BÀI CA SINH VIÊN KARAOKE

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "BÀI CA SINH VIÊN KARAOKE":

Bình Bài ca người thợ mộc

BÌNH BÀI CA NGƯỜI THỢ MỘC

Anh là thợ mộc Thanh Hoa, Làm cầu, làm quán, làm nhà... khéo thay! Lựa cột anh dựng đòn tay, Bào trơn đóng bén nó ngay một bề. Bốn cửa anh chạm bốn dê Bốn con dê đực chầu về tổ tông, Bốn cửa anh chạm bồn rồng, Trên thì rồng ấp, dưới thì rồng leo. Bốn cửa anh chạm bốn mèo, Con thì bắt chuột, con leo xà nhà. Bốn cửa anh chạm bồn gà, Đêm thì nó gáy, ngày ra ăn vườn. Bốn cửa anh chạm bốn lươn, Con thì thắt khúc, con trườn bò ra. Bốn cửa anh chạm bốn hoa, Trên là hoa sói, dưới là hoa sen. Bốn cửa anh chạm bốn đèn, Một đèn dệt cửi, một đèn quay tơ. Một đèn đọc sách ngâm thơ, Một đèn anh để đợi chờ nàng đây. Lời bình Tục ngữ có câu: "Thợ mộc xứ Thanh ở quanh Kinh kì", hoặc: "Thợ mộc xứ Thanh ở quanh Thuận Quảng". Thợ mộc dù giỏi đến đâu cũng chỉ được gọi là phó cả. Thợ mộc làm cung điện vua chúa mới được gọi là thợ cả. Xây dựng cung điện thời Lê - Thịnh, thời Nguyễn sau này, phần lớn là thợ mộc Thanh Hoá. Câu đầu của bài ca dao này có dị bản ghi là "Anh làm thợ mộc Thanh Hoa". Theo ý chúng tôi là “Anh là thợ mộc Thanh Hoa”; một chữ là biết mấy tự hào khi chàng trai xưng danh với cô gái. Không phải thợ mộc tầm thường mà là thợ mộc Thanh Hoa xây dựng cung điện đấy nhé! Hai chữ "khéo thay" cũng là lời tự khen, khoe tài của anh: "Làm cầu, làm quán, làm nhà ... khéo thay"! Có tài thực mà khoe khoang thì cũng chẳng hay ho gì! Ở đây, chàng thợ mộc Thanh Hoa khoe tài là để tỏ tình với cô gái mà anh đang yêu, nên rất dễ thương, được chúng ta đồng tình. Câu 3,4 chỉ theo đà mà nói, chứ có tài cán gì ở cái việc "bào trơn, đóng bén"... Từ câu thứ năm trở đi, bằng biện pháp liệt kê, chàng thợ mộc khoe tài chạm trổ của anh. Năm bức chạm con vật: dê, rồng, mèo, gà, lươn. Hai bức chạm cảnh: hoa và đèn. Có bức chạm tứ linh: rồng, nhưng đã được cách điệu dân gian hoá, bình dị hoá. "Trên thì rồng ấp, dưới thì rồng leo" Con lươn có gì đáng chạm? Với tài nghệ điêu luyện, bức chạm lươn vô cùng sống động, tuyệt khéo: "Bốn cửa anh chạm bốn lươn Con thì thắt khúc, con trườn bò ra". Nghệ thuật cổ phương Đông lấy cái cân xứng làm thành một tiêu trí của cái đẹp. Hội hoạ, chạm trổ, kiến trúc, thơ văn... hay miêu tả cảnh vật qua bộ tứ bình: tùng, cúc, trúc, mai; xuân, hạ, thu, đông; ngư tiều, canh, mục...nghệ sĩ lấy cái đối xứng, cái hài hoà làm trọng. Trong bài ca dao này, các tiểu đối đã làm rõ vẻ đẹp bức chạm đầy mĩ thuật của chàng thợ mộc: - Trên thì rồng ấp // dưới thì rồng leo. - Con thì bắt chuột // con leo xà nhà. - Đêm thì nó gáy // ngày ra ăn vườn. - Con thì thắt khúc // con trườn bò ra. - Trên là hoa sói // dưới là hoa sen. - v.v ... Cái hồn của bức chạm 5 con vật được thể hiện ở trạng thái động: " Chầu về tổ tông", "rồng ấp rồng leo", "bắt chuột... leo xà nhà", "gáy ra ăn vườn", "thắt khúc... trườn bò ra". Tất cả các bức chạm đều cho thấy anh thợ mộc là con một người rất tài hoa. Anh còn là một chàng trai đa tình. Làm nghề thợ mộc dù giỏi đến mấy cũng thuộc vị thế tầm thường qua sự xếp đặt 4 lớp người trong xã hội phong kiến. Bức chạm hoa - hoa sói , hoa sen - là một ngầm ý: khoe tâm hồn thanh cao. Chàng trai đang tỏ tình không phải là loại người vai u thịt bắp đâu nhé! Bức chạm đèn mới thật kì diệu. Hai ngọn đèn cho người khéo tay hay lam hay làm - chính là cô gái - để dệt vải, để quay tơ. Đèn thứ ba, để cho ai, "đọc sách ngâm thơ"? Một con người nho nhã đang tỏ tình với nàng. Ngọn đèn thứ tư là ngọn đèn hạnh phúc: "Một đèn anh để đợi chờ nàng đây". Có thể nói bức chạm đèn rất đẹp, đẹp về mặt mĩ thuật, đẹp ở tâm tình chàng thợ "mộc", đó là một con người luôn luôn hướng về một cuộc sống lao động, êm đềm hạnh phúc của lứa đôi trong mỗi gia đình Việt Nam. Cấu trúc bài ca dao cân xứng, hài hoà. Giọng điệu hồn nhiên tự tin và chân thành. Chàng thợ mộc Thanh Hoa là một chàng trai tài hoa và đa tình: Anh là một con người dễ mến dễ thương.
Xem thêm

2 Đọc thêm

100 BÀI CA SINH HOẠT

100 BÀI CA SINH HOẠT

Chào Mừng Chào mừng anh, chào mừng chị đã đến nơi đây. Xin chào mừng bằng nụ cười rất tươi hi hi hi. Xin chào mừng bằng một câu hát hay la la la. Và xin chào mừng chào mừng chào mừng bằng một tràn pháo tay. Hoan Hô Chào Mừng Vỗ tay hoan hô chào mừng. Vỗ tay hoan hô chào mừng. Chào mừng chào mừng hoan hô. Chào mừng chào mừng hoan hô. Là la la lá la la là. Lá la la lá la là lá la. Hân Hoan Đón Chào Hân hoan đón chào bằng con tim yêu mến. Hân hoan chúc mừng bằng câu ca tiếng hát. Hân hoan kính dâng lời ca vang thiết tha. Hân hoan kính xin ngàn muôn ơn phúc lành. Hân Hoan Chào Đón Chúng con hân hoan chao đón Đức Cha Ngài là hiện thân của Chúa Giêsu. ( Quí Cha cùng ) ( Quí Sơ cùng ) Đến với đoàn con trong phút giây này. Bên nhau sum vầy tạ ơn Thiên Chúa. Bên nhau phút này chúng con dâng lời tri ân. Mừng Ngày Gặp Nhau Mừng ngày gặp nhau chúng ta cùng nắm tay nhau. Nắm nắm tay nhau kết tình thân ái từ đây. Từ đây chúng mình đắp xây, đắp xây con đường yêu nước. Anh em chúng mình đi trước, mừng ngày gặp nhau. Mừng An
Xem thêm

