TRÌNH CON KHI ĐÈN LÀM VIỆC Ở CHẾ ĐỘ BÌNH THƯỜNG SBR 0

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "TRÌNH CON KHI ĐÈN LÀM VIỆC Ở CHẾ ĐỘ BÌNH THƯỜNG SBR 0":

Kinh nghiệm bầu 7 tháng tăng 7kg của BTV xinh đẹp

KINH NGHIỆM BẦU 7 THÁNG TĂNG 7KG CỦA BTV XINH ĐẸP

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Chị Phạm Thị Huyền, 29 tuổi, đang sinh sống ở quận 7, thành phố Hồ Chí Minh, hiện tại đang mang bầu tuần thứ 29 thai kỳ. Là một biên tập viên của trang tin dành cho mẹ và bé nên bà mẹ 8x này đã học hỏi được rất nhiều kinh nghiệm quý báu để áp dụng cho thai kỳ đầu tiên của mình. Chị cho biết, hiện tại đã mang thai đến cuối tháng thứ 7 nhưng chị mới tăng 7kg. Dù vậy lần nào đi khám thai chị cũng được các bác sĩ khen là con đang phát triển rất tốt. Có được thành tích này là nhờ ngay từ đầu thai kỳ chị đã có chế độ ăn uống khoa học để tránh tăng cân quá nhiều mà con vẫn đủ chất. Cùng lắng nghe những chia sẻ rất hữu ích của mẹ bầu xinh đẹp này về chế độ ăn uống trong thai kỳ cũng như những kế hoạch cho việc giảm cân, giảm eo sau sinh nở.   Chị Huyền hiện đang mang thai tháng thứ 7.   Hai vợ chồng chị dự định sẽ đặt tên con ở nhà là Bắp. Bầu 7 tháng tăng 7kg nhờ "không ăn cho hai người" Chào chị, anh chị cưới nhau sau bao lâu thì quyết định có con? Tính tới thời điểm này, chúng mình chính thức cưới nhau được 1 năm. Cưới xong thì quyết định có con luôn vì công việc hai vợ chồng cũng ổn định và cũng khá lớn tuổi rồi. Đồng thời hai bên gia đình cũng hối thúc quá. Trước khi cưới, nội ngoại hai bên còn hối cưới để sinh con, để các bà trông cháu giùm. Lần đầu tiêu nhìn thấy que thử thai hiện lên 2 vạch, cảm xúc của chị thế nào? Tháng nào trễ chu kì một ngày thôi hoặc có cảm giác lạ lạ là mình thử que liền, nhưng cũng phải đến tháng thứ sáu mới thấy que lên hai vạch. Mà phải thử đến ba que (sáng, trưa, tối) mới có 1 que lên 2 vạch. Nói thật lúc đó tự nhiên run quá trời, vừa vui vừa hồi hộp nhưng đang ở nhà hét lên người ta tưởng bị điên nên chỉ cười cười 1 mình thôi. Hôm đó, chồng mình cũng được nghỉ và vừa nói với vợ là đi cắt tóc tút lại vẻ đẹp trai. Mình nhắn tin báo ngắn gọn cho chồng: "Thông báo. 2 vạch. Xin hết", vừa để chọc vừa để xem ý chồng thế nào. Chờ mãi khồn thấy nhắn tin trả lời hay gọi lại mình bắt đầu cáu, thì thấy chồng chạy xe về chưa kịp cắt tóc hỏi "que đâu? que đâu?" xong lượm ra chụp hình lại. Sau đó chồng còn hí hửng đưa mình đi khám thai ngay.   Chị Huyền có chế độ ăn uống khoa học nên mới chỉ tăng 7kg.   Trong thai kỳ, chị có áp dụng một chế độ ăn uống nào đặc biệt không? Ba tháng đầu thai kì Huyền rất mệt và mất ngủ, cứ làm việc đến khoảng 2 giờ chiều là đầu óc quay cuồng, chóng mặt chỉ muốn nằm một chỗ. Đêm thì không buồn ngủ gì cả, cứ thức suốt. Mình cũng sợ bị sút kí hoặc mệt quá không làm việc được nên ăn uống rất ngoan. Với cả nói thật lúc đó nhìn mặt mũi cứ xanh tái, sợ xấu lắm nên phải ráng ăn vào dù không thấy cái gì ngon cả. Huyền may mắn hơn một số mẹ bầu khác là không bị nghén, không ói.  Khi vừa biết có bầu thì Huyền cũng thay đổi chế độ ăn 1 chút so với bình thường. Những món như trà, cà phê, ốc... thường ngày rất thích đành ngậm ngùi chia tay. Cà phê thì lâu lâu có uống vài muỗng thôi. Với cả mình hạn chế ăn ngoài, cả ba bữa đều tự nấu ở nhà. Huyền cũng chia thời khoá biểu ăn uống cho cả tuần sao cho đủ thịt (heo-bò-gà), cá, trứng, hải sản... Đặc biệt 3 tháng đầu mình ăn nhiều thịt bò, cua và trái cây, rau. Cơm thì mỗi bữa vẫn ăn một chén như bình thường. Bữa xế ăn dặm thường ăn trái cây hoặc uống nước ép. Tối 9-10 giờ Huyền cũng hay thấy đói nên sẽ ăn thêm một ly nước cam hoặc trái cây rồi đi ngủ. Mình không ăn nhiều tinh bột và cũng không uống sữa bầu thay vào đó là sữa tươi và sữa đậu nành. Nhưng thường mình cũng chọn loại không đường và uống vào buổi sáng. Huyền không quan niệm "có bầu là ăn cho 2 người" nên vẫn kiểm soát chế độ ăn uống hợp lý chứ không ăn nhiều nhiều dù mẹ ruột và mẹ chồng mỗi lần gọi điện luôn miệng nhắc cứ ăn nhiều vào cho con lớn. Nhìn chị bầu bí mà vẫn rất thon gọn, chị có bị áp lực tăng cân khi mang bầu không và hiện tại tăng được bao nhiêu cân rồi? Thật ra có bầu nhưng Huyền lại sợ bị tăng kí nhiều quá nên rất hạn chế ăn những thứ dễ mập như đồ ăn nhanh, nước ngọt, chè... Lâu lâu thèm mình cũng chỉ ăn chút xíu thôi. Những thứ dễ mập đó ăn cũng vào mẹ hết chứ không có nhiều chất cho con. Đồ ngọt ăn nhiều thì lại sợ tiểu đường thai kì, rồi con bự quá không sinh thường được. Nói chung Huyền cũng tìm hiểu nhiều nguồn thông tin để có chế độ ăn uống hợp lý. Bên cạnh đó mình cũng thường xuyên vận động. Sáng thức dậy có bật nhạc nhảy nhót chút xíu, chủ yếu lắc qua lắc lại cho người thoải mái. Buổi tối Huyền đi bộ 30 phút. Việc nhà thì minhg vẫn làm bình thường (nấu ăn, rửa chén, giặt đồ, dọn dẹp...), đây cũng là một cách vận động cơ thể cho mẹ bầu. Hôm nào mệt quá thì làm chút xíu, thấy mệt thì nghỉ. Có bầu cũng không nên gắng sức quá sợ ảnh hưởng đến con. Mình cũng mua cân về để kiểm soát cân nặng. 3 tháng đầu bầu do mệt ăn được ít nên mình chỉ tăng 1kg. 4 tháng sau là khoảng thời gian bầu bì thoải mái nhất do không còn mệt, không nghén và cũng chưa nặng nề nên ăn uống tốt, mình tăng thêm 6kg nữa, tổng cộng đến giờ bầu 7 tháng tăng 7kg. Mỗi tháng đi khám bác sĩ đều nói bé phát triền tốt, luôn đạt chuẩn nên mình cũng mừng vì chắc do cơ địa một phần và một phần có chế độ ăn hợp lí.    Mục tiêu: 2 tháng sau sinh về mức cân nặng ban đầu Bầu bí nhưng nhiều mẹ vẫn rất chăm chỉ làm đẹp, còn chị thì sao? Chị có áp dụng phương pháp làm đẹp da tự nhiên hay sử dụng mỹ phẩm trong thai kỳ không? Từ khi có bầu Huyền chuyển sang dùng loại sữa rửa mặt không có chất tẩy nhiều để không làm khô da. Mấy tháng đầu bầu bí, da mặt mình có bị khô và nổi mụn nên mình hạn chế trang điểm, đi làm chỉ chải matcara và thoa chút son cho tươi thôi. Huyền cũng chăm bôi dầu dừa ở bụng để hạn chế rạn da. Chắc cũng tuỳ người nữa nên đến giờ mình cũng chưa bị rạn da hay bị nám gì cả. Da mặt thì sau tam cá nguyệt đầu tiên tự nhiên hết mụn, với do có tăng kí nên da căng hơn và trắng hơn. Nhiều người nói có bầu da đẹp hơn bình thường nên đi làm mình vẫn make up bình thường, không kiêng cữ gì cả. Tuy nhiên, khi make up Huyền có dùng thêm một lớp kem lót chống nắng để tránh bị sạm da. Ngày nào không make up mình vẫn xức kem chống nắng ở mặt và cổ.  Chị đã chuẩn bị được những gì để đón con yêu chào đời? Nói thật là đến giờ Huyền cũng chưa chuẩn bị gì cho bé cả. Bạn bè mình có cho một số đồ dùng sơ sinh như xe đẩy, nôi, quần áo, chăn gối nệm... Sách chăm sóc bé cũng là do các anh chị cũ làm cùng tặng. Hiện tại mỗi tối 10 giờ, vợ chồng mình cho bé nghe nhạc và đọc truyện cổ tích khoảng 15 phút để hi vọng tạo được thói quen ngủ cho bé sau này. Mình cũng mới tìm hiểu thêm về việc mua những thứ cần thiết cho bé như sữa tắm, quần áo sơ sinh, núm vú, bình sữa... nhưng chắc phải gần sinh mới đi mua. Huyền cũng may mắn được làm việc trong môi trường tiếp xúc nhiều kiến thức về thai kì và nuôi dưỡng trẻ cũng như gặp được các chuyên gia, bác sĩ nên cũng không cảm thấy khó khăn dù mới có con đầu lòng.    Hai vợ chồng chị Huyền đang từng ngày mong ngóng con chào đời.   Rất nhiều mẹ đã chuẩn bị sẵn sàng cho chiến dịch làm đẹp, giảm cân sau sinh, còn chị, chị có kế hoạch gì cho riêng mình không? Đây là điều mà ngay lúc có bầu Huyền đã nghĩ đến rồi vì nghe nhiều người nói ai gầy gầy như mình có con sẽ mập ú và không giảm xuống được. Chính vì vậy ngay khi có bầu Huyền đã chú ý đến ăn uống và cân nặng. Mình cũng đã ngâm sẵn rượu gừng nghệ để dùng sau sinh, nghe nói sẽ giúp giảm thâm nám và sáng da. Sợ nhất là vòng hai sau khi sinh không còn được như cũ nên từ bây giờ Huyền đã tự đặt tiêu chí 2 tháng sau sinh trở về cân nặng ban đầu, không biết có phải là lo xa quá không nữa. Mình cũng có làm sẵn muối hột với thảo dược để quấn bụng giảm mỡ sau sinh và chắc chắn sẽ dùng gel quấn bụng. Bên cạnh đó Huyền nghĩ việc giảm cân lấy dáng còn do chế độ ăn uống nữa. Ví dụ theo mình biết thì mọi người hay cho bà đẻ ăn chân giò hầm đu đủ xanh cho có nhiều sữa nhưng món đấy rất dễ làm tăng cân mà thật ra chỉ cần đu đủ xanh hầm hoặc rau lang luộc cũng giúp có sữa rồi. Vì vậy mình sẽ cố gắng ăn uống hợp lí để vừa có sữa cho con mà vừa giúp mẹ giữ dáng tốt nữa.  Cảm ơn chị rất nhiều!
Xem thêm

