THƠ TÌNH GẶP LẠI NGƯỜI YÊU CŨ

Tìm thấy 7,214 tài liệu liên quan tới từ khóa "THƠ TÌNH GẶP LẠI NGƯỜI YÊU CŨ":

Tìm hiểu văn học Tiễn dặn người yêu

TÌM HIỂU VĂN HỌC TIỄN DẶN NGƯỜI YÊU

Tóm tắt "Tiễn dặn người yêu" là một truyện thơ dài 1846 câu của người Thái ở Tây Bắc nước ta. Truyện kể về một mối tình chung thuỷ của lứa đôi, trải qua nhiều trắc trở đắng cay, cuối cùng cũng đoàn tụ. Cốt truyện như sau: Chàng trai nhà nghèo yêu một cô gái. Hai người có bao kỷ niệm đẹp êm đềm và từng gắn bó thề nguyền:"Sông Đà cạn bằng chiếc đũa hãy quên". Anh nhờ người mối lái, lo lễ vật đến xin ở rể, nhưng bố mẹ cô gái chê anh nghèo, không nhận lời. Cô bị bố mẹ ép gả cho một người con trai giàu có. Cô kêu van chú thím anh chị em trong nhà, kêu van đến cả chim cu, nhưng ai cũng không giúp được, "dẫu van xin bố mẹ cũng không buông, không tha". Người con trai nhà giàu đến ở rể. Người yêu của cô đau khổ, phẫn chí bỏ nhà đi buôn, hy vọng trở nên giàu có, sẽ trở về giành lại người yêu. Trước lúc ra đi, cô trao lại người yêu chiếc đàn môi hẹn ngày tái ngộ. Cô mòn mỏi chờ trông mà người yêu đi mãi vẫn chưa về. Năm tháng đã trôi qua, người con trai nhà giàu đã hết hạn "ở rể ngoài" và được làm "rể trong". Hết hạn ở rể, cô phải về nhà chồng. Cùng lúc ấy, người yêu trở về, anh tiễn chị đi. Đôi bạn tình bịn rịn, không muốn rời nhau. Anh tiễn người tình trước lúc chia tay: " Không lấy được nhau thời trẻ" thì hãy lấy nhau "khi goá bụa về già". Mấy năm sau, chị bị nhà chồng đuổi về nhà cha mẹ đẻ vì theo họ, chị không thể nào trở thành "vợ hiền, dâu thảo". Rồi cha mẹ chị bán chị cho một nhà quan. Chị đau khổ như điên như dại. Gia đình nhà quan đưa chị ra chợ bán với giá bán một cuộn dong. Người mua chị lại chính là người yêu cũ, nay đã trở nên giàu có và đã có vợ. Chị đã quá thay đổi, anh chẳng nhận ra chị được nữa. Chị đem đàn môi ra gảy. Anh chợt nhận ra chị qua tiếng đàn môi não nùng. Anh thu xếp cho người vợ trước trở về nhà cha mẹ mình rồi cưới chị làm vợ như lời nguyền ngày trước. Thân em chỉ bằng thân con bọ ngựa 1. Đoạn thơ ghi lại tâm trạng hoảng hốt, đau khổ của cô gái Thái khi bị cha mẹ ép duyên. - Đó là một buổi chiều, cô đang kiếm củi trên nương. Cô vừa hái củi vừa nghĩ đến người yêu: ".. một bó dành nhen lửa sàn hoa - Lứa sàn hoa để bạn trai xa hơ áo - Em chỉ đón chờ mồi thuốc anh yêu". Cô mơ ước "Hỡi vía anh yêu, về nhà theo nhau". Mặt trời được nhân hoá như đang đối thoại với cô gái, mặt trời "qua sàn người thương", lúc "sắp lặn", lúc "khuất mây mờ", mặt trời "không gọi....không chờ", - chẳng khác nào chàng trai - người yêu của cô. Gánh củi về nhà, cô ngạc nhiên nhìn thấy gói cà, gói xôi, gói thuốc lào... Lúc đầu cô tưởng là hàng hoá của người Xá mang tới đổi bán. Khi biết là sính lễ "ràng cuốn tình con", cô luống cuống hoảng sợ, đau khổ "lập cập chạy ra sân"..."nát ruột gan" nghĩ về người yêu. Kêu van bác trai, bác gái, chú thím, chị em dâu rể, ai cũng bảo: "Không giúp nổi cháu ơi", "không giúp được em ơi!" Nghe chim cu khuyên giải: "Bố gả chồng cho, đừng chối cô à!". Như một định mệnh "dầu van xin cha cũng không buông không thả", cô gái tủi thân, tủi phận, than khóc: "Ngẫm thân em chỉ bằng thân con bọ ngựa. Bằng con chẫu chuộc thôi!" 2. Ý nghĩ, giá trị - Đoạn thơ phản ánh tục lệ ép duyên, lên án lễ giáo phong kiến về hôn nhân đã chà đạp lên tình yêu hạnh phúc của người phụ nữ. (Thái) - Đoạn thơ có giá trị nhân đạo, thể hiện sự đồng cảm đối với nỗi đau khổ của người con gái bị ép duyên.
Xem thêm

1 Đọc thêm

ĐẶC SẮC NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT TRONG THƠ TÌNH PUSKIN

ĐẶC SẮC NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT TRONG THƠ TÌNH PUSKIN

người đó đã từng trải qua. Những cảm xúc của một người chưa từng yêu, cũng nhưđang yêu và cho đến khi đã tuột mất tình yêu, người ta vẫn đặt ra một dấu hỏi lớn“Tình yêu là gì”. Cũng không ai lý giải nổi, tại sao đã yêu nhau rồi lại phải chia tay, đãtừng một thời yêu nhau nhưng vì sao lại trở thành người xa lạ... Trên thế giới đã xuấthiện rất nhiều nhà thơ lấy tình yêu làm nguồn cảm hứng sáng tác như: Goethe,Êxênhin, Tago... ở Việt Nam thì không thể không kể đến Xuân Diệu, Nguyễn Bính...Tuy nhiên, đỉnh cao của thơ tình chỉ xuất hiện cùng tác giả có danh hiệu “Ông hoàngthơ tình Puskin”. Người được mệnh danh là “Mặt trời thi ca Nga”. Những bài thơ tìnhcủa Puskin đã vượt qua rào cản của ngôn ngữ, vượt khỏi biên giới quốc gia đến vớibạn đọc trên toàn thế giới. Những vần thơ của ông đã sống mãi với thời gian, bất tửtrong lòng bạn đoc.Như vậy, Puskin đã cảm nhận như thế nào về tình yêu, cũng như những quanniệm, những biểu hiện của tình yêu ra sao mà những tác phẩm của ông lại có sức hútmạnh mẽ đối với ban đọc, khiến cho tất cả mọi người phải ngẫm nghĩ khi đọc thơ ông.Nhà thơ vốn xuất thân trong một gia đình có truyền thống văn học, vì vậy từnhỏ ông đã sớm được tiếp xúc với không khí văn chương và ông tỏ ra thích thú với17điều đó. Đây là một điều kiện quan trọng, được coi là tiền đề thúc đẩy tài năng pháttriển, nảy nở sớm. Lúc trưởng thành ông lại gặp phải nhiều biến cố thăng trầm. Ông bịđi đày, được chứng kiến các sự kiện quan trọng của nước Nga. Vậy nên nhờ đó màông đã có thêm động lực để sáng tác ngày càng nhiều hơn. Đặc biệt, không thể khôngkể đến mảng thơ tình trong các tác phẩm của ông, Puskin đã để lại cho đời nhiều ángvăn sáng chói, giàu cảm xúc, nhiều bài thơ gắn liền với tên tuổi của ông như: Tôi yêuem, Vô tình, Lời tự thú... Những bài thơ tình ít nhiều bị ảnh hưởng bởi những cuộc tìnhcủa ông, nó đã trở thành chất xúc tác tuyệt vời làm nên thành công của Puskin trongmảng thơ tình. Là một thi sĩ đa cảm, những bài thơ tình của ông chính là sự kết tinh từnhững cuộc tình mà ông đã trải qua. Người ta ước tính cuộc đời Puskin đã trải qua rất
Xem thêm

60 Đọc thêm

Tìm hiểu văn học Sóng

TÌM HIỂU VĂN HỌC SÓNG

Tác giả Xuân Quỳnh (1942-1988). Nhà thơ nữ hiện đại, viết rất hay, rất nồng nàn về thơ tình. Những bài thơ hay nhất của chị: “Mùa hoa doi”, “Bao giờ ngâu nở hoa”, “Hoa cúc”, “Sóng”, “Thuyền và biển”, v.v… Tác phẩm “Chồi biếc” (1963), “Hoa dọc chiến hào” (1968), “Gió Lào cát trắng” (1974), “Lời ru trên mặt đất” (1978), “Sân ga chiều em đi” (1984), “Hoa cỏ may” (1989). Xuất xứ Bài thơ “Sóng” được Xuân Quỳnh viết vào ngày 29/12/1967, lúc nhà thơ 25 tuổi. Bài thơ rút trong tập “Hoa dọc chiến hào” tập thơ thứ 2 của chị. Chủ đề Tình yêu là sóng lòng, là khát vọng, là niềm mong ước được yêu, được sống hạnh phúc trong một mối tình trọn vẹn của lứa đôi. Những điều cần biết, cần nhớ 1. Hình tượng “Sóng” Ca dao có Thuyền nhớ bến, bến đợi thuyền. Một tình yêu đằm thắm, thiết tha. Xuân Diệu có bài thơ nổi tiếng, trong đó Sóng là hình ảnh người con trai đa tình “Anh xin làm sóng biếc – Hôn mãi cát vàng em – Hôn thật khẽ, thật êm – Hôn êm đềm mãi mãi – Đã hôn rồi, hôn lại – Cho đến mãi muôn đời - Đến tan cả đất trời – Anh mới thôi dào dạt…” Trong bài thơ tình của Xuân Quỳnh, Sóng là hình ảnh thiếu nữ đang sống trong một tình yêu nồng nàn. Sóng lúc thì “dữ dội và dịu êm”, có khi lại “ồn ào và lặng lẽ”. Hành trình của sóng là từ sông “Sóng tìm ra tận bể”. Sóng bể muôn trùng, tình yêu vô hạn. Sóng nhớ bờ còn em thì “nhớ đến anh - cả trong mơ còn thức”. Sóng “con nào chẳng tới bờ…” cũng như tình yêu sẽ cập bến hạnh phúc. Và sóng sẽ tan ra trên đại dương, vỗ mãi đến ngàn năm, muôn đời. Cũng như tình yêu đẹp sống mãi trong lòng người và cuộc đời, đó là “biển lớn tình yêu”. Xuân Quỳnh lấy hình tượng Sóng để thể hiện một tình yêu sôi nổi chân thành và dạt dào khát vọng. 2. Tâm tình thiếu nữ - Với thiếu nữ, tình yêu là khát vọng: “Nỗi khát vọng tình yêu Bồi hồi trong ngực trẻ” - Mối tình đầu chợt đến. Hạnh phúc đã cầm tay, thiếu nữ vẫn ít nhiều bối rối, tự hỏi lòng. Trong trắng và ngây thơ. Sự kỳ diệu của những mối tình đầu, xưa và nay vẫn là một điều bí ẩn đối với lứa đôi: “Sóng bắt đầu từ gió Gió bắt đầu từ đâu? Em cũng không biết nữa Khi nào ta yêu nhau”… - Yêu lắm nên nhớ nhiều. “Nhớ ai bổi hổi bồi hồi…” (Ca dao). “Nhớ gì như nhớ người yêu” (Tố Hữu). Với Xuân Quỳnh thì nỗi nhớ anh của em là triền miên, và cũng tha thiết, lớp lớp tầng tầng, mãnh liệt, nồng nàn không bao giờ nguôi: “Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được. Lòng em nhớ đến anh Cả trong mơ còn thức” “Thiếu nữ khát khao trong tình yêu, thủy chung trong tình yêu. Tâm tình trọn vẹn và hồn hậu dành tất cả cho người yêu: “Nơi nào em cũng nghĩ - Hướng về anh - một phương” - Cũng như sóng ngoài đại dương “Con nào chẳng tới bờ - Dù muôn vời cách trở”, thiếu nữ sẵn sàng vượt qua mọi thử thách để đi tới một tình yêu hạnh phúc trọn vẹn “Như biển kia dẫu rộng – Mây vẫn bay về xa”. - Tình yêu lứa đôi thật sự hạnh phúc khi tình yêu ấy hòa nhịp trong “biển lớn tình yêu” của cộng đồng: “Làm sao được tan ra Thành trăm con sóng nhỏ Giữa biển lớn tình yêu Để ngàn năm còn vỗ” 3. Kết luận Bài thơ “Sóng” là một bài thơ tình rất hay và mới. Hay ở nhạc điệu bồi hồi, thiết tha, say đắm. Hay ở hình ảnh kép: Sóng nhớ bờ, em nhớ anh, em yêu anh. Nói tình yêu là khát vọng của tuổi trẻ, đó là một điểm nới. Thiếu nữ bày tỏ tình yêu, thể hiện một ước mong chân thành đi tới một tình yêu đằm thắm, thủy chung, đó cũng là điểm mới. Tình yêu của lứa đôi không bé nhỏ và ích kỷ, tình yêu của lứa đôi như con sóng nhỏ được “tan ra” - giữa “biển lớn tình yêu” của đồng loại; đó cũng là một điểm mới nữa. Đọc và nhớ thêm đôi vần thơ nữa của Xuân Quỳnh BAO GIỜ NGÂU NỞ HOA … Vượt qua tháng qua năm Vượt qua đồi qua suối Bỗng gặp một mùi hương Như lời yêu thầm gọi Như ánh mắt bao dung Trong cơn khát cháy lòng Bỗng tìm ra nguồn nước… Mùi hương không hẹn trước Tình yêu đến bất ngờ Em đâu biết bao giờ Mùa hoa ngâu ấy nở… * THUYỀN VÀ BIỂN * Chỉ có thuyền mới hiểu Biển mênh mang nhường nào Chỉ có biển mới biết Thuyền đi đâu, về đâu… * HOA CÚC Có thay đổi gì không cái màu hoa ấy Mùa hạ qua rồi lại đến mùa thu Thời gian đi mầu hoa cũ về đâu Nay trở lại vẫn còn mới mẻ Bao mùa thu hoa vẫn vàng như thế Chỉ em là đã khác với em xưa Nắng nhạt vàng, ngày đã quá trưa Nào đâu những biển chờ nơi cuối đất Bao ngày tháng đi về trên mái tóc Chỉ em là đã khác với em thôi Nhưng màu hoa đâu dễ quên người Thành phố ngợp ngày nào nhiều gió dậy Gương mặt ấy lời yêu thuở ấy Mầu hoa vàng vẫn cháy ở trong em.
Xem thêm

