NHỮNG NHÀ KHOA HỌC NỔI TIẾNG CỦA VIỆT NAM

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "NHỮNG NHÀ KHOA HỌC NỔI TIẾNG CỦA VIỆT NAM":

BÁO CÁO KHOA HỌC NỔI TIẾNG

BÁO CÁO KHOA HỌC NỔI TIẾNG

ammonia nitrogen (TAN), nitrite (NO2), phosphorus (PO43-), BOD và H2S cao hơn mức cho phépdo mật độ cá thả rất dày và cho ăn quá mức. Để hạn chế việc này thì chế độ thay nước cao vàthường xuyên là biện pháp chính đã và đang áp dụng để cải thiện chất lượng nước ao nuôi. Tuynhiên khi nuôi với mật độ lớn như nuôi thâm canh, nuôi công nghiệp... lượng nước thải ra lớn vớinồng độ ô nhiễm cao sẽ càng gây tác động tiêu cực đến nguồn tiếp nhận. Khi nguồn nước bị ônhiễm đến mức vượt khả năng tự làm sạch của hệ thống sông ngòi sẽ ảnh hưởng đến ngành côngnghiệp nuôi cá tra nói riêng và ngành NTTS nói chung. Hiện nay các nhà khoa học, nhà quản lý vàcác phương tiện truyền thông đang cảnh báo tình trạng gia tăng ô nhiễm nguồn nước do sự pháttriển nhanh chóng của nuôi cá tra công nghiệp. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm khảo sát hiệntrạng vùng nuôi cá tra công nghiệp trên địa bàn huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp và đánh giáchất lượng nguồn nước sử dụng cho các ao nuôi cá tra trong khu vực, từ đó đề xuất các biện phápquản lý thích hợp giúp phát triển bền vững nghề nuôi cá tra công nghiệp.2. Phương pháp nghiên cứu2.1. Khảo sát tình hình nuôi cáThu thập thông tin về các cơ sở nuôi cá tra công nghiệp trên địa bàn huyện từ Trạm Thủysản huyện Thanh Bình và Chi cục Thủy sản tỉnh Đồng Tháp. Chọn ngẫu nhiên 30 hộ nuôi trongdanh sách để tiến hành phỏng vấn. Chuẩn bị phiếu điều tra dạng câu hỏi trắc nghiệm kết hợpcâu hỏi mở, tiến hành phỏng vấn thử trên 3 hộ nuôi để kiểm tra chất lượng bảng câu hỏi. Hiệuchỉnh bảng phỏng vấn. Sử dụng phiếu điều tra đã hiệu chỉnh để phỏng vấn 30 cơ sở đã chọntrên địa bàn huyện Thanh Bình - tỉnh Đồng Tháp. Những thông tin cần điều tra bao gồm thôngtin về cơ sở nuôi, năm bắt đầu nuôi, diện tích nuôi, mật độ thả cá, kích cỡ cá, loại thức ăn vànguồn tiêu thụ, việc tuân thủ quy định của pháp luật về thực hiện các biện pháp bảo vệ môitrường tại cơ sở, đặc biệt là xử lý nước thải ao nuôi.2.2. Đánh giá chất lượng nước mặt trong khu vựcBên cạnh việc khảo sát hiện trạng tại các cơ sở nuôi cá, chọn 4 vị trí quan trắc lấy mẫunước mặt (QT01, QT02, QT03 và QT04) gần các vùng nuôi tập trung nhiều cơ sở nuôi côngnghiệp. Tiến hành lấy mẫu nước mặt 2 đợt - 01 đợt vào mùa khô và 01 đợt vào mùa mưa - phântích các chỉ tiêu pH, DO, TSS, BOD5, COD, NH3 và tổng Coliform theo quy trình hướng dẫnbởi các tiêu chuẩn Việt Nam hiện hành.182
Xem thêm

Đọc thêm

Nghiên cứu ảnh hưởng của đèn LED đến sinh trưởng và phát triển của cây lan hồ điệp ở giai đoạn chăm sóc cây trong nhà lưới

Nghiên cứu ảnh hưởng của đèn LED đến sinh trưởng và phát triển của cây lan hồ điệp ở giai đoạn chăm sóc cây trong nhà lưới

Sử dụng công nghệ đèn LED đã được các nhà khoa học nghiên cứu, đưa vào sử dụng trong nông nghiệp ở nhiều nước. Ở Việt Nam, việc ứng dụng công nghệ đèn đã được các nhà khoa học thực hiện trên một số loại cây trồng và mang lại hiệu quả khả quan.

Đọc thêm

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ ĐÁNH GIÁ CHƯƠNG TRÌNH, SGK NGỮ VĂN HIỆN HÀNH VÀ ĐỀ XUẤT ĐỊNH HƯỚNG BIÊN SOẠN CHƯƠNG TRÌNH, SGK MỚI

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ ĐÁNH GIÁ CHƯƠNG TRÌNH, SGK NGỮ VĂN HIỆN HÀNH VÀ ĐỀ XUẤT ĐỊNH HƯỚNG BIÊN SOẠN CHƯƠNG TRÌNH, SGK MỚI

Nguyễn Minh Thuyết (sinh 1948) quê quán xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội là Tiến sĩ, Giáo sư, Giảng viên cao cấp thuộc Khoa ngôn ngữ học của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội từ 1990 đến 2003. Ông là đại biểu Quốc hội Việt Nam các khóa XI, XII1 của Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Lạng Sơn và từng đóng vai trò là Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội. Trước khi ứng cử ông là Ủy viên chuyên trách Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội. Gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1991 và nhận nhiều Huân chương vì sự nghiệp Khoa học, Huy chương kháng chiến hạng 2.23 Ông nổi tiếng là người trực ngôn với các chất vấn gai góc trên diễn đàn quốc hội. Ngoài ra ông cũng được biết đến với vai trò giải quyết các đơn thư khiếu nại của người dân, đặc biệt về vấn đề đất đai. Ông cho rằng hiện nay vấn đề giải quyết đơn thư khiếu nại người dân của cấp thẩm quyền còn nặng nề về hình thức, thậm chí im lặng4. Ông đánh giá việc làm đại biểu quốc hội là một công việc dễ va chạm. Về việc này ông cũng từng bị một lãnh đạo Bộ Văn hóa Thông tin phản ứng khi chất vấn về vấn đề quản lí sách tham khảo4 Ông là một trong số các đại biểu đã lên tiếng phản đối các dự án thu hút nhiều quan tâm của dư luận trong và ngoài nước gần đây như Dự án khai thác bô xít ở Tây Nguyên, các Dự án cho nước ngoài thuê rừng và nổi bật năm 2010 là Dự án Đường sắt cao tốc Bắc Nam
Xem thêm

26 Đọc thêm

NGHIÊNCỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ GIỐNG NGÔ LAI CÓ TRIỂNVỌNG TẠI HUYỆN MÈO VẠC TỈNH HÀ GIANG

NGHIÊNCỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ GIỐNG NGÔ LAI CÓ TRIỂNVỌNG TẠI HUYỆN MÈO VẠC TỈNH HÀ GIANG

Năm 1966, Trung tâm cải tiến ngô và lúa mỳ Quốc tế (CIMMYT) đượcthành lập tại Mêxicô. Nhiệm vụ của Trung tâm là nghiên cứu và đào tạo vềngô, lúa mỳ tại các nước đang phát triển. Trung tâm đã đưa ra giải pháp là tạogiống ngô thụ phấn tự do (OPV), làm bước chuyển tiếp ngô địa phương vàngô lai. Hơn 30 năm hoạt động Trung tâm đã góp phần đáng kể vào việc xâydựng, phát triển và cải tiến hàng loạt vốn gen, quần thể và giống ngô trên 80quốc gia trên thế giới. Dòng thuần là nguyên liệu được sử dụng trong chọn tạogiống ngô lai cũng được chú trọng, theo điều tra của Bauman năm 1981, ởMỹ các nhà tạo giống đã sử dụng 15% quần thể có nguồn di truyền rộng, 16%từ quần thể có nền di truyền hẹp, 14% từ quần thể của các dòng ưu tú, 39% từtổ hợp lai của các dòng ưu tú và 17% từ quần thể hồi giao để tạo dòng(Bauman,1981)[18].14Ngô lai đang tiến triển tốt đẹp ở các nước Châu Á. Có thể nói TrungQuốc là một cường quốc ngô lai của Châu Á, với diện tích 25 triệu ha, năngsuất 4,9 tấn/ha, sản lượng ngô hàng năm trên 120 triệu tấn, đứng thứ hai trênthế giới sau Mỹ. Năng suất ngô bình quân của Trung Quốc đã tăng từ 1,5tấn/ha những năm 50 đến 4,9 tấn/ha năm 1999 (CIMMYT, 1999/2000)[19].1.3.2. Tình hình nghiên cứu ngô ở Việt NamViệt Nam tiếp cận với ngô lai khá sớm, ngay từ những năm 60 chúng tađã có những nghiên cứu về chọn tạo và sử dụng ngô lai vào sản xuất, nhưngdo vật liêu khởi đầu của chúng ta còn nghèo nàn và không phù hợp, vì vậyngô lai đã không phát huy được vai trò của nó. Phải đến những năm đầu củathập kỷ 90 công tác chọn tạo giống ngô lai được các nhà khoa học coi lànhiệm vụ chiến lược chủ yếu, góp phần đưa nghề trồng ngô nước ta đứngvào hàng ngũ những nước tiên tiến ở Châu Á. Trong những năm 1992-1994,Viện nghiên cứu ngô đã lai tạo ra các giống ngô lai không quy ước là: LS-5,
Xem thêm

