HẸP VAN HAI LÁ SIÊU ÂM TIM 2

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "HẸP VAN HAI LÁ SIÊU ÂM TIM 2":

HẸP VAN HAI LÁ

HẸP VAN HAI LÁ

22Hẹp van 2 láSiêu âmtim:Dopplerdòng hởvan23Hẹp van 2 láSiêu âm tim/ hẹp van 2 láSiêu âm tim 2D và TM – mặt cắt cạnh ức trục dọc. Khảosát TM ngang van 2 . Ghi nhận ở hình 2D, trước van 2 mở hình đầu gối. Ở hình TM, vận động trước bấtthường, không dạng M như bình thường. van dầy (A – B).Mặt cắt cạnh ức theo trục ngang ngang van 2 : diện tíchmở van 2 là 0,75cm2, mép van dính, van dầy (C)24Hẹp van 2
Xem thêm

33 Đọc thêm

HẸP VAN HAI LÁ

HẸP VAN HAI LÁ

máu tăng độ đậm, có các đường thẳng Kerley B, tái phân bổ dòng máu ở phôi về phíađỉnh phổi. Bóng mò cản quang của hemosiderin thứ phát sau xuất huyết nội phế nang.ĐIỆN TÂM ĐỒ: thường hay thấy dấu hiệu rung nhĩ. Nếu nhịp tim là nhịp xoang thì sóngp “van hai ” rộng và tách đôi (hai đỉnh) ở đạo trình I, II và hai pha (lưỡng pha) ở cácđạo trình V1-V2 (thể hiện quá tải ở nhĩ trái). Trục tim lệch sang phải hoặc trục đứngdọc, phức hợp QRS nhỏ ở đạo trình I. Nếu trực điện của tim lệch sang trái thì có nghĩalà bệnh van tim hỗn hợp (hẹp + hở van hai , hẹp van hai + tật van động mạch chủ).Nếu sóng R hoặc R’ ở đạo trình Vl và V2 tiếp sau bởi sóng T âm thì đó là dấu hiệu củaphì đại thất phải do tăng huyết áp động mạch phổi.SIÊU ÂM TIM: là xét nghiệm rất hữu ích cho phép nhìn thấy hẹp van hai và giãn tâmnhĩ trái và tâm thất phải. Siêu âm Doppler cho phép đo diện tích lỗ van hai , nhìn thấycác cơ nhú (cột cơ) và những dây chằng van tim, cùng với vết vôi hoá hoặc hở van hailá kết hợp.THÔNG TIM: áp suất mao mạch phổi cao hơn 20 mmHg trong những thể hẹp nhẹ, caohơn 30 mmHg trong những thể hẹp nặng. Thông tim phải còn cho phép đo được lựccản của các mạch phổi. Thông tim trái và chụp thất trái có thể phát hiện được hở vanhai kết hợp.Diễn biếnDiễn biến của tật hẹp van hai thường chậm chạp. Nếu không được điều trị thì có thểhàng mười năm mới thấy có những dấu hiệu bệnh van tim đầu tiên trở nên ảnh hưởngtới đời sống của bệnh nhân.Biến chứngRung nhĩ (loạn nhịp hoàn toàn).Nghẽn mạch não, mạch ở các tạng, hoặc ở ngoại vi, với vật pghẽn mạch xuất phát từnhĩ trái bị giãn.Suy thất phải, phù phổi.Ho ra máu (khái huyết).
Xem thêm

6 Đọc thêm

THẤP TIM

THẤP TIM

Viêm ngoại tâm mạc (viêm màng ngoài tim) cấp tính: xem bệnh này.Về chi tiết, xem: bệnh thấp khớp cấp.Triệu chứngNhịp tim nhanh: không liên quan tới thân nhiệt do sốt nhẹ.Tiếng thổi ở tim:+ Hở van hai : không phải bao giờ cũng nghe thấy tiếng thổi toàn tâm thu ở mỏm timnhư mô tả kinh điển, nhưng thường là tiếng ngựa phi đầu thì tâm trương, tiếp theo làtiếng rung giữa thì tâm trương hoặc còn gọi là tiếng thổi Carey-Coombs, một dấu hiệucủa hở van hai cấp tính. Tuy nhiên, nói chung tiếng thổi này lại mất đi trong thời kỳ lạisức.+ Hở van động mạch chủ: tiếng thổi tâm trương do hở van động mạch chủ, một khi đãxuất hiện, thì nói chung không mất đi trong thời kỳ lại sức.Đau vùng trước tim và tiếng cọ ngoại tâm mạc: là những dấu hiệu viêm ngoại tâm mạc,gặp trong khoảng 5-10% số trường hợp thấp khớp cấp. Tràn dịch màng ngoài tim cóthể có thể tích khá lớn, nhưng hiếm khi tới mức gây ra chứng ép tim.X quang lồng ngực: bóng mờ tim trên phim X quang to ra, và phải được theo dõi địnhkỳ để đánh giá diễn biến của viêm cơ tim. Suy tim rõ ràng, với ứ trệ ở phổi hiếm xảy ra,nhưng là một dấu hiệu có tiên lượng xấu.Điện tâm đồ: trong trường hợp viêm cơ tim, thì khoảng P-R hay kéo dài ra (hơn 0,20giây hoặc P-R cao hơn 0,04 giây so với giá trị bình thường của bệnh nhân). Dấu hiệunày không có giá trị tiên lượng. Trong trường họp viêm cơ tim do bệnh thấp, tương đốihiếm gặp những hiện tượng: bloc nhĩ-thất hoàn toàn, bloc nhánh, loạn nhịp (nhất làrung nhĩ). Người ta cũng thấy những biến đổi không đặc biệt về hình thể của sóng p, vàsóng T. Đoạn S-T chênh lên thấy trong trường hợp viêm ngoại tâm mạc.Siêu âm tim: cho phép phát hiện tràn dịch màng ngoài tim, đánh giá mức độ giãn củacác buồng tim, và phân tích hoạt động của van hai .
Xem thêm

