Đặc biệt là nắm được hiện trạng quỹ đất đai, tình hình sử dụng đất đai của địa phương. Về kinh tếxã hội thì điều tra nghiên cứu về thực trạng phát triển kinh tế, phát triển các ngành và co sở hạ tầng, dân số, lao động, việc làm... 3.2. Đánh giá hiện trạng và biến động ử dụng đất trong kỳ quy hoạch trước theo các mục đích sử dụng gồm: Đất trồng lúa nước Đất trồng cây hàng năm khác Đất trồng cây lâu năm: đất rừng sản xuất , đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng Đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối, đất nông nghiệp khác Đất ở taị nông thôn, đất ở tại đô thị Đất xây dựng trụ sở cơ quan và công trình sự nghiệp Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng an ninh Đất sản xuất Đất kinh doanh phi nông nghiệp Đất sử dụng vào mục đích công cộng Đất sông ngòi, kênh rạch...mặt nước chuyên dùng Đất tôn giáo, đất làm nghĩa tran, nghĩa địa Đất bằng chưa sử dụng, đất đồi núi chưa sử dụng, núi đá không có rừng cây.3.3. Đánh giá tiềm năng đất đai và sự phù hợp giữa hiện trạng sử dụng đất với tiềm năng đất đai, với xu hướng phát triển kinh tế xã hội, khoa họccông nghệ theo quy định sau:  Đối với đất đang sử dụng thì đánh giá sự phù hợp và không phù hợp của hiện trạng sử dụng đất so với tiềm năng đất đai, so với chiến lược quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển kinh tếxã hội, khả năng áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ trong sử dụng đất.  Đối với đất chưa sử dụng thì đánh giá khả năng dựa vào sử dụng cho các mục đích: nông nghiệp, công nghiệp, phi công nghiệp, du lịch, dịch vụ... 3.4. Đánh giá kết quả thực hiện chỉ tiêu quy hoạch đất đai trong kỳ quy hoạch và định hướng cho kỳ quy hoạch sau. Tức là đánh giá về diện tích sử dụng cácloại đất (đất nông nghiệp, phi nông nghiệp, đất chưa sử dung) xem đã đạt tiêu chuẩn phù hợp với chiến lược phát triển kinh tếxã hội của địa phương. 3.5. Xác định phương hướng và mục tiêu sử dụng đất trong kỳ quy hoạch và định hướng tiếp theo cho phù hợp với chiến lược quy hoạch tổng thể phát triển kinh tếxã hội của cả nước, của các ngành, của địa phương. 3.6. Xây dựng phương án phân bổ diện tích đất cho phù hợp với chiến lược phát triển kinh tếxã hội, quốc phòng, an ninh trong kỳ quy hoạch được thực hiện như sau  Khoanh định trên bản đồ hiện trạng sử dụng đất các khu vực sử dụng đất nông nghiệp theo mục đích sử dụng đất, loại đất khi mà chuyển mục đích sử dụng phải được phép của cơ quan nhà nướccó thẩm quyền; các khu vực sử dụng đất phi nông nghiệp theo chức năng làm khu dân cư đô thị, khu dân cư nông thôn, khu hành chính, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế, khu dịch vụ, khu di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh, khu vực đất quốc phòng an ninh và các công trình, dựu án khac có quy mô sử dụng đất lớn; khu vưc đất chưa sử dụng. Việc khoanh định được thự hiện ở các khu vực đất có diện tích thể hiện được lên bản đồ quy hoạch sử dụng đất.  Xác định diện tích không thay đổi mục đích sử dụng; diện tích đất phải chuyển mục đích sử dụng sang mục đích khác, trong đó có diện tích đất dự kiến phải thu hồi cho việc thực hiện các dự án, công trình. 3.7 Phân tích hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của từng phương án phân bổ quỹ như sau:  Phân tích hiệu quả kinh tế bao gồm: dự kiến nguồn thu từ việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, các loại thuế liên quan đến đất đai và chi phí cho việc bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư.  Phân tích ảnh hưởng xã hội bao gồm: việc dự kiến số hộ dân phải di dời, số lao động mất việc làm do bị thu hồi đất, số việc làm mới được tạo ra từ việc chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất.  Đánh giá tác động môi trường của việc sử dụng đất theo mục đích sử dụng mới của phương án phân bổ quỹ đất. 3.8 Lựa chọn phương án phân bổ quỹ đất hợp lý căncứ vào kết qủa phân tích hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường. Thể hiệnphương án quy hoạch đất đai được lựa chọn trên bản đồ quy hoạch sử dụng đất , bao gồm: có bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch đất đai. 3.9 Xác định biện pháp sử dụng đất, bảo vệ, cải tạo đất và bảo vệ môi trường cần áp dụng đối với từng loại đất, phù hợp với địa bàn quy hoạch. 3.10 Xác định các giải pháp thực hiện quy hoạch đất đai phù hợp với đặc điểm của địa bàn quy hoạch. 4. Trình tự quy hoạch sử dụng đất đai chi tiết cấp xã. Để đảm bảo cho công tác quy hoach đất đai ở các địa phương được thực hiện theo đúng quy định, Bộ tài nguyên và môi trường đã ra Thông tư số 30 quy định rất chi tiết và cụ thể các bước trong quy trình quy hoạch sử dụng đất. 4.1 Điều tra, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp điều kiện tự nhiên, kinh tếxã hội của địa phương. Điều tra, thu thập thông tin.tư liệu về điều kiện tự nhiên và các nguồn tài nguyên theo vùng lãnh thổ gồm có: các đặc điểm địa lý, địa mạo, khí hậu, thuỷ văn, thổ nhưỡng,tài nguyên nước, rừng, khoáng sản và tài nguyên biển, hiện trạng cảnh quan môi trường và các hệ sinh thái. Tiến hành điều tra thu thập các thông tin về chỉ tiêu phát triển kinh tế, xã hội có liên quan đến việc sử dụng đất cuae xã, chỉ tiêu quy hoạch phát triển các ngành tại địa phương. Thu thập các thông tin về tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thực trạng phát triển các ngành kinh tế của địa phương.Thông tin về dân số, lao động, việc làm và thu nhập, tậo quán có liên quan đến sử dụngđất của ngươì dân trong xã. Thực trạng cơ sở hạ tầng kĩ thuật về giao thông, thuỷ lợi, điện và cơ sở hạ tầng xã hội về văn hoá, y tế, giáo dục đào tạo, thể dục thể thao trên địa bàn xã. Quy hoạch chi tiết đất đai của xã phỉa phù hợp với quy hoạch, kế hoạch đất đai của huyện đã được xét duyệt do đó cần thu thập những thông tin liên quan. Thu thập bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ địa chính của xã. 4.2 Đánh giá tình hình sử dụng đất và biến động sử dụng đất của địa phương đối với giai đoạn mười năm về trước. Đánh giá tình hình sử dụng đất nông nghiệp gồm có đất trồng cây lâu năm, đất trồng cây hàng năm và làm rõ diện tích đất trồng lúa nước Đối với đất lâm nghiệp cần phân tích rõ diện tích đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đấ rừng dặc dụng. Trong mỗi loại rừng tính cụ thể diện tích đất có rừng tự nhiên, rừng trồng, diện tích khoanh nuôi, phục hồi rừng và diện tích trồng rừng. Xác định diện tích đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và các loại đất nông nghiệp khác. Đánh giá về hiện trạng sử dụng đất ở có đất tại nông thôn,đất ở tại thành thị. Đối với đất chuyên dùng, đánh giá cụ thể từng loại đất xây dựng trụ sở, cơ quan, đất công trình sự nghiệp, đất sử dụng vào mụcđích quốc phòng an ninh, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp,đất sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp, đất sử dụng vào mục đích công cộng, tôn giáo, đất nghĩa trang, nghĩa địa..., đất sông ngòi, kênh, rạch, suối, mặt nước chyên dùng, đất bằng chưa sử dụng, đất núi đá không có rừng cây. 4.3. Đánh giá tiềm năng đất đai và phù hợp của hiện trạng sử dụng đất so với tiềm năng đất đai, so với xu hướng phát triểnkinh tếxã hội, khoa họccông nghệ của địa phương. Đối với đất nông nghiệp cần đánh giá hiện trạng sử dụng đất so với tổng quỹ đất nông nghiệp hiện có của địa phương. Tức là đánh giá về tính thích nghi, sự phù hợp và hiệu quả sử dụng đất; đánh giá khả năng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất cho phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế nông nghiệp đã được xác định trong chiến lược quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển kinh tế của địa phương. Đối với đất phi nông nghiệp cần đánh giá phù hợp hoặc không phù hợp của việc sử dụng đất ở trong khu dân cư, sử dụng đất để xây dựng các khu hành chính, các khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế, khu du lịch, khu di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh, khu vực đất quốc phòng, an ninh và các công trình,dự án khác có quy mô sử dụng đất lớn. Đối với diện tích đất chưa sử dụng cần đánh giá tiềm năng đất và khả năng đưa đất chưa sử dụng vaò sử dụng cho các mục đích nông nghiệp, phi nông nghiệp.4.4. Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch đất đai kì trước. Đánh giá về kết quả thực hiện gồm có: số lượng, chất lượng của các chỉ tiêu quy hoạch đất đai. Chỉ tiêu đất đai đối với từng loại đất(đất nông nghiệp, phi nông nghiệp, đất chưa sử dụng...) Chỉ tiêu chuyển đổi giữa các loại đất (đất phi nông nghiệp sang đất nông nghiệp, đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp) Chỉ tiêu đất đai chưa sử dụng vào sử dụng ( cho mục đích nông nghiệp, phi nông nghiệp) Đánh giá những mặt tồn tại, yếu kém và nguyên nhân của những tồn tại đó trong việc quy hoạch sử dụng đất. 4.5. Đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất kì trước. Đánh giá về số lương, chất lượng kết quả thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch sử dụng đất gồm có: Chỉ tiêu sử dụng đất đối với từng loại đất. Chỉ tiêu chuyển đổi giữa các loại đất. Chỉ tiêu đưa đất chưa sử dụng vào sử dụng. Đánh giá tiến độ thực hiện kế hoạch sử dụng đất, kết quả thu hồi đất,việc xử lý tình trạng quy hoạch “treo “. Đánh giá kết quả thi ngân sách từ viêc giao đất, cho thuê đất,chuyển đổi mục đích sử dụng, các loại thuế liên quan đến đất đai và đánh giá các khoản chi cho việc bồi thường, hỗ trợ tái định cư. Đánh giá nguyên nhân của những tồn tại, yếu kém trong việc thực hiện kế hoạch sử dụng đất. 4.6. Xác định phương hướng, mục tiêu sử dụng đất trong kỳ quyhoạch. Kỳ quy hoạch sử dụng đất là 10 năm, trước khi tiến hành quy hoạch cần xác định được mục đích sử dụng của từng loại đất tại địa phương và cụ thể phải làm những việc sau: Tổng hợp và dự báo nhu cầu sử dụng đất của các tổ chức, hộ gia định, cá nhân tại địa phương. Đây là khâu rất quan trọng vì nó quyết định xu hướng sử dụng đất tại địa phương trong thời gian tới nên phải làm thật tỉ mỉ và chính xác. Khả năng đáp ứng về số lượng,chất lượng đất đai cho nhu cầu sử dụng đất đã được xác định ở trên, tức là nắm bắt thông tin về quỹ đất đai của địa phương. Trên cơ sở nhu cầu đất và khả năng đáp ứng nhu cầu sử dụng đất để xác định phương hướng, mục tiêu sử dụng đất cho kỳ quy hoạch tới. 4.7. Xây dựng các phương án quy hoạch sử dụng đất chi tiết. Xây dựng các phương án phân bổ quỹ đất cho nhu cầu phát triển kinh tế,xã hội, quốc phòng, an ninh của địa phương. Xác định diện tích đất nông nghiệp: đất trồng cây lâu năm, đất trồng cây hàng năm trong đó cần làm rõ diện tích đất trồng lúa nước. Diện tích đất lâm nghiệp gồm có: đất rừng sản xuất,đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, trong