3 Đọc thêm

PHÂN TÍCH cốt TRUYỆN tâm lí và NHÂN vật TRONG TRUYỆN NGẮN CHỢ TÌNH của NHÀ văn SƯƠNG NGUYỆT MINH

PHÂN TÍCH cốt TRUYỆN tâm lí và NHÂN vật TRONG TRUYỆN NGẮN CHỢ TÌNH của NHÀ văn SƯƠNG NGUYỆT MINH

Đây là bài phân tích về cốt truyện và nhân vật trong tác phẩm chợ tình của nhà văn Sương Nguyệt Minh để giúp ta tìm hiểu sâu sắc hơn về con người miền núi có tâm hồn, tính cách và giàu tình yêu thương lẫn nhau. Chợ tình là cái tên vừa mới lạ lại vừa gây hấp dẫn cho mọi người độc giả khi đọc tác phẩm, một nơi con người ta trao đổi, chia sẻ những tâm tư tình cảm với nhau, thậm chí với người yêu cũ của mình.

Đọc thêm

Giải mã giấc mơ sợ hãi khi bầu bí

GIẢI MÃ GIẤC MƠ SỢ HÃI KHI BẦU BÍ

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Trong thai kỳ, có khi nào bạn đã từng nằm mơ thấy mình sinh ra một chú mèo con bé xíu thay vì một em bé cực đáng yêu? Hay bạn đã vùng vẫy tưởng chừng như bị đuối trong một đại dương bao la rồi sau đó hoảng hốt thức dậy với mồ hôi ướt đẫm trên người? Hoặc tỉnh giấc với nỗi đau bị chồng phản bội trong mơ, dù “anh xã” vẫn đang ngủ ngon lành ngay bên cạnh? Theo các nhà khoa học, khi mang bầu, hầu hết các giấc mơ của bạn sẽ rất kỳ lạ, sống động và dễ nhớ hơn thời son rỗi, do tác động mạnh mẽ của sự thay đổi đột ngột các hormone trong cơ thể, đặc biệt là sự gia tăng của hormone progesterone. Những mẹ bầu thức dậy trong đêm càng nhiều càng có “cơ hội” nằm mơ nhiều hơn. Vậy những giấc mơ này có ý nghĩa và liên kết thế nào với cuộc sống thực của mẹ bầu? Mẹ bầu có nên lo lắng khi nằm mơ gặp toàn ác mộng? Chị em hãy cùng tìm câu trả lời trong phần giải mã các giấc mơ thường gặp ngay sau đây nhé.   Khi mang thai, giấc mơ của mẹ bầu sẽ kỳ lạ, sống động và ám ảnh hơn do sự gia tăng đột biến của các hormone trong cơ thể (hình minh họa) Mơ thấy sinh ra 1 con vật, người lớn thay vì bé yêu Càng gần ngày sinh, bạn càng có nguy cơ mơ thấy nhiều hơn cảnh mình chuyển dạ và lâm bồn. Nhưng thay vì sinh ra 1 em bé bụ bẫm, đáng yêu như ngày đêm mong đợi, bạn lại sinh ra 1 con chuột bé xíu, 1 chú mèo con kêu meo meo, thậm chí là 1 người lớn trưởng thành hay em bé tóc vàng mắt xanh lạ lẫm thay vì da vàng tóc đen giống như bạn và “anh xã”. Hãy bình tĩnh nếu từng mơ thấy những điều này, vì đây không phải là dấu hiệu cảnh báo thai nhi của bạn gặp bất cứ vấn đề nào, đơn giản đó chỉ là giấc mơ phản ánh cảm xúc đang ẩn dấu bên trong bạn và được tích tụ từ ngày này sang ngày khác. Nếu mơ thấy mình sinh ra 1 con vật cưng, người trưởng thành thay vì là một em bé sơ sinh, điều này có nghĩa là bạn đang rất lo lắng về khả năng chăm sóc bé cũng như luôn băn khoăn tự hỏi, liệu bạn có thể trở thành 1 người mẹ tốt khi chưa có chút xíu kinh nghiệm nuôi dạy trẻ nào. Vì vậy, thay vì sinh ra 1 em bé thách thức khả năng nuôi nấng của bạn, giấc mơ thể hiện mong ước “đơn giản hóa” việc chăm sóc bé yêu bằng cách thay thế bé với các con vật nuôi, hay 1 người lớn vì dù sao, chăm nuôi 1 con mèo con, chuột con hay 1 người trưởng thành sẽ đơn giản hơn nhiều. Thêm vào đó, giấc mơ này cũng là cách để cơ thể và trí não bạn tập quen dần với vai trò làm mẹ mà bạn sẽ phải đảm đương trong tương lai. Cũng tương tự khi mơ thấy mình sinh ra 1 em bé “tóc vàng mắt xanh”, bạn cảm thấy vẫn còn lạ lẫm lắm với vai trò làm mẹ, và em bé của bạn cũng khá là xa lạ với chính bản thân bạn, vì dù sao bạn cũng chỉ biết bé qua các hình ảnh siêu âm chứ chưa thật sự ôm ấp hay âu yếm bé ngoài đời thực. Thấy bé được đưa ra ngoài, sau đó lại thành thai nhi trong bụng bạn   Đừng quá lo âu nếu gặp ác mộng về những nguy cơ xảy ra cho bé yêu khi mơ, bởi đơn giản chúng chỉ phản ánh tâm trạng trong hiện thực của bạn mà thôi (hình minh họa) Quả là 1 giấc mơ kỳ lạ và đáng sợ các mẹ nhỉ? Nhưng thật ra, đây chỉ là tấm gương phản ánh nỗi lo sợ của chính mẹ bầu về sức khỏe của thai nhi hay mong muốn cháy bỏng được tận mắt nhìn thấy bé yêu đang phát triển bình thường. Sau khi đã xác định tất cả đều tốt đẹp, bé lại được đưa vào tử cung để tiếp tục lớn lên chờ ngày sinh “đúng tháng đúng kỳ”, thể hiện ước mong bé sẽ phát triển tốt nhất như các bé bình thường khác. Giấc mơ kiểu này đặc biệt hay gặp ở những mẹ bầu từng bị sẩy thai hoặc đang trải qua 1 thai kỳ có nhiều rủi ro. Nước bủa vây mẹ bầu trong mơ Mẹ bầu thường mơ thấy nước trong suốt 9 tháng dài bầu bí, với nhiều hình thức khác nhau. Tùy thuộc vào thời điểm của thai kỳ, hay thái độ của mẹ bầu với thai nhi và với việc mang thai mà giấc mơ về nước sẽ thể hiện nhiều cảm xúc thầm kín khác nhau của chính bản thân thai phụ. Nếu mơ thấy mình đang bơi lội, có nghĩa là bạn đang cố gắng kết nối với bé yêu vì bé cũng đang tắm mình trong làn nước ối ấm áp ở tử cung của bạn. Mơ thấy mình đang vui đùa trong mưa, trong làn nước biển mặn mòi, hay đắm mình trong bồn tắm, hoặc chơi đùa với vòi phun nước trong vườn, ở công viên v.v…, có thể là biểu hiện tâm trạng hân hoan của mẹ bầu khi sắp sửa đón chào 1 cuộc sống, 1 khởi đầu mới đầy thú vị cùng bé yêu. Tuy nhiên, nếu mơ thấy mình bị rơi và chới với, chìm dần giữa đại dương bao la, hay đối diện với 1 nguy cơ thiên tai nào đó như sóng thần, vỡ đập v.v…, thì đây chính là dấu hiệu bạn đang bị stress và quá tải trong cuộc sống thực. Nếu những giấc mơ này xuất hiện thường xuyên vào những tháng cuối thai kỳ, nghĩa là bạn đang lo lắng mình có thể sinh đột ngột ở nơi công cộng hoặc khi đang trên đường đến bệnh viện, hay đơn giản hơn là phản ánh sự ám ảnh của bạn về cuộc vượt cạn sắp đến.   Nước là một trong những chủ đề gây ám ảnh thường xuyên trong giấc mơ của mẹ bầu (hình minh họa) Làm mất, hoặc để quên bé ở một nơi nào đó Có khi nào bạn thức giấc trong sợ hãi vì đã nằm mơ thấy mình sinh bé, nhưng không may bé qua đời ngay sau đó? Hoặc bạn đi siêu thị, đến bệnh viện, v.v…, và ra về rồi mới hốt hoảng nhận ra mình đã lạc mất bé yêu, mà dù có tìm kiếm thế nào vẫn không thấy bé? Những cơn ác mộng này thật sự tồi tệ với những mẹ bầu đang khao khát làm mẹ. Tuy vậy, bạn nên yên tâm vì đây thực chất chỉ là 1 biểu hiện hiển nhiên của sự sợ hãi bên trong bạn xuất phát từ lo lắng thái quá và tâm lý chưa sẵn sàng trở thành 1 người mẹ tốt trong tương lai. Mơ thấy chồng ngoại tình Thật buồn khi phải nức nở chứng kiến cảnh người cha tương lai của bé lại gắn bó với người phụ nữ khác thay vì mình, dù chỉ là trong mơ. Tuy vậy, đừng để giấc mơ này ám ảnh và làm tổn hại đến cuộc sống vợ chồng bạn bằng những ghen tuông vô cớ sau đó. Những giấc mơ loại này ở mẹ bầu chỉ thể hiện việc chị em đang thiếu tự tin về ngoại hình của mình, hoặc lo sợ cơ thể “sồ sề” khi mang bầu sẽ không còn hấp dẫn với chồng nữa. Đây cũng có thể là dấu hiệu bạn đang cảm thấy dễ bị tổn thương và bất an. Vì vậy, hãy gạt bỏ giấc mơ không thực tế này và chăm sóc bản thân cùng “anh xã” tốt hơn, bởi có rất nhiều cách hiệu quả giúp mẹ bầu đẹp lên mà bạn có thể tham khảo và trải nghiệm.   Đừng để giấc mơ thấy “anh xã” lăng nhăng ám ảnh bạn nhé, vì hầu hết chúng chỉ phản ánh tâm lý tự ti về ngoại hình rất phổ biến ở mẹ bầu (hình minh họa) Sự xuất hiện của người yêu cũ Đừng cảm thấy ăn năn hay có lỗi khi bạn mơ thấy mình đang “tay trong tay” với người yêu cũ thay vì “anh xã” đầu ấp tay gối. Mơ thân mật với bạn trai cũ không có nghĩa là bạn bí mật muốn chuyện này xảy ra, điều này đơn giản có nghĩa là bạn đang cảm thấy mâu thuẫn về vai trò mới và trách nhiệm làm mẹ nặng nề sắp tới. Cũng có thể bạn thấy mình mắc kẹt giữa nhiều luồng cảm giác khác nhau:  phấn khích, lo âu, căng thẳng v.v… và việc lãng mạn hóa quá khứ qua hình ảnh người yêu cũ giúp bạn vô tư và thư giãn hơn. Mất kiểm soát khi tham gia giao thông Nếu từng mơ thấy mình bị mắc kẹt ở ghế sau và không cách nào thoát ra được trên 1 chiếc xe mất phanh đang lao nhanh vùn vụt, hay lái xe mà không thể kiểm soát được tốc độ của mình và có nguy cơ tông phải các chướng ngại vật phía trước v.v… đó là lúc cơ thể đưa ra cảnh báo rằng mẹ bầu bị mất kiểm soát về cảm xúc trong đời thực. Trầm cảm khi mang thai, những rắc rối nảy sinh không thể giải quyết thấu đáo trong cuộc sống v.v… có thể là nguyên nhân mang đến cơn ác mộng loại này cho mẹ bầu. Mơ về thời thơ ấu, gặp lại những người bạn thiếu thời Những giấc mơ đẹp về thời thơ ấu, hay trải qua những giây phút quá khứ đáng nhớ bên nhiều người bạn niên thiếu là 1 trong những giấc mơ hay gặp, vì nó phản ánh tâm trạng tiếc nuối quá khứ ở mẹ bầu, bởi mang thai là giai đoạn mà người phụ nữ phải giã biệt bản thân cũ tự do thời son rỗi để nhận lấy vai trò, trách nhiệm mới đầy thử thách trong tương lai.   Hãy yên tâm ngủ ngon suốt thai kỳ, vì dù có gặp ác mộng thường xuyên thì những giấc mơ loại này vẫn không hề ảnh hưởng gì đến sức khỏe của mẹ bầu và bé (hình minh họa) Tóm lại, dù có gặp phải ác mộng hàng đêm trong suốt thai kỳ thì mẹ bầu cũng đừng lo lắng quá, chúng đơn giản chỉ phản ánh cảm xúc trong đời thực của bạn chứ không phải là điềm dữ báo trước như nhiều lời đồn đại. Và mẹ bầu sẽ càng an tâm hơn khi biết rằng, theo các nghiên cứu khoa học, những thai phụ thường gặp những giấc mơ xấu sẽ có quá trình co thắt dạ con trước khi sinh ngắn hơn những phụ nữ khác. Bé sinh ra bởi những người mẹ này cũng có khả năng điều khiển, kiềm chế cảm xúc của mình tốt hơn bạn bè cùng trang lứa.
Xem thêm