3 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG MÔN ĐẠI CƯƠNG LASER Y HỌC

ĐỀ CƯƠNG MÔN ĐẠI CƯƠNG LASER Y HỌC

ĐỀ CƯƠNG MÔN ĐẠI CƯƠNG LASER Y HỌC ĐỀ CƯƠNG MÔN ĐẠI CƯƠNG LASER Y HỌC Câu 1 : Trong cuộc sống, chúng ta vẫn thường nghe đến cụm từ laser, vậy ánh sáng laser là gì ? Nó khác gì so với ánh sáng mặt trời, ánh sáng led ( Diot phát quang), ánh sáng con đom đóm . Trả lời : Laser là tên viết tắc của cụm từ Light Amplification By Stimulated Emission Of Radiation và có nghĩa là “ khuếch đại ánh sáng bằng phát xạ kích thích” . Ứng dụng trong chẩn đoán và điều trị có bước sóng nằm trong khoản từ 192nm – 10,6 µm, thuộc vùng tử ngoại, khả kiến và hồng ngoại gần So với ánh sáng mặt trời, ánh sáng led, ánh sáng đom đóm thì ánh sáng của laser ta không thể nào quan sát bằng mắt được. Ánh sáng mặt trời: bức xạ nhiệt Ánh sáng led: diod phat quang Ánh sáng con đom đóm: sinh học Câu 2 : Trình bày cấu tạo chính (có vẽ hình) của 1 máy phát laser ? Trả lời : Cấu tạo của máy phát laser HeNe: 1. Buồng cộng hưởng ( vùng bị kích thích ) 2. Nguồn nuôi ( năng lượng bơm vào vùng bị kích thích ) 3. Gương phản xạ toàn phần 4. Gương bán mạ 5. Tia laser ( nhớ vẽ mũi tên đi ra ). Cấu tạo chính của một máy phát laser bao gồm : Hoạt chất : Đây là môi trường vật chất có khả năng khuếch đại ánh sáng đi qua đó. Cho đến nay có nhiều loại chất khí, rắn, lỏng, bán dẫn…. đã được làm hoạt chất cho máy phát laser. Vd : Hỗn hợp khí CO2, HeN2 Hỗn hợp rắn Al2O3Cr+3 Hỗn hợp bán dẫn GaAlAs Buồng cộng hưởng : Thành phần chủ yếu là hai gương phản xạ, một gương có hệ số phản xạ rất cao cỡ 99,9999% , còn một gương có hệ số phản xạ thấp hơn để tia laser thoát ra ngoài. Bộ phận kích thích : Đây là bộ phận cung cấp năng lượng để tạo được sự nghịch đảo độ tích lũy trong hai mức năng lượng nào đó của hoạt chất và duy trì sự hoạt động của máy phát laser. Câu 3: Nguyên lý máy phát bức xạ Laser? Trả lời: • Cần có môi trường hoạt tính • Dùng phương pháp bơm để cho môi trường đó có mật độ đảo lộn • Cần dùng 1 cơ cấu để khuếch đại bức xạ phát ra cơ cấu này gọi là buồng cộng hưởng. Câu 4: Điều kiện làm việc của máy pháy Laser? Quá trình bức xạ từ mức 2 xuống mức 1:Sóng điện từ chiếu tới môi trường vs tần số f với hf = E1 E2 và trên mức 2 đang đc tích lũy các trạng thái nguyên tử thì sẽ có 1 xác suất dịch chuyển từ mức 2 xuống mức 1. Gọi là dịch chuyển bức xạ cưỡng bức. Quá trình hấp thụ mức 1 lên mức 2 : Nguyên tử ở trạng thái có thể hấp thị năng lượng photon tới có tần số f để chuyển lên trạng thái 2. Nếu N2N1 thì môi trường hoạt chất sẽ ở trạng thái khuếch đại ánh sang và xảy ra quá trình bức xạ . Câu 5 : Tại sao nếu chỉ sử dụng 2 mức năng lượng của môi trường hoạt chất thì không thể tạo ra nghịch đảo độ tích lũy? Vẻ và phân tích sơ đồ hệ nguyên tử làm việc với 3 mức , 4 mức năng lượng? Trả lời : Nếu chỉ sử dụng 2 mức năng lượng của môi trường hoạt chất thì không thể tạo ra nghịch đảo độ tích lũy vì ở trạng thái cân bằng nhiệt động , mức 1 được tích lũy nhiều hơn mức 2 nên sự hấp thụ chiếm ưu thế hơn hơn bức xạ cưỡng bức. Có thể tích lũy mức 2 bằng cách chiếu vào hoạt chất ánh sang tần số hf = E1 – E2 với cường độ đủ lớn. Tuy nhiên, khi mật độ tích lũy 2 mức bằng nhau (N1=N2) tức là quá trình hấp thụ và bức xạ cưỡng bức bù trừ lẫn nhau thì môi trường sẽ trở nên trong suốt. Ta chỉ đạt được sự bão hòa mà không có nghịch đảo độ tích lũy. Như vậy phải sử dụng nhiều hơn 2 mức, thường sử dụng 3 mức hoặc 4 mức. Sơ đồ bơm 3 mức : Trong laser hoạt động theo sơ đồ 3 mức bằng cách nào đó các nguyên tử được chuyển từ mức 1 lên 3.Môi trường được chọn sao cho nguyên tử của nó sau khi được kích thích lên mức 3 sẽ dịch chuyển nhanh về mức 2. Như vậy, có thể tạo được nghịch đảo độ tích lũy giữa mức 1 và 2. Sơ đồ bơm 4 mức: Trong laser hoạt động với 4 mức các nguyên tử được đưa từ mức cơ bản 0 lên mức 3. Nếu sau đó nguyên tử dịch chuyển nhanh về mức 2 thì giữa 2 mức 2 và 1 có thể có nghịch đảo độ tích lũy. Để laser hoạt động theo liên tục theo sơ đồ 4 mức thì các hạt sau khi về mức 1 phải được dịch chuyển rất nhanh về mức 0. Câu 5’ : Nêu và chứng minh các tính chất của chùm laser? Trả lời: Tia laser có tính đơn sắc cao : • Độ đơn sắc của 1 chùm tia đc đặc trưng = độ rộng vạch của chùm. • Độ rộng vạch của chùm = 0 thì chùm có độ đơn sắc cao nhất. Tia laser có tính định hướng cao ( là chùm sáng song song ): • Nguồn sáng nhiệt bức xạ theo mọi hướng trong không gian . • Công suất phát đc phân bố đều và đẳng pha trong toàn bộ khẩu độ của nguồn . • Độ định phương cao cho sự tập trung năng lượng trong 1 góc khối nhỏ và tạo nên cường độ lớn. Tia laser là chùm sáng kết hợp ( các photon trong chùm có cùng tần số và cùng pha): • Một bức xạ laser bất kỳ đều có tính kết hợp biểu đồ thể hiện ở độ đơn sắc ( kết hợp thời gian ) và tính đẳng pha của mặt sóng. • Sóng có tính kết hợp không gian khi bất kỳ thời điểm nào, ánh sáng có pha không đổi trên khắp mặt sóng ( kết hợp không gian). Tia laser có cường độ lớn : • Để hiểu đặc điểm này ta so sánh cường độ bức xạ laser khi công suất phát bình thường vs bức xạ nhiệt . • Với laser HeNe công suất cỡ 1mW= 103W chế độ lien tục và với photon nằm trong miền thấy đc (0,6328m) năng lượng hf= 1019 J thì số photon laser phát ra trong 1s là 1016 photon Câu 6: Vẽ sơ đồ phân loại laser dựa trên hoạt chất laser? Các giá trị bước sóng ứng với từng loại laser? Phân loại laser theo công suất? Nguồn Laser Bước sóng Công suất Laser rắn: Laser Ruby Laser Nd:YAGNeodym Laser Ti: sapphire 694.3nm 1060nm Thấp Cao Laser khí: HeNe: Argon: CO2: 632,8nm 488nm và 524,5nm 10.600nm Thấp Thấp Cao Laser hơi kim loại: Laser HeCd Laser HeSe Laser màu: Laser bán dẫn: Laser: Ga Al AsGa As 820904nm Thấp Câu 7: Các hiệu ứng xảy ra khi tác dụng laser công suất cao lên mô sống? Khi sử dụng laser công suất cao lên mô sống thì sẽ có các hiệu ứng xảy ra sau : • Hiệu ứng nhiệt ( quang đông, bay hơi tổ chức ) : Tương tự như hiệu ứng quang đông, nhiệt độ vùng tổ chức tăng lên và khi đạt đến 300°C, thì các matrix rắn của tổ chức sinh học nhận đủ năng lượng để bay hơi. Ứng dụng của hiệu ứng này trong phẫu thuật, chùm tia được dùng như chiếc dao mổ tạo ra những vết cắt nhỏ, không đau, ít chảy máu, vô trùng. Tiêu biểu là laser CO2, laser YAG,… biết với tên gọi là “dao mổ nhiệt”. • Hiệu ứng quang cơ hay còn gọi là hiệu ứng bóc lớp : Chúng ta dùng các xung cực ngắn ( ns¬ nanosecond¬), công suất đỉnh cực cao, bước sóng vùng tử ngoại gần, chiếu vào tổ chức sinh học. Bức xạ laser vùng tử ngoại chỉ bị các phần tử hữu cơ hấp thụ, khi năng lượng hấp thụ đủ lớn, mạch hữu cơ bị đứt gãy, xảy ra các “vi nổ” từ đó nước bị đẩy ra khỏi tổ chức, cuối cùng tổ chức sinh học giống như bị “bóc từng lớp”. Câu 8 : Câu hỏi phần laser rắn: Cấu trúc của 1 laser rắn? Nêu đặc điểm từng bộ phận, kỹ thuật laser, các chế độ hoạt động của laser rắn ? Trả lời : Cấu trúc của một laser rắn có thể được chia làm 2 bộ phận chính : • Bộ phận quang gồm hoạt chất, buồng cộng hưởng , đèn bơm và các mặt phản xạ tập trung ánh sáng bơm vào hoạt chất. • Bộ phận điện gồm nguồn nuôi cao áp, mạch nạp, phóng điện cho các đèn bơm, mạch điều khiển…. Đặc điểm từng bộ phận:  Bộ phận quang: • Buồng cộng hưởng(BCH) Hoạt chất thường có dạng là một thanh hình trụ được làm lạnh bằng nước, trường hợp công suất nhỏ không cần làm lạnh. BCH được tạo thành bằng cách phủ các lớp phản xạ lên 2 mặt cắt song song của thanh hoạt chất. Đa số trường hợp là dùng gương ngoài để tạo BCH. • Hộp đèn bơm: Các đèn bơm quang học là phải có phổ bức xạ phù hợp với phổ hấp thụ của hoạt chất và có năng lượng bơm đủ lớn. Các đèn này thường có dạng ống thẳng hoặc xoắn.  Bộ phận điện: Tùy theo chế độ làm việc của laser có thể dùng các mạch phóng điện sau: Mạch dùng cho chề độ phát xung tự do và chế độ điều khiển độ phẩm chất. Mạch chủ yếu dùng cho chế độ phát tự do. Các chế độ hoạt động của laser rắn: Laser rắn có thể làm việc ở chế độ phát xung hoặc phát liên tục. Chế độ xung hay liên tục trước hết phụ thuộc vào hoạt chất sử dụng và sau đó là do chế độ bơm. Trong chế độ phát xung cũng có 3 chế độ gọi là • Chế độ phát xung tự do • Chế độ điều biến độ phẩm chất buồng cộng hưởng (Qswitching) • Chế độ khóa mode (modelocking Câu 9: Câu hỏi phần laser khí: nêu phương pháp bơm? Sự kích thích? Sự hồi phục ? Trả lời : Phương pháp bơm: So với laser rắn, độ rộng của các mức nặng lượng chất khí khá nhỏ ( chỉ cỡ vài GHz hoặc nhỏ hơn) vì các nguyên nhân làm mở rộng vạch tác dụng yếu. Sự kích thích laser khí thường được thực hiện nhờ phóng điện, nghĩa là bơm bằng dòng điện ( liên tục hoặc không đổi) đi qua môi trường khí. Dưới tác dụng của dòng điện qua chất khí các điện tử và ion tự do được hình thành. Các điện tích này được gia tốc trong điện trường và sẽ có động năng lớn. Chuyển động của ion thường không đóng vai trò quan trọng vì chỉ các điện tử tự do mới dẫn đến kích thích nguyên tử khi va chạm. Sự kích thích và hổi phục: Sự kích thích nguyên tử khí trong phóng điện được thực hiện nhờ 2 quá trình cơ bản sau: Va chạm loại 1 giữa điện tử nguyên tử đối với chất khí một thành phần. Va chạm loại 2 (truyền năng lượng cộng hưởng) đối với hỗn hợp khí nhiều thành phần. Sự hồi phục của các nguyên tử từ trạng thái kích thích về trạng thái năng lượng thấp hơn kể cả trạng thái cơ bản thông qua 4 quá trình khác nhau: 1. Va chạm giữa nguyên tử kích thích và điện tử trong đó nguyên tử truyền năng lượng của mình cho điện tử (va chạm loại 2). 2. Va chạm nguyên tử nguyên tử trong hỗn hợp khí nhiều thành phần. 3. Va chạm giữa nguyên tử với thành ống phóng điện. 4. Bức xạ tự phát. Câu 10: Quá trình tạo ra cấu trúc diode chuyển tiếp PN? Khi chất bán dẫn đang trung hòa về điện mà vùng bán dẫn N bị mất e thì vùng bán dẫn N gần mối nối trở thành có điện tích dương, vùng bán dẫn P nhận thêm e thì vùng bán dẫn P gần mối nối trở thành có điện tích âm. Đây là hiện tượng hàng rào điện áp, hiện tượng này tiếp diễn đến khi điện tích âm của P đủ lớn để đẩy e từ N sang P. Quá trình : Khi áp thế vào mối nối này, các cực của nguồn nuôi sẽ đẩy các lỗ trống và e lại gần nhau và các e từ vùng N sẽ di chuyển vào vùng P. Lúc này, vùng N mang điện tích dương sẽ kéo e từ nguồn về thế chỗ và vùng P đang mang điện tích âm thì cực dương của nguồn sẽ kéo e từ P về. Như vậy, đã có 1 dòng e chạy liên tục từ cực âm của nguồn qua N sang P về cực dương của nguồn. Tức là: electron từ trạng thái năng lượng cao (vùng dẫn) rơi xuống vùng hóa trị, kết hợp với lỗ trống và phát ra photon tia LASER. Câu 11: Bán dẫn vùng cấm trực tiếp là gì? Bán dẫn vùng cấm gián tiếp là gì? để tăng cường điện phát quang ta lựa chọn vật liệu bán dẫn có vùng cấm trực tiếp hay gián tiếp? Các điện tử và lỗ trống ở Cả 2 phía khoảng năng lượng cấm có cùng giá trị momem xung lượng và do đó tái hợp là trực tiếp. Các năng lượng cực đại và cực tiểu xuất hiện ở các giá trị momem xung lượng khác nhau. Để tái hợp điện tử lỗ trống xảy ra, điện tử cần phải giảm bớt momem sao cho nó có giá trị momem tương ứng với năng lượng cực đại của vùng hóa trị. Để tăng cường điện phát quang cần phải lựa chọn vật liệu bán dẫn thích hợp.Vật liệu thường được sử dụng chọ mục đích này là các bán dẫn trực tiếp vì sự tái hợp trong bán dẫn gián tiếp là khá chậm. Câu 12: Vẽ sơ đồ cấu tạo 1 laser bán dẫn dạng phun với buồng cộng hưởng FabryPerot Câu 13: Nêu tên và trình bày 1 ứng dụng của laser trong y học ( tự làm hoặc tham khảo bên dưới) Quang châm bằng laser bán dẫn được thực hiện dựa trên cơ sở lý thuyết kinhlạchuyệt. điều trị giống với phương pháp châm cổ truyền phương Đông ở chỗ lấy huyệt vị làm vị trí cơ bản để tác động lên cơ thể, đồng thời vận dụng triệt để những quy luật của châm cứu trong việc chọn huyệt phối hợp huyệt để điều trị. Trong quang châm bằng laser bán dẫn công suất thấp cùng 1 lúc tác động đồng thời lên 5 huyệt hoặc 10 huyệt khác nhau để thực hiện điều trị.
Xem thêm