mỗi loại rừng cần làm rõ diện tích đất có rừng tự nhiên, có rừng trồng, diện tích khoanh nuôi phục hồi rừng và diện tích trồng rừng.Ngoài ra còn xác định diện tích đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối, đất nông nghiệp khác, đất ở tại nông thôn, đất ở tại thành thị, đất chuyên dùng ( gồm có đất xây dựng trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp, đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, đất sử dụng vào mục đích công cộng), đất sông ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng, đất tôn giáo tín ngưỡng, đất nghĩa trang, nghĩa địa... để phân bổ cho nhu cầu phát triển kinh tếxã hội, quốc phòng, an ninh cảu địa phương. Cần xác định diện tích đất không thay đổi mục đích sử dụng so với hiện trạng sử dụng đất đối với mỗi mục đích sử dụng của từng loại đất, diện tích đất từ các mục đích khác chuyển sang trong kỳ quy hoạch, trong đó cần xác định rõ diện tích đất phải xin phép khi chuyển mục đích sử dụng và diện tích đất dự kiến phải thu hồi. Xác định diện tích đất chưa sử dụng cho mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, trong đó xác định rõ diện tích đất trồng rừng mới và diện tích khoanh nuôi tái sinh rừng, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối, nông nghiệp khác, phi nông nghiệp. Thể hiện lên bản đồ địa chính các khu vực sử dụng đất theo từng phương án phân bổ quỹ đất và các khu vực sử dụng đất đã được khoanh định trong quy hoạch đất đai của cấp trên. Đối với những địa phương chưa có bản đồ Điạ chính thì được thể hiện bằng loại bản đồ khác phù hợp nhất có tại địa phương.4.8. Phân tích hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của các phương án quy hoạch đất đai . Phân tích hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của các phương án quy hoạch đất đai là đánh giá hiệu quả của việc chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất trên địa bàn xã, tác động của phương án quy hoạch đất đai với quá trình CNHHĐH nông nghiệp và nông thôn, nguồn thu từ mỗi phương án quy hoạch đất đai cho ngân sách xã. Đánh giá về sự thay đổi tập quán canh tác cũ chuyển sang sử dụng đất ổn định đối với các xã thuộc khu vực dân tộc thiểu số. Đánh giá việc giải quyết quỹ nhà ở, khả năng giả quyết đất sản xuất nông nghiệp, mức độ thu nhập của người dân các xã vùng nông thôn không thuộc khu vực phát triển đô thị. Đánh giá mức độ ảnh hưởng đến đời sống các hộ dân phải di dời chỗ ở,số lao động mất việc làm do bị thu hồi đất, số việc làm mới được tạo ra từ việc chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất đối với các xã thuộc khu vực phát triển đô thị. Hiệu quả của việc chỉnh trang khu dân dân cư nông thôn, khu đô thị, giải quyết ô nhiễm môi trường thuộc khu dân cư. Đánh giá việc bảo tồn các khu di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh trên địa bàn xã, đánh giá việc bảo tồn bản sắc dân tộc đối với các xã thuộc khu dân tộc thiểu số. 4.9. Lựa chọn phương án quy hoạch hợp lý về quy hoạch sử dụng đất chi tiết. Việc lựa chọn phương án hợp lý về quy hoach đất đai chi tiết của địa phương được thực hiện căn cứ vào kết quả phân tích hiệuquả kinhtế,xã hội, môi trường của từng phương án quy hoạch đất đai. 4.10. Phân kỳ quy hoạch đất đai chi tiết. Phân chia các chỉ tiêu sử dụng đất theo mục đích sử dụng, diện tích phải chuyển đổi mục đích sử dụng, diện tích đất phải thu hồi, diện tích đất chưa sử dụng đưa vào sử dụng cho kế hoạch sử dụng đất chi tiết đầu và kế hoạch sử dụng đất đai chi tiết cuối. 4.11. Xây dựng bản đồ quy hoạch đất đai chi tiết. Xây dựng bản đồ quy hoạch đất đai chi tiết của phương án quy hoạch được lựa chọn trên bản đồ đã được khoanh định các khu vực sử dụng đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất chuyên dùng,đất sông ngòi, kêch, rạch và mặt nước chuyên dùng, đất sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, công cộng, đất tôn giáo, tín ngưỡng, đất nghĩa trang, nghĩa địa... Xây dựng bản đồ quy hoạch tổng hợp quy hoạch đất đai trên cơ sở tổng hợp bản đồ quy hoạch đất đai chi tiết các loại đất. 4.12. Lập kế hoạch sử dụng đất chi tiết đầu kỳ. Cụ thể hoá các chỉ tiêu sử dụng đất trong kế hoạch sử dụng đất chi tiết đầu kỳ đã được xác định đêns từng năm. Dự kiến thu ngân sách từ việc đấu giá đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã và chi phí cho quản lý đất đai tại xã, 4.13. Xác định các biện pháp bảo vệ,cải tạo đất và môi trường. Lựa chọn phương án bao gổm biện pháp chống rửa trôi, xói mòn, sạt lở, xâm nhập mặn, chua, phèn, trồng cây chắn sóng, chắncát nâng cao độ phì nhiêu của đất, chống ô nhiễm môi trường đất, khôi phục mặt bằng sử dụng đất. Biện pháp sử dụng tiết kiệm diện tích bề mặt, khai thác triệt để không gian và chiều sâu, phát triển kết cấu hạ tầng làm tăng giá trị của đất. Biện pháp khai hoanh, phục hoá, lấn biển, đưa diện tích đất trống, đồi núi trọc, đất có mặt nước hoang hoá vào sử dụng. Cần lựa chọn biện pháp phù hợp với điều kiện của xã để thực hiện bảo vệ, cải tạo đất và bảo vệ môi trường. 4.14. Xác định các giải pháp tỏp chức thực hiện quy hoạch đất đai chi tiết, kế hoạch sử dụng đất chi tiết kỳ đầu. Xác định các giải pháp phù hợp với việc tổ chức thực hiện quy hoạch đất đai chi tiết, kế hoạch sử dụng đất chi tiết kỳ đầu tài xã từ một số các giải pháp sau: Tạo điều kiện cho nông dân sản xuất lúa có đời sống ổn định, đồng thời kiểm soát chặt chẽ tình trạng tự phát, chuyển đất trồng lúa sang đất trồng cây lâu năm, nuôi trồng thuỷ sản hoăch chuyển sang sử dụng vào mục đích khác không theo quy định, tiết kiệm cao nhất diện tích đất trồng lúa phải chuyển sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp. Tạo điều kiện để nông dân dễ dàng chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên đất sản xuất nông nghiệp nhằm tăng hiệu quả sử dụng đất, phù hợp với nhu cầu của thị trường. Khuyến khích khai hoanh phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, nuôi trồng thuỷ sản trên đất, mặt nước hoang hoá nhằm đẩy nhanhtiến độ đưa đất chưa sử dụng vào sử dụng. Đẩy mạnh trồng rừng và khoanh nuôi tái sinh rừng để tăng độ che phủ băng rừng, bảo vệ nghiêm ngặt diện tích rừng phong hộ đầu nguồn và rừng đặc dụng. Đảm bảo cho đồng bào dân tộc miền núi có đất canh tác và đất ở, tổ chức tốt việc định canh, định cư, ổn định cuộc sống cho người dân, giao rừng, khoán rừng. Huy động các nguồn vốn đầu tư để đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình, dự án. Giải quyết tốt việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đảm bảo đủ quỹ đất theo quy hoạch cho đầ tư xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển sản xuất kinh doanh công nghiệp và dịch vụ, xây dựng các công trình văn hoá, giáo dụcđào tạo, y tế, thể dục thể thao, thực hiện tốt việc đào tạo nghề nghiệp, chuyển đổi cơ cấu lao động đối với người có đất bị thu hồi. Khuyến khích ứng dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật, công nghệ có liên quan đến sử dụng đất nhằm tăng hiệu quả sử dụng đất. Tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy hoạch, hế hoạch sử dụng đất đã được quyết định.CHƯƠNG II: PHƯƠNG ÁN QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT XÃ VŨ HOÀ, HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH. I. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI XÃ VŨ HOÀ 1. Điều kiện tự nhiên môi trường. 1.1. Vị trí địa lý. Xã Vũ Hoà nằm ở phía Tay của huyện Kiến Xương. Tổng diện tích tự nhiên của xã là 504,34 ha. Giáp ranh của xã bao gồm: Phía Bắc giáp xã Vũ Trung, Quang Bình. Phía Nam giáp xã Vũ Bình. Phía Đông giáp xã Vũ Công. Phía Tây giáp xã Vũ Thắng, huyện Kiến Xương và giáp xã Vũ Vân, huyện Vũ Thư. Với vị trí kinh tếxã hội khá hạn chế do không gần trung tâm tỉnh cũng như trung tâm huyện nên việc giao lưu, trao đổi hàng hoá với bên ngoài gặp khó khăn. Trên địa bàn xã chỉ có đường trục chạy đến trung tâm xã nên chỉ thuận tiện lưu thông hàng hóa trong xã. 1.2. Địa hìnhđịa mạo. Địa hình mang tính chất chung của vùng đông bằng châu thổ Sông Hồng nên địa hình tương đối bằng phẳng, có độ dốc < 10, thấp dần từ khu dân cư ra sông. Tính chất bằng phẳng của địa hình chỉ bịphá vỡ bởi các sông ngòi, kênh rạch và một số gò nằm rải rác. Độ cao bề mặt hầu hết từ 0,71,25m so với mực nước biển, mức độ chênh lệch địa hình không quá 1m. Địa hình xã Vũ Hoà nhìn chung bằng phẳng dốc dần từ Bắc xuống Đông Nam. Như vậy, với độ cao trung bình so với mặt nước biển thấp, địa hình lại tương đốí bằng phẳng, độ dốc không lớn thuận tiện cho việc đi lại,giao lưu trao đổi hàng hoá. Những vung thấp, trũng thuận lợi phát triển nuôi trồng thuỷ sản. 1.3. Khí hậuthời tiết. Mang đặc điểm khí hậu đồng bằng Bắc Bộ chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của khí hậu nhiệt đới gió mùa ven biển. Khí hậu của xã chia làm 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Mùa hạ thời tiết nóng, ẩm, mưa nhiều; mùa đông trời lạnh, khô và ít mưa; Theo chế độ mưa, khí hậu của xã chia làm hai mùa: mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa: Bắt đầu vào tháng 4 và kết thúc vào tháng10 với đặc trưng là nóng, ẩm, mưa nhiều. Lượng mưa trung bình 1788mm, lượng mưa cao nhất vào tháng 4, 5, và tháng 7, 8 là 1860mm; lượng mưa thấp nhất vào tháng 11, 12 là 1716mm. Mùa khô: Từ giữa tháng 11 đến cuối tháng 3 năm sau có khí hậu lạnh, ít mưa. Hướng gió thịnh hành là gió Đông Bắc, gây lạnh đột ngột. Nhiệt độ trung bình thấp nhất 150C. Các đặc trưng khí hậu: Nhiệt độ trung bình năm 23240C, tháng 6, 8 có nhiệt độ cao nhất là 38390C, tháng 1, 2 có nhiệt độ thấp nhất là 590C. Tổng tích ôn hàng năm là 85000C, số giờ nắngtrung bình 16001800giờnăm. Độ ẩm không khí có chỉ số giao động từ 8294%, lượng bốc hơi trung bình năm là 700mm. Gió, bão: Chịu ảnh hưởng của hai hướng gió chính: gió Đông Bắc thổi vào mùa lạnh, gió Đông Nam thổi vào mùa nóng tốc độ trung bình 2ms. Vào tháng 6, 7 có xuất hiện vài đợt gió Tây khô nóng, mùa Đông từ tháng 12 dến tháng 2 năm sau có những đợt rét đậm kéo dài, ngoài ra hàng năm còn chịu ảnh hưởng trực tiếp của 2 3 cơn bão với sức gió và lượng mưa lớn gây ảnh hưởng cho sản xuất nông nghiệp cũng như đời sống sinh hoạt của nhân dân. Tuynhiên do khí hậu chí làm nhiều mùa một năm, cùng với chế độ nhiệt độ đa dạng nên thuận lợi cho phát triển kinh tếxã hội, nhất là phát triển nền nông nghiệp đa dạng với nhiều giống cây, con, tạo điều kiện tốt cho phát triển thâm canh tăng vụ. 1.4. Thuỷ văn. Chủ yếu là các hệ thống sông ngòi nhỏ và rất nhiều ao,hồ là nguồn bổ sung và dự trữ nước ngọt rất quan trọng đặc biệt là vào mùa khô hạn. Tuy nhiên do địa hình bằng phẳng, độ dốc nhỏ nên khả năng thoát nước chậm, khi mưa lớn thường gây úng ngập cục bộ. Chế độ thuỷ văn khá chủ động. 1.5. Môi trường. Với địa hình bằng phẳng, khu dân cư phân bố quần tụ, tách biệt với những cánh đồng bát ngát, cơ sở hạ tầng phát triển mang đậm sắc thái của các làng xã đồng bằng Sông Hồng. Đan xen trong làng xóm là các đền, chù, nhà thờ họ mang đậm kiến trúc của các thời kì lịch sử. Cùng với các công trịnh văn hoá, phúc lợi côngcộng, đường làng ngõ xóm được xây dựng khang trang... tạo ra bộ mặt nông thôn mới cho xã Vũ Hoà. Là một xã thuần nông tốc độ tăng dân số không lớn, nhưng dưới sức ép của sự gia tăng dân số, để đảm bảo cho nhu cầu đất ở, lương thực ngày một tăng nên con người đã can thiệp vào tự nhiên làm cho cảnh quan môi trường bị biến đổi. Việc sử dụng thuốc trừ sâu, phân bón hoá học... trong sản xuất nông nghiệp đã ảnh hưởng đến môi trường nước, môi trường đất và không khí. Lượng rác thải chưa thu gom được còn tồn đọng trong các ngõ xóm, ao hồ ảnh hưởng đến sinh hoạt của các khu dân cư. Trước thực trạng trên, trong thời gian tới cùng với việc khai thác các nguồn lợi một cách tối đa để phục vụ phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống thì việc tái tạo lại cảnh quan, bảo vệ môi trường, bảo đảm phát triển bền vững là cần thiết. Quy hoạch sử dụng đất cần đáp ứng được yêu cầu đó. 1.6. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên. Từ những đặc điểm về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và cảnh quan môi trường của xã Vũ Hoà như đã nêu trên cho thấy: Tuy có vị trí không mấy thuận lợi nhưng với tiềm lực về con người và các điều kiện tự nhiên khác thì Vũ Hoà vẫn có thể phát triển theo hướng mà đại hội Đảng bộ đã đề ra. Địa hình bằng phẳng,đất đai màu mỡ, chế độ nhiệt nhìn chung đảm bảo cho phép gieo trồng 23 vụ năm. Trong quy hoạch sử dụng đất cần bố trí đa dạng hoá cây trồng để nâng cao hiệu quảsử dụng đất, nguồn nước dồi dào thuận lợi cho phát triển nông nghiệp và sinh hoạt của người dân. Chế độ thuỷ văn chia làm hai mùa rõ rệt, một mùa dư thừa nước, một mùa thiếu hụt nước. Do đó trong quy hoạch sử dụng đất cần bố trí sử dụng đất thích hợp để lợi dụng những thuận lợi và hạn chế những bất lợi của thời tiết khí hậu nhằm sử dụng đất có hiệu quả. Diện tích đất nông nghiệp khá lớn, tuy nhiên trong quy hoạch sử dụng đất phải chú ý khai thác triệt để diện tích này để sản xuất nông nghiệp, đồng thời hạn chế tối đa việc sử dụng loại đất này vào mục đích phi nông nghiệp. Ngoài những thuận lợi trên xã còn gặp một số khó khăn: Chịu ảnh hưởng của gió bão, hàng năm vào mùa mưa tình trạng ngập úng cục bộ xảy ra gây cản trở cho việc sản xuất và sinh hoạt của người dân. Chất lượng nước ngầm cần được khắc phục xử lý trước khi đưa vào sử dụng. 2. Điều kiện kinh tếxã hội. 2.1. Thực trạng phát triển kinh tế. Năm 2005 là năm cuối cụng thực hiện kế hoạch 5 năm 2000 2005, là năm nhìn lại những kết quả đạt được và chưa đạt được trong nhiệm kỳ trước, đồng thời đánh giá những mặt thuận lợi và không thuận lợi để đề ra phương hướng phát triển kinh tếxã hội trong nhiệm kỳ tới. Đây cũng là năm có nhiều khó khăn đó là : diễn biến phức tạp của thời tiết như mưa rét, úng lụt, điển hình là cơnbão số 7, số 8 đổ bộ vào tỉnh nhà gây thiệt hại lớn đến sản xuất vụ mùa, gia vật tư nông nghiệp tăng nhanh, đợt dịch cúm gia cầm cũng ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình phát triển kinh tếxã hội chung của xã. a. Về sản xuất nông nghiệp. Trồng trọt: Trong những năm qua sản xuất nông nghiệp có nhiều tiến bộ trong cách nghĩ, cách làm, tích cực áp dụng các tiến bộ KHKT vào sản xuất như giống, phân bón, thuỷ lợi. Với phương châm tập trung thâm canh hai vụ lúa, mở rộng diện tích cây vụ đông, thay đổi tập quán sản xuất, thực hiện chyển đổi cơ cấu cây trồng, tăng cường đưa những giống có năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt vào sản xuất. Diện tích gieo cấy năm 2005 là 350,3 ha, năng suất lua đạt 114,97 tạha. Năng suất lúa giảm do ảnh hưởng của bão. Cùng với việc nâng cao năng suâta, sản lượng đã quan tâm đến việc nâng cao chất lượng sản phẩm. Sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp đã dần được hình thành, năm 2005 cơ cấu lúa hàng hoá chiếm 30% trong tổng diện tích gieo cấy. Sản xuất vụ đông đã dần được phục hồi và có xu hướng phát triển, năm 2005 đạt 35 ha, giá trị sản xuất trên 1 ha cây vụ đông đạt 20,5 triệu đồng. Kinh tế VAC có sự chuyể biến tích cực, từng bước cải tạo 17 ha vườn sang trồng cây ăn quả, cây dược liệu, làm cây cảnh, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân, góp phần chuyển dịch cơcấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn đã tạo cảnh quan môi trường xanh, sạch,đẹp. Trên địa bàn đã hình thành một số trang trại, gia trại sản xuất kinh doanh tổng hợp với quy mô lớn, hiệu quả kinh tế cao, thu hút nhiều lao động. Chăn nuôi. Do thựchiện tốt công tác phòng chống dịch bệnh cho đàn gia súc ở các thôn,xóm ngành chăn nuôi trong những năm qua đã đạt được những kết quả khá khả quan, đóng góp một phần quan trọng vào tỷ trọng ngành nông nghiệp, Thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trong nông nghiệp nông thôn nhân dân tích cực chăn nuôi gia súc, gia cầm. Theo thống kê năm 2005 tổng đàn trâu bò có 114 con, đàn lợn có 3495 con. Mặc dù ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm nhưng số lượng gia cầm năm 2005 vẫn gia tăng. Đến nuối tháng 122005 tổng đàn gia cầm có 34.766 con, tăng so với năm 2004 là 7466 con. Nuôi trồng thuỷ sản. Việc nuôi trồng thuỷ sản được phát triển theo hướng thâm canh, sản xuất hàng hoá. Đến năm 2005 tổng diện tích đất nuôi trồng thuỷ sản là 20,31 ha. Mỗi năm sản xuất 50 tấn cá sản phẩm. Một số diệntích nuôi thả cá được các hộ kết hợp với thả rau cần. Ngoài ra công tác khuyến nông, chuyển giao KHKT cây trồng vật nuôi được chú trọng phát triển. Hàng năm mở các lớp tập huấn nâng cao trình độ thâm canh cho nông dân. Trong hoạt động nông nghiệp tăng theo hướng phát tiển chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản,chuyển diện tích cấy lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng cây con khác. Tổng giá trị sản xuất nông nghiệp theo giá hiện hành năm 2005 là 23,053 tỷ đồng. b. Về ngành nghề thủ công nghiệp, xây dựng cơ bản. Là xã không có ngành nghề truyền thống nên phát triển tiểu thủ công nghiệp gặp khó khăn. Đảng bộ và nhân dân xã đã có nhiều cố gắng trong việc tìm kiếm nghề, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động. Với 15 loại hình nghề thu hút 680 lao động tham gia. Tổng giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp đạt 5,574 tỷ đồng. Việc phát triển ngành nghề không những giải quyết việc làm tăng thu nhập mà còn góp phần làm thay đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động ở địa phương. Thực hiện nghị quyết 02 của huyện uỷ Kiến Xương, xã đã xây dựng một số giải pháp cho việc phát triển nghề như hỗ trợ, tạo điều kiện để được vay vốn, hỗ trợ học nghề. Cung cấp thông tin giúp các hộ làm nghề yên tâm mở rộng sản xuất. Công tác xây dựng cơ bản trong năm qua đã đạt được những thành tựu đáng kể, năm 2005 đầu tư cho xây dựng trường tiểu học 8 phòng học và nâng cấp hội trường UBND xã với số tiền 853,896 triệu đồng. c. Thương mạidịch vụ. Các hoạt động thương mại dịch vụ phát triển khá nhanh,các phương tiện máy móc sản xuất, phương tiện giao thông, nghe nhìn, máy điện thoại tăng nhanh. TTCN phát triển, dịch vụ thương mại cũng không ngừng được mở rộng. Là địa phương có thị trường khásôi động, nhộn nhịp; các hoạt động dịch vụ phong phú,đa dạng góp phần tạo nên việc làm cho 1200 lao động, góp phần tích cực vào xoá đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân. Các loại hình dịch vụ trên địa bàn là kinh doanh vật tư nông nghiệp,vật liệu xây dựng... Giá trị thu nhập từ hoạt động thương mại dịch vụ toàn xã năm 2005 là 12,452 tỷ đồng. Như vậy, trong năm qua về cơ bản có sự chuyển dịch rõ rệt về cơ cấu các lĩnh vực sản xuất, lao động được đầu tư nhiều hơn vào khu vực thủ công nghiệp. Tuy nhiên trong điều kiện sản xuất vẫn gặp nhiều khó khăn do đặc thù là một xã thuần nông nên việc chuyển đổi tập quán canh tác và nhận thức về chuyển đổi còn chậm, những bất lợi của thời tiết ảnh hưởng đến cây trồng; cùng với dịch cúm gia cầm H5N1 làm ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt của nhân dân. Mặc dù vậy dưới sự lãnh đạo của các cấp, các ngành cùng với sự nỗ lực của nhân dân trong xã nên đã đạt được những kết quả tương đối toàn diện. Với mức tăng trưởng kinh tế bình quân trong 5 năm 20002005 là 9,50%. Thu nhập bình quân đầu người đạt 5,84 triệu đồngngười.năm. Cơ cấu ngành năm 2005: Nông nghiệp : 59,25% Tiểu thủ công nghiệpXDCB : 6,86% Dịch vụ thương mại : 33,89% Giá trị sản xuất trên 1 ha đạt 35,06 triệu đồng, giá trị sản xuất bình quân đầu người 5,84 triệu đồng.2.2. Dân số, lao động, việc làm, thu nhập và mức sống. a. Dân số. Theo số liệu thống kê năm 2005 toàn xã có 7073 nhân khẩu tương đương với 1825 hộ, quy mô hộ là 3,88 ngườihộ. Mật độ dân số 1402ngườikm2. Với phong trào kế hoạch hoá gia đình kết hợp với các biện pháp tuyên truyền tăng cường đưa các dichj vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản và kế hoạch hoá gia đình vào nhân dân nên kết quả đạt được tương đối tốt. Tỷ lệ sinh tự nhiên năm 2005 là 1.27%. b. Lao động, việc làm. Tổng số lao động toàn xã năm 2005 khoảng gần 4000 lao động. Hàng năm vào thời kỳ nông nhà số lao động tham gia vào sản xuất TTCN là khá lớn, số lao động này hàng năm không ổn định, phụ thuộc vào thời vụ và tình hình kinh tế thị trường. Chương trình giải quyết việc làm đã được chính quyền quan tâm nhưng vấn đề nổi lên hiện nay là chất lượnglao động nông nghiệp còn thấp, lao động trong các ngành nghề có trình độ cao chưa cao. c. Mức sống dân cư. Cùng với công cuộc đổi mới của đất nước đời sống người dân Vũ Hoà có những bước tiến rõ rệt. Cùng với sựtăng trưởng kinh tế chung của xã hàng năm số hộ nghèo giảm dần và số hộ giàu cũng tăng lên. Nhìn chung cuộc sống của người dân đã được cải thiện đáng kể, các nhu cầu thiêt yếu cho cuộc sống như điện, nước, muối iốt...cũng được tăng cường, góp phần nâng cao mức sống cả về vật chất và tinh thần cho nhân dân, đẩy lùi các tệ nạn xã hội,đáp ứng ngày càng tốt yêu cầu phục vụ nhiệm vụ chính trị ở địa phương. 2.3. Thực trạng phát triển dân cư. Là một xã đồng bằng nên mật độ phân bố dân cư khá đồng đều và tập trung nên việc quản lý xã hội tương đối thuận lợi, tình hình dân cư ổn định. UBND xã có nhiều cố gắng trong điều hành quản lý xã hội, chuyển đổi mô hình thôn, xây dựng quy định về nếp sống văn hoá trong tiệc cưới, việc tang... bộ mặt nông thôn dần thay đổi. Tổng diện tích đất khu dân cư nông thôn là 98,38 ha, trong đó đất ở là 46,25 ha. Hệ thống cơ sở hạ tầng trong khu dân cư nông thôn có nhiều thay đổi: đường làng ngõ xóm được cải tạo, nâng cấp, hệ thống điện, thông tin, các cơ sở văn hoá xã hội phục vụ công cộng phát triển. Hầu hết nhà ở của nhân dân đã được ngói hoá và bê tông hoá. Tuy nhiên, việc quy hoạch xây dựng còn thiếu sự đồng bộ. 2.4. Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng. a. Giao thông vận tải. Hệ thống giao thông trong những năm gần đây được đầu tư cơ bản, đường nhựa đã đến trung tâm xã, hệ thống đường trục xã, thôn xóm có đầu tư nhưng cơ bản chưa đáp ứng được giao thông hiện tại cũng như tương lai, trong những năm tới cần được đầu tư, duy tu, mở rộng. b. Thuỷ lợi.Hệ thống thuỷ lợi đã đáp ứng tốt cho sản xuất nông nghiệp tuy nhiên cần đầu tư nâng cấp cũng như duy tu, bảo dưỡng các công trình trọng điểm. Năm qua xã đã chỉ đạo chặt chẽ việc cải tạo thuỷ lợi mặt ruộng và hệ thống thuỷ lợi. Tổ chức nạo vét sông dẫn nước và mương cấp 2, 3, HTX nông nghiệp đầu tư kinh phí sửa chữa cống đập. c. Nước sinh hoạt. Hầu hết nhân dân trong xã sử dụng nước giếng khoan và dùng nước mưa phục vụ cho nhu cầu ăn uống. Toàn xã có 74% hộ sử dụng nước sạch. d. Điện sinh hoạt. Hiện nay, nhân dân trong xã đã được sử dụng điện lưới quốc gia. Khả năng cung cấp điện khá đầy đủ. Thực hiện tốt việc quản lý lưới điện sáng phục vụ đời sống,đảm bảo an toàn không để xảy ra sự cố lớn, việc thu tiền sử dụng điện năng đúng quy định, thanh toán kịp thời. e. Thông tin liên lạc. Hệ thống loa truyền thanh của xã được đầu tư hoạt động tốt. Nội dung tin bài phong phú, đã phản ánh được tình hình phát triển kinh têxã hội cảu địa phương. Thực hiện tốt quy chế tiếp âm đài 4 cấp hoạt động 3 buổi trong ngày. f. Y tế. Công tác bảo vệ chăm sóc sức khoẻ nhân dân được quan tâm thường xuyên. Năm 2005 tổ chức khám chữa bệnh cho 4065 lượt người, số giường bệnh trên địa bàn là 10 giường. Đẩy mạnh phongtrào tuyên truyền phòng chống dịch bệnh, vệ sinh môi trường, nề nếp chế độ trực khám chữa bệnh, quản lý hồ sơ bệnh án, sử dụng thuốc an toàn. Thực hiện luật chăm sóc bà mẹ trẻ em đã có sự chuyển biến rõ rệt. Trẻ em được quan tâm, chăm sóc và bảo vệ, nuôi dưỡng, giáo dục,vui chơi giải trí và pgát triển toàn diện, tỷ lệ suy dinh dưỡng giảm 1,6% so với năm 2004 (từ 24,7% xuống 23.1%). g. Văn hoáxã hội. Hoạt động văn hoá thông tin tuyên truyền, thể thao có những bước chuyển biến cả về nội dung và hình thức hoạt động. Công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được thực hiện tốt. Phong trào văn nghệ thể thao được đoàn thanh niên tổ chức tốt. Cuộc vận động “ Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư “ được nhân dân đồng tình ủng hộ, hàng năm tổ chức được ngày hội đoàn kết toàn dân để phát động, đăng kí xây dựng gia đình văn hoá, khu dân cư tiên tiến. Hàng năm có từ 80 84% số hộ đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá, 40% số thôn đạt khu dân cư tiên tiến. Tổ chức việc cưới, việc tang, lễ hội có nhiều tiến bộ theo nghị quyết của TW V. h. Giáo dục đào tạo. Công tác giáo dục đào tạo được coi trọng và mở rộng ở tất cả các cấp học, ngành học. Hệ thống trườn lớp được củng cố và xây mới, công tác quản lý giáo dục có nhiều tiến bộ, đội ngũ giáo viên thường xuyên được bồi dưỡng nghiệp vụ,nâng cao chất lượngchuyên môn. Phong trào xã hội hoá học tập có chiều hướng phát triển tích cực. Các trường học đều đạt tiên tiến. Trường mầm non nhà trẻ huy động được 85,6% trẻ từ 35 tuổi đến kớp. Trường tiểu học duy trì 540 học sinh với 17 lớp, không có học sinh bỏ học. Tỷ lệ tốt nghiệp THCS đạt 100%, với số lượng học sinh năm 2005 là 499 học sinh với 13 lớp, đạt tiêu chuẩn quốc gia về phổ cập THCS. 2.5 .Đánh giá chung về thực trạng phát triển kinh tếxã hội. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã làm thay đổi dần tính chất của nền kinh tế tự cung tự cấp sang nền kinh tế hàng hoá. Tăng trưởng kinh tế năm sau cao hơn năm trước. Tuy nhiên việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn diến ra chậm, sản xuất vẫn là thuần nông chưa khai thác hết tiềm năng sẵn có. Sản xuất công nghiệpTTCNdịch vụ còn hạn chế trong việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm, tính ổn định chưa cao, sản xuất các ngành nghề nhỏ lẻ. Đời sống một bộ phận nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, nhất là những người làm nông nghiệp thuần tuý. Nguồn lao động dồi dào nhưng thiếu việc làm tại chỗ. Cơ sở hạ tầng giáo dục chưa đáp ứng đủ nhất là phòng học cho học sinh. Do nền kinh tế khá phát triển nên nảy sinh hàng loạt vấn đề chưa được gải quyết triệt để như: quy hoạch vùng đổ rác, phân loại và xử lý nước thải. Tỷ lệ gia tăng dân số còn cao,việc tuyên truyền, giải thích về pháp lệnh dân số mới còn hạn chế nên để xảy ra tình trạng sinh con thứ ba gia tăng. Ngoài những tồn tại trên thì trong những năm qua Đảng bộ và nhân dân xã đã nỗ lực phấn đấu phát huy tinh thần đoàn kết thống nhất chủ động, sáng tạo trong tổ chức thực hiện đã đạt được những kết quả khá toàn diện: Trong 5 năm qua, gia trị sản xuất nông nghiệp, xây dựng cơ bản, TTCN, thương mạidịch vụ tăng bình quân 9,5%. Kinh tế chuyển biến tích cực theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệpm,tăng tỷ trọng TTCN và dịch vụ thương mại Những tiến bộ kỹ thuật mới được áp dụng rộng rãi trong sản xuất và đạt kết quả kinh tế cao. Kết cấu hạ tầng nông thôn được đầu tư tương đối đồng bộ, bộ mặt nông thôn có nhiều khởi sắc. Sự nghiệp văn hoáxã hội có chuyển biến tích cực,an ninh quốc phòng được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo... Trong những năm tới việc phát triển kinh tếxã hội sẽ gây áp lực lớn đến sử dụng đất, đặt nhiều vấn đề bức xúc trong việc bố trí sử dụng đất của xã. Các ngành kinh tếxã hội đều có nhu cầu về đất, về vị trí một cách gay gắt. Vì vậy việc bố trí thích hợp cả về quy mô và vị trí sao cho có hiệu quả cần được xem xét một cách nghiêm túc, khoa học đáp ứng được mục tiêu phát triển kinh tếxã hội cả hiện tạivà tương lai đông thời bảo vệ môi trường sinh thái đảm bảo phát triển bền vững. II. TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI XÃ VŨ HOÀ. 1. Hiện trạng sử dụng đất đai Theo số liệu thống kê tính đến ngày 01012005, xã Vũ Hoà có tổng diện tích tự nhiên là 504,34 ha,chiếm 2.37% diện tích tự nhiên của huyện Kiến Xương. Vũ Hoà là xã có diện tích trung bình so với các xã trong huyện. Trong đó diện tích đất nông nghiệp chiếm 75,73% ( chủ yếu là đất sản xuất nông nghiệp), đất phi nông nghiệp 24,27% (chủ yếu là đất ở và đất chuyên dùng), còn lại 0,004% là diện tích đất chưa sử dụng. Toàn bộ diện tích trên địa bàn xã đã được giao cho các đối tượng quản lý và sử dụng. Diện tích đất được phân theo đối tượng sử dụng và đối tượng quản lýnhư sau: Cơ cấu DT theo đối tượng Sử dụng Diện tích Cơ cấu Cơ cấu DT đất được giao để quản lý Diệntích Cơ cấu 1. Hộ gia đình,cá nhân(GDC) 397,22 78,76 2. Tổ chức trong nước (TCC) 37,93 7,53 a) UBND cấp xã (UBS) 37,11 7,36 1. UBND cấp xã (UBQ) 66,29 13,14b) Tổ chức kinh tế (TKT) 0,13 0,03 c) Tổ chức khác (TKH) 0,69 0,14 2. Tổ chức khác (TKQ) 2,47 0,49 Cộng đồng dân cư (CDS) 0,44 0,09 Tổng DT được sử dụng 435,59 86,38 Tổng DT được giao để QL 68,75 13,63 Như vậy, tỷ lệ đất được đưa vào sử dụng của xã đạt 99,996%, được phân theo các mục đích cụ thể sau: 1.1. Đất nông nghiệp. Trên địa bàn xã không có đất lâm nghiệp nên diện tích đất nông nghiệp chủ yếu là đất sản xuất nông nghiệp (361,62 ha, chiếm 94,68% diện tích đất nông nghiệp), còn lại là đất nuôi trồng thuỷ sản (20,31 ha, chiếm 5,32% diện tích đất nông nghiệp). a. Đất sản xuất nông nghiệp. Với tổng diện tích 361,62 ha, chiếm 94,68 % diện tích đất nông nghiệp. Trong đó: Đất trồng cây hàng năm: có diện tích 354,61 ha chiếm 98,06% diện tích đất sản xuất nông nghiệp. Toàn bộ diện tích đất này được dùng vào mục đích trồng lúa. Đất trồng lúa có diện tích 354,61 ha : bao gồm 317,98 ha là chuyên trồng lúa; 36,72 ha là đất trồng lúa còn lại. Diện tích này phần lớn được giao cho hộ gia đình cá nhân sử dụng ổn định lâu dàivới tổng diện tích 324,88 ha; diện tích còn lại được UBND xã và tổ chức khác sử dụng. Đất trồng cây lâu năm: có diện tích 7,01 ha, chiếm 1,94% diện tích đất sản xuất nông nghiệp. b. Đất nuôi trồng thuỷ sản. Hiện xã có 20,31 ha đất nuôi trồng thuỷ sản, chiếm 5,32% diện tích đất nông nghiệp. Chủ yếu là các ao hồ nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt. Phần diện tích do hộ gia đình cá nhân sử dụng là 19,25 ha, còn lại 1,06 ha do UBND xã và các tổ chức khác sử dụng. Bảng 1: Diện tích, cơ cấu đất nông nghiệp năm 2005 STT Loại đất Diện tích (ha) Cơ cấu (%) 1 Tổng diện tích đất nông nghiệp 381,93 75,73 1.1 Đất sản xuất nông nghiệp 361,62 94,68 1.1.1 Đất trồng cây lâu năm 354,61 98,06 1.1.1.1 Đất trồng lúa 354,61 100,00 1.1.1.1 Đất chuyên trồng lúa nước 317,98 89,64 1.1.1.2 Đất trồng lúa nước còn lại 36,72 10,36 1.1.1.3 Đất trồng lúa nương 1.1.1.2 Đất cỏ dùng vào chăn nuôi 1.1.1.2.1 Đất trồng cỏ 1.1.1.2.2 Đất cỏ tự nhiên có cải tạo 1.1.1.3 Đất trồng cây hàng năm khác1.1.1.3.1 Đất trồng cây hàng năm khác 1.1.1.3.2 Đất nương rẫy trồng cây hàng năm khác 1.1.2 Đất trồng cây lâu năm 7,01 1,94 1.1.2.1 Đất trồng cây công nghiệp lâu năm 1.1.2.2 Đất trồng cây ăn quả lâu năm 1.1.2.3 Đất trồng cây lâu năm khác 7,01 100,00 1.2 Đất lâm nghiệp 1.2.1 Đất rừng sản xuất 1.2.1.1 Đất có rừng tự nhiên sản xuất 1.2.1.2 Đất có rừng trồng sản xuất 1.2.1.3 Đất khoanh nuôi phục hồi rừng sản xuất 1.2.1.4 Đất trồng rừng sản xuất 1.2.2 Đất rừng phòng hộ 1.2.2.1 Đất có rừng tự nhiên phòng hộ 1.2.2.2 Đất có rừng trồng phòng hộ 1.2.2.3 Đất khoanh nuôi phục hồi rừng phòng hộ 20,31 5,32 1.2.2.4 Đất trồng rừng phòng hộ 1.2.3 Đất rừng đặc dụng 1.2.3.1 Đất có rừng tự nhiên đặc dụng 1.2.3.2 Đất có rừng trồng đặc dụng1.2.3.3 Đất khoanh nuôi phục hồi rừng đặc dụng 1.2.3.4 Đất trồng rừng đặc dụng 1.3 Đất nuôi trồng thuỷ sản 20,31 5,32 1.3.1 Đất nuôi trồng thuỷ sản nước lợ, mặn 1.3.2 Đất nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt 20,31 100,00 1.4 Đất làm muối 1.5 Đất nông nghiệp khác 1.2. Đất phi nông nghiệp. Với tổng diện tích 122,39 ha, chiếm 24,27% diện tích đất tự nhiên cuae xã. Bao gồm các loại đất sau: a. Đất ở. Tổng diện tích đất ở của xã là 46,25 ha, chiếm 39.79% diện tích đất phi nông nghiệp. Bình quân diện tích đất ở toàn xã là 253,42 m2hộ. b. Đất chuyên dùng Có tổng diện tích 69,98 ha, chiếm 57,10% diện tích đất phi nông nghiệp Đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp: có tổng diện tích 0,13 ha, chiếm 0,74% diện tích đất chuyên dùng. Qũy đất này được dùng vào mục đích sản xuất, kinh doanh nhỏ. Đất có mục đích công cộng: với diện tích 69,24 ha, chiếm tới99,07% diện tích đất chuyên dùng. Bao gồm các loại đất sau:+ Đất giao thông: có diện tích 30,99 ha, chiếm 44,76% diện
Xem thêm