5 Đọc thêm

PHÂN TÍCH KIM TRỌNG TRỞ LẠI VƯỜN THUÝ

PHÂN TÍCH KIM TRỌNG TRỞ LẠI VƯỜN THUÝ

Xuất xứ Sau nửa năm về Liêu Dương hộ tang chú, Kim Trọng vội trở lại vương Thuý "dò la"... Đoạn thơ dài 14 câu, từ câu 2741 đến câu 2754. Đại ý Đoạn thơ tả nỗi buồn ngao ngán của Kim Trọng trước cảnh tiêu điều, hoang vắng của vườn Thúy. Phân tích 1. Bốn câu đầu giới thiệu Kim Trọng về Liêu Dương "phù tang" chú đã sáu tháng rồi, nay mới trở lại nhà ở Bắc Kinh. Xa cách người yêu đã trong một thời gian dài "nửa năm", trên một không gian "muôn dặm" cách trở, với bao thương nhớ: "Ngoài nghìn dặm, chốc ba đông, Mối sầu ghi gỡ cho xong còn chầy" Hai chữ "vội sang" trong câu thơ "Vội sang vương Thuý dò la" diễn tả niềm thương nhớ bồn chồn, sự khát khao được gặp mặt người yêu đã nửa năm xa cách. Câu thơ "Nhìn xem phong cảnh nay đà khác xưa" không chỉ gợi tả khái quát sự đổi thay của vườn Thuý, của gia đình người đẹp mà còn thể hiện một cái nhìn ngơ ngác, băn khoăn của chàng Kim. 2. Mười câu thơ còn lại tả cảnh tiêu điều hoang vắng của vườn Thuý và nỗi niềm tâm sự của Kim Trọng. Vườn xưa có "Lơ thơ tơ liễu buông mành", có "đầy thềm hoa rụng"... có "song hồ nửa khép cánh mây", có "tường gấm"... Nay đã thay đổi hoàn toàn, "nay đã khác xưa". Vườn xưa, nay đã "cỏ mọc lau thưa". Sân xưa, nay đã "Cỏ lan mặt đất rêu phong dấu giày". Với Kim Trọng, "dấu giày" của người đẹp, của người yêu như đã được "rêu phong" lại, giữ lại cho chàng, để lòng chàng ngẩn ngơ thương nhớ! Nhà cửa hoang vắng đổ nát tiêu điều: "Song trăng quạnh quẽ vách mưa rã rời". Xưa kia vườn Thuý có "con oanh học nói..." thì nay chỉ trông thấy cảnh "Xập xoè én liệng rường không", lòng chàng Kim lại càng ngổn ngang đau đớn. Câu thơ "Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông" tuy khơi gợi từ một tứ thơ Đường của Thôi Hộ nhưng đầy sáng tạo làm hiện lên một khung cảnh buồn thương vắng bóng giai nhân, cỏ hoa như thấm đau nỗi buồn thương nhớ li biệt của chàng Kim. Biết bao bơ vơ, sầu tủi tràn ngập lòng người... Cây đào ấy như một chứng minh về kỷ niệm không bao giờ quên đối với chàng Kim đa tình: "Dưới đào dường có bóng người thướt tha... Trên đào nhác thấy một cành kim thoa". Đây là hai câu thơ hay nhất trong đoạn : "Cuối tường gai góc mọc đầy Đi về này những lối này năm xưa". Sáu tháng trước, Kim Trọng đa tình đã từng "Tường đông, ghé mắt ngày ngày hằng trông", đã biết bao phen "lần theo tường gấm dạo quanh".... Và có bao giờ quên được cái giây phút thần tiên "Thang mây rón bước ngọn tường" để tỏ tình với người đẹp từng "thầm trông trộm nhớ...". Cũng như bức "tường gấm" ấy, "lối này"… cũng đầy ắp kỷ niệm với "kẻ thiên tài": "Xắn tay mở khoá động đào Rẽ mây trông tỏ lối vào Thiên Thai". Làm sao quên được cái đêm tự tình ấy, nàng Kiều đã "xăm xăm băng lối vườn khuya một mình". Câu thơ "Đi về này những lối này năm xưa" như làm hiện lên trong tâm hồn Kim Trọng bao kỷ niệm đẹp về nàng Kiều mà thời gian không thể xoá nhoà. Chàng Kim như chết nặng đi trong cô đơn, trong thương nhớ, biết ngỏ tâm sự cùng ai. Một câu hỏi đầy bồi hồi, ám ảnh, ngổn ngang thương nhớ: "Chung quanh lặng ngắt như tờ Nỗi niềm tâm sự bây giờ hỏi ai?" 3. Đoạn thơ "Kim Trọng trở lại vườn Thuý" cũng là một trong những đoạn thơ tả cảnh ngụ tình tuyệt bút của thi hào Nguyễn Du. Nét đặc sắc ở đoạn thơ ở chỗ: Kim Trọng nhìn cảnh vương Thuý tiêu điều hoang vắng mà mang tâm sự ngổn ngang trong lòng. Người yêu, người đẹp bây giờ đi đâu về đâu?...Cảnh vật nào bao giờ cũng mang theo bao kỷ niệm của người yêu từng nặng tình thề nguyền... Cảnh cũ vườn xưa từ "song trăng" đến "hoa đào", từ cánh én đến cỏ lau, từ "tường gấm" đến "lối này" như mang nặng tình người, đang đối diện và tâm sự cùng chàng Kim. Thuý kiều chắc đang ở Lâm Truy, nàng có nghe thấu "Xa xôi ai có thấu tình chăng ai?"...
Xem thêm

1 Đọc thêm

HÌNH TƯỢNG SÓNG TRONG BÀI THƠ CÙNG TÊN CỦA XUÂN QUỲNH.

HÌNH TƯỢNG SÓNG TRONG BÀI THƠ CÙNG TÊN CỦA XUÂN QUỲNH.

Xuân Quỳnh viết bài thơ Sóng khi chị mới 25 tuổi - cái tuổi đầy căng sức sống dạt dào tình yêu. Vì vậy, đối diện với “sóng”, chị nhìn thấy rất rõ tình yêu đang trào dâng trong trái tim phụ nữ của mình - một trái tim khao khát yêu đương, mong muốn được yêu và được sống trong tình yêu vĩnh viễn. Xuân Quỳnh viết bài thơ Sóng khi chị mới 25 tuổi - cái tuổi đầy căng sức sống dạt dào tình yêu. Vì vậy, đối diện với “sóng”, chị nhìn thấy rất rõ tình yêu đang trào dâng trong trái tim phụ nữ của mình - một trái tim khao khát yêu đương, mong muốn được yêu và được sống trong tình yêu vĩnh viễn. Và rất hiển nhiên, chị đã bắt gặp “sóng” như gặp chính mình, đã tìm ra trong hình ảnh sóng những âm vang của nhịp đập trái tim mình. Đứng trước biển, trái tim  Xuân Quỳnh tuôn chảy thành những sóng - thơ - tình yêu, và những đợt sóng ấy cứ dập dềnh suốt bài thơ, khi thì “dịu êm lặng lẽ”, lúc lại “ồn ào dữ dội” trong “khát vọng bồi hồi” và trong nỗi “nhớ bờ không ngủ được”. Cái âm điệu êm êm ấy ru ta, đưa ta về với vương quốc của tình yêu, gây ấn tượng mạnh mẽ bởi một ẩn dụ toàn bài: Sóng! Sóng không được miêu tả bằng màu sắc, đường nét mà được vẽ lên bằng âm điệu, nhạc điệu của tình yêu. Cái tài của Xuân Quỳnh là chỉ bằng nhạc điệu đã vẽ lên đúng hình ảnh của sóng biển, và đúng hơn, là sóng tình trong lòng người phụ nữ trẻ đang khao khát yêu đương. Nhạc điệu của bài thơ, tự nó, đã có giá trị truyền cảm mạnh mẽ. Nhưng đối diện với “sóng” là để nhận ra chính mình. Vì vậy, bên cạnh hình tượng "sóng” còn có “em” - hình ảnh của người phụ nữ đang yêu: Xuân Quỳnh Đây là hai hình ảnh sóng đôi xoắn xuýt lấy nhau, soi chiếu vào nhau, hình tượng “sóng” chính là nỗi lòng của “em” và “em” là hiện thân của “sóng”. “Sóng” và cái Tôi (em) đồng hiện, tuy hai mà một, tuy một mà hai” trong toàn bài thơ cùng như trong từng cặp khổ thơ khiến cho chủ đề được bộc lộ được bộc lộ rõ ràng và thấm thía:  Ôi con sóng nhớ bờ            Ngày đêm không ngủ được      Lòng em nhớ đến anh      Cả trong mơ còn thức.      Nơi nào em củng nghĩ               Hướng về anh - một phương     Con nào chẳng tới bờ      Dù muôn vời cách trở. Thơ tình đạt đến những điều nói trên cũng đáng trân trọng lắm rồi. Nhưng nếu chỉ có thế thì cũng chưa phải là tất cả hồn thơ Xuân Quỳnh. Ở ngòi bút thơ nữ này, có nhiều khám phá mới lạ và nhiều phát hiện tinh tế trong tình yêu của giới mình. Trước hết, đó là một tình yêu thật lạ, phụ nữ trong đời thường của họ, từ cực này sang cực khác:   Dữ dội và dịu êm  Ồn ào và lặng lẽ Nhưng đó không phải là một tình yêu trong khuôn khổ nhỏ hẹp, chật chội, bởi khi “sóng không hiểu nổi mình” thì dứt khoát “sóng tìm ra tận bể” để đến với một tình yêu rộng lớn, cao đẹp hơn. Những ai từng quan niệm một thứ tình yêu tầm thường nhỏ bé chắc cũng phải giật mình trước ý thơ này. Đây là một sự phát hiện, một khám phá mới mẻ về tình yêu của giới mình đồng thời cũng là một đóng góp của Xuân Quỳnh trong lĩnh vực thơ tình: chị đã ý thức được một cách rõ ràng vẻ đẹp cao quý của tình yêu người phụ nữ - và hẳn là có chị trong đó! Người ta thường khen thơ tình Xuân Quỳnh tinh tế. Điều đó là đúng, và ta dễ dàng tìm thấy trong Sóng những khổ thơ như thế: Sóng bắt đầu từ gió Gió bắt đầu từ đâu?       Em cũng không biết nữa  Khi nào ta yêu nhau. Cái điều mà Xuân Diệu trước kia đã nói như tổng kết một chân lí “làm sao cắt nghĩa được tình yêu?” thì nay Xuân Quỳnh lại phát hiện ra, nhưng bằng trực cảm, bằng tất cả lòng mình, như một lời “thú nhận” thành thật, hồn nhiên mà ý nhị, sâu sắc. Nhưng người đọc thích nhất thơ tình Xuân Quỳnh là ở sự chân thành, nồng ấm nhiều khi đến cháy bỏng trong tình yêu của chị. Người phụ nữ “nhớ đến anh” - cả trong mơ còn thức” ấy, trước sau vẫn là người phụ nữ với một ước vọng khiêm tốn của đời thường:      Thành trăm con sóng nhỏ  Giữa biển lớn tình yêu Để ngàn năm còn vỗ Ước vọng khiêm nhường là vậy mà sao không ngăn nổi những bi kịch của tình yêu? Trích: loigiaihay.com Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

2 Đọc thêm

KẾ HOẠCH KIẾM NGƯỜI YÊU CỰC HAY CHO NOEL

KẾ HOẠCH KIẾM NGƯỜI YÊU CỰC HAY CHO NOEL

6. Lời tỏ tình chân thànhĐể hoàn tất kế hoạch kiếm người yêu thì không thể thiếu được một lời tỏ tình chân thànhrồi. Mỗi người có một cách tỏ tình riêng, không cần phải quá phô trương, nhưng phải thậtsự chân thành. Đôi khi quá phô trương sẽ khiến người ấy cảm thấy quá ngại ngùng và từchối bạn đấy. Một không gian lãng mạn và kín đáo sẽ là địa điểm lý tưởng để bạn tỏ tình.Nếu thành công thì xin chúc mừng, vì bạn đã thành công trong việc kiếm người yêu đichơi noel rồi đó. Hãy bắt đầu kế hoạch ngay từ bây giờ nhé.
Xem thêm