104 Đọc thêm

TÀI LIỆU về ĐỘNG vật CHUYỂN GEN

TÀI LIỆU VỀ ĐỘNG VẬT CHUYỂN GEN

Lợn... phát sáng do chuyển gen 13012006 Sinh học Việt Nam Lợn phát sáng xanh. Với việc tạo ra những con lợn phát sáng xanh, các nhà khoa học Đài Loan hy vọng thành công này sẽ thúc đẩy lĩnh vực nghiên cứu tế bào gốc trên hòn đảo này. Bằng cách tiêm protein phát sáng xanh vào phôi lợn, nhóm nghiên cứu thuộc ĐH Đài Loan đã tạo ra ba con lợn đực chuyển gien Theo GS Wu ShinnChih thuộc Khoa khoa học và công nghệ động vật, các nhà khoa học ở những nơi khác đã tạo ra lợn phát sáng xanh từng phần. Tuy nhiên, những con lợn ở Đài Loan xanh từ trong ra ngoài. Ngay cả tim và các cơ quan nội tạng của chúng cũng xanh Lợn chuyển gien thường được sử dụng để nghiên cứu bệnh ở người. Những con lợn nói trên sẽ giúp các nhà nghiên cứu giám sát và theo dõi những thay đổi về mô trong quá trình sinh trưởng của lợn .Trong năm 2003, một công ty Đài Loan đã bắt đầu bán cá chuyển gen phát sáng đầu tiên trên thế giới. Các nhà bảo vệ môi trường đã phản đối việc làm này với lý do cá phát sáng đe doạ hệ sinh thái trái đất. Cấy gene người vào chuột 27092005 Sinh học Việt Nam Các nhà khoa học đã lần đầu tiên chuyển ghép thành công nhiễm sắc thể người vào chuột, tạo nên một bước đột phá có thể mở ra hướng mới trong việc điều trị bệnh Down và các chứng rối loạn khác. Những con chuột biến đổi gene mang một bộ copy nhiễm sắc thể người 21. Đó là cặp nhỏ nhất trong số 23 cặp nhiễm sắc thể người gồm khoảng 225 gene. Thành tựu này đánh dấu 13 năm nghiên cứu của các nhà khoa học tại Viện Sức khoẻ y tế quốc gia ở London và Viện thần kinh học. Chúng tôi rất lạc quan rằng việc cấy ghép thành công có thể giúp chúng ta nhìn sâu vào những vấn đề mà bệnh nhân Down gặp phải, Victor Tybulewicz, người đứng đầu nghiên cứu, nói. Hội chứng Down ảnh hưởng tới 1800 ca sinh nở, gây ra sự chậm chễ trong việc phát triển thể chất và thần kinh. Những người bị bệnh này cũng gặp vấn đề về tim, thính giác và có nguy cơ cao mắc bệnh máu trắng và Alzheimer. Tiến sĩ Elizabeth Fisher tại Viện thần kinh học cho rằng công nghệ mới sẽ giúp các nhà khoa học tìm ra những gene gây ra các triệu chứng của Down và khả năng mắc các căn bệnh khác . Nhiễm sắc thể người được hoà lẫn với tế bào gốc mới phát triển của chuột cùng một hoá chất giúp chúng dễ hoà tan với nhau. Thế bào gốc mang nhiễm sắc thể 21 sau đó được tiêm vào phôi chuột và cấy vào chuột mẹ. Kết quả cho ra một con chuột có nhiễm sắc thể người. Mặc dù con chuột trông bình thường, chúng phát triển những đặc điểm khác nhau liên quan đến bệnh Down. Hiệp hội Hội chứng Down ở Anh hoan nghênh nghiên cứu này và cho rằng nó sẽ có ảnh hưởng tích cực tới cuộc sống của những người mắc bệnh. Bất cứ nghiên cứu nào giúp hiểu vì sao những người bị Down dễ bị mắc các bệnh khác hơn đều vô cùng quan trọng, mặc dù phải thừa nhận rằng nó chưa mang tới một phương pháp điề
Xem thêm

14 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐẾN NĂNG SUẤT SẢN XUẤT HẠT LAI F1 VÀ THƯƠNG PHẨM GIỐNG LÚA BẮC ƯU 253 TẠI HẢI DƯƠNG

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐẾN NĂNG SUẤT SẢN XUẤT HẠT LAI F1 VÀ THƯƠNG PHẨM GIỐNG LÚA BẮC ƯU 253 TẠI HẢI DƯƠNG

miền núi phía bắc đạt 3,27 triệu tấn (Cục trồng trọt, 2014).Năng suất lúa Việt Nam năm 2009 đạt 52,4 tạ/ha, đến năm 2012 là 56,4tạ/ha. Sơ bộ năm 2013 đạt 55,8 tạ/ha giảm hơn so với năm 2012 0,6 tạ/ha (Cụctrồng trọt, 2014).Về xuất khẩu, theo số liệu thống kê của cơ quan Hải quan, tính đến hết tháng 11năm 2014, kim ngạch xuất khảu gạo của Việt Nam đạt 6,062 triệu tấn, trị giá đạt 2,807tỷ đô la, mặc dù giảm 2,3% về lượng nhưng lại tăng 2,6% về giá so với cùng kỳ năm2013. Giá FOB bình quân 11 tháng đạt 463 USD/tấn, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm2013. Dự kiến xuất khẩu gạo cả năm 2014 đạt khoảng 6,5 triệu tấn, đảm bảo tiêu thụhết lúa gạo hàng hóa cho người nông dân.1.1.2.2. Tình hình nghiên cứu sản xuất lúa lai ở Việt NamDiện tích sản xuất hạt lai F1 tăng trên 1.000 ha từ năm 2001- 2004, làmcho tỷ lệ sử dụng hạt lai F1 sản xuất trong nước tăng trên 20%, năm 2002 đạt caonhất là 30,28%, nhưng sau đó lại giảm vì chất lượng hạt giống sản xuất trongnước không bằng hạt nhập nội, năng suất sản xuất hạt F1 không cao vì thời tiếtbiến đổi thất thường, hạt F1 sản xuất ra không tiêu thụ được, các doanh nghiệpchưa tích cực tham gia sản xuất vì vậy diện tích sản xuất giảm đi.Từ năm 2005 đến nay, sau khi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn côngnhận một số tổ hợp lai mới do các nhà khoa học Việt Nam lai tạo, các dòng bố mẹđược chọn tạo, duy trì trong nước nên diện tích sản xuất hạt lai F1 có chiều hướngtăng dần, có xu hướng mở thêm trong vụ mùaVụ và vùng sản xuất hạt giống lúa lai F1 được nghiên cứu, xác định tươngđối hợp lý để đảm bảo năng suất và chất lượng hạt lai cao, cụ thể là:- Các tổ hợp lúa lai ba dòng sản xuất ở vụ Đông xuân tại các tỉnh Nam bộ,Tây Nguyên (Đắc Lăk, Kon tum), Duyên hải miền Trung (Quảng Nam), ở phíaBắc vụ Đông xuân chỉ nên chọn một số vùng thuận lợi như Lào Cai, Yên Bái,Nam Định để sản xuất, không nên mở rộng diện tích.- Các tổ hợp lai hai dòng chọn tạo trong nước có dòng mẹ là TGMS, ở miềnBắc sản xuất F1 trong vụ mùa trung, lúa trỗ từ 5-25/9 là phù hợp, năng suất hạtHọc viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Xem thêm