104 Đọc thêm

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN XÃ VŨ NINH HUYỆN KIẾN XƯƠNG TỈNH THÁI BÌNH

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN XÃ VŨ NINH HUYỆN KIẾN XƯƠNG TỈNH THÁI BÌNH

ngƣời định cƣ và tổ chức các hoạt động kinh tế xã hội, nó không chỉ là đối tƣợnglao động mà còn là tƣ liệu sản xuất không thể thay thế đƣợc, đặc biệt là đối vớingành sản xuất nông nghiệp, đất là yếu tố đầu vào có tác động mạnh và là điều kiệntiên quyết ảnh hƣởng đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp, đồng thời đất cũng là môitrƣờng duy nhất sản xuất ra những lƣơng thực thực phẩm nuôi sống con ngƣời.Trong hoàn cảnh đất nƣớc ta đang từng bƣớc xây dựng sự nghiệp CNH,HĐH thì việc sử dụng tiết kiệm, hiệu quả đất đai không chỉ có ý nghĩa về mặt kinhtế mà còn đảm bảo cho mục tiêu ổn định chính trị - xã hội.Bên cạnh đó, nƣớc ta là một nƣớc nông nghiệp, có dân số đông, việc quản lývà sử dụng đất đai nhƣ thế nào cho có hiệu quả đang trở thành mối quan tâm hàngđầu, là mục tiêu chiến lƣợc của đất nƣớc.Mặt khác, đất đai không chỉ là chỗ tựa, chỗ đứng để lao động mà còn là nguồncung cấp thức ăn cho cây trồng và việc sử dụng đất đai có ảnh hƣởng lớn đến năngsuất và chất lƣợng cây trồng, vật nuôi, mọi tác động của con ngƣời vào cây trồng đềudựa vào đất và thông qua đất đai. Hầu hết các nƣớc trên thế giới hiện nay đều phảixây dựng một nền kinh tế trên cơ sở phát triển nông nghiệp dựa vào khai thác tiềmnăng của đất, lấy đó làm bàn đạp cho việc phát triển các ngành khác. Do đó, nếuchúng ta sử dụng đất không có khoa học, không theo quy hoạch sẽ làm cho đất bị cằncỗi, bạc màu dẫn đến các tác hại xấu đối với đời sống kinh tế - xã hội.Chính vì vậy, việc tổ chức sử dụng nguồn tài nguyên đất đai hợp lý, có hiệuquả là nhiệm vụ quan trọng đảm bảo cho nông nghiệp phát triển bền vững. Chúng tacần có các phƣơng án sử dụng đất đúng mục đích nhằm mang lại hiệu quả cao về2kinh tế cho từng ngành, từng vùng và phù hợp với định hƣớng phát triển kinh tế - xãhội của từng địa phƣơng.Thực chất của mục tiêu này chính là vừa đem lại hiệu quả kinh tế, vừa đemlại hiệu quả xã hội và môi trƣờng. Đây cũng là điều kiện để thực hiện tiến trình hội
Xem thêm

77 Đọc thêm

Marketing nông nghiệp chương 2

MARKETING NÔNG NGHIỆP CHƯƠNG 2

Trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập vào nền kinh tế Thế giới, nông nghiệp nước nhà đang đứng trước những cơ hội và thách thức rất lớn. Để quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh nông – lâm – ngư nghiệp có hiệu quả, nhu cầu được học tập và trang bị những kiến thức lý thuyết và thực hành Marketing nông nghiệp đang đặt ra hết sức cấp thiết. Cuốn sách “Marketing nông nghiệp” do tập thể giáo viên Bộ môn Quản trị kinh doanh – Khoa Kinh tế và phát triển nông thôn – Trường Đại học Nông nghiệp I – Hà Nội biên soạn, được dùng làm tài liệu giảng dạy và học tập cho giáo viên và sinh viên chuyên ngành kinh tế nông nghiệp và quản trị kinh doanh nông nghiệp. Ngoài ra cuốn sách cũng có thể là tài liệu bổ ích cho các giáo viên và sinh viên các chuyên ngành khác có liên quan, các cán bộ nghiên cứu và các cán bộ hoạt động thực tiễn trong ngành nông – lâm – ngư nghiệp, các nhà hoạch định chính sách và quản lý nông nghiệp. Giáo trình marketing nông nghiệp gồm 10 chương : Chương I : Các khái niệm cơ bản về marketing , đặc điểm và chức năng công nghiệp của marketing nông nghiệp Chương II : Thị trường nông sản hàng hóa và định hướng hoạt động marketing kinh doanh nôn nghiệp Chương III : Chiến lược sản phẩm trong kinh doanh nông nghiệp Chương IV : Chiến lược giá cả nông sản hàng hóa trong kinh doanh nông nghiệp Chương V : Chiến lược phân phối nông sản hàng hóa Chương VI : Chiến lược hỗ trợ markeitng nông nghiệp Chương VII : Marketing dịch vụ trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp Chương VIII : Marketing xuất khẩu nông sản Chương IX : Marketing một số hàng hóa nông sản chủ yếu của Việt Nam Chương X : Tổ chức bộ máy hoạt động marketing và đánh giá hoạt động marketing trong doanh nghiệp Những nội dung được đề cập trong cuốn sách ngoài những nguyên lý cơ bản và hệ thống của khoa học Marketing, cuốn sách đã bước đầu nêu được những đặc điểm cơ bản và sự vận dụng khoa học Marketing trong hoạt động thực tiễn của nền nông nghiệp Việt Nam khi tham gia vào nền kinh tế thị trường. Tham gia biên soạn là những giảng viên có nhiều năm giảng dạy Marketing nông nghiệp.
Xem thêm