Đọc thêm

Báo Cáo Thí Nghiệm: Đo nhịp mạch và nồng độ bão hòa ôxy trong máu

Báo Cáo Thí Nghiệm: Đo nhịp mạch và nồng độ bão hòa ôxy trong máu

Bài báo cáo:Báo Cáo Thí Nghiệm:Đo nhịp mạch và nồng độ bão hòa ôxy trong máuKết quả thu được:1)Bình thường và giơ tay cao quá đầu:Bình thường (SpO2Bpm)Giơ tay cao quá đầu(SpO2Bpm)Lần 198809785Lần 296879681Lần 398809687Lần 498829587Lần 598829791Huyết áp tăng còn nồng độ O2 vẫn được duy trì2)Nâng quả tạ:TrướcTrongSau97959810697112Huyết áp tang mạnh nhưng O2 vẫn được duy trì3)Nín thở và thở mạnh:Thở mạnhNín thở99919887Huyết áp tăng khi thở mạnh và giảm khi nín thở4)Nhúng tay vào nước lạnh: 96101Huyết áp tăng mạnh nhưng O¬2 vẫn vậy5)Kết quả đo được từ máy MP30Với nhịp mạch là 87,59Nguyên lý đo:Máy đo nồng độ phần trăm ôxy bão hòa trong động mạch (SpO2) và nhịp mạch sử dụng các nguyên tắc đo quang phổ (spectrophotometry) vàđo sự thay đổi thể tích bằng quang học (photoplethysmography viết tắt PPG). Các bác sỹ gây mê dựa vào máy đo nồng độ ôxy này để biết trước sự rối loạn chức năng lọc máu, sự đặt nội khí quản vv…Máy sử dụng hai nguồn LED có bước sóng ánh sáng đỏ (λ=660nm) ánh sáng hồng ngoại gần (λ=940nm) chiếu qua mô và thu nhận cường độ ánh sáng truyền qua để dò tìm tín hiệu thay đổi do các xung động của huyết áp động mạch gây ra. Máu cóđộ bão hòa ôxy cao sẽ có màu đỏ tươi, còn máu có độ bão hòa ôxy kém sẽ có màu đỏ đậm. Máy sẽ tính toán độ bão hòa ôxy từ sự khác nhau của màu máu bằng cách đo tỉ lệ hấp thu ánh sáng đỏ vàánh sáng hồng ngoại. Các yếu tố khác như (máu tĩnh mạch, độ dày của da, xương, móng tay, da) luôn giữ cố định nên không tác động đến chỉ số bão hòa ôxy trong máu.Các thông số kỹ thuật1.Máy đo SOP2 hiệu BCI Màn hình hiển thị, chỉ dẫn Các phím:SpO2 (Nồng độ Oxy trong máu): Hiển thị đèn LED bằng số, chiều cao 0.43 inch (10.9mm)Pulse Rate (Nhịp mạch): Hiển thị đèn LED bằng số, chiều cao 0.30 inch (7.62mm)Pulse Strength (Cường độ nhịp mạch): Kết vảy logari, 8 vạch ngangKeys (Phím): Chỉ sử dụng 02 phím ON OFFNồng độ Oxy Trong máu (SpO2):Khoảng đo: 0 đến 99Độ chính xác: ±2% tại 7099%; ±3% tại 5069%Trung bình: 8 giâyBộ nhớ (Memory):1000ần kiểm tra, Lưu kết quả của 99 bệnh nhânKích thướcCao 6.3 x rộng 3.25 x sâu 1.25 inch60mm x 82.6mm x 31.75mmTrọng lượng:462am kể cả pinTiêu chuẩn an toàn:UL 544Chứng nhận bỡi: TUV đến IEC6011CSA 125, chứng nhận CE phiên bản MDDNguồn sử dụng:Sử dụng 03 cục pin “C” Cell Alkaline hoặc NiCADùng được với nhiều loại Pin trung có bán nhiều trên thị trườngThời gian sử dụng Pin:Khoảng 24 giờ trong chế độ sử dụng liên tục1500ần kiểm tra, mở 1 phút, tắt 2 phútMáy In (phần phụ)Giá trị dữ liệu SpO2 và nhịp mạch (Pulse rate) có thể in ra ngoài mỗi 5 giâyĐiều kiện môi trườngĐiều kiện hoạt động: 00C đến 550CĐiều kiện cất giữ: 340C đến 700Độ ẩm môi trường:Khi lưu kho: 1095%Khi hoạt động: 1595%các tiêu chuẩn lâu bền của máyĐộ rung: Tiêu chuẩn MILSTD810E, sử dụng phương pháp 516.4 Va chạm: MILSTD810E, sử dụng phương pháp 516.4 và IEC 68227Đánh rơi: Tiêu chuẩn UL 5442.Máy MP301. Đặc điểm chung: Chính xác trong suốt quá trình chuyển động vàđo nồng độ bão hoà ở mức thấp Kết hợp với máy in tuỳ chọn SpO2 nhịp tim,báo động hiển thị dạng sóng và lưu kết quả bệnh nhân trong suốt 72 giờ Quản lý dữ liệu trên máy tính qua USB Báo động bằng âm thanh vàánh sáng Pin sử dụng trong 24 giờ và có báo động pin ở mức thấp Dùng cho người lớn, trẻ em và trẻ sơ sinh Màn hình LCD hiển thị rõ các thông số, kích cỡ chữ số lớn Cảm biến thích hợp BCI2. Đặc tính kỹ thuật:Dãy đo lường: Nhịp tim: 25 đến 250 nhịp phút Tầm đo%SpO2: 0 đến 100% Thông máu: 0.1 đến 20%Mức độ chính xác đo SpO2: Không có di chuyển ở người lớn: 70% đến 100% ± 2 con số Không có di chuyển ở trẻ sơ sinh: 70% đến 100% ± 3 con số Có sự di chuyển ở người lớn: 70% đến 100% ± 3 con số Có sự di chuyển ở trẻ sơ sinh: 70% đến 100% ± 4 con sốMức độ chính xác đo nhịp tim: Không di chuyển: 25 đến 250 nhịp phút ±3 con số Có di chuyển: 25 đến 250 nhịp phút ±5 con sốNguồn điện: AC: 100 đến 240 VAC, 5060Hz Tiêu thụ điện: 24 VA Cầu chì: 1 Amp, 250VDùng pin:Loại: LiionCông suất: Sử dụng lên đến 24 giờThời gian sạc pin: 5 tiếngMôi trường làm việc Nhiệt độ hoạt động: 5ºC đến 40ºC Nhiệt độ bảo quản: 20ºC đến 70ºC Độ ẩm hoạt động: 5% 95%. Độ cao hoạt động : 305m đến 3657m
Xem thêm