155 Đọc thêm

Luận cứ khoa học xây dựng mô hình trường đại học nghiên cứu khối kinh tế ở Việt Nam

LUẬN CỨ KHOA HỌC XÂY DỰNG MÔ HÌNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGHIÊN CỨU KHỐI KINH TẾ Ở VIỆT NAM

1. Tính cấp thiết của đề tài Phát triển khoa học và công nghệ là một trong những động lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế. Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, các trường đại học không chỉ là các cơ sở đào tạo cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho nền kinh tế mà còn phải được đầu tư để trở thành các trung tâm nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ. Nghị quyết 142005NQCP về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 20062010 đã nhấn mạnh yêu cầu “nâng cao hiệu quả rõ rệt quy mô và hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ trong các cơ sở giáo dục đại học. Các trường đại học lớn phải là trung tâm nghiên cứu khoa học mạnh của cả nước”. Dự thảo Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam 20092020 cũng đã đề cập đến việc xây dựng mô hình trường đại học nghiên cứu ở Việt Nam. Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam, việc xác định tiêu chí thế nào là một trường đại học nghiên cứu cũng như cơ sở khoa học của việc xây dựng và phát triển trường đại học nghiên cứu chưa được làm rõ. Kinh nghiệm của nước ngoài cho thấy, trường đại học danh tiếng phải là trường đại học nghiên cứu hàng đầu. Ví dụ như tại Mỹ có khoảng 3200 các ĐH giáo dục bậc cao, trong số này không phải trường nào cũng là tốt so với các nước khác, các trường này được phân loại rất cụ thể và nằm trong các hiệp hội, tổ chức khác nhau, ví dụ Hiệp hội các ĐH Mỹ (AAU) quy tụ 62 trường hàng đầu của nước Mỹ. Các đại học nghiên cứu là những đại học vừa nghiên cứu vừa giảng dạy, thông thường “tỷ lệ” nghiên cứu so với giảng dạy trong khoảng 40% 60%, nhiều ĐH có tỷ trọng nghiên cứu lớn như là Cornell, Caltech… hiện tại ở Mỹ trong số 3200 các cơ sở giáo dục đại học bậc cao, trong đó có khoảng 100 đại học là mô hình các đại học nghiên cứu. Hầu hết các đại học nghiên cứu này là những đại học tốt nhất ở Mỹ. Trong các tiêu chí xếp hạng trường đại học, tiêu chí về học thuật và uy tín khoa học có một vai trò rất quan trọng. Ví dụ như tại Mỹ, hệ thống xếp hạng các trường đại học được nhắc đến nhiều nhất ở trong cũng như ngoài nước là ấn phẩm tờ Tin tức nước Mỹ và thế giới (US News and World Report, viết tắt là USNWR). Các chỉ tiêu (indicators) được USNWR sử dụng để xếp hạng bao gồm 6 loại chính: danh tiếng học thuật, chọn lọc sinh viên, nguồn lực đội ngũ, nguồn lực tài chính, tỷ lệ tốt nghiệp, và sự hài lòng của cựu sinh viên. Trong hệ thống xếp hạng quốc tế, điển hình là hai hệ thống được nhiều người biết đến là là Bảng xếp hạng học thuật các trường đại học trên thế giới (tiếng Anh là Academic Ranking of World Universities, viết tắt là ARWU) của Viện Giáo dục đại học thuộc trường Đại học Giao thông Thượng Hải (tiếng Anh là Shanghai Jiao Tong University, viết tắt là SJTU) và bảng xếp hạng các trường đại học quốc tế của THES đều nhấn mạnh tiêu chí về khoa học của các trường. Ví dụ như, để xếp hạng các trường, SJTU sử dụng 5 chỉ tiêu là chất lượng cựu sinh viên (tính bằng số lượng cựu sinh viên đoạt các giải thưởng và huy chương đặc biệt như giải Nobel), chất lượng giảng viên (tính theo cùng phương pháp đo lường chất lượng cựu sinh viên), kết quả nghiên cứu (tính bằng số bài báo đăng trên các tạp chí khoa học), tầm cỡ của nhà trường (tính bằng kết quả hoạt động so với quy mô của nhà trường). Các chỉ tiêu được THES sử dụng cho việc xếp hạng bao gồm 5 loại: kết quả khảo sát đồng nghiệp (các giảng viên, nhà khoa học) (40%), đánh giá của nhà tuyển dụng (10%), sự hiện diện của giảng viên nhà khoa học quốc tế (5%), sự hiện diện của sinh viên quốc tế (5%), tỷ lệ giảng viên trên sinh viên (20%), và tỷ lệ bài báo khoa học trên giảng viên (20%). Như vậy, để được xếp hạng ở tầm khu vực và quốc tế, một số trường đại học trọng điểm và đầu ngành của Việt Nam cần hướng đến mô hình trường đại học nghiên cứu. Tuy nhiên, trong điều kiện giáo dục đại học của Việt Nam còn nhiều hạn chế, việc chuyển đổi sang mô hình trường đại học nghiên cứu là vấn đề không đơn giản. Do đó, cần có các nghiên cứu về luận cứ khoa học cho xây dựng mô hình các trường đại học nghiên cứu ở Việt Nam nói chung và khối các trường đại học kinh tế nói riêng.
Xem thêm

119 Đọc thêm

HỨNG THÚ HỌC TOÁN VÀ THÀNH TÍCH TOÁN HỌC CỦA HỌC SINH VIỆT NAM TRONG KÌ THI PISA 2012

HỨNG THÚ HỌC TOÁN VÀ THÀNH TÍCH TOÁN HỌC CỦA HỌC SINH VIỆT NAM TRONG KÌ THI PISA 2012

sinh phát triển các năng lực, phẩm chất, trí tuệ. Toán học có tính chất trừu3tượng, khái quát cao, sự suy luận logic chặt chẽ, có khả năng hình thành ởngười học óc trừu tượng, năng lực tư duy logic chính xác. Không những vậy,Toán học còn góp phần tích cực vào việc giáo dục cho học sinh những phẩmchất đáng quý trong học tập, lao động trong cuộc sống như : tính kỷ luật, tínhkiên trì, tính chính xác. Khi nhận ra điều này, học sinh ngày càng yêu thích,say mê môn Toán hơn, tích cực học tập hơn. Nhận thức được vị trí, tầm quantrọng của môn Toán nên nhiều học sinh ở các cấp học của Việt Nam đã rấtchú ý tới việc phải học tốt môn học này, các em coi đây là một trong số cácmôn có tính chất quyết định tới kết quả học tập và định hướng cho tương laicủa mình. Vì vậy, dù khả năng của mỗi học sinh có khác nhau song phần lớnhọc sinh Việt Nam đều tập trung đầu tư thời gian, sức lực và trí tuệ để lĩnh hộitri thức Toán học trong chương trình học tập nên không ít học sinh đã tạođược sự hứng thú ở các cấp độ khác nhau đối với môn học này. Chính vì cóhứng thú với môn Toán nên thành tích Toán học của học sinh Việt Nam làtương đối cao trong các kỳ thi đánh giá ở các cấp độ và phạm vi khác nhau ởcả trong nước và quốc tế. Nhiều nhà khoa học và tổ chức nghiên cứu giáo dụcquốc tế cũng đánh giá khá cao tư duy học toán và triển vọng học toán của họcsinh Việt Nam. Tuy vậy, Toán học là một môn học khó, đòi hỏi phải kiên trìvà thường xuyên nghiên cứu để có kiến thức nền tảng cơ bản và tư duy sángtạo cao nên một bộ phận không nhỏ học sinh Việt Nam cảm thấy môn Toánrất khô khan, khối lượng kiến thức đồ sộ và khó tiếp thu nên tạo ra sức ỳ khálớn, từ đó không có hoặc mất dần hứng thú đối với môn học này. Thực tế nàycũng đã và đang là một trong những nguyên nhân chủ yếu của tình trạng khánhiều học sinh Việt Nam học kém môn Toán, có kết quả kiểm tra, đánh giákhá thấp ở môn học này trong những năm qua. Do vậy, việc có một công trìnhnghiên cứu chuyên sâu về hứng thú học Toán của học sinh Việt Nam là rất
Xem thêm

14 Đọc thêm

Đừng cố gắng trở thành người nổi tiếng mà trước hết hày là người có ích. Hãy viết một bài văn ngắn( khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ của anh / chị về ý kiến trên.

