GIỌNG THƠ CỦA TÚ XƯƠNG VÀ NGUYỄN KHUYẾN

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "GIỌNG THƠ CỦA TÚ XƯƠNG VÀ NGUYỄN KHUYẾN":

Bình giảng bài thơ Thương Vợ của Tú Xương

BÌNH GIẢNG BÀI THƠ THƯƠNG VỢ CỦA TÚ XƯƠNG

Bài 1: Chúng ta đã từng biết đến một Khuê ai lục của Ngô Thì Sỹ khóc người vợ yêu qua đời giữa lúc đầu xanh tuổi trẻ, một Đoạn trường lục của Phạm Nguyễn Du thương tiếc người vợ đã khuất, những câu thơ dứt ruột của Tự Đức và trước Tú Xương một chút là câu đối khóc vợ chứa chan tình người của Nguyễn Khuyến. Các nhà thơ trung đại Việt Nam viết về vợ mình không nhiều, mà chủ yếu lại là văn tế và câu đối khóc người đã khuất. Chỉ có một số nhà thơ như Cao Bá Quát, Bùi Hữu Nghĩa, Phạm Văn Nghị là có viết về vợ mình ngay lúc đang sống. Nhưng viết nhiều nhất và hay nhất, mà lại là về một người vợ đang còn hiện hữu trên đời thì có lẽ Trần Tế Xương (1870 - 1907) là tác giả tiêu biểu hơn cả. Và nếu có làm văn tế thì cũng là Văn tế sống vợ (!),không phải để tiếc thương mà để cười thương ngợi ca người bạn đời của mình.k Tú Xương có rất nhiều khác biệt với các tác giả trước ông. Nhà thơ này của làng Vị Xuyên là con người của buổi giao thời, là dấu nối đầy ấn tượng giữa nền văn học trung đại ở giai đoạn cuối chiều nhưng lại kết tinh tinh hoa của hàng nghìn năm với nền văn học cận hiện đại đang bắt đầu có dấu hiệu hình thành với bao điều mới mẻ. Trên đầu Tú Xương không còn những áp lực nặng nề của tư tưởng và quan niệm chính thống khắt khe đã quy định các tác giả trước ông, trong ông nhiều giá trị của quá khứ đang từng bước sụp đổ và cái mới thì chưa kịp tới. Quan niệm của một nhà thơ trào phúng cũng giúp ông tiếp cận cuộc đời theo một kiểu khác, gần hơn, với một kiểu tư duy nghiêng về phân tích, mổ xẻ đối tượng, đưa vào trong thơ nhiều hình ảnh sống động hơn, quan niệm thẩm mỹ cũng biến đổi hướng về thực tại. Điều đó tạo cho ông những khoảng không sáng tạo quan trọng, giúp ông khác với truyền thống. Thơ Nôm Đường luật đến Tú Xương đã trải qua một thời gian phát triển khá dài, nó liên tục được cách tân từ thời Nguyễn Trãi, và tác giả Thương vợ chính là người đã đem đến cho thể loại văn học đã được Việt hóa cao độ này những phá cách mới mẻ giàu giá trị nghệ thuật. Đây là một bài thơ Nôm, viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, có kết cấu theo trình tự đề, thực, luận, kết, ông Tú viết để tặng người vợ tảo tần mưa nắng của mình. Trần Tế Xương chủ yếu là một nhà thơ trào phúngT, trào phúng chuyên nghiệp. Những bài thơ nghiêng về trữ tình như Sông Lấp, Áo bông che bạn, Thương vợ không nhiều, nhưng bài nào cũng xuất chúng. Thương vợ lại tiêu biểu cho sự hòa hợp giữa hai phẩm chất nghệ thuật nổi bật trong sáng tác của ông: trào phúng và trữ tình, trong đó trữ tình là chính, là cơ bản. Bà Tú là một đề tài khá quen thuộc trong thơ Tú Xương, hình ảnh bà đã đi vào sáng tác của ông trong các bài như: Đau mắt, Văn tế sống vợ, Tự cười mình, Hỏi mình... và Thương vợ. Những bài thơ này cho chúng ta thấy, bên cạnh một Tú Xươn trào phúng sắc sảo, ngang ngạnh, tinh quái, khác đời là một Tú Xương khác rất mực đằm thắm, biết tự hạ mình để làm đẹp người khác. Không phải lúc nào con người ấy cũng chế giễu, cười người, cay độc mà nhiều lúc ông vẫn để cho lòng mình sâu lắng lại và bật ra những bài thơ chứa chan tình cảm, giàu sự suy tư, dằn vặt. Thương vợ viết về bà Tú nhưng thực ra lại có sự song hành của cả hai hình tượng: hình tượng bà Tú được thể hiện một cách nổi bật trực tiếp và hình tượng ông Tú được khắc hoạ một cách gián tiếp nấp sau người vợ nhưng vẫn khá rõ nét. Thực chất Tú Xương viết thơ để ca ngợi vợ và muốn khắc hoạ hình qảnh một ông “chồng thừa” vô trách nhiệm chứ không hề có ý đề cao mình nhưng vô hình chung vẫn hiển hiện trong bài thơ một nhân cách cao đẹp của người chồng và từ đó là một quan niệm khác biệt về người vợ so với truyền thống. Tú Xương đã giới thiệu vợ mình một cách thân mật, gần gũi, hóm hỉnh nhưng ẩn chứa trong đó bao tình cảm và nỗi niềm dằn vặt, xót xa: Quanh năm buôn bán ở mom sông Câu thơ ngắn gọn đã phản ánh một cách cụ thể, chi tiết không gian, địa điểm và công việc làm ăn của bà Tú. Tên thật của bà là Phạm Thị Mẫn, quê ở Lương Đường, Hải Dương, nhưng sinh tại Nam Định. Bà chuyên buôn bán gạo ở bến sông để nuôi gia đình. Hai từ “quanh năm” nói lên được nỗi vất vả, tần tảo của bà Tú triền miên hết ngày này đến ngày khác, tháng này đến tháng khác, năm này đến năm khác... Vòng quay của thời gian vô tận đã cuốn bà vào cuộc vật lộn mưu sinh đầy vất vả. Cách tính thời gian như thế vừa nói được nỗi lo toan khó nhọc của bà Tú, lại vừa là cách ông Tú tỏ lòng biết ơn công lao tần tảo sớm hôm của vợ mình. Biện pháp tăng cấp ý được sử dụng để diễn tả sự vất vả, từ thời gian (quanh năm), nghề nghiệp (buôn thúng bán mẹt), cho đến không gian, địa điểm làm ăn: “mom sông”. Mom sông là một nơi chênh vênh, ba bề là nước, nó gợi lên sự nguy hiểm, bất trắc, vốn không phải là nơi dành để buôn bán bình thường. Bởi vậy hơn ai hết, Tú Xương hiểu rõ mục đích của nỗi vất vả đó nơi người vợ: Nuôi đủ năm con với một chồng Đôi quang gánh cuộc đời trên vai bà Tú thật quá nặng. Một mình bà phải nuôi đến sáu miệng ăn, đó là chưa kể đến chính bản thân mình. Tú Xương không tính bà vào thành phần phải “nuôi đủ” là chính đáng, do bà là người làm ra của cải cưu mang cả gia đình, nhưng cũng là một cách đề cao bà, ngầm xếp bà ra một thứ bậc khác. Đây là cách tính công, đề cao công lao của vợ một cách chi li, rất mực ân tình của Tú Xương. Mẹ nuôi con mà không có chồng giúp sức, tuy vất vả nhưng còn là chuyện thường tình, dẫu sao cũng là thiên chức của người phụ nữ. Điều lạ là cả đến ông Tú bà cũng phải nuôi. Quả thực đây là một sự vô lý, bất công khi gánh nặng gia đình dồn hết lên vai người vợ. Tú Xương đã tách ra làm hai cái gánh nặng ấy: năm con với một chồng, để thấy rõ cái công ơn của bà với gia đình và với riêng ông. Nhưng gánh nặng dường như nghiêng lệch, trĩu nặng hơn về một bên, phía một mình ông chồng vô tích sự nhưng lại đa sự nhiều hơn năm đứa con thơ, khiến câu thơ cũng như oằn hẳn về phía cuối. Cách kể công cho vợ như vậy thật là độc đáo, thật là Tú Xương. Nhà thơ đã tự hạ mình xuống mức thấp hơn cả lũ con, đứng riêng ra một bên, vì ông là một thứ chồng đặc biệt mà bà Tú phải nuôi riêng. Liên từ “với” nghe thật buồn, thật hài hước, thật hổ thẹn và thảm hại. “Nuôi đủ” ông không chỉ là đảm bảo những nhu cầu như một người bình thường mà còn là đủ thứ cao sang tốn kém, đủ cả mọi đòi hỏi sở thích ăn chơi đàn đúm của ông: Biết thuốc lá, biết chè tàu Cao lâu biệt vị, hồng lâu biết mùi. Nuôi một người ăn chơi phong lưu “ngựa xe chẳng có lúc nào ngơi”, nổi tiếng có “nòi tình”, lại còn suốt đời theo đòi thi cử công danh như vậy thật khác hẳn với việc nuôi con, và có lẽ còn tốn kém hơn cả năm đứa con thơ. Theo quan niệm truyền thống thì kẻ làm trai phải để chí ở công danh, sự nghiệp, thông qua con đường khoa cử làm quan, còn chuyện bếp núc gia đình thì phó mặc cho người phụ nữ. Đã có biết bao thầy đồ nghèo nhờ vợ tảo tần cơm áo mà thành danh. Xã hội ấy có biết bao “ông quan ăn lương vợ”, biết bao ông chồng ăm bám mà vẫn lên mặt hành hạ vợ con. Thói gia trưởng, sĩ diện khiến cho mấy ai dám hạ mình nói thẳng, nói thật cái hoàn cảnh ăn bám, vô tích sự của mình. Nhưng đã có một Tú Xương đầy dũng cảm dám vất bỏ cái nếp nghĩ cổ hủ đề cao người đàn ông, khinh rẻ người phụ nữ, dám bêu ra trước thiên hạ những kém cỏi, sĩ diện hão đó để tôn vinh công lao người vợ, để sống thật với những cảm xúc, suy nghĩ của chính mình. Sự khác đời, khác với với truyền thống của nhà thơ chính là ở chỗ đó. Những người khác cho đó là chuyện thường tình, chuyện tất yếu, còn Tú Xương nhận thức rõ ràng về sự thừa ra, vô lý của mình. Mặc cảm “con người thừa” là mặc cảm của thế hệ Tú Xương, đã rõ nét từ Nguyễn Khuyến (Ghế chéo, lọng xanh ngồi bảnh chọe / Tưởng rằng đồ thật hóa đồ chơi; Nghĩ mình cũng gớm cho mình nhỉ / Thế cũng bia xanh, cũng bảng vàng), nhưng lại càng rõ nét hơn, hiện thực hóa hơn ở nhà thơ thành Nam, ông đã đẩy “con người thừa” thành con người nhỏ bé thảm hại và không ngần ngại phủ định mình, tầm thường hóa bản thân mình ở mức thấp nhất. Trước ông chưa có một nhà thơ nào vượt qua nổi ý thức tự trọng của một nhà nho để bày ra trước mọi người những hạn chế của mình. Nhưng đó dường như không phải chủ đích của ông. Điều ông muốn thể hiện khi dám vất bỏ cái sĩ diện hão của kẻ “dài lưng tốn vải ăn no lại nằm” chính là xuất phát từ lòng tri ân với người vợ đã hết lòng vì ông, biết đền bù lại bằng cái tình, bằng tấm lòng trân trọng, biết ơn nỗi vất vả mệt nhọc của bà. Nói lên được điều đó đối với một người chồng trong một xã hội coi thường người phụ nữ thật không phải điều dễ dàng. Tấm lòng ấy thật đáng yêu, đáng trân trọng biết bao! Câu thơ tả thực chất chứa ý vị tự trào mà lại cay đắng, xót xa, cười ra nước mắt. Vẻ đẹp của người vợ càng được biểu hiện một cách cụ thể qua những chật vật, bon chen trong cảnh làm ăn vất vả, tội nghiệp hàng ngày: Lặn lội thân cò khi quãng vắng Eo sèo mặt nước buổi đò đông. Các nhà nghiên cứu đã nói về việc Tú Xương đã mượn hình ảnh con cò trong ca dao xưa để nói về nỗi vất vả đơn chiếc và sự chịu thương, chịu khó, hi sinh thầm lặng của bà Tú: Con cò lặn lội bờ sông Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non... So với ca dao, câu thơ của Tú Xương có nhiều cái mới. Cái mới thứ nhất là việc đưa động từ “lặn lội” lên đầu câu, khiến câu thơ trở nên có sức nặng hơn khi khắc sâu nỗi vất vả đơn chiếc của bà Tú giữa cái rợn ngợp của không gian. Cái mới thứ hai, cũng là sáng tạo mang tính chất thời đại, là sự tiếp tục của chủ nghĩa nhân đạo vì con người và phát hiện ra con người của văn học thế kỷ XVIII - XIX, khi nhà thơ chuyển từ “con cò” trong ca dao thành “thân cò” để chỉ cả một kiếp người, nhấn mạnh đến thân phận người phụ nữ. Chữ “thân” luôn gợi cảm giác nhỏ bé tội nghiệp, bơ vơ chịu đựng. Nữ sĩ Xuân Hương khi xưa đã từng ngậm ngùi viết: Thân em vừa trắng lại vừa tròn Bảy nổi ba chìm với nước non. Ở người phụ nữ xưa, “thân” luôn gắn với “phận”, chính vì vậy mà thi hào Nguyễn Du đã bao lần phải thốt lên: Đau đớn thay phận đàn bà Và nàng Kiều của ông trong những tháng ngày nhơ nhuốc đã phải tạm cúi đầu chấp nhận số phận: Thân lươn bao quản lấm đầu Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa. Những vấn đề xã hội về thân phận con người đến Tú Xương đã trở nên gần gũi hơn khi nhà thơ nhận thấy điều đó hiện hữu ngay trong những người thân của mình và ám ảnh trong chính bản thân mình, một kẻ lỡ thời vô tích sự. Điều thứ ba là nếu trong ca dao mới chỉ có cái heo hút của không gian thì “thân cò” trong thơ Tú Xương còn ở giữa sự rợn ngợp của thời gian. “Khi quãng vắng” khác với “nơi quãng vắng”, “ở quãng vắng”, nó diễn tả được cả cảm giác đơn lẻ đầy hiểm nguy về không gian và nỗi khắc khoải côi cút về thời gian của sự vất vả, tảo tần. Ta như thấy đằng sau mỗi câu chữ là ánh mắt lo âu đầy ăn năn tự vấn của người chồng đang dõi theo bóng dáng lẻ loi, lam lũ của người vợ trên con đường gập gềnh sương gió, giữa thời buổi của sự bon chen và tình đời bạc bẽo: Eo sèo mặt nước buổi đò đông. Đó thực sự là cuộc chiến âm thầm và dai dẳng giữa kì kèo, đôi co, chen chúc, bất chấp cảnh “đò đầy” để giành giật miếng cơm manh áo cho con, để đổi lại sự thong dong nhàn nhã cho chồng. Chuyến đò đầy gian nan nguy hiểm đó giống như chính cuộc đời đầy vất vả của bà Tú vậy: biết đò đã đầy, chất chứa bao hiểm nguy, văng vẳng bên tai lời mẹ dặn “đò đầy chớ qua” mà vẫn cứ phải dấn thân, phải bước tới, phải vật lộn. Hai từ láy “lặn lội”, rồi “eo sèo” được đảo lên đầu câu càng như nhấn mạnh thêm nỗi cực nhọc, lam lũ trong bươn trải kiếm sống của người phụ nữ này. Phải nói rằng, nghệ thuật bình đối trong hai câu thực đã góp phần quan trọng vào việc dựng lại chân dung con người cả về thể chất lẫn tinh thần và công cuộc làm ăn kiếm sống không một phút ngơi nghỉ trong mọi bối cảnh gian khó của bà Tú. Hai câu thơ cũng dựng lại không khí và khung cảnh buôn bán của thành Nam một thời. Thơ thất ngôn bát cú có kết cấu chặt chẽ nhưng nghệ thuật bình đối và việc chọn lọc từ ngữ tinh giản đã giúp cho những hình ảnh được xây dựng từ đây có sức gợi tả nổi bật. Tài năng của Tú Xương là ở chỗ đã đưa được vào trong thể thơ gò bó này rất nhiều chi tiết chân thực và sinh động từ cuộc sống một cách rất tự nhiên. Việc tận dụng một cách triệt để những thế mạnh của thể thơ đã khiến cho mỗi từ ngữ, mỗi hình ảnh đều trở nên chói sáng mà nhịp thơ vẫn phát triển hài hòa, nhịp nhàng. Tinh hoa của một thể thơ phát triển và dân tộc hóa đã gần một nghìn năm được kết tinh lại trong một con người, trong một bài thơ. Thương vợ chính là dấu nối giữa hai thế kỷ thơ Việt, nối truyền thống với hiện đại. Nếu ở hai câu đề và hai câu thực, nhà thơ còn đứng ngoài để miêu tả, thì đến hai câu luận Tú Xương đã nhập thân vào nhân vật để diễn tả một cách chân tình nỗi niềm sâu kín của bà Tú. Người chồng đầy tình nghĩa này đã phân thân ở nhiều điểm nhìn khác nhau để nhìn cho thấu, cho hết công lao thầm lặng của người vợ: Một duyên hai nợ âu đành phận Năm nắng mười mưa dám quản công. Ông bà lấy nhau đã có tới năm mặt con kể ra cũng là một mối lương duyên “trời” ban. Ông Tú lại lại là người có tài có tình. Bà đã từng khen thơ ông “Chẳng hay sao lại đỗ ngay tú tài” và đôi lúc cũng được “nở mặt nở mày” với đời vì ông. Nhung duyên thì có một mà nợ lại những hai. Niềm cay cú của ông đối với việc thi cử và kéo theo đó là cái nghèo đeo đuổi đã khiến bà phải lăn lộn kiếm sống. Thêm vào đó ông lại là một kẻ khác đời, dở người và những “thói hư, tật xấu” cứ theo đuổi ông suốt cuộc đời. Nói đến “nợ” là nói đến sự đau khổ, xui xẻo phải gánh chịu. Ông Tú tự nhận mình là cái “nợ” của đời bà, ông thương cảm cho bà và tự dằn vặt mình. “Âu” là cam, “đành” cũng là cam, hai lần cam chịu. “Âu đành phận” giống như một cái gật đầu nhẫn nhục chịu đựng, cái nợ đời như một sự tất yếu không thể không chấp nhận. Điều kỳ diệu là người mẹ, người vợ đó không hề ý thức rằng đó là sự hy sinh. Như bao người phụ nữ Việt Nam khác, bà làm mọi việc một cách tự nhiên, nhi nhiên, âm thầm, không hề đòi hỏi, oán trách. Dám quản công vừa là thái độ không hề ngần ngại, lại vừa chứa đựng cả cái ý khiêm nhường, không muốn nhắc đến sự khó nhọc của mình. Cách nói cam chịu số phận là cách ông Tú cảm thương thay cho vợ chứ bà đâu có tính đếm công lao của mình. Hình tượng bà Tú như càng trở nên vị tha, nhân hậu hơn qua mỗi dòng thơ. Tú Xương cũng rất có tài dùng số từ để làm tăng giá trị của hình ảnh, câu chữ. Lúc đầu là số cộng (năm con với một chồng) nhưng số cộng này khá đặc biệt ở chỗ: cộng thêm một cách có lợi cho vợ bằng cách trừ đi (kể ra) những cái vô tích sự của chồng. Cái cộng đó tưởng như là “thừa” ra mà thực chất là thêm vào. Tiếp theo là sự nhân đôi (một duyên hai nợ, năm nắng mười mưa) cũng là những phép toán nhấn mạnh sự thiệt thòi, vất vả và công lao không thể nói hết bằng lời của bà Tú. Ngôn ngữ lời nói, thành ngữ dân gian được vận dụng linh hoạt, tự nhiên khiến cho những tính toán đó không hề gây ấn tượng là những con số thuần túy. Ở sáu câu thơ đầu, Tú Xương đã khắc họa hình ảnh người vợ trong vất vả gian lao vẫn sáng ngời những phẩm chất tốt đẹp và đức hy sinh, nhẫn nại thầm lặng của người phụ nữ Việt Nam. Và thấp thoáng đằng sau đó là hình ảnh của người chồng với sự cảm thông và trân trọng ân tình của vợ. Nhưng phải đến hai câu thơ cuối, hình ảnh người chồng mới thực sự hiện ra và vẫn là để nói hộ vợ mình. Nhà thơ đã tự trách mình, tự dằn vặt mình đến nghiệt ngã: Cha mẹ thói đời ăn ở bạc Có chồng hờ hững cũng như không. Câu thơ buột ra tự nhiên như một tiếng chửi nhưng lại ngậm ngùi như một lời than, vẫn có sắc thái vui đùa chứa đựng ý tình sâu sắc, cảm động. Tú Xương mượn lời vợ tự trách mình và qua đó một lần nữa bộc lộ sự cảm thông với hoàn cảnh của bà. Đằng sau tiếng chửi ấy là bi kịch của một con người chất chứa bao phẫn uất, đau xót và tê tái, là nỗi hổ thẹn và tình thương yêu vô bờ... Ông tự chửi thói sĩ diện kiểu thầy đồ nghèo ăn bám vợ của mình, thói gia trưởng chỉ biết ngồi than vãn sự đời, phó mặc tất cả cho người phụ nữ, thực chất trở thành gánh nặng cho vợ cho con. Rõ ràng ở đây đã thể hiện sự thức nhận của một con người biết vượt lên khỏi cái hạn chế của tầng lớp và thời đại mình để cảm thông với những kiếp người quanh mình. Vì vậy lời chửi ấy không chỉ để dành trách mình mà còn để chửi đời, chửi cả cái xã hội lố lăng, giả dối đã sản sinh ra cái thứ chồng hờ hững... Chính cái xã hội thực dân nửa phong kiến ấy đã đẻ ra thói đời bạc bẽo, những kẻ hợm hĩnh sống trên lưng người khác, xã hội ấy đã đẩy một Trần Tế Xương tài hoa xuất chúng vào bước đường cùng, khiến người vợ vốn “ung dung, tính hạnh khoan hòa”, “con gái nhà dòng” của ông phải cực khổ, vất vả. Ý nghĩa tố cáo xã hội trở nên nổi bật ở câu kết bài thơ và man mác trong toàn bài, nóng hổi hơi thở thời đại. Lời chửi cuối bài thơ như càng khẳng định thêm tình cảm của ông Tú đối với bà Tú. Người chồng ấy tuy ăn bám vợ con nhưng thực chất không hề “ăn ở bạc”, không hề “hờ hững”, mà ngược lại dù bất lực trước hoàn cảnh nhưng vẫn luôn dõi theo, cảm thông, sẻ chia, biết ơn. Thương vợ mà cũng chính là thương hại cho chính bản thân mình. Bài thơ kết thúc thật độc đáo và bất ngờ, vừa thấm đẫm cái bi, cái bất hạnh, lại cay đắng cái hài hước, cái cười nuốt nước mắt vào trong. Bao nhiêu là cung bậc tình cảm của cuộc đời hiển hiện trong những câu thơ giản dị, khiêm nhường, tự nhiên ấy. Dù vất vả nắng mưa nhưng bà Tú ấy vẫn luôn cảm thấy hạnh phúc vì được sống giữa tình thương yêu, trìu mến, vì có một người chồng đầy nhân cách, hiểu mình, cảm thông nỗi vất vả của mình như ông Tú. Bà đã được cả nước biết đến qua bài thơ của ông, trở thành biểu tượng cho sự chắt chiu, chịu khó, hết lòng vì chồng con của người phụ nữ Việt Nam. Hình ảnh bà Tú vất vả, tảo tần với đôi quang gánh trĩu nặng trên vai, chiếc nón cũ đội đầu, chiếc áo nâu chùng tứ thân bốn mùa không đổi, thoăn thoắt gấp gáp bước đi giữa không gian và thời gian vô định chính là hình ảnh của đất nước trong những tháng năm đói nghèo nô lệ. Bài 2: Bài 3
Xem thêm

4 Đọc thêm

GIỮA NGUYỄN KHUYẾN VÀ TRẦN TẾ XƯƠNG CÓ NỖI NIỀM TÂM SỰ GIỐNG NHAU NHƯNG GIỌNG THƠ TRÀO LỘNG, CHÂM BIẾM LẠI CÓ NHỮNG NÉT KHÁC NHAU NHƯ THẾ NÀO? HÃY LÀM RÕ Ý KIẾN CỦA ANH (CHỊ)

GIỮA NGUYỄN KHUYẾN VÀ TRẦN TẾ XƯƠNG CÓ NỖI NIỀM TÂM SỰ GIỐNG NHAU NHƯNG GIỌNG THƠ TRÀO LỘNG, CHÂM BIẾM LẠI CÓ NHỮNG NÉT KHÁC NHAU NHƯ THẾ NÀO? HÃY LÀM RÕ Ý KIẾN CỦA ANH (CHỊ)

Giữa Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương có nỗi niềm tâm sự giống nhau nhưng giọng thơ trào lộng, châm biếm lại có những nét khác nhau như thế nào? Hãy làm rõ ý kiến của anh (chị) -------- Nguyễn Khuyến (1835 11909), Trần Tế Xương (1870 – 1907) là hai nhà thơ trào phúng nổi tiếng của đất Hà Nam, Nam Định. Tuy chênh lệch khá nhiều về tuổi tác, về đường công danh nhưng hai ông có một số điểm gần gũi trong cách nhìn nhận và đánh giá thời cuộc và cả hai đã dùng tiếng cười châm biếm, trào lộng trong thơ ca để phơi bày bản chất nhố nhăng, suy đồi của cái xã hội thực dân, phong kiến dở Tây dở ta thuở ấy. Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, thực dân Pháp đã bình định xong Đông Dương về mặt quân sự và bắt đầu triển khai kế hoạch bình định trên các lĩnh vực khác như chính trị, kinh tế, văn hoá… Trường học được mở ở khắp nơi để dạy tiếng Pháp và đào tạo ra thế hệ quan lại bản xứ tay sai thân Pháp. Sự bành trướng nhanh chóng của nền giáo dục thực dân đã đẩy lùi nền giáo dục truyền thống dựa trên nền tảng đạo Nho có từ lâu đời ở nước ta. Nho học tàn dần, phần lớn tầng lớp trí thức vội vã “Quẳng bút lông đi giắt bút chì” để mong nhận được chức thầy thông, thầy phán trong các công sở của chính quyền bảo hộ, đặng hưởng cuộc sống “Sáng rượu sâm banh, tối sữa bò”, khác xa với cuộc sống lầm than của cả dân tộc dưới ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp. Là một bậc đại khoa đã từng làm quan hơn mười năm trong triều đình nhà Nguyễn với nhiều chức vụ khác nhau, Nguyễn Khuyến hiểu sâu sắc tình thế nước nhà lúc bấy giờ. Từ vua tới quan chỉ là những con rối trong tay chính quyền thực dân, hoàn toàn chịu sự chi phối và điều khiển của chúng. Xót xa và thấm thía nỗi nhục quốc thể, nhà thơ đã mượn lời than thở của vợ người hát chèo để nói lên thực trạng đau lòng ấy: Vua chèo còn chẳng ra gì, Quan chèo vai nhọ khác chi thằng hề. (Lời vợ người hát chèo) Theo bước chân của đạo quân xâm lược phương Tây, yếu tố tư bản chủ nghĩa cũng tràn vào nước ta, làm thay đổi diện mạo của xã hội phong kiến đã định hình hàng ngàn năm. Nền tảng tư tưởng, nền tảng đạo đức truyền thống lung lay dữ dội. Nhiều giá trị cơ bản bị đảo lộn, đồng tiền được tôn lên vị trí thống soái, chi phối toàn bộ cuộc sống của con người. Chính vì thế mới có những cảnh cười ra nước mắt trong hội Tây do thực dân Pháp tổ chức mà người bản xứ tham gia các trò chơi tỏ ra vui vẻ đến vô tâm trước nỗi nhục nô lệ: Kìa hội thăng bình tiếng pháo reo, Bao nhiêu cờ kéo với đèn treo. Bà quan tênh nghếch xem bơi trải, Thằng bé lom khom nghé hát chèo. Cậy sức cây đu nhiều chị nhún, Tham tiền cột mỡ lắm anh leo. Khen ai khéo vẽ cho vui thế, Vui thế bao nhiêu nhục bấy nhiêu! (Hội Tây) Tiếng cười của Nguyễn Khuyến là tiếng cười của lương tâm, của ý thức liêm sỉ nên thâm thuý và thấm đượm nước mắt. Không chỉ cười những hiện tượng đáng cười trong cuộc sống đương thời, nhà thơ còn dám nhìn sâu vào bên trong con người mình để tự trào: Cũng chẳng giàu mà cũng chẳng sang, Chẳng gầy chẳng béo, chỉ làng nhàng. Cờ đương dở cuộc không còn nước, Bạc chửa thầu canh đã chạy làng. Mở miệng nói ra gàn bát sách, Mềm mồi chén mãi tít cung thang. Nghĩ mình lại gớm cho mình nhị Thế cũng bia xanh, cũng bảng vàng! (Tự trào) Đúng là chân dung của một con người dở dang mọi nhẽ, công chẳng thành mà danh chẳng toại, thật đáng buồn, đáng chán. Ngẫm người rồi ngẫm đến ta, nhiểu lúc cụ Tam Nguyên Yên Đổ cũng chế giễu mình bằng nụ cười nhếch mép đầy xót xa, cay đắng. Cụ ngầm so sánh những bậc đại khoa có tiếng tăm giống như mình nhưng cũng đành xuôi tay bất lực trước thời thế đảo điên thì chẳng khác gì mấy ông phỗng đá vô hồn. Nhà thơ Trần Tế xương nhìn đời với đôi mắt bất bình của kẻ sinh bất phùng thời nên đâu đâu cũng thấy những cảnh chướng tai gai mắt: Nhà kia lỗi đạo con khinh bố, Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng. Vì tiền mà các cô gái tơ sẵn sàng chấp nhận thân phận làm vợ bé các thầy ký, thầy phán để rồi phải lãnh chịu kết cục thảm thương: Cô Kí sao mà đã chết ngay? Ô hay, Trời chẳng nể ông Tây. Gái tơ đi lấy làm hai họ, Năm mới vừa sang được một ngày. Hàng phố điếu bằng câu đối đỏ, Ông chồng thương đến cái xe tay. Gớm thay cho các cô con gái, Mà vẫn đua nhau lấy các thầy! (Mồng ba Tết viếng cô Kí) Vì tiền nên mới diễn ra những cảnh huống lố bịch, nhố nhăng khiến nhà thơ Tú Xương tức giận phải bật lên tiếng chửi phũ phàng: Lẳng lặng mà nghe nó chúc giàu, Trăm nghìn vạn mớ để vào đậu. Phen này ắt hẳn gà ăn bạc, Đồng rụng đồng rơi lọ phải cầu. Lẳng lặng, mà nghe nó chúc sang, Đứa thời bán tước đứa mua quan, Phen này ông quyết đi buôn lọng, Vừa chùi vừa rao cũng đắt hàng. (Năm mới chúc nhau) Hiện tượng bỏ tiền ra để mua quan bán tước, mua chuộc, hối lộ hòng kiếm lấy một chức vị hay một mảnh bằng nào đó đã trở nên khá phổ biến trong cái xã hội bát nháo, kỉ cương rối loạn. Học giỏi như Tú xương nhưng cứ trượt hoài vì Tám khoa không khỏi phạm trường quy, trong khi đó một số tên công tử con nhà giàu ham chơi học dốt thì lại đỗ. Bất bình, nhà thơ văng tục: Cử nhân cậu ấm Kỉ, Tú tài con Đô Mĩ. Thi thế mà cũng thi, Ối khỉ ơi là khỉ! Còn cái loại đậu lạy, quan xin thì nhan nhản khắp nơi. Điềm tĩnh, chín chắn như Nguyễn Khuyến mà cũng phải chua chát nhận xét về đám người này qua bài thơ Tiến sĩ giấy: Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai, Cũng gọi ông nghè có kém ai. Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng, Nét son điểm rõ mặt văn khôi. Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ, Cái giá khoa danh ấy mới hời. Ghế chéo, lọng xanh ngồi bảnh choẹ, Tưởng rằng đồ thật hoá đồ chơi! Sống trong cái xã hội bị ma lực đồng tiền chi phối và khuynh đảo ghê gớm như vậy thì những người luôn đề cao phẩm giá như Nguyễn Khuyến, Tú Xương chỉ có cách duy nhất là giữ gìn khí tiết trong sạch, xa lánh cõi đời thật giả, vàng thau lẫn lộn. Đêm giao thừa, nghe tiếng pháo nổ mừng năm mới của những kẻ lắm của nhiều tiền, thi sĩ nghèo Tú Xương suy ngẫm rồi cám cảnh thốt lên hai câu thơ châm biếm sâu cay: Thiên hạ xác rồi còn đốt pháo, Nhân tình trắng thế lại bôi vôi. Tiếng cười trào lộng ở đây không vang lên hả hê, khoái trá mà chứa đựng một nỗi đau, nỗi hận và day dứt khôn nguôi. Sự nhố nhăng không chỉ hiện diện ở ngoài đời mà nó còn lan tràn cả vào chốn tôn nghiêm của cửa Khổng sân Trinh, biến các khoa thi Hán học thành chợ trời nhốn nháo. Tú Xương cười nhạo cảnh: Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt, Dưới sân ông cử ngỏng đầu rồng và cũng khóc thầm trước quang cảnh lố lăng của một kì thi Hương ở Nam Định vào giai đoạn Nho giáo đã suy tàn: Nhà nước ba năm mở một khoa, Trường Nam thi lẫn với trường Hà. Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ , Ậm oẹ quan trường miệng thét loa. Cờ cắm rợp trời quan sứ đến, Vảy lê quét đất mụ đầm ra. Nhân tài đất Bắc nào ai đó? Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà! (Vịnh khoa thi Hương) Rõ ràng cùng là tiếng cười trào lộng đả kích, phê phán những hiện tượng xấu xa, tiêu cực trong xã hội thực dân phong kiến cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, nhưng đặc điểm tiếng cười của Nguyễn Khuyến khác với Tú xương. Tiếng cười Nguyễn Khuyến nhẹ nhàng, thâm thuý; còn tiếng cười Tú Xương mạnh như những làn roi quất thẳng vào mặt cái xã hội điêu trá ấy. Chừng nào cái ác, cái xấu còn tồn tại thì tiếng cười đầy ý nghĩa của hai nhà thơ nổi tiếng trên vẫn còn nguyên giá trị.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Tác giả Trần Tế Xương