4 Đọc thêm

HẸP VAN ĐỘNG MẠCH CHỦ PGS PHẠM NGUYỄN VINH

HẸP VAN ĐỘNG MẠCH CHỦ PGS PHẠM NGUYỄN VINH

HẸP VAN ĐMCCHỈ ĐỊNH CHỤP ĐMV VÀTHÔNG TIM / HẸP VAN ĐMC° Hẹp van ĐMC / Cơn đau thắt ngực hoặc có nhiềuYTNC/ BĐMV° Hẹp van ĐMC / bệnh nhân > 40 tuổi° Bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng nghẽn đường ra thấttrái tuy nhiên siêu âm không xác đònh được.° Có sự bất tương hợp quan trọng giữa triệu chứng lâmsàng với kết quả siêu âm tim.24HẸP VAN ĐMCĐIỀU TRỊ NỘI KHOA° Chẹn bêta: khi PXTM > 40% + có CĐTN° Lợi tiểu: liều thấp° Digitalis: khi có rung nhó hay PXTM giảm
Xem thêm

26 Đọc thêm

ĐÁNH GIÁ SỨC CẢN ĐỘNG MẠCH PHỔI PVR BẰNG PHƯƠNG PHÁP SIÊU ÂM DOPPLER TIM Ở BỆNH NHÂN HẸP HAI LÁ HHL KHÍT TRƯỚC VÀ SAU NONG VAN BẰNG BÓNG

ĐÁNH GIÁ SỨC CẢN ĐỘNG MẠCH PHỔI PVR BẰNG PHƯƠNG PHÁP SIÊU ÂM DOPPLER TIM Ở BỆNH NHÂN HẸP HAI LÁ HHL KHÍT TRƯỚC VÀ SAU NONG VAN BẰNG BÓNG

PVR bao gồm: phản ứng co các mao mạch phổi và tổn thương các tế bào nộimô thành mạch dẫn đến mất cân bằng giữa quá trình tăng sinh tế bào và chếttế bào, thúc đẩy quá trình tái cấu trúc lại thành mạch các ĐMP và tiểu độngmạch phế nang, gây hẹp lòng mạch, tắc nghẽn mạch làm tăng PVR, TAĐMP[71],[77]. Nhiều nghiên cứu cho thấy: mặc dù đã có tăng sức cản ĐMP nhưngnếu chúng ta nong van hoặc mổ tách van hai thì vẫn có thể cải thiện đượctình trạng này [133].Song song với phản ứng co mạch, khi hệ thống ET-1 được kích hoạt sẽlàm các tế bào cơ trơn thành mạch cũng được kích thích tăng sinh phát triểnlan rộng theo chiều ly tâm, xâm lấn tới tận các tiểu động mạch phế nang (lànhững động mạch đi giữa các vách phế nang, bình thường không có lớp tếbào cơ trơn gây „„cơ hóa‟‟, giảm tính đàn hồi của những tiểu động mạch phếnang góp phần dẫn đến phì đại lớp trung mạc. Bên cạnh kích thích sự tăngsinh các tế bào cơ trơn thành mạch, hệ thống ET-1 còn có tác dụng hoạt hóa15các nguyên bào sợi và các lưới ngoại bào (bình thường nằm ở lớp trung mạc:giữa lớp nội mạc và màng đáy ngăn cách với lớp sợi đàn hồi), dẫn đến tăngsinh và tổng hợp các protein dạng sợi, gây tăng sinh mô liên kết và sợi đànhồi tại lớp trung mạc các tiểu động mạch phổi, phát triển lan rộng xâm lấn vàotận các tiểu động mạch phế nang [92].Kết quả của các phản ứng trên làm hẹp đường kính lưu thông lòng mạchdẫn đến tăng PVR, TAĐMP [122].Các quá trình tái cấu trúc mô tả nói trên diễn ra đồng thời, đan xen nhauvà tùy thuộc vào đáp ứng của từng trường hợp cụ thể mà phản ứng nào trộihơn. Do vậy, không thể tách bạch được liệu phản ứng nào sẽ là chính đối vớimô mạch phổi trong từng cá thể HHL.1.4.3. Phân loại các mức độ TAĐMPGọi là TAĐMP khi áp lực trung bình động mạch phổi > 25 mmHg khi
Xem thêm

145 Đọc thêm

HỞ VAN HAI LÁ (CHUYÊN KHOA 1)

HỞ VAN HAI LÁ (CHUYÊN KHOA 1)

• Dãn nhĩ trái: P>=0.12s ở DII, P 2 đỉnh khoảngcách 2 đỉnh > 0.04s, P hai pha, pha âm > phadương ở V1.• Rung nhĩ• Dấu dãn thất trái: (1/3) S ở V1 + R ởV5(V6)>=3.5mV• Dấu dày thất phải: (15%) R ở V1 + S ởV5(V6)>=1.1mVĐiỆN TÂM ĐỒ:CẬN LÂM SÀNG• XQ PHỔI:• Nhĩ trái to• Thất trái toCẬN LÂM SÀNG• SIÊU ÂM TIM• Giúp chẩn đoán xác định, lượng giá độ nặng,CĐ phẩu thuật, phương pháp PT, theo dõi kếtquả, quyết định sử dụng thuốc trong điều trịnội khoa.• Doppler xung: độ nhạy 90%, độ chuyên biệt95%• Doppler màu: độ nhạy 94%, độ chuyên biệt100%• Doppler liên tục: phổ tâm thu 5-6m/s
Xem thêm