ĐỪNG CỐ GẮNG TRỞ THÀNH NGƯỜI NỔI TIẾNG MÀ TRƯỚC HẾT HÀY LÀ NGƯỜI CÓ ÍCH. HÃY VIẾT MỘT BÀI VĂN NGẮN( KHOẢNG 600 TỪ) TRÌNH BÀY SUY NGHĨ CỦA ANH / CHỊ VỀ Ý KIẾN TRÊN.

Trở thành một ca sĩ nhạc pop nổi tiếng như Michael Jackson? Trở thành một cầu thủ bóng đá huyền thoại như Maradona hay giàu có như Bill Gates? Nếu có ai đặt ra câu hỏi đó cho chúng ta, tôi dám chắc ít ai không mơ ước mình được nổi tiếng như vậy. Trong cuộc sống có rất nhiều quan niệm sống và cũng có rất nhiều mơ ước khác nhau. Có người mơ ước mình trở thành nhà khoa học nổi tiếng. Có người mơ ước mình trở thành một doanh nhân. Tôi cũng không ngoại lệ, tôi cũng từng mơ ước mình trở thành một nhà văn nổi tiếng. Và chỉ khi đọc được câu nói “ Đừng cố gắng để trở thành người nổi tiếng mà trước hết hãy làngười có ích” tôi mới thấy cần phải suy nghĩ nghiêm túc về vấn đề này. Vậy người nổi tiếng là gì mà ai cũng mong muốn trở thành người nổi tiếng? Người nổi tiếng là những người có công danh sự nghiệp- Là người thành công trong cuộc sống, trong công việc hay một lĩnh vực nào đó được nhiều người biết đến, yêu mến, kính trọng. Trên thế giới ai cũng biết Bill Gates là một doanh nhân người Mỹ,nhà từ thiện, tác giả và chủ tịch tập đoàn Microsoft, hãng phần mềm khổng lồ mà ông cùng với Paul Allen đã sáng lập ra. Ông luôn có mặt trong danh sách những người giàu nhất trên thế giới. Hay như giáo sư toán học Ngô Bảo Châu -Người Việt Nam đầu tiên đoạt giải Fields toán học –một giải thưởng danh giá trên thế giới mà không phải nhà toán học nào cũng có thể đạt được. Giáo sư Ngô Bảo Châu không chỉ nổi tiếng trong lĩnh vực toán học mà còn là một trong những giảng viên danh tiếng ở các trường Đại học nổi tiếng của Mĩ và thế giới. GS Ngô Bảo Châu chính là niềm tự hào về trí tuệ VN trên thế giới. Và nữa, nghệ sĩ Đặng Thái Sơn- một tài năng xuất chúng về âm nhạc. Những buổi biểu diễn của Đặng Thái Sơn là sự chờ đợi của biết bao người yêu nhạc ở VN và trên TG. Những khán phòng chật cứng, những nhà hát đông nghịt. Hàng triệu con tim như đang rung lên theo từng âm thanh của vũ điệu bàn tay tài hoa trên phím đàn. Đặng Thái Sơn chẳng phải là một thiên tài âm nhạc đó sao… Trở thành người nổi tiếng là một mơ ước mà ai cũng mong muốn đạt được. Nhưng nếu như không thể trở thành người nổi tiếng bạn cũng đừng buồn bởi chúng ta vẫn có thể sống một cuộc sống có ý nghĩa. Đừng cố gắng trở thành người nổi tiếng như một số bạn trẻ bằng cách bắt chước người này, người khác cách ăn mặc, đầu tóc kì dị hay có những hành động đặc biệt gây sự chú ý để nổi tiếng. Cái giá mà bạn phải trả cho sự nổi tiếng đôi khi là quá đắt. Có những bạn trẻ muốn được nổi tiếng trong mắt bạn bè, người yêu đã thể hiện mình là một tay đua trên xa lộ bằng những trận quyết đấu với tử thần để rồi có thể sẽ nổi tiếng những đó là sự nổi tiếng mà những người thân yêu của họ sẽ mãi mãi đau đớn khôn nguôi. Câu nói trên thực sự đã làm tôi suy nghĩ lại giấc mơ trở thành người nổi tiếng của mình. Mỗi chúng ta đều có thể trở thành những người nổi tiếng nếu như có tài năng thật sự nhưng trước hết chúng ta hãy sống thật tốt để làm một con người có ích. Xã hội rất cần những người nổi tiếng nhưng còn cần hơn những người có ích. Hãy làm cho cuộc sống của chúng ta tốt đẹp hơn bởi những việc làm có ích, bởi những con người có ích. Câu nói “ Đừng cố gắng….” quả thực đã để lại cho mỗi chúng ta một bài học nhận thức về ý nghĩa cuộc sống và quan niệm sống. Tôi nhớ một câu nói của một văn hào nổi tiếng: “ Có thể trong cuộc đời này không ai biết đến tên tuổi bạn, nhưng những việc bạn làm lại không thể thiếu được với cuộc đời họ”. Tất nhiên, bạn hãy cứ mơ ước mình sẽ trở thành một người nổi tiếng. Biết đâu, bằng những cố gắng và tài năng của mình, một ngày không xa bạn sẽ nổi tiếng trong một lĩnh vực nào đó. Nhưng phải chăng, câu nói trên cũng là một lời khuyên hữu ích cho mỗi chúng ta khi bước vào cuộc sống . Bài khác Tôi cứ nghĩ rằng, sự nổi tiếng không phải bông hoa hồng mọc cheo leo trên đỉnh núi hay sườn dốc. Bởi giản đơn hoa hồng thích mọc trong vườn nhà tôi hơn… bởi đấy là định mệnh của nó. Không, tôi lại không muốn bàn đến định mệnh như một sự bất khả kháng. Tôi muốn bàn đến cái sự sinh ra đã có và cái sự cố gắng để có. Quay ngược thời gian để thấy danh từ “sự nổi tiếng” không chỉ có tác động mạnh mẽ trong thời hiện tại. Kể cả một quá khứ dài và sâu, khi nó mang cái tên “danh” cũng được Nguyễn Công Trứ khẳng định chắc chắn rằng: “Đã mang tiếng ở trong trời đất Phải có danh gì với núi sông” Người đời xưa nói “danh”, người đời nay nói “sự nổi tiếng”. Và vừa qua người ta nói “Đừng cố gắng trở thành người nổi tiếng mà trước hết hãy là người có ích”. Tôi xin tách vế đầu ra để suy nghĩ: “Đừng cố gắng trở thành người nổi tiếng…”. Có vẻ như vế đầu này khiến người đọc bị ấn tượng mạnh mẽ hơn vế câu sau. Thật tội nghiệp cho “sự nổi tiếng”. Làm điều tốt và muốn được nổi tiếng để mọi người biết đến việc tốt của mình, làm theo và nhân rộng việc tốt ấy. Đó là một cách khôn ngoan để khiến tầm ảnh hưởng của việc sống có ích của một cá nhân phủ bóng lên nhiều cá nhân khác. Người ta nói có những người sinh ra đã là người nổi tiếng. Định mệnh cho họ cái mà người khác không có: một giọng hát hay, một trí tuệ siêu việt, một vẻ đẹp hoàn mĩ…. Rồi họ trau chuốt cho tài năng của mình nở rộ để người đời được chiêm ngưỡng nó. Nhưng có những người luôn phải cố gắng bằng mọi cách để được nổi tiếng. Người ta cứ nhìn vào những “ác mộng” ngày nay để chỉ trích: những thảm họa âm nhạc, những vụ tự tử, những vụ giết người, những kẻ điên loạn… và sau tất cả lại nói trong sung sướng: “tôi không biết mình đã làm gì nhưng tôi sẽ được lên báo và nổi tiếng”. Sự điên cuồng muốn khẳng định cái “tôi” khiến chúng ta trở nên sợ sự nổi tiếng. Nó như ma túy gây ra nhiêu thảm họa cho những kẻ cố gắng bằng mọi giá để tên mình được nhiều người biết đến. Nhưng xin đừng thấy vậy mà xa lánh sự nổi tiếng. Ấy chính là động lực. Cố gắng trở thành người nổi tiếng là giấc mơ trần tục nhất mà con người muốn có. Được nhiều người biết đến mình, được đưa cái “tôi” đạt đến tuyệt đích. Được phô bày những tài năng, phẩm hạnh của mình cho thế hệ sau. Giấc mơ ấy khiến người ta không còn muốn giam giữ mình sống lặng lẽ để rồi ra đi lặng lẽ. Người đời cứ gán cho mình những mục đích cao cả mà quên đi mục đích con người nhất. Một người anh hùng xông pha giữa sa trường, đó là vì: phá cường địch, báo hoàng ân. Nhưng đâu phải người anh hùng ấy không nghĩ đến bốn chữ: lưu danh thiên cổ. Tôi thiết nghĩ muốn được nổi tiếng không xấu. Michael Jackson ra đi trong sự xót thương của cả thế giới. Đừng nói với tôi con người ấy không cố gắng để được nổi tiếng. Anh ấy có tài năng mà định mệnh lựa chọn. Nhưng đó chỉ là nền tảng. Sự nổi tiếng của Michael Jackson là cả một cuộc đời cố gắng, theo đuổi và khẳng định mình. Nhắc đến Ngô Bảo Châu, đừng nói với tôi giáo sư sáng tạo ra công trình toán học ấy chỉ vì niềm đam mê, chỉ muốn mang ích lợi đến cho cộng đồng. Không. Giáo sư cũng nghĩ đến sự nổi tiếng. Đó không phải mục đích chính. Nhưng chính suy nghĩ rằng mình sẽ được cả thế giới biết đến cũng góp phần thôi thúc một con người vốn làm bạn với phòng nghiên cứu làm nên được những điều kì diệu. Chúng tôi thích cả gỗ cả nước sơn. Chúng tôi thích cả cái tốt và cái xấu. Và bây giờ chúng tôi cần cả sự có ích và sự nổi tiếng. Bởi một đẳng thức sẽ tốt hơn một bất phương trình khó giải. Sống có ích thật tuyệt vời. Con người phải sống và làm cho cuộc sống của mình có ích. Nhưng đôi khi chúng ta cần sống có ích để làm nền tảng cho một sự nổi tiếng. Tôi có nghe câu chuyện về những người hiến thận giúp người, về những người quyên góp tiền ủng hộ bao hoàn cảnh khó khăn. Khi phỏng vấn họ chúng ta muốn có được câu trả lời rằng họ làm vậy vì giúp người, vì tình thương. Nhưng nếu có ai nói: tôi cứu người vì muốn được nổi tiếng, thì cũng đừng vội lên án họ. Đó lại là câu trả lời rất thành thực. Làm điều tốt và muốn được nổi tiếng để mọi người biết đến việc tốt của mình, làm theo và nhân rộng việc tốt ấy. Đó là một cách khôn ngoan để khiến tầm ảnh hưởng của việc sống có ích của một cá nhân phủ bóng lên nhiều cá nhân khác. Xin mạn phép sửa lại câu nói trong đề thi văn năm nay: “Hãy trở thành người nổi tiếng, nhưng trước tiên hãy là người có ích”. Người ngày xưa thích bất phương trinh, thích sự lựa chọn. Nhưng người của ngày nay không muốn lựa chọn nhiều. Chúng tôi thích cả gỗ cả nước sơn. Chúng tôi thích cả cái tốt và cái xấu. Và bây giờ chúng tôi cần cả sự có ích và sự nổi tiếng. Bởi một đẳng thức sẽ tốt hơn một bất phương trình khó giải. Đến bây giờ thì tôi nghĩ sự nổi tiếng nếu là một bông hoa hồng thì nó thích mọc trong vuờn hơn. Ai cũng cố trồng một bông hoa hồng trong vườn nhà mình. Có những người trồng được, có những người không. Nhưng có một điều chắc chắn rằng: bạn sẽ trở thành người làm vườn xuất sắc nếu như trong “công cuộc” trồng hồng ấy, bạn còn khiến cho mọi loài hoa khác trong mảnh đất của mình đâm nụ và nở hoa rực rỡ. Dẫu rằng hoa hồng không nở, tôi vẫn sẽ có hàng ngàn những nụ hoa xinh xắn rồi đây sẽ đơm hương cho cuộc đời của tôi.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Từ dự án khoa học và công nghệ đến xuất khẩu xe bus cao cấp mang thương hiệu Việt