Đọc thêm

NGHIÊN CỨU THIẾT KẾ CHẾ TẠO THỬ NGHIỆM HỆ THỐNG ĐÈN PHA

NGHIÊN CỨU THIẾT KẾ CHẾ TẠO THỬ NGHIỆM HỆ THỐNG ĐÈN PHA

Hình 1.7 Cấu tạo bóng đèn D1RĐối với từng loại bóng đèn thì bộ Ballast sẽ được thiết kế riêng cho phù hợpvới từng loại chân đế.- Nhiệt độ màu của bóng đèn HID từ 4100k đến 4400k, thường được giới thiệutrong các tài liệu là 5800k gần với ánh sáng mặt trời so với bóng đèn Volfram Halogen là 3000k đến 3550k. Tuy nhiên ánh sáng của đèn HID phát ra không giốngáng sáng ban ngày. Sự phân bố năng lượng quang phổ của bóng đèn HID khôngliên tục, trong khi sự phân phối điện quang phổ của bóng đèn dây tóc lại giống nhưánh sáng mặt trời, là một đường cong liên tục. Hơn nữa, các chỉ số về màu của đènpha Volfram - Halogen lớn hơn hoặc bằng 0,98 là gần hơn nhiều so với đèn HIDvào khoảng 0,75 mà ánh sáng mặt trời tiêu chuẩn hóa là 1,00. Các nghiên cứu chothấy không có tác dụng an toàn quan trọng của trị số màu trong đèn pha.- Các đèn pha HID cung cấp nguồn sáng lớn hơn đáng kể, và lượng ánh sáng nhiềuhơn so với bóng đèn Halogen vào khoảng 3000 lumen và 90 mcd/m2 so với1400 lumen và 30 mcd/m2. Nếu nguồn ánh sáng của bóng đèn HID được sử dụngtrong đèn pha quang học, thì ánh sáng được sử dụng nhiều hơn. Do đó, đèn phaHID đóng góp vào việc lái xe an toàn. Nhưng do ánh sáng của đèn HID quá caocũng làm tăng nguy cơ gây tai nạn cho xe đi ngược chiều.- Bóng đèn HID cung cấp hiệu quả cao hơn (tạo ra nhiều ánh sáng hơn và tiêu tốn ítnăng lượng hơn) so với bóng đèn halogen. Cường độ cao nhất của bóng đèn15halogen là H9 và HIR1 mà chỉ sản sinh ra 2100 đến 2530 lumen và tiêu tốn hết 70watt điện 12 volt, một bóng HID loại D2S sản sinh ra 3200 lumen trong quá trìnhhoạt động tiêu tốn mất 42 watt điện giảm tiêu thụ điện năng nghĩa là tiêu thụ ítnhiên liệu.- Đèn pha projector: nó được biết từ đầu thế kỷ XIX và lần đầu tiên được sửdụng trong máy chiếu phim. Lần đầu tiên được trang bị trên xe ôtô là vào cuối năm1960, là đèn tín hiệu, đến năm 1980 lần đầu tiên được áp dụng cho đèn pha ôtô,
Xem thêm