19 Đọc thêm

CHUYEN DE VỀ HỢP TÁC XÃ 2014

CHUYEN DE VỀ HỢP TÁC XÃ 2014

I Vai trò của ngành trồng trọt trong nền kinh tế Trồng trọt là một ngành sản xuất vật chất hết sức quan trọng của nền kinh tế nói chung và của kinh tế nông nghiệp nói riêng. Ở nước ta hàng năm ngành trồng trọt chiếm hơn 70% giá trị sản lượng ngành nông nghiệp. Vì vậy sự phát triển của ngành trồng trọt có ý nghĩa kinh tế rất to lớn. Nông nghiệp, nông thôn có phát triển hay không trước tiên phụ thuộc vào việc phát triển ngành trồng trọt đặc biệt là đối với các loại cây lương thực, thực phẩm. Vai trò của ngành trồng trọt trong nền kinh tế được biểu hiện ở một số mặt sau: Trồng trọt cung cấp nông sản, lương thực cơ bản thiết yếu phục vụ đời sống của con người mà nếu thiếu sản phẩm của ngành này thì nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển kinh tế, chính trị xã hội. Trồng trọt sản xuất nguyên liệu đầu vào cho nhiều ngành công nghiệp chế biến như công nghiệp chế biến thực phẩm, công nghiệp dệt, công nghiệp chế biến giấy, gỗ… Như vậy nếu ngành trồng trọt không được chú trọng phát triển nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất tiêu dùng nội địa cũng như xuất khẩu. Ngành trồng trọt cũng góp phần vào việc ổn định đời sống nhân dân, tăng thu nhập và tích lũy của nền kinh tế quốc dân, thông qua cung cấp nông sản, xuất khẩu hàng hóa… Điều này đặc biệt quan trọng đối với các nước đang phát triển triển đi lên từ nông nghiệp Trồng trọt cũng như các ngành kinh tế khác của sản xuất nông nghiệp, là nơi có nguồn lao động dồi dào mà qua việc tăng năng suất lao động có thể giải phóng được một lực lượng lao động lớn phục vụ cho các ngành kinh tế khác đồng thời là thị trường rộng lớn tiêu thụ các sản phẩm công nghiệp dịch vụ tạo điều kiện cho nền kinh tế quốc dân phát triển. Địa bàn sản xuất của ngành trồng trọt trải ra rộng lớn cở khắp các vùng miền nên nếu phát triển tốt sẽ góp phần quan trọng trong việc bảo vệ môi trường sinh thái. Ngược lại nếu không có các định hướng phát triển phù hợp sẽ gây ảnh hưởng lớn làm ô nhiễm môi trường.
Xem thêm

47 Đọc thêm

BÁO CÁO THỰC TẬP KẾ TOÁN TỔNG HỢP PHÒNG NÔNG NGHIỆP & PTNT HUYỆN KINH MÔN

BÁO CÁO THỰC TẬP KẾ TOÁN TỔNG HỢP PHÒNG NÔNG NGHIỆP & PTNT HUYỆN KINH MÔN

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1 Phần I: Giới thiệu khái quát về phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện kinh môn 2 1. Những vấn đề chung về phòng Nông Nghiệp & PTNT Huyện 2 1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Phòng 2 1.2. Chức năng của phòng NN & PTNT huyện 2 1.3. Nhiệm vụ và quyền hạn của phòng Nông Nghiệp Huyện 3 1.4. Quy chế làm việc chung của phòng 5 2. Tổ chức quản lý của phòng NN & PTNT huyện Kinh Môn 7 2.1. Vị trí công việc của các cán bộ trong phòng 7 2.2. Phân công công tác cho các bộ, công chức của phòng 8 3. Những kết quả đạt được của phòng trong thời gian qua 11 3.1. Về trồng trọt 12 3.2. Chăn nuôi 13 3.3. Công tác bảo vệ sản xuất nông nghiệp 14 3.4. Công tác quản lý hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp, di dân phát triển vùng kinh tế mới 15 3.5. Công tác Thú y - Khuyến nông 15 3.6. Trong công tác xây dựng Đảng 16 3.7. Công tác xây dựng chính quyền, đoàn thể 16 4. Phương hướng, mục tiêu năm 2007 17 4.1. Nghề trồng trọt 17 4.2. Chăn nuôi – thuỷ sản 17 4.3. Kiên cố hoá kênh mương 18 4.4. Công tác quản lý hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp 18 Phần II: nghiên cứu vấn đề dự định lựa chọn đề tài 19 1. Tổng quan các tài liệu nghiên cứu 19 1.1. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội của Huyện 19 1.2. Dự thảo chương trình phát triển sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn giai đoạn 2006-2010 19 1.3. Đề án quy hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn các xã, thị trấn gắn với phát triển tiểu thủ công nghiệp, làng nghề giai đoạn 2006-2010 21 2. Lĩnh vực lựa chọn 21 Kết luận 25
Xem thêm

27 Đọc thêm

Quản lý hoạt động nuôi trồng thủy sản Ninh Bình

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN NINH BÌNH

Ninh Bình là một tỉnh của vùng đồng bằng sông Hồng, với diện tích tự nhiên là 1.391,7km2, có chiều dài bờ biển là 17km, với 2 cửa sông lớn là Cửa Đáy và Cửa Càn. Trong đó cửa sông Đáy là cửa quan trọng đối với nghề khai thác hải sản của tỉnh, ngư dân Ninh Bình có nghề khai thác biển truyền thống, là cơ hội đầu tư để mở rộng và phát triển nghề khai thác xa bờ. Ninh Bình có 18.436 ha đất mặt nước tiềm năng nội địa có thể quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản. Là tỉnh có vị trí địa lý kinh tế quan trọng, chỉ cách thủ đô Hà Nội 90km. Ninh Bình là tỉnh nằm ở cực Nam khu vực đồng bằng sông hồng, phía Bắc giáp tỉnh Hòa Bình và Hà Nam, phía Tây giáp Thanh Hóa, phía Đông giáp tỉnh Nam Định, phía Đông Nam giáp vịnh Bắc Bộ, có tọa độ nằm khoảng từ 19056’ đến 20026’ vĩ độ Bắc, 105033 đến 106010’ kinh độ Đông.Trong những năm gần đây ngành thủy sản Ninh Bình đã và đang trên đà phát triển cùng với sự phát triển chung của ngành thủy sản cả nước, ngành hiện có vị trí quan trọng trong nền kinh tế của tỉnh. nuôi trồng thủy sản Ninh Bình phát triển mạnh ở cả hai vùng nước ngọt và nước lợ, đã hình thành được vùng sản xuất hàng hóa thủy sản tập trung ở vùng bãi bồi huyện Kim Sơn, đang từng bước phát triển vùng sản xuất hàng hóa ở các vùng ruộng trũng của tỉnh.Trong quá trình phát triển, ngành Thủy Sản tỉnh Ninh Bình đang phải đối mặt với những khó khăn, trở ngại như nguồn lợi thủy sản ven bờ bị suy giảm; sự suy thoái hệ sinh thái ngập nước, môi trường trong nuôi trồng thủy sản ngày càng bị ô nhiễm; tình hình thị trường tiêu thụ sản phẩm thủy sản trong nước và trên thế giới có biến động lớn. Sự mâu thuẫn phát triển giữa các ngành với ngành thủy sản ngày một gia tăng… Những vấn đề trên đòi hỏi các nhà quản lý ngành thủy sản tỉnh Ninh Bình phải xem xét lại quan điểm nói chung và phát triển thủy sản nói riêng, phải cân nhắc thận trọng các bước đi; phải tạo được tính đột phá mới thông qua việc hình thành các giải pháp, cơ chế chính sách thúc đẩy ngành thủy sản phát triển.Chi cục Thủy sản Ninh Bình là cơ quan chủ lực của ngành thủy sản Ninh Bình: luôn bám sát vào quy hoạch phát triển thủy sản của tỉnh, xây dựng các dự án, đề án, quản lý các lĩnh vực về thủy sản của tỉnh. Để cho ngành thủy sản Ninh Bình ngày một phát triển bền vững.Nội dung chuyên đề thực tập tốt nghiệp gồm:Chương I: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động nuôi trồng thủy sản của chi cục thủy sảnChương II: Phân tích thực trạng quản lý nuôi trồng thủy sản của Chi cục thủy sản Ninh Bình giai đoạn 2010 2013Chương III: Một số giải pháp hoàn thiện quản lý hoạt động nuôi trồng thủy sản Ninh Bình đến năm 2020
Xem thêm

52 Đọc thêm

Quy hoạch vùng nuôi tôm thẻ chân trắng tại tp HCM đến năm 2020 tầm nhìn 2025

QUY HOẠCH VÙNG NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG TẠI TP HCM ĐẾN NĂM 2020 TẦM NHÌN 2025

