TỈ LỆ THẤT BẠI CỦA CÁC NHÀ QUẢN TRỊ Ở NƯỚC NGOÀI

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "TỈ LỆ THẤT BẠI CỦA CÁC NHÀ QUẢN TRỊ Ở NƯỚC NGOÀI":

Báo cáo thực tập tổng hợp về công tác quản trị nhân sự công ty ống thép Việt Nam VINAPHIPE

BÁO CÁO THỰC TẬP TỔNG HỢP VỀ CÔNG TÁC QUẢN TRỊ NHÂN SỰ CÔNG TY ỐNG THÉP VIỆT NAM VINAPHIPE

Song song với quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực là một bước đi lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế nước ta. Với chính sách mở cửa nền kinh tế, Đảng và Nhà nước đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển không ngừng cả về lượng và chất đặc biệt là sự phát triển làm ăn có hiệu quả của các doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã dần dần khẳng định bước đi đúng đăn, hợp lý trong việc chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN. Sự hợp tác làm ăn trong và ngoài nước đã làm cho nền kinh tế nước ta trở lên sôi động, nhiều phương thức kinh doanh mới, hiện đại mà trước đây chưa từng xuất hiện ở Việt Nam thì nay đã được các nhà đầu tư nước ngoài đem đến làm phong phú thêm cho lối kinh doanh nhỏ bé, manh mún vốn đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người dân Việt Nam. Trong rất nhiều những phương thức kinh doanh mới đó thì phong cách quản trị được coi là một phương thức quan trọng quyết định đến sự thành công và thất bại của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả là một doanh nghiệp có bộ máy quản trị hiệu quả với sự tinh giảm về các bộ phận, phòng ban, có hệ thống thông tin giữa các bộ phận, phân định rõ quyền hạn, trách nhiệm giữa các bộ phận, phòng ban, có chế độ ưu đãi khuyến khích người lao động hết lòng vì công việc. Tiếp thu quan điểm đó, cán bộ và công nhân viên chức công ty ống thép Việt Nam VINAPIPE đã nỗ lực không ngừng để hoàn thiện bộ máy quản trị trong công ty nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, tạo năng suất lao động cao và không ngừng cải thiện đời sống vật chất cho cán bộ công nhân viên chức trong doanh nghiệp. Qua thời gian thực tập tại Công ty, em muốn dần đi sâu vào thực tế và nắm bắt được ý thức và trách nhiệm quyền hạn của từng công việc phục vụ cho quá trình công tác của em sau này.
Xem thêm

28 Đọc thêm

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐỌC – HIỂU TÁC PHẨM VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI CHO HỌC SINH 12 – BAN CƠ BẢN

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐỌC – HIỂU TÁC PHẨM VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI CHO HỌC SINH 12 – BAN CƠ BẢN

đoạn hoặc cùng thể loại. Như đã trình bày, các tác phẩm văn học nước ngoàiđược sắp xếp phù hợp với đặc trưng thể loại và giai đoạn văn học với các tácphẩm trong nước. Việc liên hệ này vừa làm phong phú kiến thức của mỗi tácphẩm vừa tạo hứng thú cho học sinh khi tìm hiểu tác phẩm văn học nướcngoài. Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh liên hệ những vấn đề trong tácphẩm văn học nước ngoài với những tác phẩm trong nước bằng cách đặtnhững câu hỏi gợi mở hoặc bằng hình thức trắc nghiệm.3.3. Đổi mới cách kiểm tra, đánh giáGiáo viên nên có sự kiểm tra, đánh giá kiến thức tự học của học sinhđể kịp thời uốn nắm bổ sung. Bên cạnh hình thức kiểm tra miệng, giáo viêncó thể kiểm tra bằng hình thức trắc nghiệm. Hình thức kiểm tra này có ưuđiểm là trong một thời gian ngắn giáo viên có thể kiểm tra được nhiều8lượng kiến thức nhất, vừa đảm bảo tính vừa sức vừa khắc phục lối học vẹtcủa học sinh.3.4. Đổi mới cách soạn giáo ánCó một thực tế là một số giáo viên soạn giáo án giảng dạy các văn bảnvăn học nước ngoài không khác so với cách soạn giáo án các tác phẩm trongnước. Điều này làm giảm sự thú vị, độc đáo của bài giảng. Thiết nghĩ giáo ándạy phần văn học nước ngoài cần có phẩn bổ sung tri thức về thời đại và về tácgiả so với phần tiểu dẫn SGK. Giáo án cũng cần có phần đọc – liên hệ, vậndung để kiển tra khả năng bình luận tổng hợp vấn đề của học sinh. Giáo án dạyhọc cũng nên thể hiện những sự kết hợp các phương pháp (phương pháp hỏi –trả lời, phương pháp làm việc nhóm...). Hơn hết, giáo án phải thể hiện rõ quanđiểm dạy học tích cực, phải để học sinh chủ động đọc – hiểu tác phẩm, để tácphẩm thực sự trở thành một dấu ấn tâm hồn của người học, giáo viên chỉ làngười hướng dẫn, gợi mở, tuyệt đối không đọc – hiểu thay học sinh.
Xem thêm

12 Đọc thêm

Quản Trị Thương Hiệu Sự thành công của thương hiệu ngoại tại thị trường Việt Nam

QUẢN TRỊ THƯƠNG HIỆU SỰ THÀNH CÔNG CỦA THƯƠNG HIỆU NGOẠI TẠI THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM

Việt Nam là một quốc gia đông dân, có nền chính trị ổn định,.....là một thị trường hết sức hấp dẫn và đầy tiềm năng đối với các doanh nghiệp nước ngoài. Chính vì điều đó đã thu hút các thương hiệu nước ngoài đầu tư vào Việt Nam. Bên cạnh không ít những thương hiệu nước ngoài bị thất bại do chưa am hiểu về người tiêu dùng Việt, chưa xác định đúng chiến lược kinh doanh thì cũng có nhiều thương hiệu ngoại đã rất thành công tại thị trường Việt Nam. Những thương hiệu này đã trở nên khá quen thuộc, khắc sâu trong tâm trí người tiêu dùng Việt. Và chúng ta không thể không nhắc đến những cái tên như : Coca Cola, Honda,... Vậy các thương hiệu này làm cách nào để tạo dựng được những thành công như ngày hôm nay thì chúng ta sẽ cùng nhau đi tìm hiểu trong đề tài này.
Xem thêm

13 Đọc thêm

TIỂU LUẬN Chân dung của nhà quản trị ERIC SCHMIDT

TIỂU LUẬN CHÂN DUNG CỦA NHÀ QUẢN TRỊ ERIC SCHMIDT

Những đặc điểm của nhà quản trị chịu sự chi phối rất mạnh mẽ của nền văn hoá, văn minh trong mỗi quốc gia, khu vực. Đồng thời tình trạng phát triển của nền kinh tế, của khoa học kỷ thuật và cơ cấu kinh tế mỗi nước cũng như ảnh hưởng rất lớn đến phong cách quản trị.Chân dung của một nhà quản trị tốt được thể hiện ở các đặc điểm sau:1.Có tầm nhìn quốc tế, có khả năng giao dịch ở tầm Quốc tế.2. Sử dụng thành thạo tiếng Anh và các thiết bị tin học.3. Có trách nhiệm cao với xã hội, có tài quan hệ, giao dịch với cơ quan Nhà nước có liên quan.4. Có tầm nhìn chiến lược dài hạn và những quản điểm này được thể hiện nhất quán trọng các quyết định kinh doanh. Có phong cách mềm dẻo, linh hoạt thích ứng với môi trương kinh doanh.5. Có khả năng sáng tạo một hệ thống quản trị, cơ cấu tổ chức hoạt động hữu hiệu để duy trì các hoạt động của doanh nghiệp.
Xem thêm