Đọc thêm

Giới thiệu cơ bản về LCD 16x2

Giới thiệu cơ bản về LCD 16x2

Giới thiệu cơ bản về LCD 16x2 3022012 09:09:00 CH Giới thiệu cơ bản, LCD 16x2, Linh Kiện Cơ Bản, Điện tử cơ bản 3 comments Giới thiệu : Ngày nay, thiết bị hiển thị LCD (Liquid Crystal Display) được sử dụng trong rất nhiều các ứng dụng của VĐK. LCD có rất nhiều ưu điểm so với các dạng hiển thị khác: Nó có khả năng hiển thị kí tự đa dạng, trực quan (chữ, số và kí tự đồ họa), dễ dàng đưa vào mạch ứng dụng theo nhiều giao thức giao tiếp khác nhau, tốn rất ít tài nguyên hệ thống và giá thành rẽ … Tổng Quát Về LCD HD44780 1> Hình dáng và kích thước: Có rất nhiều loại LCD với nhiều hình dáng và kích thước khác nhau, trên hình 1 là loại LCD thông dụng. Hình 1 : Hình dáng của loại LCD thông dụng Khi sản xuất LCD, nhà sản xuất đã tích hợp chíp điều khiển (HD44780) bên trong lớp vỏ và chỉ đưa các chân giao tiếp cần thiết. Các chân này được đánh số thứ tự và đặt tên như hình 2 : Hình 2 : Sơ đồ chân của LCD 2> Chức năng các chân : Chân Ký hiệu Mô tả 1 Vss Chân nối đất cho LCD, khi thiết kế mạch ta nối chân này với GND của mạch điều khiển 2 VDD Chân cấp nguồn cho LCD, khi thiết kế mạch ta nối chân này với VCC=5V của mạch điều khiển 3 VEE Điều chỉnh độ tương phản của LCD. 4 RS Chân chọn thanh ghi (Register select). Nối chân RS với logic “0” (GND) hoặc logic “1” (VCC) để chọn thanh ghi. + Logic “0”: Bus DB0DB7 sẽ nối với thanh ghi lệnh IR của LCD (ở chế độ “ghi” write) hoặc nối với bộ đếm địa chỉ của LCD (ở chế độ “đọc” read) + Logic “1”: Bus DB0DB7 sẽ nối với thanh ghi dữ liệu DR bên trong LCD. 5 RW Chân chọn chế độ đọcghi (ReadWrite). Nối chân RW với logic “0” để LCD hoạt động ở chế độ ghi, hoặc nối với logic “1” để LCD ở chế độ đọc. 6 E Chân cho phép (Enable). Sau khi các tín hiệu được đặt lên bus DB0DB7, các lệnh chỉ được chấp nhận khi có 1 xung cho phép của chân E. + Ở chế độ ghi: Dữ liệu ở bus sẽ được LCD chuyển vào(chấp nhận) thanh ghi bên trong nó khi phát hiện một xung (hightolow transition) của tín hiệu chân E. + Ở chế độ đọc: Dữ liệu sẽ được LCD xuất ra DB0DB7 khi phát hiện cạnh lên (lowtohigh transition) ở chân E và được LCD giữ ở bus đến khi nào chân E xuống mức thấp. 7 14 DB0 DB7 Tám đường của bus dữ liệu dùng để trao đổi thông tin với MPU. Có 2 chế độ sử dụng 8 đường bus này : + Chế độ 8 bit : Dữ liệu được truyền trên cả 8 đường, với bit MSB là bit DB7. + Chế độ 4 bit : Dữ liệu được truyền trên 4 đường từ DB4 tới DB7, bit MSB là DB7 15 Nguồn dương cho đèn nền 16 GND cho đèn nền Bảng 1 : Chức năng các chân của LCD Ghi chú : Ở chế độ “đọc”, nghĩa là MPU sẽ đọc thông tin từ LCD thông qua các chân DBx. Còn khi ở chế độ “ghi”, nghĩa là MPU xuất thông tin điều khiển cho LCD thông qua các chân DBx. 3> Sơ đồ khối của HD44780: Để hiểu rõ hơn chức năng các chân và hoạt động của chúng, ta tìm hiểu sơ qua chíp HD44780 thông qua các khối cơ bản của nó. Hình 3 : Sơ đồ khối của HD44780 a> Các thanh ghi : Chíp HD44780 có 2 thanh ghi 8 bit quan trọng : Thanh ghi lệnh IR (Instructor Register) và thanh ghi dữ liệu DR (Data Register) Thanh ghi IR : Để điều khiển LCD, người dùng phải “ra lệnh” thông qua tám đường bus DB0DB7. Mỗi lệnh được nhà sản xuất LCD đánh địa chỉ rõ ràng. Người dùng chỉ việc cung cấp địa chỉ lệnh bằng cách nạp vào thanh ghi IR. Nghĩa là, khi ta nạp vào thanh ghi IR một chuỗi 8 bit, chíp HD44780 sẽ tra bảng mã lệnh tại địa chỉ mà IR cung cấp và thực hiện lệnh đó. VD : Lệnh “hiển thị màn hình” có địa chỉ lệnh là 00001100 (DB7…DB0) Lệnh “hiển thị màn hình và con trỏ” có mã lệnh là 00001110 Thanh ghi DR : Thanh ghi DR dùng để chứa dữ liệu 8 bit để ghi vào vùng RAM DDRAM hoặc CGRAM (ở chế độ ghi) hoặc dùng để chứa dữ liệu từ 2 vùng RAM này gởi ra cho MPU (ở chế độ đọc). Nghĩa là, khi MPU ghi thông tin vào DR, mạch nội bên trong chíp sẽ tự động ghi thông tin này vào DDRAM hoặc CGRAM. Hoặc khi thông tin về địa chỉ được ghi vào IR, dữ liệu ở địa chỉ này trong vùng RAM nội của HD44780 sẽ được chuyển ra DR để truyền cho MPU. => Bằng cách điều khiển chân RS và RW chúng ta có thể chuyển qua lại giữ 2 thanh ghi này khi giao tiếp với MPU. Bảng sau đây tóm tắt lại các thiết lập đối với hai chân RS và RW theo mục đích giao tiếp. RS RW Chức năng 0 0 Ghi vào thanh ghi IR để ra lệnh cho LCD 0 1 Đọc cờ bận ở DB7 và giá trị của bộ đếm địa chỉ ở DB0DB6 1 0 Ghi vào thanh ghi DR 1 1 Đọc dữ liệu từ DR Bảng 2 : Chức năng chân RS và RW theo mục đích sử dụng mark> Cờ báo bận BF: (Busy Flag) Khi thực hiện các hoạt động bên trong chíp, mạch nội bên trong cần một khoảng thời gian để hoàn tất. Khi đang thực thi các hoạt động bên trong chip như thế, LCD bỏ qua mọi giao tiếp với bên ngoài và bật cờ BF (thông qua chân DB7 khi có thiết lập RS=0, RW=1) lên để báo cho MPU biết nó đang “bận”. Dĩ nhiên, khi xong việc, nó sẽ đặt cờ BF lại mức 0. c> Bộ đếm địa chỉ AC : (Address Counter) Như trong sơ đồ khối, thanh ghi IR không trực tiếp kết nối với vùng RAM (DDRAM và CGRAM) mà thông qua bộ đếm địa chỉ AC. Bộ đếm này lại nối với 2 vùng RAM theo kiểu rẽ nhánh. Khi một địa chỉ lệnh được nạp vào thanh ghi IR, thông tin được nối trực tiếp cho 2 vùng RAM nhưng việc chọn lựa vùng RAM tương tác đã được bao hàm trong mã lệnh. Sau khi ghi vào (đọc từ) RAM, bộ đếm AC tự động tăng lên (giảm đi) 1 đơn vị và nội dung của AC được xuất ra cho MPU thông qua DB0DB6 khi có thiết lập RS=0 và RW=1 (xem bảng tóm tắt RS RW). Lưu ý: Thời gian cập nhật AC không được tính vào thời gian thực thi lệnh mà được cập nhật sau khi cờ BF lên mức cao (not busy), cho nên khi lập trình hiển thị, bạn phải delay một khoảng tADD khoảng 4uS5uS (ngay sau khi BF=1) trước khi nạp dữ liệu mới. Xem thêm hình bên dưới. Hình 4 : Giản đồ xung cập nhật AC d> Vùng RAM hiển thị DDRAM : (Display Data RAM) Đây là vùng RAM dùng để hiển thị, nghĩa là ứng với một địa chỉ của RAM là một ô kí tự trên màn hình và khi bạn ghi vào vùng RAM này một mã 8 bit, LCD sẽ hiển thị tại vị trí tương ứng trên màn hình một kí tự có mã 8 bit mà bạn đã cung cấp. Hình sau đây sẽ trình bày rõ hơn mối liên hệ này : Hình 4 : Mối liên hệ giữa địa chỉ của DDRAM và vị trí hiển thị của LCD Vùng RAM này có 80x8 bit nhớ, nghĩa là chứa được 80 kí tự mã 8 bit. Những vùng RAM còn lại không dùng cho hiển thị có thể dùng như vùng RAM đa mục đích. Lưu ý là để truy cập vào DDRAM, ta phải cung cấp địa chỉ cho AC theo mã HEX e> Vùng ROM chứa kí tự CGROM: Character Generator ROM Vùng ROM này dùng để chứa các mẫu kí tự loại 5x8 hoặc 5x10 điểm ảnhkí tự, và định địa chỉ bằng 8 bit. Tuy nhiên, nó chỉ có 208 mẫu kí tự 5x8 và 32 mẫu kí tự kiểu 5x10 (tổng cộng là 240 thay vì 28 = 256 mẫu kí tự). Người dùng không thể thay đổi vùng ROM này. Hình 5 : Mối liên hệ giữa địa chỉ của ROM và dữ liệu tạo mẫu kí tự. Như vậy, để có thể ghi vào vị trí thứ x trên màn hình một kí tự y nào đó, người dùng phải ghi vào vùng DDRAM tại địa chỉ x (xem bảng mối liên hệ giữa DDRAM và vị trí hiển thị) một chuỗi mã kí tự 8 bit trên CGROM. Chú ý là trong bảng mã kí tự trong CGROM ở hình bên dưới có mã ROM A00. Ví dụ : Ghi vào DDRAM tại địa chỉ “01” một chuỗi 8 bit “01100010” thì trên LCD tại ô thứ 2 từ trái sang (dòng trên) sẽ hiển thị kí tự “b”. Bảng 3 : Bảng mã kí tự (ROM code A00) f> Vùng RAM chứa kí tự đồ họa CGRAM : (Character Generator RAM) Như trên bảng mã kí tự, nhà sản xuất dành vùng có địa chỉ byte cao là 0000 để người dùng có thể tạo các mẫu kí tự đồ họa riêng. Tuy nhiên dung lượng vùng này rất hạn chế: Ta chỉ có thể tạo 8 kí tự loại 5x8 điểm ảnh, hoặc 4 kí tự loại 5x10 điểm ảnh. Để ghi vào CGRAM, hãy xem hình 6 bên dưới. Hình 6 : Mối liên hệ giữa địa chỉ của CGRAM, dữ liệu của CGRAM, và mã kí tự. 4> Tập lệnh của LCD : Trước khi tìm hiểu tập lệnh của LCD, sau đây là một vài chú ý khi giao tiếp với LCD : Tuy trong sơ đồ khối của LCD có nhiều khối khác nhau, nhưng khi lập trình điều khiển LCD ta chỉ có thể tác động trực tiếp được vào 2 thanh ghi DR và IR thông qua các chân DBx, và ta phải thiết lập chân RS, RW phù hợp để chuyển qua lại giữ 2 thanh ghi này. (xem bảng 2) Với mỗi lệnh, LCD cần một khoảng thời gian để hoàn tất, thời gian này có thể khá lâu đối với tốc độ của MPU, nên ta cần kiểm tra cờ BF hoặc đợi (delay) cho LCD thực thi xong lệnh hiện hành mới có thể ra lệnh tiếp theo. Địa chỉ của RAM (AC) sẽ tự động tăng (giảm) 1 đơn vị, mỗi khi có lệnh ghi vào RAM. (Điều này giúp chương trình gọn hơn) Các lệnh của LCD có thể chia thành 4 nhóm như sau : • Các lệnh về kiểu hiển thị. VD : Kiểu hiển thị (1 hàng 2 hàng), chiều dài dữ liệu (8 bit 4 bit), … • Chỉ định địa chỉ RAM nội. • Nhóm lệnh truyền dữ liệu trong RAM nội. • Các lệnh còn lại . Bảng 4 : Tập lệnh của LCD Tên lệnh Hoạt động Clear Display Mã lệnh : DBx = DB7 DB6 DB5 DB4 DB3 DB2 DB1 DB0 DBx = 0 0 0 0 0 0 0 1 Lệnh Clear Display (xóa hiển thị) sẽ ghi một khoảng trốngblank (mã hiện kí tự 20H) vào tất cả ô nhớ trong DDRAM, sau đó trả bộ đếm địa AC=0, trả lại kiểu hiển thị gốc nếu nó bị thay đổi. Nghĩa là : Tắt hiển thị, con trỏ dời về góc trái (hàng đầu tiên), chế độ tăng AC. Return home Mã lệnh : DBx = DB7 DB6 DB5 DB4 DB3 DB2 DB1 DB0 DBx = 0 0 0 0 0 0 1 Lệnh Return home trả bộ đếm địa chỉ AC về 0, trả lại kiểu hiển thị gốc nếu nó bị thay đổi. Nội dung của DDRAM không thay đổi. Entry mode set Mã lệnh : DBx = DB7 DB6 DB5 DB4 DB3 DB2 DB1 DB0 DBx = 0 0 0 0 0 1 ID S ID : Tăng (ID=1) hoặc giảm (ID=0) bộ đếm địa chỉ hiển thị AC 1 đơn vị mỗi khi có hành động ghi hoặc đọc vùng DDRAM. Vị trí con trỏ cũng di chuyển theo sự tăng giảm này. S : Khi S=1 toàn bộ nội dung hiển thị bị dịch sang phải (ID=0) hoặc sang trái (ID=1) mỗi khi có hành động ghi vùng DDRAM. Khi S=0: không dịch nội dung hiển thị. Nội dung hiển thị không dịch khi đọc DDRAM hoặc đọcghi vùng CGRAM. Display onoff control Mã lệnh : DBx = DB7 DB6 DB5 DB4 DB3 DB2 DB1 DB0 DBx = 0 0 0 0 1 D C B D: Hiển thị màn hình khi D=1 và ngược lại. Khi tắt hiển thị, nội dung DDRAM không thay đổi. C: Hiển thị con trỏ khi C=1 và ngược lại. B: Nhấp nháy kí tự tại vị trí con trỏ khi B=1 và ngược lại. Chu kì nhấp nháy khoảng 409,6ms khi mạch dao động nội LCD là 250kHz. Cursor or display shift Mã lệnh : DBx = DB7 DB6 DB5 DB4 DB3 DB2 DB1 DB0 DBx = 0 0 0 1 SC RL Lệnh Cursor or display shift dịch chuyển con trỏ hay dữ liệu hiển thị sang trái mà không cần hành động ghiđọc dữ liệu. Khi hiển thị kiểu 2 dòng, con trỏ sẽ nhảy xuống dòng dưới khi dịch qua vị trí thứ 40 của hàng đầu tiên. Dữ liệu hàng đầu và hàng 2 dịch cùng một lúc. Chi tiết sử dụng xem bảng bên dưới: SC RL Hoạt động 0 0 Dịch vị trí con trỏ sang trái (Nghĩa là giảm AC một đơn vị). 0 1 Dịch vị trí con trỏ sang phải (Tăng AC lên 1 đơn vị). 1 0 Dịch toàn bộ nội dung hiển thị sang trái, con trỏ cũng dịch theo. 1 1 Dịch toàn bộ nội dung hiển thị sang phải, con trỏ cũng dịch theo. Function set Mã lệnh : DBx = DB7 DB6 DB5 DB4 DB3 DB2 DB1 DB0 DBx = 0 0 1 DL N F DL: Khi DL=1, LCD giao tiếp với MPU bằng giao thức 8 bit (từ bit DB7 đến DB0). Ngược lại, giao thức giao tiếp là 4 bit (từ bit DB7 đến bit DB0). Khi chọn giao thức 4 bit, dữ liệu được truyềnnhận 2 lần liên tiếp. với 4 bit cao gởinhận trước, 4 bit thấp gởinhận sau. N : Thiết lập số hàng hiển thị. Khi N=0 : hiển thị 1 hàng, N=1: hiển thị 2 hàng. F : Thiết lập kiểu kí tự. Khi F=0: kiểu kí tự 5x8 điểm ảnh, F=1: kiểu kí tự 5x10 điểm ảnh. Set CGRAM address Mã lệnh : DBx = DB7 DB6 DB5 DB4 DB3 DB2 DB1 DB0 DBx = 0 1 ACGACGACGACGACGACG Lệnh này ghi vào AC địa chỉ của CGRAM. Kí hiệu ACG chỉ 1 bit của chuỗi dữ liệu 6 bit. Ngay sau lệnh này là lệnh đọcghi dữ liệu từ CGRAM tại địa chỉ đã được chỉ định. Set DDRAM address Mã lệnh : DBx = DB7 DB6 DB5 DB4 DB3 DB2 DB1 DB0 DBx = 1 AD AD AD AD AD AD AD Lệnh này ghi vào AC địa chỉ của DDRAM, dùng khi cần thiết lập tọa độ hiển thị mong muốn. Ngay sau lệnh này là lệnh đọcghi dữ liệu từ DDRAM tại địa chỉ đã được chỉ định. Khi ở chế độ hiển thị 1 hàng: địa chỉ có thể từ 00H đến 4FH. Khi ở chế độ hiển thị 2 hàng, địa chỉ từ 00h đến 27H cho hàng thứ nhất, và từ 40h đến 67h cho hàng thứ 2. Read BF and address Mã lệnh : DBx = DB7 DB6 DB5 DB4 DB3 DB2 DB1 DB0 DBx =BF AC AC AC AC AC AC AC (RS=0,RW=1) Như đã đề cập trước đây, khi cờ BF bật, LCD đang làm việc và lệnh tiếp theo (nếu có) sẽ bị bỏ qua nếu cờ BF chưa về mức thấp. Cho nên, khi lập trình điều khiển, phải kiểm tra cờ BF trước khi ghi dữ liệu vào LCD. Khi đọc cờ BF, giá trị của AC cũng được xuất ra các bit AC. Nó là địa chỉ của CG hay DDRAM là tùy thuộc vào lệnh trước đó. Write data to CG or DDRAM Mã lệnh : DBx = DB7 DB6 DB5 DB4 DB3 DB2 DB1 DB0 DBx = Write data (RS=1, RW=0) Khi thiết lập RS=1, RW=0, dữ liệu cần ghi được đưa vào các chân DBx từ mạch ngoài sẽ được LCD chuyển vào trong LCD tại địa chỉ được xác định từ lệnh ghi địa chỉ trước đó (lệnh ghi địa chỉ cũng xác định luôn vùng RAM cần ghi) Sau khi ghi, bộ đếm địa chỉ AC tự động tănggiảm 1 tùy theo thiết lập Entry mode. Read data from CG or DDRAM Mã lệnh : DBx = DB7 DB6 DB5 DB4 DB3 DB2 DB1 DB0 DBx = Read data (RS=1, RW=1) Khi thiết lập RS=1, RW=1,dữ liệu từ CGDDRAM được chuyển ra MPU thông qua các chân DBx (địa chỉ và vùng RAM đã được xác định bằng lệnh ghi địa chỉ trước đó). Sau khi đọc, AC tự động tănggiảm 1 tùy theo thiết lập Entry mode, tuy nhiên nội dung hiển thị không bị dịch bất chấp chế độ Entry mode. 5> Giao tiếp giữa LCD và MPU : a> Đặc tính điện của các chân giao tiếp : LCD sẽ bị hỏng nghiêm trọng, hoặc hoạt động sai lệch nếu bạn vi phạm khoảng đặc tính điện sau đây: Chân cấp nguồn (VccGND) Min:0.3V , Max+7V Các chân ngõ vào (DBx,E,…) Min:0.3V , Max:(Vcc+0.3V) Nhiệt độ hoạt động Min:30C , Max:+75C Nhiệt độ bảo quản Min:55C , Max:+125C Bảng 6 : Maximun Rating Đặc tính điện làm việc điển hình: (Đo trong điều kiện hoạt động Vcc = 4.5V đến 5.5V, T = 30 đến +75C) Chân cấp nguồn VccGND 2.7V đến 5.5V Điện áp vào mức cao VIH 2.2V đến Vcc Điện áp vào mức thấp VIL 0.3V đến 0.6V Điện áp ra mức cao (DB0DB7) Min 2.4V (khi IOH = 0.205mA) Điện áp ra mức thấp (DB0DB7) Max 0.4V (khi IOL = 1.2mA) Dòng điện ngõ vào (input leakage current) ILI 1uA đến 1uA (khi VIN = 0 đến Vcc) Dòng điện cấp nguồn ICC 350uA(typ.) đến 600uA Tần số dao động nội fOSC 190kHz đến 350kHz (điển hình là 270kHz) Bảng 7: Miền làm việc bình thường mark> Sơ đồ nối mạch điển hình: Sơ đồ mạch kết nối giữa mô đun LCD và VĐK 89S52 (8 bit). Sơ đồ mạch kết nối giữa môđun LCD và VĐK (4 bit). c> Bus Timing: 6> Khởi tạo LCD: Khởi tạo là việc thiết lập các thông số làm việc ban đầu. Đối với LCD, khởi tạo giúp ta thiết lập các giao thức làm việc giữa LCD và MPU. Việc khởi tạo chỉ được thực hiện 1 lần duy nhất ở đầu chương trình điều khiển LCD và bao gồm các thiết lập sau : • Display clear : Xóakhông xóa toàn bộ nội dung hiển thị trước đó. • Function set : Kiểu giao tiếp 8bit4bit, số hàng hiển thị 1hàng2hàng, kiểu kí tự 5x85x10. • Display onoff control: Hiển thịtắt màn hình, hiển thịtắt con trỏ, nhấp nháykhông nhấp nháy. • Entry mode set : các thiết lập kiểu nhập kí tự như: Dịchkhông dịch, tự tănggiảm (Increment). a> Mạch khởi tạo bên trong chíp HD44780: Mỗi khi được cấp nguồn, mạch khởi tạo bên trong LCD sẽ tự động khởi tạo cho nó. Và trong thời gian khởi tạo này cờ BF bật lên 1, đến khi việc khởi tạo hoàn tất cờ BF còn giữ trong khoảng 10ms sau khi Vcc đạt đến 4.5V (vì 2.7V thì LCD đã hoạt động). Mạch khởi tạo nội sẽ thiết lập các thông số làm việc của LCD như sau: • Display clear : Xóa toàn bộ nội dung hiển thị trước đó. • Function set: DL=1 : 8bit; N=0 : 1 hàng; F=0 : 5x8 • Display onoff control: D=0 : Display off; C=0 : Cursor off; B=0 : Blinking off. • Entry mode set: ID =1 : Tăng; S=0 : Không dịch. Như vậy sau khi mở nguồn, bạn sẽ thấy màn hình LCD giống như chưa mở nguồn do toàn bộ hiển thị tắt. Do đó, ta phải khởi tạo LCD bằng lệnh. mark> Khởi tạo bằng lệnh: (chuỗi lệnh) Việc khởi tạo bằng lệnh phải tuân theo lưu đồ sau của nhà sản xuất : Như đã đề cập ở trên, chế độ giao tiếp mặc định của LCD là 8bit (tự khởi tạo lúc mới bật điện lên). Và khi kết nối mạch theo giao thức 4bit, 4 bit thấp từ DB0DB3 không được kết nối đến LCD, nên lệnh khởi tạo ban đầu (lệnh chọn giao thức giao tiếp – function set 0010) phải giao tiếp theo chế độ 8 bit (chỉ gởi 4 bit cao một lần, bỏ qua 4 bit thấp). Từ lệnh sau trở đi, phải gởinhận lệnh theo 2 nibble. Lưu ý là sau khi thiết lập function set, bạn không thể thay đổi function set ngoại trừ thay đổi giao thức giao tiếp (4bit8bit).
Xem thêm