Từ dự án khoa học và công nghệ đến xuất khẩu xe bus cao cấp mang thương hiệu Việt

Ngày 28/12/2019, tại cảng Chu Lai, Công ty Cổ phần ô tô Trường Hải (Thaco) đã tổ chức lễ bàn giao 15 xe bus Thaco thương hiệu Việt Nam đầu tiên xuất khẩu sang Philippines và các lô linh kiện, phụ tùng ô tô sang Hàn Quốc, Nhật Bản. Đóng góp vào thành công này có dấu ấn rõ nét của dự án khoa học và công nghệ (KH&CN) cấp quốc gia “Nghiên cứu thiết kế, chế tạo xe khách giường nằm cao cấp mang thương hiệu Việt Nam”. Ngoài hiệu quả về KH&CN, kinh tế, xã hội, dự án đã tạo hiệu ứng lan tỏa cho nhiều nhà máy trong Khu công nghiệp cơ khí ô tô Thaco Chu Lai, góp phần ghi tên Khu công nghiệp này vào bản đồ sản xuất, lắp ráp ô tô của các thương hiệu nổi tiếng trên thế giới, trở thành trung tâm liên kết công nghiệp ô tô tập trung quy mô lớn nhất cả nước, thuộc Top đầu khu vực Đông Nam Á.
Xem thêm

Đọc thêm

Nghị luận “Chỉ có vài Đại học thì cuộc đời mới có tương lai”

NGHỊ LUẬN “CHỈ CÓ VÀI ĐẠI HỌC THÌ CUỘC ĐỜI MỚI CÓ TƯƠNG LAI”

I. MỞ BÀI : - Dân tộc Việt Nam có truyền thống hiếu học từ lâu đời. - Xã hội trân trọng và tôn vinh những người học cao hiểu rộng, dành cho họ những chức danh đẹp đẽ, coi họ là “hiền tài”, là “nguyên khí quốc gia”. - Trước ngưỡng cửa cuộc đời, xu hướng chung của thế hệ trẻ ngày nay là lựa chọn cho mình con đường vào “Đại học”. Nhiều người cho rằng : “Chỉ có vào Đại học thì cuộc đời mới có tương lai”. - Tuy vậy, không phải ai cũng nhất thiết phải vào “Đại học” thì mới thành danh, thành tài, thành công trong sự nghiệp. II. THÂN BÀI : 1. Tầm quan trọng của bậc Đại học : - Khoảng 800 năm trước, ở Việt Nam đã có trường Đại học đầu tiên là Văn Miếu Quốc Tử Giám đặt tại kinh thành Thăng Long, là nơi đào tạo ra các bậc hiền tài nổi tiếng, có nhiều đóng góp lớn lao cho sự nghiệp dựng nước và giữ nước. (Dẫn chứng). - Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta rất coi trọng việc phát triển bậc Đại học. Mấy chục trường Đại học đã đào tạo, cung cấp hàng triệu kĩ sư, kiến trúc sư, bác sĩ, giáo viên, các nhà khoa học, sĩ quan cao cấp... đóng góp đáng kể vào thắng lợi rực rỡ của hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. - Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước tiến lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vai trò của trường Đại học lại càng quan trọng vì đó là nguồn cung cấp lực lượng cán bộ, chuyên gia nòng cốt trong các lĩnh vực. 2. Thế nào là cuộc sống có tương lai ?. - Ai cũng muốn cuộc sống của mình sẽ có một tương lai rạng rỡ. Đó là có việc làm ổn định, phù hợp với sở thích và sở trường, có thu nhập cao, có điều kiện phát huy năng lực sáng tạo, cống hiến được nhiều cho xã hội; có cơ hội thăng tiến trong sự nghiệp riêng và chung. - Đó là nền tảng để bản thân có thể phấn đấu trở thành nhà lãnh đạo kiệt xuất, nhà quản lí tài năng hoặc nhà khoa học nổi tiếng... 3. Ngoài bậc Đại học, mọi người vẫn có thể thực hiện ước mơ tạo dựng tương lai của bản thân bằng những con đường khác nhau. - Nhu cầu của cuộc sống phát triển ngày càng cao, đòi hỏi xã hội phải có một đội ngũ lao động đông đảo, đa nghề, đa trình độ. (Dẫn chứng). - Các nhóm làm việc gồm nhiều người với nhiều trình độ nhưng nếu hòa hợp, ăn ý sẽ bảo đảm chất lượng và hiệu quả cao trong công việc. - Mỗi cá nhân có thể thực hiện ước mơ vào Đại học bằng nhiều con đường khác nhau (qua trung cấp, cao đẳng, lên Đại học), nếu hoàn cảnh không cho phép vào ngay Đại học chính quy. - Không phải ai tốt nghiệp Đại học cũng có tương lai rực rỡ. Vấn đề tự học là vô cùng quan trọng, quyết định sự thành bại trong sự nghiệp của mỗi người. Ngoài việc học ở trường, chúng ta còn phải không ngừng học hỏi trong cuộc sống, hay còn gọi là trường đời. III. KẾT BÀI : - Trong xã hội có rất nhiều nghề. Người xưa đã dạy : “Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”. - Mỗi người cần kiên trì tự học để nắm vững chuyên môn ngành nghề của mình. Nếu có quyết tâm và nghị lực vươn lên thì nhất định tương lai của bản thân sẽ tươi sáng và cuộc sống sẽ ấm no, hạnh phúc.
Xem thêm