18 Đọc thêm

Nhà quản trị ra quyết định

NHÀ QUẢN TRỊ RA QUYẾT ĐỊNH

Trong bất kỳ lĩnh vực kinh doanh nào, việc tạo sự khác biệt cho sản phẩm của mình luôn là mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản trị. Đặc biệt, trong một thời đại được coi là “ Đế chế của sự lựa chọn”, khi mà người tiêu dùng có hẳn một danh mục lựa chọn lớn để cân nhắc trước khi ra quyết định sẽ mua sản phẩm của công ty nào, thì đây lại càng là một vấn đề nhức nhối. Như vậy, tạo được sự khác biệt cho sản phẩm chính là vấn đề sống còn đối với một thương hiệu. Và nhà quản trị chính là một trong những nhân tố có vai trò quyết định đối với sự thành công hay thất bại của quá trình tạo sự khác biệt cho sản phẩm này. Nhà quản trị phải đưa ra những quyết định chính xác, nắm bắt đúng thời cơ, nhận thức được rủi ro để sản phẩm của mình có thể thành công trên thị trường. Để tìm hiểu sâu hơn về vai trò này của nhà quản trị và các quyết định đổi mới sản phẩm, nhóm chúng tôi thực hiện đề tài: “Nhà quản trị ra quyết định để tạo ra sự khác biệt của sản phẩm”
Xem thêm

35 Đọc thêm

PHÂN TÍCH CÁC VẤN ĐỀ CỦA NÔNG SẢN VIỆT NAM TỪ KHÍA CẠNH LÝ THUYẾT VỀ CÁC THẤT BẠI THỊ TRƯỜNG

PHÂN TÍCH CÁC VẤN ĐỀ CỦA NÔNG SẢN VIỆT NAM TỪ KHÍA CẠNH LÝ THUYẾT VỀ CÁC THẤT BẠI THỊ TRƯỜNG

PHÂN TÍCH CÁC VẤN ĐỀ CỦA NÔNG SẢN VIỆT NAM TỪ KHÍA CẠNH LÝ THUYẾT VỀ CÁC THẤT BẠI THỊ TRƯỜNG. I.Thực trạng nông sản Việt Nam hiện nay: 1. Khái quát tình hình nông sản Việt Nam Việt Nam cất cánh từ nền kinh tế nông nghiệp, nông sản chiếm 30% xuất khẩu, chiếm 26% GDP cả nước với 65% dân số sống ở nông thôn Một số mặt hàng nông sản chủ lực đem về nguồn kinh tế lớn cho cả nước như: gạo, cà phê, hồ tiêu, các loại hoa quả,… Kim ngạch xuất khẩu nông sản 11 tháng đầu năm 2018 đạt 36,3 tỷ USD, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm 2017. Điểm nổi bật của xuất khẩu nông sản năm 2018 là thị phần xuất khẩu đều duy trì, củng cố và mở rộng, 5 thị trường XK các mặt hàng nông lâm thủy sản chính của Việt Nam là Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, ASEAN và Hàn Quốc chiếm thị phần lần lượt là 22,9% (giá trị tăng 3,6% so với năm 2017), 17,9% (tăng 9,4%), 19,1% (tăng 7,1%); 10,64% (tăng 11,0%) và 6,9% (tăng 29,4%). Các thị trường mới nổi, thị trường ngách (Trung Đông, châu Phi, Đông Âu) đều được lực chọn phát triển bài bản, có tính bổ trợ cho các thị trường trọng điểm. Bên cạnh đó, giá trị xuất khẩu các mặt hàng chủ lực đều tăng. Trong số các mặt hàng nông sản chủ lực xuất khẩu của Việt Nam, có một số mặt hàng phải chịu áp lực giảm giá mạnh trong năm 2018, tuy nhiên cũng có những mặt hàng có sự tăng giá trên thị trường thế giới, điển hình là gạo, rau quả, cá tra, đồ gỗ và lâm sản. Cụ thể: đối với mặt hàng gạo, khối lượng gạo XK 11 tháng đầu năm 2018 ước đạt 5,7 triệu tấn và 2,9 tỷ USD, tăng 5,6% về khối lượng và tăng 17,7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017. Tiếp đó là rau quả với giá trị XK 11 tháng năm 2018 ước đạt 3,5 tỷ USD, tăng 11,6% so với cùng kỳ năm 2017, cá tra đạt trên 2 tỷ USD tăng 27,4%. 2. Vấn đề xuất thô nông sản: Các mặt hàng nông sản chủ yếu được sản xuất thô: Hàng nông sản của VN chỉ tham gia ở khâu ít giá trị gia tăng, rủi ro cao và nhiều lệ thuộc. Cao su, tiêu, cà phê hay điều VN tuy chiếm giữ thị phần xuất khẩu không nhỏ trên thế giới nhưng chủ yếu ở khâu trồng cấy và thu gom sản phẩm thô. Những sản phẩm này được xuất cho các công ty nước ngoài. Họ chế biến, chắt lọc, phân đoạn làm nhiều tầng, thu nhiều khoản lời và đóng nhãn mác của họ bán cho người tiêu dùng. Vì chiếm giữ những phần ít rủi ro, lại nắm được thông tin đầu nguồn nên họ chủ động tránh được thiệt hại. Phần bất lợi đẩy về phía những khu vực sản xuất như nông dân Trong xã hội tự cung tự cấp, những biến động thị trường, thậm chí những biến động của toàn nền kinh tế, cũng khó đe dọa được sự sống còn của nông dân. Bởi vì chỉ cần canh tác tốt, nông dân không cần mua bán giao thương cũng có thể sống được nhờ vào sản vật nuôi trồng của mình. Nhưng hiện nay nông sản là sản phẩm hàng hóa và chịu sự chi phối của thị trường chung thì nông dân cũng là thành viên của xã hội thị trường. Nếu như các lực lượng khác có thể tự bảo vệ được mình bởi những sức mạnh mà họ thu được từ thị trường, thì nông dân lại không thu được nguồn lợi đủ để bảo vệ mình khi rủi ro mà thị trường đem lại. Nói cách khác, nông dân và người làm công ăn lương khi tham gia xã hội thị trường đã trở thành một lực lượng nghèo tiềm tàng vì cơ hội và rủi ro của họ không tỉ lệ thuận. Hệ thống thị trường nông sản của chúng ta gần như bị tách rời quyền lợi, trách nhiệm giữa nhà sản xuất, tức là nông dân và nhà kinh doanh các DN thu mua, xuất khẩu. Các DN này thực chất chỉ chọn công đoạn đơn giản nhất trong chu trình phân phối sản phẩm tức là thu mua. Họ có thể sơ chế đơn giản rồi bán sang tay cho các nhà chế biến nước ngoài. Người nông dân gánh chịu các biến động rủi ro của toàn bộ hệ thống vật tư, nguyên liệu đầu vào như giống, phân bón, đất đai, thời tiết... cho ra đời sản phẩm thô với mức lợi nhuận khá thấp. DN thương mại cơ bản chủ động được giá mua, khối lượng, thời điểm và cả đầu ra. Vì vậy họ có điều kiện và luôn cố thủ một tỉ lệ lợi nhuận. Khi giá đầu ra cao, họ điều chỉnh giá thu mua cao hơn một chút. Nhưng khi giá đầu ra xuống thấp, hàng thừa thì DN thu mua vẫn giữ tỉ lệ lợi nhuận cố định đó, đẩy thiệt thòi về phía nông dân. Xuất thô ngông sản của Đồng Nai: Năm 2018, 4 loại nông sản xuất khẩu chính của Đồng Nai gồm: điều, cà phê, tiêu, cao su đều tăng sản lượng từ 5,569% so với năm trước đó, nhưng giảm mạnh về giá. Tuy những nông sản trên đang đứng đầu về sản lượng xuất khẩu nhưng không chi phối được thị trường vì chủ yếu vẫn xuất hàng thô, chưa xây dựng được thương hiệu. Nông dân bị ảnh hưởng lớn nhất vì khó về đầu ra khiến nhiều loại nông sản buộc phải bán dưới giá thành sản xuất. Tăng giá nhưng giảm lời Năm 2018, Đồng Nai xuất khẩu 37 ngàn tấn nhân hạt điều với kim ngạch 329 triệu USD, tăng 5,5% về lượng so với năm trước nhưng giá chỉ bằng 98% so với cùng kỳ năm ngoái. Tương tự, cà phê xuất khẩu trên 221 ngàn tấn được 388,7 triệu USD, tăng 24% về lượng nhưng giá chỉ đạt 90,5%. Hạt tiêu xuất khẩu tăng 69% về lượng nhưng giá chỉ đạt trên 99%. Cao su xuất khẩu tăng 14% về lượng nhưng giá giảm gần 200 USDtấn. Lệ thuộc lớn vì xuất thô Hiện nông sản của Việt Nam hầu hết là xuất thô, nhiều loại chưa xuất được trực tiếp nên giá trị gia tăng chưa cao. Điểm yếu này càng bộc lộ rõ khi thị trường nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu chính của Việt Nam đang rơi vào cảnh cung vượt cầu. .
Xem thêm

Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG QUẢN TRỊ HỌC

ĐỀ CƯƠNG QUẢN TRỊ HỌC

Câu 1: Thế nào là nhà quản trị, phân loại nhà quản trị? Trình bày các kỹ năng quản trị.Nhà quản trị là ngươi có trách nhiệm chỉ huy, điều khiển, giám sát, … các hoạt dộng của những người khácPhân loại : QTV cao cấp các qđ chiến lượcQTV cấp giữa các qđ chiến thuật QTV cấp cơ sở các qđ tác nghiệpTh qđ người thừa hành + QTV cao cấp : là các nhà quản trị họat động ở cấp bậc tối cao trong một tổ chức. nhiệm vụ của các nhà quản trị cấp cao là đưa ra các quyết định chiến lược, tổ chức thực hiện chiến lược , duy trì và phát triển tổ chức. các chức danh thường chủ tịch hội đồn quản trị, phó chủ tịch ….+ QTV cấp giữa hay cấp trung gian: là nhà quản trị hoạt động ở dưới các QTV cao cấp, ở trên các QTV cấp cơ sở. nhiệm vụ của họ là đưa ra các qđ chiến thuật th các kế hoạch và các chính sách của dn, phối hợp các hoạt động các công việc để hoàn thành mục tiêu chu. Các QTV cấp giữa thường là các trưởng phòng ban, các phó phòng ….+ QTVcấp cơ sở: là những nhà quản trị viên ở cấp bậc cuối cùng trong hệ thống cấp bậc của nhà quản tri trong cùng một tổ chức. nhiệm vụ của họ là đưa ra các qđ tác nghiệp nhằm đốc thúc, hướng dẫn, điều khiển, các công nhân viên trong các công việc sản xuất kinh doanh, các công việc cụ thể hàng ngày nhằm th mục tiêu chung. Các chức danh như đốc công, ca trưởng,….Các kỹ năng quản trị + kỹ năng kỹ thuật hoặc chuyên môn nghiệp vụ: thảo chương trình hoặc điện toán, soạn thảo hợp đồng pháp lý kinh doanh……. Là những kỹ năng rất cần thiết cho QTV cấp cơ sở hơn là QTV cấp trung gian hoặc QTV cấp cao+ kỹ năng nhân sự: liên quan đến khả năng cùng làm việc, động viên và điều khiển nhân sự. một vài kỹ năng cần thiết cho bất cứ QTV nào có thái dộ quan tâm đến người khác, xây dựng không khí hợp tác trong lao động, biết cách tác động và hướng dẫn nhân sự trong tổ chức đẻ hoàn thành các kết quả kỳ vọng. kỹ năng nhân sự đối với mọi cấp QTV đều cần thiết như nhau trong bất cứ tổ chức nào dù là phạm vi kinh doanh hay phi kinh doanh+ kỹ năng nhận thức hay tư du: la cái khó hình thành và là một trong những kỹ năng khó nhất nhưng có vai trò đặc biệt quan trọng nhất dối với các nhà QTV cao cấp. họ cần tư duy chiến lược tốt để đề ra đúng đường lối chính sách đệu quả đốối phó có hiệu quả đối với những bất trắc, đe dọa, kìm hãm sự phát triển đối với tổ chức.Câu 2: Trình bày mô hình cơ cấu tổ chức quản trị theo chức năng. Phân tích ưu điểm và hạn chế và điều kiện áp dụng của mô hình này Cơ cấu này được thực hiện trên nguyên lý sau:+Có sự tồn tại các đơn vị chức năng.+Không theo tuyến.+Các đơn vị chức năng có quyền chỉ đạo các đơn vị trực tuyến, do đó mỗi người cấp dưới có thể có nhiều cấp trên trực tiếp của mình Mô hình: Thể hiện qua sơ đồ sau: Ưu điểm:
Xem thêm

20 Đọc thêm

TỔNG QUAN QUẢN TRỊ HỌC

TỔNG QUAN QUẢN TRỊ HỌC

TỔng quan về quản trị Quản trị là một khái niệm rất rộng bao gồm nhiều lĩnh vực. Ví dụ quản trị hành chính (trong các tổ chức xã hội), quản trị kinh doanh (trong các tổ chức kinh tế). huật ngữ quản trị được giải thích bằng nhiều cách khác nhau và có thể nói là chưa có một định nghĩa nào được tất cả mọi người chấp nhận hoàn toàn. Mary Parker Follett cho rằng “quản trị là nghệ thuật đạt được mục đích thông qua người khác”. Định nghĩa này nói lên rằng những nhà quản trị đạt được các mục tiêu của tổ chức bằng cách sắp xếp, giao việc cho những người khác thực hiện chứ không phải hoàn thành công việc bằng chính mình. Koontz và O’Donnell định nghĩa: “Có lẽ không có lĩnh vực hoạt động nào của con người quan trọng hơn là công việc quản lý, bởi vì mọi nhà quản trị ở mọi cấp độ và trong mọi cơ sở đều có một nhiệm vụ cơ bản là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã định.”
Xem thêm