3 Đọc thêm

NGƯỜI ĂN TỎI THU HÚT ĐƯỢC NHIỀU NGƯỜI YÊU HƠN

NGƯỜI ĂN TỎI THU HÚT ĐƯỢC NHIỀU NGƯỜI YÊU HƠN

Người ăn tỏi thu hút được nhiều người yêu hơnTham khảoDo Garlic Eaters Attract More Lovers?Published on September 18, 2012 by Jena Pincott in Love, Sex, and BabiesTừ quan điểm tiến hoá, chúng ta phải quan tâm đến tình trạng dinh d ưỡngcủa 1 bạn tình. 1 chế độ ăn tốt là 1 chỉ báo về tình trạng tổng thể của 1 người- liên quan đến khả năng sinh sản và sức chịu đựng. Trong thế gi ới động vật,có nhiều bằng chứng cho thấy ăn uống lành mạnh dẫn đến có nhiều quan hệtình dục hơn. Ở những con chuột đồng, cả con đực và cái đều thích nh ữngcon có chế độ ăn giàu protein hơn. Những con vật không ăn gì trong 1 ngàytạo ra ít mùi cơ thể quyến rũ hơn những con đã ăn no.Vậy, điều gì sẽ xảy ra nếu bạn đã ăn rất nhiều thức ăn lành mạnh có mùimạnh, ví dụ như tỏi?1 nhóm các nhà sinh học người Séc đã tiến hành 1 thực nghiệm thú vị. Cácnhà nghiên cứu đã yêu cầu 1 nhóm người tham gia ăn bánh mì v ới kem phomai tỏi (tương đương 2-4 tép tỏi) mỗi ngày trong 1 tuần. Cuối th ực nghiệm,những người đánh giá là nữ được ngửi những tấm đệm lót áo mà mỗi ngườiđàn ông đã mặc ở nách. Thời gian ngửi không bị gi ới hạn. Tấm lót nách nàođược đánh giá là có mùi quyến rũ hơn?Câu trả lời: tấm lót áo của những người ăn tỏi.Mùi của những người tham gia trong điều kiện thực nghiệm (tỏi) được đánhgiá là quyến rũ hơn đáng kể, thoải mái hơn và ít nồng nặc h ơn so v ới điềukiện không-tỏi. Những kết quả sơ bộ bất ngờ đó cho thấy ăn tỏi ảnh hưởngtích cực đến mùi cơ thể.Nhiều lời giải thích được đưa ra. Tỏi ảnh hưởng đến mùi cơ thể với các chấtchống oxi hoá, giúp bảo vệ chống lại các chất chuyển hóa xấu có mùi, đemđến 1 mùi cơ thể lành mạnh hơn. Đặc tính diệt khuẩn của tỏi làm giảm s ựnồng nặc của mùi hôi nách. Dù bằng cách nào thì bạn đang quảng cáo về 1sự trao đổi chất khoẻ mạnh và mùi cơ thể tốt hơn.Chúng ta bị thu hút trước mùi cơ thể của người ăn uống lành mạnh. Nếu bạnmuốn thu hút người yêu, hãy ăn tỏi.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Bình giảng đoạn thơ sau trong bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên: Con gặp lại nhân dân …gặp cánh tay đưa

BÌNH GIẢNG ĐOẠN THƠ SAU TRONG BÀI THƠ TIẾNG HÁT CON TÀU CỦA CHẾ LAN VIÊN: CON GẶP LẠI NHÂN DÂN …GẶP CÁNH TAY ĐƯA

Đây là một trong những đoạn thơ khá hay trong bài thơ. Với lối xây dựng hình ảnh mới lạ, với lối so sánh giản dị nhưng sâu sắc. Chế Lan Viên đã hướng người đọc đến một quy luật có tính phổ quát trở về với nhân dân là con đường tất yếu. Nó phù hợp với quy luật của tự nhiên cũng như phù hợp với đạo lí. tình cảm con người. Trên hành trình của một hồn thơ đi từ “thung lũng đau thương” ra “cánh đồng vui”, từ “chân trời của một người” đến với “chân trời của tất cả”, hơn ai hết, Chế Lan Viên hiểu được vai trò lớn lao của Đảng và Nhân dân, những người mà nhà thơ cho rằng đã “thay đổi đời tôi, thay đổi thơ tôi”. Niềm hạnh phúc rưng rưng của một nhà thơ đã nhận ra giá trị đích thực của cuộc đời mình khi trở về với Nhân dân đã được nhà thơ diễn đạt một cách chân thành và xúc động qua những câu thơ:          “Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ    Có đón giêng hai, chim én gặp mùa Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa          Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa”    ( Tiếng hát con tàu - Chế Lan Viên) Tiếng hát con tàu là bài thơ được sáng tác từ một sự kiện kinh tế - xã hội: cuộc vận độug nhân dân đi xây dựng vùng kinh tế mới vào năm 1960. Tuy nhiên, bài thơ không chỉ dừng lại với ý nghĩa tuyên truyền cho một đường lối, chính sách của Đảng. Với tư cách là một nhà thơ, từ thực tế đời sống với những vêu cầu, đòi hỏi mới đối với người nghệ sĩ, nhà thơ đã thể hiện được khát vọng trờ về với đất nước và nhân dân - cội nguồn của mọi cảm hứng sáng tạo. Đó là niềm hạnh phúc lớn lao của nhà thơ khi được trở về với nhân dân:     “Con gặp lai nhân dân như nai về suối cũ Cò đón giêng hai, chim én gặp mùa” Trong hoài niệm của nhà thơ về Tây Bắc, nhân dân không phải là một khái niệm trừu tượng mà được hiện diện qua những cuộc đời, những số phận cụ thể. Đó là người anh du kích với “chiếc áo nâu suốt một đời vá rách. Đêm cuối cùng anh gứi lại cho con”, là thằng em liên lạc: “Mười năm tròn không mất một phong thư”, là bà mế “lửa hồng soi tóc bạc. Năm con đau mế thức một mùa dài”... Họ là những người có cuộc đời nghèo khó nhưng đã hi sinh trọn đời cho Cách mạng, được nhà thơ nhắc đến bằng tất cả lòng biết ơn chân thành nhất. Từ nhừng con người, những cuộc đời cụ thể ấy, mạch cảm xúc thơ lại hướng đến suv tưởng, khái quát:          “ Con gặp lại nhăn dân như nai về suối cũ    Cò đón giêng hai, chim én gặp mùa Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa          Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa” Đoạn thơ gây ấn tượng cho người đọc trước hết bởi lối xưng hô nhằm tạo ra quan hệ ruột thịt: “Con gặp lại nhân nhân”. Cách xưng hô giản dị mà chân thành, ấm áp đã cụ thế hóa một lần nữa mối quan hệ giữa nhà thơ và nhân dân. Đây là một nhận thức mới mẻ thể hiện hành trình của một quá trình nhận thức; từ cái tôi chật hẹp của chính mình, người nghệ sĩ đã hòa nhập với cuộc sống rộng lớn của nhân dân. Đây cũng là nhận thức của Xuân Diệu khi ý thức về chỗ đứng, về mối quan hệ giữa người nghệ sĩ với nhân dân:     Tôi cùng xương thịt với nhân dân tôi    Cùng đổ mồ hôi, cùng sôi giọt máu   Tôi sống với muôn người chiến đấu Của triệu người yêu dấu gian lao” (Những đêm hành quân) Vì vậy, lối xưng hô ân tình ấy sở dĩ gây được xúc động trong lòng người đọc cũng chính là bởi nhà thơ đã nói được tấm lòng của cả một thế hệ mà có lần Chế Lan Viên đã trách cứ với chính mình vì “lỡ nhịp” với cuộc sống của nhân dân: Có thể nào quên cả một thời thơ ấy       Tố quốc trong lòng mà có cũng như không   Nhân dân ở quanh ta mà ta chẳng thấy Thơ xuôi tay như nước chảy xuôi dòng          (Người thay đổi đời tôi, Người thay đổi thơ tôi) Trong niềm xúc động chân thành ấy, nhà thơ đã diễn đạt ý nghĩa của cuộc trở về với nhân dân bằng lối so sánh đầy bất ngờ, sáng tạo. Đây là một lối so sánh, liên tưởng trùng điệp. Chi có bốn câu thơ mà xuất hiện đến năm lần biện pháp so sánh. Cảm giác như niềm hạnh phúc được trở về với nhân dân bỗng nở xòe như những cánh hoa rực rỡ và ấm áp sắc màu. Lối so sánh phức này là một đặc trưng thể hiện phong cách nghệ thuật thơ Chế Lan Viên Trong bốn câu thơ đề từ. nhà thơ đã so sánh Lòng ta, Tâm hồn ta với hai hình ảnh: con tàu và Tây Bắc. Đến phần sau của bài thơ, khi nói về nỗi nhớ, về tình yêu, những câu Ihơ ấy lại một lần nữa khoe sắc qua lối liên tưởng:       Anh bỗng nhớ em như đông về nhở rét  Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng    Như xuân đến chim rừng lông trở biếc Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương Việc xây dựug hình tượng thơ qua lối so sánh phức có ý nghĩa rất lớn về thể hiện niềm xúc động rưng rưng của nhà thơ. đồng thời tạo được sự liên tưởng nhiều chiều với uhững quan hệ ngang dọc trong tri tưởng tượng của người đọc. Những biện pháp so sánh ở đây lại được xây dựng từ những hình ảnh rất bình dị, quen thuộc, đặc biệt với người dân miền núi: nai, suối, cũ, cỏ. chim én. mùa xuân,..Điều này cũng ghi nhận nỗ lực cúa nhà thơ trên con đường từ bỏ những hình ảnh xa lạ, ma quái ở những tập thơ trước Cách mạng để trở về với thế giới bình dị, mang trong đó hơi thở cuộc sống của nhân dân. Nếu trước dây, người đọc luôn bắt gặp những hình ảnh cầu kì, thậm chí điên loạn: bóng ma Hời, những sông vắng lê mình trong bóng tối... thì đến bài thơ, đoạn thơ này là những hình ảnh đầy ắp vẻ đẹp của hiện thực đời sống. Cái hay trong đoạn thơ còn là cách sắp xếp những hình ảnh so sánh cùa nhà thơ. Đó là lối so sánh tăng dần theo cấp độ. Ba vế so sánh đầu hướng về tự nhiên, về ngoại vật. Nhưng đến hai vế so sánh còn lại lại hướng về con người và nhu cầu tồn tại của con người: trẻ thơ đói lòng - gặp sữa; nôi ngừng - cánh tay đưa. Chính cách sắp xếp ấy có ý nghĩa rất lớn trong việc thể hiện niềm biết ơn chân thành và sâu sắc của nhà thơ khi được về với Nhân dân. Không những thế. lối so sánh trong khổ thơ còn mang đậm tính triết lí: Mỗi sự vật chi có thế có ý nghĩa khi đặt trong mối quan hệ máu thịt với các sự vật khác. Nai và suối cũ — đó là hai vếu tố không thế tách rời, trong đó, suối cũ đã trờ thành môi trường sống cùa loài nai. Tháng Giêng, tháng Hai là thời điểm bắt đầu của một năm. Thời điểm ấy thích hợp nhất cho sự phát triển cúa cỏ cây, hoa lá. Mùa xuân và những cánh chim én; trẻ thơ và nhu cầu gặp sữa... đều là những hình ảnh luôn được đặt trong những mối quan hệ chi phối lẫn nhau. Mượn những hình ảnh trong đời sống tự nhiên và xã hội, mượn những quy luật ấy để nhà thơ nói đến một mối quan hệ lớn hơn: nghệ thuật chỉ có ý nghĩa khi phản ánh đời sống. Hiện thực đời sống là điểm xuất phát đồng thời cũng là cái đích cuối cùng mà mỗi tác phẩm văn học phải hướng tới. Nếu đánh rơi mất đời sống, thơ ca sẽ chết khô trên trang giấy. Nhưng để phán ánh được hiện thực đời sống, người nghệ sĩ phải gắn bó cuộc đời mình với nhân dân, phải cùng nhịp đập với hàng triệu trái tim của nhân dân, có lẽ, không nhà thơ nào lại diễn đạt chân lí của quá trình sáng tạo ấy hay yà sâu sắc như Chế Lan Viên. Đây là một trong những đoạn thơ khá hay trong bài thơ. Với lối xây dựng hình ảnh mới lạ, với lối so sánh giản dị nhưng sâu sắc. Chế Lan Viên đã hướng người đọc đến một quy luật có tính phổ quát trở về với nhân dân là con đường tất yếu. Nó phù hợp với quy luật của tự nhiên cũng như phù hợp với đạo lí, tình cảm con người. Bới vì chỉ có con đường ấy mới mở ra được những chân trời lớn cho người nghệ sĩ. Đi trên con đường ấy, Chế Lan Viên đã thực sự thành công, trở thành tiếng thơ hào hùng, tiếng kèn xung trận trong những năm chống Mĩ sau này. Trích: loigiaihay.com Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

3 Đọc thêm

THƠ TÌNH HAY, THÔI HẾT VẤN VƯƠNG

THƠ TÌNH HAY, THÔI HẾT VẤN VƯƠNG

Thơ tình hay, thôi hết vấn vương Mai sẽ về xé nát mấy trang thơ Vặt vãnh đôi câu ngày xưa em thích Lời không văn hoa như vần cổ tích Nhưng ít nhiều gói ghém tấm tình ta. Mai sẽ về xoá nốt khúc tình ca Thuở mặn nồng ta cùng hoà cung điệu Tiếng đàn tôi, giọng hát em, huyền diệu Âm ba thành nhịp nối của đôi tim Mai sẽ về lật úp bức hình em Cho nhớ nhung nhạt nhoà trên bụi phấn Mong một ngày cõi lòng thôi vương vấn Vết đau này rồi chắc cũng dần nguôi.