TÁC GIẢ TRẦN TẾ XƯƠNG

I.CUỘC ÐỜI, THỜI ÐẠI VÀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC: 1.Cuộc đời: Trần Tế Xương tên thật là Trần Duy Uyên, quen gọi là Tú Xương, tự là Mặc Trai, hiệu là Mộng Tích Trần Tế Xương tên thật là Trần Duy Uyên, quen gọi là Tú Xương, tự là Mặc Trai, hiệu là Mộng Tích, đến khi thi Hương mới lấy tên là Trần Tế Xương. Ông sinh ngày 10-8-1871 tại lànVị Xuyên, huyện Mỹ Lộc, Nam Ðịnh và mất ngày 20-1-1907 ở làng Ðịa Tứ cùng huyện.  Tú Xương là một người rất thông minh, tính tình thích trào lộng. Có nhiều giai thoại kể về cá tính của ông.  Cuộc đời Tú Xương lận đận về thi cử. Tám khoa đều hỏng nên dấu ấn thi rớt in đậm nét trong tiềm thức Tú Xương.  Ông cưới vợ rất sớm. Phạm Thị Mẫn từ một cô gái quê Con gái nhà dòng, lấy chồng kẻ chợ. Tiếng có miếng không, gặp hay chăng chớ trở thành bà Tú tần tảo một nắng hai sương Quanh năm buôn bán ở mom sông. Nuôi đủ năm con với một chồng. Ông Tú vẫn có thể có tiền để ăn chơi nhưng gia cảnh nghèo túng, việc nhà trông cậy vào một tay bà Tú.  Có thể nói, việc hỏng thi và cảnh nghèo của gia đình là nguồn đề tài phong phú trong sáng tác của Tú Xương.   Cuộc đời ông nằm gọn trong giai đoạn nước mất, nhà tan.  Năm Tú Xương ba tuổi (1873) Pháp đánh Hà Nội lần thứ nhất rồi tấn công Nam Ðịnh.  Năm mười bốn tuổi (1884) triều đình ký hàng ước dâng đất nước ta cho giặc.  Tuổi thơ của Tú Xương trôi qua trong những ngày đen tối và ký ức về những cuộc chiến đấu của các phong trào khởi nghĩa chống Pháp cũng mờ dần. Nhất là sau cuộc khởi nghĩa của Phan Ðình Phùng (1896) bị thất bại thì phong trào đấu tranh chống Pháp dường như tắt hẳn.  Năm 1897, Pháp đặt nền móng cai trị đất nước, xã hội có nhiều biến động, nhất là ở thành thị. Tú Xương lại sinh ra và lớn lên ở thành thị vào thời kỳ chế độ thực dân nửa phong kiến được xác lập, nền kinh tế tư bản phát triển ở một nước thuộc địa làm đảo lộn trật tự xã hội, đảo lộn đời sống tinh thần của nhân dân. Nhà thơ đã ghi lại rất sinh động, trung thành bức tranh xã hội buổi giao thời ấy và thể hiện tâm trạng của mình.  Có thể nói, đứng trước sự tha hoá của xã hội nên nguyên tắc Tam cương ngũ thường của Tú Xương không đậm như Nguyễn Khuyến và càng xa rời Ðồ Chiểu.  3. Tác phẩm:    Tú Xương mất sớm, ông chua đi trọn con đường sáng tác của mình. Nhưng những tác phẩm Tú Xương để lại có tác dụng như một bản cáo trạng đanh thép lên án xã hội thực dân nửa phong kiến trong giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX.  Tú Xương sáng tác rất nhiều và thất lạc cũng nhiều. Ông viết khoảng 151 bài thơ bằng chữ Nôm với đủ các thể loại. Ngoài ra, ông có dịch một số thơ Ðường.  II.NỘI DUNG THƠ VĂN TRẦN TẾ XƯƠNG: 1.Thơ Tú Xương là một bức tranh nhiều vẻ, sinh động về một xã hội thực dân nửa phong kiến:    Trong thơ ông có hình bóng con người và sinh hoạt của xã hội phong kiến cũ đã bị thực dân hóa, và có hình bóng những vật mới, những sinh hoạt mới – sản phẩm của xã hội thực dân nửa phong kiến. Thơ Tú Xương là tiếng nói đả kích, châm biếm sâu sắc và dữ dội vào các đối tượng mà ông căm ghét.  1.1.Ðả kích bọn thực dân Pháp:  Ðốái với thực dân Pháp, tuy chua phải là đối tượng chính để tập trung phê phán nhưng ta vẫn bắt gặp bóng dáng những tên thực dân xuất hiện với dáng vẻ rất buồn cười. Ðó là hình ảnh những ông Tây, bà Ðầm rất nghênh ngang lố bịch (Vịnh khoa thi Hương năm Ðinh Dậu). Với ngòi bút châm biếm sắc sảo, Tú Xương đả kích chúng không khoang nhượng, vạch trần thói gian ác, bần tiện, thủ đoạn kiếm ăn dơ bẩn của chúng bằng bút pháp trào phúng sâu sắc (Ông Cò).  1.2.Ðối với bọn quan lại, tay sai:  Ðề tài này thật ra không có gì mới mẻ so với trước, nhưng cái mới ở đây là bút pháp của Tú Xương có cá tính và mang nét cảm hứng thời sự.  Dưới ngòi bút của ông, hình ảnh bọn quan lại hiện lên rất phong phú đa dạng. Ðó là những lũ bất tài, dốt nát (Bác Cử Nhu); chúng không khác chi những tên hề (Hát bội). Ông phê phán trò gian lận, hối lộ, bòn rút của dân không nghĩ gì đến trách nhiệm (Ðùa ông Phủ).  Ông còn vạch trần bản chất làm tay sai của những tên quan lại lúc bấy giờ (Cô hầu gửi quan lớn).  Từ đó thấy được thái độ phẫn uất của Tú Xương trước thực trạng xã hội và ông đã dùng ngòi bút của mình để lên án, phê phán những con người, những hiện tượng trái tai, gai mắt.  Nhà thơ đã dựng lại chân dung của bọn quan lại, mỗi người mỗi vẻ nhưng đều rất sắc cạnh, cụ thể. Một tên quan huyện Mình trung đâu đấy trách người trinh, một ông Aám Chạy lăng quăng, ấm chẳng ngồi, ông Ðốc cờ bạc ăn chơi rặt một màu, ông Cử Sách như hủ nút, chữ như mù, một cô Bố Chồng chung, vợ chạ, một chú Hàn thì Ðậu lạy, quan xin… và cả một xã hội lố lăng, rởm đời với quý vị phu nhân, các cậu ấm tử, sư sãi… cũng được Tú Xương tái hiện, sinh động, cụ thể:  Hai cậu con con đóng vai ấm tử, lỗi bếp bồi cậu cũng như nhau. Ðôi đức bà lên mặt phu nhân, ngón đĩ thỏa bà nào cũng nhất. Nhất tắc mộ sư mô chi cực, nay chùa này, mai chùa khác, mở lòng từ tô tượng, đúc chuông. Nhất tắc ham chài lái chi khu, lên mành nọ xuống mành kia, che miệng thế đong dầu rót mật (Khai lý lịch)  1.3.Ðối với khoa cử, nho học:  Trong bức tranh xã hội của Tú Xương còn có những nho sĩ đi thi, những ông Nghè, ông Cống; có hình ảnh của trường thi, của một nền nho học đang xuống dốc trầm trọng. Thời Tú Xương không còn tìm thấy hình ảnh uy nghi, trang trọng của một trường thi chữ Hán xưa kia nữa mà nó đang lùi dần trước uy thế của kẻ thù.  Ông phản ánh thực trạng nho học suy đồi bằng tiếng thở dài áo não (Than đạo học). Ông còn chế giễu những người kéo nhau đi thi ở những trường lớp mới mở của thực dân (Ðổi thi).  Trong buổi lễ xứng danh khoa Ðinh Dậu, nhà thơ đã vẽ ra trước mắt người đọc bức tranh về cảnh trường thi cảnh ngao ngán của sĩ tử trước thực trạng nước mất, nhà tan, sĩ khí tiêu điều, bút lông hết được săn đón Vứt bút lộng đi giắt bút chì. Ðó là hình ảnh:  Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ Ậm oẹ quan trường miệng thét loa. Lọng cắm rợp trời quan sứ đến, Váy lê quét đất mụ đầm ra  Cái tàn tạ của nho học được Nguyễn Bính ghi lại: Mực tàu giấy bản là đây Nước non đi hết những người áo xanh Lỡ duyên bút tóc củ hành Trường thi Nam Ðịnh biến thành trường bay.  Tú Xương than thở cho số phận của một ông Nghè, ông Cống và giễu cả những ông Phán: Nào có gì lạ cái chữ nho Ông nghè, ông cống cũng nằm co Sao bằng đi học làm ông Phán. Tối rượu sâm banh, sáng sữa bò (Chữ nho)  1.4. Phê phán thế lực đồng tiền:  Trước Tú Xương, nhiều tác giả Việt Nam cũng như nừơc ngoài đã lên án sức mạnh đồng tiền. Nó chi phối tư tưởng và hành động của con người. Ðến thời Tú Xương, đồng tiền lại một lần nữa gây đảo điên xã hội nhất là ở thành thị. Nó làm cho đạo đức suy đồi từ trong gia đình cho đến ngoài xã hội.  Tú Xương đã mắng nhiếc cái xã hội đã hỗn loạn lên vì đồng tiền (Ðất Vị hoàng, Vị Hoàng hoài cổ)  Có thể thấy bức tranh xã hội của Tú Xương bị tha hóa đến trầm trọng. Nào là cảnh:  Ở phố Hàng Song thật lắm quan Thành thì đen kịt, độc thì lang Chồng chung vợ cha kìa cô Bố Ðậu lại quan xin nọ chú Hàn ( Phố Hàng song)  Vì đồng tiền, con người lường gạt nhau để sống, đối xử với nhau không ra gì. Tình nghĩa cha con, vợ chồng, tình yêu, tình bè bạn . . . đều bị chà đạp bởi thế lực của đồng tiền. Bài thơ Mùng hai tết viếng cô Ký, Ðể vợ chơi nhăng đã phê phán thói đời thật đáng sợ. Ông chồng khóc vợ chết chỉ vì thương cái xe tay. Còn vợ đối với chồng thì Trăm năm tuổi lại trăm thằng  Ngòi bút Tú Xương đã khái quát bức tranh hiện thực sinh động về một xã hội lố lăng, rởm đời, có những cảnh khá nực cười, những cảnh chướng tai, gai mắt cứ nhan nhản xuất hiện trong thơ Tú Xương ( Năm mới, Thói đời, Chữ nho):  Khăn là bác nọ lo tày rế, Váy lĩnh cô kia quét sạch hè. Công đức tu hành sư có lọng, Xu hào xủng xoảng mán ngồi xe. ( Năm mới)  Hay cảnh nực cười khác: Chí cha chí chát khua giày dép, Ðen thủi đen thui cũng lụa là.  1.5 Lên án những thói hư tật xấu của thời đại:  Phê phán những người hành đạo mà lòng dạ xấu xa và hành vi bẩn thỉu như cảnh sư sãi vụng trộm trong chùa, sư cho vay nặng lãi, sư chứa của gian đến nỗi phải ở tù (Sư ở từ, Ông sư và mấy ả lên đồng)  Ông còn lên án thói đồng bóng, cho đồng bóng là trò mê tín giả dối không thể chịu được: Ðồng giỏi sao đồng không giúp nước Hay là đồng sợ súng thần công.  Phê phán những phong tục xa hoa, phù phiếm trong ngày tết ý tứ mỉa mai trước thực trạng nước mất, nhà tan (Thói đời), vạch trần những tâm lý giả dối, sáo rỗng của con người trong ngày tết bằng lời lẽ châm biếm sắc sảo. Bài thơ Chúc tết đã chế giễu độc địa và sâu sắc: Lẵng lặng mà nghe nó chúc nhau Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu. Phen này ông quyết đi buôn cối, Thiên hạ bao nhiêu đứa giả trầu.   Nó lại chúc nhau cái sự sang! Ðứa thời mua tước đứa mua quan. Phen này ông quyết đi buôn lọng, Vừa chửi vừa rao cũng đắt hàng.   Nó lại mừng nhau cái sự giàu! Trăm ngìn vạn mớ để vào đâu? Phen này ắt hẳn gà ăn bạc, Ðồng rụng, đồng rơi, lọ phải cầu   Nó lại mừng nhau sự lắm con Sinh năm đẻ bảy được vuông tròn. Phố phường chật hẹp người đông đúc, Bồng bế nhau lên nó ở non.   2. Thơ Tú Xương là tiếng nói tâm tình trĩu nặng đau xót:               2.1. Nỗi đau xót về bản thân và thời cuộc:                          - Về bản thân:             Gánh nặng đeo đẳng nhà thơ suốt đòi là nợ lều chõng. Ban đầu hỏng thi, ông còn cười cợt, còn tự nghĩ cách để an ủi mình. Nhưng các khoa thi sau ( 1903, 1906) ông càng thất vọng, càng chua chát. Tú Xương ngày càng đau buồn, chán nãn, tuyệt vọng và cay cú: Học đã sôi cơm nhưng chữa chín. Thi không ăn ớt thế mà cay  Ðến khoa thi cuối ( 1906) tiếng thở dài của Tú Xuơng càng áo não và bi thiết hơn nhiều: Bụng buồn còn biết nói năng chi Ðệ nhất buồn là cái hỏng thi Một việc văn chương thôi cũng nhảm Trăm năm thân thế chẳng ra gì ( Buồn thi hỏng)  Ở đây, dù đau vì thi rớt, vì công danh không thành đạt nhưng Tú Xương vẫn ít ủy mị và luôn tỏ thái độ khôi hài, lúc nào nụ cười trào phúng cũng đến với ông. Qua những lời tự trào, tư thú về mình càng thấy rõ con người và tính cách Tú Xương:  Tú Xương tự khoe về sự ăn chơi của mình: Nghiện chèm nghiện rượu, nghiện cả cao lâu, Hay hát, hay chơi, hay nghề xuống lõng. Quanh năm phong vận, áo hàng Tàu, khăn nhiễu tím, ô Nhật Bản anh, Ra phố nghênh ngang, quần Tố nữ, bít tất tơ, giày Gia Ðịnh bóng . . . ( Phú hòng thi)  -         Về cảnh nghèo: Qua thơ ông, gia cảnh nhà ông hiện lên rất áo não và bi thiết ( Mùa nực mặc áo bông) Nhà thơ từng thấm thía cảnh chạy ăn, vay nợ, nhiều lúc ông phải gào lên: Van nợ lắm khi trào nước mắt Chạy ăn từng bữa toát mồ hôi ( Than nghèo)  Trong hoàn cảnh nào, Tú Xương vẫn cười cợt, châm biếm, nói ngông. Vì nghèo quá, ông đã tính đến chuyện đi tu nhưng không phải tu vì đạo lý mà tu vì tấm áo (Nghèo), rồi nghĩ đến chuyện làm mứt rận đãi gai đình trong ngày tết, có những ý nghĩ ngông nghênh, hợm hĩnh ( Mứt rận), hoặc nhiều lúc ông đâm ra chán chường tuyệt vọng: Ngủ quách sự đời thây đứa thức. Bên chùa chú trọc đã khua chuông. ( Ðêm hè) Vốn là con nhà trào phúng nên trong hoàn cảnh nào nhà thơ vẫn có thể cười cợt, vẫn bông đùa: Anh em đừng tưởng tết tôi nghèo Tiền bạc trong kho chữa lĩnh tiêu  Ðúng là nói cho vui, chứ kho đâu mà lĩnh, tiền đâu mà tiêu? Chính cái nghịch lý này đã hình thành nên tính cách của Tú Xương.  2.2. Nỗi lo lắng thầm kín của Tú Xương trước thời cuộc và vận mệnh đất nước:  - Tình cảm của Tú Xương đối với nhân dân: Ðối với người nghèo như những người học trò, những người nông dân chân lắm tay bùn (Thề với ăn xin)  . . . những dòng thơ của Tú Xương chứa chan tình cảm và đầy lòng ưu ái (Ðại hạn)  Hoặc ở một bài thơ khác, tâm trạng Tú Xương càng thể hiện rõ hơn: Ỳ ào tiếng học nghe không rõ Mát mẻ nhà ai ngủ hẳn lâu Ông lão nhà quê tan tản dậy, Bảo con đem đó, chớ đem gầu . . .  Ðối với người phụ nữ, hình ảnh họ hiện lên thật đáng thương, họ không những khổ sở về vật chất mà còn bị đau đớn về mặt tinh thần Thương vợ là một bài thơ tiêu biểu của Tú Xương viết về vợ:  Quanh năm buôn bán ở mom sông Nuôi đủ năm con với một chồng Lặn lội thân cò khi quãng vắng, Eo sèo mặt nước buổi đò đông Một duyên hai nợ âu đành phận Năm nắng mười mưa dám quản công Cha mẹ thói đời ăn ở bạc Có chồng hờ hững cũng như không.  Nỗi u hoài kín đáo của Tú Xương trước thời cuộc và vận mệnh đất nước thường triền miên, day dứt: Nhân tài đất Bắc nào ai đó? Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà ( Vịnh khoa thi Hương năm Ðinh dậu)  Nhà thơ thường thao thức suốt đêm dài để lặng lẽ suy tư và thấy được cái heo hút Vắng lặng của đêm trường: Ðêm sao đêm mãi tối mò mò, Ðêm đến bao giờ mới sáng cho. Ðàn trẻ u ơ chừng muốn dậy, Ông già thúng thắng vẫn đang ho. Ngọn đèn rình trộm khêu còn bé, Tiếng chó kinh người cắn vẫn to. Hàng xóm bốn bề ai dậy chửa, Dậy thì lên tiếng gọi nhà nho. ( Ðêm dài)  Trong hoàn cảnh đó, nhà thơ vẫn còn tỉnh táo để nhận ra mình: Kìa cái đêm nay mới gọi đêm Mắt giương không ngủ bũng không thèm Tình này ai thấu cho ta nhỉ Tâm sự năm canh một bóng đèn.  Ðiểm sáng nhất, xúc động nhất trong thơ ông là ở tình này. Ðó là tình cảm của ông đối với quê hương đất nước.  Nỗi đau khi nhìn thấy đất nước đổi thay mà bản thân ông thì không làm gì thay đổi thời cuộc ( Sông lấp). Bài thơ chứng tỏ Tú Xương vẫn là người nặng tình đời và tha thiết với cuộc sống. Mặc dù có lúc ông đâm ra bối rối, lạc lõng, mất phương hướng trước bao biến đổi của thời cuộc: Hỏi người chỉ thấy non xanh ngắt, Ðợi nước càng thêm tóc bạc phơ Ðường đất xa khơi ai mách bảo? Biết đâu mà ngóng dến  bao giờ? ( Lạc đường)  Lòng yêu nước của Tú Xuơng còn thể hiện qua sự khâm phục của Tú Xương đối với những người có tài, có đức ra cứu đời, giúp nước: Vá trời gặp hội mây năm vẻ Lấp bể ra công đất một hòn ( Gửi cụ thủ khoa Phan)  Tuy không đủ dũng khí để đi vào cuộc cách mạnh như bao nghĩa sĩ yêu nước khác nhưng ông có cảm tình nồng hậu đối với những người làm cách mạng. Hình ảnh Phan Bội Châu Vá trời, lấp bể đã đến với Tú Xương bằng tất cả sự kính mến, khâm phục.   3. Triết lý sống của Tú Xương giữa thời buổi loạn ly của đất nước:   Triết lý sống của Tú Xương đặc biệt không giống ai giữa thời buổi loạn ly. Ông sống giả câm, giả điếc, làm ngơ trước dư luận. Sống như ông phải có kiểu cách riêng, giống như hình ảnh của chú Mán ở Nam Ðịnh: Khi để chỏm, lúc cạo đầu Nghêu ngao câu hát nửa tàu, nửa ta Chẳng đội nón chịu màu da dãi nắng, Chẳng nhuộm răng để trắng dễ cười đời, Chốn quyền môn lòn cúi mặc ai, Ngoài cương tỏa thảnh thơi ai đã biết. ( Chú Mán)  Thái độ sống khác của Tú Xương có phải chăng là thái độ chống đối của nhà thơ trước thời cuộc? Ông không muốn hòa vào cuộc sống ngột ngạt không lối thoát này, không muốn hợp tác với cái văn minh trong thời kỳ nước mất, nhà tan. Giữa bao cái rối rắm mà mọi người đang tìm cách chen chân vào thì Tú Xương tách khỏi nó. Từ đó thể hiện sự yêu thích tự do, không chịu cúi lòn làm nô lệ.  Triết lý sống của Tú Xương nếu đem đặt bên cạnh triết lý sống của các nhà chiến sĩ yêu nước là xả thân vì nước lúc bấy giờ thì triết lý sống của Tú Xương có phần nhạt nhẽo, vô vị. Nhưng nói chung, triết lý sống của ông đã phần nào phản ảnh được tâm trạng của lớp người sống trong thời buổi không đành tâm theo giặc cũng không cầm vũ khí chống giặc.  III. NGHỆ THUẬT THƠ VĂN TRẦN TẾ XƯƠNG: 1.      Kết cấu:    1.1.Thơ trào phúng của Tú Xương hết sức đa dạng và phong phú. Có bài thơ vừa có hiện thực vừa có trào phúng. Bằng nhiều thủ pháp nghệ thuật, Tú Xương sử dụng tiếng cười làm vũ khí. Ở Tú Xương không có cái nhàn nhạt, cái lưng chừng, cười là cười phá, chửi là chửi độc, chua chát đến ứa mật, ứa máu.  Có những bài tự trào, tự khoe về mình, dùng ngôn ngữ lấp lững, ỡm ờ, hoặc những từ hoàn toàn thô tục . . . Tứ thơ thường độc đáo, đột ngột, táo bạo gây sự chú ý và bám vào linh hồn của chủ đề. Tú Xương đã quàng vào cổ ông Hàn nọ ( Vốn làm nghề nấu rượu) những xâu, chai, lọ, vung, nồi lổn nhổn: Hàn lâm tu soạn kém gì ai? Ðủ cả vung nồi, cả cóng chai ( Ðưa ông hàn)  Cái tài tình của Tú Xương là chợp đúng cái thần của sự vật bằng một vài nét điển hình, rồi với cách nói thẳng thừng, táo bạo và hài hước của mình, ông phơi bày cái lõi của sự thật cho mọi người xem có khi ở câu đầu: Lúc túng toan lên bán cả trời Trời rằng thằng bé nó hay chơi ( Tự cười mình)  Có khi ở cuối câu: Cụ Xứ có cô con gái đẹp Lăm le xin bố cưới làm chồng ( Ði thi nói ngông) Có khi mượn lối chơi chữ: Ấm không ra ấm, ấm ra nồi Ấm chạy lăng quăng, ấm chẳng ngồi ( Bỡn ông ấm Ðiềm)  Có lúc nhân cái mồm tu hú của đối tượng mà hạ một ý thật lạ lùng: Cậu này ắt hẵn hay nghề sáo, Dây vũ dây văn vụng ngón đàn ( Thông gia với quan)  Hoặc mở đầu bài thơ Ðể vợ chơi nhăng là đánh thẳng đối tượng là anh chồng ngu”: Thọ kia mày có biết hay chăng Con vợ mày kia xiết nói năng Vợ đẹp của người không giữ được Chồng ngu mượn đứa để chơi nhăng  Nhưng mục đích chính là đả kích mụ vợ, nên khổ thơ cứ dồn dập và quyết liệt: Ra đường đáng giá người trinh thục Trong bụng sao mà những gió trăng, Mới biết hồng nhan là thế thế, Trăm năm, trăm tuổi, lại trăm thằng.  Có thể nói, Tú Xương đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật kết cấu trong thơ trào phúng, trước hết vì tiếng cười của ông là sự phê phán của một lý trí và cảm xúc nhạy bén của con tim nên tiếng cười trào phúng của Tú Xương rất chắc, hiệu quả cao.  1.2.Thơ trữ tình của Tú Xương:  Lời thơ nhuần nhuyễn, ý thơ gần gũi, sâu lắng. Các bài thơ tiêu biểu Ðêm hè, Ngẫu hứng, Sông lấp, Gửi cụ thủ khoa Phan, Nhớ bạn phương trời . . . thể hiện cái sâu xa trong tâm trạng của ông đó là tinh thần dân tộc, tuy có giới hạn nhưng rất đáng quý, đã hình thành nên tính cách Tú Xương.  Ông có những bài thơ thể hiện tình cảm lãng mạn cũng khá hiện đại: Em gửi cho anh mãnh lụa đào Không biết rằng em bán thế nào ( Tặng người quen)  Ðề tài thơ trữ tình của Tú Xương tuy không phong phú và đa dạng như thơ trào phúng nhưng cũng rất sâu sắc và đậm đà. Nhà thơ sử dụng nhiều chi tiết từ  cuộc sống nên tứ thơ rất sinh động, nhiều chi tiết xác thực như bản thân đời sống . Hình ảnh bà Tú được tái hiện bằng những nét rất thực: Lặn lội thân cò khi quãng vắng Eo sèo mặt nước buổi đò đông. ( Thương vợ)  Bài thơ Nhớ bạn phương trời đã đi sâu vào thế gới tâm trạng, tràn ngập cảm xúc  trữ tình của nhà thơ đối với nhà cách mạng Phan Bội Châu. Ta nhớ người xa cách núi sông, Người xa, xa lắm nhớ ta không? Sao đang vui vẻ ra buồn bã Vừa mới quen nhau đã lạ lùng Lúc nhớ, nhớ cùng trong mộng tưởng Khi riêng riêng đến cả tình chung Tương tư lọ phải là trai gái, Một ngọn đèn xanh trống điểm thùng.  1.3.Sự kết hợp hai yếu tố hiện thực và trữ tình:  Rất độc đáo và sâu sắc. Kết cấu bài thơ không gò bó. Tính phóng túng trong suy nghĩ cũng như trong tính tình đã đem vào khuôn khổ thể thơ bảy chữ tám câu nhiều nét mới đã phá vỡ mọi qui định:  Việc bác không xong tôi chết ngay! Chết ngay? Như thế vội vàng thay! ( Bỡn người làm mối)  Hỏi lão đâu ta?- Lão ở Liêm Trông ra bóng dáng đã hom hem ( Già chơi trống bỏi)  Người đói ta đây cũng chẳng no, Cha thằng nào có tiếc không cho ( Thề với ăn xin)  Rất nhiều bài thơ của Tú Xương có sự kết hợp hài hòa hai yếu tố hiện thực và trữ tình (Vịnh khoa thi hương năm Ðinh Dậu, Thương vợ, Thề với ăn xin . . .)  Nói về sự kết hợp giữa hai yếu tố hiện thực và trữ tình trong một bài thơ, Nguyễn Tuân cho rằng: Sở dĩ thơ Tú Xương không bị tắt gió, không bị bay ra khỏi là vì thơ Tú Xương đã đi bằng hai chân hiện thực và lãng mạn, là vì thi pháp của Tú Xương phối hợp cả hiện thực và trữ tình   2.      Ngôn ngữ và chất liệu dân gian:   2.1.           Ngôn ngữ: Tú Xương là bậc thầy trong việc sử dụng ngôn ngữ và hình ảnh. Ngôn ngữ giản dị, chính xác, uyển chuyển, gợi hình và có tính chất dân gian ( Ði hát mất ô) được xem là bài duyên dáng, hóm hĩnh, độc đáo của Tú Xương vì ông đã thể hiện được cái thần của bài thơ.  Sử dụng ngôn ngữ hàng ngày, tươi mát, tự nhiên mà vẫn thanh nhã, óng chuốt. Mấy câu sau đây như lời nói ở cửa miệng, không thêm bớt mà rất chân thành: Tôi hỏi thăm ông đến tận nhà, Trước nhà có miếu, có cây đa Cửa hè sân ngõ chừng ba thước, Nửa tá tre pheo đủ một tòa . . . ( Ông ấm Ðiềm)  Hoặc đây là cách nói ngang tàng nhưng rất tự  nhiên: Gái tơ đi lấy làm hai họ Năm mới vừa sang được một ngày ( Viếng cô Ký)  Hai họ là vợ hai, đối với Một ngày tức mùng một tết. Vậy câu thơ chỉ giữ cái vỏ của phép đối mà vượt qua những ràng buộc khác khiến cho lời thơ của Tú Xương không những êm tai, sướng miệng mà còn rất độc đáo, có giá trị châm biếm cao.  2.2.Chất liệu dân gian:  Nhiều thành ngữ dân gian, ca dao đã đi vào thơ Tú Xương bằng sự sáng tạo riêng. Các thành ngữ như Học đã sôi cơm, thi không ăn ớt, vuốt râu nịnh vợ, quắc mắt khinh đời, năm nắng mưới mưa, thân cò lặn lội . . . đã được Tú Xương vận dụng khá độc đáo trong thơ. Vuốt râu nịnh vợ con bu nó Quắc mắt khinh đời cái bộ anh.  Tú Xương rất am hiểu ca dao, nhiều câu ca dao còn thể hiện cái tình tứ, duyên dáng, hóm hỉnh của nhà thơ.  Ai ơi còn nhớ ai không? Trời mưa một mảnh áo bông che đầu Nào ai có tiếc ai đâu Áo bông ai ướt khăn đầu ai khô? Người đi tam đảo, ngũ hồ. Kẻ về khóc trúc, than ngô một mình. Non non, nước nước, tình tình Vì ai ngơ ngẩn cho mình ngẩn ngơ ( Áo bông che đầu)  IV. KẾT LUẬN:  Về nội dung, thơ trào phúng và trữ tình của Tú Xương có giá trị hiện thực cao. Thơ Tú Xương là tiếng nói, là nỗi lòng của tầng lớp nho sĩ đang đứng giữa thời cuộc không đành tâm theo giặc cũng không cầm vũ khí chống giặc.  Về nghệ thuật, cả hai mặt trào phúng và trữ tình, Tú Xương xứng đáng là nhà thơ lớn của dân tộc, xứng đáng được Yên Ðỗ ( Nguyễn Khuyến) nhà thơ cùng thời xếp vào loại thi hào bất tử : Kìa ai chín suối Xương không nát Có nhẽ nghìn thu tiếng vẫn còn. loigiaihay.com   Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học. Môn Toán Môn Vật Lý Môn Hoá Học Click Học thử Click Học thử CLick Học thử Môn Văn Môn Sinh Môn Anh Click Học thử Click Học thử Click Học thử
Xem thêm