13 Đọc thêm

Bài học kinh nghiệm về quản trị rủi ro trong hợp tác kinh doanh với nước ngoài từ trường hợp bibica - lotte

BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HỢP TÁC KINH DOANH VỚI NƯỚC NGOÀI TỪ TRƯỜNG HỢP BIBICA - LOTTE

Bài học kinh nghiệm về quản trị rủi ro trong hợp tác kinh doanh với nước ngoài từ trường hợp bibica - lotte

43 Đọc thêm

ĐÁNH GIÁ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ỨNG DỤNG CHUẨN QUỐC TẾ BASEL II VÀO QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

ĐÁNH GIÁ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ỨNG DỤNG CHUẨN QUỐC TẾ BASEL II VÀO QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

ĐÓNG GÓP THỰC TIỄN CỦA CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨUTrong bối cảnh các ngân hàng đang triển khai việc áp dụng Basel II thì đây là tài liệu có ý nghĩa tham khảo trong quá trình hoạch định lộ trình áp dụng các chuẩn mực Basel II vào quản trị rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại đồng thời đưa ra những giải pháp cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng Basel II. Bài nghiên cứu đã mô tả các bước tiến trong khuôn khổ pháp lý của Việt Nam về các đòi hỏi về vốn đối với các ngân hàng thương mại tiệm cận các chuẩn mực của Basel, đánh giá những bất cập của các thông tư mà ngân hàng nhà nước đã ban hành cụ thể là Thông tư 13, Thông tư 02, được biết dự thảo sửa đổi bổ sung Thông tư 13 vẫn đang được tổ chức và chưa có những quyết định cuối cùng. Do đó, bên cạnh những giải pháp chung cho hệ thông ngân hàng , nhóm nghiên cứu xin được đề xuất 1 số ý kiến bổ sung cho Thông tư 13 với mong muốn nâng cao hiệu quả áp dụng Basel II cho các ngân hàng như sau:1.Bổ sung trụ cột 2 thông qua việc ban hành thêm các quy định giám sát, đánh giá việc thực hiện, chấp hành các tỉ lệ an toàn vốn quy định của các ngân hàng trong hệ thống, đồng thời có biện pháp xử lý, khắc phục đối với các ngân hàng không đáp ứng đủ điều kiện vốn theo quy định của nhà nước.2.Bổ sung điều kiện, giới hạn cấp tín dụng để đầu tư kinh doanh cổ phiếu của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, đồng thời giảm hệ số rủi ro đối với các khoản vay đầu tư chứng khoán và bất động sản.3.Điều chỉnh tỉ lệ dự trữ chi trả dựa trên sự khác nhau về khả năng thanh khoản của các tài sản dự trữ.4.Bổ sung điều lệ quy định giới hạn cho tài sản ngắn han dùng để cho vay trung hạn và dài hạn.5.Xem xét sửa đổi việc mua vốn, góp vốn cổ phần giữa các công ty mẹ con, công ty liên kết với nhau, nếu cần thiết, có thể không cho phép hành vi mua, góp vốn giữa các công ty này.6.Ban hành sửa đổi các quy định về ủy thác, nắm giữ cổ phiếu của các tổ chức tín dụng khác hay giới hạn mức độ nắm giữ cổ phiều, phân loại đối tượng tham gia góp vốn của các tổ chức tín dụng cụ thể quy định các mức sở hữu cổ phiếu, cổ phần khác nhau đối với các chức vụ khác nhau trong hội đồng quản trị của tổ chức tín dụng, mỗi tổ chức tín dụng được tham gia góp vốn cổ phần tối đa bao nhiêu phần trăm đối với tổ chức tín dụng khác.7.Ban hành quy định về thời gian công bố thông tin đối với trung tâm thông tin CIC đồng thời nâng cao tính chủ động của trung tâm này.Trên đây là những đóng góp thực tiễn của bài nghiên cứu, công trình cũng có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến vấn đề quản trị rủi ro tín dụng trong lĩnh vực ngân hàng.
Xem thêm

148 Đọc thêm

Quản trị theo mục tiêu của nhà quản trị cấp cao trong công ty cổ phần kinh doanh đa ngành trên địa bàn Hà Nội (LA tiến sĩ)

Quản trị theo mục tiêu của nhà quản trị cấp cao trong công ty cổ phần kinh doanh đa ngành trên địa bàn Hà Nội (LA tiến sĩ)

Quản trị theo mục tiêu của nhà quản trị cấp cao trong công ty cổ phần kinh doanh đa ngành trên địa bàn Hà Nội (LA tiến sĩ)Quản trị theo mục tiêu của nhà quản trị cấp cao trong công ty cổ phần kinh doanh đa ngành trên địa bàn Hà Nội (LA tiến sĩ)Quản trị theo mục tiêu của nhà quản trị cấp cao trong công ty cổ phần kinh doanh đa ngành trên địa bàn Hà Nội (LA tiến sĩ)Quản trị theo mục tiêu của nhà quản trị cấp cao trong công ty cổ phần kinh doanh đa ngành trên địa bàn Hà Nội (LA tiến sĩ)Quản trị theo mục tiêu của nhà quản trị cấp cao trong công ty cổ phần kinh doanh đa ngành trên địa bàn Hà Nội (LA tiến sĩ)Quản trị theo mục tiêu của nhà quản trị cấp cao trong công ty cổ phần kinh doanh đa ngành trên địa bàn Hà Nội (LA tiến sĩ)Quản trị theo mục tiêu của nhà quản trị cấp cao trong công ty cổ phần kinh doanh đa ngành trên địa bàn Hà Nội (LA tiến sĩ)Quản trị theo mục tiêu của nhà quản trị cấp cao trong công ty cổ phần kinh doanh đa ngành trên địa bàn Hà Nội (LA tiến sĩ)Quản trị theo mục tiêu của nhà quản trị cấp cao trong công ty cổ phần kinh doanh đa ngành trên địa bàn Hà Nội (LA tiến sĩ)Quản trị theo mục tiêu của nhà quản trị cấp cao trong công ty cổ phần kinh doanh đa ngành trên địa bàn Hà Nội (LA tiến sĩ)Quản trị theo mục tiêu của nhà quản trị cấp cao trong công ty cổ phần kinh doanh đa ngành trên địa bàn Hà Nội (LA tiến sĩ)Quản trị theo mục tiêu của nhà quản trị cấp cao trong công ty cổ phần kinh doanh đa ngành trên địa bàn Hà Nội (LA tiến sĩ)
Xem thêm

Đọc thêm

Slide quản trị học_ Chương 5: Nhà quản trị

SLIDE QUẢN TRỊ HỌC_ CHƯƠNG 5: NHÀ QUẢN TRỊ

SIDE QUẢN TRỊ HỌCCHƯƠNG 5: NHÀ QUẢN TRỊSIDE QUẢN TRỊ HỌCCHƯƠNG 5: NHÀ QUẢN TRỊSIDE QUẢN TRỊ HỌCCHƯƠNG 5: NHÀ QUẢN TRỊSIDE QUẢN TRỊ HỌCCHƯƠNG 5: NHÀ QUẢN TRỊSIDE QUẢN TRỊ HỌCCHƯƠNG 5: NHÀ QUẢN TRỊ