24 Đọc thêm

Nghiên cứu kết quả nong van động mạch phổi bằng bóng qua da ở trẻ em dưới 2 tuổi hẹp van động mạch phổi đơn thuần (full text)

NGHIÊN CỨU KẾT QUẢ NONG VAN ĐỘNG MẠCH PHỔI BẰNG BÓNG QUA DA Ở TRẺ EM DƯỚI 2 TUỔI HẸP VAN ĐỘNG MẠCH PHỔI ĐƠN THUẦN (FULL TEXT)

ĐẶT VẤN ĐỀ Hẹp van động mạch phổi (ĐMP) là bệnh tim bẩm sinh thường gặp, bệnh đứng hàng thứ tư trong các bệnh tim bẩm sinh, chiếm từ 8 - 12% trong các bệnh tim bẩm sinh nói chung, với tỷ lệ mắc khoảng 1/1000 trẻ sống sau sinh [1],[2],[3],[4],[5],[6]. Hẹp van động mạch phổi là tổn thương thực thể bẩm sinh do dính mép lá van động mạch phổi, gây cản trở dòng máu từ thất phải lên động mạch phổi. Hẹp van ĐMP đơn thuần là chỉ hẹp van động mạch phổi không bao gồm hẹp thân, hẹp nhánh phổi hoặc các tổn thương khác trong tim kèm theo [4]. Chẩn đoán hẹp van ĐMP trước đây dựa vào khám lâm sàng và thông tim để đo áp lực trong buồng thất phải và ĐMP, chụp buồng thất phải để chẩn đoán hẹp van ĐMP với hình ảnh van ĐMP dày, đóng mở hạn chế. Từ khi có siêu âm - Doppler tim, việc chẩn đoán bệnh hẹp van ĐMP đã trở nên đơn giản hơn. Siêu âm - Doppler tim cho phép chẩn đoán xác định hẹp van ĐMP cả trong thời kỳ bào thai cũng như sau khi trẻ được sinh ra. Đây là phương pháp chẩn đoán không xâm nhập, không những chẩn đoán xác định bệnh mà còn cho biết mức độ của bệnh, giúp bác sĩ có quyết định điều trị kịp thời và chính xác cho bệnh nhân, góp phần làm giảm tỷ lệ tử vong, đặc biệt ở trẻ nhỏ và trẻ sơ sinh bị hẹp van ĐMP nặng trong giai đoạn ống động mạch đóng lại nếu không được chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời có thể dẫn tới tử vong, với những bệnh nhi là sơ sinh có hẹp van ĐMP tối cấp phụ thuộc ống động mạch phải được can thiệp nong van ĐMP cấp cứu không bệnh nhi sẽ tử vong [7]. Có hai phương pháp điều trị hẹp van động mạch phổi: phẫu thuật tách mép van và thông tim nong van ĐMP bằng bóng qua da. Phương pháp thông tim nong van ĐMP bằng bóng qua da đã được Kan và cộng sự tiến hành thực nghiệm lần đầu tiên vào năm 1980, và sau đó đã nong van ĐMP thành công cho trẻ gái 8 tuổi bị hẹp van ĐMP tại bệnh viện Johns Hopkins (Hoa Kỳ) năm 1982 [8]. Từ đó đến nay can thiệp nong van ĐMP bằng bóng qua da là phương pháp được lựa chọn đầu tiên để điều trị bệnh hẹp van ĐMP vì có hiệu quả cao [9],[10], phương pháp này có nhiều ưu điểm vượt trội so với phương pháp phẫu thuật tách mép van ĐMP. Tuy nhiên phương pháp điều trị nào cũng có thể có nguy cơ và tai biến, thông tim điều trị nong van ĐMP bằng bóng qua da này cũng có thể gặp tai biến [7],[11],[12],[13],[14],[15],[16],[17]. Các nghiên cứu còn chỉ ra rằng sau nong van ĐMP bằng bóng có thể có tái hẹp với tỷ lệ khác nhau, tỷ lệ này cao hơn ở nhóm trẻ nhỏ và trẻ sơ sinh [9], [11],[13], [16],[18],[19]. Hiện tại ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào đánh giá kết quả của phương pháp điều trị hẹp van ĐMP đơn thuần cho trẻ em, đặc biệt trẻ dưới 2 tuổi. Do vậy, đề tài “Nghiên cứu kết quả nong van động mạch phổi bằng bóng qua da ở trẻ em dưới 2 tuổi hẹp van động mạch phổi đơn thuần” được thực hiện với hai mục tiêu sau: 1. Đánh giá hiệu quả tức thời và trong 1 năm đầu sau nong van động mạch phổi bằng bóng qua da cho trẻ dưới 2 tuổi bị hẹp van động mạch phổi đơn thuần tại Bệnh viện Nhi Trung ương. 2. Nhận xét các biến cố và các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả nong van động mạch phổi bằng bóng qua da ở trẻ mắc bệnh hẹp van động mạch phổi đơn thuần dưới 2 tuổi.
Xem thêm

178 Đọc thêm

Nghiên cứu hẹp động mạch vành mức độ trung gian bằng siêu âm nội mạch và phân suất dự trữ lưu lượng ở bệnh nhân bệnh mạch vành mạn tính (FULL TEXT)

NGHIÊN CỨU HẸP ĐỘNG MẠCH VÀNH MỨC ĐỘ TRUNG GIAN BẰNG SIÊU ÂM NỘI MẠCH VÀ PHÂN SUẤT DỰ TRỮ LƯU LƯỢNG Ở BỆNH NHÂN BỆNH MẠCH VÀNH MẠN TÍNH (FULL TEXT)