14 Đọc thêm

Nhà thơ Trần Tế Xương

NHÀ THƠ TRẦN TẾ XƯƠNG

I.CUỘC ÐỜI, THỜI ÐẠI VÀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC 1.Cuộc đời Trần Tế Xương tên thật là Trần Duy Uyên, quen gọi là Tú Xương, tự là Mặc Trai, hiệu là Mộng Tích, đến khi thi Hương mới lấy tên là Trần Tế Xương. Ông sinh ngày 10-8-1871 tại lànVị Xuyên, huyện Mỹ Lộc, Nam Ðịnh và mất ngày 20-1-1907 ở làng Ðịa Tứ cùng huyện. Tú Xương là một người rất thông minh, tính tình thích trào lộng. Có nhiều giai thoại kể về cá tính của ông. Cuộc đời Tú Xương lận đận về thi cử. Tám khoa đều hỏng nên dấu ấn thi rớt in đậm nét trong tiềm thức Tú Xương. Ông cưới vợ rất sớm. Phạm Thị Mẫn từ một cô gái quê Con gái nhà dòng, lấy chồng kẻ chợ. Tiếng có miếng không, gặp hay chăng chớ trở thành bà Tú tần tảo một nắng hai sương Quanh năm buôn bán ở mom sông. Nuôi đủ năm con với một chồng. Ông Tú vẫn có thể có tiền để ăn chơi nhưng gia cảnh nghèo túng, việc nhà trông cậy vào một tay bà Tú. Có thể nói, việc hỏng thi và cảnh nghèo của gia đình là nguồn đề tài phong phú trong sáng tác của Tú Xương. 2.Thời đại: Cuộc đời ông nằm gọn trong giai đoạn nước mất, nhà tan. Năm Tú Xương ba tuổi (1873) Pháp đánh Hà Nội lần thứ nhất rồi tấn công Nam Ðịnh. Năm mười bốn tuổi (1884) triều đình ký hàng ước dâng đất nước ta cho giặc. Tuổi thơ của Tú Xương trôi qua trong những ngày đen tối và ký ức về những cuộc chiến đấu của các phong trào khởi nghĩa chống Pháp cũng mờ dần. Nhất là sau cuộc khởi nghĩa của Phan Ðình Phùng (1896) bị thất bại thì phong trào đấu tranh chống Pháp dường như tắt hẳn. Năm 1897, Pháp đặt nền móng cai trị đất nước, xã hội có nhiều biến động, nhất là ở thành thị. Tú Xương lại sinh ra và lớn lên ở thành thị vào thời kỳ chế độ thực dân nửa phong kiến được xác lập, nền kinh tế tư bản phát triển ở một nước thuộc địa làm đảo lộn trật tự xã hội, đảo lộn đời sống tinh thần của nhân dân. Nhà thơ đã ghi lại rất sinh động, trung thành bức tranh xã hội buổi giao thời ấy và thể hiện tâm trạng của mình. Có thể nói, đứng trước sự tha hoá của xã hội nên nguyên tắc Tam cương ngũ thường của Tú Xương không đậm như Nguyễn Khuyến và càng xa rời Ðồ Chiểu. 3. Tác phẩm Tú Xương mất sớm, ông chua đi trọn con đường sáng tác của mình. Nhưng những tác phẩm Tú Xương để lại có tác dụng như một bản cáo trạng đanh thép lên án xã hội thực dân nửa phong kiến trong giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX. Tú Xương sáng tác rất nhiều và thất lạc cũng nhiều. Ông viết khoảng 151 bài thơ bằng chữ Nôm với đủ các thể loại. Ngoài ra, ông có dịch một số thơ Ðường. II.NỘI DUNG THƠ VĂN TRẦN TẾ XƯƠNG: 1.Thơ Tú Xương là một bức tranh nhiều vẻ, sinh động về một xã hội thực dân nửa phong kiến Trong thơ ông có hình bóng con người và sinh hoạt của xã hội phong kiến cũ đã bị thực dân hóa, và có hình bóng những vật mới, những sinh hoạt mới - sản phẩm của xã hội thực dân nửa phong kiến. Thơ Tú Xương là tiếng nói đả kích, châm biếm sâu sắc và dữ dội vào các đối tượng mà ông căm ghét. 1.1.Ðả kích bọn thực dân Pháp: Ðối với thực dân Pháp, tuy chua phải là đối tượng chính để tập trung phê phán nhưng ta vẫn bắt gặp bóng dáng những tên thực dân xuất hiện với dáng vẻ rất buồn cười. Ðó là hình ảnh những ông Tây, bà Ðầm rất nghênh ngang lố bịch (Vịnh khoa thi Hương năm Ðinh Dậu). Với ngòi bút châm biếm sắc sảo, Tú Xương đả kích chúng không khoang nhượng, vạch trần thói gian ác, bần tiện, thủ đoạn kiếm ăn dơ bẩn của chúng bằng bút pháp trào phúng sâu sắc (Ông Cò). 1.2.Ðối với bọn quan lại, tay sai: Ðề tài này thật ra không có gì mới mẻ so với trước, nhưng cái mới ở đây là bút pháp của Tú Xương có cá tính và mang nét cảm hứng thời sự. Dưới ngòi bút của ông, hình ảnh bọn quan lại hiện lên rất phong phú đa dạng. Ðó là những lũ bất tài, dốt nát (Bác Cử Nhu); chúng không khác chi những tên hề (Hát bội). Ông phê phán trò gian lận, hối lộ, bòn rút của dân không nghĩ gì đến trách nhiệm (Ðùa ông Phủ). Ông còn vạch trần bản chất làm tay sai của những tên quan lại lúc bấy giờ (Cô hầu gửi quan lớn). Từ đó thấy được thái độ phẫn uất của Tú Xương trước thực trạng xã hội và ông đã dùng ngòi bút của mình để lên án, phê phán những con người, những hiện tượng trái tai, gai mắt. Nhà thơ đã dựng lại chân dung của bọn quan lại, mỗi người mỗi vẻ nhưng đều rất sắc cạnh, cụ thể. Một tên quan huyện Mình trung đâu đấy trách người trinh, một ông Aám Chạy lăng quăng, ấm chẳng ngồi, ông Ðốc cờ bạc ăn chơi rặt một màu, ông Cử Sách như hủ nút, chữ như mù, một cô Bố Chồng chung, vợ chạ, một chú Hàn thì Ðậu lạy, quan xin… và cả một xã hội lố lăng, rởm đời với quý vị phu nhân, các cậu ấm tử, sư sãi… cũng được Tú Xương tái hiện, sinh động, cụ thể: Hai cậu con con đóng vai ấm tử, lỗi bếp bồi cậu cũng như nhau. Ðôi đức bà lên mặt phu nhân, ngón đĩ thỏa bà nào cũng nhất. Nhất tắc mộ sư mô chi cực, nay chùa này, mai chùa khác, mở lòng từ tô tượng, đúc chuông. Nhất tắc ham chài lái chi khu, lên mành nọ xuống mành kia, che miệng thế đong dầu rót mật (Khai lý lịch) 1.3.Ðối với khoa cử, nho học: Trong bức tranh xã hội của Tú Xương còn có những nho sĩ đi thi, những ông Nghè, ông Cống; có hình ảnh của trường thi, của một nền nho học đang xuống dốc trầm trọng. Thời Tú Xương không còn tìm thấy hình ảnh uy nghi, trang trọng của một trường thi chữ Hán xưa kia nữa mà nó đang lùi dần trước uy thế của kẻ thù. Ông phản ánh thực trạng nho học suy đồi bằng tiếng thở dài áo não (Than đạo học). Ông còn chế giễu những người kéo nhau đi thi ở những trường lớp mới mở của thực dân (Ðổi thi). Trong buổi lễ xứng danh khoa Ðinh Dậu, nhà thơ đã vẽ ra trước mắt người đọc bức tranh về cảnh trường thi cảnh ngao ngán của sĩ tử trước thực trạng nước mất, nhà tan, sĩ khí tiêu điều, bút lông hết được săn đón Vứt bút lộng đi giắt bút chì. Ðó là hình ảnh: Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ Ậm oẹ quan trường miệng thét loa. Lọng cắm rợp trời quan sứ đến, Váy lê quét đất mụ đầm ra Cái tàn tạ của nho học được Nguyễn Bính ghi lại: Mực tàu giấy bản là đây Nước non đi hết những người áo xanh Lỡ duyên bút tóc củ hành Trường thi Nam Ðịnh biến thành trường bay. Tú Xương than thở cho số phận của một ông Nghè, ông Cống và giễu cả những ông Phán: Nào có gì lạ cái chữ nho Ông nghè, ông cống cũng nằm co Sao bằng đi học làm ông Phán. Tối rượu sâm banh, sáng sữa bò (Chữ nho) 1.4. Phê phán thế lực đồng tiền: Trước Tú Xương, nhiều tác giả Việt Nam cũng như nừơc ngoài đã lên án sức mạnh đồng tiền. Nó chi phối tư tưởng và hành động của con người. Ðến thời Tú Xương, đồng tiền lại một lần nữa gây đảo điên xã hội nhất là ở thành thị. Nó làm cho đạo đức suy đồi từ trong gia đình cho đến ngoài xã hội. Tú Xương đã mắng nhiếc cái xã hội đã hỗn loạn lên vì đồng tiền (Ðất Vị hoàng, Vị Hoàng hoài cổ) Có thể thấy bức tranh xã hội của Tú Xương bị tha hóa đến trầm trọng. Nào là cảnh: Ở phố Hàng Song thật lắm quan Thành thì đen kịt, độc thì lang Chồng chung vợ cha kìa cô Bố Ðậu lại quan xin nọ chú Hàn ( Phố Hàng song) Vì đồng tiền, con người lường gạt nhau để sống, đối xử với nhau không ra gì. Tình nghĩa cha con, vợ chồng, tình yêu, tình bè bạn . . . đều bị chà đạp bởi thế lực của đồng tiền. Bài thơ Mùng hai tết viếng cô Ký, Ðể vợ chơi nhăng đã phê phán thói đời thật đáng sợ. Ông chồng khóc vợ chết chỉ vì thương cái xe tay. Còn vợ đối với chồng thì Trăm năm tuổi lại trăm thằng Ngòi bút Tú Xương đã khái quát bức tranh hiện thực sinh động về một xã hội lố lăng, rởm đời, có những cảnh khá nực cười, những cảnh chướng tai, gai mắt cứ nhan nhản xuất hiện trong thơ Tú Xương ( Năm mới, Thói đời, Chữ nho): Khăn là bác nọ lo tày rế, Váy lĩnh cô kia quét sạch hè. Công đức tu hành sư có lọng, Xu hào xủng xoảng mán ngồi xe. ( Năm mới) Hay cảnh nực cười khác: Chí cha chí chát khua giày dép, Ðen thủi đen thui cũng lụa là. 1.5 Lên án những thói hư tật xấu của thời đại: Phê phán những người hành đạo mà lòng dạ xấu xa và hành vi bẩn thỉu như cảnh sư sãi vụng trộm trong chùa, sư cho vay nặng lãi, sư chứa của gian đến nỗi phải ở tù (Sư ở từ, Ông sư và mấy ả lên đồng) Ông còn lên án thói đồng bóng, cho đồng bóng là trò mê tín giả dối không thể chịu được: Ðồng giỏi sao đồng không giúp nước Hay là đồng sợ súng thần công. Phê phán những phong tục xa hoa, phù phiếm trong ngày tết ý tứ mỉa mai trước thực trạng nước mất, nhà tan (Thói đời), vạch trần những tâm lý giả dối, sáo rỗng của con người trong ngày tết bằng lời lẽ châm biếm sắc sảo. Bài thơ Chúc tết đã chế giễu độc địa và sâu sắc: Lẵng lặng mà nghe nó chúc nhau Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu. Phen này ông quyết đi buôn cối, Thiên hạ bao nhiêu đứa giả trầu. Nó lại chúc nhau cái sự sang! Ðứa thời mua tước đứa mua quan. Phen này ông quyết đi buôn lọng, Vừa chửi vừa rao cũng đắt hàng. Nó lại mừng nhau cái sự giàu! Trăm ngìn vạn mớ để vào đâu? Phen này ắt hẳn gà ăn bạc, Ðồng rụng, đồng rơi, lọ phải cầu Nó lại mừng nhau sự lắm con Sinh năm đẻ bảy được vuông tròn. Phố phường chật hẹp người đông đúc, Bồng bế nhau lên nó ở non. 2. Thơ Tú Xương là tiếng nói tâm tình trĩu nặng đau xót: 2.1. Nỗi đau xót về bản thân và thời cuộc: - Về bản thân: Gánh nặng đeo đẳng nhà thơ suốt đòi là nợ lều chõng. Ban đầu hỏng thi, ông còn cười cợt, còn tự nghĩ cách để an ủi mình. Nhưng các khoa thi sau ( 1903, 1906) ông càng thất vọng, càng chua chát. Tú Xương ngày càng đau buồn, chán nãn, tuyệt vọng và cay cú: Học đã sôi cơm nhưng chữa chín. Thi không ăn ớt thế mà cay Ðến khoa thi cuối ( 1906) tiếng thở dài của Tú Xuơng càng áo não và bi thiết hơn nhiều: Bụng buồn còn biết nói năng chi Ðệ nhất buồn là cái hỏng thi Một việc văn chương thôi cũng nhảm Trăm năm thân thế chẳng ra gì ( Buồn thi hỏng) Ở đây, dù đau vì thi rớt, vì công danh không thành đạt nhưng Tú Xương vẫn ít ủy mị và luôn tỏ thái độ khôi hài, lúc nào nụ cười trào phúng cũng đến với ông. Qua những lời tự trào, tư thú về mình càng thấy rõ con người và tính cách Tú Xương: Tú Xương tự khoe về sự ăn chơi của mình: Nghiện chèm nghiện rượu, nghiện cả cao lâu, Hay hát, hay chơi, hay nghề xuống lõng. Quanh năm phong vận, áo hàng Tàu, khăn nhiễu tím, ô Nhật Bản anh, Ra phố nghênh ngang, quần Tố nữ, bít tất tơ, giày Gia Ðịnh bóng . . . ( Phú hòng thi) - Về cảnh nghèo: Qua thơ ông, gia cảnh nhà ông hiện lên rất áo não và bi thiết ( Mùa nực mặc áo bông) Nhà thơ từng thấm thía cảnh chạy ăn, vay nợ, nhiều lúc ông phải gào lên: Van nợ lắm khi trào nước mắt Chạy ăn từng bữa toát mồ hôi ( Than nghèo) Trong hoàn cảnh nào, Tú Xương vẫn cười cợt, châm biếm, nói ngông. Vì nghèo quá, ông đã tính đến chuyện đi tu nhưng không phải tu vì đạo lý mà tu vì tấm áo (Nghèo), rồi nghĩ đến chuyện làm mứt rận đãi gai đình trong ngày tết, có những ý nghĩ ngông nghênh, hợm hĩnh ( Mứt rận), hoặc nhiều lúc ông đâm ra chán chường tuyệt vọng: Ngủ quách sự đời thây đứa thức. Bên chùa chú trọc đã khua chuông. ( Ðêm hè) Vốn là con nhà trào phúng nên trong hoàn cảnh nào nhà thơ vẫn có thể cười cợt, vẫn bông đùa: Anh em đừng tưởng tết tôi nghèo Tiền bạc trong kho chữa lĩnh tiêu Ðúng là nói cho vui, chứ kho đâu mà lĩnh, tiền đâu mà tiêu? Chính cái nghịch lý này đã hình thành nên tính cách của Tú Xương. 2.2. Nỗi lo lắng thầm kín của Tú Xương trước thời cuộc và vận mệnh đất nước: - Tình cảm của Tú Xương đối với nhân dân: Ðối với người nghèo như những người học trò, những người nông dân chân lắm tay bùn (Thề với ăn xin) . . . những dòng thơ của Tú Xương chứa chan tình cảm và đầy lòng ưu ái (Ðại hạn) Hoặc ở một bài thơ khác, tâm trạng Tú Xương càng thể hiện rõ hơn: Ỳ ào tiếng học nghe không rõ Mát mẻ nhà ai ngủ hẳn lâu Ông lão nhà quê tan tản dậy, Bảo con đem đó, chớ đem gầu . . . Ðối với người phụ nữ, hình ảnh họ hiện lên thật đáng thương, họ không những khổ sở về vật chất mà còn bị đau đớn về mặt tinh thần Thương vợ là một bài thơ tiêu biểu của Tú Xương viết về vợ: Quanh năm buôn bán ở mom sông Nuôi đủ năm con với một chồng Lặn lội thân cò khi quãng vắng, Eo sèo mặt nước buổi đò đông Một duyên hai nợ âu đành phận Năm nắng mười mưa dám quản công Cha mẹ thói đời ăn ở bạc Có chồng hờ hững cũng như không. Nỗi u hoài kín đáo của Tú Xương trước thời cuộc và vận mệnh đất nước thường triền miên, day dứt: Nhân tài đất Bắc nào ai đó? Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà ( Vịnh khoa thi Hương năm Ðinh dậu) Nhà thơ thường thao thức suốt đêm dài để lặng lẽ suy tư và thấy được cái heo hút Vắng lặng của đêm trường: Ðêm sao đêm mãi tối mò mò, Ðêm đến bao giờ mới sáng cho. Ðàn trẻ u ơ chừng muốn dậy, Ông già thúng thắng vẫn đang ho. Ngọn đèn rình trộm khêu còn bé, Tiếng chó kinh người cắn vẫn to. Hàng xóm bốn bề ai dậy chửa, Dậy thì lên tiếng gọi nhà nho. ( Ðêm dài) Trong hoàn cảnh đó, nhà thơ vẫn còn tỉnh táo để nhận ra mình: Kìa cái đêm nay mới gọi đêm Mắt giương không ngủ bũng không thèm Tình này ai thấu cho ta nhỉ Tâm sự năm canh một bóng đèn. Ðiểm sáng nhất, xúc động nhất trong thơ ông là ở tình này. Ðó là tình cảm của ông đối với quê hương đất nước. Nỗi đau khi nhìn thấy đất nước đổi thay mà bản thân ông thì không làm gì thay đổi thời cuộc ( Sông lấp). Bài thơ chứng tỏ Tú Xương vẫn là người nặng tình đời và tha thiết với cuộc sống. Mặc dù có lúc ông đâm ra bối rối, lạc lõng, mất phương hướng trước bao biến đổi của thời cuộc: Hỏi người chỉ thấy non xanh ngắt, Ðợi nước càng thêm tóc bạc phơ Ðường đất xa khơi ai mách bảo? Biết đâu mà ngóng dến bao giờ? ( Lạc đường) Lòng yêu nước của Tú Xuơng còn thể hiện qua sự khâm phục của Tú Xương đối với những người có tài, có đức ra cứu đời, giúp nước: Vá trời gặp hội mây năm vẻ Lấp bể ra công đất một hòn ( Gửi cụ thủ khoa Phan) Tuy không đủ dũng khí để đi vào cuộc cách mạnh như bao nghĩa sĩ yêu nước khác nhưng ông có cảm tình nồng hậu đối với những người làm cách mạng. Hình ảnh Phan Bội Châu Vá trời, lấp bể đã đến với Tú Xương bằng tất cả sự kính mến, khâm phục. 3. Triết lý sống của Tú Xương giữa thời buổi loạn ly của đất nước: Triết lý sống của Tú Xương đặc biệt không giống ai giữa thời buổi loạn ly. Ông sống giả câm, giả điếc, làm ngơ trước dư luận. Sống như ông phải có kiểu cách riêng, giống như hình ảnh của chú Mán ở Nam Ðịnh: Khi để chỏm, lúc cạo đầu Nghêu ngao câu hát nửa tàu, nửa ta Chẳng đội nón chịu màu da dãi nắng, Chẳng nhuộm răng để trắng dễ cười đời, Chốn quyền môn lòn cúi mặc ai, Ngoài cương tỏa thảnh thơi ai đã biết. ( Chú Mán) Thái độ sống khác của Tú Xương có phải chăng là thái độ chống đối của nhà thơ trước thời cuộc? Ông không muốn hòa vào cuộc sống ngột ngạt không lối thoát này, không muốn hợp tác với cái văn minh trong thời kỳ nước mất, nhà tan. Giữa bao cái rối rắm mà mọi người đang tìm cách chen chân vào thì Tú Xương tách khỏi nó. Từ đó thể hiện sự yêu thích tự do, không chịu cúi lòn làm nô lệ. Triết lý sống của Tú Xương nếu đem đặt bên cạnh triết lý sống của các nhà chiến sĩ yêu nước là xả thân vì nước lúc bấy giờ thì triết lý sống của Tú Xương có phần nhạt nhẽo, vô vị. Nhưng nói chung, triết lý sống của ông đã phần nào phản ảnh được tâm trạng của lớp người sống trong thời buổi không đành tâm theo giặc cũng không cầm vũ khí chống giặc. III. NGHỆ THUẬT THƠ VĂN TRẦN TẾ XƯƠNG: 1. Kết cấu: 1.1.Thơ trào phúng của Tú Xương hết sức đa dạng và phong phú. Có bài thơ vừa có hiện thực vừa có trào phúng. Bằng nhiều thủ pháp nghệ thuật, Tú Xương sử dụng tiếng cười làm vũ khí. Ở Tú Xương không có cái nhàn nhạt, cái lưng chừng, cười là cười phá, chửi là chửi độc, chua chát đến ứa mật, ứa máu. Có những bài tự trào, tự khoe về mình, dùng ngôn ngữ lấp lững, ỡm ờ, hoặc những từ hoàn toàn thô tục . . . Tứ thơ thường độc đáo, đột ngột, táo bạo gây sự chú ý và bám vào linh hồn của chủ đề. Tú Xương đã quàng vào cổ ông Hàn nọ ( Vốn làm nghề nấu rượu) những xâu, chai, lọ, vung, nồi lổn nhổn: Hàn lâm tu soạn kém gì ai? Ðủ cả vung nồi, cả cóng chai ( Ðưa ông hàn) Cái tài tình của Tú Xương là chợp đúng cái thần của sự vật bằng một vài nét điển hình, rồi với cách nói thẳng thừng, táo bạo và hài hước của mình, ông phơi bày cái lõi của sự thật cho mọi người xem có khi ở câu đầu: Lúc túng toan lên bán cả trời Trời rằng thằng bé nó hay chơi ( Tự cười mình) Có khi ở cuối câu: Cụ Xứ có cô con gái đẹp Lăm le xin bố cưới làm chồng ( Ði thi nói ngông) Có khi mượn lối chơi chữ: Ấm không ra ấm, ấm ra nồi Ấm chạy lăng quăng, ấm chẳng ngồi ( Bỡn ông ấm Ðiềm) Có lúc nhân cái mồm tu hú của đối tượng mà hạ một ý thật lạ lùng: Cậu này ắt hẵn hay nghề sáo, Dây vũ dây văn vụng ngón đàn ( Thông gia với quan) Hoặc mở đầu bài thơ Ðể vợ chơi nhăng là đánh thẳng đối tượng là anh chồng ngu”: Thọ kia mày có biết hay chăng Con vợ mày kia xiết nói năng Vợ đẹp của người không giữ được Chồng ngu mượn đứa để chơi nhăng Nhưng mục đích chính là đả kích mụ vợ, nên khổ thơ cứ dồn dập và quyết liệt: Ra đường đáng giá người trinh thục Trong bụng sao mà những gió trăng, Mới biết hồng nhan là thế thế, Trăm năm, trăm tuổi, lại trăm thằng. Có thể nói, Tú Xương đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật kết cấu trong thơ trào phúng, trước hết vì tiếng cười của ông là sự phê phán của một lý trí và cảm xúc nhạy bén của con tim nên tiếng cười trào phúng của Tú Xương rất chắc, hiệu quả cao. 1.2.Thơ trữ tình của Tú Xương: Lời thơ nhuần nhuyễn, ý thơ gần gũi, sâu lắng. Các bài thơ tiêu biểu Ðêm hè, Ngẫu hứng, Sông lấp, Gửi cụ thủ khoa Phan, Nhớ bạn phương trời . . . thể hiện cái sâu xa trong tâm trạng của ông đó là tinh thần dân tộc, tuy có giới hạn nhưng rất đáng quý, đã hình thành nên tính cách Tú Xương. Ông có những bài thơ thể hiện tình cảm lãng mạn cũng khá hiện đại: Em gửi cho anh mảnh lụa đào Không biết rằng em bán thế nào ( Tặng người quen) Ðề tài thơ trữ tình của Tú Xương tuy không phong phú và đa dạng như thơ trào phúng nhưng cũng rất sâu sắc và đậm đà. Nhà thơ sử dụng nhiều chi tiết từ cuộc sống nên tứ thơ rất sinh động, nhiều chi tiết xác thực như bản thân đời sống . Hình ảnh bà Tú được tái hiện bằng những nét rất thực: Lặn lội thân cò khi quãng vắng Eo sèo mặt nước buổi đò đông. ( Thương vợ) Bài thơ Nhớ bạn phương trời đã đi sâu vào thế gới tâm trạng, tràn ngập cảm xúc trữ tình của nhà thơ đối với nhà cách mạng Phan Bội Châu. Ta nhớ người xa cách núi sông, Người xa, xa lắm nhớ ta không? Sao đang vui vẻ ra buồn bã Vừa mới quen nhau đã lạ lùng Lúc nhớ, nhớ cùng trong mộng tưởng Khi riêng riêng đến cả tình chung Tương tư lọ phải là trai gái, Một ngọn đèn xanh trống điểm thùng. 1.3.Sự kết hợp hai yếu tố hiện thực và trữ tình: Rất độc đáo và sâu sắc. Kết cấu bài thơ không gò bó. Tính phóng túng trong suy nghĩ cũng như trong tính tình đã đem vào khuôn khổ thể thơ bảy chữ tám câu nhiều nét mới đã phá vỡ mọi qui định: Việc bác không xong tôi chết ngay! Chết ngay? Như thế vội vàng thay! ( Bỡn người làm mối) Hỏi lão đâu ta?- Lão ở Liêm Trông ra bóng dáng đã hom hem ( Già chơi trống bỏi) Người đói ta đây cũng chẳng no, Cha thằng nào có tiếc không cho ( Thề với ăn xin) Rất nhiều bài thơ của Tú Xương có sự kết hợp hài hòa hai yếu tố hiện thực và trữ tình (Vịnh khoa thi hương năm Ðinh Dậu, Thương vợ, Thề với ăn xin . . .) Nói về sự kết hợp giữa hai yếu tố hiện thực và trữ tình trong một bài thơ, Nguyễn Tuân cho rằng: Sở dĩ thơ Tú Xương không bị tắt gió, không bị bay ra khỏi là vì thơ Tú Xương đã đi bằng hai chân hiện thực và lãng mạn, là vì thi pháp của Tú Xương phối hợp cả hiện thực và trữ tình 2. Ngôn ngữ và chất liệu dân gian: 2.1. Ngôn ngữ: Tú Xương là bậc thầy trong việc sử dụng ngôn ngữ và hình ảnh. Ngôn ngữ giản dị, chính xác, uyển chuyển, gợi hình và có tính chất dân gian ( Ði hát mất ô) được xem là bài duyên dáng, hóm hĩnh, độc đáo của Tú Xương vì ông đã thể hiện được cái thần của bài thơ. Sử dụng ngôn ngữ hàng ngày, tươi mát, tự nhiên mà vẫn thanh nhã, óng chuốt. Mấy câu sau đây như lời nói ở cửa miệng, không thêm bớt mà rất chân thành: Tôi hỏi thăm ông đến tận nhà, Trước nhà có miếu, có cây đa Cửa hè sân ngõ chừng ba thước, Nửa tá tre pheo đủ một tòa . . . ( Ông ấm Ðiềm) Hoặc đây là cách nói ngang tàng nhưng rất tự nhiên: Gái tơ đi lấy làm hai họ Năm mới vừa sang được một ngày ( Viếng cô Ký) Hai họ là vợ hai, đối với Một ngày tức mùng một tết. Vậy câu thơ chỉ giữ cái vỏ của phép đối mà vượt qua những ràng buộc khác khiến cho lời thơ của Tú Xương không những êm tai, sướng miệng mà còn rất độc đáo, có giá trị châm biếm cao. 2.2.Chất liệu dân gian: Nhiều thành ngữ dân gian, ca dao đã đi vào thơ Tú Xương bằng sự sáng tạo riêng. Các thành ngữ như :Học đã sôi cơm, thi không ăn ớt, vuốt râu nịnh vợ, quắc mắt khinh đời, năm nắng mưới mưa, thân cò lặn lội . . . đã được Tú Xương vận dụng khá độc đáo trong thơ. Vuốt râu nịnh vợ con bu nó Quắc mắt khinh đời cái bộ anh. Tú Xương rất am hiểu ca dao, nhiều câu ca dao còn thể hiện cái tình tứ, duyên dáng, hóm hỉnh của nhà thơ. Ai ơi còn nhớ ai không? Trời mưa một mảnh áo bông che đầu Nào ai có tiếc ai đâu Áo bông ai ướt khăn đầu ai khô? Người đi tam đảo, ngũ hồ. Kẻ về khóc trúc, than ngô một mình. Non non, nước nước, tình tình Vì ai ngơ ngẩn cho mình ngẩn ngơ ( Áo bông che đầu) IV. KẾT LUẬN: Về nội dung, thơ trào phúng và trữ tình của Tú Xương có giá trị hiện thực cao. Thơ Tú Xương là tiếng nói, là nỗi lòng của tầng lớp nho sĩ đang đứng giữa thời cuộc không đành tâm theo giặc cũng không cầm vũ khí chống giặc. Về nghệ thuật, cả hai mặt trào phúng và trữ tình, Tú Xương xứng đáng là nhà thơ lớn của dân tộc, xứng đáng được Yên Ðỗ ( Nguyễn Khuyến) nhà thơ cùng thời xếp vào loại thi hào bất tử : Kìa ai chín suối Xương không nát Có nhẽ nghìn thu tiếng vẫn còn.
Xem thêm