Đọc thêm

Các điều kiện hưởng chế độ bảo hiểm thai sản

Các điều kiện hưởng chế độ bảo hiểm thai sản

Phân tích các điều kiện hưởng chế độ bảo hiểm thai sản Ở nước ta, cùng với các chế độ bảo hiểm xã hội khác, chế độ bảo hiểm thai sản đã được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật lao động từ khi giành được chính quyền đến nay. Đã qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung nên chính sách bảo hiểm thai sản ngày càng đầy đủ, hoàn thiện và phù hợp hơn với thực tế đời sống, đáp ứng được quyền lợi hợp pháp, cũng như thể hiện chính sách đặc biệt ưu đãi đối với người lao động nữ. Từ đó, tạo điều kiện cho người lao động nói chung, lao động nữ nói riêng ổn định cuộc sống, sức khỏe nhằm phát huy có hiệu quả năng lực nghề nghiệp, kết hợp hài hòa cuộc sống lao động và cuộc sống gia đình. Cũng giống như điều kiện hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội nói chung, điều kiện hưởng chế độ bảo hiểm thai sản là cơ sở pháp lý mà người lao động khi có thai được nghỉ hưởng trợ cấp. Điều kiện hưởng là những quy định của pháp luật cần và đủ cho đối tượng được hưởng một chế độ bảo hiểm xã hội nhất định. Nếu không có đầy đủ các điều kiện này thì người lao động không được hưởng trợ cấp thai sản. Theo Điều 28 Luật bảo hiểm xã hội, Khoản 1 Điều 14 Nghị định số 1522006NĐ – CP và phần II, Mục B Thông tư 32007TT – BLĐTBXH để được hưởng chế độ bảo hiểm thai sản, những đối tượng hưởng phải đáp ứng các điều kiện sau đây: Điều kiện về nội dung: Phải tham gia đóng phí bảo hiểm xã hội bắt buộc; Phải thuộc một trong các trường hợp: + Lao động nữ mang thai, sẩy thai, nạo hút thai hoặc thai chết lưu; + Lao động nữ sinh viên con; + Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 4 tháng tuổi; + Người lao động thực hiện các biện pháp tránh thai. Theo quy định pháp luật hiện hành người lao động được hưởng bảo hiểm thai sản với điều kiện phải đóng bảo hiểm xã hội và có sự kiện thai sản. Ngoài ra còn điều kiện riêng đối với hai trường hợp lao động nữ sinh con và người lao động nữ nuôi con nuôi sơ sinh là phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi sơ sinh. Khác với Luật bảo hiểm xã hội hiện hành, giai đoạn trước đây ( trong Điều lệ tạm thời về bảo hiểm xã hội năm 1961) các văn bản chưa quy định về điều kiện hưởng chế độ bảo hiểm thai sản vì chưa có chế độ bảo hiểm thai sản mà mới chỉ dừng lại ở chế độ đãi ngộ công nhân, viên chức nhà nước khi có thai và khi đẻ. Và mặc nhiên đã là nữ công nhân, viên chức Nhà nước khi có thai sản đều được hưởng đãi ngộ theo luật định nhưng cũng chỉ được đãi ngộ trong hai trường hợp là lao động nữ sinh con hoặc sảy thai. Đến Nghị định 43CP ngày 2261993 đã có quy định điều kiện hưởng thuộc các đối tượng đã quy định và tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, tuy nhiên cũng có quy định về thời gian tham gia bảo hiểm. Khác với Luật bảo hiểm hiện hành, trước đây các văn bản chế độ trợ cấp thai sản cũng chưa quy định thời gian tham gia tối thiểu trước khi nghỉ hưởng trợ cấp thai sản. Điều này đã dẫn đến tình trạng lạm dụng quỹ, gây ảnh hưởng đến sự cân bằng quỹ, bởi vì chưa có chế độ bảo hiểm thai sản mà mới chỉ dừng lại ở chế độ đãi ngộ công nhân, viên chức nhà nước khi có thai sản. Vì thế, đây là điểm mới, tiến bộ của luật bảo hiểm xã hội so với các quy định trước đây và cũng rất có ý nghĩa vì không chỉ chú trọng đến việc trợ giúp người lao động khi nghỉ việc thực hiện thiên chức mà còn chú trọng đến sự bảo toàn về tài chính của quỹ bảo hiểm xã hội. Một vẫn đề nữa là luật hiện hành quy định các trường hợp được nghỉ thai sản, gồm: khám thai, nạo, hút thai, thai chết lưu, sẩy thai, sinh con, nuôi con nuôi sơ sinh, các biện pháp tránh thai đã bao quát các trường hợp về thai sản được quy định trong các chế độ trước đây gộp chung vào chế độ bảo hiểm thai sản tạo sự thống nhất trong việc áp dụng luật. Do đó, so với các quy định trước đây thì điều kiện hưởng chế độ bảo hiểm thai sản hiện nay là khá hợp lý, có điều điểm tiến bộ. Đồng thời cũng phù hợp với các quy định của Tổ chức lao động quốc tế và pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới đều đã từ lâu quy định cụ thể điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội trước khi nghỉ hưởng chế độ thai sản. Ví dụ: _ Pháp luật Singapore quy định điều kiện hưởng trợ cấp thai sản được xác định khá chặt chẽ, chỉ dừng lại trong giới hạn sinh 2 trẻ đầu tiên và phải đảm bảo thời gian làm việc tối thiểu là 180 ngày trước ngày khi nghỉ thai sản. _ Pháp luật Philipin quy định người lao động phải đang làm việc, tối thiểu phải có 3 tháng đóng góp trong vòng 12 tháng cuối cùng trước khi nghỉ sinh con. _ Pháp luật Thái Lan quy định người lao động nữ chỉ được hưởng trợ cấp thai sản khi sinh con với điều kiện có 7 tháng đóng góp trong vòng 15 tháng cuối cùng trước khi hưởng trợ cấp và chỉ giới hạn trong 2 lần sinh. Mặc dù rất coi trọng đến việc trợ giúp cho người lao động nữ khi nghỉ việc thực hiện thiên chức làm mẹ, song là một chế độ trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp thai sản vẫn phải đảm bảo nguyên tắc trên cơ sở đóng góp của chính người lao động. Điều đó chứng tỏ rằng chế độ bảo hiểm thai sản ở nước ta thực sự là một chính sách xã hội thể hiện sâu sắc mục đích cũng như bản chất của bảo hiểm xã hội. Cũng cần làm rõ thêm về trường hợp người lao động sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi sơ sinh trước ngày 15 của tháng, thì tháng sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi không tính vào thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi. Trường hợp sinh con hoặc nhân nuôi con nuôi từ ngày 15 trở đi của tháng thì tháng sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi được tính vào thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi. Ví dụ: Chị Nguyễn Thị A làm việc tại cơ quan X, chị sinh con vào ngày 1042005, khoảng thời gian 12 tháng trước khi sinh con được tính từ tháng 42004 đến tháng 32005, nếu trong khoảng thời gian này chị A đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 6 tháng trở lên thì chị A được hưởng chế độ thai sản theo quy định. Chị B nghỉ việc vào tháng 52008 và sinh con vào ngày 2592008, khoảng thời gian 12 tháng trước khi sinh con được tính từ tháng 102007 đến tháng 92008, nếu trong khoảng thời gian này chị B đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 6 tháng trở lên thì chị B được hưởng chế độ thai sản theo quy định. Điều kiện về thủ tục: Để được hưởng chế độ thai sản, người lao động phải có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền. Trong thời gian mang thai, lao động nữ phải có phiếu khám thai, có giấy xác nhận đối với người mang thai bệnh lý, thai không bình thường, sảy thai, đẻ thai chết lưu của cơ sở y tế có thẩm quyền. Khi sinh con, lao động nữ phải có giấy chứng sinh hoặc bản sao giấy khai sinh của con. Trong trường hợp sau khi sinh con mà con bị chết thì phải có giấy xác nhận của UBND xã, phường, hoặc cơ sở y tế nơi sinh( nơi đăng kí hộ khẩu thường trú) và giấy chứng tử hoặc mẹ chết thì cũng phải có giấy chứng tử; phải có xác nhận của người sử dụng lao động về điều kiện làm việc đối với người lao động làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại nguy hiểm, làm việc theo độ ba ca, làm việc thường xuyên ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0.7 trở lên hoặc xác nhận của người sử dụng lao động với người lao động nữ là người tàn tật. Riêng trường hợp nhận nuôi con nuôi dưới 4 tháng tuổi thì phải có chứng nhận theo quy định của pháp luật cụ thể là: Sổ bảo hiểm xã hội của người lao động nhận nuôi con nuôi thể hiện đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi nhận nuôi con nuôi, Bản sao hồ sơ nhận nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật, Giấy xác nhận của người sử dụng lao động về nghỉ việc để nuôi con nuôi. Việc quy định đầy đủ, chặt chẽ các thủ tục này tạo cơ sở pháp lý cho người lao động khi thai sản được hưởng trợ cấp, đảm bảo cho người lao động được hưởng các chế độ kịp thời, đúng quy định đồng thời nâng cao trách nhiệm của cơ quan bảo hiểm trong việc chi trả cũng như quản lý quỹ bảo hiểm.
Xem thêm