28 Đọc thêm

Giải pháp hạn chế rủi ro trong thu hút đầu tư gián tiếp nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việt Nam

GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TRONG THU HÚT ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

1. Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm qua, Việt Nam đã thành công trong việc thu hút đầu tư FDI, riêng trong năm 2013, tổng số vốn đăng ký đã lên tới 21,6 tỷ USD, không chỉ dừng lại ở mảng đầu tư trực tiếp mà đầu tư gián tiếp cũng có những tín hiệu đáng khả quan. FII tăng tới 70% trong năm 2013 so với năm 2012, đóng góp lớn cho nền kinh tế Việt Nam, tác động không nhỏ đến việc làm tăng tính thanh khoản và kích thích các nhà đầu tư trong nước. Không những vậy, nguồn vốn FII luôn mang một ý nghĩa rất quan trọng, trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, để có thể hoàn thiện được kết cấu hạ tầng kinh tế và kết cấu hạ tầng xã hội thì cần phải thu hút một lượng vốn rất lớn trong giai đoạn tiếp theo. Con số nêu trên đã cho thấy được những thành công trong nỗ lực thu hút nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài, và cụ thể là thành quả trong thu hút đầu tư trên thị trường tài chính và đặc biệt là thông qua kênh thị trường chứng khoán. Thị trường chứng khoán luôn là tâm điểm của các nhà đầu tư khi tham gia đầu tư gián tiếp vào Việt Nam bởi vì thị trường chứng khoán tạo ra các công cụ có tính thanh khoản cao, có thể tích tụ, tập trung và phân phối vốn phù hợp, đồng thời các nhà đầu tư nước ngoài cũng có thể dễ dàng chuyển đổi xu hướng đầu tư trong thời gian khá ngắn. Không chỉ đem lại lợi ích cho chính bản thân các nhà đầu tư nước ngoài mà dòng vốn ngoại vào chứng khoán luôn có tác động mạnh mẽ đến thị trường và dòng tiền của nhà đầu tư trong nước. Trong năm 2013 vừa qua, mặc dù thị trường chứng khoán có phần ảm đạm nhưng sang đến năm 2014, chỉ riêng tháng 1 đã có 70 triệu USD từ quỹ nước ngoài tham gia đầu tư. Chủ trương của Nhà nước vẫn luôn cố gắng thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào thị trường để làm động lực thúc đẩy thị trường chứng khoán phát triển, tạo ra sự hấp dẫn đối với chứng khoán. Tuy nhiên, thị trường chứng khoán Việt Nam hoạt động với một thời gian chưa lâu (ra đời vào năm 2000), vẫn còn khó khăn trong việc điều hành, quản lý các dòng vốn đầu tư, sự hiện diện của các nhà đầu tư ngoại cũng đem lại không ít rủi ro cho thị trường chứng khoán nói riêng và cho toàn bộ nền kinh tế của Việt Nam nói chung. Đơn cử như việc các nhà đầu tư nước ngoài có thể thao túng thị trường, sáp nhập, thôn tính doanh nghiệp, sự chuyển hướng đầu tư đột ngột cũng sẽ gây ra tác động không nhỏ. Một minh chứng cụ thể trên thế giới cho thấy tác động của nhà đầu tư ngoại trên thị trường này chính là sự kiện khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997 đã gây ra thiệt hại cho một số nước có nền kinh tế mạnh như Thái Lan, Hàn Quốc…Hay như ở Việt Nam, cũng đã có những rủi ro mà hậu quả là đáng tiếc như cuộc tháo chạy đồng loạt của nhà đầu tư ngoại năm 2008. Lấy kinh nghiệm từ đó, sẽ thật cần thiết khi cần đánh giá lại những biện pháp mà Việt Nam đã áp dụng đồng thời có những hướng đi mới để giảm thiểu những rủi ro này nhưng vẫn đem lại hiệu quả trong nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài. Cùng với quá trình học tập tại trường Đại học Kinh tế quốc dân và được sự hướng dẫn chỉ bảo tận tình của thầy cô giáo, em cũng đã tiếp thu các kiến thức cơ bản về hoạt động đầu tư gián tiếp. Và khi nghiên cứu tại phòng thị trường tài chính thuộc Vụ Tài chính Ngân hàng, em nhận thấy việc thu hút đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều bất cập và gặp nhiều rủi ro. Vì vậy, việc nghiên cứu và đưa ra những giải pháp nhằm hạn chế rủi ro là rất quan trọng. Chính vì những lý do đó, em quyết định chọn đề tài: Giải pháp hạn chế rủi ro trong thu hút đầu tư gián tiếp nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việt Nam làm đề tài nghiên cứu chuyên đề của mình. 2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Nghiên cứu các lý luận về rủi ro trong thu hút đầu tư gián tiếp nước ngoài vào thị trường chứng khoán. Đánh giá thực trạng và hiệu quả giảm thiểu rủi ro trong việc thu hút đầu tư gián tiếp nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việt Nam. Phân tích một số bài học kinh nghiệm từ những rủi ro trên để đúc kết ra những bài học quý báu để học tập và tránh lặp lại những giải pháp thiếu hiệu quả. Trên cơ sở các lý luận và đánh giá về thực trạng thu hút đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam, chuyên đề thực tập sẽ đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm hạn chế được các rủi ro trong hoạt động thu hút đầu tư gián tiếp nước ngoài. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Các rủi ro trong thu hút đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu: Rủi ro trong thu hút đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 5 năm gần đây ( từ năm 2008 đến năm 2013). 4. Phương pháp nghiên cứu Trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đề tài áp dụng các phương pháp tổng hợp, phân tích, diễn giải, quy nạp qua những tài liệu của các tổ chức, bộ ngành của Việt Nam, các công trình nghiên cứu, các bài báo và các tạp chí kinh tế, tài chính của Việt Nam để làm sáng tỏ các vấn đề nghiên cứu trong phạm vi đề tài. Em cũng xin nghiên cứu nhừng bài học kinh nghiệm từ việc quản lý nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán của các nước trên thế giới và đặc biệt là các nước láng giềng Châu Á để rút ra những bài học quý giá và thiết thực với thực tế. 5. Kết cấu bài nghiên cứu Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, chuyên đề thực tập được nêu vấn đề nghiên cứu của mình thông qua 3 chương chính: Chương 1: Tổng quan về rủi ro trong thu hút đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán Chương 2: Thực trạng rủi ro trong thu hút đầu tư gián tiếp nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việt Nam Chương 3: Giải pháp hạn chế rủi ro trong thu hút đầu tư gián tiếp nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việt Nam
Xem thêm

80 Đọc thêm

ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRONG LĨNH VỰC CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM

ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRONG LĨNH VỰC CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM

Mục tiêu tổng quát của đề tài là dựa trên cơ sở lý luận để nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn về vấn đề địa vị pháp lý của NĐTNN trong lĩnh vực chứng khoán tại Việt Nam và một số nước trên thế giới. Từ đó, phân tích những kinh nghiệm quốc tế để vận dụng vào thị trường chứng khoán Việt Nam, đưa ra những đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật của Việt Nam về địa vị pháp lý NĐTNN trong lĩnh vực chứng khoán. Nhiệm vụ của luận văn: Xác định nội dung và làm rõ một số vấn đề lý luận về khái niệm, đặc điểm có liên quan tới địa vị pháp lý của NĐTNN trong lĩnh vực chứng khoán. Phân tích, làm rõ các hạn chế, bất cập, đánh giá thực trạng xác định luật áp dụng về địa vị pháp lý của NĐTNN trong lĩnh vực chứng khoán tại Việt Nam và một số nước trên thế giới cụ thể là Brazil, Thái Lan, Hàn Quốc. Từ những vướng mắc, bất cập giữa lý luận và thực trạng đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật xác định luật áp dụng về địa vị pháp lý của NĐTNN trong lĩnh vực chứng khoán ở Việt Nam trong thời gian tới. Đối tượng nghiên cứu Cơ sở lý luận, các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam liên quan đến địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán, thực tiễn tham gia của nhà đầu tư nước ngoài. Những nội dung chính về địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán của một số nước trên thế giới. Phạm vi nghiên cứu Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu chuyên sâu về quy định của pháp luật Việt Nam đối với nhà đầu tư nước ngoài khi hoạt động trên thị trường chứng khoán Việt Nam và phân tích một số thị trường chứng khoán nước ngoài, giới hạn trong ba nước điển hình là Brazil, Thái Lan, Hàn Quốc, tiếp cận trên phương diện pháp lý.
Xem thêm

Đọc thêm

Hoàn thiện quản trị bán hàng tại Công ty Cổ phần Thương mại XNK Viễn Thông A Chi nhánh Vĩnh Phúc

HOÀN THIỆN QUẢN TRỊ BÁN HÀNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI XNK VIỄN THÔNG A CHI NHÁNH VĨNH PHÚC

Trong bối cảnh của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, với cơ chế thị trường đang trong quá trình đổi mới và mở rộng, các doanh nghiệp thương mại quốc doanh nói chung đang đứng trước những thách thức hết sức gay go. Thay vì một thị trường không có sự cạnh tranh, việc sản xuất kinh doanh theo kế hoạch của Nhà nước và nếu thất bại thì đã có Nhà nước bù lỗ. Thì nay các doanh nghiệp phải hoạt động trong một môi trường kinh doanh với sự cạnh tranh quyết liệt, cùng với nó là những tiến bộ về mặt công nghệ, cái chính sách mở cửa kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài đã làm cho hoạt động trên thị trường càng trở nên sôi động. Trước tình hình đó, một vấn đề bức xúc đặt ra là làm thế nào để hoạt động kinh doanh có lãi đối với mỗi doanh nghiệp. Thực tế cho thấy là trong môi trường cạnh tranh khốc liệt hiện nay là để phát triển một chiến lược kinh doanh thành công là một hoạt động hết sức khó khăn việc đạt được lợi thế về cạnh tranh cũng như lợi nhuận qua hoạt động kinh doanh ngày càng trở nên khó khăn. Các chiến lược kinh doanh sẽ không có hiệu quả và dẫn đến bị đối thủ cạnh tranh vượt qua nếu như không có những biện pháp cải tiến mới, hữu hiệu. Do vậy đã đến lúc các doanh nghiệp phải tập trung chú trọng vào công tác quản trị nói chung và quản trị bán hàng nói riêng để từ đó có một cách nhìn tổng thể và đưa ra những chiến lược phù hợp với xu thế vận động của thị trường. Qua quá trình thực tập tốt nghiệp và tìm hiểu hoạt động kinh doanh ở Công ty Cổ phần thương mại XNK Viễn thông A Chi nhánh Vĩnh Phúc trong thời gian vừa qua, em nhận thấy Chi nhánh đã có những hoạt động năng động vượt qua những khó khăn trong quá trình đổi mới, nhằm chuyển toàn bộ hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước. Tuy nhiên cũng như nhiều Công ty khác, hoạt động kinh doanh của Chi nhánh vẫn còn nhiều hạn chế, gây ảnh hưởng đến quá trình kinh doanh của Công ty. Vì vậy trên cơ sở định hướng hoạt động kinh doanh của Công ty và yêu cầu cấp thiết của hoạt động bán hàng em xin mạnh dạn chọn đề tài: “Hoàn thiện quản trị bán hàng tại Công ty Cổ phần Thương mại XNK Viễn Thông A Chi nhánh Vĩnh Phúc” Kết cấu của chuyên đề gồm 3 chương: Chương 1: Giới thiệu khái quát về Công ty Cổ phần Thương mại XNK Viễn Thông A Chi nhánh Vĩnh Phúc Chương 2: Thực trạng tình hình quản trị bán hàng tại Công ty Cổ phần Thương mại XNK Viễn Thông A Chi nhánh Vĩnh Phúc Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện quản trị bán hàng tại Công ty Cổ phần Thương mại XNK Viễn Thông A Chi nhánh Vĩnh Phúc Do thời gian nghiên cứu có hạn, trong chuyên đề thực tập này em chỉ đi sâu vào nghiên cứu về tình hình quản trị bán hàng của Chi nhánh Viễn thông A Vĩnh Phúc. Mặc dù đã rất cố gắng nhưng với lượng kiến thức còn it ỏi, các điều kiện nghiên cứu còn hạn chế nên chuyên đề thực tập này sẽ không tránh khỏi thiếu sót. Em rất mong được sự góp ý của thầy và các bạn để chuyên đề của em hoàn thành tốt hơn. Em xin chân thành cảm ơn
Xem thêm

59 Đọc thêm

Thực trạng và giải pháp nhằm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Việt Nam

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT Ở VIỆT NAM

Ở Việt Nam trong những năm gần đây, cơ sở hạ tầng đã được đề cao và được từng bước hoàn thiện bằng cách tăng mức đầu tư. Tuy nhiên cơ sở vật chất kỹ thuật của kết cấu hạ tầng vẫn vừa lạc hậu vừa thiếu nhiều mặt, lại xuống cấp nghiêm trọng đang là trở ngại lớn cho sự phát triển của nền kinh tế nước ta. Nhận thức được vấn đề này nên trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm tới, Chính phủ đã đề ra nhiều chương trình kỳ vọng cho hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật nhằm mục tiêu rút ngắn khoảng cách với các nước đang phát triển khác. Do đó trong thời gian tới chúng ta cần đầu tư mạnh vào cơ sở hạ tầng. Do hiện trạng hệ thống cơ cở hạ tầng ở nước ta còn nghèo nàn nên theo ước tính thì nhu cầu vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng rất lớn. Bên cạnh sự ưu tiên đầu tư bằng nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, từ các nguồn viện trợ của các tổ chức hay sự kết hợp giữa nguồn vốn ngân sách và nguồn vốn của tư nhân thì Chính phủ cũng chủ trương đặc biệt kêu gọi các nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư vào xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng ở Việt Nam. Đây là một lĩnh vực mà các nhà đầu tư nước ngoài ít đầu tư , để tìm hiểu rõ hơn thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật cũng như đề ra những giải pháp thu hút trong thời gian tới nên em chọn đề tài: Thực trạng và giải pháp nhằm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Việt Nam. Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu duy vật lịch sử, duy vật biện chứng, phương pháp phân tích tổng hợp cùng dựa trên các quan điểm và mục tiêu của Đảng kết hợp với những số liệu cụ thể để phân tích. Đề tài này gồm các nội dung chính sau: Lời mở đầu Chương I: Cơ sở lý luận chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và cơ sở hạ tầng kỹ thuật Chương II: Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Việt Nam Chương III: Những giải pháp nhằm thu hút FDI vào cở sở hạ tầng kỹ thuật Kết luận Tài liệu tham khảo Em xin gửi lời cám ơn chân thành và sâu sắc nhất tới cô Phạm Thị Thêu, cùng tất cả các cô chú trong Vụ Đầu tư nước ngoài Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã giúp đỡ em hoàn thành đề tài này. Do thời gian và khả năng hạn chế nên trong đề tài này không thể tránh được những thiếu sót. Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn để đề tài này được hoàn thiện hơn.
Xem thêm