MỞ ĐẦU Bệnh động mạch vành hay còn gọi tắt là bệnh mạch vành (BMV) với những tổn thương hẹp hoặc tắc chủ yếu do xơ vữa động mạch vành, phổ biến trên toàn thế giới và đang ngày càng thường gặp ở nước ta [1],[4]. Tình trạng xơ vữa động mạch vành có thể duy trì trạng thái không triệu chứng hàng thập kỷ. Sự chuyển dịch chậm hay nhanh và từ không sang có triệu chứng tắc nghẽn gây thiếu máu cơ tim cục bộ có liên quan đến huyết khối xơ vữa động mạch vành [37]. Hậu quả là gây mất cân bằng giữa khả năng cung cấp của hệ thống động mạch vành và nhu cầu oxy cũng như dinh dưỡng của cơ tim. Trong thực hành khi triệu chứng lâm sàng và kết quả cận lâm sàng điển hình thì việc chẩn đoán dễ dàng [1],[4],[5],[8],[9]. Chụp động mạch vành hiện vẫn là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán bệnh mạch vành [101]. Khi triệu chứng lâm sàng không rõ ràng, tổn thương trên chụp mạch vành không được bộc lộ rõ hoặc ở mức độ trung gian thì việc chẩn đoán tổn thương hẹp có ý nghĩa hay không hoặc có nguy cơ biến chứng cao trong tương lai gần hay không thì cần phải sử dụng những công cụ hỗ trợ hình ảnh và chức năng thích hợp [102], [35]. Công cụ chẩn đoán hình ảnh thường có những điểm hạn chế khi suy diễn khả năng đánh giá chức năng, và ngược lại, công cụ đánh giá chức năng lại không đánh giá được những tổn thương hẹp kèm tái định dạng mạch máu hoặc tổn thương nguy cơ cao có thể gây biến cố tim mạch sớm. Vì vậy, việc sử dụng hợp lý những kỹ thuật này hoặc kết hợp những tiêu chuẩn chẩn đoán với nhau trong những trường hợp cần thiết sẽ giúp tăng độ chính xác khi đánh giá tổn thương động mạch vành. Phân suất dự trữ lưu lượng (FFR) đã được nghiên cứu sâu và xác lập giá trị ngưỡng chẩn đoán thiếu máu cơ tim (FFR < 0,8) với độ tin cậy rất cao cho tổn thương trên từng nhánh động mạch chi phối một vùng cơ tim tương ứng [61],[76]. Bên cạnh đó, do tính chất dễ sử dụng nên FFR cũng đã trở thành công cụ tham chiếu trong nghiên cứu cho các phương pháp đánh giá thiếu máu cơ tim khác như chụp mạch vành chọn lọc, siêu âm nội mạch… cho từng tổn thương trên một nhánh động mạch chi phối một vùng cơ tim tương ứng. Siêu âm nội mạch (IVUS) là công cụ dễ sử dụng và đo đạc định lượng chính xác các thông số giải phẫu học tổn thương, giúp chẩn đoán thiếu máu cơ tim và hỗ trợ đắc lực trong can thiệp mạch vành. Đối với tổn thương thân chung động mạch vành trái, giá trị tiết diện cắt ngang lòng mạch tối thiểu (MLA) (MLA < 6mm 2 ) vẫn còn giá trị trong chẩn đoán thiếu máu cơ tim [65]. Trong khi đó, ứng dụng đơn thuần giá trị điểm cắt cũ về tiết diện cắt ngang lòng mạch tối thiểu cho các tổn thương mạch máu không phải thân chung động mạch vành trái (MLA ≤ 4,0mm 2 ) [86],[97],[112] của IVUS đã cho thấy tỉ lệ dương tính giả quá nhiều kể từ khi FFR được công nhận trong đánh giá thiếu máu cơ tim ngay tại phòng thông tim và IVUS được bắt đầu nghiên cứu chung với FFR [47],[48],[49],[83]. Vì vậy, hiện tại IVUS đang bị hạ bậc trong các hướng dẫn lâm sàng mới [61]. Do đó, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu hẹp động mạch vành mức độ trung gian bằng siêu âm nội mạch và phân suất dự trữ lưu lượng ở bệnh nhân bệnh mạch vành mạn tính” với các mục tiêu: 1. Nghiên cứu đặc điểm hình thái học tổn thương mạch vành mức độ trung gian qua chụp mạch, siêu âm nội mạch và phân suất dự trữ lưu lượng 2. So sánh giá trị và sự tương quan kỹ thuật chụp động mạch vành phối hợp siêu âm nội mạch và/ hoặc phân suất dự trữ lưu lượng trong đánh giá tổn thương mạch vành mức độ trung gian 3. Xác định giá trị điểm cắt mới (Cut – off ) của tiết diện cắt ngang lòng mạch tối thiểu trên siêu âm nội mạch Tính chất cấp thiết, khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu:
Xem thêm

166 Đọc thêm

THI CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH HỆ TIM MẠCH

THI CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH HỆ TIM MẠCH

TM11Có khả năng hẹp van 2 lágiai đoạn đầuXquang tim phổi thẳngTim: Cung tiểu nhĩ trái lớn tạo cungthứ 4 bên bờ Trái. Chỉ số tim lồngngực # 50%Phổi: Chưa rối loạn tuần hoàn phổi2TM23Hẹp hở 2 

24 Đọc thêm

Nghiên cứu một số đặc điểm lâm sàng, điện tâm đồ, siêu âm doppler tim ở bệnh nhân bệnh phôi tắc nghẽn mạn tính có biến chứng tâm phế mạn.DOC

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, ĐIỆN TÂM ĐỒ, SIÊU ÂM DOPPLER TIM Ở BỆNH NHÂN BỆNH PHÔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH CÓ BIẾN CHỨNG TÂM PHẾ MẠN.DOC