2 Đọc thêm

CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA TRUNG QUỐC VỀ VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG

CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA TRUNG QUỐC VỀ VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG

LỜI NÓI ĐẦUTrong thời đại toàn cầu hóa, tất cả các quốc gia đều phải cạnh tranh với nhau nhằm thu hút sự chú ý, lòng kính trọng, và lòng tin của các nhà đầu tư, người du lịch, người tiêu dùng, các nhà tài trợ, người nhập cư, giới truyền thông và chính phủ các nước. Chính vì vậy xây dựng thương hiệu quốc gia là một việc quan trọng và cần thiết để tạo lợi thế cạnh tranh cho quốc gia trong quá trình thu hút đầu tư, khách du lịch, kích thích xuất khẩu, thu hút nhân tài... tạo động lực mạnh mẽ để phát triển kinh tế của đất nước.Tuy các nhà khoa học, doanh nghiệp, lãnh đạo ngày càng nhận ra những vai trò và lợi ích của công tác xây dựng thương hiệu quốc gia, nhưng cho đến nay, Việt Nam vẫn còn gặp nhiều lúng túng trong việc định hình hình ảnh Việt Nam năng động, thân thiện, cởi mở đến bạn bè quốc tế. Xây dựng thương hiệu quốc gia là một công tác đòi hỏi phải có sự chung tay của toàn xã hội, mà trong đó nhà nước đóng vai trò chỉ đạo tổng thể, vạch ra những phương hướng đúng đắn và hiệu quả.Trong giới hạn một tiểu luận, người viết chỉ xin trình bày những nhận thức chung nhất về một số vấn đề trong công tác xây dựng thương hiệu và xây dựng thương hiệu quốc gia. Bên cạnh những nhận thức về lý thuyết, tiểu luận cũng trình bày những liên hệ với công tác xây dựng thương hiệu quốc gia Việt Nam.
Xem thêm

15 Đọc thêm

Triết lý cải cách của nguyễn trường tộ và ý nghĩa của nó dối với sự nghiệp đổi mới ở việt nam tiểu luận cao học

Triết lý cải cách của nguyễn trường tộ và ý nghĩa của nó dối với sự nghiệp đổi mới ở việt nam tiểu luận cao học

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Các tư tưởng cải cách trong lịch sử dân tộc đều có những giá trị thời đại nhất định và do đó, có mối liên hệ biện chứng với sự phát triển của Việt Nam hiện nay. Công cuộc đổi mới đất nước đã đi được chặng đường 25 năm. Rất nhiều thành tựu về kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục đạt được sau khoảng thời gian này đã khẳng định tính đúng đắn của sự nghiệp đổi mới đất nước. Tuy nhiên, nhiều vấn đề bất cập cũng đã xuất hiện và bộc lộ ngày càng rõ nét, gây cản trở quá trình phát triển đất nước theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Thực tiễn ấy đòi hỏi các nhà lý luận cần có những nghiên cứu tổng kết, đánh giá khách quan nhằm, một mặt, khắc phục, điều chỉnh những bất cập nảy sinh trong quá trình tiến hành công cuộc đổi mới; mặt khác, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện triết lý phát triển của Việt Nam trong thời đại mới. Trong quá trình xây dựng triết lý phát triển hiện nay ở nước ta, việc nghiên cứu các giá trị tư tưởng cải cách trong lịch sử dân tộc, xem xét những kết quả và bài học kinh nghiệm từ quá khứ nhằm tìm ra những hạt nhân hợp lý là một điều không thể bỏ qua, bởi giữa truyền thống và hiện đại luôn có mối quan hệ biện chứng với nhau. Trong các tư tưởng cải cách đó, rất đáng kể là tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ. Từ khi nhà tư tưởng cải cách xuất sắc Nguyễn Trường Tộ qua đời cho đến nay đã trải qua 140 năm. Đó là một thời gian đủ dài để có thể đưa ra một sự đánh giá đầy đủ và khách quan về tư tưởng cải cách của ông, cũng như giá trị của nó đối với tiến trình lịch sử. Toàn bộ các đề nghị cải cách của Nguyễn Trường Tộ đã thể hiện bốn phương diện đổi mới cơ bản trong tư duy, đó là tư duy chính trị mới, tư duy ngoại giao mới, tư duy kinh tế mới và tư duy văn hóa giáo dục mới. Không những thế, Nguyễn Trường Tộ còn đóng góp nhiều phương pháp mới trong việc tiếp cận và nghiên cứu khoa học, đặc biệt là triết học. Nguyễn Trường Tộ không chỉ là một nhà cải cách nổi tiếng, một người Công giáo yêu nước tha thiết, mà còn là một nhà tư tưởng lớn của Việt Nam trong thế kỷ XIX. Mặc dù bị hạn chế bởi thế giới quan duy tâm tôn giáo, nhưng Nguyễn Trường Tộ đã có những tư tưởng triết học đặc sắc về nhân sinh, xã hội… so với các nhà tư tưởng Việt Nam cùng thời. Bên cạnh đó, ông còn đưa ra không ít những kiến nghị trong nhiều lĩnh vực, từ khoa học tự nhiên đến khoa học xã hội, quốc phòng, ngoại giao… Đã có nhiều nghiên cứu về Nguyễn Trường Tộ và khẳng định ông là người có tư duy vượt thời đại, đồng thời là một người công giáo yêu nước. Sở dĩ như vậy là vì, có những điều ông viết cách đây đã hơn 150 năm mà đến nay vẫn còn đậm tính thời sự, như chống tham nhũng, buôn lậu, mở cửa đầu tư với nước ngoài, về việc cải cách giáo dục… Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình là “Triết lý cải cách của Nguyễn Trường Tộ và ý nghĩa của nó dối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam’’.
Xem thêm

Đọc thêm

TỔNG HỢP CÁC BÁO CÁO KHOA HỌC NỔI TIẾNG

TỔNG HỢP CÁC BÁO CÁO KHOA HỌC NỔI TIẾNG

[2] Gershiwin M. E., Belay A. (2008), Spirulina in Human Nutrition and Heath, CRC press.[3] Jourdan J. P. (2001), Grow your own Spirulina, Antenna Technology.[4] Larsdotter K. (2006), Wastewater treatment with microalgae - a literature review, Vatten 62:31–38, Lund.[5] Lavens P., P. Sorgeloos (Eds) (1996), Manual on the production and use of live food foraquaculture, FAO Fisheries Technical Paper No. 361, Rome, FAO.[6] Lê Hoàng Việt, Nguyễn Võ Châu Ngân (2014), Giáo trình Kỹ thuật Xử lý Nước thải, NXB Đạihọc Cần Thơ.[7] Moraine R., Shelef G., Meydan A., Levi A. (1979), Algal single cell protein from wastewatertreatment and renovation process, Biotechnol. Bioeng. 21(7) 1191–1207.[8] Ngân hàng Thế giới (2013), Đánh giá hoạt động quản lý nước thải đô thị tại Việt Nam.[9] Nguyen Thi Huynh Nhu, Nguyen Huu Hiep (2013), The effect of pH, dark light cycle and lightcolour on the Chlorophyll and carotenoid production of Spirlina sp., The 5th Internationalconference on Fermentation technology for value added agricultural products, p. 386–392.[10] Oswald W. J., Harold F. Gotaas (1955), Photosynthesis in sewage treatment, Trans. Am. Soc.Civil Engineers.[11] Trương Quốc Phú (2004), Quản lý chất lượng trong ao nuôi cá nước ngọt, NXB Đại học Cần Thơ.[12] Zarrouk C. (1966), Contribution à l’étude d’une cyanophycee: influence de divers facteursphysiques et chimiques sur la crooissance et la photosynthese de Spirulina maxima (setch. EtGardner) Geitler, PhD. thesis, University of Paris, France. Ngày nhận bài: 15/8/2016 Chấp nhận đăng: 29/9/2016Liên hệ:Nguyễn Võ Châu NgânTrường Đại học Cần ThơEmail: nvcngan@ctu.edu.vn43
Xem thêm