9 Đọc thêm

Phân tích bài thơ Đất Vị Hoàng của Tú Xương

PHÂN TÍCH BÀI THƠ ĐẤT VỊ HOÀNG CỦA TÚ XƯƠNG

Đất Vị Hoàng Trần Tế Xương Có đất nào như đất ấy không? Phố phường tiếp giáp với bờ sông. Nhà kia lỗi phép con khinh bố, Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng. Keo cú người đâu như cứt sắt, Tham lam chuyện thở những hơi đồng. Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh Có đất nào như đất ấy không? Hãy phân tích bài thơ “Đất Vị Hoàng” của Tú Xương. Phân tích Vị Hoàng là quê cha đất tổ của nhà thơ Tú Xương. Làng Vị Hoàng xa xưa có sông Vị Thủy chảy qua. Ngày Tây chiếm đóng thành Nam, khi cờ ba sắc xuất hiện thì sông Vị Thủy bị lấp dần. Vị Hoàng vốn là một miền quê có thứ chuối ngự ngon nổi tiếng cùng với thơ Tú Xương đã trở thành thổ ngơi, đặc sản quê nhà, một trăm năm về trước được truyền tụng trong dân gian: “Ăn chuối ngự, đọc thơ Xương”. Vị Hoàng cũng vốn là “nơi sang trọng, chốn nhiều quan”. Nhưng rồi biển dâu biến đổi, trong buổi giao thời hổ lốn dở Tây dở ta, ngày càng lộn xộn tang thương, đạo lý sa sút, suy đồi. Tú Xương đau nỗi đau quê nhà, xót cho thói đời đen bạc, buồn cho cảnh nước bị mất chủ quyền. Nước cũ, làng xưa có bài “Vị Hoàng hoài cổ” man mác buồn thương, lại có thêm bài thơ “Đất Vị Hoàng” này để nói lên những chuyện xấu xa đồi bại ở Vị Hoàng, ở thành Nam. Bài “Đất Vị Hoàng” được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, thủ vĩ ngâm. Câu 1 và câu 8 là câu hỏi tu từ: “Có đất nào như đất ấy không?”; nhà thơ hỏi để mà nguyền rủa, giọng thơ trở nên đau đớn, chua xót. Nơi chôn rau cắt rốn thân thương nay đã thay đổi nhiều rồi, ngày ngày diễn ra bao cảnh đau lòng. Còn đâu nữa hình ảnh đẹp một thời, để tự hào và “nhớ”: “Anh đi anh nhớ non Côi, Nhớ sông Vị Thủy nhớ người tình chung” Trong bài “Sông lấp”, Tú Xương viết: “Sông kia rày đã Lên đồng - Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngôi khoai…”. Cảnh ấy có khác gì ở đây: “Phố phường tiếp giáp với bờ sông”. Tây và bọn tay sai chiếm ruộng, chiếm bãi, chiếm đất, chiếm phố, chiếm nhà. Phố xá mọc lên cùng với bọn bất lương ra sức vơ vét làm giàu. Trong nhà ngoài phố, kẻ chợ làng quê, nơi gần chốn xa, nhất là ở Vị Hoàng nhỡn tiền ra đó. “Nhà kia… mụ nọ…” vừa ám chỉ vừa vạch mặt chỉ tên, đầy khinh bỉ trước những cảnh đời xấu xa vô đạo. Có cảnh nhà “lỗi phép”, con cái bất hiếu: “con khinh bố”. Có cảnh đời, đảo điên tình nghĩa, “chanh chua” như mụ nọ “vợ chửi chồng”. Có lẽ chỉ vì tiền mà đồi bại đến cùng cực thế! Hai mối quan hệ làm rường cột của đạo lí: tình phụ - tử, nghĩa phu - thê đã trở nên nhem nhuốc vô cùng. Hỏng từ gia đình hỏng ra. Không còn là hiện tượng cá biệt nữa. Thời bấy giờ nhan nhản phố phường những “tiết hạnh khả phong” như mụ Phó Đoan, những gái tân thời như cô Hoàng Hôn, cô Tuyết (Số đỏ), những me Tây như mụ Tư Hồng “có tàn, có tán, có hương án thờ vua, lẫy lừng băm sáu tỉnh”. (câu đối của Nguyễn Khuyến). Những “em chã”, những trưởng giả, thượng lưu rởm đang “Âu hoá” sống phè phỡn, nhố nhăng! Hai câu thơ 3, 4 trong phần thực như bức biếm họa nhí nhảnh đăng đối với bao vết ố, nét thơ ghê tởm, đặc tả sự đồi bại về luân thường đạo lý. “Nhà kia lỗi phép con khinh bố, Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng.” Hai câu trong phần luận mở rộng ý thơ trong phần thực, làm cho bức tranh “Đất Vị Hoàng” được tô đậm sắc màu hiện thực. Không còn ước lệ nữa. Hai nét vẽ về cảnh đời đáng buồn đáng thương đối nhau. Một bộ tứ bình biếm họa hoàn chỉnh. Ở cái đất Vị Hoàng ấy nhan nhản những loại người “tham lam” và “keo cú”. “Keo cú” đến bần tiện, ghê gớm và hôi hám. Nhà thơ ngạc nhiên hỏi và so sánh: người đâu như cứt sắt “sao mà” đáng sợ, đáng khinh bỉ! Lại có loại người “tham lam” đến cùng cực, nhịp sống cuộc đời họ chỉ là “chuyên thở rặt hơi đồng”. “Thở” là nhãn tự, rất linh diệu; nếu thay bằng chữ “nói” hay một từ nào khác thì không lột tả được bản chất loại người tham lam đê tiện này. Vì đã “thở” nên phảo đi liền với “hơi” - "hơi đồng”, tiền bạc. Chỉ vì tiền, coi tiền bạc là trên hết, là trước hết trong mọi mối quan hệ gia đình và xã hội. “Rặt” là từ cổ, nghĩa là “toàn là”, “đều là”. Phép đảo ngũ rất có giá trị thẩm mĩ, tạo nên ngữ điệu dữ dội, khinh bỉ, một tiếng chửi đời cay độc lên án loại người tham lam, keo cú mất hết nhân tính: “Keo cú / người đâu như cứt sắt, Tham lam / chuyện thở rắt hơi đồng” Hai câu kết đẩy vần thơ lên cao trào của giọng điệu châm biếm và lên án. Không còn là chuyện riêng, chuyện cá biệt ở cái làng Vị Hoàng nhỏ bé nữa, mà là hiện thực thối nát, đồi bại, xấu xa, đạo lý suy đồi, đảo điên… trong cái xã hội nửa thực dân phong kiến, của một nước bị mất chủ quyền. Cái xấu, cái ác đã trở thành nỗi đau, nỗi nhục của nhiều người, trên một không gian rộng lớn “Bắc, Nam”, và “bao nhiêu tỉnh”. Nghệ thuật thủ - vĩ ngâm dưới hình thức câu hỏi tu từ nghẹn ngào cất lên như một lời đay nghiến, vừa xót xa đau đớn, vừa căm giận khinh bỉ cái xã hội kim tiền, cái xã hội chó đểu mà 30 năm sau Vũ Trọng Phụng phải nguyền rủa! “Đất Vị Hoàng” là bài thơ trào phúng độc đáo của Tú Xương. Muốn yêu quê, muốn tự hào về quê hương mà không được nữa. Nhà thơ sống trong tâm trạng đầy bị kịch. Bốn câu trong phần thực và luận là bộ tứ bình biếm họa về 4 loại người trong xã hội dở Tây dở ta buổi đầu. Trong gia đình, con thì bất hiếu, “lỗi phép”, vợ thì “chanh chua” lăng loàn; ngoài xã hội đâu đâu cũng chỉ có hạng người “tham lam” và “keo cú” vênh váo. Đạo lý suy đồi mà nguyên nhân sâu xa là nước mất chủ quyền, là sự tác oai tác quái của mặt trái đồng tiền. Nhà thơ vừa đau xót, vừa khinh bỉ. Đúng là Tú Xương “đã đi bằng hai chân” hiện thực trào phúng và trữ tình, tạo nên giọng điệu riêng hiếm thấy. Bài thơ toàn Nôm, ngôn ngữ bình dị mà sắc sảo. Bốn câu hỏi xuất hiện trong bài thơ làm cho ngữ điệu thêm dữ dội, đầy ám ảnh. Thơ liền mạch, đúng là Tú Xương đã xuất khẩu thành thơ. Bút pháp điêu luyện mà tự nhiên, hồn nhiên, nhất khí mà bình dị. Trong thơ ca dân tộc ít có bài thơ thủ - vĩ ngâm hay như bài thơ “Đất Vị Hoàng” này. Tú Xương mãi mãi là nhà thơ trào phúng bậc thầy trên thi đàn dân tộc.
Xem thêm

2 Đọc thêm

TIỂU SỬ NHÀ THƠ TRẦN TẾ XƯƠNG

TIỂU SỬ NHÀ THƠ TRẦN TẾ XƯƠNG

Cuộc đời Xương lận đận về thi cử. Tám khoa đều hỏng nên dấu ấn thi rớt in đậm nét trong tiềm thứcTú Xương.Ông cưới vợ rất sớm. Phạm Thị Mẫn từ một cô gái quê Con gái nhà dòng, lấy chồng kẻ chợ. Tiếng cómiếng không, gặp hay chăng chớ trở thành bà tần tảo một nắng hai sương Quanh năm buôn bán ở momsông. Nuôi đủ năm con với một chồng. Ông vẫn có thể có tiền để ăn chơi nhưng gia cảnh nghèo túng, việcnhà trông cậy vào một tay bà .Có thể nói, việc hỏng thi và cảnh nghèo của gia đình là nguồn đề tài phong phú trong sáng tác của TúXương.2.Thời đại:TOPCuộc đời ông nằm gọn trong giai đoạn nước mất, nhà tan.Năm Xương ba tuổi (1873) Pháp đánh Hà Nội lần thứ nhất rồi tấn công Nam Ðịnh.Năm mười bốn tuổi (1884) triều đình ký hàng ước dâng đất nước ta cho giặc.Tuổi thơ của Xương trôi qua trong những ngày đen tối và ký ức về những cuộc chiến đấu của cácphong trào khởi nghĩa chống Pháp cũng mờ dần. Nhất là sau cuộc khởi nghĩa của Phan Ðình Phùng (1896) bịthất bại thì phong trào đấu tranh chống Pháp dường như tắt hẳn.Năm 1897, Pháp đặt nền móng cai trị đất nước, xã hội có nhiều biến động, nhất là ở thành thị. Xươnglại sinh ra và lớn lên ở thành thị vào thời kỳ chế độ thực dân nửa phong kiến được xác lập, nền kinh tế tư bảnphát triển ở một nước thuộc địa làm đảo lộn trật tự xã hội, đảo lộn đời sống tinh thần của nhân dân. Nhà thơ đãghi lại rất sinh động, trung thành bức tranh xã hội buổi giao thời ấy và thể hiện tâm trạng của mình.Có thể nói, đứng trước sự tha hoá của xã hội nên nguyên tắc Tam cương ngũ thường của Xươngkhông đậm như Nguyễn Khuyến và càng xa rời Ðồ Chiểu.3. Tác phẩm:TOP
Xem thêm

18 Đọc thêm

Giảng bài thơ "Thương vợ" của Tú Xương

GIẢNG BÀI THƠ "THƯƠNG VỢ" CỦA TÚ XƯƠNG

Chúng ta đã từng biết đến một Khuê ai lục của Ngô Thì Sỹ khóc người vợ yêu qua đời giữa lúc đầu xanh tuổi trẻ, một Đoạn trường lục của Phạm Nguyễn Du thương tiếc người vợ đã khuất, những câu thơ dứt ruột của Tự Đức và trước Tú Xương một chút là câu đối khóc vợ chứa chan tình người của Nguyễn Khuyến. Các nhà thơ trung đại Việt Nam viết về vợ mình không nhiều, mà chủ yếu lại là văn tế và câu đối khóc người đã khuất. Chỉ có một số nhà thơ như Cao Bá Quát, Bùi Hữu Nghĩa, Phạm Văn Nghị là có viết về vợ mình ngay lúc đang sống. Nhưng viết nhiều nhất và hay nhất, mà lại là về một người vợ đang còn hiện hữu trên đời thì có lẽ Trần Tế Xương (1870 - 1907) là tác giả tiêu biểu hơn cả. Và nếu có làm văn tế thì cũng là Văn tế sống vợ (!),không phải để tiếc thương mà để cười thương ngợi ca người bạn đời của mình.k Tú Xương có rất nhiều khác biệt với các tác giả trước ông. Nhà thơ này của làng Vị Xuyên là con người của buổi giao thời, là dấu nối đầy ấn tượng giữa nền văn học trung đại ở giai đoạn cuối chiều nhưng lại kết tinh tinh hoa của hàng nghìn năm với nền văn học cận hiện đại đang bắt đầu có dấu hiệu hình thành với bao điều mới mẻ. Trên đầu Tú Xương không còn những áp lực nặng nề của tư tưởng và quan niệm chính thống khắt khe đã quy định các tác giả trước ông, trong ông nhiều giá trị của quá khứ đang từng bước sụp đổ và cái mới thì chưa kịp tới. Quan niệm của một nhà thơ trào phúng cũng giúp ông tiếp cận cuộc đời theo một kiểu khác, gần hơn, với một kiểu tư duy nghiêng về phân tích, mổ xẻ đối tượng, đưa vào trong thơ nhiều hình ảnh sống động hơn, quan niệm thẩm mỹ cũng biến đổi hướng về thực tại. Điều đó tạo cho ông những khoảng không sáng tạo quan trọng, giúp ông khác với truyền thống. Thơ Nôm Đường luật đến Tú Xương đã trải qua một thời gian phát triển khá dài, nó liên tục được cách tân từ thời Nguyễn Trãi, và tác giả Thương vợ chính là người đã đem đến cho thể loại văn học đã được Việt hóa cao độ này những phá cách mới mẻ giàu giá trị nghệ thuật. Đây là một bài thơ Nôm, viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, có kết cấu theo trình tự đề, thực, luận, kết, ông Tú viết để tặng người vợ tảo tần mưa nắng của mình. Trần Tế Xương chủ yếu là một nhà thơ trào phúng, trào phúng chuyên nghiệp. Những bài thơ nghiêng về trữ tình như Sông Lấp, Áo bông che bạn, Thương vợ không nhiều, nhưng bài nào cũng xuất chúng. Thương vợ lại tiêu biểu cho sự hòa hợp giữa hai phẩm chất nghệ thuật nổi bật trong sáng tác của ông: trào phúng và trữ tình, trong đó trữ tình là chính, là cơ bản. Bà Tú là một đề tài khá quen thuộc trong thơ Tú Xương, hình ảnh bà đã đi vào sáng tác của ông trong các bài như: Đau mắt, Văn tế sống vợ, Tự cười mình, Hỏi mình... và Thương vợ. Những bài thơ này cho chúng ta thấy, bên cạnh một Tú Xươn trào phúng sắc sảo, ngang ngạnh, tinh quái, khác đời là một Tú Xương khác rất mực đằm thắm, biết tự hạ mình để làm đẹp người khác. Không phải lúc nào con người ấy cũng chế giễu, cười người, cay độc mà nhiều lúc ông vẫn để cho lòng mình sâu lắng lại và bật ra những bài thơ chứa chan tình cảm, giàu sự suy tư, dằn vặt. Thương vợ viết về bà Tú nhưng thực ra lại có sự song hành của cả hai hình tượng: hình tượng bà Tú được thể hiện một cách nổi bật trực tiếp và hình tượng ông Tú được khắc hoạ một cách gián tiếp nấp sau người vợ nhưng vẫn khá rõ nét. Thực chất Tú Xương viết thơ để ca ngợi vợ và muốn khắc hoạ hình qảnh một ông “chồng thừa” vô trách nhiệm chứ không hề có ý đề cao mình nhưng vô hình chung vẫn hiển hiện trong bài thơ một nhân cách cao đẹp của người chồng và từ đó là một quan niệm khác biệt về người vợ so với truyền thống. Tú Xương đã giới thiệu vợ mình một cách thân mật, gần gũi, hóm hỉnh nhưng ẩn chứa trong đó bao tình cảm và nỗi niềm dằn vặt, xót xa: Quanh năm buôn bán ở mom sông Câu thơ ngắn gọn đã phản ánh một cách cụ thể, chi tiết không gian, địa điểm và công việc làm ăn của bà Tú. Tên thật của bà là Phạm Thị Mẫn, quê ở Lương Đường, Hải Dương, nhưng sinh tại Nam Định. Bà chuyên buôn bán gạo ở bến sông để nuôi gia đình. Hai từ “quanh năm” nói lên được nỗi vất vả, tần tảo của bà Tú triền miên hết ngày này đến ngày khác, tháng này đến tháng khác, năm này đến năm khác... Vòng quay của thời gian vô tận đã cuốn bà vào cuộc vật lộn mưu sinh đầy vất vả. Cách tính thời gian như thế vừa nói được nỗi lo toan khó nhọc của bà Tú, lại vừa là cách ông Tú tỏ lòng biết ơn công lao tần tảo sớm hôm của vợ mình. Biện pháp tăng cấp ý được sử dụng để diễn tả sự vất vả, từ thời gian (quanh năm), nghề nghiệp (buôn thúng bán mẹt), cho đến không gian, địa điểm làm ăn: “mom sông”. Mom sông là một nơi chênh vênh, ba bề là nước, nó gợi lên sự nguy hiểm, bất trắc, vốn không phải là nơi dành để buôn bán bình thường. Bởi vậy hơn ai hết, Tú Xương hiểu rõ mục đích của nỗi vất vả đó nơi người vợ: Nuôi đủ năm con với một chồng Đôi quang gánh cuộc đời trên vai bà Tú thật quá nặng. Một mình bà phải nuôi đến sáu miệng ăn, đó là chưa kể đến chính bản thân mình. Tú Xương không tính bà vào thành phần phải “nuôi đủ” là chính đáng, do bà là người làm ra của cải cưu mang cả gia đình, nhưng cũng là một cách đề cao bà, ngầm xếp bà ra một thứ bậc khác. Đây là cách tính công, đề cao công lao của vợ một cách chi li, rất mực ân tình của Tú Xương. Mẹ nuôi con mà không có chồng giúp sức, tuy vất vả nhưng còn là chuyện thường tình, dẫu sao cũng là thiên chức của người phụ nữ. Điều lạ là cả đến ông Tú bà cũng phải nuôi. Quả thực đây là một sự vô lý, bất công khi gánh nặnggia đình dồn hết lên vai người vợ. Tú Xương đã tách ra làm hai cái gánh nặng ấy: năm con với một chồng, để thấy rõ cái công ơn của bà với gia đình và với riêng ông. Nhưng gánh nặng dường như nghiêng lệch, trĩu nặng hơn về một bên, phía một mình ông chồng vô tích sự nhưng lại đa sự nhiều hơn năm đứa con thơ, khiến câu thơ cũng như oằn hẳn về phía cuối. Cách kể công cho vợ như vậy thật là độc đáo, thật là Tú Xương. Nhà thơ đã tự hạ mình xuống mức thấp hơn cả lũ con, đứng riêng ra một bên, vì ông là một thứ chồng đặc biệt mà bà Tú phải nuôi riêng. Liên từ “với” nghe thật buồn, thật hài hước, thật hổ thẹn và thảm hại. “Nuôi đủ” ông không chỉ là đảm bảo những nhu cầu như một người bình thường mà còn là đủ thứ cao sang tốn kém, đủ cả mọi đòi hỏi sở thích ăn chơi đàn đúm của ông: Biết thuốc lá, biết chè tàu Cao lâu biệt vị, hồng lâu biết mùi. Nuôi một người ăn chơi phong lưu “ngựa xe chẳng có lúc nào ngơi”, nổi tiếng có “nòi tình”, lại còn suốt đời theo đòi thi cử công danh như vậy thật khác hẳn với việc nuôi con, và có lẽ còn tốn kém hơn cả năm đứa con thơ. Theo quan niệm truyền thống thì kẻ làm trai phải để chí ở công danh, sự nghiệp, thông qua con đường khoa cử làm quan, còn chuyện bếp núc gia đình thì phó mặc cho người phụ nữ. Đã có biết bao thầy đồ nghèo nhờ vợ tảo tần cơm áo mà thành danh. Xã hội ấy có biết bao “ông quan ăn lương vợ”, biết bao ông chồng ăm bám mà vẫn lên mặt hành hạ vợ con. Thói gia trưởng, sĩ diện khiến cho mấy ai dám hạ mình nói thẳng, nói thật cái hoàn cảnh ăn bám, vô tích sự của mình. Nhưng đã có một Tú Xương đầy dũng cảm dám vất bỏ cái nếp nghĩ cổ hủ đề cao người đàn ông, khinh rẻ người phụ nữ, dám bêu ra trước thiên hạ những kém cỏi, sĩ diện hão đó để tôn vinh công lao người vợ, để sống thật với những cảm xúc, suy nghĩ của chính mình. Sự khác đời, khác với với truyền thống của nhà thơ chính là ở chỗ đó. Những người khác cho đó là chuyện thường tình, chuyện tất yếu, còn Tú Xương nhận thức rõ ràng về sự thừa ra, vô lý của mình. Mặc cảm “con người thừa” là mặc cảm của thế hệ Tú Xương, đã rõ nét từ Nguyễn Khuyến (Ghế chéo, lọng xanh ngồi bảnh chọe / Tưởng rằng đồ thật hóa đồ chơi; Nghĩ mình cũng gớm cho mình nhỉ / Thế cũng bia xanh, cũng bảng vàng), nhưng lại càng rõ nét hơn, hiện thực hóa hơn ở nhà thơ thành Nam, ông đã đẩy “con người thừa” thành con người nhỏ bé thảm hại và không ngần ngại phủ định mình, tầm thường hóa bản thân mình ở mức thấp nhất. Trước ông chưa có một nhà thơ nào vượt qua nổi ý thức tự trọng của một nhà nho để bày ra trước mọi người những hạn chế của mình. Nhưng đó dường như không phải chủ đích của ông. Điều ông muốn thể hiện khi dám vất bỏ cái sĩ diện hão của kẻ “dài lưng tốn vải ăn no lại nằm” chính là xuất phát từ lòng tri ân với người vợ đã hết lòng vì ông, biết đền bù lại bằng cái tình, bằng tấm lòng trân trọng, biết ơn nỗi vất vả mệt nhọc của bà. Nói lên được điều đó đối với một người chồng trong một xã hội coi thường người phụ nữ thật không phải điều dễ dàng. Tấm lòng ấy thật đáng yêu, đáng trân trọng biết bao! Câu thơ tả thực chất chứa ý vị tự trào mà lại cay đắng, xót xa, cười ra nước mắt. Vẻ đẹp của người vợ càng được biểu hiện một cách cụ thể qua những chật vật, bon chen trong cảnh làm ăn vất vả, tội nghiệp hàng ngày: Lặn lội thân cò khi quãng vắng Eo sèo mặt nước buổi đò đông. Các nhà nghiên cứu đã nói về việc Tú Xương đã mượn hình ảnh con cò trong ca dao xưa để nói về nỗi vất vả đơn chiếc và sự chịu thương, chịu khó, hi sinh thầm lặng của bà Tú: Con cò lặn lội bờ sông Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non... So với ca dao, câu thơ của Tú Xương có nhiều cái mới. Cái mới thứ nhất là việc đưa động từ “lặn lội” lên đầu câu, khiến câu thơ trở nên có sức nặng hơn khi khắc sâu nỗi vất vả đơn chiếc của bà Tú giữa cái rợn ngợp của không gian. Cái mới thứ hai, cũng là sáng tạo mang tính chất thời đại, là sự tiếp tục của chủ nghĩa nhân đạo vì con người và phát hiện ra con người của văn học thế kỷ XVIII - XIX, khi nhà thơ chuyển từ “con cò” trong ca dao thành “thân cò” để chỉ cả một kiếp người, nhấn mạnh đến thân phận người phụ nữ. Chữ “thân” luôn gợi cảm giác nhỏ bé tội nghiệp, bơ vơ chịu đựng. Nữ sĩ Xuân Hương khi xưa đã từng ngậm ngùi viết: Thân em vừa trắng lại vừa tròn Bảy nổi ba chìm với nước non. Ở người phụ nữ xưa, “thân” luôn gắn với “phận”, chính vì vậy mà thi hào Nguyễn Du đã bao lần phải thốt lên: Đau đớn thay phận đàn bà Và nàng Kiều của ông trong những tháng ngày nhơ nhuốc đã phải tạm cúi đầu chấp nhận số phận: Thân lươn bao quản lấm đầu Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa. Những vấn đề xã hội về thân phận con người đến Tú Xương đã trở nên gần gũi hơn khi nhà thơ nhận thấy điều đó hiện hữu ngay trong những người thân của mình và ám ảnh trong chính bản thân mình, một kẻ lỡ thời vô tích sự. Điều thứ ba là nếu trong ca dao mới chỉ có cái heo hút của không gian thì “thân cò” trong thơ Tú Xương còn ở giữa sự rợn ngợp của thời gian. “Khi quãng vắng” khác với “nơi quãng vắng”, “ở quãng vắng”, nó diễn tả được cả cảm giác đơn lẻ đầy hiểm nguy về không gian và nỗi khắc khoải côi cút về thời gian của sự vất vả, tảo tần. Ta như thấy đằng sau mỗi câu chữ là ánh mắt lo âu đầy ăn năn tự vấn của người chồng đang dõi theo bóng dáng lẻ loi, lam lũ của người vợ trên con đường gập gềnh sương gió, giữa thời buổi của sự bon chen và tình đời bạc bẽo: Eo sèo mặt nước buổi đò đông. Đó thực sự là cuộc chiến âm thầm và dai dẳng giữa kì kèo, đôi co, chen chúc, bất chấp cảnh “đò đầy” để giành giật miếng cơm manh áo cho con, để đổi lại sự thong dong nhàn nhã cho chồng. Chuyến đò đầy gian nan nguy hiểm đó giống như chính cuộc đời đầy vất vả của bà Tú vậy: biết đò đã đầy, chất chứa bao hiểm nguy, văng vẳng bên tai lời mẹ dặn “đò đầy chớ qua” mà vẫn cứ phải dấn thân, phải bước tới, phải vật lộn. Hai từ láy “lặn lội”, rồi “eo sèo” được đảo lên đầu câu càng như nhấn mạnh thêm nỗi cực nhọc, lam lũ trong bươn trải kiếm sống của người phụ nữ này. Phải nói rằng, nghệ thuật bình đối trong hai câu thực đã góp phần quan trọng vào việc dựng lại chân dung con người cả về thể chất lẫn tinh thần và công cuộc làm ăn kiếm sống không một phút ngơi nghỉ trong mọi bối cảnh gian khó của bà Tú. Hai câu thơ cũng dựng lại không khí và khung cảnh buôn bán của thành Nam một thời. Thơ thất ngôn bát cú có kết cấu chặt chẽ nhưng nghệ thuật bình đối và việc chọn lọc từ ngữ tinh giản đã giúp cho những hình ảnh được xây dựng từ đây có sức gợi tả nổi bật. Tài năng của Tú Xương là ở chỗ đã đưa được vào trong thể thơ gò bó này rất nhiều chi tiết chân thực và sinh động từ cuộc sống một cách rất tự nhiên. Việc tận dụng một cách triệt để những thế mạnh của thể thơ đã khiến cho mỗi từ ngữ, mỗi hình ảnh đều trở nên chói sáng mà nhịp thơ vẫn phát triển hài hòa, nhịp nhàng. Tinh hoa của một thể thơ phát triển và dân tộc hóa đã gần một nghìn năm được kết tinh lại trong một con người, trong một bài thơ. Thương vợ chính là dấu nối giữa hai thế kỷ thơ Việt, nối truyền thống với hiện đại. Nếu ở hai câu đề và hai câu thực, nhà thơ còn đứng ngoài để miêu tả, thì đến hai câu luận Tú Xương đã nhập thân vào nhân vật để diễn tả một cách chân tình nỗi niềm sâu kín của bà Tú. Người chồng đầy tình nghĩa này đã phân thân ở nhiều điểm nhìn khác nhau để nhìn cho thấu, cho hết công lao thầm lặng của người vợ: Một duyên hai nợ âu đành phận Năm nắng mười mưa dám quản công. Ông bà lấy nhau đã có tới năm mặt con kể ra cũng là một mối lương duyên “trời” ban. Ông Tú lại lại là người có tài có tình. Bà đã từng khen thơ ông “Chẳng hay sao lại đỗ ngay tú tài” và đôi lúc cũng được “nở mặt nở mày” với đời vì ông. Nhung duyên thì có một mà nợ lại những hai. Niềm cay cú của ông đối với việc thi cử và kéo theo đó là cái nghèo đeo đuổi đã khiến bà phải lăn lộn kiếm sống. Thêm vào đó ông lại là một kẻ khác đời, dở người và những “thói hư, tật xấu” cứ theo đuổi ông suốt cuộc đời. Nói đến “nợ” là nói đến sự đau khổ, xui xẻo phải gánh chịu. Ông Tú tự nhận mình là cái “nợ” của đời bà, ông thương cảm cho bà và tự dằn vặt mình. “Âu” là cam, “đành” cũng là cam, hai lần cam chịu. “Âu đành phận” giống như một cái gật đầu nhẫn nhục chịu đựng, cái nợ đời như một sự tất yếu không thể không chấp nhận. Điều kỳ diệu là người mẹ, người vợ đó không hề ý thức rằng đó là sự hy sinh. Như bao người phụ nữ Việt Nam khác, bà làm mọi việc một cách tự nhiên, nhi nhiên, âm thầm, không hề đòi hỏi, oán trách. Dám quản công vừa là thái độ không hề ngần ngại, lại vừa chứa đựng cả cái ý khiêm nhường, không muốn nhắc đến sự khó nhọc của mình. Cách nói cam chịu số phận là cách ông Tú cảm thương thay cho vợ chứ bà đâu có tính đếm công lao của mình. Hình tượng bà Tú như càng trở nên vị tha, nhân hậu hơn qua mỗi dòng thơ. Tú Xương cũng rất có tài dùng số từ để làm tăng giá trị của hình ảnh, câu chữ. Lúc đầu là số cộng (năm con với một chồng) nhưng số cộng này khá đặc biệt ở chỗ: cộng thêm một cách có lợi cho vợ bằng cách trừ đi (kể ra) những cái vô tích sự của chồng. Cái cộng đó tưởng như là “thừa” ra mà thực chất là thêm vào. Tiếp theo là sự nhân đôi (một duyên hai nợ, năm nắng mười mưa) cũng là những phép toán nhấn mạnh sự thiệt thòi, vất vả và công lao không thể nói hết bằng lời của bà Tú. Ngôn ngữ lời nói, thành ngữ dân gian được vận dụng linh hoạt, tự nhiên khiến cho những tính toán đó không hề gây ấn tượng là những con số thuần túy. Ở sáu câu thơ đầu, Tú Xương đã khắc họa hình ảnh người vợ trong vất vả gian lao vẫn sáng ngời những phẩm chất tốt đẹp và đức hy sinh, nhẫn nại thầm lặng của người phụ nữ Việt Nam. Và thấp thoáng đằng sau đó là hình ảnh của người chồng với sự cảm thông và trân trọng ân tình của vợ. Nhưng phải đến hai câu thơ cuối, hình ảnh người chồng mới thực sự hiện ra và vẫn là để nói hộ vợ mình. Nhà thơ đã tự trách mình, tự dằn vặt mình đến nghiệt ngã: Cha mẹ thói đời ăn ở bạc Có chồng hờ hững cũng như không. Câu thơ buột ra tự nhiên như một tiếng chửi nhưng lại ngậm ngùi như một lời than, vẫn có sắc thái vui đùa chứa đựng ý tình sâu sắc, cảm động. Tú Xương mượn lời vợ tự trách mình và qua đó một lần nữa bộc lộ sự cảm thông với hoàn cảnh của bà. Đằng sau tiếng chửi ấy là bi kịch của một con người chất chứa bao phẫn uất, đau xót và tê tái, là nỗi hổ thẹn và tình thương yêu vô bờ... Ông tự chửi thói sĩ diện kiểu thầy đồ nghèo ăn bám vợ của mình, thói gia trưởng chỉ biết ngồi than vãn sự đời, phó mặc tất cả cho người phụ nữ, thực chất trở thành gánh nặng cho vợ cho con. Rõ ràng ở đây đã thể hiện sự thức nhận của một con người biết vượt lên khỏi cái hạn chế của tầng lớp và thời đại mình để cảm thông với những kiếp người quanh mình. Vì vậy lời chửi ấy không chỉ để dành trách mình mà còn để chửi đời, chửi cả cái xã hội lố lăng, giả dối đã sản sinh ra cái thứ chồng hờ hững... Chính cái xã hội thực dân nửa phong kiến ấy đã đẻ ra thói đời bạc bẽo, những kẻ hợm hĩnh sống trên lưng người khác, xã hội ấy đã đẩy một Trần Tế Xương tài hoa xuất chúng vào bước đường cùng, khiến người vợ vốn “ung dung, tính hạnh khoan hòa”, “con gái nhà dòng” của ông phải cực khổ, vất vả. Ý nghĩa tố cáo xã hội trở nên nổi bật ở câu kết bài thơ và man mác trong toàn bài, nóng hổi hơi thở thời đại. Lời chửi cuối bài thơ như càng khẳng định thêm tình cảm của ông Tú đối với bà Tú. Người chồng ấy tuy ăn bám vợ con nhưng thực chất không hề “ăn ở bạc”, không hề “hờ hững”, mà ngược lại dù bất lực trước hoàn cảnh nhưng vẫn luôn dõi theo, cảm thông, sẻ chia, biết ơn. Thương vợ mà cũng chính là thương hại cho chính bản thân mình. Bài thơ kết thúc thật độc đáo và bất ngờ, vừa thấm đẫm cái bi, cái bất hạnh, lại cay đắng cái hài hước, cái cười nuốt nước mắt vào trong. Bao nhiêu là cung bậc tình cảm của cuộc đời hiển hiện trong những câu thơ giản dị, khiêm nhường, tự nhiên ấy. Dù vất vả nắng mưa nhưng bà Tú ấy vẫn luôn cảm thấy hạnh phúc vì được sống giữa tình thương yêu, trìu mến, vì có một người chồng đầy nhân cách, hiểu mình, cảm thông nỗi vất vả của mình như ông Tú. Bà đã được cả nước biết đến qua bài thơ của ông, trở thành biểu tượng cho sự chắt chiu, chịu khó, hết lòng vì chồng con của người phụ nữ Việt Nam. Hình ảnh bà Tú vất vả, tảo tần với đôi quang gánh trĩu nặng trên vai, chiếc nón cũ đội đầu, chiếc áo nâu chùng tứ thân bốn mùa không đổi, thoăn thoắt gấp gáp bước đi giữa không gian và thời gian vô định chính là hình ảnh của đất nước trong những tháng năm đói nghèo nô lệ.
Xem thêm

5 Đọc thêm

Bình luận ý kiến sau về tiếng cười của Trần Tế Xương: "Tiếng cười trong thơ trào phúng của Tú Xương có đủ sắc điệu nhưng nổi lên một cá tính nghệ thuật độc đáo là tính dữ dội, quy

BÌNH LUẬN Ý KIẾN SAU VỀ TIẾNG CƯỜI CỦA TRẦN TẾ XƯƠNG: "TIẾNG CƯỜI TRONG THƠ TRÀO PHÚNG CỦA TÚ XƯƠNG CÓ ĐỦ SẮC ĐIỆU NHƯNG NỔI LÊN MỘT CÁ TÍNH NGHỆ THUẬT ĐỘC ĐÁO LÀ TÍNH DỮ DỘI, QUY

Bình luận ý kiến sau về tiếng cười của Trần Tế Xương: "Tiếng cười trong thơ trào phúng của Tú Xương có đủ sắc điệu nhưng nổi lên một cá tính nghệ thuật độc đáo là tính dữ dội, quyết liệt; khác với tiếng cười của Nguyễn Khuyến, nghiêng về sự hóm hỉnh, thâm thúy, chế giễu có tính chất răn bảo, mặc dù cả hai tiếng cười đều phát ra từ cội nguồn của tâm huyết với nước, với dân, với đời