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) là một trong những bệnh hô hấp thường gặp. Hàng năm có hàng triệu người bị bệnh này, chi phí cho điều trị rất tốn kém và là gánh nặng cho gia đình, xã hội [30]. Ở Mỹ ước tính có khoảng 14 triệu người mắc BPTNMT và là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ năm tại Mỹ [6], [9]. giới: 9,34/1000 ở nam và 7,33/1000 ở nữ vào năm 1990 [15],[26]. Ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa có thống kê nào về bệnh. Nguyên nhân hàng đầu của BPTNMT là hút thuốc lá, sau đó là tình trạng ô nhiễm không khí. Theo thống kê của ngân hàng thế giới ngày nay có khoảng 1,1 tỷ người hút thuốc lá (khoảng 80% sống ở các nước có thu nhập thấp hoặc trung bình), và dự kiến sẽ đạt 1,6 tỷ người vào năm 2025. Ở tại khoa nội hô hấp bệnh viện Trung ương Huế tỷ lệ nhập viện BPTNMT ngày càng tăng dẫn đến bệnh ngày càng nặng đưa đến biến chứng tâm phế mạn. Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi thực hiện đề tài: "Nghiên cứu một số đặc điểm lâm sàng, điện tâm đồ, siêu âm Doppler tim ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có biến chứng tâm phế mạn". Nhằm hai mục tiêu: 1. Khảo sát một số đặc điểm lâm sàng, khí máu, điện tâm đồ, siêu âm doppler tim ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có biến chứng tâm phế mạn. 2. Tìm hiểu mối tương quan giữa siêu âm Doppler tim (áp lực tâm thu động mạch phổi, đường kính tâm trương thất phải).
Xem thêm

18 Đọc thêm

XỬ TRÍ HỞ VAN HAI LÁ QUAN ĐIỂM CAN THIỆP

XỬ TRÍ HỞ VAN HAI LÁ QUAN ĐIỂM CAN THIỆP

HarvardMedicalSchoolPercutaneous Mitral Valve Replacement:Role in DMR and FMR may be different• In DMR, there is something physically wrong with thevalve apparatus• With the exception of MitraClip, percutaneous repairtechnologies apply less to DMR• Also the use of MitraClip in DMR, may limit futureability to place a percutaneous replacement valve,complicating the choice of therapy• Therefore, percutaneous replacement may become aviable option earlier in DMR patientsStatus of EmergingReplacement Systems(all but one are pre-clinical)Status of Emerging Replacement SystemsCardiaQ• NiTi, self-expanding• Trileaflet, symmetric• 2 sets of 12 anchors• Transcatheter venous, transseptal
Xem thêm

27 Đọc thêm

Nghiên cứu ứng dụng siêu âm Doppler tim trong đánh giá kết quả cấy máy tạo nhịp tái đồng bộ (CRT) điều trị suy tim nặng (TT)

Nghiên cứu ứng dụng siêu âm Doppler tim trong đánh giá kết quả cấy máy tạo nhịp tái đồng bộ (CRT) điều trị suy tim nặng (TT)