48 Đọc thêm

Bài ca (thơ) hóa trị nguyên tử khối

BÀI CA (THƠ) HÓA TRỊ NGUYÊN TỬ KHỐI

Kali (K), Iot (I), Hidrô (H)Natri (Na) với Bạc (Ag), Clo (Cl) một loàiLà hoá trị I hỡi aiNhớ ghi cho kỹ khỏi hoài phân vânMagiê (Mg), Kẽm (Zn) với Thuỷ Ngân(Hg)Oxi (O), Đồng (Cu), Thiếc(Sn) thêm phầnBari (Ba) Cuối cùng thêmchú Canxi (Ca)Hoá trị II nhớ có gì khó khănBác Nhôm (Al) hoá trị III lầnIn sâu trí nhớ khi cần có ngayCacbon (C), Silic (Si) này đâyCó hoá trị IV không ngày nào quênSắt (Fe) kia lắm lúc hay phiềnII, III lên xuống nhớ liền ngay thôiNitơ (N) rắc rối nhất đờiI, II, III, IV khi thời lên VLưu huỳnh (S) lắm lúc chơi khămXuống II lên VI khi nằm thứ IVPhot pho (P) nói đến không dưCó ai hỏi đến thì ừ rằng VEm ơi, cố gắng học chămBài ca hoá trị suốt năm cần dùng Hiđro (H) cùng với liti (Li)Natri (Na) cùng với kali (K) chẳng rờiNgoài ra còn bạc (Ag) sáng ngờiChỉ mang hóa trị I thôi chớ nhầm.Riêng đồng (Cu) cùng với thủy ngân (Hg)Thường II, ít I chớ phân vân gìĐổi thay II, IV là chì (Pb)Điển hình hóa trị của chì là IIBao giờ cũng hóa trị IILà oxi (O), kẽm (Zn) chẳng sai chút gìNgoài ra còn có canxi (Ca)Magie (Mg) cùng với bari (Ba) một nhàBo (B), nhôm (Al) thì hóa trị IIICacbon (C), silic (Si) thiếc (Sn) là IV thôiThế nhưng phải nói thêm lờiHóa trị II vẫn là nơi đi về !Sắt (Fe) II toan tính bộn bềKhông bền nên dễ biến liền sắt IIIPhotpho (P) III ít gặp màPhotpho V chính người ta gặp nhiềuNitơ (N) hóa trị bao nhiêuI, II, III, IV phần nhiều tới VLưu huỳnh lắm lúc chơi khămKhi II, lúc IV, VI tăng tột cùngClo (Cl), iot (I) lung tungII, III, V, VII thường thì I thôiMangan (Mn) rắc rối nhất đờiĐổi từ I đến VII thời mới yênHóa trị II dùng rất nhiềuHóa trị VII cũng được yêu hay cầnBài ca hóa trị thuộc lòngViết thông công thức, đề phòng lãng quênHọc hành cố gắng cần chuyênSiêng ôn, năng luyện tất nhiên nhớ nhiều. Bài2: Tham khảo thêm chứ không thể dễ nhớ bằng bài 1 Hiđro (H) cùng với liti (Li) Natri (Na) cùng với kali (K) chẳng rờiNgoài ra còn bạc (Ag) sáng ngờiChỉ mang hóa trị I thôi chớ nhầm.Riêng đồng (Cu) cùng với thủy ngân (Hg)Thường II, ít I chớ phân vân gìĐổi thay II, IV là chì (Pb)Điển hình hóa trị của chì là IIBao giờ cũng hóa trị IILà oxi (O), kẽm (Zn) chẳng sai chút gìNgoài ra còn có canxi (Ca)Magie (Mg) cùng với bari (Ba) một nhàBo (B), nhôm (Al) thì hóa trị IIICacbon (C), silic (Si) thiếc (Sn) là IV thôiThế nhưng phải nói thêm lờiHóa trị II vẫn là nơi đi về !Sắt (Fe) II toan tính bộn bềKhông bền nên dễ biến liền sắt IIIPhotpho (P) III ít gặp màPhotpho V chính người ta gặp nhiềuNitơ (N) hóa trị bao nhiêuI, II, III, IV phần nhiều tới VLưu huỳnh lắm lúc chơi khămKhi II, lúc IV, VI tăng tột cùngClo (Cl), iot (I) lung tungII, III, V, VII thường thì I thôiMangan (Mn) rắc rối nhất đờiĐổi từ I đến VII thời mới yênHóa trị II dùng rất nhiềuHóa trị VII cũng được yêu hay cầnBài ca hóa trị thuộc lòngViết thông công thức, đề phòng lãng quênHọc hành cố gắng cần chuyênSiêng ôn, năng luyện tất nhiên nhớ nhiều. xem tiếp bài ca nguyên tử khối (Tuyensinh247.com sưu tầm)
Xem thêm

2 Đọc thêm

HỒ SƠ PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY KINH DOANH PHÒNG HÁT KARAOKE

HỒ SƠ PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY KINH DOANH PHÒNG HÁT KARAOKE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc lập – Tự do – Hạnh phúcThanh Hóa, ngày 20 tháng 4 năm 20161QUYẾT ĐỊNHVề việc ban hành nội quy phòng cháy chữa cháyCHỦ CƠ SỞ KINH DOANH KARAOKE PHƯƠNG NGÂNCăn cứ Luật Phòng cháy và chữa cháy ngày 29/6/2001; Luật sửa đổi, bổsung một số điều Luật PCCC năm 2013.Căn cứ Nghị định số 79/2014/NĐ-CP ngày 31/7/2014 của Chính phủ quyđịnh chi tiết một số điều của Luật PCCC và Luật sửa đổi, bổ sung một số điềuLuật PCCC năm 2013; Thông tư số 66/2014/TT-BCA ngày 16/12/2014 quyđịnh chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 79/2014/NĐ-CP ngày31/7/2014 của Chính phủ;Căn cứ tình hình thực tế của Cơ sở kinh doanh Karaoke Phương NgânĐể đảm bảo an toàn về người và tài sản tại Cơ sở Kinh doanh KaraokePhương NgânQUYẾT ĐỊNHĐiều 1: Ban hành kèm theo Quyết định này:- Nội quy phòng cháy và chữa cháy.- Nội quy sử dụng điện.Điều 2: Nội quy có hiệu lực kể từ ngày ban hành.Điều 3: Toàn thể nhân viên làm việc tại cơ sở kinh doanh Karaoke PhươngNgân chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.CHỦ CƠ SỞNguyễn Thị Ngân
Xem thêm

37 Đọc thêm

BÁO CÁO THẢO LUẬN NHÓM ỨNG DỤNG RUP TRONG QUẢN LÝ KARAOKE

BÁO CÁO THẢO LUẬN NHÓM ỨNG DỤNG RUP TRONG QUẢN LÝ KARAOKE

1.1.1.2 Xác định vị trí.Cơ hội:Để giải quyết các vấn đề một cách nhanh gọn không mất thời gian vànhu cầu phát sinh của các khách hàng thì một quán karaoke cần có mộtphần mềm quản lý để thực thi các vấn đề trên.Trình bày vấn đề:Ứng dụng chưa đáp ứng được quá trinh tra cứu thông tin kháchVấn đềhàng và các nhân viên.Ảnh hưởngKhách hàng, chủ quán và các nhân viên nghiệp vụTốn thời gian của khách hàng và chủ quán, không đem lại sựHậu quảuy tín của chủ quán, không thực hiện đươc nhiều nhu cầu củakhách hàng.Đem lai sự tin cậy thoải mái nhanh gọn đối với khách hàng vàGiải phápsự uy tín của quán bên cạnh còn thực hiện các công việc một
Xem thêm