2 Đọc thêm

Soạn bài: Thơ Tình của Nguyễn Trãi

SOẠN BÀI: THƠ TÌNH CỦA NGUYỄN TRÃI

THƠ TÌNH CỦA NGUYỄN TRÃI: BƯỚC ĐỘT PHÁ CỦA THƠ CA TRUNG ĐẠI VIỆT NAM (Biện Quốc Trọng_GV Trường THCS Phong Thạnh Tây)             Tình yêu lứa đôi trong thơ của Nguyễn Trãi là một đề tài đầy thi vị, có sức hấp dẫn kì lạ. Không nghi ngờ gì nữa, bằng sự thận trọng khoa học, các nhà nghiên cứu đều nhận người anh hùng dân tộc của chúng ta chẳng những vĩ đại trong vai trò là một nhân vật lịch sử mà còn vĩ đại trong vai trò là một con người biết sống. Chính những bài thơ tình may mắn còn sót lại đã đưa Nguyễn Trãi đến gần hơn với tuổi trẻ. Chính những bài thơ ấy đã khẳng định “hồn thơ đa dạng của Nguyễn Trãi” (Tế Hanh). Trên nền tảng những gì đã được khẳng định, chúng tôi cố gắng mở những bước đột phá trong thơ tình của Nguyễn Trãi trên hành trình phát triển của thơ ca trung đại Việt Nam.   Nguyễn Trãi (1380 – 1442) sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh lịch sử đất nước ghi nhận những biến động to lớn: nhà Trần suy yếu, nhà Hồ không được lòng dân, giặc Minh đô hộ nước ta, khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi, đất nước được phục hưng. Là con người ưu thời mẫn thế, Nguyễn Trãi trở thành nhân vật lịch sử của thời đại, là công thần khai quốc bậc nhất của nhà Lê. Tuy nhiên, những khía cạnh riêng tư trong đời sống tâm hồn của người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi, còn ít người biết. May mắn thay, trong mấy trăm bài thơ quốc âm được sưu tầm lại của người anh hùng ấy đã tìm được đôi ba bài thơ tình. Nguyễn Trãi không phải là người làm thơ tình đầu tiên ở nước ta, càng không phải là người duy nhất làm thơ tình hay ở nước ta nhưng trong xét hoàn cảnh và thời đại của Nguyễn Trãi thì thơ tình của ông thực sự đã có những bước đột phá. Tình cảm lứa đôi có mặt trong thơ của Nguyễn Trãi không phải là đột hiện mà nó bén duyên từ những tiền đề văn học, đời sống. Tư tưởng xã hội còn tương đối cởi mở thời Lý – Trần là chất xúc tác để không chỉ một truyện thơ tình như Hương miệt hành ghi được dấu ấn. Tiền đề này âm ỉ sống đến thời Lê sơ. Khi Nho học đã trở thành tư tưởng cai trị xã hội, đề tài tình yêu vẫn tồn tại đâu đó trong Hồng Đức quốc âm thi tập: Cung tần, Đáp “Chồng bỏ”,Động phòng hoa chúc, Hoài viễn, Ngọc Nữ sơn,… Ngay trong Quốc âm thi tập, hình ảnh mang nhiều vẻ riêng tư cũng có mặt như một biểu hiện tự nhiên của tình cảm: Vẻ đẹp của hoa trường yên được nhà thơ ví von: “Ấy chẳng Tây Thi thì Thái Chân” (Trích Vãn xuân). Nhìn những cánh mai in trong đáy nước, nhà thơ thấy như Thái Chân đang soi bóng: “Đáy nước, ngỡ là mặt Thái Chân” (Trích Mai). Ở những bài thơ được xếp vào mục Ngôn chí, hình ảnh người phụ nữ cũng vẫn thấp thoáng: “Tà dương bóng ngả thuở hồng lâu” ( Trích Ngôn chí, 13). Đời sống riêng tư mang nhiều giai thoại của Nguyễn Trãi cũng là một chất men ủ của thơ tình. Trong không gian văn học, đời sống riêng đằm thắm ấy, thơ tình của Nguyễn Trãi ra đời như một lời hoà ca, góp thêm thanh sắc mới lạ vào bản giao hưởng xuân tình. Truyền thống văn học trung đại luôn ghi nhận người phụ nữ như một đối tượng phụ thuộc, không có tiếng nói, là nạn nhân của chiến tranh, thường hơn là “Thiên địa phong trần /Hồng nhan đa truân”, nếu không cũng trung trinh tiết liệt,… Đối với những nhà Nho chân chính, người phụ nữ luôn được họ tôn trọng, ngợi ca theo cách cửa Khổng sân Trình đã dạy họ. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã viết: Buông tiếng ngâm theo trận gió tây Phòng khuê thiếu phụ ngủ đang say Chợt nghe rèm màn thấm hơi lạnh Mới hiểu biệt li là thế đây Sa tái mộng bay hồn chẳng ngại Cổ bể tiếng dội dạ tràn đầy Tí tách trước thềm mưa chợt gõ Như ai thủ thỉ buồn canh chầy. (Khuê tình, Đinh Gia Khánh dịch) Tuyết Giang phu tử đã tỏ rõ thái độ cảm thông, chia sẻ với những phụ nữ nạn nhân chiến tranh. Nguyễn Xuân Ôn trong bài Độc Thuý Kiều truyện cảm tác đã khẳng định: Ngọc nhan tự cổ mệnh đa truân Nhất phiến tài tình luỵ kỉ nhân Cầm khúc khinh chiêu thiên cổ oán Kính quang trùng nhiễm thập niên trần Và dù “hồng nhan hoạ thuỷ”, cuối cùng nhân phẩm của họ vẫn ngời sáng: Dĩ tương thân bạn hồng trần khách Do giác tình khiên bạch phát thân Vẫn tiết độc tồn trinh bạch thảo Hối giao phu tế tác hàng thần. Ngọc Hân càng khóc vua Quang Trung bi thiết thì càng được kẻ sĩ tán tụng vì nó càng làm ngời sáng những phẩm tiết mà tư tưởng Nho giáo đã vạch sẵn cho người phụ nữ. Nguyễn Trãi không làm như bao người đã làm. Nguyễn Trãi phác hoạ tâm trạng của những người con gái đang yêu, nhưng cũng không phải là hình tượng một nàng Trương trọn vẹn với tình yêu trong Hương miệt hành, mà là người con gái mang trong mình những khổ sầu, tiếc nuối với tình yêu: Vì ai cho cái đỗ quyên kêu Tay ngọc dùng dằng chỉ biếng thêu. Lại có hoè hoa chen bóng lục Thức xuân một điểm não lòng nhau. (Hạ cảnh tuyệt cú) Tiếng chim đỗ quyên báo hiệu xuân mãn hè sang: Cuốc kêu xuân báo sắp tàn Đầy sân xoan nở mưa phùn nghiêng bay. (Trích dịch Mộ xuân tức sự, Nguyễn Trãi) Ẩn chứa một tâm sự khó giãi bày, chợt nghe tiếng quốc gọi hè, lòng dạ người con gái bỗng rối bời khiến “tay ngọc dùng dằng chỉ biếng thêu”. Nghe tiếng đỗ quyên người thiếu nữ chợt nhớ lại hình ảnh người yêu. Mùa xuân vẫn còn đâu đó trên những cánh hoa hoè nhưng chàng đã ra đi. Đó là một sự thật nàng cố quên đi nhưng tiếng chim đỗ quyên đã làm cho kỉ niệm buồn kia sống lại. Nên vẻ đẹp của hoa lá dù chỉ một điểm cũng khiến “não lòng nhau”. Người con gái trong thơ của Nguyễn Trãi không chỉ có nỗi tương tư lúc vắng xa người yêu mà còn có cái xuyến xao bằng cái nhìn trìu mến: Lầu xanh từ thấy khách thi nhân Vì cảnh lòng người tiếc cảnh xuân. (Trích Tích cảnh, 12) Nàng đã gọi chàng là “khách thi nhân” ngay ở phút đầu tiên. Mấy tiếng ấy gợi lên trong chúng ta về một trang tài tử hào hoa. Ấn tượng ban đầu ấy phải mạnh mẽ lắm khiến người lầu xanh trông thấy đã định danh tướng người. Hẳn khi nhìn thấy người trong mộng ấy, lòng nàng đã mơ đến: Chén ngà sánh phượng quỳnh tương Mời chàng Nho sĩ văn chương bước vào. (Ca dao) Nhưng không tao ngộ được với chàng nên nàng mới thấy cảnh xuân trở nên vô duyên. Không phải “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu, Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”, người con gái trong thơ của Nguyễn Trãi chỉ thấy rằng cảnh đang xuân nhưng lòng mình đang sầu nên cảnh vì thế mà mất đi ý nghĩa. Có cảnh xuân mà không có người đem đến xuân lòng thì đã lãng phí cảnh xuân. Chỉ mới nhìn thấy người, chưa thấy tiếng, chưa rõ tình đã đắm say đến nỗi “tiếc cảnh xuân” có phải nàng muốn nói với chúng ta rằng tình yêu bắt đầu từ cái nhìn đầu tiên? Mới trách thanh đồng tin diễn đến Bởi chưng hệ chứa Đông quân. (Trích Tích cảnh, 12)             Nàng trách chỉ tại thanh đồng không đưa tin đến kịp mà chàng đã không đến với nàng. Sao không tự tìm đến mà lại trách người khác? Đọc câu thơ chúng ta thấy được sự thẹn thùng, e lệ đáng yêu của người con gái ngày xưa trong chuyện tình cảm lứa đôi. Thanh đồng là người hầu của tiên, trong lòng nàng khách thi nhân cũng là tiên: Đông quân. Nàng xem chàng là Đông quân của mình. Chàng là người không đem đến mùa xuân cho vạn vật, chàng là người đem đến mùa xuân cho nàng, một Đông quân bằng xương bằng thịt chứ không phải trong những giấc mơ. Chỉ có chàng mới có khả năng làm cho nàng “tốt lại thêm”. Dù người không đến nhưng tình yêu nàng dành cho người mình thầm thương trộm nhớ lại vô cùng nồng cháy: “Bởi chưng hệ chứa Đông quân”. Có phải Nguyễn Trãi là nhà thơ đầu tiên ở nước ta đem được những cảm xúc rất riêng của người phụ nữ vào thơ? Hình ảnh nàng Trương héo sầu vì nhớ thương Lý Quốc Hoa, ôm khóc khiến chàng hồi sinh là hình tượng người phụ nữ đẹp hiếm có của văn học nước ta. So với những người phụ nữ trong thơ của Nguyễn Trãi, nàng mạnh mẽ và quả quyết hơn. Song, nàng may mắn sống trong thời đại trai gái còn có quyền tự do luyến ái. Quyền khẳng định mình của người phụ nữ chưa bị buộc ràng. Người phụ nữ trong thơ của Nguyễn Trãi lại sống trong vòng kim cô đạo Nho đang xiết lại. Cái Tôi của mày râu đã khó được khẳng định chứ nói chi đến cái Tôi của kẻ phòng khuê. So với thời đại, người phụ nữ trong thơ của Nguyễn Trãi như thế quả là mạnh mẽ. Nếu chỉ nói về người phụ nữ đang yêu vẫn chưa đủ để thơ tình của Nguyễn Trãi tạo được bước đột phá trọn vẹn. Nói về người cũng là nói về mình, nói về mình không ẩn dưới một vỏ bọc nào khó biết bao ! Không nói, đã nói thì phải nói như Nguyễn Trãi: Loàn đơn ướm hỏi khách lầu hồng Đầm ấm thì thương kẻ lạnh lùng. Ngoài ấy dù còn áo lẻ Cả lòng mượn lấy đắp hơi cùng. (Tích cảnh, 10) Bài thơ này đã làm giới nghiên cứu hết sức bất ngờ ngay phút đầu bắt gặp. Chỉ 20 tiếng đã đủ thấy tầm vóc thơ tình của Nguyễn Trãi. Bài thơ Ba tiêuchỉ mới thoang thoảng hương tình thì bài thơ này  đã là một bài thơ tình đạt đến độ chín thực sự. Không vòng vo, bóng gió xa xôi, lời thơ là lời thổ lộ tình yêu mạnh mẽ mà vẫn không kém tình tứ: Loàn đơn ướm hỏi khách lầu hồng Đầm ấm thì thương kẻ lạnh lùng. Câu đầu tiên khiến người nghe chờ đợi một câu hỏi. Thật bất ngờ, câu tiếp theo không phải lại là một câu cầu khiến: “Đầm ấm thì thương kẻ lạnh lùng”. Nói đến đằm ấm, lạnh lùng tức đã chạm đến cõi riêng của tình cảm lứa đôi, trong buổi sơ giao nếu có rung động thì cũng “tình trong như đã, mặt ngoài còn e” chứ không ai lại mở lời táo bạo như thế. Chỉ hai chữ “đầm ấm” thôi đã đủ khiến khách lầu hồng bồi hồi, nghe hết câu, hẳn không thể không “e lệ nép vào dưới hoa”. Đây không còn là lời tỏ tình mà nó đã là lời khẳng định tình yêu của nhà thơ dành cho giai nhân. Lời thơ ẩn chứa một tình yêu mãnh liệt của tác giả. Tình cảm ấy dẫu mãnh liệt nhưng vẫn không sỗ sàng. Từ sự bất ngờ này, nhà thơ chuyển đến sự bất ngờ khác: Ngoài ấy dù còn áo lẻ Cả lòng mượn lấy đắp hơi cùng. Tưởng rằng câu chuyện tình yêu đến hai tiếng “lạnh lùng” phải hạ màn nhưng tác giả vẫn tạo được một vĩ thanh tuyệt diệu. Đã yêu đến thế mà chỉ ao ước được mượn áo lẻ về đắp lấy hơi. Nói đến chiếc áo lại là nói đến tình cảm vợ chồng: “Chàng đi để áo lại đây /Phòng khi thiếp nhớ cầm hơi đỡ buồn” (Ca dao). Lời thơ thể hiện tinh tế sự tôn trọng bạn lòng: chỉ mượn chứ không đòi tặng và chỉ mượn chỉ chiếc áo thừa, không có đôi. Từng chữ, từng lời đều gửi đến “khách lầu hồng” một thông điệp tình yêu thắm thiết, chân thành của nhà thơ. Bài thơ Tích cảnh, 10 đã thể hiện được bản lĩnh trong tình yêu của người đàn ông. Lần đầu tiên trong văn học nước nhà có một hình tượng người đàn ông đẹp giản dị mà sống động đến như vậy. Lần đầu tiên trong lịch sử nước nhà có một bậc đại Nho dám nói lên tình yêu của mình mà không phải mượn chuyện tây tàu. Hình tượng người đàn ông trong văn học chính thống phải là những người có chí vá trời lấp bể, kinh bang tế thế. Phải mang trong mình tâm thế: Nam nhi vị liễu công danh trái Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu. (Trích Thuật hoài, Phạm Ngũ Lão) Phải xem công danh sự nghiệp là nhiệm vụ hàng đầu: Rắp mượn điền viên vui tuế nguyệt Trót đem thân thế hẹn tang bồng Đã mang tiếng có trong trời đất Phải có danh gì với núi sông.                      (Trích Đi thi tự vịnh, Nguyễn Công Trứ) Còn đối với những bậc công nghiệp thì: “Bui một tấc lòng ưu ái cũ /Đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông” (Nguyễn Trãi). Trong xã hội phong kiến, “Phép công là trọng niềm tây sá gì”. Tư tưởng phong kiến không chấp nhân kiếu người đàn ông như Phan Tất Chánh hay Lý Quốc Hoa “máu khô, ruột đứt, tình chưa dứt”, “trơ lại cái xác chết vì tương tư”. Bài thơ Tích cảnh, 10 đã đưa Nguyễn Trãi vượt quá xa vòng cương toả. Tình yêu đôi lứa được Nguyễn Trãi thể hiện ý nhị qua hình ảnh đọt chuối non, qua tâm trạng nhớ nhung, sầu muộn của những cô gái, nỗi khao khát yêu đương,… chưa đủ tạo nên bước đột phát khi viết về tình yêu của Nguyễn Trãi. Nét đặc sắc nhất và trên cả là thái độ sống của nhà thơ. Nuối tiếc khi tuổi trẻ đã qua đi, tình yêu đến khi mình không còn xuân,… là tâm trạng rất thật của Nguyễn. Nguyễn không giấu giếm tâm sự riêng ấy: Tiếc thiếu niên qua lật hẹn lành Hoa hoa nguyệt nguyệt luống vô tình Biên xanh nỡ phụ người đầu bạc Đầu bạc xưa nay có thuở xanh. (Tích cảnh, 4) Cảnh vật hữu tình, thơ mộng, tài tử giai nhân dập dìu mà mình đã qua rồi cái thời có thể “nguyệt hoa hoa nguyệt trùng trùng” như bọn đầu xanh. Càng nhìn cảnh Nguyễn càng thấy “tiếc thiếu niên”. Sinh ra và lớn lên khi đất nước loạn lạc, là một trượng phu, Nguyễn phải có trách nhiệm với Tổ quốc, nhân dân, chuyện riêng tư của tuổi trẻ đâu có chỗ. Khi giang sơn đã thu về một mối, nước nhà đã thái bình, thịnh trị, Nguyễn mới có thì giờ nghĩ về mình. Khi sờ lên mái tóc đã ngã màu sương, nhà thơ đã tự thán: “Hầu nên khôn lại tiếc bâng khuâng”.             Tình yêu nào phân biệt tuổi tác. “Gừng càng già càng cay” có thể đúng với Nguyễn Trãi, ở cái tuổi không còn trẻ để nói chuyện gối chăn mà nhà thơ vẫn có được người thiếp trẻ đẹp, tài hoa đấy thôi. Nhà thơ đã tự tin nói với giai nhân: Biên xanh nỡ phụ người đầu bạc Đầu bạc xưa nay có thuở xanh.             