MỞ ĐẦU I. SỰ CẦN THIẾT QUY HOẠCH Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những thành phố lớn, là trung tâm kinh tế thương mại – dịch vụ quan trọng của cả nước và là nơi phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Thành phố Hồ Chí Minh nằm ở tọa độ 10°10 – 10°38 vĩ độ Bắc và 106°22 – 106°54 kinh độ Đông. Có tổng diện tích đất tự nhiên 209.555 ha với 24 quận, huyện. Phần lớn địa hình thành phố tương đối bằng phẳng, thấp có một ít dạng đồi ở phía Bắc và Đông Bắc, độ cao giảm dần theo hướng Đông Nam. Có thể chia thành bốn dạng địa hình chính: Vùng đất gò lượn sóng độ cao thay đổi từ 4 32m; Vùng đất bằng phẳng thấp độ cao xấp xỉ 2 – 4m; Vùng trũng thấp, đầm lầy phía Tây Nam độ cao phổ biến từ 12m; Vùng trũng thấp độ cao phổ biến từ không đến một mét, nhiều nơi dưới không mét. Trên 60% diện tích mặt bằng thành phố có cao độ dưới 2 mét, có nguy cơ bị ngập úng và khó tiêu thoát nước nhất là mùa mưa và triều cường. Mặt khác do địa thế nằm trên hệ thống sông Đồng Nai và sông Sài Gòn. Với hệ thống sông ngòi chằng chịt nên có tiềm năng mặt nước nuôi trồng thủy sản đa dạng, phong phú. Đa dạng và phong phú về loại hình mặt nước, từ nước ngọt, nước lợ đến nước mặn. Đa dạng về hình thức nuôi như nuôi ao hồ, nuôi ruộng trũng, nuôi đầm, nuôi sông rạch, nuôi lồng bè trên sông và trên biển. Trong những năm qua, nghề nuôi trồng thủy sản của thành phố Hồ Chí Minh có bước phát triển nhanh chóng, trong đó chủ yếu là nuôi tôm biển và đặc biệt là nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng. Hiện nay nghề nuôi tôm biển của thành phố đang trên đà phát triển, năm sau cao hơn năm trước không những về diện tích mặt nước, sản lượng và năng suất nuôi. Đến cuối năm 2009, diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản đạt 9.856 ha, diện tích nuôi biển là 1.387 ha. Trong đó diện tích nuôi tôm là 5.515,96 ha và sản lượng tôm nuôi đạt 6.493 tấn, sản lượng cá nuôi đạt 9.962 tấn, sản lượng nuôi cua là 222 tấn, sản lượng nuôi nghêu là 8.678 tấn, sản lượng nuôi sò huyết là 331 tấn, đặc biệt là sản lượng tôm tăng 11,35 lần, diện tích mặt nước nuôi tăng 4,03 lần so với năm 2000 (báo cáo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn). Theo quy hoạch sản xuất nông nghiệp thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020, tầm nhìn 2025 tại Quyết định số 5930QĐUBND ngày 28122009, thành phố Hồ Chí Minh ưu tiên dành những vùng đất, mặt nước có lợi thế để sản xuất giống và nuôi thương phẩm tôm cá, đặc biệt là nuôi tôm thẻ, tôm sú chủ yếu tại huyện Cần Giờ. Một số quận huyện như Nhà Bè, Bình Chánh do tốc độ đô thị hóa nhanh, quy hoạch đô thị đang triển khai, điều kiện quy họanh nuôi tôm thẻ chưa hội đủ, nên quy hoạch vùng nuôi tôm thẻ chân trắng tại thành phố Hồ Chí Minh tập trung vào huyện Cần Giờ Cần Giờ là một huyện ven biển nằm ở phía Đông Nam của thành phố Hồ Chí Minh, cách trung tâm khoảng 50 km. Huyện Cần Giờ bao gồm thị trấn Cần Thạnh và 6 xã: Bình Khánh, An Thới Đông, Lý Nhơn, Tam Thôn Hiệp, Long Hòa và Thạnh An. Diện tích đất tự nhiên của huyện là 704,2 km². Địa hình chia cắt bởi sông, rạch và rừng sác ngập mặn, diện tích đất rừng chiếm 47,25%. Rừng ngập mặn đan xen với hệ thống sông rạch dày đặc chứa đựng các hệ sinh thái mang tính đa dạng sinh học cao với nhiều loài động thực vật đặc hữu của miền duyên hải Việt Nam. Theo đánh giá của Ủy ban nhân dân huyện Cần Giờ thì đến hết năm 2009 trên toàn huyện có 5.515,96 ha nuôi tôm trong đó diện tích nuôi tôm sú là: 4.720,36 ha, đạt sản lượng 3.060,34 tấn, diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng là: 795,6 ha, đạt sản lượng 3.432,35 tấn. Giá trị sản xuất nông lâm ngư nghiệp năm 2009 đạt 713,993 tỷ đồng trong đó: trồng trọt 8,645 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 1,21%; Chăn nuôi 8,257 tỷ đồng, chiếm 1,16%; Thủy sản 697,091 tỷ đồng, chiếm 97,63%. Như vậy về cơ cấu kinh tế nông nghiệp thì thủy sản chiếm 97,63% vì vậy có thể nói Cần Giờ là huyện trọng điểm về nuôi trồng thủy sản nước mặn, lợ của thành phố. Trong những năm gần đây do sự phát triển nhanh về diện tích nuôi tôm sú trong khi cơ sở hạ tầng nhất là thủy lợi chưa đồng bộ, ý thức nuôi tôm của người dân chưa cao, nên làm cho các bệnh trên tôm sú như: đốm trắng, nhiễm khuẩn, đen mang, phân trắng, phát triển mạnh, việc nuôi tôm gặp nhiều khó khăn. Nhiều hộ gia đình do thất bại trong nuôi tôm sú, đã giảm đầu tư nuôi tôm hoặc bỏ ao đìa không đầu tư. Một số hộ trên địa bàn đã và đang chuyển đổi từ đối tượng tôm sú sang đối tượng nuôi là tôm thẻ chân trắng, một đối tượng nuôi mới cho năng suất cao, thời gian nuôi ngắn hơn tôm sú, giá cả dễ được thị trường chấp nhận. Do đặc điểm thích nghi với điều kiện môi trường của tôm thẻ chân trắng, cũng như các yếu tố về năng suất, mùa vụ nuôi và hiệu quả mang lại từ đối tượng này so với tôm sú. Nên nhiều hộ dân huyện Cần Giờ đã chuyển diện tích ao nuôi tôm sú sang nuôi tôm thẻ chân trắng và cho hiệu quả cao so với tôm sú Tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei) hiện nay đang nuôi ở nước ta là đối tượng nhập nội có nguồn gốc từ Châu Mỹ. Tôm sinh trưởng tốt trong môi trường nước lợ, mặn và có khả năng thích nghi cao với nồng độ muối khác nhau, nhiệt độ từ 1835oC, chịu đựng được ở môi trường có hàm lượng oxy thấp và pH thích hợp từ 7,5 8,5. Những năm qua, chủ trương của Bộ Thủy sản (nay là Bộ Nông nghiệp PTNT) không cho phép nuôi tôm chân trắng ở khu vực đồng bằng Nam Bộ do tôm thẻ chân trắng có những nhược điểm cơ bản như thường mắc những bệnh giống như tôm sú, mang hội chứng Taura gây nên dịch bệnh lớn ở Nam Mỹ và các bệnh khác có thể nhiễm sang các đối tượng tôm bản địa, làm mất an ninh sinh thái và ảnh hưởng đến đa dạng sinh học, có thể gây thiệt hại nghiêm trọng đến sản xuất thủy sản và môi trường tự nhiên. Tuy nhiên, để đa dạng hoá đối tượng nuôi và tạo ra các sản phẩm xuất khẩu trong thời kỳ hội nhập, tận dụng tiềm năng diện tích đủ điều kiện phát triển tôm chân trắng. Vì vậy Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Chỉ thị 228CTBNNNTTS ngày 25012008 về việc phát triển nuôi tôm thẻ chân trắng. Căn cứ Luật Thủy sản được quốc hội thông qua năm 2007 và Quyết định số 4562008QĐBNNNTTS ngày 04022008 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về quy định vùng nuôi tôm thẻ chân trắng, thông tư số 452010TTBNNPTNT ngày 2272010 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn Vv quy định điều kiện cơ sở vùng nuôi tôm sú, tôm chân trắng thâm canh đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Trước thực trạng trên, do yêu cầu thực tế, với những tiến bộ khoa học công nghệ, việc lựa chọn giống mới tôm thẻ chân trắng vào vùng nuôi sẽ cho tỷ suất và lợi nhuận cao hơn tôm sú. Việc quy hoạch vùng nuôi tôm thẻ chân trắng tại thành phố Hồ Chí Minh thật cần thiết và cấp bách nhằm phát triển ngành nuôi trồng thủy sản thành phố theo hướng thâm canh, tăng năng suất và đa dạng hóa nghề nuôi trồng thủy sản, đưa thủy sản thành ngành hàng có giá trị kinh tế cao, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa nông thôn. Thực hiện Quyết định số 282008QĐUBND ngày 0342008 của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về việc ban hành kế hoạch thực hiện Chương trình hành động của Ban chấp hành Đảng bộ thành phố khóa VIII thực hiện Nghị quyết 09NQTW của Ban chấp hành trung ương khóa IX về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 và thực hiện Nghị quyết số 26NQTW ngày 0582008 của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về Nông nghịệp, Nông dân, Nông thôn. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố Hồ Chí Minh đã chỉ đạo Chi cục Quản lý chất lượng và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản chủ đầu tư: “Quy hoạch vùng nuôi tôm thẻ chân trắng tại thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020, tầm nhìn 2025”. Nhằm quy hoạch vùng nuôi tôm thẻ, một đối tượng mới tạo điều kiện cho tôm thẻ phát triển, tránh các tác động xấu tới nuôi tôm sú và các đối tượng nuôi khác. Đây là một chủ trương đúng đắn, phù hợp với quy hoạch sản xuất nông nghiệp phát triển nông thôn thành phố Hồ Chí Minh, tạo sự phát triển nuôi trồng Thủy sản, đa dạng hình thức nuôi, tăng nguồn nguyên liệu thủy sản cho tiêu dùng nội địa và phục vụ chế biến xuất khẩu. Quy hoạch vùng nuôi được thực hiện tại bốn xã phía Bắc của huyện Cần Giờ là: xã Lý Nhơn, xã Tam Thôn Hiệp, xã An Thới Đông và xã Bình Khánh với mục tiêu: Phát triển vùng nuôi tôm thẻ chân trắng tập trung theo hướng nuôi thâm canh, bền vững, trên cơ sở bảo đảm hiệu quả kinh tế, an toàn dịch bệnh và bảo vệ môi trường sinh thái. Quy hoạch dựa vào đầu tư có sẵn, đồng thời cải tạo nâng cấp vùng quy hoạch tôm thẻ theo hướng hiện đại gắn với quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của thành phố. Góp phần tạo nguồn nguyên liệu có chất lượng ổn định an toàn thực phẩm phục vụ tiêu dùng thành phố, trong nước và xuất khẩu tạo công ăn việc làm ổn định, từng bước nâng cao mức sống cho người lao động, gắn phát triển kinh tế xã hội của vùng với xây dựng nông thôn mới, toàn diện, hiện đại theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa nông thôn. II. CĂN CỨ PHÁP LÝ LẬP QUY HOẠCH Đề án Quy hoạch vùng nuôi tôm thẻ chân trắng tại thành phố Hồ Chí Minh, thực hiện dựa vào các cơ sở pháp lý sau đây: Căn cứ Quyết định số 1502005QĐTTg ngày 2052005 của Thủ tướng Chính phủ Vv phê duyệt Quy hoạch chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản cả nước đến năm 2010 và tầm nhìn 2020. Căn cứ Nghị quyết số 242008NQCP ngày 28102008 của Chính phủ về ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 26NQTW ngày 0582008 của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Căn cứ Quyết định số 562009QĐTTg ban hành ngày 1542009 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung sử dụng vốn tín dụng thực hiện các chương trình kiên cố hóa kênh mương, phát triển đường giao thông nông thôn, cơ sở hạ tầng nuôi trồng thủy sản và cơ sở hạ tầng làng nghề ở nông thôn giai đoạn 20092015. Căn cứ Quyết định 1422009QĐTTg ngày 31122009 của Thủ tướng Chính phủ Về cơ chế, chính sách hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản để khôi phục sản xuất vùng bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh. Căn cứ Quyết định 1322001QĐTTg của của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế tài chính thực hiện chương trình phát triển đường giao thông nông thôn, cơ sở hạ tầng nuôi trồng thủy sản, cơ sở hạ tầng làng nghề ở nông thôn. Căn cứ chỉ thị 228CTBNNNTTS ngày 25012008 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc phát triển nuôi tôm chân trắng. Căn cứ Quyết định 44QĐBTS ngày 03042007 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Vv ban hành hướng dẫn Quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản mặn lợ cấp tỉnh. Căn cứ Quyết định số 4562008QĐBNNNTTS ngày 422008 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc quy định vùng nuôi tôm thẻ chân trắng. Căn cứ quyết định số 562008QĐBNN, ngày 29042008 của Bộ tưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc ban hành Quy chế kiểm tra, chứng nhận nuôi trồng thủy sản theo hướng bền vững. Căn cứ thông tư số 452010TTBNNPTNT ngày 2272010 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn Vv quy định điều kiện cơ sở vùng nuôi tôm sú, tôm chân trắng thâm canh đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Căn cứ Quyết định số 6995QĐUBQLĐT của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ngày 24121998 về việc phê duyệt “Điều chỉnh quy hoạch chung huyện Cần Giờ thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020”. Căn cứ Quyết định số 1052006QĐUBND ngày 17 7 2006 của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về việc ban hành Quy định về khuyến khích chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp giai đoạn 20062010 Căn cứ Quyết định số 152009QĐUBND ngày 10 2 2009 của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về việc ban hành Quy định về khuyến khích chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Căn cứ Quyết định số 411QĐBXD ngày 3132010 của Bộ Xây dựng Vv Suất vốn đầu tư xây dựng công trình năm 2009 Căn cứ Quyết định số 5930QĐUBND ngày 28122009 của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về việc Phê duyệt “Quy hoạch sản xuất nông nghiệp phát triển nông thôn thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2025”. Căn cứ Quyết định số 450QĐSNNQLĐT ngày 05112009 của Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố Hồ Chí Minh về phê duyệt đề cương nhiệm vụ và dự toán kinh phí công tác lập quy hoạch Vùng nuôi tôm thẻ chân trắng tại thành phố Hồ chí Minh đến năm 2020 tầm nhìn năm 2025. Căn cứ Quyết định số 141QĐUBND, ngày 13012010 Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về việc giao kế hoạch đầu tư xây dựng năm 2010 (đợt 1) nguồn vốn xổ số kiến thiết, nguồn vốn ngân sách tập trung và vốn viện trợ phát triển (ODA). PHẦN I ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN I. VỊ TRÍ, ĐỊA LÝ, YẾU TỐ TỰ NHIÊN, TÀI NGUYÊN, MÔI TRƯỜNG TÁC ĐỘNG ĐẾN NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 1. Điều kiện tự nhiên thành phố Hồ Chí Minh Thành phố Hồ Chí Minh có tọa độ 10°10 – 10°38 vĩ độ Bắc và 106°22 – 106°54 kinh độ Đông, phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang. Với vị trí tâm điểm của khu vực Đông Nam Á, thành phố Hồ Chí Minh là một đầu mối giao thông quan trọng về cả đường bộ, đường thủy và đường không, nối liền các tỉnh trong vùng và còn là một cửa ngõ quốc tế nối liền các nước Đông Nam Á và các châu lục quốc tế. Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, địa hình thành phố thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây. Vùng cao nằm ở phía Bắc Đông Bắc và một phần Tây Bắc, trung bình 10 đến 25 mét. Xen kẽ có một số gò đồi, cao nhất lên tới 32 mét như đồi Long Bình ở quận 9. Ngược lại, vùng trũng nằm ở phía Nam Tây Nam và Ðông Nam thành phố, có độ cao trung bình trên dưới một mét, nơi thấp nhất 0,5 mét. Các khu vực trung tâm, một phần các quận Thủ Đức, quận 2, toàn bộ huyện Hóc Môn và quận 12 có độ cao trung bình, khoảng 5 tới 10 mét. Thành phố Hồ chí Minh có tổng diện tích đất tự nhiên 209.555 ha. Địa chất thành phố Hồ Chí Minh bao gồm chủ yếu là hai hướng trầm tích Pleistocen và Holocen lộ ra trên bề mặt. Trầm tích Pleistocen chiếm hầu hết phần Bắc, Tây Bắc và Đông Bắc thành phố. Dưới tác động của các yếu tố tự nhiên và hoạt động của con người, trầm tích phù sa cổ hình thành nhóm đất đặc trưng riêng: đất xám. Với hơn 45 nghìn hecta, tức khoảng 23,4 % diện tích thành phố, đất xám ở thành phố Hồ Chí Minh có ba loại: đất xám cao, đất xám có tầng loang lổ đỏ vàng và hiếm hơn là đất xám gley. Trầm tích Holocen ở thành phố Hồ Chí Minh có nhiều nguồn gốc: biển, vũng vịnh, sông biển, bãi bồi... hình thành nhiều loại đất khác nhau: nhóm đất phù sa biển với 15.100 ha, nhóm đất phèn với 40.800 ha và đất phèn mặn với 45.500 ha. Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, thành phố Hồ Chí Mình có nhiệt độ cao đều trong năm và hai mùa mưa – khô rõ rệt. Mùa mưa được bắt đầu từ tháng 5 tới tháng 11, còn mùa khô từ tháng 12 tới tháng 4 năm sau. Trung bình thành phố Hồ Chí Minh có 160 tới 270 giờ nắng một tháng, nhiệt độ trung bình 27°C, cao nhất lên tới 40°C, thấp nhất xuống 13,8°C. Hàng năm thành phố có 330 ngày nhiệt độ trung bình 25 tới 28°C. Lượng mưa trung bình của thành phố đạt 1.949 mmnăm, trung bình mỗi năm thành phố có 159 ngày mưa, tập trung nhiều nhất vào các tháng từ 5 tới tháng 11, chiếm khoảng 90%, đặc biệt hai tháng 6 và 9. Trên phạm vi không gian thành phố, lượng mưa phân bố không đều, khuynh hướng tăng theo trục Tây Nam – Ðông Bắc. Các quận nội thành và các huyện phía Bắc có lượng mưa cao hơn khu vực còn lại. Thành phố Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng bởi hai hướng gió chính là gió mùa Tây – Tây Nam và Bắc – Ðông Bắc. Gió Tây – Tây Nam từ Ấn Độ Dương, tốc độ trung bình 3,6 ms vào mùa mưa. Gió Bắc – Ðông Bắc từ biển Đông, tốc độ trung bình 2,4 ms vào mùa khô. Ngoài ra còn có gió tín phong theo hướng Nam – Đông Nam vào khoảng tháng 3 tới tháng 5 trung bình 3,7 ms. Có thể nói thành phố Hồ Chí Minh thuộc vùng ít có gió bão. Độ ẩm không khí ở thành phố lên cao vào mùa mưa là 80% và xuống thấp vào mùa khô là 74,5%. Trung bình, độ ẩm không khí đạt bình quânnăm là 79,5% .
Xem thêm