86 Đọc thêm

TRIỂN KHAI CRM PHÂN TÍCH CÁC NGUYÊN NHÂN GÂY RA THẤT BẠI CỬA DỰ ÁN TRIỂN KHAI HTTT TỪ THẤT BẠI RÚT RA CÁC BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO MÌNH NẾU LÀ NHÀ QUẢN TRỊ VỪA VÀ NHỎ

TRIỂN KHAI CRM PHÂN TÍCH CÁC NGUYÊN NHÂN GÂY RA THẤT BẠI CỬA DỰ ÁN TRIỂN KHAI HTTT TỪ THẤT BẠI RÚT RA CÁC BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO MÌNH NẾU LÀ NHÀ QUẢN TRỊ VỪA VÀ NHỎ

Bảng này liệt kê các năm, tổ chức tiến hành nghiên cứu, và báo cáo tỷ lệ thấtbại. Như mô tả dưới đây, sự khác biệt đo lường so sánh tỷ lệ thay đổi qua các năm khókhăn lúc tốt nhất. Mặc dù không phải là một danh sách đầy đủ của nghiên cứu, bộ sưu tậpnày cung cấp một chỉ số hữu ích của sự thất bại CRM trong thời gian 2001-2009.Dưới đây là ví dụ điển hình cho sự thất bại khi triển khai CRM trong DN “EDS phảitrả $ 460 triệu trong thất bại CRM”Hệ thống tích hợp, EDS, bây giờ thuộc sở hữu của Hewlett-Packard, đồng ý trảcho Vương quốc Anh dựa trên đài truyền hình British Sky Broadcasting (BSkyB), tổngcủa £ 318 triệu ($ 460.300.000) để giải quyết vụ kiện của nó trong một dự án CRMkhông thành công.Năm 2000, BSkyB, đài truyền hình vệ tinh lớn nhất của Anh, được gọi là thầuthiết kế, xây dựng, quản lý, thực hiện và tích hợp các quá trình và công nghệ cho một hệthống CRM mới cho trung tâm liên lạc Scotland Sky. EDS đã trúng thầu trong khi đốimặt với sự cạnh tranh quan tâm từ PwC, nhưng sau đó không cung cấp các dự án.Dự án CRM dự định sẽ triển khai trong Tháng Bảy năm 2001 và được hoàn thànhvào tháng 3 năm 2002 tại một ngân sách cơ bản của £ 47.600.000, Sky cho rằng các chứcnăng cho hệ thống CRM chỉ được hoàn thành tháng 3 năm 2006 với chi phí khoảng 265triệu bảng Anh.Sky tuyên bố 709 triệu bảng trong các thiệt hại từ EDS, phần lớn là mang lại lợiích cho các doanh nghiệp bị mất. Có hai loại chính của lợi ích kinh doanh bị mất đã đượctính toán: khuấy giảm và giảm khối lượng cuộc gọi. Nếu hệ thống CRM được thực hiệntrên thời gian bằng cách EDS, Sky đề nghị họ sẽ phải cắt giảm kinh nghiệm trong cả haikhách hàng rời mạng và gọi khối lượng, do một phần để nâng cao dịch vụ khách hàngcủa các đại lý Trung tâm cuộc gọi và khách hàng tự phục vụ.Sky cũng bị cáo buộc rằng EDS đã trình bày sai hơn nữa trong quá trình hợp đồng,tức là nó có nguồn lực để hoàn thành dự án một chương trình sửa đổi và ngân sách đàmphán với Sky vào năm 2001.Sky cũng cho rằng EDS vi phạm hợp đồng bằng cách không cung cấp cho nhânviên đầy đủ kinh nghiệm, không cung cấp các dịch vụ và tài liệu theo yêu cầu của hợpđồng và không thực hiện kỹ năng hợp lý và chăm sóc, hoặc phù hợp với thực hành ngành
Xem thêm

27 Đọc thêm

Đề tài Quản trị học: Môi Trường Quản Trị Hiệu Sách Ông Nam Trường Đại học Thương Mại

ĐỀ TÀI QUẢN TRỊ HỌC: MÔI TRƯỜNG QUẢN TRỊ HIỆU SÁCH ÔNG NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

LỜI MỞ ĐẦU Chúng ta đang sống trong một thế giới mà sự thay đổi đang diễn ra một cách nhanh chóng trên mọi phương diện: Quản trị đã làm thay đổi cách thức nhiều tổ chức tiến hành các hoạt động kinh doanh; sự phát triển của công nghệ thông tin đã làm thay đổi các khái niệm truyền thống về tổ chức và không gian làm việc; sự gia tăng của các tổ chức dịch vụ đã làm thay đổi cấu trúc của nền kinh tế. Khả năng quản trị có ảnh hưởng rất lớn đến sự thành công của một doanh nghiệp. Tuy nhiên đôi khi không thể tránh khỏi những sai sót trong quá trình quản trị tổ chức hay doanh nghiệp và từ đó có thể dẫn tới những thất bại và hậu quả đáng tiếc. Vì vậy nhà quản trị cần phải xem xét những nguyên nhân và có phương pháp quản trị đúng dắn để có thể thành công trong việc quản trị của mình. Vai trò của quản trị là vô cùng quan trọng trong đó có môi trường quản trị và quản trị sự thay đổi. Xuất phát từ thực tế trên, nhóm 5 đã lựa chọn đề tài thảo luận dựa trên việc tìm nguyên nhân và giải quyết một tình huống cụ thể như sau: “Hiệu sách của ông Nam là một hiệu sách duy nhất ở xã A một thị xã đang trong giai đoạn phát triển. Việc bán sách đó mang lại cho ông lợi nhuận, tuy không nhiều lắm nhưng ổn định. Cách đây một vài tháng một công ty phát hành sách có tiếng trong nước đã khai trương một hiệu sách đối diện với hiệu sách của ông Nam. Thoạt đầu, ông Nam không lo lắng gì mấy vì ông cảm thấy có thể tiếp tục cạnh tranh. Nhưng rồi hiệu sách mới bắt đầu bán nhiều tựa sách với giá giảm và còn khuyến mãi cho khách quen. Mặc dù đã cố gắng hết sức nhưng trong một thời gian ngắn hiệu sách của ông chỉ còn đạt được nửa doanh thu so với trước. Do gần 6 tháng do doanh thu tương đối thấp, nên ông Nam đó phải quyết định đóng cửa hiệu sách của mình’’. Đề tài nhằm làm rõ tác động của môi trường quản trị tới sự phát triể của doanh nghiệp, chỉ rõ nguyên nhân thất bại của hiệu sách và đưa ra giải pháp.
Xem thêm