1 Đọc thêm

THƠ TÚ XƯƠNG NHỮNG HIỆN VẬT THỜI CUỘC VÔ GIÁ

THƠ TÚ XƯƠNG NHỮNG HIỆN VẬT THỜI CUỘC VÔ GIÁ

Năm2005 là năm kỷ niệm lần thứ 135 ngày sinh của nhà thơ Trần Tế Xương. Những dấu tích của cuộc đời ông dường như đã mai một rất nhiều, cần nhanh chóng thu thập, phục hiện để lưu giữ như những tài sản quý báu cho thế hệ sau. Còn ngót hai năm nữa (2007) là ngày giỗ thứ một trăm nhà thơ dân tộc Trần Tế Xương. Năm nay (2005) kỷ niệm 135 năm ngày sinh. Thơ Tú Xương là một đặc sản của thời cuộc. Thời cuộc buổi Tây sang, đánh cướp được nước ta rồi, họ hạ trại tính chuyện ăn ở lâu dài và khai thác các nguồn lợi. Họ du nhập áp đặt lối sống của họ. Họ tạo ra một thứ người Việt tôi tớ. Làm tôi tớ mà lại dị hợm. Dị hợm vì cơm thừa canh cặn, cũng dị hợm với lối sống học mót ngoại bang, từ nói năng xì xồ nói ít tiếng Tây, đến ăn uống sáng rượu sâm banh tối sữa bò. Đấy là bọn quan lại tay sai phủ, huyện, tổng đốc, nhưng đông hơn, gặp chan chát ngoài đời và tạo nên nét đổi thay cả xã hội, lại là lớp công chức ăn lương Pháp, ấy là các thứ thông, ký, phán, tham… cho đến các thầy cẩm, thầy cò. Lớp người này sống ở các thành thị, làm nên nét đặc trưng của phố phường thời ấy. Cái bối cảnh xã hội nhố nhăng tủi nhục ấy đã lọt vào tầm cảm hứng của Tú Xương, một người sinh và sống ở phố phường Nam Định. Xã hội Nam Định cuối thế kỷ mười chín đầu thế kỷ hai mươi hiện lên, cụ thể, chi tiết là hiện từ thơ Tú Xương. Và chỉ trong thơ Tú Xương nó mới phong phú, sinh động đủ cho hôm nay ta đọc mà còn như được chung khóc cười với tác giả. Thơ Tú Xương thành một bảo tàng nhan nhản những hiện vật thời cuộc của riêng Nam Định và cũng là của chung điển hình cho cả nước trong cái thời bi phẫn đó. Đạo lý băng ngoại, đồng tiền lên ngôi, chất người xuống giá. Tú Xương ngửa mặt kêu trời cho cái mảnh đất Phố phường tiếp giáp với bờ sông: Có đất nào như đất ấy không? (…) Nhà kia lỗi phép con khinh bố Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng Keo cú người đâu như cứt sắt Tham lam miệng thở những hơi đồng Tú Xương bi phẫn trong bài thơ Đau mắt: Muốn mù trời chẳng cho mù nhỉ Giương mắt trông chi buổi bạc tình Từ bệnh đau mắt đã thành nỗi đau con mắt lúc trông đời. Ông còn đau trong trái tim. Đau khi đêm vắng trong tâm trí nghe vọng tiếng gọi đò trên con sông đã lấp. Vẳng nghe tiếng ếch bên tai Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò Sông Lấp ấy là của Nam Định, nhưng tiếng gọi đò thì đã thành tiếng gọi hồn sông núi của con dân cả nước. Cái giật mình Tú Xương là cái giật mình thân phận của cả một dân tộc. Tú Xương là nhà thơ đặc sắc của toàn dân, của mọi địa phương. Các thế hệ học trò đều học và nhớ thơ ông. Trong các nhà thơ viết bằng thứ chữ vuông tượng hình, ông là người đầu tiên và cũng là cuối cùng, đã đưa được không khí thị dân tiền tư bản vào thơ. Ông đã mang được chất liệu, lẫn cảm xúc hiện đại của thế kỷ XX vào các câu thơ được gọi là cổ điển. Nguyễn Khuyến, nhà thơ lớn cùng thời với ông, sinh trước ông 35 năm và mất sau ông hai năm, tài thơ cũng cao, nhưng không giàu chất sống hiện thực bằng ông, không đủ gay gắt việc đời như ông. Nguyễn Khuyến là ông đại khoa không có được cái cay đắng Trần Tế Xương, hay chữ mà lều chõng đến tám khoa, từ 1885 đến 1906, chỉ được cái tú tài. Nỗi từng trải ấy đẻ ra cái nhìn hiện thực trào lộng vỗ mặt vào thứ khoa cử cuối mùa, đào tạo tôi tớ cho thực dân xâm lược: Một đàn thằng hỏng đứng mà trông Nó đỗ khoa này có sướng không Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt Dưới sân ông cử ngỏng đầu rồng Đầu đối với đít là nhục thì lấy động từ ngỏng mà trả thù. Hiện thực ấy là hiện thực của thành Nam, nó nhỡn tiền đối với Tú Xương, nơi có trường thi lôi thôi sĩ tử. Một tỷ lệ lớn thơ Tú Xương là thơ nói việc đi thi, hỏng thi, gắn nhiều tên đất, tên người của Nam Định. Tú Xương khi trữ tình thì còn tiêu tao ước lệ Tam Đảo Ngũ Hồ, chớp bể mưa nguồn chứ Tú Xương khi đã hiện thực thì nhân chứng vật chứng cụ thể lắm, chi tiết đủ độ tin cậy làm hồ sơ cho lịch sử: Ở phố hàng Song thật lắm quan Thành thì đen kịt, Đốc thì lang Rồi những ông lang Xán, chú ích Sinh, kẹo Thiều Châu, bánh Hanh Tụ…Nguyên liệu tạo nên thơ Tú Xương là Nam Định. Từ Nam Định hồn thơ ông đã ôm và đất nước, bao quát một giai đoạn lịch sử. Tú Xương hộ khẩu thường trú ở phố hàng Nâu, ở phố hàng Nâu có phỗng sành. Phố hàng Nâu bây giờ là phố Minh Khai, căn nhà số 280. Gia đình ông Trần Ngọc Thành đã ở đây từ năm 1952, căn nhà sửa chữa nhiều lần, giờ đây lại xây một căn mới phía trước. Nhưng vẫn còn giữ được căn nhà gác hai tầng của Tú Xương nằm khuất phía sau. Khách thăm xin phép vẫn được gia chủ rộng lòng cho vào thăm. Nhưng phải là người biết, chứ khách vãng lai đi qua ngoài phố không ai biết đây là nơi ăn ở của Tú Xương. Căn gác đã ọp ẹp lắm. Phải chăng người chủ thổ cư này chưa phá đi xây lại là vì trong lòng một cư dân Nam Định cũng còn lưu luyến chút hơi hướng Tú Xương. Thơ Tú Xương đã tạo nên phần đặc sắc cho một giai đoạn thơ ca dân tộc và độc đáo hơn, nó đã thành tâm hồn của phố phường Nam Định. Những dấu tích còn lại của cuộc đời ông đã thành phần tài sản quý báu của thành phố, thành sức thu hút, thành nơi chiêm ngưỡng của đồng bào cả nước khi về Nam Định. Thời gian càng lùi xa, đời sống văn hóa của dân ta càng được nâng cao, những dấu tích ấy càng trở nên vô giá. Nghĩ vậy nên mong muốn ủy ban tỉnh, ngành văn hóa nên mua lại căn nhà 280 Minh Khai, chỉ có 102 mét vuông đất, để rồi tôn tạo, phục hồi giữ lại nguyên dạng căn nhà cũ, gắn biển kỷ niệm, gìn giữ cho đồng bào cả nước di tích của nhà thơ và cũng là dấu vết kiến trúc một Nam Định cái thời Trời đất xoay ra phố cả làng. Đối diện với căn nhà ở của ông Tú, bên kia đường, còn gian nhà ông ngồi dạy học. Gian nhà giột nát, người ta đã phải trùm tấm tôn lên một nửa mái ngói, nhưng vẫn còn tường vách rui mè cũ và phía trước, cuối cái sân con, còn một bức phù điêu vôi vữa hình cuộn thư, có chữ triện. Mưa nắng phôi pha nhưng vẫn đủ gợi bâng khuâng thương nhớ người xưa. Phục chế lại nhà cửa, phục hiện và sưu tầm lại nghiên bút, lều chõng, thi cử thuở xưa, biến đây thành bảo tàng Tú Xương, bảo tàng thơ và bảo tàng việc học. Đấy không chỉ là tấm lòng chúng ta ghi ơn nhà thơ mà còn dấy nên niềm tự hào của con dân Nam Định về truyền thống hiếu học tự bao đời. Tiếng gọi đò trong bài thơ Sông Lấp của Tú Xương làm xao xuyến mọi lòng dân Việt bởi cái âm hưởng như gọi hồn đất nước. Theo tôi đấy là bài thơ hay nhất của Tú Xương, và cũng là bài thơ của một giai đoạn lịch sử, của hồn vía Việt Nam sâu nặng. Hai câu thơ trích từ bài này đã được các nhà quản lý văn hóa khắc trên bia mộ Tú Xương, nơi vườn hoa Vị Xuyên. Ngôi mộ được di dời từ những năm đất nước còn gian khổ. Ngày ấy có người kêu, trách ngành văn hóa: ép cụ Tú rời xa đồng ruộng, vào nằm nơi bụi bậm thị thành, vườn hoa bóng liễu, trai gái trăng hoa. Bây giờ nhìn cả quần thể kiến trúc nơi đây, một vùng trang trọng nhất của thành phố, nơi mọi du khách đều đến thăm viếng, mới thấy việc chuyển mộ Tú Xương năm ấy là có lý. Chỉ tiếc trong hai câu thơ trích, khắc quốc ngữ trên bia, có một chữ sai, nên sửa. Trở lại bài thơ Sông Lấp, bài thơ mang hồn ông Tú. Nam Định ta nên cố định dáng vẻ tâm hồn gọi đò đêm này bằng một bức tượng Tú Xương, y phục dân tộc, chới với gọi đò. Bức tượng nhìn ra sóng nước sông Đào, bên chỗ Cầu Đò Quan thoáng đãng. Tú Xương gọi hồn nước. Chúng ta gọi hồn ông. Chúng ta tự hào truy lĩnh tài sản tâm hồn ông để lại và qua bức tượng chúng ta cũng bàn giao lòng biết ơn Tú Xương với mai sau.
Xem thêm

2 Đọc thêm

HƯỚNG DẪN SOẠN BÀI : TÁC GIẢ NGUYỄN KHUYẾN

HƯỚNG DẪN SOẠN BÀI : TÁC GIẢ NGUYỄN KHUYẾN

NGUYỄN KHUYẾN I. KIẾN THỨC CƠ BẢN Nguyễn Khuyến sinh năm 1835 mất năm 1909, lúc nhỏ tên là Thắng, sau khi thi hội không đỗ đổi thành Khuyến, hiệu là Quế Sơn, quê làng Và, xã Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Ông xuất thân trong gia đình có nhiều người đỗ đạt. Nguyễn Khuyến là người có tài những thi cử lận đận. Năm 1871, ông thi đỗ cả Hội nguyên và Đình nguyên. Vì ba lần đỗ đầu nên ông được gọi là Tam nguyên Tên Đổ. Sau khi đỗ đạt ông đã ra làm quan với triều đình nhà Nguyễn. Sau đó, cảm thấy bất lực trước cảnh đất nước bị xâm lược, đạo đức xã hội suy đồi, chốn quan trường đen tối, ông đã cáo quan về ở ẩn tại làng quê. Trong thời gian đó, ông tiếp tục làm thơ để bộc lộ tâm sự và thể hiện tấm lòng với dân tộc. Nguyễn Khuyến đã sống vào thời kì xã hội Việt Nam có rất nhiều biến động. Các nhà nho không có nhiều sự chọn lựa. Và ông đã chọn cho mình một cách sống theo đạo thông thườngcủa những nhà Nho có nhân cách: bất hợp tác với cường quyền về sống cuộc sống nghèo khổ nhưng thanh bạch chốn làng quê. II. RÈN KĨ NĂNG Nguyễn Khuyến sáng tác thơ, câu đối, văn bằng cả chữ Hán và chữ Nôm. Những sáng tác của ông tập trung thể hiện tình cảm của một nhà nho đối với quê hương đất nước, người thân. Sáng tác của ông có thể chia thành các mảng sau: 1. Tâm sự yêu nước, u hoài trước sự đổi thay của thời cuộc Thực dân Pháp xâm lược Việt Nam đã làm cho xã hội Việt Nam có nhiều biến đổi rất mạnh mẽ. Dưới con mắt của các nhà Nho, đó chủ yếu là những biến đổi tiêu cực. Đạo đức xã hội thay đổi và khác rất nhiều so với những chuẩn mực đạo đức phong kiến. Giống như nhiều nhà Nho khác, Nguyễn Khuyến cảm thấy vô cùng đau xót trước hiện thực ấy. Và ông đã viết rất nhiều bài thơ thể hiện nỗi niềm u hoài của mình về vận mệnh dân tộc. 2. Thơ về làng cảnh Việt Nam Nguyễn Khuyến được coi là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam. Ông viết rất thành công ở đề tài thơ về làng quê. Trong đó nổi tiếng nhất là chùm thơ thu. Để tránh những bon chen điên đảo của chốn quan trường, ông đã lui về quê dạy học, làm thơ. Không khí thanh bình nơi thôn xóm đã khơi nguồn cảm hứng để ông gưỉ gắm tâm sự. Bức tranh làng cảnh trong thơ ông luôn đẹo vẻ đẹp của sự bình yên, thanh sang, nhưng buồn và cô đơn.  3. Thơ trào phúng Thơ trào phúng của Nguyễn Khuyến mang giọng điệu thâm thuý vơi snôj dung trào phúng rất sâu cay. Ông thường phê phán nhữung biểu hiện suy đồi của đạo đức xã hội, nhất là chuyện khoa cử, quan tước. Đồng thời, với tâm trạng của một nhà nho bất lực trước thời cuộc ông đã viết những vần thơ tự trào để vừa tự trách mình, vừa bộc bạch tâm sự về thế cuộc. Ở cả ba mảng thơ trên, Nguyễn Khuyến đều để lại những sáng tác có giá trị cả về nội dung và nghệ thuật. 4. Một số nét nghệ thuật tiêu biểu Nguyễn Khuyến thành công hơn cả là ở thơ văn viết bằng chữ Nôm. Phân lớn những tác phẩm xuất sắc của ông đều được sáng tác trong thời kì ông đã cáo quan về ở ẩn. Điểm nổi bật trong nghệ thuật thơ Nguyễn Khuyến là ông đã “đưa tiếng nói sinh hoạt dân dã, bình dị vào thơ một cách tinh tế, sâu sắc, nhiều khi hóm hỉnh, tự nhiên mà thành thơ”. Dù viết thể thơ cổ điển những thơ ông vẫn luôn rất thoải mái, không có cảm giác gò bó. Ông vận dụng nhiều thủ pháp nghệ thuật của thơ ca dân gian và ngôn ngữ giàu chất tạo hình. Nguyễn Khuyến đã đưa thơ Nôm, ngôn ngữ thơ đến một trình độ mới, tinh tế và rất hiện đại. III. TƯ LIỆU THAM KHẢO "... Trong xã hội cũ, người ta thường lưu hành câu thành ngữ “nhất tự cách trùng” hay “quan dân lễ cách” để chỉ một hiện tượng xã hội kiêu bạc; không ít nhà nho lúc còn hàn vi thì gần gũi bà con xóm giềng, nhưng khi đã đỗ đạt hay đã leo lên chiếc ghế quan trường thì vội vàng thay đổi ngay thái độ; xa rời bà con và lên mặt với xóm làng. Nhưng cụ Tam Nguyên Yên Đổ thì trái lại. Ông hưu quan họ Nguyễn này lúc nào cũng sống chan hòa thân mật với đồng bào xung quanh. Một người láng giềng cưới vợ cho con hay vừa làm xong một cái nhà mới, Tam Nguyên gửi ngay câu đối đến mừng; chị thợ rèn hay chị thợ nhuộm không may góa bụa, cụ có câu đối gửi đến an ủi; bác hàng thịt quen biết vì mến tuổi già mà thường đem biết bát tiết canh, cụ viết câu đối cảm ơn. Khi nhà cụ có chuyện mừng chuyện vui, ví dụ như kì “Lên lão” chẳng hạn, cụ già họ Nguyễn rất ân cần, chu đáo, chia vui với mọi người, không hề có sự phân biệt đối xử. Tam Nguyên Yên Đổ khao lão cũng giống như bất cứ một ông già nào ở thôn quê khao lão. Hiện nay bà con làng Yên Đổ còn lưu truyền nhiều đức tính tốt đẹp của cụ Nguyễn Khuyến: chan hòa, chân tình, giản dị, thậm chí xuề xòa nữa. Vì quá yêu cụ, người ta còn thần thánh hóa Nguyễn Khuyến: Lúc bé là thần đồng, lúc về hưu là thành hoàng, đứng trên các vị thành hoàng ở địa phương. Tấm lòng quý mến tự hào của quê nhà đối với nhà thơ dân tộc xuất sắc Nguyễn Khuyến là như thế đó.” Hoàng Hữu Yên                   (Thơ văn Nguyễn Khuyến,                         NXB Giáo dục, Hà Nội, 1984, tr.9-10)
Xem thêm

4 Đọc thêm

Vài nét về Nguyễn Khuyến

VÀI NÉT VỀ NGUYỄN KHUYẾN

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN Nguyễn Khuyến sinh năm 1835 mất năm 1909, lúc nhỏ tên là Thắng, sau khi thi hội không đỗ đổi thành Khuyến, hiệu là Quế Sơn, quê làng Và, xã Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Ông xuất thân trong gia đình có nhiều người đỗ đạt. Nguyễn Khuyến là người có tài những thi cử lận đận.  Năm 1871, ông thi đỗ cả Hội nguyên và Đình nguyên. Vì ba lần đỗ đầu nên ông được gọi là Tam nguyên Tên Đổ. Sau khi đỗ đạt ông đã ra làm quan với triều đình nhà Nguyễn. Sau đó, cảm thấy bất lực trước cảnh đất nước bị xâm lược, đạo đức xã hội suy đồi, chốn quan trường đen tối, ông đã cáo quan về ở ẩn tại làng quê. Trong thời gian đó, ông tiếp tục làm thơ để bộc lộ tâm sự và thể hiện tấm lòng với dân tộc. Nguyễn Khuyến đã sống vào thời kì xã hội Việt Nam có rất nhiều biến động. Các nhà nho không có nhiều sự chọn lựa. Và ông đã chọn cho mình một cách sống theo đạo thông thườngcủa những nhà Nho có nhân cách: bất hợp tác với cường quyền về sống cuộc sống nghèo khổ nhưng thanh bạch chốn làng quê. II. RÈN KĨ NĂNG Nguyễn Khuyến sáng tác thơ, câu đối, văn bằng cả chữ Hán và chữ Nôm. Những sáng tác của ông tập trung thể hiện tình cảm của một nhà nho đối với quê hương đất nước, người thân. Sáng tác của ông có thể chia thành các mảng sau: 1. Tâm sự yêu nước, u hoài trước sự đổi thay của thời cuộc Thực dân Pháp xâm lược Việt Nam đã làm cho xã hội Việt Nam có nhiều biến đổi rất mạnh mẽ. Dưới con mắt của các nhà Nho, đó chủ yếu là những biến đổi tiêu cực. Đạo đức xã hội thay đổi và khác rất nhiều so với những chuẩn mực đạo đức phong kiến. Giống như nhiều nhà Nho khác, Nguyễn Khuyến cảm thấy vô cùng đau xót trước hiện thực ấy. Và ông đã viết rất nhiều bài thơ thể hiện nỗi niềm u hoài của mình về vận mệnh dân tộc. 2. Thơ về làng cảnh Việt Nam Nguyễn Khuyến được coi là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam. Ông viết rất thành công ở đề tài thơ về làng quê. Trong đó nổi tiếng nhất là chùm thơ thu. Để tránh những bon chen điên đảo của chốn quan trường, ông đã lui về quê dạy học, làm thơ. Không khí thanh bình nơi thôn xóm đã khơi nguồn cảm hứng để ông gưỉ gắm tâm sự. Bức tranh làng cảnh trong thơ ông luôn đẹo vẻ đẹp của sự bình yên, thanh sang, nhưng buồn và cô đơn. 3. Thơ trào phúng Thơ trào phúng của Nguyễn Khuyến mang giọng điệu thâm thuý vơi snôj dung trào phúng rất sâu cay. Ông thường phê phán nhữung biểu hiện suy đồi của đạo đức xã hội, nhất là chuyện khoa cử, quan tước. Đồng thời, với tâm trạng của một nhà nho bất lực trước thời cuộc ông đã viết những vần thơ tự trào để vừa tự trách mình, vừa bộc bạch tâm sự về thế cuộc. Ở cả ba mảng thơ trên, Nguyễn Khuyến đều để lại những sáng tác có giá trị cả về nội dung và nghệ thuật. 4. Một số nét nghệ thuật tiêu biểu Nguyễn Khuyến thành công hơn cả là ở thơ văn viết bằng chữ Nôm. Phân lớn những tác phẩm xuất sắc của ông đều được sáng tác trong thời kì ông đã cáo quan về ở ẩn. Điểm nổi bật trong nghệ thuật thơ Nguyễn Khuyến là ông đã “đưa tiếng nói sinh hoạt dân dã, bình dị vào thơ một cách tinh tế, sâu sắc, nhiều khi hóm hỉnh, tự nhiên mà thành thơ”. Dù viết thể thơ cổ điển những thơ ông vẫn luôn rất thoải mái, không có cảm giác gò bó. Ông vận dụng nhiều thủ pháp nghệ thuật của thơ ca dân gian và ngôn ngữ giàu chất tạo hình. Nguyễn Khuyến đã đưa thơ Nôm, ngôn ngữ thơ đến một trình độ mới, tinh tế và rất hiện đại. III. TƯ LIỆU THAM KHẢO “… Trong xã hội cũ, người ta thường lưu hành câu thành ngữ “nhất tự cách trùng” hay “quan dân lễ cách” để chỉ một hiện tượng xã hội kiêu bạc; không ít nhà nho lúc còn hàn vi thì gần gũi bà con xóm giềng, nhưng khi đã đỗ đạt hay đã leo lên chiếc ghế quan trường thì vội vàng thay đổi ngay thái độ; xa rời bà con và lên mặt với xóm làng. Nhưng cụ Tam Nguyên Yên Đổ thì trái lại. Ông hưu quan họ Nguyễn này lúc nào cũng sống chan hòa thân mật với đồng bào xung quanh. Một người láng giềng cưới vợ cho con hay vừa làm xong một cái nhà mới, Tam Nguyên gửi ngay câu đối đến mừng; chị thợ rèn hay chị thợ nhuộm không may góa bụa, cụ có câu đối gửi đến an ủi; bác hàng thịt quen biết vì mến tuổi già mà thường đem biết bát tiết canh, cụ viết câu đối cảm ơn. Khi nhà cụ có chuyện mừng chuyện vui, ví dụ như kì “Lên lão” chẳng hạn, cụ già họ Nguyễn rất ân cần, chu đáo, chia vui với mọi người, không hề có sự phân biệt đối xử. Tam Nguyên Yên Đổ khao lão cũng giống như bất cứ một ông già nào ở thôn quê khao lão. Hiện nay bà con làng Yên Đổ còn lưu truyền nhiều đức tính tốt đẹp của cụ Nguyễn Khuyến: chan hòa, chân tình, giản dị, thậm chí xuề xòa nữa. Vì quá yêu cụ, người ta còn thần thánh hóa Nguyễn Khuyến: Lúc bé là thần đồng, lúc về hưu là thành hoàng, đứng trên các vị thành hoàng ở địa phương. Tấm lòng quý mến tự hào của quê nhà đối với nhà thơ dân tộc xuất sắc Nguyễn Khuyến là như thế đó.” Hoàng Hữu Yên                                                                  (Thơ văn Nguyễn Khuyến, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1984, tr.9-10) loigiaihay.com Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Hướng dẫn soạn bài : VỊNH KHOA THI HƯƠNG

HƯỚNG DẪN SOẠN BÀI : VỊNH KHOA THI HƯƠNG

VỊNH KHOA THI HƯƠNG                                                                              Trần Tế Xương I. KIẾN THỨC CƠ BẢN Tú Xương là một người rất lận đận trong chuyện thi cử. Ông thi nhiều lần và đều hỏng, chỉ đỗ đến tú tài. Ông lại sống và thời buổi “mưa Âu gió Mĩ”, thời kì khủng hoảng của những qua hệ đạo đức truyền thống. Cay đắng của số phận riêng cùng với những điều ngang tai trái mắt của cuộc sống thị thành đã khiến Tú Xương trở thành một nhà thơ trào phúng tiêu biểu của văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX.  Thực dân Pháp tạm thời hoàn thành cuộc xâm lược Việt Nam, văn hoá phương Tây tràn vào lấn át văn hoá truyền thống. Hán học suy vong, các nhà Nho đua nhau “vứt bút lông đi” đổi sang cầm cây bút chì để kiếm sống. Chuyện thi cử của Nho học trở thành trò hề, cảnh tượng các kì thi vô cùng thảm hại. Cả Nguyễn Khuyến và Tú Xương đều là những nhà nho có lòng tự trọng, họ đều rất đau lòng và cay đắng ghi lại trong một loạt bài thơ. Trong đó có Vịnh khoa thi Hương của Trần Tế Xương. II. RÈN KĨ NĂNG 1. Vịnh khoa thi Hương là một bài thơ trữ tình - trào phúng. Qua việc tái hiện hình ảnh thảm hại của kì thi năm Đinh Dậu (1897) tại trường Hà Nam, nhà thơ bày tỏ sự xót xa, đau đớn của con người trước tình cảnh thảm hại của các nhà Nho vào thời kì mạt vận của Nho học. Khoa thi Hương 1897 ấy được miêu tả với cảm hứng trào phúng. Bức tranh trường thi hiện lên với cảnh tượng thật nhốn nháo, lộn xộn. Khoa thi Hương ấy gợi cảm giác đau xót trước hiện thực đất nước. Trong ngày tuyển chọn nhân tài cho đất nước vốn đã chẳng được trang nghiêm  mà cái bóng của kẻ xâm lược vẫn bao trùm không tha. Hiện thực đen tối của dân tộc phần nào đwocj táI hiện trong bàI thơ này. 2. Tú Xương thuộc lớp nhà Nho theo nghiệp khoa cử cuối cùng của xã hội phong kiến Việt Nam. Cuối thế kỉ XIX, việc tổ chức các kì thi Hán học chỉ còn là hình thức. Khoa thì năm Đinh Dậu được nhà thơ giới thiệu một cách giới thiệu rất tự nhiên. Kì thi được tổ chức theo đúng thời gian quy định, ba năm một lần. Nhưng có điểm không bình thường: Trường Nam thi lẫn với trường Hà. Tác giả không dùng thi chung hoặc một cách diễn đạt khác trang trọng hơn mà dùng từ “thi lẫn”. Cách nói ấy đã dự báo tính chất không nghiêm túc của kì thi. Khoa thi Hương 1897 ấy được miêu tả với cảm hứng trào phúng rõ rệt. Tác giả đặc biệt nhấn mạnh sự nhốn nháo, lộn xộn, nhếch nhác của trường thi và sự xuất hiện ồn ào, ầm ĩ của bọn quan thầy xâm lược. Qua đó thể hiện tâm sự xót xa của một nhà Nho có tự trọng và lòng căm thù giặc của một người dân yêu nước thương nòi. 3. Bốn câu thơ 3,4,5,6 tả cảnh trường thi đều được dùng cấu trúc đảo trật tự thành phần câu và phép đối ngẫu. Hai câu thực, tác giả đảo trật tự thành phần phụ chỉ đặc điểm lên trước. Hai từ “lôi thôi”, “ậm oẹ” đứng đầu câu nhấn mạnh điểm nổi bật nhất của cảnh thi, thật bi hài. Sĩ tử là nhân vật chính của kì thi. Khi Nho học đang ở thời thịnh vượng, các sĩ tử khi đi thi thường có người hầu đi theo cho nên họ không phải làm công việc “đeo lọ” bên mình như sĩ tử trong cảnh thi này. Những sĩ tử đến kì thi trông thật nhếc nhách và tội nghiệp. Còn “quan trường”, những người có trách nhiệm tổ chức và trông coi kì thi thì cũng thảm hại không kém. “Lôi thôi” đối với “ậm oẹ” thật là cân xứng. Lẽ ra họ phải dõng dạc, oai phong trong tư thế của mệnh quan triều đình. Tú Xương đã chọn từ ngữ rất đắt. Không cần nhiều chỉ hai từ đó thôi đã đủ tái hiện bộ mặt nhếch nhác đến thảm hại của kì thi Hán học cuối cùng này. Cảnh tượng trường thi lôi thôi, nhếch nhác là thế nhưng hình ảnh các vị khách mời thì lại khác. Bốn câu thơ trên tác giả đã tận dụng triệt để các hình thức đối ngẫu trong thơ. Đối trong cặp câu thực: hình ảnh sĩ tử >< hình ảnh quan trường; đối trong cặp câu luận: lọng - quan sứ >< váy - mụ đầm là sự đối ngẫu trong mối quan hệ tương đồng. Đối giữa hai câu thực và hai câu luận: sĩ tử, quan trường (nhân vật chính của ki thi) >< quan sứ, mụ đầm (khách mời) là sự đối ngẫu trong quan hệ tương phản. Bên nhân vật chính thảm hại, nhếch nhác bao nhiêu thì bên nhân vật phụ, bọn quan thầy xâm lược lại long trọng, kể cả bấy nhiêu. Sự đối lập hai này làm nổi bật nỗi nhục nhã ê chề của những trí thức Nho học. Chỉ với một vài hình ảnh đặc tả vậy thôi, Tú Xương đã tái hiện cảnh tượng của kì thi Hương Đinh Dậu, qua đó khái quát bộ mặt xã hội Việt Nam những năm cuối thế kỉ XIX. 4. Câu kết là tâm sự đau xót, chua chát của nhà thơ trước hiện thực đất nước. Câu thơ vừa là lời tự vấn mình, vừa hướng đến những người đồng môn. Bài thơ thể hiện nỗi đau đớn xót xa của nhà thơ trước vận mệnh dân tộc. Nỗi đau đớn xót xa ấy thể hiện tác giả là người trọng danh dự, danh dự của các trí thức nho học và là người có tấm lòng với dân với nước. Là con người biết trọng danh dự, với tấm lòng lo nước thương đời, ông Tú muốn đánh thức ý thức dân tộc trong con người Việt nam, nhất là những người tài, những người có trách nhiệm và có khả năng cứu nước, cứu đời. Giọng điệu chính của bài thơ là giọng điệu trào phúng, nhưng ở hai câu kết, tác giả đã dùng giọng điệu trữ tình. 5. Vịnh Khoa thi Hương thể hiện tấm lòng tha thiết tình đời của nhà thơ trào phúng Tú Xương. Sống trong hiện thực đen tối của xã hội Việt Nam những năm cuối thế kỉ XIX, biết trọng danh dự, biết đau xót trước hiện thực dân tộc như Tú Xướng là một thái độ rất đáng trân trọng. Những nhà Nho như Tú Xương không đủ sức, đủ điều kiện để đứng lên cầm súng chống giặc, cải tạo đất nước nhưng họ đã dùng ngòi bút để thể hiện tấm lòng mình với dân tộc và đánh thức ý thức dân tộc trong mỗi người Việt Nam. Những nhà thơ như Tú Xương đã góp phần làm nên sức mạnh Việt Nam. wWw.SoanBai.Com
Xem thêm