ĐẶT VẤN ĐỀ Suy tim trở thành vấn đề sức khỏe nghiêm trọng với tỷ lệ mắc bệnh là 1-2% dân số ở nước đã phát triển. Cùng với sự tăng dần c a tuổi thọ và các bệnh tim mạch như tăng huyết áp, bệnh mạch vành, bệnh rối loạn chuyển hoá, tỷ lệ bệnh nhân mới mắc suy tim hàng năm ngày càng gia tăng. Mặc dù đã có rất nhiều loại thuốc mới được thử nghiệm và ứng dụng trong điều trị suy tim song vẫn không thể kiểm soát được tỷ lệ tử vong và cải thiện chất lượng cuộc sống c a nhiều người bệnh. Tại Việt Nam, bệnh l tim mạch tăng nhanh. Theo niên giám thống kê c a cục quản l khám chữa bệnh Bộ Y tế (2015), tỉ lệ tử vong do suy tim năm 2013 là 0,51% tổng số tử vong do mọi nguyên nhân, đứng thứ 10 trong các nguyên nhân gây tử vong tại Việt Nam. Từ những năm 1990, sự ra đời c a phương pháp cấy máy tạo nhịp 3 buồng tái đồng bộ tim (CRT) đã dần mở ra một thời đại mới trong điều trị suy tim và gợi mở nhiều vấn đề mới liên quan đến cơ chế bệnh sinh c a suy tim, tình trạng tái cấu trúc cơ tim và mất đồng bộ (MĐB) cơ tim. MĐB cơ tim là tình trạng rối loạn điện học và co bóp c a cơ tim, biểu hiện ở 20-50% bệnh nhân suy tim. Trước đây, QRS giãn rộng trên ĐTĐ được coi là một thông số đơn giản biểu hiện tình trạng MĐB cơ tim và là tiêu chuẩn lựa c họn bệnh nhân cho điều trị tái đồng bộ. Tuy nhiên, có tới 30-40% bệnh nhân không đáp ứng với điều trị CRT như mong muốn. Nhiều nghiên cứu đã chứng tỏ MĐB điện học không thật sự tương quan với MĐB cơ học - yếu tố quyết định trong đáp ứng với điều trị CRT. Vì thế, có rất nhiều kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh mới ra đời nhằm đánh giá tình trạng MĐB cơ học ở bệnh nhân suy tim, đặc biệt là siêu âm Doppler mô cơ tim mã hoá màu – một phương pháp siêu âm mới có rất nhiều hứa hẹn. Với mong muốn tìm hiểu một lĩnh vực tương đối mới, hy vọng góp phần cải thiện cuộc sống cho những bệnh nhân suy tim nặng, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: Nghiên cứu ứng dụng siêu âm Doppler tim trong đánh giá kết quả cấy máy tạo nhịp tái đồng bộ (CRT) điều trị suy tim nặng. Nhằm nghiên cứu hai mục tiêu cụ thể như sau: 1. Đánh giá kết quả ngắn hạn của phương pháp cấy máy tạo nhịp tái đồng bộ cơ tim (CRT) điều trị suy tim nặng bằng siêu âm Doppler tim. 2 . Tìm hiểu khả năng ứng dụng của siêu âm Doppler mô cơ tim để lựa chọn vị trí đặt điện cực xoang vành tối ưu trong cấy máy tạo nhịp tái đồng bộ. Bố cục luận án: Luận án gồm 149 trang (chưa kể phụ lục và tài liệu tham khảo); 70 bảng, 16 biểu đồ và 29 hình, 4 sơ đồ. Có 159 tài liệu tham khảo với 10 tài liệu tiếng Việt; 149 tài liệu tiếng Anh. Phần đặt vấn đề: 03 trang, tổng quan: 42 trang, đối tượng và phương pháp: 14 trang, kết quả nghiên cứu: 44 trang, bàn luận: 42 trang, kết luận: 03 trang và kiến nghị: 01 trang. Những đóng góp của luận án:  Sử dụng siêu âm Doppler tim đánh giá kết quả ngắn hạn c a phương pháp cấy máy tạo nhịp tái đồng bộ, sau 6 tháng theo dõi các k ch thước tim giảm, chức năng tim tăng, giảm tình trạng mất đồng bộ tim. - K ch thước giảm: Vs từ 171,46 ± 70,14 ml xuống 134,44 ± 66,55 ml; Ds từ: 61,67 ± 8,89 mm xuống 55,98 ± 11,13mm (p < 0,001). - Chức năng tăng: EF tăng: 27,01 ± 5,96% lên 34,81 ± 7,62% (p < 0,001). - MĐB 2 thất: trước CRT 60%; sau CRT: 43,75%. MĐB trong thất trái (DI) trước CRT: 58,33%, sau CRT: 25,0%. - Siêu âm Doppler là một tiêu ch đánh giá tình trạng đáp ứng tốt với CRT: tiêu chuẩn tăng EF ≥ 20% có 68,75% và tiêu chuẩn giảm Vs ≥ 15% có 52,08% bệnh nhân có đáp ứng tốt.  Siêu âm tim giúp tìm vùng khử cực chậm nhất để cấy điện cực xoang vành bước đầu cải thiện tỉ lệ đáp ứng với CRT. Sau 6 tháng theo dõi : - Nhóm có điện cực thất trái phù hợp dự báo c a siêu âm Vs:130,03 ± 56,90 ml; Ds:55,45±10,31 mm; EF: 35,24 ± 7,48% ; nhóm không phù hợp vị tr có Vs: 146,31 ± 89,25 ml, và Ds là 57,38 ± 13,44mm; EF: 33,64 ± 8,18% (p > 0,05) - Bệnh nhân có vị tr điện cực xoang vành phù hợp hướng dẫn c a siêu âm đáp ứng tốt hơn với CRT: tiêu chuẩn giảm Vs: 54,29%; tăng EF: 71,43%, nhóm không phù hợp: 46,15%; 61,54% (p > 0,05).
Xem thêm

Đọc thêm

Nghiên cứu các chỉ số Doppler mô cơ tim ở người trưởng thành bình thường và bệnh nhân tăng huyết áp

NGHIÊN CỨU CÁC CHỈ SỐ DOPPLER MÔ CƠ TIM Ở NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH BÌNH THƯỜNG VÀ BỆNH NHÂN TĂNG HUYẾT ÁP