25 Đọc thêm

LUẬN VĂN: KHẢO SÁT BÀI CA LÀM VÍA CỦA NGƯỜI MƯỜNG Ở HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HÓA

LUẬN VĂN: KHẢO SÁT BÀI CA LÀM VÍA CỦA NGƯỜI MƯỜNG Ở HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HÓA

MỞ ĐẦU1 1. Lí do chọn đề tài:1 2. Lịch sử vấn đề:2 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu5 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:5 5.Những đóng góp mới của luận văn8 6. Bố cục luận văn:8 NỘI DUNG9 Chương 1: NGƯỜI MƯỜNG Ở THẠCH THÀNH VÀ DIỄN XƯỚNG NGHI LỄ “ BÀI CA LÀM VÍA” CỦA NGƯỜI MƯỜNG Ở HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HÓA9 1.1. Tổng quan về tộc người Mường9 1.1.1. Quá trình hình thành dân tộc Mường9 1.1.2. Nền kinh tế- văn hóa- xã hội Mường Thạch Thành11 1.1.2.1. Kinh tế:12 1.1.2.2. Hôn nhân gia đình:13 1.1.2.3. Văn hóa14 1.2.2 Giới thiệu chung về nghi lễ làm vía của người Mường Thạch Thành19 1.2.2.1. Vai trò của ông Mo19 1.2.2.2. Diễn xướng các nghi lễ làm vía của người Mường Thạch Thành22 1.2.2.2.1. Làm vía cho trẻ nhỏ ( gọi vía lạc)22 1.2.2.2.2 Làm vía hết năm27 1.2.2.2.3 Làm vía kéo si31 Chương 2: NỘI DUNG CỦA NHỮNG BÀI CA LÀM VÍA42 2.1. Bài ca làm vía phản ánh nhận thức về thế giới của người Mường xưa42 2.1.1.Quan niệm về vía con người42 2.1.2. Quan niệm về các tầng vũ trụ45 2.1.2.1. Mường Trời:46 2.1.2.2. Thế giới bên Âm:46 2.1.2.3. Thế giới Âm Phủ:48 2.1.2.4. Thế giới Dương Gian:49 2.2. Bài ca làm vía phản ánh cuộc sống, phong tục tập quán của người dân bản Mường52 2.2.1.Bài ca làm vía phản ánh cuộc sống lao động của người dân bản Mường.52 2.2.2. Cuộc sống sinh hoạt, phong tục tập quán của người dân bản Mường57 2.2.2.1. Cuộc sống sinh hoạt57 2.2.2.2. Phong tục tập quán60 2.3. Bài ca làm vía thể hiện ước mong về sự an lành của vía, ước mong về sức khỏe và sự trường tồn.70 Tiểu kết chương 279 Chương 3: NGHỆ THUẬT CỦA NHỮNG BÀI CA LÀM VÍA80 3.1. Sự kết hợp giữa yếu tố tự sự và yếu tố trữ tình trong lối biểu hiện80 3.2. Kết cấu:83 3.3.Ngôn ngữ87 3.3.1Cách dùng từ giàu tính biểu cảm với cách diễn đạt rất riêng88 3.3.2. Hình ảnh ví von, so sánh độc đáo89 3.3.3. Ngôn từ thể hiện trí tưởng tượng phong phú của người Mường91 3.3.4. Ngôn từ thể hiện lối tư duy vừa huyền bí vừa trực cảm của người Mường93 3.4. Thể thơ95 3.5 .Biểu tượng và hình ảnh99 3.5.1.Biểu tượng cây si100 3.5.2.Hình ảnh cây mía mật:103 3.5.3.Hình ảnh con gà trống chân lớn, cổ dài:104 Tiểu kết chương 3106 PHẦN KẾT LUẬN107 TÀI LIỆU THAM KHẢO110
Xem thêm

118 Đọc thêm

BÀI 6. BÀI CA CÔN SƠN

BÀI 6. BÀI CA CÔN SƠN

TRANG 9 Cảnh trí Côn Sơn Tâm hồn nhà thơ Suối chảy rì rầm Đá rêu phơi Thông mọc như nêm Có bóng trúc râm Ta nghe như tiếng đàn cầm Ta ngồi như ngồi chiếu êm Ta lên ta nằm Ta ngâm thơ nhà[r]

22 Đọc thêm

BÀI 6. BÀI CA CÔN SƠN

BÀI 6. BÀI CA CÔN SƠN

_ _2/ HOÀN CẢNH SỎNG TỎC : Xem SGK/76 TRANG 34 TRANG 35 TRANG 36 TRANG 37 TRANG 38 TRANG 39 PHIẤN ÂM THỤN HẬU THỤN TIỀN ĐẠM TỰ YỜN BỎN VỤ BỎN HỮU TỊCH DƯƠNG BIỜN MỤC ĐỒNG ĐỊCH LỚ NGƯU QU[r]