Đọc thêm

TĂNG HUYẾT ÁP “ÁO CHOÀNG TRẮNG”

TĂNG HUYẾT ÁP “ÁO CHOÀNG TRẮNG”

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Kết quả một cuộc nghiên cứu được công bố trên tạp chí Hypertension của Hiệp hội Tim mạch Mỹ gần đây cho thấy, một phần ba số bệnh nhân cho rằng họ bị chứng cao huyết áp đề kháng (resistant hypertension) có thể do tình trạng tăng huyết áp “áo choàng trắng” gây ra. Theo giới chuyên môn, tăng huyết áp “áo choàng trắng” là khi chỉ số huyết áp của bệnh nhân cao lúc đo ở các phòng khám nhưng lại bình thường khi ở nhà hay trong lúc sinh hoạt và làm việc. Và chứng cao huyết áp đề kháng xảy ra khi huyết áp của bệnh nhân luôn duy trì ở mức cao hơn bình thường, bất kể họ đã uống ba loại thuốc giảm huyết áp khác nhau vào cùng một thời điểm. Trong cuộc nghiên cứu, các nhà khoa học đã sử dụng kỹ thuật theo dõi huyết áp trong vòng 24 giờ để kiểm tra huyết áp của 67.045 bệnh nhân, có độ tuổi trung bình là 64, được chẩn đoán bị cao huyết áp. Nghiên cứu phát hiện, 37% trong số 8.295 bệnh nhân được chẩn đoán bị chứng cao huyết áp đề kháng thực sự họ chỉ bị tình trạng tăng huyết áp “áo choàng trắng”, trong số đó phụ nữ nhiều hơn đàn ông: 42% so với 34%. Và những bệnh nhân mắc chứng cao huyết áp đề kháng thường khá trẻ, đồng thời họ đã có một thời gian dài bị chứng cao huyết áp hoặc tiền sử có yếu tố nguy cơ bị bệnh tim mạch nghiêm trọng.   Theo giới chuyên môn, tăng huyết áp “áo choàng trắng” là khi chỉ số huyết áp của bệnh nhân cao lúc đo ở các phòng khám nhưng lại bình thường khi ở nhà hay trong lúc sinh hoạt và làm việc (Ảnh minh họa) Alejandro de la Sierra - Giám đốc y học nội khoa tại Bệnh viện Murua Terrassa thuộc Trường ĐH Barcelona (Tây Ban Nha), người chủ trì cuộc nghiên cứu, nói: “Việc áp dụng kỹ thuật theo dõi huyết áp 24 giờ chứng minh rằng, nhiều trường hợp bệnh nhân bị cao huyết áp ở bệnh viện lại hoàn toàn có chỉ số huyết áp bình thường khi ở nhà và trong khi thực hiện các hoạt động hàng ngày. Vì thế, việc áp dụng kỹ thuật theo dõi huyết áp 24 giờ phải là điều kiện bắt buộc đối với những bệnh nhân bị cao huyết đề kháng để xác định xem liệu họ có thực sự bị chứng cao huyết áp hay chỉ do tình trạng tăng huyết áp “áo choàng trắng” gây nên”. “Các bệnh nhân cao áp huyết đề kháng được lợi rất nhiều khi biết nếu huyết áp của họ bình thường khi ở nhà hoặc tham gia các hoạt động hàng ngày, và họ không cần tăng cường các phương pháp điều trị bằng thuốc hay áp dụng chế độ ăn kiêng nữa”, các nhà nghiên cứu cho biết.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Ở Đức, mẹ sinh xong có thể nghỉ 3 năm

Ở ĐỨC, MẸ SINH XONG CÓ THỂ NGHỈ 3 NĂM

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Tốt nghiệp một trường trung cấp ở Hải Phòng, tôi theo bạn về Hà Nội tìm việc làm và đi học tại chức buổi tối. Suôt mấy năm trời đi làm và học ở Hà Nội, tôi cũng có nhiều mối duyên đẹp nhưng không hiểu sao tôi vẫn chưa thể đi đến hôn nhân được. 5 năm ở thủ đô, tôi vẫn chưa tìm được bến đỗ cộng với công việc lại bấp bênh. Vậy là khi học xong tại chức, tôi theo người chị họ sang bên Đức làm ăn. Sang bên đó tôi xin vào làm việc trong một xí nghiệp ở Đông Đức và chưa đầy một năm tôi đã tìm được một nửa của mình. Anh là người Đức. Chưa đầy 2 tháng sau khi kết hôn, tôi đã có tin vui. Bà bầu ở Đức không bị mất việc Dù mới làm việc tại xí nghiệp, nhưng việc tôi có bầu cũng không có gì đáng e ngại. Bởi ở Đức, các công ty, xí nghiệp không được phép sa thải lao động nữ khi đang có bầu dù có đang trả qua thời kỳ suy thoái kinh tế. Vì vậy, tôi hoàn toàn yên tâm làm việc trong thời gian mang thai. Khám thai bằng bảo hiểm y tế rất tốt Có thể nói chế độ bảo hiểm xã hội của Đức là một trong những nước có chất lượng nhất châu Âu. Tất cả những người có giấy tờ hợp pháp sống trên đất nước Đức đều bắt buộc phải có bảo hiểm xã hội. Ngay khi vào làm việc ở xí nghiệp tôi đã được đóng bảo hiểm xã hội. Do vây, chi phí mỗi lần khám thai hay kiểm tra thai kỳ qua các gia đoạn của tôi đều do bảo hiểm chi trả. Ở Đức, vào bệnh viện ai cũng được đối xử như ai, không tốt hơn mà cũng chẳng kém hơn, không bị phân biệt đối xử người nước ngoài hay người Đức. Tôi nhận thấy một điều là dù bạn có đẻ rơi ở bất kỳ bệnh viện nào thì bạn và con của bạn cũng vẫn được chăm sóc kỹ lưỡng và nhiệt tình.   Khi sinh con ở Đức, sản phụ có thể nghỉ 3 năm không lương để chăm con. (Ảnh minh họa) Phòng sinh sạch sẽ và tiện nghi Ở Đức, các mẹ có thể nghỉ việc trước khi sinh 6 tuần để chuẩn bị cho quá trình vượt cạn. Tuy nhiên, tôi nghỉ trước sinh 4 tuần vì cảm thấy sức khỏe vẫn khá ổn. Ở nhà khoảng 2 tuần thì tôi bắt đầu có dấu hiệu chuyển dạ. Tôi đau bụng lúc 11h đêm và cơn đau kéo đến rất nhanh, cứ 15p/lần. Chồng giục tôi vào viện nhưng tôi bảo đợi đến sáng xem sao. Đến khoảng 3h sáng thì tôi không chịu được nữa, lại có dấu hiệu rỉ ối. Vậy là hai vợ chồng vào viện. Vào viện, các bác sỹ đều rất nhiệt tình và thường xuyên hỏi thăm tôi xem có đau không, có mệt không, có khát không… Chồng tôi được phép vào phòng sinh cùng với vợ. Phòng sinh được sắp xếp gọn gàng, sạch sẽ. Khoảng 8h sáng tôi lên bàn đẻ. Cảm giác lúc ấy cũng hơi sợ, nhưng các bác sỹ khá nhẹ nhàng lại có chồng bên cạnh nên tôi cũng cảm thấy bình tĩnh hơn. Và hơn 9h sáng, con gái tôi cất tiếng khóc chào đơi. Một lát sau có bác sỹ đến kiểm tra sức khỏe cho bé. Sau khi khâu vá xong xuôi họ chuyển cả mẹ cả con lên phòng bình thường. Phòng rất rộng và sạch sẽ, có ba giường nhưng lúc ấy chỉ có mình tôi trong đó, còn lại là giường trống. Trong phòng có nhà vệ sinh, nhà tắm và tủ đựng đồ riêng biệt. Con tôi có giường riêng. Mỗi lần cần gì thì bấm chuông ở đầu giường, sẽ có người đến ngay lập tức. Khi y tá đưa em bé đi tắm, họ kêu bố đi cùng để học cách tắm và thay bỉm cho bé. Ba ngày nằm viện, các y tá đều đến khám xét cho tôi xem vết khâu có bị nhiễm trùng hay không, xem em bé có bị dị ứng hay vấn đề gì đó hay không. Đặt tên bé theo quy định của Chính Phủ Khi chồng đi làm giấy khai sinh cho bé, tôi mới thấy thật lạ Chính Phủ Đức có sẵn một list danh sách các tên dành cho bé. Bố mẹ khi đi làm giấy khai sinh cho bé sẽ lựa chọn trong đó xem cái nào phù hợp. Nếu bố mẹ nào chọn một cái tên khác ít gặp thì phải trình bày lý do thuyết phục mới được chấp nhận. Lúc đầu tôi cũng thấy hơi khó chịu, nhưng sau thấy mọi người bảo Chính Phủ Đức có chính sách chăm lo cho trẻ em rất chu đáo. Cái tên cũng phải có ý nghĩa để mong sao bé sau này lớn lên sẽ thành tài, tôi cũng cảm thấy hợp lý. Bà bầu có thể nghỉ không lương 3 năm sau sinh để chăm con Hiện tại, bé Larissa nhà tôi đã được 6 tháng và tôi vẫn chưa có ý định đi làm lại. Ở Đức, phụ nữ còn không được phép trở lại làm việc quá sớm sau khi sinh, ít nhất phải đợi đến khi con được 2 tháng tuổi. Tôi muốn ở nhà lâu lâu để chăm sóc con. Phá luật Đức cũng quy định bà bầu có thể nghỉ đẻ 6 tuần trước thời điểm dự sinh và tận dụng nghỉ phép không lương 3 năm để tập trung vào việc chăm sóc con cái. Có lẽ tôi sẽ nghỉ hết 3 năm để chăm sóc bé Larissa được tốt. Mặc dù sinh đẻ không được mẹ chăm như ở Việt Nam, cũng cảm thấy hơi tủi, nhưng bù lại, tôi có chồng bên cạnh chăm sóc. Chế độ thai sản ở Đức cũng khá tốt. Và quan trọng nhất là bé Larissa ở Đức cũng được hưởng nhiều chính sách chăm sóc tốt từ chính phủ. Vì vậy, tôi rất vui khi lấy chồng ở Đức và sinh con tại đây.
Xem thêm