82 Đọc thêm

CHINH SACH HO TRO SAN XUAT NONG NGHIEP 2017 2021

CHINH SACH HO TRO SAN XUAT NONG NGHIEP 2017 2021

Chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp giai đoạn 20172021 HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU Số: 2016NQHĐND CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lâp Tự do Hạnh phúc Lai Châu, ngày 28 tháng 7 năm 2016 NGHỊ QUYẾT Quy định chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Lai Châu giai đoạn 20172021 HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU KHÓA XIV, KỲ HỌP THỨ HAI Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19 tháng 6 năm 2015; Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 22 tháng 6 năm 2015; Căn cứ Luật Ngân sách Nhà nước; Xét Tờ trình số 1307TTrUBND ngày 1572016 của UBND tỉnh về việc ban hành chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Lai Châu giai đoạn 20172021; Báo cáo thẩm tra số 232BCHĐND ngày 2172016 của Ban Kinh tế Ngân sách HĐND tỉnh; ý kiến của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh tại kỳ họp. QUYẾT NGHỊ: Điều 1. Quy định chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2017 2021, như sau: 1. Mục tiêu Thúc đẩy tái cơ cấu nông nghiệp, khai thác có hiệu quả tiềm năng lợi thế về đất đai, để đầu tư phát triển nông, lâm nghiệp, hình thành các vùng sản xuất chuyên canh tập trung, tạo sản phẩm hàng hóa nông nghiệp chủ lực. Phấn đấu đến năm 2020 có: 27.500 ha lúa gieo trồng; 6.000 ha cây chè; 10.000 ha cây quế; 3.000 ha cây sơn tra; 500 ha cây ăn quả ôn đới. 2. Nguyên tắc hỗ trợ
Xem thêm

4 Đọc thêm

ỨNG DỤNG PTSP TRONG KINH TẾ

ỨNG DỤNG PTSP TRONG KINH TẾ

Ứng dụng của phương trình sai phân trong kinh tế a) Mô hình Cowbeb Trong một số ngành ,vd như nghành nông nghiệp,việc sản xuất kéo dài theo thời gian ,do đó nhiều khi các quyết định sản xuất được tiến hành trước khi hàng hóa được bán ra thị trường một thời kì .Khi ra quyết định sản xuất bao nhiêu ,các nhà sản xuất căn cứ vào giá hiên hành ,nhưng hàng hóa lại được bán ra vào thời kì tiếp theo. này có nghĩa là lượng cung ở thời kì t+1 phụ thuộc vào giá ở thời kì. Nếu xét giá P và lượng Q là các hàm số của thời gian t thì mô hình cân bằng thị trường có dạng:
Xem thêm

Đọc thêm

PHÁT TRIỂN NÔNG SẢN THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HÀM YÊN TỈNH TUYÊN QUANG

PHÁT TRIỂN NÔNG SẢN THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HÀM YÊN TỈNH TUYÊN QUANG

Sau hơn 20 năm đổi mới, nền nông nghiệp nƣớc ta đã đạt đƣợc nhữngthành tựu hết sức quan trọng, trong đó nổi bật nhất là đảm bảo đƣợc an ninhlƣơng thực, từng bƣớc trở thành một trong những cƣờng quốc dẫn đầu về xuấtkhẩu gạo và đang chiếm lĩnh thị trƣờng thế giới về cà phê, hồ tiêu, hạt điều,thuỷ sản, giầy da, may mặc. Với sự phát triển mạnh mẽ của dân cƣ nông thônđang từng bƣớc đƣợc nâng cao cả về vật chất và tinh thần, tỷ lệ nghèo đóitheo tiêu chí mới đến nay chỉ còn khoảng dƣới 15%. Mặc dù đã có sự chuyểnthấp, chăn nuôi chƣa tập trung, chƣa tạo đƣợc nguồn cung cấp nguyên liệucho ngành công nghiệp ổn định và chất lƣợng cao. Chính vì điều này, mà vấnđề đầu tƣ trong nông nghiệp càng trở nên cấp bách hơn. Mặc dù trong nhữngnăm vừa qua, huyện đã có chủ trƣơng đẩy mạnh phát triển sản xuất nông lâmnghiệp, thực hiện việc quy hoạch, giao đất giao rừng và áp dụng tiến bộ kỹthuật mới vào sản xuất nông lâm nghiệp. Tuy nhiên trên thực tế, sản xuất vẫnmang tính tự phát, chạy theo thị trƣờng; vấn đề sản xuất hàng hóa có chấtlƣợng và mang tính thƣơng hiệu chƣa đƣợc coi trọng, nhất là trong điều kiệnhội nhập kinh tế khu vực và thế giới… vì vậy dẫn đến hiệu quả kinh tế sảnxuất còn thấp, chƣa phát huy đƣợc tiềm năng và lợi thế so sánh của địaphƣơng. Vấn đề đặt ra là phải xây dựng đƣợc những giải pháp đồng bộ, phùhợp để đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp theo hƣớng hàng hoá ở mộthuyện miền núi còn mang nặng tính sản xuất tự nhiên nhằm đáp ứng đƣợcyêu cầu thực tiễn đặt ra của tỉnh. Vì vậy đề tài “Phát triển nông nghiệp theohướng sản xuất hàng hóa trên địa bàn huyện Hàm Yên tỉnh Tuyên Quang”dịch cơ cấu kinh tế khá mạnh theo hƣớng tích cực, nhƣng nhìn chung Việtlà vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cho mục tiêu tìm ra các giải pháp đểNam vẫn là một nƣớc nông nghiệp với 67% lực lƣợng lao động trong lĩnh vực
Xem thêm

54 Đọc thêm

Cùng chủ đề