48 Đọc thêm

Phân tích tác phẩm Bài ca ngất ngưởng

PHÂN TÍCH TÁC PHẨM BÀI CA NGẤT NGƯỞNG

   Nếu được phép hiểu con người một cách giản đơn thì nhìn vào cụ Uy Viễn tướng công ta sẽ thấy rõ hai nét: Thấm nhuần đến chân tơ kẽ tóc đạo trung hiếu Nho gia và ý thức rất rõ về tài đức của mình, cố đem hết tài đức ấy cống hiến để làm nên sự nghiệp và danh tiếng để đời. Chí hướng và nhiệt huyết ấy ít ai bì kịp. Nguyễn Công Trứ – ông quan kinh bang tế thế lại có một tâm hồn nghệ sĩ, cống hiến thì hết mình nhưng việc xong, công thành, lại tự thưởng cho mình được vui chơi – vui chơi thanh nhã: Nợ tang bồng một khi đã trắng thì vỗ tay reo và thơ túi rượu bầu, hoặc hẹn với những ông cao niên tiên ẩn sĩ nào đó ở tận chốn thâm sơn cùng cốc và thả hồn theo nào địch nào đàn…   Có thể coi Bài ca ngất ngưởng là một bài tự thuật ngắn gọn có ý nghĩa tổng kết cuộc đời và tính cách của Uy Viễn ướng công Nguyễn Công Trứ. Lời lẽ gọn mà vẫn đủ. Điệu thơ gửi vào thể ca trù nhiều tự do, ít khuôn phép, là thơ mà cũng là ca, là nhạc.   Vũ trụ nội mạc phi phận sự Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng. Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông, Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng. Lúc bình Tây cờ đại tướng, Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên. Đô môn giải tổ chi niên, Đạc ngựa bò vàng đeo nhất ngưởng. Kìa núi nợ phau phau mây trắng. Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì. Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng. Được mất dương dương người thái thượng, Khen chê phơi phới ngọn đông phong, Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng. Không Phật, không Tiên, không vướng tục. Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú. Nghĩa vua tôi cho trọn vẹn đạo sơ chung,  Trong triều ai ngất ngưởng như ông!   Không rõ tựa đề bài thơ này tự cụ đặt hay người sưu tập đưa vào, nhưng tinh thần chung vẫn là kẻ nói lên sự ngất ngưởng. Không chỉ ở đầu đề mà toàn bài còn có thêm bốn chữ nữa, một sự cố ý trùng lặp thành điệp khúc, đúng vào chỗ tóm tắt và đúc kết một ý bày lên trên hay ẩn giấu ở dưới.   Phong thái ấy của Nguyễn Công Trứ vốn có từ nhỏ nhưng nó bộc phát mạnh mẽ và không giấu giếm hhất là sau thời điểm Đô môn giải tổ chi niên ( được trả ấn từ quan, vua cho về nghỉ). Bởi dù sao trong một thái độ ngất ngưởng như thế không bao giờ được phép lọt vào mắt vào tai các vua chuyên chế của triều Nguyễn.   Cho nên mở bài vẫn phải phô ra cái nét thứ nhất ( như bên trên đã giải bày): Vũ trụ nội mạc phi phận sự, tác giả đặt mình ngang tầm vũ trụ nhưng rồi cũng khiêm tốn, kín mà hở nói tiếp ngay: Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng. Vào lồng là vào khuôn phép vua chúa nhưng vẫn là chật hẹp, tù túng trái với bộ đội trời đạp đất của ông.   Nhà thơ vừa mới tự đề cao vai trò của mình trong vũ trụ ở câu thứ nhất thì lập tức tự chê mình đã đem cái tài ba ấy nhốt vào lồng ở câu thứ hai nhưng dù sao vẫn nổi hẳn lên sự khoan khoái, tự hào khi nhắc tới đôi cái mốc của đời mình, dù mỗi sự kiện chỉ nhắc đến bằng vài chữ, như bất cần, không có gì quan trọng.   Khi thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông.   Lúc bình Tây cờ đại tướng, Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên.   Giọng thơ kể toàn chuyện lớn lao hiển hách mà nghe như nói chơi. Đỗ Thủ khoa ( đỗ đầu cử nhân khoa thi hương), làm Tham tán quân sự…chức vị ấy nói sơ qua cũng được. Nhưng làm đến Tổng đốc Hải An ( Hải Dương và Quảng Yên), một chức quan to trong tỉnh hay lĩnh chức đại tướng bình Tây ( xứ Tây Nam nước ta) mà chỉ gọi cộc lốc khi Tổng đốc Đông và bình Tây, cờ đại tướng thì thật sự Nguyễn Công Trứ không coi những chức tước ấy đều là vẻ vang lớn nhất đối với mình. Tất cả chỉ là phận sự trong vũ trụ, đến tay mình thì làm, cái cốt yếu đã làm hết lòng hết sức. Chẳng phải cụ đã từng nói: Làm tổng đốc tôi không lấy làm vinh, làm lính tôi cũng không coi là nhục đó sao?. Cho nên, câu tổng kết: Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng khẳng định, đối với công danh, dù Tổng đốc, dù đại tướng cụ coi cũng nhẹ tênh. Đó là một loại ngất ngưởng.   Tiếp theo là một hành ngất ngưởng hơi bất thường: người giàu sang thì cưỡi ngựa, còn cụ lại cưỡi bò và cho bò đeo đạc ngựa:   Người đời bảo cụ khác người, có kẻ cho là cụ đặt mình lên trên dư luận. Xét ra có thể còn xa hơn thế, cụ cho bò đeo nhạc ngựa cũng là một cách chơi ngông. Hơn nữa, hành động ấy xảy ran gay sau ngày cụ về nghỉ việc quan. Vừa nêu rõ năm tháng mình thôi đeo ấn vua ban, đô môn giải tổ chi niên ( giải tổ có nghĩa là cởi dây đeo ấn) thì lại cho ngay bò mình cưỡi đeo đạc ngựa để cho nó cùng ngất ngưởng như mình? Ai suy diễn ra điều này chắc không khỏi cho hành vi của cụ là xấc xược. Đó là hai thứ ngất ngưởng.   Ba là ngất ngưởng cả với Bụt:   Kìa núi nọ phau phau mây trắng, Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi. Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì, Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng.   Cười bò lên thăm chùa ở núi Nài mây phủ trắng phau, cụ cười mình là: Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi, kỳ thực đó là cái dạng thôi. Bởi theo hầu cụ có một đoàn gót sen “ tiên nữ” đủng đỉnh một đôi dì là các cô ả đầu. Không những chẳng từ bi chút nào mà còn bất kính là đằng khác. Tuy vậy nhưng vẫn rất tự nhiên. Và cụ khiến But không những chẳng chau mày quở trách mà còn nực cười độ lượng với ông quan thượng già.   Đến chùa, cụ đâu có lễ Phật mà bày tiệc ca hát, một tiệc hát ả đào có cả đàn kịch, trống phách hẳn hoi. Nhà chùa chắc cũng vì nể uy cụ mà làm lơ. Cụ được tất cả tục lụy mà lâng lâng bay bổng trên chín tấng mây, phơi phới luồng ấm mát của gió xuân.   Được mất dương dương người thái thượng, Khen chê phơi phới ngọn đông phong. Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng. Không Phật, không Tiên, không vướng tục.   Cá tính thượng thư bốc lên hết cỡ trong roi chầu tài hoa của cụ. Bấy giờ thì mọi sự đời, cái được, cái mất, miệng khen, miệng chê…tất cả đều coi như không có. Hồn cụ lâng lâng ở cõi mây trong lành, cao khiết, lời thơ vút lên hào hứng: Được mất/ dương dương người thái thượng: Khen chê/ phơi phới ngọn đông phong. Con người có bay bổng trên tầng cao, trong say sưa âm nhạc của điệu ca, tiếng trống. Khi ca/ khi tửu/ khi cắc, khi tùng. Dù cuộc vui bày trong của Phật có các cô tiên tham dự mà mình vẫn trong sạch, thanh cao. Không phật, không/ Tiên, không vướng tục:   Đây là đoạn thơ rõ nhất và cũng là đoạn hay nhất của bài thơ. Hai câu trước trải dài, thanh thoát cao siêu như tấm lòng không còn vướng chút bụi trần trong nhịp điệu thênh thang thì hai câu sau là nhịp ca, nhịp trống, nhịp phách, nhịp rượu chúc mừng, rồi dồn lên rối rít để chấm dứt ở một chữ mang thanh trắc, đục, mạnh, chấm dứt câu thơ cũng là nện mạnh xuống mặt trống để tự thưởng, tự hào, tự khằng định cái tài tình, cái khoáng đạt của tâm hồn mình.   Riêng mấy câu thơ ấy cũng đủ bộc lộ tâm tính của Uy Viễn tướng công, giúp ta hiểu được phần nào cái ngất ngưởng và Bài ca ngất ngưởng này của cụ.   Kết thúc bài thơ, Nguyễn Công Trứ cũng phải trở lại cái điệp khúc nhàm chán của đạo sơ chung với triều Nguyễn, mặc dù câu đó chĩ đặt giữa một câu tự đánh giá cao và một câu như muốn thách thức với cả triều đình:   Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung, Trong triều ai ngất ngưởng như ông!   Nội dung ngất ngưởng bất chấp dư luận, bất cần mọi sự đã tìm được ở thể ca trù một âm hiệu hoàn toàn thích hợp, câu ngắn, câu dài tùy ý, vẫn liền từng cặp xen lẫn đều đặn bằng trắc: niêm luật tự do, đối không bắt buộc, âm điệu quyết định ở trạng thái tâm hồn nhà thơ: bi thương , hùng tráng, cười cợt…   Giọng điệu bài thơ mang nét độc đáo của tác giả: tự hào gần như tự phụ, thậm chí đến ồn ào. Hai nét lớn trong tính cách cụ không hề che giấu, công tích lớn mà kể coi như chuyện thường tình, còn thú chơi ngông thì lại đề cao tột bậc.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Soạn văn bài ca côn sơn