17 Đọc thêm

Tóm tắt ỨNG DỤNG QUẢN TRỊ NGUỒN LỰC DOANH NGHIỆP (ENTERPRISE RESOURCE PLANNING – ERP) CỦA CÁC DOANH NGHIỆP BÁN LẺ TRÊN THẾ GIỚI: BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ GIẢI PHÁP CHO DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

Tóm tắt ỨNG DỤNG QUẢN TRỊ NGUỒN LỰC DOANH NGHIỆP (ENTERPRISE RESOURCE PLANNING – ERP) CỦA CÁC DOANH NGHIỆP BÁN LẺ TRÊN THẾ GIỚI: BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ GIẢI PHÁP CHO DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

Việt Nam đã mở cửa hoàn toàn thị trường bán lẻ kể từ 1112015 khiến thịtrường bán lẻ trở nên sôi động hơn bao giờ hết. Các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoàivới lợi thế về nguồn vốn, công nghệ, và phương pháp quản trị hiện đại tạo ra tháchthức lớn đối với doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam. Bên cạnh đó, thị trường bán lẻ cũngđang có xu hướng phát triển các kênh bán lẻ hiện đại, bán lẻ trực tuyến, bán lẻ đakênh tích hợp, cửa hàng tiện ích... tạo nên diện mạo mới của thị trường bán lẻ và giatăng áp lực lên các kênh bán lẻ truyền thống. Nhiều nhà bán lẻ nước ngoài, đặc biệttrong lĩnh vực bán lẻ hiện đại, điển hình như Aeon (Nhật Bản), Lotte (Hàn Quốc),Central Group (Thái Lan) đã và đang mở rộng hoạt động trên thị trường Việt Namthông qua các thương vụ mua bán sáp nhập. Nếu không có những sự thay đổi rõrệt trong việc nâng cao hiệu quả quản lý các nguồn lực, nhiều doanh nghiệp bán lẻViệt Nam sẽ sớm bị thất bại ngay trên chính thị trường nội địa.Để vượt qua những thách thức này doanh nghiệp bán lẻ cần tăng cường ápdụng những công cụ quản lý hiện đại giúp nâng cao hiệu quả quản lý các nguồn lực.Trong đó, quản trị nguồn lực doanh nghiệp ERP là giải pháp công nghệ thông tinvà quản trị cho các doanh nghiệp trong tối ưu hóa hiệu quả sử dụng, khai thác cácnguồn lực của doanh nghiệp. Trên thế giới, ERP đã được các doanh nghiệp tronglĩnh vực sản xuất, kinh doanh triển khai từ những năm 1990 nhằm quản trị thông tintổng thể trong doanh nghiệp bao gồm hệ thống kế toán, hàng tồn kho, nhân lực…Mặc dù hệ thống ERP được ra đời nhằm tối ưu hóa hoạt động quản lý các nguồn lựctại các doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất, tuy nhiên, ngành bán lẻ hiện nay lạiđược coi là ngành có tốc độ tăng trưởng ứng dụng ERP lớn nhất. Tại các quốc giaphát triển như Hoa Kỳ, Anh, Đức, Nhật Bản... việc ứng dụng ERP tại các doanhnghiệp bán lẻ đã trở nên phổ biến. Các doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực bán lẻnhư Walmart, Amazon đều đã triển khai ERP và coi đây là hệ thống thông tin đóngvai trò quyết định đến thành công của việc vận hành và quản lý hoạt động bán lẻ.Tại Việt Nam, quản trị nguồn lực doanh nghiệp ERP đã được nhắc đến từnhững năm 2000, tuy nhiên, việc ứng dụng ERP tại các doanh nghiệp Việt Nam,đặc biệt là các doanh nghiệp bán lẻ còn rất hạn chế. Cụ thể, có khoảng 11% doanh 2nghiệp bán lẻ Việt Nam đã ứng dụng ERP. Chỉ có những doanh nghiệp có quy môlớn, vốn lớn, số lượng hàng bán nhiều thì mới triển khai áp dụng hệ thống ERP nhưSaigonCoop, Nguyễn Kim, Trần Anh, Thế giới di động. Những doanh nghiệp bán lẻcó vốn đầu tư nước ngoài có lợi thế triển khai ứng dụng ERP từ hỗ trợ của công tymẹ ở nước ngoài, điều này cũng gây áp lực lớn cho các doanh nghiệp bán lẻ củaViệt Nam. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường bán lẻ nộiđịa, các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam cần có những bước chuyển mình nhanhchóng để tồn tại trên chính thị trường nội địa trong bối cảnh cạnh tranh và đổi mớimô hình tăng trưởng. Để có thể trụ vững và phát triển, các doanh nghiệp bán lẻ ViệtNam một mặt cần phải nghiên cứu xu hướng tiêu dùng trong nước nhằm địnhhướng phát triển cho ngành bán lẻ, mặt khác cần tăng cường ứng dụng công nghệthông tin và thương mại điện tử, áp dụng các phương pháp quản trị hiện đại để cóthể tối ưu hóa các nguồn lực doanh nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh trên chínhthị trường nội địa. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với các chủ trương và chínhsách để thực hiện đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế mà Đại hộilần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra: “Mở rộng thị trường nội địa,phát triển mạnh thương mại trong nước”, đồng thời “Chủ động tham gia vào mạngphân phối toàn cầu, phát triển nhanh hệ thống phân phối các sản phẩm có lợi thếcạnh tranh ở cả trong và ngoài nước, xây dựng thương hiệu hàng hoá Việt Nam.”Để làm được điều đó, các doanh nghiệp bán lẻ cần có công cụ mạnh để xây dựng kếhoạch kinh doanh nhanh chóng và tức thời dựa trên các báo cáo theo thời gian thực,kiểm soát khối lượng hàng hóa lớn tại các cửa hàng và kho hàng có vị trí phân tán,quản lý và chăm sóc khách hàng trên nhiều kênh bán lẻ tích hợp.
Xem thêm

Đọc thêm

THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2006-2020

THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2006-2020

Trên các lý thuyết kinh tế và cả các kinh nghiệm của các quốc gia đi trước cho thấy: dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) không chỉ mang lại vốn mà còn có vai trò quan trọng thúc đẩy thị trường tài chính phát triển theo hướng nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng qui mô và tăng tính minh bạch; nâng cao chất lượng quản trị doanh nghiệp... Tuy nhiên, dòng vốn này cũng tiềm ẩn những rủi ro hơn so với các kênh huy động vốn nước ngoài khác. Chính vì vậy, thúc đẩy thu hút FII ổn định và tương xứng với tiềm năng, góp phần tạo động lực phát triển thị trường vốn và nền kinh tế Việt Nam đang là vấn đề được các cơ quan hoạch định chính sách, các nhà đầu tư, các doanh nghiệp quan tâm. Để có cái nhìn rõ nét hơn về quá trình thu hút vốn FII vào nền kinh tế Việt Nam nói chung, và cụ thể là vào thị trường Chừng Khoán Việt Nam nói riêng trong thời gian qua, tôi xin manh dạn thực hiện đề tài: “Thu hút vốn đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2006-2020”.
Xem thêm

59 Đọc thêm

Cùng chủ đề