ĐẶT VẤN ĐỀ Tăng huyết áp nguyên phát là một bệnh khá phổ biến, hay gặp nhất trong số các bệnh tim mạch ở hầu hết các nước trên thế giới. Theo báo cáo của tổ chức Y tế thế giới, năm 2000 số người mắc bệnh tăng huyết áp (THA) trên toàn thế giới là khoảng 600 triệu người [170]. Một điều tra gần đây (2008) của Viện tim mạch Việt Nam cho thấy tỷ lệ THA trong dân số là 25,1%, trong đó ở nam giới là 28,3%, nữ giới 23,1% và có xu thế ngày càng gia tăng [160]. THA ảnh hưởng đến nhiều cơ quan, bộ phận khác nhau trong cơ thể như, tim, thận, não, mắt…, gây ra nhiều biến cố tim mạch nghiêm trọng, làm tăng tỷ lệ tàn phế và tử vong. Khi huyết áp tăng đã tác động trực tiếp lên tim làm cho tim phải co bóp mạnh hơn, dẫn đến tái cấu trúc tim, lâu dần sẽ làm tăng khối lượng cơ thất trái và ảnh hưởng đến chức năng tâm thu (CNTTh) và tâm trương (CNTTr) thất trái. Theo nhiều nghiên cứu trên thế giới, những biến đổi về cấu trúc và chức năng thất trái trong THA diễn ra liên tục và thầm lặng, mà nhiều khi không thể phát hiện được bằng các phương pháp thăm khám thông thường, trong khi đó nếu xác định được sớm các biến đổi về hình thái và chức năng thất trái, sẽ giúp cho điều trị đạt kết quả tốt hơn, có thể làm giảm phì đại thất trái (PĐTT), hạn chế rối loạn nhịp và phục hồi chức năng thất trái [31], [88], [125]. Để phát hiện và đánh giá những biến đổi của tim trên bệnh nhân THA ngoài lâm sàng, hiện nay có nhiều phương pháp cận lâm sàng khác đã được áp dụng như cộng hưởng từ tim, chụp cắt lớp vi tính đa dẫy đầu thu, siêu âm tim, xạ hình tưới máu cơ tim…, trong đó siêu âm tim với ưu điểm của phương pháp không xâm nhập, có độ an toàn và hiệu qủa cao, nên thường được sử dụng rộng rãi để đánh giá hình thái và chức năng tim trong THA, như phì đại thất trái, tình trạng chức năng tâm thu, tâm trương thất trái…, tuy vậy với các kiểu siêu âm truyền thống (không bao gồm siêu âm Doppler mô cơ tim), chưa phát hiện được những biến đổi sớm của tim, nhất là trong những trường hợp THA giai đoạn đầu, khi chức năng tâm thu thất trái vẫn trong giới hạn bình thường. Chính vì thế trong khoảng vài thập niên gần đây siêu âm Doppler mô cơ tim ra đời với ưu thế về kỹ thuật vượt trội đã cho phép đo được vận động của các vùng cơ tim, trong cả thì tâm thu và tâm trương, nên có thể định lượng được vận động của từng vùng cơ tim, vì vậy rất thích hợp trong chẩn đoán bệnh động mạch vành, ngoài ra siêu âm Doppler mô cơ tim còn cho phép đánh giá vận động vòng van 2 lá, một thông số có giá trị cao để đánh giá sớm những thay đổi chức năng tâm thu, tâm trương thất trái, ngay cả khi chưa có phì đại thất trái và EF% vẫn trong giới hạn bình thường [102], [108], [112], [169]. Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về vai trò của siêu âm Doppler mô cơ tim trên những đối tượng bình thường và trong các bệnh lý tim mạch khác nhau, nhưng ở nước ta, những nghiên cứu này còn ít được đề cập tới, đặc biệt chúng ta chưa có những số liệu về Doppler mô cơ tim trên người bình thường ở các lứa tuổi khác nhau để làm tham số so sánh với những bệnh tim mạch nói chung và THA nói riêng, mà điều này rất cần thiết trong nghiên cứu. Vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài:  Nghiên cứu các chỉ số Doppler mô cơ tim ở người trưởng thành bình thường và bệnh nhân tăng huyết áp nhằm hai mục tiêu: 1. Nghiên cứu một số thông số siêu âm Doppler mô cơ tim ở người trưởng thành bình thường. 2. Tìm hiểu biến đổi một số thông số Doppler mô cơ tim và mối liên quan với một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân tăng huyết áp.
Xem thêm

177 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ SỚM ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT SỬA TOÀN BỘ BỆNH TIM THẤT PHẢI HAI ĐƯỜNG RA

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ SỚM ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT SỬA TOÀN BỘ BỆNH TIM THẤT PHẢI HAI ĐƯỜNG RA

ĐẶT VẤN ĐỀ Thất phải hai đường ra (TPHĐR) là bệnh tim bẩm sinh bất thường kết nối giữa tâm thất và đại động mạch, trong đó hai đại động mạch xuất phát hoàn toàn hoặc gần như hoàn toàn từ thất phải [1]. Bệnh tim bẩm sinh phức tạp này bao gồm rất nhiều thay đổi đa dạng về hình thái giải phẫu bệnh học cũng như sinh lý bệnh học [2]. Sự không đồng nhất trong các hình thái của bệnh lý TPHĐR đã dẫn tới nhiều tranh cãi trong lịch sử của chuyên ngành tim mạch bẩm sinh. Tùy theo hình thái giải phẫu bệnh học và các thương tổn phối hợp của từng trường hợp TPHĐR cụ thể mà dẫn đến các biểu hiện bệnh khác nhau. Ví dụ như một số thể bệnh gần giống với tứ chứng Fallot nếu có hẹp đường ra thất phải (ĐRTP) kèm theo, hoặc thương tổn của một thông liên thất (TLT) nặng nếu không kèm theo hẹp ĐRTP, hay có thể tương tự như chuyển gốc động mạch kèm theo TLT [3],[4]. Những trường hợp TPHĐR phối hợp với các thương tổn phức tạp khác trong tim như bất tương hợp nhĩ - thất hoặc những bệnh lý một tâm thất không nằm trong nhóm nghiên cứu này. TPHĐR là bệnh lý ít gặp với tần suất từ 1-1,5% trong các bệnh tim bẩm sinh. Trong 1 triệu trẻ ra đời sống sót thì trung bình có khoảng 157 trẻ bị bệnh TPHĐR [5]. Hình thái học của bệnh phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mối liên quan giữa lỗ TLT với các van nhĩ thất, tương quan giữa động mạch chủ (ĐMC) và động mạch phổi (ĐMP), giải phẫu của động mạch vành (ĐMV), có hay không thương tổn tắc nghẽn đường ra của hai thất, khoảng cách giữa van ba lá và vòng van ĐMP, và các bất thường tim bẩm sinh khác phối hợp với bệnh [6],[7],[8],[9]. Theo phân loại năm 2000 của Hiệp hội các phẫu thuật viên lồng ngực - Society of Thoracic Surgeon (STS) và Hiệp hội phẫu thuật tim mạch lồng ngực Châu Âu - European Asociation of Cardiothoracic Surgery (EACTS), bệnh TPHĐR được phân loại thành 4 thể khác nhau bao gồm thể TLT, thể Fallot, thể chuyển gốc động mạch và thể TLT biệt lập với những biểu hiện lâm sàng tương đối giống với các bệnh đó [1]. Siêu âm tim với xung và thăm dò Doppler màu giúp chẩn đoán xác định và đánh giá tương đối toàn diện cho phần lớn các trường hợp bệnh nhân TPHĐR [10],[11]. Các thăm dò như thông tim chẩn đoán, chụp CT đa dãy hoặc MRI cũng góp phần bổ sung cho siêu âm tim trong chẩn đoán bệnh [12],[13],[14]. Phẫu thuật sửa chữa toàn bộ của bệnh TPHĐR đầu tiên đã được Kirklin tiến hành vào tháng 5 năm 1957 tại Mayo Clinic với chẩn đoán TPHĐR thể TLT dưới van ĐMC [15]. Những báo cáo đầu tiên về phẫu thuật thành công TPHĐR thể chuyển gốc động mạch được ghi nhận vào những năm 1967 và 1969 [16]. Bệnh lý TPHĐR có nhiều phương pháp phẫu thuật sửa toàn bộ khác nhau tùy theo từng thể bệnh và thương tổn trên từng bệnh nhân cụ thể. Kết quả điều trị phẫu thuật của bệnh này tại các trung tâm tim mạch lớn trên thế giới đạt được tỷ lệ sống còn sau phẫu thuật sửa chữa toàn bộ khoảng 80% - 95% sau 10 năm tùy theo từng thể bệnh [17],[18],[19],[20],[21]. Tại Việt Nam chỉ một vài bệnh viện có khả năng phẫu thuật sửa chữa toàn bộ cho các bệnh nhân TPHĐR, do vậy còn nhiều bệnh nhân vẫn chưa được điều trị kịp thời và thậm chí tử vong trước khi được tiến hành phẫu thuật. Đồng thời cũng chưa có nghiên cứu cụ thể nào đánh giá về hình thái giải phẫu, lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả phẫu thuật điều trị bệnh lý này ở Việt Nam hiện nay. Vì vậy, nhằm góp phần nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị bệnh lý này, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm giải phẫu lâm sàng và kết quả sớm điều trị phẫu thuật sửa toàn bộ bệnh tim thất phải hai đƣờng ra” với 2 mục tiêu: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng theo thể tổn thương giải phẫu của bệnh lý thất phải hai đường ra 2. Đánh giá kết quả sớm của phẫu thuật sửa toàn bộ điều trị bệnh thất phải hai đường ra
Xem thêm