SOẠN VĂN BÀI CA CÔN SƠN

Soạn văn bài ca côn sơn của Nguyễn Trãi I. Đọc – hiểu văn bản Câu 1. Côn sơn ca được làm bằng thể thơ lục bát, đặc điểm: - Số câu: không hạn chế, nhưng tối thiểu phải có hai câu, một câu 6 đứng trước và một câu 8 đứng sau. - Số chữ: một cặp lục bát (6 – 8) có 14 chữ. - Hiệp vần: vần chân và vần lưng. + Chữ thứ 6 của câu sáu hiệp với chữ thứ 6 của câu 8 (vần lưng). + Chữ thứ 8 của câu tám hiệp với chữ thứ 6 của câu 6 (vần chân). - Tất cả những hiệp vần đều thanh bằng. Câu 2.  - Nhân vật ta là ai? Chính là tác giả Nguyễn Trãi. Trong đoạn thơ có 5 từ ‘ta’ và trải đều trong mỗi cặp lục – bát ; cứ sau mỗi cảnh đẹp được giới thiệu ở câu 6   thì chữ ta lại có mặt ở vị trí câu 8 tiếp chủ thể thưởng thức cái đẹp. - Hình ảnh và tâm hồn của nhân vật ta : + Hình ảnh nhân vật ta xuất hiện mỗi lần một tâm thế khác nhau : lúc lắng nghe tiếng suối, lúc ngồi trên đá êm, lúc nằm dưới bóng thông xanh, lúc ngâm thơ giữa rừng trúc. + Qua những hình ảnh đó thể hiện tâm hồn yêu thiên nhiên tha thiết của thi nhân, nhà thơ như đang đắm mình, đang thả hồn vào trong thiên nhiên hữu tình thơ mộng. - Nhận xét về sự so sánh. Tiếng “suối rì rầm” được ví với “tiếng đàn cầm”, “đá rêu phong” được ví với “chiếu êm”. Cách ví đó thể hiện sự tinh tế, sự liên tưởng độc đáo lãng mạn tài hoa của nhà thơ. Em có thể tham khảo đoạn văn sau của Vũ Dương Quỹ: “Trí tưởng tượng và nghệ thuật so sánh của Nguyễn Trãi thật lãng mạn, tài hoa. Tạo vật thiên nhiên bỗng hóa thành những vât dụng của con người, gần gũi thân thương với con người. Đôi tai nhạy cảm của thi sĩ đã thổi hồn vào tiếng suối, khiến cho nó vốn đơn điệu trở thành cây đàn đa thanh, cuốn hút, xúc giác tinh tế của nhà thơ đã hóa thân cho mặt đá vốn khô rắn thành mặt chiều dịu êm”. Câu 3.  Cảnh tượng Côn Sơn: Có tiếng suối rì rầm, có đá rêu phơi, có thông vi vút, có trúc bóng râm. Nhận xét: Cảnh Côn Sơn đẹp tựa như tranh, rất nên thơ, hữu tình và khoáng đạt. Cảnh như bao bọc lấy của con người trong sự êm đềm thanh tĩnh của nó. Câu 4. - Hình ảnh “ta ngâm thơ nhàn”: + Qua câu thơ ta hình dung Nguyễn Trãi đang nằm giữa rừng trúc xanh mát bóng râm cất tiếng thơ ngâm để ngợi ca vẻ đẹp thiên nhiên, để cùng thiên nhiên chia sẻ tâm tình của mình = > con người và thiên nhiên gắn bó hòa hợp với nhau. Thiên nhiên là người bạn tâm giao, người bạn tri kỉ của nhà thơ. + Không chỉ ở bài thơ này, mà ở nhiều bài thơ khác của Nguyễn Trãi, chúng ta cũng bắt gặp sự gắn bó và giao hòa như thế giữa thiên nhiên và nhà thơ: “Núi láng giềng, chim bầu bạn Mây khách khứa, nguyệt anh em”. “Có nằm hạc lặn nên bầu bạn Ấp ủ cùng ta làm cái con”. - Con người nhà thơ : Qua đoạn thơ có thể hình dung Nguyễn Trãi là con người có tình yêu thiên nhiên say đắm, có phong thái ung dung, nhân cách cao nhã. Ông không màng danh lợi, xa lánh chốn bụi trần đua chen sống hòa mình với thiên nhiên. Câu 5. - Điệp từ trong đoạn thơ : Côn Sơn : điệp 2 lần ; ta : điệp 5 lần ; trong : điệp 3 lần ; có : điệp 2 lần. - Tác dụng : + Thể hiện sự phong phú đa dạng của cảnh. + Niềm say đắm của người ngắm cảnh. + Tạo nên tiết tấu nhịp nhàng của bài thơ. II. Luyện tập Đề : Cách ví von tiếng suối củ Nguyễn Trãi trong hai câu thơ ‘Côn Sơn suối chảy rì rầm, Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai’ và Hồ Chí Minh trong câu thơ ‘Tiếng suối trong như tiếng hát xa’ có gì giống và khác nhau ? - Giống nhau : + Cả hai đều thể hiện tâm hồn hòa nhập với thiên nhiên. + Cả hai đều giống nhau ở sự so sánh, liên tưởng : nhạc của thiên nhiên với nhạc của con người => Sự tinh tế tài hoa của hai thi nhân. - Khác nhau : + Nguyễn Trãi so sánh tiếng suối với tiếng đàn. + Hồ Chí Minh so sánh tiếng suối với tiếng hát.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Bài ca phong cảnh Hương Sơn