Đọc thêm

Vận dụng nguyên lý về sự phát triển của triết học Mác Lênin trong dạy học môn Chính trị phần triết học tại Trường Cao đẳng nghề Giao thông Vận tải Trung Ương II Thành phố Hải Phòng

VẬN DỤNG NGUYÊN LÝ VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN TRONG DẠY HỌC MÔN CHÍNH TRỊ PHẦN TRIẾT HỌC TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ GIAO THÔNG VẬN TẢI TRUNG ƯƠNG II THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

2. Lịch sử nghiên cứu đề tài Nguyên lý về sự phát triển không phải là một đề tài mới lạ, ngược lại đã có rất nhiều công trình nghiên cứu của các nhà triết học, những học giả nổi tiếng có tâm huyết với triết học. Có thể điểm qua một vài công trình nghiên cứu như sau: Giáo trình triết học Mác Lênin Nxb, Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006; Lịch sử phép biện chứng (6 tập) Nxb, Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002; Triết lý phát triển ở Việt Nam Phạm Xuân Mai, Nxb, Khoa học xã hội, Hà Nội 2005; Vấn đề vận dụng nguyên lý về sự phát triển của triết học Mác Lênin trong quá trình dạy học thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài viết của nhiều tác giả được công bố trên sách, báo và các tạp chí như: Tập “Đề cương bài giảng triết học cho cao học và nghiên cứu sinh trường Đại học sư phạm Hà Nội – bài lý luận hình thái kinh tế xã hội” của Thầy giáo, Phó Giáo sư, Tiễn sĩ Nguyễn Văn Cư, Chủ tịch hội đồng nghiên cứu khoa học, chủ nhiệm khoa Giáo Dục chính trị, Trường Đại học sư phạm Hà Nội, 2008. Cuốn Phương pháp dạy học môn Giáo dục công dân ở trường Trung học phổ thông, Nxb Đại học Đại học sư phạm, 2008 của tác giả thầy giáo Đinh Văn Đức giảng viên khoa Giáo dục Chính trị, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Cuốn “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dạy và học môn học Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh trong trường Đại học”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004 của tác giả Nguyễn Duy Bắc. Tác giả Trần Văn Phòng, “Đổi mới phương pháp học tập lý luận chính trị theo tư tưởng Hồ Chí Minh”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 7, 2006. Tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn, “Một số vấn đề về triết học con người xã hội”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002. Thầy giáo Phùng Văn Bộ (Chủ biên), “Một số vấn đề về phương pháp giảng dạy và nghiên cứu triết học”, Nxb Giáo dục.
Xem thêm

118 Đọc thêm

Tuyển tập 2300 câu hỏi trí tuệ luyện thi gameshows IQ 2014

TUYỂN TẬP 2300 CÂU HỎI TRÍ TUỆ LUYỆN THI GAMESHOWS IQ 2014

Câu 1. Người phụ nữ có nụ cười nổi tiếng nhất Việt Nam và có câu nói nổi tiếng trước Tòa án chính quyền Sài Gòn “Tôi sợ chính quyền các ông không đủ thời gian tồn tại để thi hành án của tôi’’ là ai ? Câu 2. Ai là nữ anh hùng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam ? Câu 3. Ai là nữ tướng Việt Nam duy nhất trong thế kỷ 20 ? Câu 4. Người phụ nữ biên soạn cuốn từ điển Hán Nôm cổ nhất Việt Nam cuốn từ điển Hán Nôm “Ngọc âm chí Nam giải nghĩa” ở thế kỷ 16 là ai ? Câu 5. Người phụ nữ nào sáng tác nhiều bài thơ Nôm nhất và được Xuân Diệu ví là “Bà chúa Thơ Nôm”? Câu 6. Người phụ nữ Việt Nam đầu tiên được tặng danh hiệu Viện sỹ thông tấn của Hàn Lâm Viện văn chương khoa học và nghệ thuật toàn châu Âu là nhà điêu khắc nào ? Câu 7. Người mẹ Việt Nam nào ở tỉnh Quảng Nam là bà mẹ anh hùng chịu đựng nỗi đau lớn nhất trong hai cuộc kháng chiến khi cả 9 người con trai đều hy sinh ? Câu 8. Năm 40, nữ vương nào đã cùng em gái lãnh đạo nhân dân chống lại sự xâm lược của nhà Hán ? Câu 9. Ai là Bộ trưởng Bộ ngoại giao Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ký kết tại Hiệp định Paris năm 1973? Câu 10. Bí thư thành ủy trẻ tuổi nhất Việt Nam, phu nhân của đồng chí Lê Hồng Phong, bị giặc bắt và xử bắn trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ ? Câu 11. Trung tâm huấn luyện thể dục thể thao quốc gia 4 nằm ở thành phố nào ?
Xem thêm

396 Đọc thêm

TIỂU LUẬN CAO HỌC MÔN LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA NGUYỄN TRÃI

TIỂU LUẬN CAO HỌC MÔN LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA NGUYỄN TRÃI

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Thế giới đã biết đến các nhà lãnh đạo quân sự tài ba của Việt Nam. Một số trong họ đã được ghi vào bộ sử biên niên các nhà quân sự nổi tiếng thế giới như Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Huệ, Võ Nguyên Giáp… Không chỉ đánh giặc giỏi mà người Việt Nam còn đóng góp cho nhân loại nhiều nhà tư tưởng, nhiều nhà văn hoá lớn tầm cỡ thế giới. Và không phải ngẫu nhiên mà UNESCO, khi liệt kê các nhà văn hoá lớn của thế giới, đã phải dành chỗ để ghi tên tuổi của các nhà tư tưởng lớn của Việt Nam như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Chí Minh. Lịch sử dân tộc ta thật là vĩ đại, cho nên việc “…tiếp tục khai thác, nghiên cứu sâu hơn, tổng kết khoa học hơn di sản tư tưởng, trước hết là tư tưởng triết học của ông cha ta, chỉ ra cho được những giá trị lâu bền trong di sản đó, cố gắng tìm trong đó bản sắc, những khía cạnh độc đáo cần kế thừâ và phát triển, giải thích cho được cái làm nên bản sắc dân tộc đó.. Mặt khác, cũng chính việc tổng kết di sản này, rút ra những bài học, những kinh nghiệm của quá khứ sẽ góp phần không nhỏ cho công cuộc xây dựng và phát triển mọi mặt đất nước hiện nay và sắp tới”. Tư tưởng của Nguyễn Trãi là một trong những đóng góp lớn cho di sản vĩ đại đó, đáng để cho chúng ta khai thác, nghiên cứu. Giới lý luận và những người quan tâm đến chính trị thế giới đã từng biết đến một khái niệm dân tộc nổi tiếng mang tính phổ quát, lần đầu tiên đợc Stalin ra trong tác phẩm “Chủ nghĩa Mác và vấn đề dân tộc”, song điều mà các học giả thế giới ít biến đến là, người đầu tiên trong lịch sử thế giới cố gắng tìm kiếm và đã đưa ra được một ý nghĩa dân tộc “tương đối có hệ thống và toàn diện” lại là một người Việt Nam. Đó chính là Nguyễn Trãi, nhà văn hoá lớn đã được thế giới công nhận và xếp hạng. Trong tập kỷ yếu “Kỷ niệm 600 năm sinh Nguyễn Trãi”, nhiều tác giả đã chỉ ra rằng Nguyễn Trãi là nhà quân sự, chính trị, ngoại giao… nhà văn hoá lớn. Cống hiến của Nguyễn TRãi đã được một số tác giả nói tới. Chẳng hạn, theo Giáo sư Nguyễn Tài Thu, Nguyễn Trãi “đã đề cập tới các yếu tố hình thành phát triển mà khoa học chính trị của thế kỉ XX này ít nhiều phải nhắc tới”. Theo Giáo sư Trần Văn Giàu, “dân tộc có gần 5 thế kỷ độc lập lâu dài từ thời Ngô Quyền năm 938 đến đầu thế kỷ XIV. Chính là 5 thế kỷ này, dân tộc Việt Nam (theo ý nghĩa khoa học tiến bộ nhất của k hái niệm dân tộc) được hình thành chỉ còn đợi điều kiện để hoàn chỉnh. Đó là sự tham gia tích cực, bền bỉ cuả quảng đại nhân dân vào việc cứu nước và dựng nước. Điều kiện đó đã xuất hiện với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Lãnh thổ chung, văn hoá chung, tập quán, nhất là lịch sử đấu tranh dựng nwocs và giữ nước, đủ làm ra thứ keo sơn kết thành một dân tộc, một quốc gia dân tộc bền vững ngay trong thời Trung đại phong kiến mà không phải chờ đến chủ nghĩa tư bản phát triển tạo thành một thị trường chung. Có đủ điều kiện cho sự hình thành dân tộc song ý thức một cách rõ rệt nhất, đầy đủ nhất về sự hình thành đó là cống hiến tinh thần của Nguyễn Trãi, người có trình độ văn hoá, có ý thức quốc học lớn.. Như vậy, các tác giả Việt Nam đã đề cập ít nhiều đến đóng góp về k hái niệm dân tộc của Nguyễn Trãi, song đáng tiếc là chưa có những bài chuyên sâu về vấn đề này. Bài viết nhỏ này không có tham vọng làm điều đó, mà chỉ dừng lại ở việc so sánh, đối chiếu quan niệm về dân tộc của Nguyễn Trãi với các khái niệm về dân tộc có trước và sau Nguyễn Trãi để thấy được sự cống hiến của ông về vấn đề này, một sự đóng góp mang tầm cỡ thế giới, ở thế kỷ XV, mà thế giới ít biết đến.
Xem thêm