Nhà thơ biết mình là “người đầu bạc”, không xứng để nói lời thề hẹn với “biên xanh” song nhà thơ vẫn gửi đến người ta một thông điệp: Tình yêu không đo bằng tuổi tác, tình yêu được đánh giá bằng độ ngân vang của con tim. “Đầu bạc xưa nay có thuở xanh” mà Nguyễn nói đến chính là sự mãnh liệt, nồng cháy trong tình yêu mình dành cho ai đó.             Dù ít và trước, sau Nguyễn Trãi vẫn có những nhà thơ viết về tình yêu đôi lứa nhưng cái bức phá của Nguyễn Trãi là nằm ở chỗ chính trong vẻ đẹp tự thân của thơ mình và khả năng tự tin biểu lộ tình cảm cá nhân. Đúng như nhà thơ Tế Hanh ca ngợi: “Nguyễn Trãi là nhà thơ đầu tiên của ta nói đến tình yêu của mình mà không phải núp dưới một câu chuyện tình của người khác”[72]. Nguyễn Trãi không chỉ là nhà thơ quốc âm khai sơn phá thạch mà còn là nhà thơ đầu tiên, nhân vật lịch sử đầu tiên của dân tộc dám nói lên tiếng nói của lòng mình. Xưa nay vẫn vậy, người phương Đông thường quan niệm người được xã hội nể trọng thì chuyện riêng tư cũng phải được nể trọng, do đó, đời sống tình cảm của các vĩ nhân bị liệt vào hàng cấm kị. Người có địa vị càng cao trong xã hội thường càng kín đáo trong chuyện ấy, sợ ảnh hưởng xấu đến địa vị. Trong xã hội phong kiến, điều này càng quan trọng. Không hẳn các cụ không biết yêu, nhưng phô diễn ra, thậm chí đưa vào thơ ca thì rất kiêng. Nguyễn Bỉnh Khiêm, người thầy của thiên hạ, suốt thơ ông khó lòng tìm được dấu vết của tình cảm vợ chồng. Có viết về vợ thì người vợ trong thơ ông cũng chỉ như một thứ gia vị để ông tỏ chí khí (Nguyên đán thuật hoài). Chuyện bếp núc của các vị hoặc là không nói, hoặc phải nói thì sách vở lại thêm mắn giặm muối để tăng thể diện nhân vật. Một người có vai trò quyết định bánh xe của lịch sử như Nguyễn Trãi lại càng khó có thể tưởng chuyện riêng tây lọt ra bên ngoài. Sự không nên hớ hênh ra một khi đã hớ hênh rất dễ bị dư luận làm méo mó, nó có thể làm tổn hại đến hình ảnh của quan Thừa chỉ. Nhưng thực tế đã làm ngược lại. Dân gian còn dệt lên cả một giai thoại xung quanh cuộc tình duyên của ông với bà Nguyễn Thị Lộ. Sự thật trong thơ đã chứng tỏ Nguyễn Trãi không hề giấu giếm chuyện riêng tư. Nói hộ tình yêu của người cũng là nói tình yêu của mình, chưa thôi, Nguyễn Trãi tự khẳng định riêng tiếng nói của con tim mình. Nhà khao khát yêu đương đến cháy bỏng: “Biên xanh nỡ phụ người đầu bac /Đầu bạc xưa nay có thuở xanh”. Đó đã là một sự phá rào đầy nguy hiểm của Nguyễn Trãi. Khẳng định cái Tôi chân chính là một đòi hỏi không thể cấm đoán của con người. Khi đạo Nho vẫn chưa có vị trí độc tôn, sự ra đời những tác phẩm diễm tình như Hương miệt hành là một tất yếu. Tống Nho kiềm hãm sự phát triển ý thức cá nhân, một khi nó tự thân mất chỗ đứng thì ý thức ấy mới được trỗi dậy. Văn học nửa cuối thế kỉ 18 chứng kiến sự xuất hiện của hàng loạt tác phẩm dành cho phụ nữ: Cung oán ngâm khúc, Chinh phụ ngâm khúc, Đoạn trường tân thanh,… đặc biệt, gần đây là sự tái xuất của Lưu hương kí. Hàng loạt truyện Nôm tài tử – giai nhân ra đời. Lúc này người ta dám nói lên tiếng nói của con tim mình. Phạm Thái đã khóc thống thiết khi Trương Quỳnh Như chết: Một mối chung tình tan mấy mảnh Suối vàng ai nhắn hộ đôi lời. (Trích Khóc Trương Quỳnh Như) Lưu hương kí là quyển nhật kí tình yêu của chính Hồ Xuân Hương. Trong bối cảnh chế độ phong kiến đang mục ruỗng những hiện tượng ấy đã trở thành bình thường. Khi tư tưởng Khổng – Mạnh đang khẳng định vị trí số một trong hệ tư tưởng chính thống thì đề tài lứa đôi rất khó nảy sinh. Ngoại lệ đã dành cho Nguyễn Trãi một đặc ân, là một đại Nho, sống giữa lúc nhà nước phong kiến đang dùng tư tưởng Tống Nho để củng cố chế độ nhà thơ vẫn dám nghêu ngao hát “Tiếc thiếu niên qua lật hẹn lành /Hoa hoa nguyệt nguyệt luống vô tình” Đương thời khó mà chấp nhận. “Làm sao sống được mà không yêu /Không thương không nhớ một kẻ nào”, chỉ là người ta có quyền nói và có dám nói không. Tác giả đã khẳng định mệnh đề thứ hai đồng thời phủ nhận mệnh đề thứ nhất. Sự phá rào của Nguyễn Trãi là một cách khẳng định cái Tôi. Cái Tôi ấy được nhà thơ đặt ngang với địa vị xã hội của mình. Cái Tôi ấy hôm nay chúng ta tán thưởng nhưng đối với thời đại nhà thơ là một sinh thể không được chào đón. Học trò của Nguyễn có thể chỉ quen với hào khí củaBình Ngô đại cáo mà xa lạ và chướng tai với người đàn ông phá rào “Loàn đơn ướm hỏi khách lầu hồng /Đầm ấm thì thương kẻ lạnh lùng” ấy. Cách Nguyễn Trãi tỏ lòng thật dễ mất lòng thời đại. Văn học phong kiến dù không muốn nhưng vẫn không thể từ chối không cho người phụ nữ một chỗ đứng trong văn học. Khi đó, các nhà văn nhà Nho đã làm theo cách Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Xuân Ôn đã làm. Cũng là nhà Nho nhưng Nguyễn Trãi lại đưa người phụ nữ vào văn học như tự thân vốn có của họ. Đó là hình tượng những cô gái đang xuân khao khát yêu đương, sầu muộn vì tình, một sự thất lỗi với truyền thống ứng xử của nhà Nho. Người phụ nữ trong thơ của Nguyễn Trãi khẳng định vẻ đẹp trước hết không phải bằng vẻ mĩ lệ của nhan sắc mà bằng chính vẻ đẹp tâm hồn chưa nhuốm màu đạo đức. Khuê tình, Độc Thuý Kiều truyện cảm tác với Hạ cảnh tuyệt cú, Tích cảnh, 12 khác nhau không chỉ bởi thể tài, giọng đàn mà còn bởi các nhà thơ xuất phát từ những điểm nhìn nghệ thuật khác nhau. Cả Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Xuân Ôn đều lấy tâm thế của bậc thức giả nhìn nhận vấn đề. Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà bấm máy hơn là một người khuê phụ cô đơn. Nguyễn Xuân Ôn là nhà bình Kiều hơn là Kiều. Khác Nguyễn Du nên cũng khác luôn Nguyễn Trãi. Câu thơ “Giật mình, mình lại thương mình xót xa” là của Kiều nhưng cũng là của Nguyễn Du. Nguyễn Bỉnh Khiêm nhìn người phụ nữ là khách thể thẩm mĩ khách quan trong khi đó Nguyễn Trãi nhìn người phụ nữ là khách thể thẩm mĩ chủ quan hoá. Từng chữ, từng lời như chính của người trong cuộc viết ra. Người đang tương tư hiểu nỗi tương tư, tả được nỗi tương tư của người đang tương tư. Lấy người phụ nữ đang yêu làm hình tượng nghệ thuật trung tâm đồng thời hoà kết hình tượng nhân vật trữ tình với hình tượng tác giả đã giúp nhà thơ sớm xác lập tính đột phá trong nghệ thuật xây dựng hình tượng nghệ thuật. Thơ của Nguyễn Trãi do đó không còn là tiếng lòng của cá nhân nhà thơ Nguyễn Trãi mà đã là tiếng lòng của nhân thế. Đọc thơ tình của Nguyễn Trãi, dư vị đầu tiên dễ đọng lại là sự thân thiết, gần gũi. Được viết cách đây hơn năm thế kỉ mà chúng ta vẫn thấy không hề xa lạ chính là nhờ vào tính dân tộc của lời thơ. Hình ảnh đọt chuối của nhà thơ cũng dịu dàng, dung dị trong ca dao: Da em như đọt chuối non Eo lưng thắt đáy như con tò vò. Đọt chuối non được chàng trai ví von như làn da của người yêu bởi sự mịn màng, mơn mởn của nó, còn Nguyễn Trãi lại tìm thấy ở đó một vẻ e ấp, ngập ngừng của tình đầu chớm nở. Thật là sự gặp nhau đầy thú vị của những tâm hồn Việt Nam. Nếu ca dao viết: –        Yêu nhau cởi áo cho nhau Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay. Hay: –        Chàng đi để áo lại đây Phòng khi thiếp nhớ cầm hơi đỡ buồn. thì Nguyễn Trãi viết: Loàn đơn ướm hỏi khách lầu hồng Đầm ấm thì thương kẻ lạnh lùng. Ngoài ấy dù còn áo lẻ Cả lòng mượn lấy đắp hơi cùng. (Tích cảnh, 10) Ca dao xem chiếc áo như một tín vật của tình yêu, Nguyễn Trãi xem nó như cái cớ giãi bày để rồi thác lời yêu đương. Cả ca dao và Nguyễn Trãi đều tìm thấy ở chiếc áo một ý nghĩa biểu trưng cho tình yêu.             Phong vị ca dao trong thơ tình của Nguyễn Trãi không dừng lại ở hình ảnh thơ mà còn gồm cả ngôn ngữ thơ. Lạnh lùng thay làng xóm ơi Xóm làng lạnh ít sao tôi lạnh nhiều. (Ca dao) Loàn đơn ướm hỏi khách lầu hồng Đầm ấm thì thương kẻ lạnh lùng (Trích Tích cảnh, 10) Phải chăng là sự ngẫu nhiên? Có thế nhưng chỉ có những tâm hồn đắm say chân thật với tình yêu mới có sự gặp nhau trong ngôn ngữ tình yêu như thế. “Lạnh lùng” trong bài ca dao là là lời tỏ tình bóng gió, còn “lạnh lùng” trong thơ của Nguyễn Trãi là lời tỏ tình trực diện. Và Nguyễn Trãi đã nâng thêm một bước khi đặt từ “lạnh lùng” song song với từ “đầm ấm”. Khi đó, nó trở thành một đối trọng ngôn ngữ đầy nghệ thuật. Đặt ngôn ngữ vào thế đối cực cũng là đặt hai tâm hồn vào hai đối cực để đi đến sự đồng điệu.             Hình ảnh, ngôn ngữ đậm đà tính dân tộc đã ghi điểm 10 cho thơ tình của Nguyễn Trãi trong lúc văn học chữ Nôm còn khập khễnh tập đi. Mãi đến khi thể thơ dân tộc đã định hình, ngôn ngữ thơ dân tộc đã có những bước tiến dài, hội đủ điều kiện, tinh hoa văn học dân gian mới đi vào Truyện Kiều chứ sau Nguyễn Trãi thơ tình trong Hồng Đức quốc âm thi tập vẫn không tránh được sự khuôn sáo, vụng về và thô thiển. Không chỉ cố công tìm vốn quí của dân tộc, Nguyễn Trãi còn cách tân hình ảnh đã có của thơ. Đông quân trong thơ xưa là hình tượng vị thần cai quản mùa xuân, có vai trò đem lại sức sống cho vạn vật, đất trời. Đến Nguyễn Trãi, Đông quân đã hoá thân thành tình nhân: Lầu xanh từ thấy khách thi nhân Vì cảnh lòng người tiếc cảnh xuân Mới trách thanh đồng tin diễn đến Bởi chưng hệ chứa Đông quân. (Tích cảnh, 12) Đông quân không còn là vị thần đem lại sức sống cho vạn vật mà đã trở thành người đem lại những mộng mị yêu đương cho giai nhân. Đông quân chính là người đã gieo vào lòng kẻ lầu xanh bao nỗi muộn phiền, sầu tư. Hình ảnh mới mẽ ấy nên gọi là gì nếu không gọi là bước đột phá trong sáng tạo nghệ thuật? Sự sáng tạo này về sau đã đắc dụng trong Truyền kì mạn lục: Khi ái ân với Trình Trung Ngộ, Nhị Khanh đã ví chàng như một Đông quân: “Nay dám mong quân tử quạt hơi dương vào hang tối, thả khí nóng tới mầm khô, khiến cho tía rụng hồng rơi, được trộm bén xuân quang đôi chút, đời sống của thiếp như thế sẽ không phải phàn nàn gì nữa” (Cây gạo).             Chuối cũng được xem là loài cây sánh ngang với tùng, cúc, trúc, mai,… Phẩm chất của nó thường tượng trưng cho khí tiết kẻ sĩ (Vịnh ba tiêu, Hồng Đức quốc âm thi tập). Hay đơn giản hơn, người ta nhìn cây chuối vẫn như bao loài cây bình thường khác: “Vài tiếng dế nguyệt soi trước ốc /Một hàng tiêu gió thốc ngoài hiên” (Trích Chinh phụ ngâm diễn âm tân khúc, Phan Huy Ích). Nhà thơ Trung Quốc Tiền Hải xuất phát từ việc người xưa lấy lá chuối viết thư đã có những câu thơ đầy hồn phách: Phong thư còn giấu điều chi đó     Hẳn gió xuân về lén xé xem.                    (Trích Vị triển ba tiêu, Nguyễn Khắc Phi dịch) nhưng nhà thơ đã không đủ cơ duyên để nhìn đọt chuối một cách tình tứ hơn nữa. Đến bàn tay của nghệ sĩ Nguyễn Trãi, đọt chuối đã mang một vẻ đẹp bức phá đầy ngoạn mục: Tình thư một bức phong còn kín Gió nơi đâu gượng mở xem. (Trích Ba tiêu) Một tâm hồn thi sĩ, một trái tim đa tình đã tạo hứng cho Nguyễn có được câu thơ năm trăm tuổi còn say lòng người. Vẻ đẹp tân kì của đọt chuối non trong thơ Nguyễn đến hôm nay vẫn chưa ai hơn được. Mỗi khi thấy đọt chuối non lả lơi trong gió, chúng tôi lại tự hỏi sao Nguyễn tinh tế đến như thế? Chỉ bốn năm bài thơ tư tuyệt ít ỏi nhưng Nguyễn Trãi đã nói thật nhiều về nghệ thuật làm thơ. Bước ra khỏi vườn thơ của Nguyễn, chúng ta không khỏi giật mình tự trách. Ai đó vẫn có thể bàn hươu tán vượn xung quanh thơ của Nguyễn Trãi nhưng những thành tích nghệ thuật Nguyễn Trãi tặng cho chúng ta, chúng ta không thể hững hờ. Thơ của Nguyễn Trãi không nhiều bài cho tình cảm lứa đôi, dù vậy, chỉ dăm bài cũng đủ chứng minh một hồn thơ tráng khí mà không kém tình tứ nơi ông. Nhà thơ Tế Hanh đã phát biểu: “Nếu sợ làm nhỏ bớt vị anh hùng mà coi thường cái khía cạnh riêng tư của nhà thơ thì không khỏi rơi vào phiến diện, máy móc. Như thế chỉ làm nhỏ hơn, nghèo hơn cái hồn thơ vô cùng phong phú của Nguyễn Trãi mà thôi”[,72] nhưng vì trọng cái khía cạnh riêng tư thái quá cũng dễ làm hình ảnh bậc vĩ nhân bị lu mờ nên mọi sự thận trọng đều có giá trị. Những nét đẹp độc đáo trong thơ tình mà Nguyễn Trãi đạt được có thể về sau không còn đặc sắc nữa nhưng xét theo thời đại và vị thế lịch sử của nhà thơ những giá trị ấy mãi mãi là bất biến và không thể đưa ra bình giá thường tình. Làm sao có thể so sánh khi ở buổi đầu thơ ca dân tộc mà vẫn có được những vần thơ tài hoa, tinh tuý: Tình thư một bức phong còn kín Gió nơi đâu gượng mở xem.   Tài liệu tham khảo: 1.      Phạm Trọng Điềm, Bùi Văn Nguyên (phiên âm, chú giải, giới thiệu, 1982). Hồng Đức quốc âm thi tập, Nxb Văn học, Hà Nội, 2.      Đinh Gia Khánh (chủ biên, 1997). Văn học Việt Nam thế kỉ 10 – nửa đầu thế kỉ 18, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 3.      Mai Quốc Liên (chủ biên, 2000). Nguyễn Trãi toàn tập tân biên (tập …), Nxb Văn học, Hà Nội, 4.      Nguyễn Hữu Sơn (tuyển chọn, giới thiệu, 1999). Nguyễn Trãi về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội.   5.      Bùi Duy Tân (chủ biên, …). Hợp tuyển văn học trung đại Việt Nam (thế kỉ 10-thế kỉ 19), Nxb Giáo dục, Hà Nội.
Xem thêm