BÀI CA PHONG CẢNH HƯƠNG SƠN

BÀI CA PHONG CẢNH HƯƠNG SƠN                                      (Chu Mạnh Trinh) I. MỤC TIÊU BÀI HỌC     Cảm nhận được cảnh vật nên thơ, nên hoạ của Hương Sơn. Thấy được sự hoà quyện giữa tấm lòng thành kính trang nghiêm với tình yêu quê hương đất nước. Cách sử dụng từ tạo hình, giọng điệu bài thơ khoan thai nhẹ nhàng như ru, như mời mọc. Hiểu được các hình tượng trong bài và đặc điểm của thơ cổ thể. Tìm hiểu và phân tích tác phẩm hát nói.   1/ Kiến thức   – Một cái nhìn bao quát về phong cảnh Hương Sơn.   – Tấm lòng thành kính với cảnh đẹp quê hương đất nước.   – Cách sử dụng từ, giọng điệu bài hát nói khoan thai nhẹ nhàng.   – Thấy được tình yêu với vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước và tâm hồn phóng khoáng, hướng Phật của nhà thơ.   2/ Kĩ năng Nắm được bố cục của bài hát nói. Đọc hiểu bài thơ thể hát nói.   3/ Thái độ Tình yêu thiên nhiên đất nước. II. TÁC GIẢ – TÁC PHẨM 1/ Tác giả – Chu Mạnh Trinh (1862-1905). Hiệu là Trúc Vân. – Quê: Hưng Yên. – Học giỏi, đỗ Tiến sĩ 1892. Là người tài hoa, thạo đủ cầm, kì, thi, họa, nổi tiếng về thư pháp và kiến trúc. 2/ Bài thơ – Hoàn cảnh ra đời: Bài thơ có thể được sáng tác khi tác giả tham gia trùng tu chùa Thiên Trù trong quần thể Hương Sơn. – Thể loại: HÁT NÓI.   3/ Bố cục: Bài thơ có thể chia làm ba phần: – 4 câu đầu: giới thiệu bao quát cảnh Hương Sơn. – 2012 câu tiếp: Cảnh đẹp Hương Sơn – 3 câu cuối: Suy niệm của nhà thơ trước cảnh Hương Sơn. III. ĐỌC- HIỂU VĂN BẢN      1/ Giới thiệu Hương Sơn: Hương Sơn (còn gọi là chùa Hương): Là quần thể danh thắng, di tích bao gồm nhiều suối, chùa, hang động lớn nhỏ khác nhau thuộc huyện Mĩ Đức, tỉnh Hà Tây. Bầu trời cảnh bụt -> Câu thơ ngắn đặc biệt như lời giới thiệu gợi mở một miền non nước, một không gian rộng lớn với những cảnh sắc thấm đẫm thiền vị, gợi không khí tâm linh. – ao ước bấy lâu nay: nhấn mạnh khao khát, ước mơ cháy bỏng.    Kìa non non nước nước mây mây    Đệ nhất động hỏi rằng đây có phải ? -> câu hỏi tu từ, thán từ, điệp trùng =>Sự bỡ ngỡ kì thú của nhà thơ. Những điệp từ nối nhau vẽ nên sự trùng điệp, mênh mông của cảnh vật, bộc lộ sự háo hức, rạo rực bên trong lòng người.     Cách giới thiệu rất khéo, tự nhiên, thuyết phục về Hương Sơn trùng điệp, kì thú, thanh tao.     2/ Tả cảnh Hương Sơn      * Cái thần Hương Sơn: – Chim cúng trái, cá say kinh, tiếng chày kình -> Hình ảnh độc đáo, thần tình nhuốm màu Phật giáo. – Khách tang hải  giật mình trong giấc mộng -> Ngỡ ngàng    * Vẻ đẹp của thắng cảnh Hương Sơn   Này suối Giải Oan, này chùa Cửa Võng  Này hang Phật Tích, này động Tuyết Quynh -> Liệt kê, điệp từ. Ấn tượng về một quần thể vừa thiên tạo (động, hang, suối), vừa nhân tạo (chùa, am).  Nhác trông lên ai khéo họa hình,  Đá ngũ sắc long lanh như gấm dệt -> So sánh, trông thoáng qua. Cảnh đẹp ở tư thế nhiều tầng, hùng vĩ, gần gũi với con người.    3/  Suy niệm của nhà thơ:   Chừng giang sơn còn đợi ai đây   Hay tạo hóa khéo ra tay xếp đặt ? -> Câu hỏi tu từ   Càng trông phong cảnh càng yêu -> Nghệ thuật tăng tiến -> Sự rung cảm thiết tha trước vẻ đẹp của Hương Sơn.   Say mê, tự hào. Phải có trách nhiệm đối với danh thắng. Từ tình yêu thiên nhiên, cảm hứng tôn giáo đến tình yêu đất nước tha thiết, đậm sâu. III.TỔNG KẾT     1/ Nghệ thuật          Từ ngữ, hình ảnh gợi tả. Hài hòa chất họa, chất nhạc.Nhịp thơ nhẹ nhàng, khoan nhặt.    2/ Nội dung Miêu tả cảnh đẹp thanh cao thoát tục của Hương Sơn. Đồng thời bộc lộ tình yêu quê hương đất nước.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Soạn bài : BÀI CA CÔN SƠN

SOẠN BÀI : BÀI CA CÔN SƠN

Hướng dẫn soạn văn, soạn bài, học tốt bài BÀI CA CÔN SƠN (Côn Sơn ca)  Nguyễn Trãi I. VỀ  TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM 1. Tác giả Nguyễn Trãi (1380 - 1442), người thôn Chi Ngại, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương sau dời đến làng Nhị Khê, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây. Ông là một nhân vật lịch sử lỗi lạc, toàn tài hiếm có nhưng cũng là người phải chịu cái án oan vào loại thảm khốc nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Nguyễn Trãi là người Việt Nam đầu tiên được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên Hợp Quốc (UNESCO) công nhận là danh nhân văn hoá thế giới (năm 1980). 2. Tác phẩm Bài Côn sơn ca có thể được viết trong khoảng thời gian Nguyễn Trãi cáo quan về ở ẩn tại Côn Sơn (nay thuộc huyện Chí Linh - Hải Dương). Đoạn thơ trong SGK này được trích từ bài thơ Côn Sơn ca rút trong tập Thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi. II. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Nhận dạng thể thơ của bài thơ dịch về soa câu, số chữ, cách hiệp vần theo những kiến thức đã biết về thể thơ lục bát. 2. Đoạn thơ có năm từ ta. a) Nhân vật ta ở đây chính là nhà thơ. b) Nhân vật ta là một người yêu thiên nhiên, là người có tâm hồn phóng khoáng (ngồi trong bóng trúc xanh mát mà ngâm thơ nhàn). Có thể thấy, trong đoạn thơ, nhân vật ta hiện lên như là một người nghệ sĩ thực sự không vướng một chút bận nào của nhân gian. c) Tiếng suối chảy đước tác giả ví với tiếng đàn, rêu trên đá được ví với chiếu êm, cách ví von này cho thấy tác giả là người giàu tình cảm với thiên nhiên, coi thiên nhiên như những người ttri kỉ. Cách miêu tả ấy cũng cho thấy đây là một người nghệ sĩ tinh tế, giàu trí tưởng tượng. 3. Cùng với hình ảnh nhân vật ta, cảnh tượng Côn Sơn được gợi tả bằng những chi tiết thật đẹp. Đó là một cảnh trí thiên nhiên thật khoáng đạt, thanh tĩnh và nên thơ. Côn Sơn đẹp bởi tiếng suối rì rầm như tiếng đàn ca, bởi bàn đá rêu phơi, bởi rừng trúc xanh màu xanh của lá toả bóng mát cho người thi sĩ ngâm thơ. 4.* Hình ảnh nhân vật ta ngồi ngâm thơ nhàn dưới màu xanh mát của tán trúc che ngang, gợi cho ta nghĩ đến hình ảnh một tiên ông nhàn tản, không chút vấn vương thế sự. Đó một thi sĩ đa tình đang thả trọn tâm hồn với thiên nhiên. Thực ra, trong cuộc đời, không kể lúc làm quan mà ngay khi đã về ở ẩn ở Côn Sơn, Nguyễn Trãi vẫn một lòng lo cho nước, cho dân. Thế nhưng có lẽ chính vì thế mà chúng ta càng phải cảm phục vẻ đẹp tài hoa và tâm hồn thi sĩ của ông. Trong muôn vàn vướng bận, Nguyễn Trãi vần dành cho thiên nhiên một tình yêu thật tươi trong và tuyệt đẹp. Đó cũng chính là vẻ đẹp nhất trong tâm hồn cao quý của ông.  5. Đoạn thơ này dùng nhiều điệp từ (ta, Côn Sơn, trong,…).  Hiện tượng điệp từ đã góp phần tích cực làm cho đoạn thơ có giọng điệu nhẹ nhàng, thơi thảnh, êm tai. III. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Cách đọc Khi đọc, cần chú ý: - Nhịp điệu của các câu thơ: + Các câu sáu có nhịp 2/4. + Các câu tám chủ yếu theo nhịp 4/4, trừ câu thứ hai "Ta nghe / như tiếng đàn cầm bên tai" được viết theo nhịp 2/6. Với nhịp điệu như vậy cần đọc chậm, thong thả, rõ ràng, chú ý ngắt đúng nhịp để tăng sức diễn cảm. - Về thanh điệu: + Các tiếng thứ tư (cả câu sáu và câu tám) đều là thanh trắc, sau đó là thanh bằng. Cách bố trí thanh điệu như vậy khiến cho ở giữa các câu thơ, giọng điệu có xu hướng cao lên rồi lại hạ thấp xuống, tạo ra một âm điệu trầm bổng, du dương. Khi đọc phải chú ý lên cao giọng ở giữa câu và hạ thấp dần ở cuối câu. 2. So sánh cách ví von tiếng suối của Nguyễn Trãi trong hia câu thơ “Côn Sơn suối chảy rì rầm, Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai” và của Hồ Chí Minh trong câu thơ “Tiếng suối trong như tiếng hát xa” (Cảnh khuya): Gợi ý: Cả hai cách ví von này đều là sản phẩm của những tâm rất nên thơ và tinh tế (ẩn sau một tình yêu say đắm với thiên nhiên). Tuy sự so sánh có khác nhau (một bên so sánh với tiếng đàn cần, bên kia tiếng suối được cảm như tiếng hát của một người sơn nữ) thế nhưng cả hai đều gợi ra sự ấm áp, tươi vui; gợi về tình yêu, niềm tin và sức sống.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Nghị luận Thực trạng nghiện karaoke và internet