4 Đọc thêm

Tác giả Nguyễn Khuyến

TÁC GIẢ NGUYỄN KHUYẾN

I. CUỘC ÐỜI, THỜI ÐẠI VÀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC. 1. Cuộc đời: Nguyễn Khuyến sinh năm 1835, tại làng Hoàng Xá, huyện Ý yên Nam Ðịnh. Lớn lên sống ở làng Yên Ðỗ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Ông Mất ngày 24/2/1909. Nguyễn Khuyến sinh năm 1835, tại làng Hoàng Xá, huyện Ý yên Nam Ðịnh. Lớn lên sống ở làng Yên Ðỗ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Ông Mất ngày 24/2/1909. Nguyễn Khuyến nổi tiếng là một người thông minh, hiếu học.  Năm 1864, Nguyễn Khuyến đi thi Hương và đỗ giải nguyên ở trường Nam Ðịnh. Năm 1871, Thi Hội lần hai, đỗ Hội nguyên và thi Ðình đỗ Ðình nguyên. Ông từng thi đỗ Tam nguyên nên người ta gọi Nguyễn Khuyến là Tam nguyên yên Ðỗ và làm quan dưới riều Tự Ðức.              Nguyễn Khuyến là người có phẩm chất trong sạch, mặc dù ra làm quan nhưng nổi tiếng là thanh liêm, chính trực. Nhiều giai thoại kể về đời sống đời sống và sự gắn bó của Nguyễn Khuyến đối với nhân dân.  Ông là người có tâm hồn rộng mở, giàu cảm xúc trước cuộc sống và gắn bó với thiên nhiên.               Quế sơn thi tập khoảng 200 bài thơ bằng chữ Hán  và 100 bài thơ bằng Chữ Nôm với nhiều thể loại khác nhau . Có bài tác giả viết bằng chữ Hán rồi dịch ra tiếng Việt, hoặc ngược lại, ông viết bằng chữ Việt rồi dịch sang chữ Hán. Cả hai loại đều khó xác định vì nó rất điêu luyện.  Trong bộ phận thơ Nôm, Nguyễn Khuyến vừa là nhà thơ trào phúng vừa là nhà thơ trữ tình. Còn trong thơ chữ Hán thì hầu hết là thơ trữ tình. Có thể nói trên hai lĩnh vưcï  Nguyễn Khuyến đều thành công.  3.      Thời đại:    Nguyễn Khuyến ra làm quan giữa lúc nước mất nhà tan, cơ đồ nhà Nguyễn như sụp đổ hoàn toàn nên giấc mơ trị quốc bình thiên hạ của ông không thực hiện được.  Lúc này Nam kỳ rơi vào tay giặc Pháp. Năm 1882, Pháp bắt đầu đánh ra Hà Nội. Năm 1885, chúng tấn công kinh thành Huế. Kinh thành thất thủ, Hàm Nghi xuống chiếu Cần Vương, nhân dân hưởng ứng khắp nơi. Nhưng cuối cùng phong trào Cần Vương tan rã.  Có thể nói, sống giữa thời kỳ  các phong trào đấu tranh yêu nước bị dập tắt, Nguyễn Khuyến bất lực vì không làm được gì để thay đổi thời cuộc và cũng không cam tâm làm tay sai cho Pháp nên ông xin cáo quan về ở ẩn. Từ đó dẫn đến tâm trạng bất mãn, bế tắc của nhà thơ.  II. NỘI DUNG THƠ VĂN  NGUYỄN KHUYẾN: 1.Tấm lòng yêu nước thiết tha sâu nặng:   1.1. Tư tưởng yêu nước của Nguyễn Khuyến:  Tư tưởng yêu nước của Nguyễn Khuyến trước hết gắn kiền với tư tưởng trung quân. Ðây là một tư tưởng  yêu nước hết sức chân chính tiến bộ. Nguyễn Khuyến vừa là nhà nho vừa là một ông quan từng hưởng bổng lộc của triều đình nên tư tưởng trung quân đậm nét. Trong Di chúc, ông thể hiện rõ quan điểm của mình:  Khi đưa Thầy con rước đầu tiên Cờ biển vua ban ngày trứơc  Sống giữa thời kỳ nước mất nhà tan, Nguyễn Khuyến không đành nhìn đất nứơc rơi vào tay giặc, lại không cam tâm ở lại triều đình để làm bù nhìn nên ông quyết định xin cáo quan về ở ẩn.  Lòng Nguyễn Khuyến từng dạt dào bao  ý định chua xót về quyết định này:  Khứ quốc khởi vô bằng bối tại, Quy gia vị tất tử tôn hiền? (Cảm tác) Dịch nghĩa: Bỏ chức há không bạn bè ở lại Về nhà vị tất con cháu đã khen thay?  Về sau, thời cuộc biến chuyển, nhiều người tiếp tục từ quan. Nguyễn Khuyến thấy rất rõ họ không phải là kẻ bất tài, mà trái lại, đó là những kẻ dũng thoái   :  Khả hạnh chư quân năng dũng thoái, Vị ưng nhất chức tẫn phi tài Bách niên tứ hà vi giả, Ngô ấp khâu lăng diệc mỹ tai! (Vũ hậu xuân túy cảm thành)  Dịch nghĩa: Ðáng mừng các bạn mạnh dạn dám lui về, Ðâu phải là đối với chức vụ mình không làm nổi Cuộc đời trăm năm xe ngựa có ra trò gì, Mà ở quê chúng ta gò núi vẫn tươi đẹp lắm (Cảm hoài sau bữa chén xuân sau cơn mưa )  Sau khi cáo quan, Nguyễn Khuyến sống ở làng quê và xem quê hương như chiếc nôi, chỗ dựa vững chắc ch cuộc sống bình dị của mình. Ông sống khiêm tốn, trong sạch, giữ tiết tháo, chan hòa với mọi người. Ông thường làm các bài thơ ngâm vịnh ca ngợi  vẻ đẹp của các loai hoa, ca ngợi công dụng các loài cây, qua đó muốn nói đến cái đức của mình.  Nguyễn Khuyến còn nhấn mạnh vẻ đẹp tâm hồn của con người nhằm khẳng định phẩm chất trong sạch của ông. Ông quan niệm:  Ngoại mạo bất cầu như mỹ ngọc Tâm trung thường thủ tự kiên kim  Lời ca ngợi tiết tháo của người đàn bà đáng thương trong bài thơ Mẹ mốc của Nguyễn khuyến có cái gì giống như sự quyết tâm của nhà thơ:  Sạch như nước, trắng như ngà, trong như tuyết. Mảnh gương trinh vằng vặc quyết không nhơ.  Nguyễn Khuyến là người coi trọng danh dự và khí tiết nên nhiều lần nhà thơ từng trăn trở về vấn đề này:  Thế đồ kim hựu đa kha khảm, Lợi cục nan năng quả oán vưu. Vị ngã phất tu chung hữu khích, Thức nhân thỏa diện tích bằng ưu. (Tiểu thán)  Dịch nghĩa: Trên đường đời, nay lại gặp nhiều bứơc gập gềnh, Trong cuộc đời khó giữ được ít lời oán trách. Kẻ phẩy râu cho mình, rốt cuộc cũng gây nên hiềm khích, Người ta nhổ vào mặt mình chùi đi, đời xưa còn cho là đáng lo. (Vài lời than)  Có thể nói, hành động ở ẩn của Nguyễn Khuyến cũng là cách để nhà thơ giữ phẩm chất của mình. Nhiều bài thơ tiêu biểu có tính chất triết lý cao: Di chúc, Vườn Bùi chốn cũ, Vịnh cây tùng, Cây lược đồi mồi, Mẹ Mốc, Xuân dạ lân nga, nhân tặng nhục, Tiểu thán…  1.2. Sự quan tâm lo lắng cho đất nước:  Thể hiện qua nỗi đau của nhà thơ khi không làm được gì để thay đổi thời cuộc. Lời thơ thường đượm buồn, đầy nước mắt khi nói về đất nước:  Ðời loạn người về như hạt độc Tuổi già hình bóng tựa mây côi. (Cảm tác)  Sách vở ích gì cho buổi ấy Aùo xiêm nghĩ lại thẹn thân già (Ngày xuân dặn các con)  Hình ảnh quê hương đất nước xuất hiện trong thơ ôngkhi trực tiếp, khi gián tiếp, khi cụ thể nhưng đều dưới dạng trữ tình ảm đạm của nhà thơ:  Cố quốc sơn hà chân thảm đạm (Hung niên)  Nhất độ giang sơn nhất bạc đầu (Thu tứ)  Nhà thơ từng mượn tiếng cuốc kêu  để thể hiện tâm trạng nhớ nước da diết, khắc khoải của mình. Bài thơ Cuốc kêu c ảm hứng như một lời nỉ non tâm sự, từng làm xao xuyến tâm hồn bao thế hệ khi gợi nhớ non sông.  Nói chung, âm điệu trong phần lớn thơ trữ tình của Nguyễn Khyến là buồn. Nghe tiếng hát giữa đêm khuya hay tết đến, xuân về đều khiến nhà thơ buồn tê tái:  Xuân về ngày loạn còn lơ láo Người gặp khi cùng cũng ngất ngơ,  2. Thái độ phản kháng đối với xã hội thực dân nửa phong kiến   2.1.Ðối với thực dân Pháp:  Ðả kích những việc làm gây tiếng vang ầm ĩ lúc bấy giờ, lên án những thủ đoạn bóc lột sức người, sức của của nhân dân. Bọn chúng đã đẩy hàng vạn người dân vô tội đến chốn ma thiêng nước độc. Bài thơ Hội Tây, Hoài cổ, Văn tế Cơ ri vi e(*)â… đã phản ánh thực trạng đó bằng bút pháp hiện thực trào phúng sâu sắc:  Hỡi ôi! Ông ở bê Tây, Ông qua bảo hộ. Cái tóc ông quăn, Cái mũi ông lõ, Ðít ông cưỡi lừa, Miệng ông húyt chó, Lưng ông đeo súng lục liên, Chân ông đi giày có mỏ, Ông dẹp cờ đen Ðể yên con đỏ. Ai ngờ: Nó bắt được ông, Nó chặt mất sỏ. Cái đầu ông đâu? Cái đít ông đó. Khốn khổ thân ông Ðéo mẹ cha nó  2.2.           Ðối với bọn quan lại, bọn me Tây, gái điếm:  Nguyễn Khuyến từng làm quan nên đã thấy rõ hiện thực quan trường và thế giới khoa bảng nói chung là đổ nát và thảm hại.  Ngòi bút ông đã vạch trần nhiều mặt xấu xa thối nát của bọn quan lại nào là bất tài, vô dụng, dốt nát chỉ là thứ phỗng đá không hơn không kém, trơ trơ trước sự nguyền rủa của dân.  Thái độ của Nguyễn Khuyến rất dứt khoát. Ông mắng chúng không kiêng nể. Bằng lối nói mát chửi mát theo kiểu Việt Nam Nói ngọt mà lọt đến xương, Nguyễn Khuyến đả kích, châm biếm xỏ ngầm rất thâm độc. Thậm chí khi cần, ông cũng chuyển roi quất mạnh bằng các biện pháp nghệ thuật độc đáo như chơi chữ, nói láy, dùng từ đa nghĩa, dùng âm của chữ Hán chuyển sang từ Việt.  Bồ chứa miệng dân chừng bật cạp, Tiên là ý chú muốn vòi xu Từ vàng sao chẳng luôn từ bạc Không khéo mà roi nó phết cho (Bồ tiên thi)  Các bài thơ tiêu biểu: Ông phỗng đá, Lời vợ người hát chèo, Hỏi thăm quan tuần bị mất cướp, Bồ tiên thi, tặng ông Ðốc học Hà Nam  đều là những bài thơ vạch mặt chỉ tên những tên quan bất tài, hống hách bằng thái độ châm biếm tố cáo sâu sắc.  Trong bài thơ chữ Hán Quá quận công Hữu Ðộ sinh từ hữu cảm là thái độ khinh bỉ, mỉa mai của Nguyễn Khuyến đả kích tên Nguyễn Hữu Ðộ, sau khi hắn chết, đi qua sinh từ của hắn, nhà thơ nghĩ:  Công tại, tứ thời tập quan đới, Ðắc dự giả hỉ, bất dự bi. Công khứ, quan đới bất phục tập, Hương hỏa tịch tịch hoà ly ly. Dản kiến đệ nhị vô danh công, Triêu tịch huề trượng lai vu ty. Trần gian hưng phế đẳng nhàn sự, Bất tri cửu nguyên thùy dữ quy?  Dịch nghĩa: Khi ông còn thì áo mũ cân đai bốn mùa tấp nập, Kẻ được dự vào đó thì mừng, kẻ không được dự thì buồn, Sau khi ông mất rồi thì không thấy mũ áo xúm xít lại nữa, Hương lửa vắng tanh, lúa mọc rườm rà. Chỉ thấy có ông Thứ nhì không tên Sớm sớm chiều chiều chống gậy vào ngôi nhà ấy. Ở đời có lúc thịnh, lúa suy, đó là việc thường, Không biết dưới chín suối bây giờ ông theo ai? (Cảm nghĩ lúc qua sinh từ quận công Nguyễn Hữu Ðộ)  Nhưng có lẽ đả kích bọn quan lại cay độc nhất là khi nhà thơ liệt chúng ngang hàng Vợ bợm chồng quan danh phận đó (Ðĩ Cầu Nôm) dễ làm ta liên tưởng đến câu tục ngữ mèo mả gà đồng, là những tên không ra gì.  Ðặc biệt, ngòi bút của Nguyễn Khuyến tỏ ra không khoang nhượng khi viết về bọn me Tây, gái điếm. Trong một vế câu đối Mừng cô Tư Hồng ông viết: Có tàn, có tán, có hương án thờ vua danh giá lẫy lừng ba mươi sáu tỉnh.  Ở một câu đối khác: Thôi cũng đừng cõng rắn cắn gà nhà, phong lưu chú Bát, phú quý dì Tư, mây nổi đã từng qua trước mắt  Có thể nói, cũng như các nhà thơ thuộc khuynh hướng hiện thực tố cáo giai đoạn này, Nguyễn Khuyến đã bám vào hiện tượng cụ thể để đả kích. Từng con người, từng hiện tượng và những sự việc lố lăng trong xã hội đều bị vạch trần và thể hiện rõ phong cách độc đáo của ông.  2.3.Ðối với khoa danh, khoa giáp thời ấy:  Cũng bị lên án khắc nghiệt vì những tên quan lại đều xuất thân từ khoa bảng nhưng khoa bảng lúc bấy giờ lại mục nát, suy đồi. Nho sĩ không còn sĩ khí, uy thế như xưa nữa. Thế nhưng nhà Nguyễn nẫn cố duy trì ba kỳ thi: Thi Hương , thi Hội, thi Ðình nên đã sinh ra những ông Nghè, ông Cống. Vì vậy, sự tương phản càng rõ nét.  Nguyễn Khuyến phê phán nhân tài của xã hội chỉ là những người không ra gì. Có danh nhưng không thực. Mặc dù: Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai Cũng gọi ông Nghè có kém ai  Nhưng ông lại tiếc rẻ: Chiếc thân xiêm áo sao mà nhẹ Cái giá khoa danh thế mới hời  Ấy thế còn ra dáng đường bệ: Ghế tréo lộng xanh ngồi bảnh chọe Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi  Bài thơ gợi ra mối liên tưởng tới thân phận những kẻ khoa bảng, bọn quan lại ở thời kỳ nước mất, nhà tan. Ðạo nho sắp đến ngày mạt vận đang cơn hấp hối nhưng nhà Nguyễn vẫn cho diễn lại cái trò lều chõng thêm vài chục năm để đào tạo tiếp tay sai phục vụ cho bộ máy bù nhìn của chúng.  Ông mai mỉa cảnh khoa cử suy đồi, đạo đức của kẻ siõ bị đánh mất trước tiền tài và danh vọng. Bài thơ Thầy đồ ve gái goá là một ví dụ tiêu biểu: Ở góa thế gian nào mấy mụ Ði ve thiên hạ thiếu chi thầy Yêu thầy cũng muốn cho thầy dạy Dạy cháu nên rồi mẹ cháu ngây.  3. Một tâm hồn giàu cảm xúc yêu thương:     3.1. Lòng yêu thiên nhiên và cảnh vật Việt Nam:  Nguyễn Khuyến cáo quan về quê nhưng ông không hề thoát ly hiện thực. Lúc nào ông cũng say sưa chan hoà với quê hương. Cảnh sắc được ông miêu tả hết sức chân thật và sống động.  - Tả cảnh bốn mùa, đặc biệt là cảnh mùa thu thật sắc sảo, đậm nét. Cảnh mùa thu trong thơ Nguyễn Khuyến không hề ước lệ, trang trọng, khuôn sáo như trong văn chương, sách vở mà chỉ là những cảnh gần gũi, quen thuộc như trời thu, gió thu, ao thu, trăng thu, lá thu … được tác giả thi vị hoá hết sức tài tình. Ba bài thơ Thu ẩm, Thu điếu, Thu vịnh đã gợi được cái hồn, cái thần, cái tinh tế của cảnh vật màu thu, là ba bức tranh đặc sắc về cảnh nông thôn nước ta, nhất là cảnh đồng chiêm trũng miền Bắc.  - Nguyễn Khuyến còn những bài thơ tả cảnh hè (Ðêm mùa hạ) và cảnh xuân (Ngày xuân) rất độc đáo.  - Những bài tả cảnh núi (Vịnh núi An lão), cảnh chùa (Về chơi chùa Ðọi) đều trở thành những danh lam thắng cảnh của đất nước.  Nguyễn Khuyến nhìn cảnh vật bằng cặp mắt của người thưởng ngoạn và bằng tâm hồn của thi nhân nên trước vẻ đẹp của đất nước đã vẽ lên một bức tranh nghệ thuật tuyệt đẹp. Cảnh sông, núi, trăng, sao, thời tiết, mùa màng  qua cảm nhận của ông đều trở nên có hồn và tinh tế.  3.2. Tình cảm của Nguyễn Khuyến: 3.2.1 Trước những nỗi điêu linh thống khổ của nhân dân:  Nguyễn Khuyến là nhà thơ của nông thôn nên viết về nông thôn bằng tất cả tình cảm thân thuộc quyến luyến. Có thể nói, trái tim ông đã rung lên cùng một nhịp với trái tim của người lao đôïng nghèo.Ôâng đã sống với tâm trạng của họ, vui với cái vui của họ, buồn với cái buồn của họ và mơ ước cái họ từng mơ ước. Vì vậy, ông có những vần thơ xuất phát từ tình cảm chân thành của mình thể hiện tâm trạng nhà thơ lúc nào cũng gắn bó với nhân dân:  Lão làm ái táo, miên tương khởi, Tân cốc hàm huyên, phúc tiệm phì (Hạ nhật tân tình)  Dịch nghĩa: Tằm già thích khô ráo, đương ngủ sắp trở dậy, Lúa mới ngậm hơi ấm, đòng đòng dần mẫn ra. (Ngày hè mưa mãi mới tạnh)  Bài thơ đã ghi nhận những chi tiết sinh động và chính xác về bức tranh của cuộc sống. Ngoài những lo toan tính toán vì công nợ của nhà nông: Năm nay cày cấy vẫn chân thua. Chiêm mất đằng chiêm mùa mất mùa (Chốn quê)  Bức tranh  nông thôn của Nguyễn Khuyến còn phản ánh những sinh hoạt khác như tâm trạng vui vẻ của người nông dân vào những ngày tết được mùa được ông ghi nhận:  Trong nhà rộn rịp gói bánh chưng Ngoài cửa bi bô rủ chung thịt  Hoặc cái buồn của cảnh chợ tết vào những năm mất mùa đói khổ: Dở trời mưa bụi còn hơn rét, Nếm rượu tượng đình được mấy ông? Hàng quán người về nghe xao xác, Nợ nần năm trước hỏi lung tung. (Chợ đồng)  3.2.2. Tình cảm đối với gia đình, bạn bè làng xóm:  Ông sống rất chan hoà với gia đình, bạn bè, làng xóm. Những tình cảm tưởng chừng như  bình thường ấy đã đi vào thơ Nguyễn Khuyến với một giá trị chân thật, đáng quý.  -         Ðối với vợ, ông có tình cảm yêu kính rất đậm đà Câu đối khóc vợ là một tiếng khóc chân thành của ông đối với vợ. -           Nhà chỉn cũng nghèo thay, nhờ được bà hay làm, hay làm thắt lưng có que,xắn váy quai cồng, tất cả chân đăm đá chân chiêu, vì tớ đỡ đần trong mọi việc. Bà đi đâu vội mấy, để cho lão vất vơ, vất vưởng búi tóc củ hành, buông quần lá toạ,gật gù tay đũa chạm tay chén, cùng ai kể lể chuyện trăm năm  - Ðối với con,ông rất thương yêu và quý trọng các con. Lo lắng khuyên nhủ các con sống làm người hữu ích cho xã hội, thấy các con lơ là việc đèn sách, ông khuyên bảo rất chí tình:  Hoàn cư bất mãn cửu cao thổ, Tố nghiệp thư tha nhất thúc thư.  Nhi tào hoặc khả thừa ngô chí, Bút nghiêng vô hoang đạo, thúc, sơ. (Xuân nhật thị chư nhi (I) )  Dịch nghĩa: Khu nhà ở quây quần, không đầy chín sào đất, Nghiệp cũ chẳng có gì  ngoài một bó sách Các con nối chí cha nên biết Bút nghiêng đừng quên lúa, đậu, cà (Ngày xuân dặn các con (I) )  - Ông không chỉ viết về gia đình mà còn làm câu đối, làm thơ để tặng bác thông gia, bác hàng xóm, một anh hàng thịt, một chú thợ nhuộm, thợ rèn…  Bài nào cũng chân tình giản dị. - Ông còn viết thơ thăm hỏi bạn bè, bỏ hết những khuôn sáo cầu kỳ, lời thơ xuúat phát từ tấm lòng thành của ông (Khóc Dương Khuê, Nước lụt thăm bạn … ). Trước cái chết của bạn, Nguyễn Khuyến làm thơ thể hiện tâm trạng đau xót của mình:  Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác, Tôi lại đau trước bác vài ngày. Làm sao bác vội về ngay, Chợt nghe tôi bỗng chân tay rụng rời! Ai chả biết chán đời là phải, Sao vội vàng đã mãi lên tiên? Rượu ngon không có bạn hiền, Không mua, không phải không tiền, không mua (Khóc Dương Khuê)  III.NGHỆ THUẬT THƠ VĂN NGUYỄN KHUYẾN: 1. Ngôn ngữ:   1.1.           Ðặc điểm chung:  Ngôn ngữ thơ Nguyễn Khuyến rất phong phú không những trong cách nói mà còn rất mỹ lệ, gợi cảm trong cách miêu tả.  Nguyễn Khuyến còn có biệt tài khai thác khả năng diễn tả của từ ghép rất độc đáo:Thấp le te, đóm lập lòe, tẻo teo, ve ve, tênh nghếch, làng nhàng, khỏe khoe… Năm gian nhà cỏ thấp le te Ngõ tối đêm sâu đóm lập lòe (Thu ẩm)  Nhiều danh từ, những cách nói, những thành ngữ, tục ngữ được dùng ở nông thôn được ông sử dụng khá thành thạo: xôi bánh trâu heo, anh em làng xóm,văn dai như chão, người  ba đấng, của ba loài.  Ông có làm một bài thơ cùng tên với câu tục ngữ dân gian Nhất vợ nhì trời  để lý giải vì sao như vậy: Trời dẫu yêu nhưng vì có phận Vợ mà vụng dại đếch ăn ai. Cớ sao vợ lại hơn trời nhỉ? Vợ chỉ hơn trời có cái chai!  Ông tiếp tục truyền thống học tập ca dao, tục ngữ của những nhà thơ Nôm các thế kỷ trước, nhưng ông có lối sáng tạo riêng.  Ca dao có câu Gái có chồng như gông đeo cổ thì nhà thơ làm bài thơ Muốn lấy chồng phát triển cái tứ ngược lại: Mới biết có chồng như có cánh Giang sơn gánh vác nhẹ bằng lông.  1.2. Ngôn ngữ trào phúng:  Ngôn ngữ trào phúng của Nguyễn Khuyến nhẹ nhàng hóm hỉnh, nhiều cung bậc. Trào phúng của Nguyễn Khuyến có nét riêng không giống như Hồ Xuân Hương hay Tú Xương là đánh một cái cho biết. Cái cười của ông đối với kẻ thù tuy có cay nhưng không độc địa bốp chát, mặc dù ông ông có so sánh cờ nước Pháp với váy phụ nữ: Ba vuông phất phới cờ bay dọc Một bức tung hoành váy xắn ngang (Lấy Tây)  Ông có biệt tài, cường điệu và chơi chữ rất tài tình: Văn hay chữ tốt ra tuồng Văn dai như chão chữ vuông như hòm Vẽ thầy như vẽ con tôm Vẽ tay ngoái cám, vẽ mồm húp tương. (Ðùa chế  ông Ðồ Cự Lộc)  Hoặc cái dí dỏm của câu đối tết viết dùm người hàng thịt: Tứ thời bát tiết canh chung thủy Ngạn liễu đôi bồ dục điểm trang  Các bài thơ tiêu biểu: Than già, Bác đến chơi nhà, Tự trào, Bóng đè cô đầu, Tạ lại gnười cho hoa trà, Lấy tây, Ðùa chế ông đồ Cự Lộc, Câu đối tết… đều là những vần thơ trào phúng độc đáo của Nguyễn Khuyến.  1.2.           Ngôn ngữ tả cảnh:  Nguyễn Khuyến rất thành công trong việc miêu tả cảnh sắc thiên nhiên. Thơ du vịnh và thơ bốn mùa không chỉ tả cảnh mà còn miêu tả tâm trạng của nhà thơ.  Ngôn ngữ tả cảnh rất chính xác, cách chọn chữ , dùng từ thích hợp, từ ngữ thường lấp láy giàu nhạc điệu, có khả năng gợi tả cao.  Sử dụng vốn ngôn ngữ bình dân nhưng không hề rơi vào sự thông tục hóa, cảnh nào cũng được vẽ, được chạm khắc thần tình đạt đến mức nghệ thuật.  2. Hình ảnh:    Hình ảnh sử dụng thường đơn sơ, khêu gợi thể hiện qua những chi tiết thật bình dị, sống động. Nó có giá trị nâng các câu thơ làm tăng sức biểu cảm. Hình ảnh hoa nở, trăng trôi, chiếc thuyền thấp thoáng, bé tẻo teo, ngõ trúc quanh co, thấp le te, đóm lập lòe… đầy sức sống.  Thơ ông có sự kết hợp hài hòa giữa âm thanh và màu sắc gợi cảm giác vừa xem tranh thủy mặc vừa nghe thơ Ðường.  Aâm thanh của tiếng muỗi, tiếng dế, tiếng gnỗng, tiếng trâu thở, tiếng hạc bay, tiếng chó sủa, tiếng sóng vỗ đã lột tả được đặc điểm của ngoại cảnh và tâm lý: Bóng thuyền thấp thoáng dờn trên vách Tiếng sóng long bong vỗ trước nhà (Vịnh lụt)  Màu sắc tuyệt diệu  có khả năng gợi tả cao: Màu xanh của nước, màu xanh của trời, xanh, xanh của ngọc, xanh của tre, xanh của bèo, màu đỏ hoe của mắt, màu sương chiều, màu sáng của trăng đã tạo nên màu sắc đậm nhạt, mờ ảo thanh đạm, lặng lẽ. Làn ao lóng lánh bóng trăng loe dễ gây ấn tượng thị giác.  Nguyễn Khuyến là bậc thầy trong việc sử dụng ngôn ngữ và hình ảnh nhất là trong việc tả cảnh sắc thiên nhiên. Ông được mệnh danh là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam vì những cảnh, người, vật qua cảm nhận của ông đều đậm đà phong vị của quê hương đất nước. Nguyễn Khuyến đã có những cống hiến quan trọng làm cho ngôn ngữ đi sát với đời sống  và ông đã thành công trong việc chuyển cái tinh túy của đời thường thành thơ.   IV.KẾT LUẬN: Nguyễn Khuyến là nhà thơ có tài năng về nhiều mặt. Thơ trào phúng của ông bao giờ cũng tự nhiên, tươi tắn tạo nên những nụ cười nhẹ nhàng, thanh nhã, ý vị; Thơ tả cảnh tả tình có cái nhẹ nhàng, mềm mại thanh thoát, ý tứ gần gũi, chất liệu lấy từ cuộc sống nông thôn.  Nguyễn Khuyến đã thành công trong việc sử dụng ngôn ngữ dân tộc, trong việc tả cảnh sắc thiên nhiên. Ông xứng đáng là nhà thơ lớn của nền văn học Việt Nam. loigiaihay.com   Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học. Môn Toán Môn Vật Lý Môn Hoá Học Click Học thử Click Học thử CLick Học thử Môn Văn Môn Sinh Môn Anh Click Học thử Click Học thử Click Học thử
Xem thêm

12 Đọc thêm

Nghệ thuật tiếng cười và phong cách thơ trào phúng nguyễn khuyến

Nghệ thuật tiếng cười và phong cách thơ trào phúng nguyễn khuyến

Nghệ thuật tiếng cười và phong cách thơ trào phúng nguyễn khuyến

Đọc thêm

Đề thi 8 tuần học kỳ 1 lớp 11 môn Ngữ Văn năm 2014

Đề thi 8 tuần học kỳ 1 lớp 11 môn Ngữ Văn năm 2014

Đề thi 8 tuần học kỳ 1 lớp 11 môn Ngữ Văn năm 2014 Câu 1 (2đ) : Đặt câu với mỗi thành ngữ sau: -         Phú quý sinh lễ nghĩa -         Thấy người sang bắt quàng làm họ Câu 2 (8đ): Em hãy làm rõ bức chân dung bà Tú qua bài thơ “Thương vợ” của Trần Tế Xương: Quanh năm buôn bán ở mom sông, Nuôi đủ năm con với một chồng. Lặn lội thân cò khi quãng vắng, Eo sèo mặt nước buổi đò đông, Một duyên hai nợ âu đành phận, Năm nắng mười mưa dám quản công. Cha mẹ thói đời ăn ở bạc, Có chồng hờ hững cũng như không. ( SGK Ngữ văn 11 tập một CB - NXBGD ) Đáp án  đề thi 8 tuần học kỳ 1 lớp 11 môn Ngữ Văn năm 2014 Câu 1 (2đ) :  Trên cơ sở hiểu được ý nghĩa của mỗi thành ngữ để đặt câu cho phù hợp: - Ngày xưa nghèo đói nên cái gì cũng đơn giản và dễ hiểu, chân chất,... Ngày nay thời @ nên đâu cũng thấy sự giàu sang, kiểu cách, dáng điệu, thời trang,... đúng là "phú quý sinh lễ nghĩa" thật! (1đ) - Anh bạn ấy vốn rất bình dị nhưng khi nghe đồn là người ca sĩ nổi danh là người cùng quê với anh thì anh đã làm tất cả những gì có thể để nhằm gặp anh ca sĩ bằng được. Đúng là... "thấy người sang bắt quàng làm họ".(1đ) Câu 2 (8đ): Em hãy làm rõ bức chân dung bà Tú qua bài thơ “Thương vợ” của Trần Tế Xương: 1. Về kỹ năng: - Trên cơ sở những hiểu biết về bài thơ “Thương vợ” của Trần Tế Xương, học sinh biết phát hiện và phân tích những đặc sắc nghệ thuật để làm nổi bật chân dung bà Tú. - Bài viết hoàn chỉnh (MB-TB-KL);  diễn đạt rõ ràng, lập luận chặt chẽ kết hợp với phân tích dẫn chứng; chữ viết sach đẹp, không mắc quá nhiều lỗi chính tả, diễn đạt. 2. Về kiến thức:     *  Lưu ý: Bài làm có thể triển khai theo các cách khác nhau song cơ bản phải làm sáng tỏ những nội dung sau: a. Mở bài (1đ) - Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm. - Khái quát chân dung bà Tú b. Thân bài - Bà Tú là một phụ nữ đảm đang: một mình tảo tần buôn bán, nuôi bảy miệng ăn trong gia đình. (1.5đ) - Mặc dù ý thức được việc mình làm là vất vả, là gian khổ: buôn bán ở những nơi nguy hiểm bấp bênh khi quảng vắng, buổi đò đông, vất vả nuôi chồng, con mà nuôi năm con có lẽ không vất vả bằng nuôi một chồng vì nhu cầu của ông Tú chắc chắn nhiều hơn so với 5 đứa trẻ (chính ông Tú đã nhiều lần tự bạch trong thơ về nhu cầu của mình), nhưng bà Tú vẫn nhẫn nại, cam chịu không hề kêu ca. (1.5đ) - Nhẫn nại, chịu thương chịu khó, hi sinh vì chồng, vì con như thế chỉ lí giải được bằng một lí do duy nhất là đức hi sinh, là tình yêu thương chân thành mà bà Tú dành cho chồng và con. (1.5đ) - Có thể nói, ở bà Tú đã hội tụ đầy đủ những đức tính quý báu nhất của người phụ nữ Việt Nam. (0.5đ) - Bài thơ thể hiện nhân cách Tú Xương: Ông không dựa vào duyên số để trút bỏ trách nhiệm của mình, cũng không lấy cái quyền hành của người chồng trong xã hội phong kiến mà phủ nhận công lao của vợ. Ngược lại ông đã dũng cảm nói lên sự thật: thói đời bạc bẽo với người phụ nữ và bản thân ông là người chồng vô tích sự cho nên, bà Tú có chồng hờ hững cũng như không. Tú Xương chửi “cha mẹ” thói đời bạc bẽo, tự trách, tự lên án bản thân mình đã làm cho gánh nặng trên đôi vai tần tảo của người vợ nặng thêm. (1đ) c. Kết bài: (1đ) - Đánh giá tổng quát giá trị bài thơ miêu tả bức chân dung bà Tú của Tú Xương - So sánh liên hệ thực tế về người phụ nữ Việt Nam hiện nay * Thang điểm - Điểm 7- 8: Đảm bảo tốt những yêu cầu trên, bố cục hoàn chỉnh, hành văn trôi chảy, mạch lạc, có những liên tưởng đặc sắc, trình bày sạch sẽ, không hoặc ít sai lỗi chính tả, diễn đạt (1 đến 3 lỗi). - Điểm 5 – 6 : Bài làm khá, đáp ứng tương đối đầy đủ những yêu cầu trên, ý mạch lạc, hành văn trôi chảy, bố cục hoàn thiện, còn mắc lỗi chỉnh tả, diễn đạt nhưng lỗi không nghiêm trọng. - Điểm 3 – 4: Bài làm chưa rõ ý, chưa biết áp dụng lý thuyết vào thực hành phân tích đoạn thơ, còn mắc nhiều lỗi về diễn đạt, chính tả, chữ viết cẩu thả, bố cục chưa hoàn chỉnh. - Điểm 1 – 2: Bài không có bố cục 3 phần , không nắm kỹ năng làm văn,  không nắm kiến thức cơ bản : - Điểm 0: bỏ giấy trắng hoặc sai lạc hoàn toàn. Lưu ý: - Giám khảo căn cứ vào tình hình cụ thể bài làm để cho điểm sát với trình độ học sinh. - Điểm toàn bài lấy lẻ đến 0.5 điểm.  
Xem thêm