7 Đọc thêm

Tìm hiểu Câu lạc bộ Người yêu sách Nguyễn Huy Tưởng

TÌM HIỂU CÂU LẠC BỘ NGƯỜI YÊU SÁCH NGUYỄN HUY TƯỞNG

CLB Người yêu sách Nguyễn Huy Tưởng cho biết, ra đời vào ngày 9102011 với mục đích là tạo một không gian sinh hoạt văn hóa cho những người thích đọc sách, cùng nhau trao đổi, chia sẻ về những cuốn sách hay, có giá trị của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng cũng như về các tác giả, tác phẩm khác có tác động đến văn hoá đọc; tổ chức gặp gỡ, giao lưu với các tác giả, các nhà phê bình nhằm tôn vinh, thúc đẩy thói quen đọc sách trong cộng đồng.

15 Đọc thêm

100 phrasal verb thông dụng

100 phrasal verb thông dụng

100 phrasal verb thông dụng 1.Beat one’s self up: tự trách mình (khi dùng, thay ones self bằng mysel, yourself, himself, herself...) 2.Break down: bị hư 3.Break in: đột nhập vào nhà 4.Break up with s.o: chia tay người yêu, cắt đứt quan hệ tình cảm với ai đó 5.Bring s.th up: đề cập chuyện gì đó 6.Bring s.o up: nuôi nấng (con cái) 7.Brush up on st: ôn lại 8.Call for st: cần cái gì đó; Call for sb : kêu người nào đó, cho gọi ai đó, yêu cầu gặp ai đó 9.Carry out: thực hiện (kế hoạch) 10.Catch up with sb: theo kịp ai đó 11.Check in: làm thủ tục vào khách sạn
Xem thêm

Đọc thêm

TẢ QUYỂN TẬP CŨ MÀ EM VỪA TÌM GẶP LẠI TRONG NGĂN TỦ

TẢ QUYỂN TẬP CŨ MÀ EM VỪA TÌM GẶP LẠI TRONG NGĂN TỦ

Hôm nay nhân dịp xếp lại tủ sách, tôi tìm lại được một tập vở cũ hồi còn học lớp Một.    Dàn bài    I. MỞ BÀI    Em sắp xếp lại tủ sách, quyển vở cũ rơi ra.    II. THÂN BÀI    - Tả bao quát: bìa bị gián gặm, quyển tập vàng ố,...    - Tả từng bộ phận: hình ảnh ngoài bìa lờ mờ, chữ viết xiên xẹo, những bài toán sai, chữ phê của thầy cô..    (Cần nói lại những kỉ niệm cũ do vở gợi ra).    III. KẾT BÀI    Quyển vở gợi lên công ơn cha mẹ, thầy cô. Bài làm tham khảo    Hôm nay nhân dịp xếp lại tủ sách, tôi tìm lại được một tập vở cũ hồi còn học lớp Một.    Giấy tập đã vàng và bìa tập bị thủng nhiều chỗ vì gián gặm. Tôi lấy tập vở ra khỏi ngăn tủ, đập vào bàn cho sạch bụi. Trên bìa tập có hình hai cậu bé dắt tay nhau đi học. Nụ cười trên môi cùa hai cậu bé ngày xưa đã làm cho tôi tin rằng đi học là vui thích lắm. Phía dưới còn in rõ nét chữ của ba tôi, ghi tên họ và lớp học của tôi. Nét chữ chưa phai mờ mà ngày nay ba tôi đã ra người thiên cổ.    Tôi giở từng trang. Giấy đã vàng và rất giòn. Đây là bài tập viết với nét chữ ngoằn ngoèo. Kia là các bài toán cộng trừ. Tôi lẩm nhẩm đọc rồi cười khan một mình.    Nét chữ sửa bài của thấy tôi thật là cứng rắn. Tôi nhớ lại những lúc thầy cầm tay tôi nắn nót từng chữ một.    Ở trang sau cùng có mấy đốm mực to. Tôi nhớ lại hôm ấy tôi và thằng Ngân ngồi cùng bàn sanh sự cãi nhau vì tranh giành một con dế. Nó liền rảy mực vào tập tôi. Tôi lên thưa thầy bạn ấy bị mấy khẻ đau điếng.    Thời gian qua mau! Giờ đây tôi đã lên lớp Năm. Nhìn lại tập vở cũ, tuy có những cái vụng về, luộm thuộm nhưng nó gợi cho tôi nhiều kỉ niệm thời thơ ấu. Tôi âu yếm vuốt lại từng trang rồi lại cất nó vào ngăn tủ như cũ.
Xem thêm

1 Đọc thêm

HOI KY CUA GS NGUYEN DINH CONG DHXD

HOI KY CUA GS NGUYEN DINH CONG DHXD

tiếng vui vẻ nghe theo lẽ phải.CAN THIÊP VÀO CHUYỆN THI19Tôi rất quan tâm đến kỷ cương trong việc tổ chức thimôn học, nghĩ rằng giữ nghiêm kỷ luật thi là một trongnhững biện pháp có hiệu quả đảm bảo chất lượng.Mỗi kỳthi khoa đều lập bảng theo dõi các môn thi,phân côngngười đi kiểm tra, giám sát, nếu có gì vướng mắc cần kịpthời xử lý.Đã hai lần tôi phải can thiệp, xử lý.Lấn thứ nhất là một bộ môn trong khoa.Khi tôi đến kiểmtra thấy lớp có trên 50 s/v ngồi chen chúc trong một phòng2 gian, ba người ngồi một bàn. Đây là một sự vi phạm nộiquy.Tôi hỏi các thầy coi thi tại sao lại như vậy. Các thầybảo nơi thi do phòng đào tạo sắp xếp,các thầy không cóquyền đổi.Tôi cho đó là sự chấp hành quá máy móc,tại saokhông xin đổi sang phòng khác trong lúc xung quanh cònnhiều phòng trống.Trao đi đổi lại vài điều, các thầy khôngchịu nhận khuyết điểm và không chịu khắc phục sai sót.Tôihơi bị tự ái và cũng muốn thực thi quyền lực nên đã lậpbiên bản vi phạm kỷ luật thi và quyết định đình chỉ.Bộ môncó trách nhiệm tổ chức thi lại vào lúc khác.Sinh viên bị giảitán trong sự ngơ ngác.Việc này có nhiều cán bộ trong khoabiết,một số anh lớn tuổi phê phán tôi là thiếu suy xét,quáhung hăng.Ban đầu tôi cũng thấy mình làm thế là đúng đểgiữ kỷ cương nhưng sau nghĩ lại cũng thấy hơi quá đáng,kểra nếu thật bình tĩnh sẽ tìm ra cách khác hay hơn. Sau nàykhi đã về hưu tôi đã gặp các thầy coi thi hôm đó thành thậtxin lỗi .
Xem thêm