NGHỊ LUẬN THỰC TRẠNG NGHIỆN KARAOKE VÀ INTERNET

Tham khảo thêm mb:giới thiệu chung về hiện tượng nghiện karaoke va internet của giới trẻ hiện nay. tb:nêu ra hai mặt tích cực và tiêu cực của hiện tượng trên - tích cực:karaoke giúp chúng ta thư giãn giải lao,xả stress sau những giờ học căng thẳng và mệt mỏi,là chổ tụ tập bạn bè chia sẻ mọi thứ trong cuộc sống,giúp tâm trạng vui lên internet :júp ta mở rộng tầm hiểu biết ,tiếp cận với nền công nghệ thông tin nhất là vào thời buổi hiện nay.ích lợi của internet khá là nhiều như:tìm tài liệu học tập.tra cứu điểm thi,cập nhật những thông tin mới nhất một cách đầy đủ,giải trí(chơi game,nghe nhạc, giao lưu bạn bè,người thân,...) nói chung là rất nhiều lợi ích.(chú ý cần nêu dẫn chứng thực tế) - bên cạnh mặt tích cực thì nó cũng bộc lộ mặt trái và tiêu cực : nếu quá ham mê karaoke va internet thì rất có hại: +karaoke:tụ tập bạn bè,chơi bời lêu lổng,bị cuốn hút vào các tệ nạn xã hội (dẫn chứng) +internet:là phương tiện chat va chơi game là chủ yếu,không sử dụng vào mục đích học tập và giải trí lành mạnh.ngc lại sử dụng nó vào những mục đích không trong sáng và làm mất đi lợi ích vốn có của nó.tốn kém tiền của của gia đình,bỏ bê việc học hành,có tiền không sao nhưng khi không có cũng không khác gì một con nghiện đang lên cơn thèm thuốc,nguy hiểm hơn là rất dễ sa vào các tệ nạn xã hội.(phần này cần dẫn chứng cụ thể) - nghiện internet và karaoke có thể ko chết ngay được nhưng nếu không thoát nổi chúng ra thì cũng chẳng khác gì nghiện ma tuý cả,nó cũng ngày ngày giết chết ta. MỞ BÀI: Trong suốt dòng lịch sử con người, đã có những người phải vất vả chống lại tính nghiện ngập, nào là nghiện rượu, nghiện ma túy, cũng như những thói quen không thể bỏ được, chẳng hạn như bài bạc. Giờ đây, các nhà tâm lý học ở nhiều quốc gia lại lưu ý đến tình trạng khẩn cấp phải đối phó của một chứng tật ham mê mới, đó là nghiện Internet. THÂN BÀI: Ý 1. THỰC TRẠNG VỀ CĂN BÊNH NGHIỆN INTERNET TRONG GIỚI TRẺ Với nhiều người, Internet là một thứ không thể thiếu; một thói quen không kiểm soát nổi. Riêng tại Mỹ đã có khoảng 15-20 triệu người mắc "bệnh” này. Theo giáo sư Jerald Block của ĐH Khoa học và y tế Oregon, bốn triệu chứng nghiện Internet chính là: quên thời gian, sao lãng ăn uống và ngủ; tức giận, căng thẳng, bồn chồn khi không thể lên mạng; cần trang bị máy tính mạnh hơn, nhiều phần mềm mới; biểu hiện trầm cảm, hay cáu giận và tách biệt với xã hội. Nghiện Internet – một hành vi gây căng thẳng cho cuộc sống của chính nạn nhân và cho cả gia đình, bạn bè, đồng nghiệp – là một căn bệnh tâm lý đang lan tràn trên toàn thế giới. Hiện nay, có khoảng 5-10% người Mỹ (tức khoảng 15-20 triệu người) có thể đã bị nghiện Internet, Kimberly Young, giám đốc Trung tâm Cai nghiện Internet của Mỹ, nói. Số người nghiện net có thể lên từ 18-30% ở Trung Quốc, Hàn Quốc và Đài Loan. Coleen Moore, điều phối viên tại Viện Phục hồi Nghiện Illinois, cho biết bà có những khách hàng từ độ tuổi học sinh cho đến độ tuổi trưởng thành, trong đó có những người dành đến 14-18 giờ mỗi ngày trên mạng. Chơi game trực tuyến là một dạng của nghiện Internet và đang lan tràn nhanh chóng trong giới trẻ. Brian Robbins, một thành viên của Hiệp hội các nhà phát triển Game quốc tế, cho biết số người nghiện chơi video game trực tuyến ngày càng tăng. “Có đến 90-95% các trò chơi trên web đều miễn phí”, Robbins nói. Ý 2: HẬU QUÁ CỦA NGHIỆN INTERNET Internet mang theo cùng nó những lợi ích nhưng cả các tác hại. Trong đó có tình trạng vì quá mê mệt Internet mà các con nghiện xao lãng chuyện học hành, thậm chí bỏ học. Họ giảm tiếp xúc với gia đình, bè bạn, sống cô lập trước màn hình máy tính, lặn vào những "chatroom" hay chơi những trò chơi bạo lực. Nói về các con nghiện này, giám đốc bệnh viện Tao Ran, chuyên gia điều trị các loại nghiện thâm niên 20 năm, cho rằng các thiếu niên mắc bệnh này thường là những em có vấn đề về thái độ hành xử, mặc cảm. Họ lên Internet để củng cố sự tự tin. Chính ở trên thế giới mạng, họ có cảm giác chín chắn, thành công. Các con nghiện Internet thường đau khổ vì trầm uất, sợ sệt và không sẵn lòng giao tiếp với người khác. Nhiều em mắc bệnh rối loạn giấc ngủ, tê cóng hai tay. Tuy nhiên, Internet chỉ là chất xúc tác chứ không phải là nguyên nhân gây nghiện. Hầu hết những em gặp trục trặc trong cách hành xử hay thiếu tự tin chỉ bị cơn nghiện Internet làm trầm trọng thêm, mà trong quá khứ, không có Internet, chúng có thể tìm tới tội ác, ma túy, có khi tự tử để đối phó với những vấn đề của mình. 3. GIẢI PHÁP Để xử lý vấn đề này, chính phủ Hàn Quốc đã xây dựng một mạng lưới 140 trung tâm tư vấn về nghiện Internet, cùng với các chương trình điều trị ở gần 100 bệnh viện và gần đây nhất là trại "Giải thoát khỏi Internet" - mới được mở hồi hè năm nay. Các nhà nghiên cứu cũng đã đưa ra một danh sách để chẩn đoán chứng nghiện Internet và kết luận độ nghiêm trọng của nó, gọi là K-Scale (K là viết tắt của Korea). Rồi tháng 9 vừa rồi, Hàn Quốc cũng tổ chức hội thảo quốc tế đầu tiên về chứng nghiện Internet. "Trại giải thoát" ở Hàn Quốc nằm tại một vùng rừng ở phía Nam Seoul, là nơi để điều trị những ca nghiêm trọng nhất. Năm nay, trại đã tổ chức hai kỳ điều trị đầu tiên, mỗi kỳ kéo dài 12 ngày, mỗi lần có 16-18 học viên nam (các nhà nghiên cứu Hàn Quốc nói rằng đa số những user nghiện net là nam giới). "Trại" này được chính phủ tài trợ hoàn toàn, tức là ai cũng được điều trị miễn phí. Bây giờ vẫn còn quá sớm để nói rằng "trại" có thể "cai nghiện" được cho những người tham gia không, nhưng họ liên tục nhận được đơn đăng ký. Để đáp ứng nhu cầu, các nhà tổ chức nói rằng năm sau họ sẽ tăng gấp đôi số khoá điều trị.
Xem thêm