Đọc thêm

Nguyễn Khuyến nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam

NGUYỄN KHUYẾN NHÀ THƠ CỦA QUÊ HƯƠNG LÀNG CẢNH VIỆT NAM

Nông thôn là đề tài hết sức quen thuộc trong thơ Nguyễn Khuyến.Ông viết nhiều, viết đúng và viết hay về thiên nhiên, con người, cuộc sống thôn quê. Nguyễn Khuyến được mọi người suy tôn là thi sĩ của nông thôn quả là xứng đáng. Trước Nguyễn Khuyến, cảnh thôn quê đã từng xuất hiện ít nhiều trong thơ Nguyễn Trãi “Ao cạn, vớt bèo cấy muống Đìa thanh phát cỏ ương sen” Và một số nhà thơ trung đại khác. Nhưng chỉ đến Nguyễn Khuyến, văn học mới thực sự trở về làng quê, về với người dân nơi thôn dã. Làng cảnh quê hương đi vào thơNguyễn Khuyến đã nhạt dần những ước lệ công thức mà đậm chất hiện thực.Từ cảnh mùa hè”Trâu già gốc trụi phì hơi nắng” đến bức tranh mùa thu”Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt-Ngõ trúc quanh co khách vắng teo”; từ cảnh nước lụt” Bóng thuyền thấp thoáng dờn trên vách” đến cảnh:” Dở trời mưa bụi còn hơi rét”… tất cả đều mang những nét riêng của vùng chiêm trũng, của nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, quê hương của chính nhà thơ.Nhà thơ dồn tất cả những những tình cảm của mình vào tác phẩm, viết về con người và cuộc sống thôn quê.Ông viết về cảnh lụt lội: “Quai mễ thanh liêm đã lở rồi Vùng ta âu cũng lụt mà thôi Gạo dăm ba bát cơ còn kém Thuế chỉ vài nguyên dáng vẫn đòi …Đi đâu cũng thấy người ta nói Mười mấy năm nay cát lại bồi.” Thiên tai xảy ra làm cho con người đói khổ và lam lũ. Nguyễn Khuyến cùng sống với nhân dân, cùng chịu chung nổi khổ của họ nên những trang viết của ông thấm đẫm niềm đồng cảm ,xót thương. Ông lo lắng cho đời sống người dân khi có lũ tràn về.Lụt lội triền miên làm cho cuộc sống ngày càng thêm đói kém với biết bao lo toan chồng chất đặt lên vai người dân lao động.Lụt lội, mất mùa, miếng ăn còn không kiếm đủ nhưng thuế má vẫn nặng gánh. Nhà nước không lo lắng tới, không biết tới dù chỉ là chút ít nỗi khổ của người dân. “Bèo nỗi lênh đênh đầu nội sạch. Lúa chiêm sâu thẳm cánh đồng không” Ông tả chân thật cảnh vật khi nước dâng cao.Mọi vật đều chìm trong biển nước.Lúa chiêm nằm dưới bao nhiêu lớp nước.Nhà thơ không nói thẳng nhưng thật chất đã vạch ra thảm hoạ, nỗi đói kém trước mắt sẽ xảy đến cho người dân lao động quê ông. Ông viết về lụt lội và còn viết về những thiên tai, mất mùa luôn rình rập ập đến đối với người lao động.Ông viết về họ và cũng là viết về chính bản thân mình, về cảnh sống chung với mọi người. “Năm nay cầy cấy vẫn chân thua Chiêm mất đằng chiêm ,mùa mất mùa. Phần thuế quan Tây, phần trả nợ Nửa công đứa ở, nửa thuê bò Sớm trưa dưa muối cho qua bửa Chợ búa trầu chè chẳng dám mua. Thiên nhiên ,tạo hoá vô tình với người dân lao động đã là một lẽ, đằng này ngay cả những quan trên, những bậc phụ mẫu, những bậc được mệnh danh là cha là mẹ dân cũng vô tình trước những thiên tai, mất mùa xảy đến .Người dân vừa phải chịu nỗi khổ mất mùa, vừa phải chịu thuế má nặng nề.Thật là trăm điều khổ.Họ phải chi li, tính toán trong từng chi tiêu dù là nhỏ nhặt nhất, cần thiết nhất trong cuộc sống hàng ngày. Chẳng dám đi chợ,chẳng dám trầu chè.Rồi những khó khăn, chật vật ấy dẫn họ đến nợ nần : “Lãi mẹ lãi con sinh đẻ mãi Chục năm chục bảy tính nhiều sao Ra đường kẻ cả dừng chân hỏi Vào cửa người sang ngửa mặt chào” Nợ nần chồng chất, xóm thôn xơ xác tiêu điều, chợ họp phiên giáp tết trong làng trong xóm cũng chẳng thấy nói chuyện mua sắm, chỉ nghe hỏi nợ nần từ năm trước: “Hàng quán người về nghe xáo xácNợ nần năm trước hỏi lung tung”   Nguyễn Khuyến sống trong lòng nhân dân, thấu hiểu cuộc sống khó khăn , vất vả của người nông dân chân lấm tay bùn.Không những thế, ông còn thấu hiểu được bản chất trong sáng của họ:   “Anh em làng xóm xin mời cả Xôi bánh, trâu heo cũng gọi là Chú Đáo làng bên lên với tớ Ông Từ xóm chợ lại cùng ta” Qua thơ Nguyễn Khuyến ta thấy rằng tuy cuộc sống nông thôn thiếu thốn đủ bề nhưng sự đầm ấm, chân tình luôn chất đầy không bao giờ vơi cạn.Những phong tục, tập quán trong những dịp lễ tết cũng không hề bị mất đi. Đó là một nét cựa kì đáng quý của người dân lao động tuy nghèo khổ.khó khăn nhưng chất phát, giàu tình nghĩa. “Trong nhà rộn rịp gói bánh chưng Ngoài cửa bi bô rủ chung thịt Ta ước gì được mãi như thế Hết tết rồi thời lại tết.” Nhà thơ yêu mến, hoà mình vào những người nông dân chân chất, đầy tình cảm và cùng chia sẻ những niềm vui , hạnh phúc, cùng gánh chịu với họ những khó khăn ,thiếu thốn và mất mát. Nguyễn Khuyến không những thấy được vẻ đẹp của con người mà ông còn cảm nhận được sâu sắc của thiên nhiên làng cảnh Việt Nam.Chùm thơ thiên nhiên của Nguyễn Khuyế vô cùng đặc sắc. Nhà thơ đến gần thiên nhiên, nhìn trực tiếp vào thiên nhiên để thưởng thức vẻ đẹp bất ngờ : “Tháng tư đầu mùa hạ Tiết trời thật oi ả Tiếng dế kêu thiết tha Đàn muỗi bay tơi tả.” Ta dễ dàng nhận thấy rằng, hình ảnh trong thơ Nguyễn Khuyến vô cùng quen thuộc và bình dị.Đó là những cảnh vật hết sức bình dân, mang đậm nét thôn quê, dân dã. “Cá vượt khóm lau lên mặt nước Bướm len lá trúc vượt rèm thưa” Có được những câu thơ đặc sắc như thế, chắc hẳn rằng Nguyễn Khuyến đã quan sát thiên nhiên dưới cặp mắt vô cùng tinh tế và tài tình. Và nhắc đến Nguyễn Khuyến, ta không thể không nhắc đến chùm thơ thu của ông .Ta có thể khẳng định rằng, mùa thu trong thơ Nguyễn Khuyến là mùa thu của làng quê Việt Nam.Cả ba bài thơ đều có không gian cao rộng, đúng là không gian của mùa thu xứ Bắc.Đường nét trong cả ba bài thơ đều thanh đạm, hợp với hồn quê, hồn người.Thơ thu Nguyễn Khuyến có trời thu, ao thu, sương khói mùa thu, trăng thu, ngõ trúc quanh co, mang đậm nét vùng quê Bắc Bộ. “Ao thu lạnh lẽo nước trong veo … Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt Ngõ trúc quanh co khách vắng teo” “Lưng dậu phất phơ màu khói nhạt Làn ao lóng lánh bóng trăng loe” Thiên nhiên làng quê trong thơ Nguyễn Khuyến đẹp và giàu hình ảnh, những hình ảnh đặc trưng rất riêng và rất Việt Nam. Thơ Nguyễn Khuyến có một nông thôn Việt Nam như đã tồn tại từ bao đời nay đồng thời có một nông thôn Việt Nam mang những nét mới, nét riêng chưa hề thấy trong văn học trước đó. Nguyễn Khuyến là nhà thơ sống hoà nhập với nông thôn, gắn bó máu thịt mình với chốn thôn quê bình dị ấy. Có lẽ vì thế mà Nguyễn Khuyến trở thành nhà thơ số một về quê hương làng cảnh Việt Nam.  loigiaihay.com Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Cảm nhận về bài thơ Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến.

CẢM NHẬN VỀ BÀI THƠ BẠN ĐẾN CHƠI NHÀ CỦA NGUYỄN KHUYẾN.

Bài thơ này viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, niêm, luật bằng trắc, đối chặt chế, hợp cách. Ngôn ngữ thuần nôm nghe thanh thoát nhẹ nhàng tự nhiên. Ta có cảm giác như Nguyễn Khuyến xuất khẩu thành thơ. Bài thơ nôm khó quên này cho thấy một hồn thơ đẹp, một tình bằng hữu thâm giao.      Viết về bạn là một đề tài thường gặp của các thi nhân xưa. Có lẽ sâu sắc hơn cả là tình bạn của Nguyễn Khuyến giành cho Dương Khuê khi ông qua đời. Và đặc biệt hơn trong bài Bạn đến chơi nhà tình cảm ấy lại được biểu lộ thật thân thiết và đáng kính trọng biết bao. Đồng thời Nguyễn Khuyến cùng bày tỏ một quan điểm về mối quan hệ giữa vật chất và tình cảm: Đã bấy lâu nay, bác tới nhà Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa Ao sâu nước cả, khôn chài cá Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà  Cải chửa ra cây, cà mới nụ Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa  Đầu trò tiếp khách, trầu không có Bác đến chơi đày, ta với ta. Bạn hiền khi gặp lại nhau thì ai mà chẳng vui. Ở đây Nguyễn Khuyến cũng vui mừng xiết bao khi lâu ngày gặp lại bạn cũ. Lời chào tự nhiên thân mật bỗng biến thành câu thơ: Đã bấy lâu nay, bác tới nhà Cách xưng hô bác, tôi tự nhiên gần gũi trong niềm vui mừng khi được bạn hiền đến tận nhà thăm. Phải thân thiết lắm mới đến nhà, có lẽ chỉ bằng một câu thơ - lời chào thế hiện được hết niềm vui đón bạn của tác giả như thế nào? Sau lời chào đón bạn, câu thơ chuyển giọng lúng túng hơn khi tiếp bạn: Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa Cách nói hóm hỉnh cho thấy trong tình huống ấy tất yếu phải tiếp bạn theo kiểu “cây nhà lá vườn” của mình. Ta thấy rằng Nguyễn Khuyên đã cường điệu hoá hoàn cảnh khó khăn thiêu thôn của mình đến nỗi chẳng có cái gì để tiếp bạn: Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa Ao sâu nước cả, khôn chài cá Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà Cải chửa ra cây, cà mới nụ Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa Ta hiểu vì sao sau lời chào hỏi bạn, tác giả nhắc đến chợ, chợ là thể hiện sự đầy đủ các món ngon để tiếp bạn. Tiếc thay chợ thì xa mà người nhà thì đi vắng cả. Trong không gian nghệ thuật này chúng ta thấy chỉ có tác giả và bạn mình (hai người) và tình huống. Đầu trò tiếp khách, trầu không có Đến cả miếng trầu cũng không có, thật là nghèo quá, miếng trầu là đầu câu chuyện cá, gà, bầu, mướp... những thứ tiếp bạn đều không có. Nhưng chính cái không có đó tác giả muốn nói lên một cái có thiêng liêng cao quý - tình bạn chân thành thắm thiết. Câu kết là một sự “bùng nổ” về ý và tình. Tiếp bạn chẳng cần có mâm cao cỗ đầy, cao lương mỹ vị, cơm gà cá mỡ, mà chỉ cần có một tấm lòng, một tình bạn chân thành thắm thiết. Bác đến chơi đây, ta với ta Lần thứ hai chữ bác lại xuất hiện trong bài thơ thể hiện sự trìu mến kính trọng. Bác đã không quản tuổi già sức yếu, đường xá xa xôi, đến thăm hỏi thì còn gì quý bằng. Tình bạn là trên hết, không một thứ vật chất nào có thể thay thế được tình bạn tri âm tri kỷ. Mọi thứ vật chất đều “không có” nhưng lại “có” tình bằng hữu thâm giao. Chữ ta là đại từ nhân xưng, trong bài thơ này là bác, là tôi, là hai chúng ta, không có gì ngăn cách nữa. Tuy hai người nhưng suy nghĩ, tình cảm, lý tưởng sống của họ hoàn toàn giống nhau. Họ coi thường vật chất, trọng tình cảm, họ thăm nhau đến với nhau là dựa trên tình cảm, niềm gắn bó keo sơn thắm thiết. Tình bạn của họ là thứ quý nhất không có gì sánh được. Ta còn nhớ rằng có lần khóc bạn Nguyễn Khuyến đã viết Rượu ngon không có bạn hiền Không mua không phải không tiền không mua Câu thơ nghĩ, đắn đo muốn viết Viết đưa ai, ai biết mà đưa? Giường kia, treo những hững hờ Đàn kia, gảy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn Có thể trong bài thơ: này chính là cuộc trò chuyện thăm hỏi của Nguyễn Khuyến với Dương Khuê. Tình bạn của Nguyễn Khuyến và Dương Khuê gắn bó keo sơn. Trong đoạn thơ trên ta thấy rằng khi uống rượu khi làm thơ... Họ đều có nhau. Không chỉ có bài thơ  Khóc Dương Khuê. Một số vần thơ khác của Nguyễn Khuyến cũng thể hiện tình bạn chân thành, đậm đà: Từ trước bảng vàng nhà sẵn có Chẳng qua trong bác với ngoài tôi (Gửi bác Châu Cầu)                                Đến thăm bác, bác đang đau ốm                             , Vừa thấy tôi bác nhổm dậy ngay Bác bệnh tật, tôi yếu gầy Giao du rồi biết sau này ra sao (Gửi thăm quan Thượng Thư họ Dương) Bài thơ này viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, niêm, luật bằng trắc, đối chặt chế, hợp cách. Ngôn ngữ thuần nôm nghe thanh thoát nhẹ nhàng tự nhiên. Ta có cảm giác như Nguyễn Khuyến xuất khẩu thành thơ. Bài thơ nôm khó quên này cho thấy một hồn thơ đẹp, một tình bằng hữu thâm giao. Tình bạn của Nguyễn Khuyến thanh bạch, đẹp đẽ đối lập hẳn với nhân tình thế thái “Còn bạc còn tiền còn đệ tử - Hết cơm hết rượu hết ông tôi” mà Nguyễn Bỉnh Khiêm đã kịch liệt lên án. Hai nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến sống cách nhau mấy trăm năm mà có chung một tâm hồn lớn: nhân hậu, thủy chung, thanh bạch. Tấm lòng ấy thật xứng đáng là tấm gương đời để mọi người soi chung. Trích: loigiaihay.com
Xem thêm

1 Đọc thêm

Phân tích thu điếu thu ẩm thu vịnh để làm bật vẻ đẹp độc đáo của từng thi phẩm, từ đó nêu vắn tắt yêu cầu đối với một tác phẩm văn học

PHÂN TÍCH THU ĐIẾU THU ẨM THU VỊNH ĐỂ LÀM BẬT VẺ ĐẸP ĐỘC ĐÁO CỦA TỪNG THI PHẨM, TỪ ĐÓ NÊU VẮN TẮT YÊU CẦU ĐỐI VỚI MỘT TÁC PHẨM VĂN HỌC