38 Đọc thêm

hoạt động học tập và giao tiếp tiếng anh của sinh viên năm tư trường Đại học ngoại ngữ

HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP VÀ GIAO TIẾP TIẾNG ANH CỦA SINH VIÊN NĂM TƯ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ

1.1.1VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU KHÍ CHẤT (KC)Học thuyết về KC đã xuất hiện từ lâu và có một lịch sử phức tạp. KC có nguồn gốc từ những quan niệm thời cổ đại. Vào thời kỳ này người ta đã miêu tả bốn loại KC. Đây là cách tiếp cận thuần túy sinh học. Trong lịch sử, người ta đã ghi lại tên tuổi của Hypocrat một bác sĩ người Hi Lạp(460356 TCN) là người đầu tiên phát hiện ra các loại khí chất ở con người. Theo ông thì trong cơ thể người có 4 chất lỏng: máu, chất nhờn, mật vàng, mật đen. Và tùy thuộc vào tỉ lệ và mối quan hệ của các chất dịch này mà con người có những hành vi khác nhau. Sau đó, Galen (130250) bác sĩ người La Mã đã hoàn thiện học thuyết của Hypocrat qua việc phân chia khí chất thành 4 kiểu cơ bản dựa vào các chất dịch chiếm ưu thế: Kiểu Xănghanh (kiểu linh hoạt); Kiểu Phlêmatic (kiểu trầm); Kiểu Côlêric(kiểu nóng); Kiểu Mêlangcôlic (kiểu ưu tư).Khoa học phát triển đã gạt bỏ ý kiến cho rằng KC phụ thuộc vào quan hệ và tỉ lệ các chất dịch trong cơ thể. Tuy nhiên cách chia bốn kiểu KC trên khá chính xác về mặt tâm lí nên vẫn còn giữ nguyên giá trị cho đến ngày nay. Và cho đến hiện nay thì thuyết thần kinh học của Páplốp đã cho ta một cái nhìn khoa học về KC.1.1.2VÀI NÉT LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU TIỀM NĂNG SÁNG TẠO (TNST)Thuật ngữ khoa học về sáng tạo (Heuristics, Creatology hay Ars inveniendi), lần đầu tiên xuất hiện trong những công trình của nhà toán học Papp, sống vào nửa cuối thế kỷ thứ III tại Alexandri Hy Lạp. Sau đó các nhà toán học và triết học nổi tiếng như Descartes, Leibnitz, Bernard Bolzano... đã có nhiều cố gắng thành lập hệ thống khoa học nghiên cứu về khả năng sáng tạo của con người. Hiện nay, một số nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam, đã tổ chức giảng dạy môn học ứng dụng vấn đề này, hoặc tổ chức kinh doanh ý tưởng sáng tạo.Trong đó, lịch sử vấn đề nghiên cứu TNST trên thế giới: TNST là một khái niệm còn khá mới mẻ. Những nghiên cứu về TNST đến thế kỉ XX mới thực sự rõ nét. J.P.Guiford là người đầu tiên nói về đặc điểm của nhân cách sáng tạo và biểu đạt nó thành mô hình. Sau đó có thể kể đến các tác giả nổi bật nghiên cứu vấn đề này như Lewis Teriman (1954), Nhà tâm lí học Đức Pigpig (1988), K.K.Urban (1995), Carl Roger (2009), Viện nhân cách thuộc Đại học Tổng hợp California. Các tác giả này đã đưa ra định nghĩa hoặc quan niệm cơ bản về tiềm năng (năng lực sáng tạo: NLST). Như vậy, có thể nói, khái niệm NLST đã khá phổ biến trên thế giới. Tại Việt Nam: khái niệm này cũng còn khá mới mẻ. Tuy nhiên, cũng đã có nhiều tác giả đề cập về vấn đề này và đưa ra những nhận định của họ. Trong đó, có thể kể đến Nguyễn Huy Tú nhà nghiên cứu chuyên bàn về vấn đề sáng tạo hay tác giả Đức Huy (2005). Bên cạnh đó, còn có một số đề tài nghiên cứu về NLST như luận văn ThS Lương Thị Thanh Hải (2008) “Nghiên cứu năng lực sáng tạo của sinh viên mỹ thuật Trường Đại Học Sư phạm Nghệ thuật Trung Ương”. Luận văn ThS.Tâm lí học Mã Ngọc Thể (2010) “Tính sáng tạo của học sinh tiểu học trong môn mĩ thuật”. Đề tài nghiên cứu khoa học Nguyễn Công Khanh “ Nghiên cứu chỉ số sáng tạo của sinh viên ĐHQGHN”.
Xem thêm

116 Đọc thêm

TÌM HIỂU MỘT SỐ TÀI NGUYÊN DU LỊCH NỔI TIẾNG VIỆT NAM.

TÌM HIỂU MỘT SỐ TÀI NGUYÊN DU LỊCH NỔI TIẾNG VIỆT NAM.

TÌM HIỂU MỘT SỐ TÀI NGUYÊN DU LỊCH NỔI TIẾNG VIỆT NAM. Học sinh có những hiểu biết cụ thể, chi tiết về một số tài nguyên du lịch nổi tiếng của đất nước mình, tự hào về quê hương, đất nước và con người Việt Nam, biết giữ gìn, bảo vệ và phát huy những giá trị của tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn trong xu thế hội nhập khu vực và thế giới.Học sinh có thêm những kỹ năng thu thập thông tin qua các tài liệu, tranh ảnh, video clip...

27 Đọc thêm

Nghiên cứu hiện trạng tài nguyên và các mặt giá trị của hệ thực vật bản địa vùng cát ven biển quảng bình

NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG TÀI NGUYÊN VÀ CÁC MẶT GIÁ TRỊ CỦA HỆ THỰC VẬT BẢN ĐỊA VÙNG CÁT VEN BIỂN QUẢNG BÌNH

Hiện trạng của hệ thực vật bản địa và các giá trị mà chúng mang lại nhằm đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng hệ thống rừng phòng hộ, góp phần phát triển kinh tế xã hội và bảo tồn đa dạng sinh học tại khu vực vùng cát ven biển Quảng Bình. Kết quả nghiên cứu bổ sung dữ liệu khoa học cho hệ thực vật vùng cát ven biển miền Trung Việt Nam, là cơ sở khoa học để đề xuất những biện pháp tác động phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả phòng hộ của hệ thực vật trên địa bàn vùng cát ven biển Quảng Bình. Đề tài là cơ sở luận chứng khoa học giúp cho các nhà quản lý, nhà lập chính sách có căn cứ trong việc hoạch định chính sách, kế hoạch hành động, giải pháp quản lý hữu hiệu tài nguyên rừng vùng cát ven biển, ứng phó với biến đổi khí hậu ở miền Trung nói chung và tỉnh Quảng Bình nói riêng.
Xem thêm

117 Đọc thêm

Cùng chủ đề