2 Đọc thêm

QUẢN LÝ KARAOKE

QUẢN LÝ KARAOKE

GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG CAO ĐẲNG KỸ THUẬT LÝ TỰ TRỌNGKHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TINQUẢN LÝ KARAOKESinh Viên Thực Hiện:Trần Trí ĐồngTrần Hùng CườngLớp: 12CĐ-TP1GiáoViênHướngDẫn: LâmThanhHùngTP.HCM – Tháng 12 /2014Chương 1Khảo sát thực trạng1.1 Hiện trạng tổ chứcQuán ăn có 3 khu:Lầu 1,lầu 2,lầu 3.Tổ chức karaoke có:1 Thu ngânvà 1 quản lý.1.2 Hiện trạng nghiệp vụMỗi 1 nhân viên sẽ trực 1 lầu,1 lầu gồm 3 phòng.Khi khách có yêucầu gọi món ăn,nước uống thì nhân viên sẽ ghi lại sau đó đưa cho thungân.Trên mỗi phiếu gọi món đều có ghi lại ngày,giờ,số phòng.Nhân viên thu ngân sử dụng chương trình trên máy tính để nhập hóađơn tính tiền,xuất ra hóa đơn cho khách,trên hóa đơn có ghi ngày giờthanh toán.Nhân viên trực tại lầu đó sẽ đưa hóa đơn cho khách nếu kháchkhông có thắc mắc thì sẽ tính tiền đưa cho nhân viên đó,nhân viên đó đưaxuống quầy thu ngân.Thu ngân sẽ thanh toán hóa đơn đó.Sau khi có yêu cầu nhập hàng:nhân viên sẽ lập 1 phiếu nhập.Trên
Xem thêm

19 Đọc thêm

BÀI CA HÓA TRỊ VÀ BÀI CA KHỐI LƯỢNG

BÀI CA HÓA TRỊ VÀ BÀI CA KHỐI LƯỢNG

MỘT CÁCH GIÚP DỄ NHỚ HÓA TRỊ – NGUYÊN TỬ KHỐI (( BÀI CA HÓA TRỊ (( Kali (K), Iot (I), Hidrô (H) Natri (Na) với Bạc (Ag), Clo (Cl) một loài Là hoá trị I hỡi ai Nhớ ghi cho kỹ khỏi hoài phân vân Magiê (Mg), Kẽm (Zn) với Thuỷ Ngân (Hg) Oxi (O), Đồng (Cu), Thiếc(Sn) thêm phần Bari (Ba) Cuối cùng thêm chú Canxi (Ca) Hoá trị II nhớ có gì khó khăn Bác Nhôm (Al) hoá trị III lần In sâu trí nhớ khi cần có ngay Cacbon (C), Silic (Si) này đây Có hoá trị IV không ngày nào quên Sắt (Fe) kia lắm lúc hay phiền II, III lên xuống nhớ liền ngay thôi Nitơ (N) rắc rối nhất đời I, II, III, IV khi thời lên V Lưu huỳnh (S) lắm lúc chơi khăm Xuống II lên VI khi nằm thứ IV Phot pho (P) nói đến không dư Có ai hỏi đến thì ừ rằng V Em ơi, cố gắng học chăm Bài ca hoá trị suốt năm cần dùng.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Tiểu luận thương mại điện tử xây dựng trang web karaoke trực tuyến “ kahat vn ”

TIỂU LUẬN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ XÂY DỰNG TRANG WEB KARAOKE TRỰC TUYẾN “ KAHAT VN ”

CHƯƠNG 1 XÂY DỰNG KẾ HOẠCH KINH DOANH 1. Ý tưởng kinh doanh 1 2. Mục đích kinh doanh 2 3. Kế hoạch kinh doanh 2 3.1 Tổng quan về thị trường karaoke 2 3.2 Phân tích đối thủ cạnh tranh 3 3.3 Tầm nhìn, sứ mệnh, giá trị cốt lõi 5 3.4 Phân tích khách hàng mục tiêu 6 3.5 Sản phẩm và dịch vụ của trang web 7 3.6 Phân tích năng lực kinh doanh 9 3.7 Chiến dịch Marketing cho dự án 12 3.8 Phân tích SWOT 17 3.9 Kế hoạch tài chính cho dự án 18 CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG WEBSITE 21 1. Giới thiệu khái quát tra 21 2. Cấu trúc và thành phần cơ bản của trang web 22 CHƯƠNG 3 TỔNG KẾT VÀ ĐÁNH GIÁ DỰ ÁN 31 1. Đánh giá dự án 31 2. Phương hướng phát triển 33 NGUỒN TÀI LIỆU THAM KHẢO 35
Xem thêm

42 Đọc thêm