80 Đọc thêm

CÁC CÂU HỎI THƯỜNG GẶP KHI PHỎNG VẤN VÀ CÁCH TRẢ LỜI

CÁC CÂU HỎI THƯỜNG GẶP KHI PHỎNG VẤN VÀ CÁCH TRẢ LỜI

Các câu hỏi thường gặp khi phỏng vấn Trong thời buổi kinh tế ngày càng khó khăn hiện nay thì để xin được một công việc phù hợp như mong muốn không phải là điều đơn giản.Để thành công đòi hỏi các bạn rất nhiều yếu tố. Dưới đây là các câu hỏi thường gặp khi phỏng vấn xin việc và cách trả lời được gợi ý từ các chuyên gia tuyển dụng giàu kinh nghiệm giúp bạn ghi điểm khi phỏng vấn xin việc. Câu hỏi 1: Hãy nói về bản thân bạn? Cách xử lý: Hãy nhớ rằng nhà tuyển dụng đang hỏi để đánh giá sự phù hợp của bạn với vị trí công việc, vì vậy hãy chuẩn bị những câu trả lời về bạn nhưng gắn với công việc thay vì những vấn đề cá nhân. Bạn chỉ nên trả lời liên quan tới vấn đề cuộc sống cá nhân khi người tuyển dụng thực sự đi sâu và muốn tìm hiểu. Câu hỏi 2: Vì sao bạn nghỉ việc ở nơi làm cũ? Đây là 1 trong các câu hỏi thường gặp khi phỏng vấn xin việc nhiều nhất.Cách xử lý: Hãy đưa ra những câu trả lời mang tính tích cực, ví dụ: tôi muốn theo đuổi đam mê mới hoặc một cơ hội mới… và đặc biệt nhấn mạnh bằng những từ ngữ tốt đẹp về cơ hội đó. Đừng bao giờ nói xấu công ty cũ, sếp cũ hoặc chê bai về chế độ đãi ngộ… Cho dù bạn nghỉ việc với bất kỳ lý do gì, hãy mô tả nó theo cách tích cực nhất có thể.
Xem thêm

5 Đọc thêm

TẢ QUYỂN SÁCH CŨ MÀ EM VỪA TÌM GẶP LẠI TRONG NGĂN TỦ

TẢ QUYỂN SÁCH CŨ MÀ EM VỪA TÌM GẶP LẠI TRONG NGĂN TỦ

Chủ nhật vừa qua, trong khi sắp xếp lại tủ sách, em đã tìm thấy lại một quyển vở của mình hồi còn học lớp hai Tả quyển sách cũ mà em vừa tìm gặp lại trong ngăn tủ Bài làm Chủ nhật vừa qua, trong khi sắp xếp lại tủ sách, em đã tìm thấy lại một quyển vở của mình hồi còn học lớp hai. Giấy tập đã vàng ố. Bìa tập đã bị gián gặm nhiều chỗ. Em cầm lên, phủi cho sạch bụi. Trên bìa, còn lờ mờ hình ảnh của hai chị em, chị trước, em sau cặp sách trên tay, tươi cười dắt tay nhau đi học. Kề đó là hàng chữ nắn nót: “Ngày nay học tập, ngày mai giúp đời”. Hồi ấy, chính những nụ cười rạng rỡ này và dòng chữ kia đã hấp dẫn và thuyết phục em là đi học sẽ có thầy, có bạn vui thích lắm. Dưới cùng, bên góc phải là mấy dòng chữ xinh xắn của má em ghi rõ tên họ và trưởng lớp của em. Em mở từng trang vở. Đây là bài tập đọc: “Công cha như núi Thái Sơn” với nét chữ tím cong queo, xiêu vẹo. Đó là bài tập viết: “Không thầy đố mày làm nên". Hồi ấy, chữ y, chữ g em hay viết đá lên cao bị thầy la rầy mãi. Các chữ viết tròn trịa, dễ nhìn, là nhờ thầy phải cầm tay em nắn nót từng nét một. Buồn cười nhất là các bài toán cộng, trừ. Tuy em đã dùng tay để đếm cẩn thận, vậy mà ba với hai vẫn là sáu. Còn cả bài chính tả em viết bằng bút chì nữa! về nhà phải đồ lại bằng bút mực, nét chữ chưa phai mờ... Số là hôm đó em lỡ bỏ quên bút mực ở nhà, phải mượn bút chì của bạn Châu ngồi bên cạnh viết tạm. Rải rác trong các bài làm của em là nét chữ đỏ đậm, khi thầy em sửa bài, cho điểm và phê chân phương, cứng rắn. Trong phút chốc bao kỷ niệm bỗng sống lại trong em. Mới đó mà đã ba năm rồi! Năm nay em học lớp bốn. Nhìn lại quyển vở cũ, lòng em không khỏi bồi hồi nghĩ về “Cơm cha, áo mẹ, công thầy..." và biết bao người đã hết lòng, hết sức lo lắng vun bồi cho em khôn lớn... loigiaihay.com
Xem thêm

1 Đọc thêm

Bình giảng đoạn thơ sau trong bài Tiếng hát con tàu của Chế Lan viên. Con gặp lại nhân dân….bỗng gặp cánh tay đưa.

BÌNH GIẢNG ĐOẠN THƠ SAU TRONG BÀI TIẾNG HÁT CON TÀU CỦA CHẾ LAN VIÊN. CON GẶP LẠI NHÂN DÂN….BỖNG GẶP CÁNH TAY ĐƯA.

Đoạn thơ trên đây của Chế Lan Viên là một tiếng lòng được nâng lên thành một triết lí đẹp: Hạnh phúc khi được gặp lại nhân dân. Bốn câu thơ, câu nào cũng có hình ảnh đẹp, mới lạ biểu lộ một cá tính sáng tạo sắc sảo, tài hòa. Qua đó, ta mới thấm thía như một nhà thơ lớn phương Tây đã nói: “Câu thơ đẹp phải là câu thơ nói được một tình cảm đẹp”. Tôi rất yêu thích vần thơ của thi sĩ Chế Lan Viên nói về “hương nhân ái": Đóa hoa sen mặt đất tỏa hương trời Hương nhân ái thấm vào hồn ta mãi. Tôi cũng vô cùng thú vị mỗi lần nghe ai đó nhắc lại đoạn thơ này của ông:                                         Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét                                         Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng.                                         Như xuân đến chim rừng lông trở biếc                                         Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương. Năm 1960, tập thơ Ánh sáng và phù sa ra đời, một bước tiến mới về tư tưởng và nghệ thuật của Chế Lan Viên. Bài thơ Tiếng hát con tàu nói lên tình yêu Tây Bắc và khát vọng lên đường đi đến mọi chân trời mơ ước để hiến dâng và sáng tạo. Bài thơ gồm có 3 phần: 1- Tiếng gọi lên đường; 2- Nỗi nhớ Tây Bắc; 3- Khúc hát lên đường. Đây là khổ thơ thứ 5 trích trong phần 2 bài Tiếng hát con tàu nói lên niềm hạnh phúc to lớn được gặp lại nhân dân:            Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ      Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa  Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa           Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa. Tư tưởng gặp lại nhân dân là một tư tường đẹp. Tư tưởng ấy được cụ thể hóa. hình tượng hóa bằng năm hình ảnh ẩn dụ so sánh vừa mới lạ, vừa giàu chất thơ Câu thơ “Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ” là một so sánh độc đáo. Mùa đông tàn tạ. đàn nai đi kiếm ăn ở rừng xa. Nay mùa xuân đến, đàn nai trở về “suối cũ” mảnh đất đã bao đời gắn bó thân thiết yêu thương. “Nai về suối cũ” là sự thể hiện tình nghĩa thủy chung ở đời như “con gặp lại nhân dân”, được sống trong lòng nhân dân. Một chữ “con” dùng rất tinh tế, đã thể hiện một tình cảm chân thành, ấm áp. Đọc lên, ai cũng cảm thấy có mình trong đó. Câu thơ “Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa” mở ra trong lòng ta bao liên tướng đẹp. Ba tháng mùa đông, cỏ cây tàn tạ xơ xác úa vàng. Giêng hai đem hơi ấm mùa xuân cho vạn vật; cỏ trở nên xanh mướt, tốt tươi. Mùa xuân là mùa của sắc cỏ. “Phương thảo liên thiên bích” (Cổ thi); “Cỏ non xanh tận chân trời" (Truyện Kiều). Mùa xuân cũng là mùa của chim én: “Ngày xuân con én đưa thoi” (Nguyễn Du). Én gặp mùa xuân để kết đàn, sinh sôi nảy nở... Chữ “đón’’ (cỏ đón giêng hai), chữ “gặp" (chim én gặp mùa) diễn tả niềm hạnh phúc được hồi sinh, phát triển, trở nên tươi đẹp. Lấy thế giới cỏ cây, chim muôn để nói về niềm vui sướng hanh phúc khi “con gặp lại nhân dân” là một cách nói thấm thía, đậm đà. Cánh én và sắc cỏ mùa xuân trong thơ Chế Lan Viên lúc nào cũng đẹp và đáng yêu: Tháng giêng, hai xanh mượt cỏ đồi      Tháng giêng, hai vút trời bay cánh én. (Ý nghĩa mùa xuân) Còn gì vui sướng hơn, hạnh phúc hơn khi “Đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa”, khi “Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa?’’ Dòng sữa ngọt ngào cũng là tình thương của mẹ nuôi dưỡng trẻ thơ. Cánh tay của mẹ, của bà... nhẹ đưa khi “chiếc nôi ngừng”..., đã nâng giấc ngủ bé thơ. Giấc ngủ êm đềm trong lời ru tiếng hát, trong tình yêu thương. Mẹ và bà đã đến với em thơ trong sự khát khao, mong đợi. Và đó cũng là niềm vui hạnh phúc được sống trong tình yêu thương như khi “con gặp lại nhân dân”. Ý tưởng con gặp lại nhân dân được thể hiện một cách phong phú, đa dạng. Gặp lại nhân dân là được sống trong hạnh phúc, trong tình nghĩa thủy chung. Là được tiếp thêm sức sống, sức mạnh mà trở nên tươi tốt, sinh sôi, phát triển. Là được sống trong tình thương san sẻ, vỗ về, được thỏa nỗi chờ mong. Đoạn thơ trên thể hiện rõ bút pháp nghệ thuật của Chế Lan Viên: giàu tính triết lí và vẻ đẹp trí tuệ. Triết lí mà không khô khan, vì nhà thơ đã sáng tạo nên nhiều hình ảnh đẹp, mới lạ và ngôn ngữ sắc sảo. Ý tưởng đẹp, hồn thơ đẹp cứ quyện lấy lòng ta. Tư tưởng yêu nước và “thân dân ” được thể hiện cảm động đó đây trong thơ ca dân tộc từ mấy trăm năm trước. Nhưng sau Cách mạng tháng Tám, đặc biệt qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, tư tưởng vĩ đại ấy đã được một số nhà thơ như Tố Hữu, Xuân Diệu, Chế Lan Viên... nói lên một cách chân thành, thấm thía và sâu sắc hơn:       Con chim biết nhớ đàn nhớ tổ,      Ta nhớ người đau khổ nuôi ta Ơn người như mẹ như cha                 Lòng dân yêu Đảng như là yêu con... (Tố Hữu)                                       Tôi cùng xương thịt với nhân dân của tôi                                       Cùng đổ mồ hôi, cùng sôi giọt máu                                       Tôi sống với cuộc đời. chiến đấu                                       Của triệu người yêu dấu gian lao (Xuân Diệu) Đoạn thơ trên đây của Chế Lan Viên là một tiếng lòng được nâng lên thành một triết lí đẹp: Hạnh phúc khi được gặp lại nhân dân. Bốn câu thơ, câu nào cũng có hình ảnh đẹp, mới lạ biểu lộ một cá tính sáng tạo sắc sảo, tài hòa. Qua đó, ta mới thấm thía như một nhà thơ lớn phương Tây đã nói: “Câu thơ đẹp phải là câu thơ nói được một tình cảm đẹp”.  Trích: loigiaihay.com Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

3 Đọc thêm

CÁC BỆNH SINH SẢN GIA SÚC

CÁC BỆNH SINH SẢN GIA SÚC

Tài liệu trên đây cho người đọc hiểu biết thêm những kiến thúc về sinh sản gia súc,những giai đoạn sinh sản những bệnh thường gặp và hường điều trị cho gia súc.Tài liệu này nhằm mục đích thúc đẩy phát triển mạnh hơn nữa những kiến thức thú y cho cộng đồng những người yêu động vật

181 Đọc thêm

Cùng chủ đề