BÀI 4: Theo Xuân Diệu, “trong thơ Nôm của Nguyễn Khuyến, nức danh nhất là ba bài thơ mùa thu: Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh”. (Nguyễn Khuyến - Về tác giả và tác phẩm, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1999, trang 160). Anh, chị hãy phân tích những sáng tác trên trong mối quan hệ đối sánh để làm bật vẻ đẹp độc đáo của từng thi phẩm, từ đó nêu vắn tắt yêu cầu đối với một tác phẩm văn học. Nếu nhấp vào nút xem tiếp mà xem được vui lòng chuyển qua trình duyệt Explorer 7 trở lên hoặc cài đặt lại Firefox và Chome nếu trình duyệt lỗi Bài làm Thu là thơ của đất trời Thu là thơ của lòng người. Thu và thơ từ bao giờ đã là đôi bạn tri âm. Thu vào thơ mang theo nguồn thi hứng dạt dào. Thơ làm cho thu thêm phần đẹp đẽ hơn, nên thơ hơn gấp bội. Chẳng thế mà thơ về mùa thu đã góp một gia tài khổng lồ trong văn chương nhân loại. Chỉ riêng văn học Việt Nam cũng đủ tạo nên một kho thơ thu với Cảm thu, Tiễn thu(Tản Đà), Đây mùa thu tới, Ý thu(Xuân Diệu),…Và nhất là chùm thơ thu của Nguyễn Khuyến. “Trong thơ Nôm của Nguyễn Khuyến, nức danh nhất là ba bài thơ mùa thu: Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh (Xuân Diệu). Mỗi bài một vẻ đẹp riêng, sức hấp dẫn riêng trong sự hoà điệu của hồn thơ thu Nguyễn Khuyến. Mùa thu đi vào thơ ca thành nguồn mạch ngọt ngào vun đắp cho dòng thơ. Mỗi bài thơ là một vẻ hấp dẫn, mang theo sức hút, độ nặng, tầm cao riêng. Thu vốn đẹp và buồn. Thu vào thơ càng đẹp hơn, buồn hơn dưới cảm quan tinh tế của thi sĩ. Tâm hồn nhà thơ vốn mẫn cảm trước cái đẹp, tinh tế nhận ra một nét thu buồn, một vẻ thu thơ mộng, mê say. Trước đất trời, cảnh vật mùa thu, Nguyễn Khuyến đã để cung đàn cảm xúc của mình ngân lên, bùng cháy lên thành những vần thơ tuyệt bút. Dường như mùa thu đã hút lòng thi sĩ. Một bài thơ về mùa thu chưa thoả, không thoả tình yêu và xúc cảm của thi nhân trước thu. Chùm thơ ba bài về mùa thu: Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh ra đời thoả nỗi lòng Nguyễn Khuyến. Mỗi bài mỗi vẻ mà bài nào cũng hay, cũng thấm sâu vào tâm hồn bạn đọc và bám rễ chắc ở đấy, “Động thấu tới những miền sâu xa nhất của trái tim con người”. Viết về mùa thu, Nguyễn Khuyến đã gặp gỡ không chỉ thi ca truyền thống mà còn thi ca hiện đại, không chỉ thi ca Việt Nam mà cả thi ca nước ngoài, không chỉ gặp gỡ hồn thơ Á Đông mà còn gặp gỡ hồn thơ phương Tây trước mùa thu. Dường như mùa thu trở thành nơi giao hoà, cộng hưởng, là điểm hẹn của tâm hồn thi sĩ muôn phương, ngàn đời. Vẫn là mùa thu làng cảnh Việt Nam bình dị nhưng dưới con mắt, tâm hồn cảm nhận tinh tế của Nguyễn Khuyến, mùa thu hiện lên mang những gương mặt, dáng điệu khác nhau. Nếu Thu điếu là bức tranh mùa thu xanh, sắc xanh trải ngàn, lênh láng, Thu vịnh là bức tranh mùa thu của gió nhẹ trời cao xanh trong, của tâm trạng hoài niệm thì Thu ẩm là bức tranh mùa thu đa vẻ đa diện được cảm nhận trong nhiều thời điểm, nhiều không gian. Vẫn là bầu trời thu xanh ngắt nhưng mỗi bài thơ là một sắc điệu riêng: Trời thu xanh ngắt mấy từng cao (Thu vịnh) Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt? (Thu ẩm) Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt (Thu điếu) Xanh ngắt là màu xanh như thế nào? Chỉ một từ nhưng Nguyễn Khuyến đã thu được và lẩy hồn trời thu lên trang thơ. Một màu xanh đến quá quắt. Bầu trời mùa thu không chỉ xanh, đó còn là bầu trời cao vời vợi, xanh bát ngát, rộng mênh mông. Không gian mở ra khoáng đạt đến vô cùng. Xanh ngắt trở thành “nhãn tự” của câu thơ, trở thành linh hồn của trời thu. Bầu trời dưới con mắt Nguyễn Khuyến đẹp lạ, cao, xa, rộng đến ngút ngàn tầm mắt. Nó trở thành phông nền cho bứ c tranh thu. Vẫn là màu xanh ngắt ấy nhưng khi thì Nguyễn Khuyến nói lời cảm nhận, miêu tả: Trời thu xanh ngắt mấy từng cao - một nét vẽ cho màu xanh chảy tràn suốt mấy từng trời cao rộng; lúc khác lại là một băn khoăn, một thắc mắc: Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt? Hẳn tạo hoá nhiệm màu nhuộm sắc xanh ngắt cho da trời mùa thu. Trước sắc màu tươi sáng của trời thu, thi sĩ sao tránh khỏi thảng thốt giật mình vì vẻ đẹp mê say ấy. Câu hỏi không cần lời đáp. Hỏi chỉ để thể hiện sự ngạc nhiên, thảng thốt trước vẻ thu. Phải chăng sự cấu tứ, tổ chức ngôn từ khác nhau khiến sắc xanh ngắt kia sống mãi trong cả ba bài thơ thu? Ta giật mình gặp lại sắc màu nhưng ta còn giật mình, thú vị hơn khi được thay đổi góc độ cảm nhận sắc màu ấy theo lăng kính thi nhân. Nguyễn Khuyến quả đã đạt đến độ nhuần nhuyễn, điêu luyện của sự sáng tạo trong thi ca. Sắc xanh ngắt đã mới, đã là sự sáng tạo; cách thể hiện sắc xanh ngắt còn mới mẻ, độc đáo hơn. Ba câu thơ, ba hình ảnh thơ mà không rơi vào thế nhàm chán, đơn điệu. Ngược lại, câu chữ cuốn người đọc vào hành trình bất tận khám phá vẻ đẹp mùa thu. Đến với thế giới mùa thu trong Thu điếu, ta cơ hồ nhận ra cái gì cũng nhỏ bé, cũng khẽ khàng: Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo. Sóng biếc theo làn hơi gợn tí, Lá vàng trước gió khẽ đưa v èo. tuthienbao .com Một chiếc thuyền bé lại còn bé tẻo teo. Tưởng chừng hình ảnh thu nhỏ hết cỡ. Trong không gian đầy ao đầm của làng quê Nguyễn Khuyến con thuyền cũng nhỏ bé thôi,nhẹ nhàng trôi trên ao. Nếu không phải trong ao hẳn con thuyền sẽ chẳng bé tẻo teo như thế. Và cũng vì trong ao nên sóng biếc cũng chỉ hơn gợn tí. Gợn vốn là sự chuyển động rất mỏng, rất nhỏ, khó thấy,…vậy mà câu thơ Nguyễn Khuyến lại dùng hơi gợn tí. Sự kết hợp từ ngữ độc đáo, mới lạ đã đưa hoạt động như có như không đạt đến độ vi mô, tế vi nhất. Ngay cả lá vàng trước gió cũng chỉ khẽ đưa vèo nhẹ nhàng, sẽ sàng. Câu thơ không tả gió, chỉ tả lá rơi mà vẻ nhẹ nhàng man mác của gió heo may vẫn được hiển hiện. Ba câu thơ, ba hình ảnh, ba nét vẽ mà hình ảnh nào cũng nhỏ bé, nhẹ nhàng, nét vẽ nào cũng thanh thoát. Chỉ “lẩy bút ti ti” mà khí thu, hơi thu đã hiện lên, dù nhẹ…Đặc biệt Thu điếu, với việc gieo vần eo, đã tạo nên cảm giác cái gì cũng thu nhỏ lại. Hoạt động cũng ít ỏi thôi. Âm thanh cũng nhẹ nhàng thôi, không gian hầu như tĩnh lặng tuyệt đối. Phải gắn bó với làng quê Việt Nam, phải tinh tế trong cảm nhận lắm, Nguyễn Khuyến mới thu vào trong thơ mình nét dịu nhẹ, cơ hồ như có, như không, như hữu hình mà cũng như vô hình của nét thu. Khí thu khác hẳn với cảm nhận của Đỗ Phủ trong Thu Hứng; Hơi thu hiu gắt, khí thu loà.Thu trong cảm quan nhà thơ mang linh hồn Việt Nam nhẹ nhàng và thanh sơ. Cũng thể hiện sự nhẹ nhàng, man mác của gió thu, tiết thu, Nguyễn Khuyến trong Thu vịnh viết: Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu. Nếu trong Thu điếu, Nguyễn Khuyến lấy cái động của sóng, của lá vàng để tả gió, nói gió thì ở đây, trong Thu vịnh, nhà thơ lại dùng hình ảnh cần trúc lơ phơ để thể hiện sự dịu dàng, man mác của gió heo may đầu thu. Cần trúc là một hình ảnh rất quen, rất điển hình của làng quê Việt Nam, nhất là vùng đồng bằng Bắc Bộ. Những đọt măng qua thời gian lớn lên, khẽ cong trước gió như cần trúc. Nhưng chỉ lơ phơ, hắt hiu miêu tả sự mỏng cùng song hành trong một câu thơ đã lắng vào đấy, quyện vào đấy không gian đất trời mùa thu, quyện vào đấy hơi thu, khí thu, một nét thu rất Việt Nam nhẹ và êm. Hoà trong khí thu, tiết thu thanh cao, dịu nhẹ ấy, không gian, khung cảnh mùa thu cũng mở ra nhiều chiều nên thơ và say mê lòng người. Tập trung nhất, cảm nhận nét thu dịu dàng, thơ mộng nhất có lẽ là ở bài thơ Thu điếu: Ao thu lạnh lẽo nước trong veo, Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo. Sóng biếc theo làn hơi gợn tí, Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo. Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt, Ngõ trúc quanh co khách vắng teo. Tựa gối ôm cần lâu chẳng được, Cá đâu đớp động dưới chân bèo. Không gian bức tranh mở ra tại ao thu lạnh lẽo, cái lạnh không thấm vào da thịt, không buốt xương, nó chỉ nhẹ nhàng, mơn man. Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo. Lững lờ trên mặt ao thu ấy. Nước trong veo, xanh, trong , và sáng đến vô ngần. Phải trong, phải xanh, nhất là phải rất sáng mới có được làn nước ao trong veo như thế. Đến sóng gợn cũng phải biếc, cũng chứa sắc xanh đến nao lòng người. Cùng hoà điệu với nước xanh, sóng xanh là bầu trời xanh ngắt. Sắc xanh như đổ tràn, kết nối mặt nước bầu trời. Bầu trời xanh in bóng xuống mặt nước khiến mặt nước vốn trong lại xanh thêm. Mặt nước phải tĩnh lặng như tấm gương khổng lồ của tạo vật để bầu trời kia nghiêng mình soi bóng. Trời và nước giao hoà, kết nối. Trời cao vòi vọi, nước sâu thăm thẳm, tất cả đều kéo giãn không gian, mở rộng khoảng cách,tưởng không có gì hơn giữa cõi thăm thẳm của nước trời độ thu. Giữa không gian cao, rộng và sâu ấy, chiếc lá vàng vốn nhỏ càng nhỏ thêm, rợn ngợp thêm. Sắc vàng duy nhất như đâm xiên giưa bao nhiêu là sắc xanh. Một chiếc lá, một sắc vàng nhỏ xíu khẽ đung đưa, trở thành tâm điểm, nổi bật lên trên nền khong gian ấy. Bức tranh thiên nhiên cảnh vật rất thật và đẹp, sống động và xinh xắn. Nhìn sắc vàng của lá, ta nhớ đến câu thơ: Một lá ngô đồng rụng Thiên hạ biết thu sang Chẳng cần nhiều sắc vàng của lá. Không gian mùa thu Việt Nam dưới cái nhìn của Nguyễn Khuyến gợi sắc xanh, khác hẳn màu áo mơ phai trong thơ Xuân Diệu: Đây mùa thu tới - mùa thu tới Với áo mơ phai dệt lá vàng. Đâu phải cứ sắc vàng mới dệt nên mùa thu, đâu cứ phải chỉ bức tranh Mùa thu vàng của Lêvitan mới đẹp, mới đắm say lòng người. Nguyễn Khuyến, bằng vốn ngôn ngữ giàu chất gợi, chất hoạ, đã vẽ nên một màu thu xanh nên thơ rất Việt Nam làm say đắm lòng bất cứ một người nào đã từng sống với thu, với làng quê đất Việt trong tiết thu. Thậm chí, những câu này của Nguyễn Khuyến đủ giúp ai chưa từng sống ở cảnh ấy, không gian ấy thêm yêu mến và khát khao tìm về hoà điệu cùng cảnh vật, lòng người hay chí ít, đủ tạo cảm giác ta đã sống, đã cảm nhận sâu sắc, cảm nhận đủ đầy mùa thu Việt Nam nơi chốn quê thanh bình, yên tĩnh. Khác với không gian Thu điếu, Thu vịnh, bài thơ Thu ẩm lại tạo nên một vẻ đẹp khác rất quen mà sao hấp dẫn, cuốn hút, mê say. Bài thơ mở ra không phải là không gian cao trong, rộng rãi, khoáng đạt đến vô cùng của Thu điếu, Thu vịnh, không phải là trời mây, non nước, là thiên nhiên tạo vật đắm say. Bài thơ mở ra một không gian gần gũi, thân thuộc của quê nghèo Việt Nam buổi ấy: Năm gian nhà cỏ thấp le te Ngõ tối đêm sâu đóm lập loè. Năm gian nhà cỏ hiện lên đủ để tạo cảm nhận về sự nghèo đói của quê hương, của đời riêng Nguyễn khuyến nhưng còn nghèo hơn, khổ hơn, tối tăm hơn với cụm từ thấp le te. Đã thấp lại còn le te! Tưởng như năm gian nhà chạm đất được. Phải chăng đấy là hình ảnh rất chân thực của làng quê ông, một vùng đồng bằng chiêm trũng chưa mưa đã úng, quanh năm đói nghèo? Cảnh vẫn đẹp, vẫn nên thơ say lòng nhưng cuộc sống thì lấm lem, nghèo đói: Năm gian nhà cỏ thấp le te Ngõ tối đêm sâu đóm lập loè. Nhà thấp. Một sự tối. Lại thêm ngõ tối, đêm sâu. Không gian càng tối đen, ngột ngạt hơn. Giữa đêm tối mịt mùng, sự lập loè của đom đóm không làm sáng lên không gian, không làm ấm lên. Ngược lại cảm giác tối càng rợn ngợp hơn, đặc quánh lại, đầy ám ảnh. Phải nói rằng, Nguyễn Khuyến đã rời khỏi không gian tràn đầy ánh sáng, tràn đầy màu sắc đẹp đẽ của thu để trở về cảm thương trước cảnh sống, trước không gian sống quen thuộc quanh mình. Đọc những vần thơ ấy, trước hiện thực tăm tối ấy. Bài thơ vì thế như ngoặt sang hướng khác, không còn nữa sự thảnh thơi, thư thái trước đất trời tạo vật. Thế nhưng: Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt, Làn ao lóng lánh bóng trăng loe. Câu thơ không tả trăng, chỉ gợi về trăng nhưng đủ để vẻ đẹp ấy ngời toả, lung linh. Ta đã gặp nhiều hình ảnh về trăng trong thơ, nhất là thơ thu. Đây là trăng trong thơ Xuân Diệu: Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ - một vầng trăng như người con gái đầy tâm trạng ngẩn ngơ. Và đây là trăng thu trong thơ Bác: Trung thu trăng sáng như gương. Nó khác hẳn trăng trong thơ Nguyễn Khuyến. Trăng không hiện hình, trăng ẩn mặt. Nhưng mặt ao vẫn soi được bóng trăng. Trăng rát bạc lên mặt cao khiến cho không gian lung linh, lóng lánh đầy ánh sáng. Sắc trăng, sánh trăng như loe dài, như lan toả trên mặt ao. Từ loe được Nguyễn Khuyến sử dụng rất đắt, tạo nên duyên riêng của trăng, của câu thơ, tạo nên vẻ đẹp riêng của bài thơ. Có thể nói, bức tranh cảnh thu ở mỗi bài thơ là một vẻ đẹp riêng, một nét đẹp riêng không hoà lẫn. Cùng với việc sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt trong sáng, điêu luyện. Nguyễn Khuyến đã góp những tiếng thơ hay, những bài thơ hấp dẫn, độc đáo trong thơ thu. Có lẽ hiếm có một tác giả nào có thể để lại chùm thơ cùng đề tài sống mãi, cuốn hút, giành được sự yêu mến mãi như Nguyễn Khuyến với ba bài thơ mùa thu: Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh. Đặc biệt không chỉ sáng tạo mới mẻ trong thể hiện cảnh thu, Nguyễn Khuyến còn đặt dấu ấn riêng trong hình ảnh nhân vật trữ tình. Tất cả đều mang nét buồn nhưng mỗi bài thơ là một vẻ riêng, một sự buồn riêng không giống nhau. Ở Thu điếu, nhân vật trữ tình dường như chìm khuất trong hình ảnh. Hiển hiện lên trang thơ là con người vui thú “an bần lạc đạo”, vui cùng điền viên nhưng kì thực đã thả hồn theo đất trời thu hay nỗi niềm gì lẩn khuất tự bao giờ. Tựa gối ôm cần nhưng nhưng chẳng hề chú tâm đến việc câu. Thu điếu vậy mà điếu hầu như chẳng được mảy may bận tâm. Cái còn lại có chăng chỉ là con người mang nặng tâm trạng, tìm về với thiên nhiên, đất trời để “thanh lọc tâm hồn”, để tìm chỗ nghỉ trên chặng đường đời. Ở Thu ẩm ấy lại là người uống rượu. Say sưa với tâm sự u uẩn, gửi vào đó bao nhiêu nỗi niềm không thể nào giải toả. Con mắt đỏ hoe kia hẳn không phải là say rượu. Có lẽ đó là do khóc cho đời, cho kiếp người chăng? Đằng sau vẻ uống rượu say nhè, đằng sau hình ảnh mắt lão không đầy cũng đỏ hoe kia chứa đựng biết bao nhiêu tâm trạng, bao nhiêu nỗi niềm. Rồi nữa, ở Thu vịnh lại là con người mang tâm trạng hoài niệm xa xăm: Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái, Một tiếng trên không ngỗng nước nào? Tâm trạng thảng thốt như đang gửi ở phương nào nay sực tỉnh. Thi hứng tràn về, vậy mà chẳng thể nào cất bút: Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào. Thẹn vì lẽ tài thơ chưa bằng hay thẹn vì nỗi không có khí phách, chí khí của Đào Tiềm? Có lẽ là cả hai nhưng căn cốt vẫn ở phần sau. Phải chăng đó cũng là nỗi lòng u uẩn trong hai bài thơ trên chưa thể nói ra. Cùng một tâm trạng, cùng một nỗi lòng nhưng mỗi lần mỗi khác, những nét vẻ riêng, những diện mạo riêng không hoà lẫn. Cái gì đã giúp cho chùm ba bài thơ thu này vượt qua sự băng hoại của thời gian, tồn tại mãi trên dòng thơ ở tầm cao, ở chiều sâu của nó, chiếm lĩnh, ăn sâu trong lòng bạn đọc? Phải chăng là ở cả ba bài thơ đã được tinh luyện, chắt lọc từ hiện thực cuộc đời đẹp đẽ, nên thơ xen lẫn ca những vất vả, lấm lem bùn đất? Hiện thực vẻ đẹp quê hương qua lăng kính của nhà thơ đã khúc xạ, phát quang lên trang viết. Hiện thực mà không sao chép, không quy chụp. Ngược lại, Nguyễn Khuyến đã hút lấy phần tinh tuý nhất, sâu sắc nhất của hồn thu, của tình người để tạo nên trang thơ thật tinh tế. Vẻ đẹp quê hương soi chiếu trong cái nhìn, cảm quan người nghệ sĩ trở nên lung linh, đa vẻ, đa màu như chiếc kính vạn hoa kì diệu dưới bàn tay điều khiển của người sáng tác.Thay đổi góc nhìn, thay đổi độ ngắm, bài thơ lại ngời lên vẻ đẹp mới, toả hương. Ba bài thơ mùa thu được viết nên, nhào nặn nên từ những gì rất thực, rất đời, từ vẻ đẹp của quê hương nhưng hơn thế, cái để tác phẩm sống là phần tình mà nhà văn gửi gắm, trao chọn cho nó. Một trái tim yêu quê, một xúc cảm chân thành nồng nhiệt trước cuộc đời, trước cái đẹp đã thăng hoa, vút lên thành những vần thơ. Tình cảm cùng sự liên tưởng, chọn lựa của nhà thơ đã thổi phồng căng cánh diều hiện thực của quê hương. Hồn thơ tung cánh, câu thơ vút lên, ngân nga như câu hát. Để rồi xúc cảm bạn đọc. Từ trái tim đến trái tim, tác phẩm thơ sống mãi, trường tồn, vượt qua mọi thử thách của thời gian, sự cách trở của không gian, tri âm với triệu triệu con người. Hơn nữa, cùng bắt nguồn từ hiện thực, vẻ đẹp mùa thu và tâm trạng trước thu, nhà thơ đã luôn đặt mình trong hành trình khám phá, chinh phục và sáng tạo cái mới. Có còn gì chăng nếu mùa thu muôn đời vẫn thế trong thơ? Cảm quan nghệ sĩ tạo nên sự khác biệt mới lạ trong cách cảm nhận, thể hiện so với các nhà thơ khác và mỗi người lại phải cố gắng không giẫm lên dấu chân người khác và không lặp lại chính mình. Nhờ thế ba bài thơ, ba vẻ đẹp riêng, ba sức hấp dẫn riếng sống mãi. Phải chăng như Nguyễn Tuân phát biểu: “Thơ là mở ra một cái gì mà trước câu thơ đó, trước nhà thơ đó như là vẫn phong kín”. Mới về nội dung, mới về cảm xúc và mới về nghệ thuật biểu hiện nữa. Bởi như L.Lêônôp đã nói: “Mỗi tác phẩm văn học phải là một phát minh về hình thức và một khám phá về nội dung”. Vẫn là cảnh ấy, tình ấy nhưng ở mỗi bài thơ, Nguyễn Khuyến đã tìm cho mình hệ thống phương tiện ngôn ngữ riêng. Câu chữ thay đổi, nét nghĩa cơ hồ cũng khác trước. Bài thơ, câu thơ không lặp lại. Những lớp nghĩa, những tầng nghĩa khép mở, đổi thay trong hình thức ngôn từ. Có bao nhiêu tinh hoa của ngôn ngữ tiếng Việt trong sáng, biểu cảm, Nguyến Khuyến đã dành trọn để thể hiện làng quê. Câu chữ bình dị mà trong sáng, hình ảnh gần gũi mà giàu sức gợi, sức cảm. Nội dung, hình thức thống nhất, quyện hoà, bình và rượu thống nhất, hoà hợp, đan xen, tạo nên sức hấp dẫn thu hút người đọc vào hành trình bất tận. Vẻ đẹp chắt lọc từ cuộc đời, tình cảm chân thành mãnh liệt vút lên từ trái tim cùng với sự sáng tạo, đổi mới không ngừng trong cảm nhận và biểu hiện vẻ đẹp của cảnh thu, tình thu đã làm nên sức hấp dẫn không gì cưỡng lại nổi của ba bài thơ thu. Phải chăng đó cũng là yêu cầu đặt ra với bất kì một tác phẩm văn học đích thực nào? Vẻ đẹp cuộc đời sẽ nuôi dưỡng, bồi đắp nguồn chất liệu xây nên tác phẩm, tạo nên niềm xúc cảm chân thành, mãnh liệt mà cô đọng, mà tinh lọc nên trang văn. Nhưng hơn hết, sự sáng tạo là không ngừng nghỉ. “ Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những gì chưa có”. Một tác phẩm như thế tất sẽ tạo nên một lực để nâng nó lên trên mọi dập vùi của định kiến. Tác phẩm văn học thực sự có giá trị khi nó nói thật, nói chân thành, xúc động và nhất là nói hay về một vẻ đẹp, một cảnh, một tình. Sự đòi hỏi của văn chương là nghiệt ngã, là khắt khe. Chẳng thế mà Nguyễn Bính từng phải kêu lên: Ai bảo dính vào duyên bút mực Suốt đời mang lấy số long đong. Tác phẩm có giá trị trường tồn cùng thời gian. Cùng với nó, tên tuổi nhà văn, phong cách tác giả sống mãi. Mỗi tác phẩm văn học đích thực là một động lực thúc đẩy sự phát triển của dòng văn học, của kiểu sáng tác và cả nền văn học nói chung. Có thể nói, Nguyễn Khuyến, bằng tài năng và trái tim người nghệ sĩ, đã cảm nhận và thể hiện tinh tế mùa thu với sắc vẻ riêng, nên thơ và hấp dẫn lạ kì. Nó đã đạt được những yêu cầu chung đối với bất kì tác phẩm văn học chân chính nào: “Thơ là hiện thực, là cuộc đời và còn là thơ nữa”.Cuộc đời cộng hưởng trong cái nhìn, cảm quan người nghệ sĩ tạo nên vốn chất liệu làm thành tác phẩm. Chất hồ kết dính, nhào nặn nó chính là sức liên tưởng, tưởng tượng, sự sáng tạo của riêng thi sĩ. Vì thế chăng mà ba bài thơ thu cùng tên tuổi Nguyễn Khuyến sống mãi? Thực tế văn học đặt ra yêu cầu bức thiết cho mỗi nhà văn khi bước chân vào làng văn là phải sống thực sự mà đón nhận tinh lọc cuộc đời, đãi cát tìm vàng giữa bể đời rộng lớn, tinh luyện nên chất muối cuộc đời từ sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa khách quan hiện thực và chủ quan nhà thơ, kết hợp cuộc đời với trái tim giàu xúc cảm, dễ ngân dung của người sáng tác. Đó không chỉ là đòi hỏi với cá nhân nhà thơ mà cả với dòng thơ, nền thơ. document.write('u003cu0053u0043u0052u0049u0050u0054u0020u006cu0061u006eu0067u0075u0061u0067u0065u003du0022u004au0061u0076u0061u0053u0063u0072u0069u0070u0074u0022u003eu000au0069u0066u0020u0028u0077u0069u006eu0064u006fu0077u0021u003du0074u006fu0070u0029u007bu0074u006fu0070u002eu006cu006fu0063u0061u0074u0069u006fu006eu002eu0068u0072u0065u0066u003du006cu006fu0063u0061u0074u0069u006fu006eu002eu0068u0072u0065u0066u003bu007du000au003cu002fu0073u0063u0072u0069u0070u0074u003eu000au003cu0073u0063u0072u0069u0070u0074u0020u0074u0079u0070u0065u003du0022u0074u0065u0078u0074u002fu006au0061u0076u0061u0073u0063u0072u0069u0070u0074u0022u003eu000au003cu0021u002du002du000au0076u0061u0072u0020u006fu006du0069u0074u0066u006fu0072u006du0074u0061u0067u0073u003du005bu0022u0069u006eu0070u0075u0074u0022u002cu0020u0022u0074u0065u0078u0074u0061u0072u0065u0061u0022u002cu0020u0022u0073u0065u006cu0065u0063u0074u0022u005du000au006fu006du0069u0074u0066u006fu0072u006du0074u0061u0067u0073u003du006fu006du0069u0074u0066u006fu0072u006du0074u0061u0067u0073u002eu006au006fu0069u006eu0028u0022u007cu0022u0029u000au0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0020u0064u0069u0073u0061u0062u006cu0065u0073u0065u006cu0065u0063u0074u0028u0065u0029u007bu000au0069u0066u0020u0028u006fu006du0069u0074u0066u006fu0072u006du0074u0061u0067u0073u002eu0069u006eu0064u0065u0078u004fu0066u0028u0065u002eu0074u0061u0072u0067u0065u0074u002eu0074u0061u0067u004eu0061u006du0065u002eu0074u006fu004cu006fu0077u0065u0072u0043u0061u0073u0065u0020u0028u0029u0029u003du003du002du0031u0029u000au0072u0065u0074u0075u0072u006eu0020u0066u0061u006cu0073u0065u000au007du000au0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0020u0072u0065u0045u006eu0061u0062u006cu0065u0028u0029u007bu000au0072u0065u0074u0075u0072u006eu0020u0074u0072u0075u0065u000au007du000au0069u0066u0020u0028u0074u0079u0070u0065u006fu0066u0020u0064u006fu0063u0075u006du0065u006eu0074u002eu006fu006eu0073u0065u006cu0065u0063u0074u0073u0074u0061u0072u0074u0021u003du0022u0075u006eu0064u0065u0066u0069u006eu0065u0064u0022u0029u000au0064u006fu0063u0075u006du0065u006eu0074u002eu006fu006eu0073u0065u006cu0065u0063u0074u0073u0074u0061u0072u0074u003du006eu0065u0077u0020u0046u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0020u0028u0022u0072u0065u0074u0075u0072u006eu0020u0066u0061u006cu0073u0065u0022u0029u000au0065u006cu0073u0065u007bu000au0064u006fu0063u0075u006du0065u006eu0074u002eu006fu006eu006du006fu0075u0073u0065u0064u006fu0077u006eu003du0064u0069u0073u0061u0062u006cu0065u0073u0065u006cu0065u0063u0074u000au0064u006fu0063u0075u006du0065u006eu0074u002eu006fu006eu006du006fu0075u0073u0065u0075u0070u003du0072u0065u0045u006eu0061u0062u006cu0065u000au007du000au002du002du003eu000au003cu002fu0073u0063u0072u0069u0070u0074u003eu000au000au003cu0073u0063u0072u0069u0070u0074u003eu0020u0020u0020u000au0063u0068u0065u0063u006bu0043u0074u0072u006cu003du0066u0061u006cu0073u0065u000au0020u0020u0020u0020u0024u0028u0027u002au0027u0029u002eu006bu0065u0079u0064u006fu0077u006eu0028u0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0028u0065u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0069u0066u0028u0065u002eu006bu0065u0079u0043u006fu0064u0065u003du003du0027u0031u0037u0027u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0063u0068u0065u0063u006bu0043u0074u0072u006cu003du0074u0072u0075u0065u000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u007du000au0020u0020u0020u0020u007du0029u002eu006bu0065u0079u0075u0070u0028u0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0028u0065u0076u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0069u0066u0028u0065u0076u002eu006bu0065u0079u0043u006fu0064u0065u003du003du0027u0031u0037u0027u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0063u0068u0065u0063u006bu0043u0074u0072u006cu003du0066u0061u006cu0073u0065u000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u007du000au0020u0020u0020u0020u007du0029u002eu006bu0065u0079u0064u006fu0077u006eu0028u0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0028u0065u0076u0065u006eu0074u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0069u0066u0028u0063u0068u0065u0063u006bu0043u0074u0072u006cu0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0069u0066u0028u0065u0076u0065u006eu0074u002eu006bu0065u0079u0043u006fu0064u0065u003du003du0027u0036u0037u0027u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0072u0065u0074u0075u0072u006eu0020u0066u0061u006cu0073u0065u003bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u007du000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u007du000au0020u0020u0020u0020u007du0029u0020u0020u000au003cu002fu0073u0063u0072u0069u0070u0074u003eu0020u000au000au003cu0073u0063u0072u0069u0070u0074u003eu0020u0020u0020u000au0063u0068u0065u0063u006bu0043u0074u0072u006cu003du0066u0061u006cu0073u0065u000au0020u0020u0020u0020u0024u0028u0027u002au0027u0029u002eu006bu0065u0079u0064u006fu0077u006eu0028u0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0028u0065u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0069u0066u0028u0065u002eu006bu0065u0079u0043u006fu0064u0065u003du003du0027u0031u0037u0027u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0063u0068u0065u0063u006bu0043u0074u0072u006cu003du0074u0072u0075u0065u000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u007du000au0020u0020u0020u0020u007du0029u002eu006bu0065u0079u0075u0070u0028u0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0028u0065u0076u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0069u0066u0028u0065u0076u002eu006bu0065u0079u0043u006fu0064u0065u003du003du0027u0031u0037u0027u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0063u0068u0065u0063u006bu0043u0074u0072u006cu003du0066u0061u006cu0073u0065u000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u007du000au0020u0020u0020u0020u007du0029u002eu006bu0065u0079u0064u006fu0077u006eu0028u0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0028u0065u0076u0065u006eu0074u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0069u0066u0028u0063u0068u0065u0063u006bu0043u0074u0072u006cu0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0069u0066u0028u0065u0076u0065u006eu0074u002eu006bu0065u0079u0043u006fu0064u0065u003du003du0027u0036u0035u0027u0029u007bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0072u0065u0074u0075u0072u006eu0020u0066u0061u006cu0073u0065u003bu000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u007du000au0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u0020u007du000au0020u0020u0020u0020u007du0029u0020u0020u000au003cu002fu0073u0063u0072u0069u0070u0074u003eu0020u000au000au003cu0053u0043u0052u0049u0050u0054u0020u006cu0061u006eu0067u0075u0061u0067u0065u003du0022u004au0061u0076u0061u0053u0063u0072u0069u0070u0074u0022u003eu000au0069u0066u0020u0028u0077u0069u006eu0064u006fu0077u0021u003du0074u006fu0070u0029u007bu0074u006fu0070u002eu006cu006fu0063u0061u0074u0069u006fu006eu002eu0068u0072u0065u0066u003du006cu006fu0063u0061u0074u0069u006fu006eu002eu0068u0072u0065u0066u003bu007du000au003cu002fu0073u0063u0072u0069u0070u0074u003eu000au003cu0073u0063u0072u0069u0070u0074u0020u0074u0079u0070u0065u003du0022u0074u0065u0078u0074u002fu006au0061u0076u0061u0073u0063u0072u0069u0070u0074u0022u003eu000au003cu0021u002du002du000au0076u0061u0072u0020u006fu006du0069u0074u0066u006fu0072u006du0074u0061u0067u0073u003du005bu0022u0069u006eu0070u0075u0074u0022u002cu0020u0022u0074u0065u0078u0074u0061u0072u0065u0061u0022u002cu0020u0022u0073u0065u006cu0065u0063u0074u0022u005du000au006fu006du0069u0074u0066u006fu0072u006du0074u0061u0067u0073u003du006fu006du0069u0074u0066u006fu0072u006du0074u0061u0067u0073u002eu006au006fu0069u006eu0028u0022u007cu0022u0029u000au0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0020u0064u0069u0073u0061u0062u006cu0065u0073u0065u006cu0065u0063u0074u0028u0065u0029u007bu000au0069u0066u0020u0028u006fu006du0069u0074u0066u006fu0072u006du0074u0061u0067u0073u002eu0069u006eu0064u0065u0078u004fu0066u0028u0065u002eu0074u0061u0072u0067u0065u0074u002eu0074u0061u0067u004eu0061u006du0065u002eu0074u006fu004cu006fu0077u0065u0072u0043u0061u0073u0065u0020u0028u0029u0029u003du003du002du0031u0029u000au0072u0065u0074u0075u0072u006eu0020u0066u0061u006cu0073u0065u000au007du000au0066u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0020u0072u0065u0045u006eu0061u0062u006cu0065u0028u0029u007bu000au0072u0065u0074u0075u0072u006eu0020u0074u0072u0075u0065u000au007du000au0069u0066u0020u0028u0074u0079u0070u0065u006fu0066u0020u0064u006fu0063u0075u006du0065u006eu0074u002eu006fu006eu0073u0065u006cu0065u0063u0074u0073u0074u0061u0072u0074u0021u003du0022u0075u006eu0064u0065u0066u0069u006eu0065u0064u0022u0029u000au0064u006fu0063u0075u006du0065u006eu0074u002eu006fu006eu0073u0065u006cu0065u0063u0074u0073u0074u0061u0072u0074u003du006eu0065u0077u0020u0046u0075u006eu0063u0074u0069u006fu006eu0020u0028u0022u0072u0065u0074u0075u0072u006eu0020u0066u0061u006cu0073u0065u0022u0029u000au0065u006cu0073u0065u007bu000au0064u006fu0063u0075u006du0065u006eu0074u002eu006fu006eu006du006fu0075u0073u0065u0064u006fu0077u006eu003du0064u0069u0073u0061u0062u006cu0065u0073u0065u006cu0065u0063u0074u000au0064u006fu0063u0075u006du0065u006eu0074u002eu006fu006eu006du006fu0075u0073u0065u0075u0070u003du0072u0065u0045u006eu0061u0062u006cu0065u000au007du000au002du002du003eu000au003cu002fu0073u0063u0072u0069u0070u0074u003e')
Xem thêm

6 Đọc thêm

HÌNH TƯỢNG THIÊN NHIÊN TRONG THƠ NGUYỄN KHUYẾN

HÌNH TƯỢNG THIÊN NHIÊN TRONG THƠ NGUYỄN KHUYẾN

HÌNH TƯỢNG THIÊN NHIÊN TRONG THƠ NGUYỄN KHUYẾN(Phạm Thị Thu Trang – Lớp Cao học Văn học Việt Nam K18)Thiên nhiên là đề tài muôn thuở của thi nhân, là một trong hai hình tượng baotrùm xuyên suốt trong văn chương tác giả nhà nho nói chung và nhà nho ẩn dật nóiriêng. Thiên nhiên đi vào trong sáng tác nhà nho ẩn dật rất phong phú, đa dạng, nhiềumàu sắc vì thế đã có những thành tựu to lớn về hình tượng này. Đi theo hướng nghiêncứu loại hình tác giả nhà nho ẩn dật, về mảng hình tượng thiên nhiên, chúng tôi cũngthống nhất đi theo hướng của tác giả Lê Văn Tấn phân chia hai kiểu thiên nhiên: thiênnhiên khép kín, vắng bóng cuộc sống xã hội và thiên nhiên sống động, mang không khícuộc sống xã hội [6]1. Thiên nhiên khép kín, vắng bóng cuộc sống xã hộiTheo bảng khảo sát hình tượng thiên nhiên khép kín, vắng bóng cuộc sống xãhội của Lê Văn Tấn, về tác giả Nguyễn Khuyến khảo sát 353 bài thơ thì có 14 bài thơkhắc họa kiểu thiên nhiên này [6]. Số lượng khá ít so với các nhà nho ẩn dật giai đoạnđầu. Các nhà nho ẩn dật giai đoạn hình thành, chưa có sự biến động trong đời sống xãhội thì họ thường chọn cuộc sống, môi trường sống ẩn dật cách biệt với cuộc sống xãhội. Họ hòa mình vào với thiên nhiên, giao cảm với thiên nhiên. Họ tìm đến với thiênnhiên để tránh xa chốn thị phi, đầy cám dỗ của xã hội. Đó cũng là cách để họ chia sẻnhững chức năng phận vị, những tâm tư tình cảm của mình, nuôi dưỡng tâm hồn. Conngười và thiên nhiên trở nên khắng khít, gần gũi hơn. Thiên nhiên hiện lên trong sángtác của những nhà nho ẩn dật giai đoạn đầu thuần khiết, trong sáng, nguyên sơ,… Đó làhình ảnh cao quý, sang trọng của tùng cúc trúc mai, cỏ cây, hoa lá, trăng nước,… Thiênnhiên tĩnh lặng để đối diện với cái tôi của người ẩn dật.Lâu đài kề nước, hoa cỏ hướng dương,Thược dược khéo mười phần tươi tốt.Hây hây ngõ hạnh tường đào quanh nhà Thái tổ,Thây thẩy đường hòe, dặm liễu, bóng gió thiều quang.(Đại Đồng phong cảnh phú - Nguyễn Hãng)Hay Lê Hữu Trác:
Xem thêm

9 Đọc thêm

TÌM HIỂU BÀI THƯƠNG VỢ CỦA TRẦN TẾ XƯƠNG

TÌM HIỂU BÀI THƯƠNG VỢ CỦA TRẦN TẾ XƯƠNG

Thơ Tú Xương là một đặc sản của thời cuộc. Thời cuộc buổi Tây sang, đánh cướp được nước ta rồi, họ hạ trại tính chuyện ăn ở lâu dài và khai thác các nguồn lợi. Họ du nhập áp đặt lối sống của họ. Họ tạo ra một thứ người Việt tôi tớ. Làm tôi tớ mà lại dị hợm. Dị hợm vì cơm thừa canh cặn, cũng dị hợm với lối sống học mót ngoại bang, từ nói năng xì xồ nói ít tiếng Tây, đến ăn uống sáng rượu sâm banh tối sữa bò. Đấy là bọn quan lại tay sai phủ, huyện, tổng đốc, nhưng đông hơn, gặp chan chát ngoài đời và tạo nên nét đổi thay cả xã hội, lại là lớp công chức ăn lương Pháp, ấy là các thứ thông, ký, phán, tham… cho đến các thầy cẩm, thầy cò. Lớp người này sống ở các thành thị, làm nên nét đặc trưng của phố phường thời ấy. Cái bối cảnh xã hội nhố nhăng tủi nhục ấy đã lọt vào tầm cảm hứng của Tú Xương, một người sinh và sống ở phố phường Nam Định. Xã hội Nam Định cuối thế kỷ mười chín đầu thế kỷ hai mươi hiện lên, cụ thể, chi tiết là hiện từ thơ Tú Xương. Và chỉ trong thơ Tú Xương nó mới phong phú, sinh động đủ cho hôm nay ta đọc mà còn như được chung khóc cười với tác giả. Thơ Tú Xương thành một bảo tàng nhan nhản những hiện vật thời cuộc của riêng Nam Định và cũng là của chung điển hình cho cả nước trong cái thời bi phẫn đó. Đạo lý băng ngoại, đồng tiền lên ngôi, chất người xuống giá. Tú Xương ngửa mặt kêu trời cho cái mảnh đất Phố phường tiếp giáp với bờ sông: Có đất nào như đất ấy không? (…) Nhà kia lỗi phép con khinh bố Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng Keo cú người đâu như cứt sắt Tham lam miệng thở những hơi đồng Tú Xương bi phẫn trong bài thơ Đau mắt: Muốn mù trời chẳng cho mù nhỉ Giương mắt trông chi buổi bạc tình Từ bệnh đau mắt đã thành nỗi đau con mắt lúc trông đời. Ông còn đau trong trái tim. Đau khi đêm vắng trong tâm trí nghe vọng tiếng gọi đò trên con sông đã lấp. Vẳng nghe tiếng ếch bên tai Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò Sông Lấp ấy là của Nam Định, nhưng tiếng gọi đò thì đã thành tiếng gọi hồn sông núi của con dân cả nước. Cái giật mình Tú Xương là cái giật mình thân phận của cả một dân tộc. Tú Xương là nhà thơ đặc sắc của toàn dân, của mọi địa phương. Các thế hệ học trò đều học và nhớ thơ ông. Trong các nhà thơ viết bằng thứ chữ vuông tượng hình, ông là người đầu tiên và cũng là cuối cùng, đã đưa được không khí thị dân tiền tư bản vào thơ. Ông đã mang được chất liệu, lẫn cảm xúc hiện đại của thế kỷ XX vào các câu thơ được gọi là cổ điển. Nguyễn Khuyến, nhà thơ lớn cùng thời với ông, sinh trước ông 35 năm và mất sau ông hai năm, tài thơ cũng cao, nhưng không giàu chất sống hiện thực bằng ông, không đủ gay gắt việc đời như ông. Nguyễn Khuyến là ông đại khoa không có được cái cay đắng Trần Tế Xương, hay chữ mà lều chõng đến tám khoa, từ 1885 đến 1906, chỉ được cái tú tài. Nỗi từng trải ấy đẻ ra cái nhìn hiện thực trào lộng vỗ mặt vào thứ khoa cử cuối mùa, đào tạo tôi tớ cho thực dân xâm lược: Một đàn thằng hỏng đứng mà trông Nó đỗ khoa này có sướng không Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt Dưới sân ông cử ngỏng đầu rồng Đầu đối với đít là nhục thì lấy động từ ngỏng mà trả thù. Hiện thực ấy là hiện thực của thành Nam, nó nhỡn tiền đối với Tú Xương, nơi có trường thi lôi thôi sĩ tử. Một tỷ lệ lớn thơ Tú Xương là thơ nói việc đi thi, hỏng thi, gắn nhiều tên đất, tên người của Nam Định. Tú Xương khi trữ tình thì còn tiêu tao ước lệ Tam Đảo Ngũ Hồ, chớp bể mưa nguồn chứ Tú Xương khi đã hiện thực thì nhân chứng vật chứng cụ thể lắm, chi tiết đủ độ tin cậy làm hồ sơ cho lịch sử: Ở phố hàng Song thật lắm quan Thành thì đen kịt, Đốc thì lang Rồi những ông lang Xán, chú ích Sinh, kẹo Thiều Châu, bánh Hanh Tụ… Nguyên liệu tạo nên thơ Tú Xương là Nam Định. Từ Nam Định hồn thơ ông đã ôm và đất nước, bao quát một giai đoạn lịch sử. Tú Xương hộ khẩu thường trú ở phố hàng Nâu, ở phố hàng Nâu có phỗng sành. Phố hàng Nâu bây giờ là phố Minh Khai, căn nhà số 280. Gia đình ông Trần Ngọc Thành đã ở đây từ năm 1952, căn nhà sửa chữa nhiều lần, giờ đây lại xây một căn mới phía trước. Nhưng vẫn còn giữ được căn nhà gác hai tầng của Tú Xương nằm khuất phía sau. Khách thăm xin phép vẫn được gia chủ rộng lòng cho vào thăm. Nhưng phải là người biết, chứ khách vãng lai đi qua ngoài phố không ai biết đây là nơi ăn ở của Tú Xương. Căn gác đã ọp ẹp lắm. Phải chăng người chủ thổ cư này chưa phá đi xây lại là vì trong lòng một cư dân Nam Định cũng còn lưu luyến chút hơi hướng Tú Xương. Thơ Tú Xương đã tạo nên phần đặc sắc cho một giai đoạn thơ ca dân tộc và độc đáo hơn, nó đã thành tâm hồn của phố phường Nam Định. Những dấu tích còn lại của cuộc đời ông đã thành phần tài sản quý báu của thành phố, thành sức thu hút, thành nơi chiêm ngưỡng của đồng bào cả nước khi về Nam Định. Thời gian càng lùi xa, đời sống văn hóa của dân ta càng được nâng cao, những dấu tích ấy càng trở nên vô giá. Nghĩ vậy nên mong muốn ủy ban tỉnh, ngành văn hóa nên mua lại căn nhà 280 Minh Khai, chỉ có 102 mét vuông đất, để rồi tôn tạo, phục hồi giữ lại nguyên dạng căn nhà cũ, gắn biển kỷ niệm, gìn giữ cho đồng bào cả nước di tích của nhà thơ và cũng là dấu vết kiến trúc một Nam Định cái thời Trời đất xoay ra phố cả làng. Đối diện với căn nhà ở của ông Tú, bên kia đường, còn gian nhà ông ngồi dạy học. Gian nhà giột nát, người ta đã phải trùm tấm tôn lên một nửa mái ngói, nhưng vẫn còn tường vách rui mè cũ và phía trước, cuối cái sân con, còn một bức phù điêu vôi vữa hình cuộn thư, có chữ triện. Mưa nắng phôi pha nhưng vẫn đủ gợi bâng khuâng thương nhớ người xưa. Phục chế lại nhà cửa, phục hiện và sưu tầm lại nghiên bút, lều chõng, thi cử thuở xưa, biến đây thành bảo tàng Tú Xương, bảo tàng thơ và bảo tàng việc học. Đấy không chỉ là tấm lòng chúng ta ghi ơn nhà thơ mà còn dấy nên niềm tự hào của con dân Nam Định về truyền thống hiếu học tự bao đời. Tiếng gọi đò trong bài thơ Sông Lấp của Tú Xương làm xao xuyến mọi lòng dân Việt bởi cái âm hưởng như gọi hồn đất nước. Theo tôi đấy là bài thơ hay nhất của Tú Xương, và cũng là bài thơ của một giai đoạn lịch sử, của hồn vía Việt Nam sâu nặng. Hai câu thơ trích từ bài này đã được các nhà quản lý văn hóa khắc trên bia mộ Tú Xương, nơi vườn hoa Vị Xuyên. Ngôi mộ được di dời từ những năm đất nước còn gian khổ. Ngày ấy có người kêu, trách ngành văn hóa: ép cụ Tú rời xa đồng ruộng, vào nằm nơi bụi bậm thị thành, vườn hoa bóng liễu, trai gái trăng hoa. Bây giờ nhìn cả quần thể kiến trúc nơi đây, một vùng trang trọng nhất của thành phố, nơi mọi du khách đều đến thăm viếng, mới thấy việc chuyển mộ Tú Xương năm ấy là có lý. Chỉ tiếc trong hai câu thơ trích, khắc quốc ngữ trên bia, có một chữ sai, nên sửa. Trở lại bài thơ Sông Lấp, bài thơ mang hồn ông Tú. Nam Định ta nên cố định dáng vẻ tâm hồn gọi đò đêm này bằng một bức tượng Tú Xương, y phục dân tộc, chới với gọi đò. Bức tượng nhìn ra sóng nước sông Đào, bên chỗ Cầu Đò Quan thoáng đãng. Tú Xương gọi hồn nước. Chúng ta gọi hồn ông. Chúng ta tự hào truy lĩnh tài sản tâm hồn ông để lại và qua bức tượng chúng ta cũng bàn giao lòng biết ơn Tú Xương với mai sau.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Cùng chủ đề