164 Đọc thêm

TRIỆU CHỨNG HỌC NỘI KHOA NXB Y HỌC

TRIỆU CHỨNG HỌC NỘI KHOA NXB Y HỌC

b) Triệu chứng toàn thể: Là những biểu hiện toàn thân gây ra bởi tình trạng bệnhlý: gầy mòn, sút cân, sốt.c) Triệu chứng thực thể: Là những triệu chứng phát hiện đƣợc khi khám lâm sàng:các thay đổi bệnh lý ở phổi, tim, các thay đổi không bình thƣờng ở bụng.Ngƣời ta cũng chia ra làm triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng:*) Triệu chứng lâm sàng: là những triệu chứng thu thập đƣợc ngay ở giƣờng bệnhbằng cách hỏi bệnh nhân và khám bệnh (bao gồm chủ yếu nhìn, sờ, gõ, nghe..).*) Triệu chứng cận lâm sàng: là các tài liệu thu thập đuợc bằng các phƣơng pháp:- X-quang- Xét nghiệm.- Thăm dò bằng dụng cụ hoặc máy móc khác: thông tim, điện tâm đồ, đo chuyểnhoá cơ bản, đo chức năng phổi, soi dạ dày, soi ổ bụng, soi bàng quang…Có một số trƣờng hợp bệnh lý khi điển hình bình thƣờng biểu hiện bằng một sốtriệu chứng nhất định, những triệu chứng nhất định đó tập hợp lại gọi là hội chứng:hội chứng tràn dịch màng phổi, hội chứng đông đặc (nhu mô phổi), hội chứng vantim, hội chứng suy tim, hội chứng tắc ruột, hội chứng tắc mật, hội chứng nhiễmkhuẩn, hội chứng kiệt nƣớc..Nội dung chủ yếu của các bệnh án là việc ghi chép lại các triệu chứng nói trêncùng với các diễn biến của nó từ khi ngƣời bệnh bắt đầu mắc bệnh cho đến khingƣời bệnh đến bệnh viện để có thể đƣợc một chẩn đoán sơ bộ về lâm sàng ngaykhi ngƣời bệnh vào viện và từ đó có một hƣớng điều trị thích đáng.I- NỘI DUNG BỆNH ÁNGồm hai mục lớn: hỏi bệnh và khám bệnh.A- HỎI BỆNHCó 4 phần:1) Phần hành chính:Ngoài tác dụng hành chính đơn thuần, phần này cũng còn có tác dụng chuyênmôn.
Xem thêm

601 Đọc thêm

Điều trị chống đông trong rung nhĩ

ĐIỀU TRỊ CHỐNG ĐÔNG TRONG RUNG NHĨ

Định nghĩa: Rung nhĩ là loại loạn nhịp nhanh trên thất đặc trưng bằng các hoạt động không đồng bộ của nhĩ kèm theo suy chức năng cơ học của nhĩ. RN là loại rối loạn nhịp tim thường gặp nhất . Rung nhĩ chia làm 2 loại : + Rung nhĩ do bệnh van tim (hẹp van 2 lá, hở van 2 lá có ý nghĩa và van nhân tạo) . + Rung nhĩ không do bệnh van tim. Trước khi bắt đầu điều trị, các bác sĩ cần đánh giá toàn bộ nguy cơ của bệnh nhân để có chỉ định và chiến lược điều trị đúng. Khi đã quyết định dùng kháng đông cho bệnh nhân, chúng ta cần tuân thủ đúng cách sử dụng và theo dõi trong quá trình dùng thuốc. Điều này sẽ giúp tránh  được biến chứng cho bệnh nhân và đạt hiệu quả điều trị tốt nhất. Hiện nay các thuốc kháng đông mới rất có hiệu quả ở BN RN không do bệnh van tim và rất thuận lợi cho BN khi dùng. Tuy nhiên giá thành còn là rào cản lớn.
Xem thêm

41 Đọc thêm