2 Đọc thêm

BÀI TẬP DÀI MÔN HỌC BẢO VỆ RƠLE

BÀI TẬP DÀI MÔN HỌC BẢO VỆ RƠLE

của mạch từ, nên trong chế độ làm việc bình thường và khi có ngắn mạch ngoài,dòng điện phía thứ cấp của hai tổ máy biến dòng BI 1 và BI2 sẽ khác nhau vàI R = I T 1 − I T 2 = I Kcb.Để ngăn ngừa bảo vệ so lệch làm việc không chọn lọc dưới ảnh hưởng củaIKcb thường dùng các biện pháp để giảm dòng điện không cân bằng như dùng biếndòng bão hòa trung gian, sử dụng nguyên lý hãm bảo vệ bằng dòng điện pha hoặccác hài bậc cao (xuất hiện trong quá trình quá độ và khi mạch từ bị bão hòa).Khi sử dụng nguyên lý so lệch dòng điện để bảo vệ máy biến áp và Máybiến áp tự ngẫu, cần chú ý đến khả năng bảo vệ so lệch có thể làm việc sai khiđóng Máy biến áp không tải.Tùy thuộc thời điểm đóng máy cắt nối Máy biến áp không tải với nguồnđiện với trị số ban đầu (xung kích) của dòng điện từ hóa Máy biến áp có thể đạt trịsố lớn gấp nhiều lần trị số dòng điện định mức của Máy biến áp. Trường hợp xấunhất (Iμ lớn nhất) sẽ xảy ra khi đóng máy cắt điện vào thời điểm điện áp nguồn cótrị số tức thời qua điểm 0. Khi quá trình quá độ chấm dứt, dòng điện từ hóa (I μ) trởlại trị số bình thường (khoảng vài phần trăm dòng điện định mức).Do dòng điện từ hóa chỉ chạy cuộn dây Máy biến áp nối với nguồn khi Máybiến áp đang chạy chế độ không tải nên dòng điện cuộn dây bên kia bằng 0. Bảo vệso lệch Máy biến áp có thể tác động nhầm (lúc này tương đương với trường hợp ngắnmạch bên trong Máy biến áp có nguồn cung cấp từ một phía).Để phân biệt trường hợp đóng Máy biến áp không tải với trường hợp ngắnmạch bên trong Máy biến áp, người ta dựa vào tính chất của dòng từ hóa xung kíchvà dòng điện ngắn mạch bên trong Máy biến áp.Khác với bảo vệ so lệch máy phát điện, dòng điện sơ cấp hai (hoặc nhiều)phía của máy biến áp thường khác nhau về trị số (theo tỷ số biến phía điện áp cácphía) và về góc pha (theo tổ đấu dây: YN, Y0; YN, D11; Y, D5 v.v…).
Xem thêm

36 Đọc thêm

Mạch mô phỏng đèn giao thông

Mạch mô phỏng đèn giao thông

Ý tưởng thực hiện: Nhận thấy giao thông hiện nay còn tình trạng tắc, nghẽn nên nhóm em thực hiện mô phỏng đèn giao thông ngã tư với 2 đường 1 chiều giao nhau sử dụng vi điều khiển 8051, nhằmnghiên cứu, mô phỏng quá trình hoạt động của đèn giao thông, đồng thời đưa ra một số ý kiến về chức năng của đèn giao thông để giảm thiểu tình trạng trên. Chức năng của mạch: Mạch thực hiện đếm lùi, số đếm được hiển thị qua led 7 đoạn. Khi mạch thực hiện đếm lùi, 6led đỏ vàng và xanh sẽ lần lượt sáng biểu thị cho 2 cột đèn giao thông ở ngã tư. Mạch có thể thay đổi thời gian sáng của các đèn thuận tiện điều tiết giao thông. Đồng thời cùng một chương trình, ta có thể áp dụng cho nhiều đèn giao ở các ngã tư có hai tuyến đường một chiều giao nhau mà không phải sửa chương trình để thay thời gian đếm. Mạch có chức năng điều tiết lưu lượng giao thông, khi lượng xe lưu thông của hai tuyến đường không đồng đều bằng cách giảm thời gian đèn đỏ của tuyến đường có nhiều phương tiện tham gia ( tăng lưu lượng xe qua tuyến đường ), tăng thời gian chờ đèn đỏ cho tuyến đường còn lại ( giảm lưu lượng xe qua tuyến đường ). Chức năng được thực hiện nhờ các nút bấm. Khi ở chế độ này thời gian đếm ở nửa chu kì bị giảm một nửa. Với các chức năng trên ta có thể kết hợp với một bộ điều khiển từ xa giúp cho các người điều khiển giao thông có thể theo dõi, điều khiển lượng xe lưu thông từ xa mà không phải đến địa điểm xảy ra tắc nghẽn. Linh kiện làm mạch: Vi điều khiển 8051. Led xanh, đỏ, vàng mỗi loại 2 cái. Tụ thạch anh 12MHz, tụ gốm 33pF, Trở 330 Ω, 1 kΩ. Nút bấm. 2 led 7 đoạn. Nguồn 5V. Quá trình hoạt động: Chế độ 0: Khi mạch bắt đầu hoạt động ta thực hiện lựa chọn số đếm cho đèn giao thông. Ban đầu led 7 đoạn hiển thị giá trị 00, chân p2.6 và p2.7 được nối qua một nút bấm và nối xuông đất. Hai chân được được đưa lên mức 1 qua lệnh được lập trình trên 8051, khi ấn nút bấm, chân p2.6 được nối đất chuyển xuống mức 0, vi điều khiển sẽ nhảy tới chương trình con thực hiện tăng số đếm được hiển thị qua led 7 đoạn, thời gian sáng của đèn đỏ bằng với giá trị hiển thị trên led, việc tăng số đếm được lặp lại khi ta tiếp tục ấn nút p2.6. Sau khi kết thúc lựa chọn thời gian sáng cho đèn đỏ, ta ấn nút p2.7 để tiếp tục lựa chọn thời gian sáng cho đèn vàng. Sau khi hoàn tất ta ấn tiếp nút p2.7 để mạch bắt đầu hoạt động, trong quá trình hoạt đông ta có thể ấn tiếp nút p2.7 để đưa mạch về trạng thái ban đầu. Cổng p1, p3 dùng hiển thị số đếm ra led 7 đoạn, cổng p2 dùng nối với các led biểu thị đèn giao thông, cổng p0 sử dụng làm các chân điều kiện chạy chương trình. Chế độ 1: Khi thời gian sáng của đèn đỏ bằng 01, mạch chuyển sang chế độ 1. Ở chế độ này Vi điều khiển chuyển băng thanh ghi, thời gian sáng tiếp tục được lập trình như chế độ 0. Sau khi lập trình xong trong nửa chu kỳ đầu mạch thực hiện đếm bình thường, nửa chu kỳ sau thời gian sáng của đèn đỏ giảm một nửa, nút p2.6 có nhiệm vụ chuyển đổi việc lựa chọn giảm thời gian sáng của đèn đỏ giữa hai cột đèn giao thông. Khi ấn nút p2.7 mạch được chuyển về trạng thái ban đầu ở chế độ 0. Thuật toán: CODE: org 00H MAIN: LCALLDELAY MOV DPTR,MALED MOV A,0 MOVC A,A+DPTR MOV P1,A MOV P2,0 MOV A,0 MOVC A,A+DPTR MOV P3,A MOV R0,0 CLR P0.0 CLR P0.3 SETB P2.6 SETB P2.7 MOV R7,0 MOV 34H,1 MOV R1,0 MOV R2,0 MOV A,0 MOV R6,10 LJMPTIM NHAN1: DEC R0 MOV A,R0 JNZTIM40 MOV R0,9 DEC 34H TIM40: MOV A,34H DEC A MOV 34H,A MOV R7,34H LJMPTIM26 TIM27: MOV A,R7 JNZTIM15 MOV A,R0 DEC A JNZTIM15 SETB PSW.4 SETB P0.1 LJMPMAIN TIM15: MOV A,0 MOV R6,10 MOV R1,0 LCALLDELAY LJMPTIM2 TIM4: MOV P2,0 SETB P2.6 SETB P2.7 DEC R2 CLR P2.0 SETB P2.3 LOOP: JNB PSW.4,TIM19 JNB P0.1,TIM25 JB P0.1,TIM16 TIM19: MOV A,0 MOVC A,A+DPTR MOV P1,A LCALLDELAY LCALLDELAY CPL P2.0 CPL P2.3 MOVC,P2.0 CPLC MOV P2.1,C MOVC,P2.3 CPLC MOV P2.4,C CLR P2.2 CLR P2.5 JNB PSW.4,TIM22 CLR P0.0 JB P0.1,TIM17 TIM22: MOV R7,34H TIM17: JNB PSW.4,TIM23 JNB P0.1,TIM23 MOV R7,35H TIM23: MOV A,R7 MOVC A,A+DPTR MOV P3,A TIM24: MOV A,R2 MOV R6,A TIM21: MOV A,R0 MOV R1,A JNB PSW.4,LOOP1 JNB P0.1,TIM20 MOV R1,36H TIM20: CPL P0.1 LOOP1: JNB P2.7,TIM36 MOV A,R1 MOVC A,A+DPTR MOV P1,A LCALLDELAY LCALLDELAY MOV A,R7 JZTIM11 TIM12: JNB P2.6,TIM13 MOV A,R6 DEC A JZNHAN LOOP4: MOV R6,A JNB P2.7,TIM36 DJNZ R1,LOOP1 JBC P0.3,TIM19 MOV A,R7 DEC A MOV R7,A LJMPTIM8 TIM11: SETB P0.3 LJMPTIM12 TIM25: LJMPTIM18 TIM36: CLR PSW.4 LCALLDELAY LCALLDELAY LJMPMAIN TIM16: JNB P0.1,TIM19 MOV A,34H MOV B,2 DIV AB MOV R7,A MOV 35H,A MOV A,B MOV B,10 MUL AB ADD A,R0 MOV B,2 DIV AB MOV 36H,A LJMPTIM19 NHAN: MOV A,R1 JZTIM7 SETB P0.0 MOVC,P2.1 MOV P2.2,C MOVC,P2.4 MOV P2.5,C CLR P2.1 CLR P2.4 LJMPLOOP4 TIM18: SETB P0.1 LJMPLOOP TIM13: JB PSW.4,TIM35 LJMPMAIN TIM35: CPL P2.0 CPL P2.3 CLR P0.3 LJMPTIM16 TIM8: MOV A,R6 DEC A MOV R6,A JZNHAN TIM7: MOV A,00H MOVC A,A+DPTR MOV P1,A LCALLDELAY LCALLDELAY MOV R1,9 MOV A,R7 MOVC A,A+DPTR MOV P3,A JB P0.0,TIM32 MOV A,R6 JZTIM31 TIM32: LJMPLOOP1 TIM31: MOVC,P2.1 MOV P2.2,C MOVC,P2.4 MOV P2.5,C
Xem thêm

Đọc thêm

THUYẾT MINH TÍNH TOÁN BỂ SBR CÔNG SUẤT 700M3NGÀY

THUYẾT MINH TÍNH TOÁN BỂ SBR CÔNG SUẤT 700M3NGÀY

cấp Công ty TNHH Công Nghệ Môi Trường Thăng Long. Thiết bị gồm một phaonổi làm bằng vật liệu sợi thủy tinh, phía trên là hệ thống cơ điện tử tự động điềukhiển việc hút nước, được bao quanh bởi một lớp bảo vệ, phần này được nối vớiphần chứa nước chìm dưới nước, giữa hai phần này được bịt kín hoàn toàn bằngmột vòng đệm nằm dưới đáy của phao nổi. Các hệ thống này được nối với ốngdẫn nước ra bằng nhựa dẻo có thể uốn cong theo sự lên xuống của thiết bị. Saucùng, ống dẫn nhựa dẻo nối với ống dẫn nước ra cố định bằng nhựa PVC ∅114mm.Tính toán bơm bùn ra khỏi bể SBR về bể nén bùn.♦- Lưu lượng bùn cần thải bỏ tại một bể SBR trong: Q Vb=0,648 m3/ngày. Lượngbùn này được chia điều cho bốn chu kỳ hoạt động của bể SBR.- Lượng bùn cần xả bỏ tại một chu kỳ:Qck0,6484= 0,162 m3/ngày = 1,875.10-6 m3/s.- Chiều cao cột áp: H=10m.- Công suất của bơm:N=Qck × ρ × g × h
Xem thêm

11 Đọc thêm

ĐÊM KHUYA ĐỂ ĐÈN, DỄ BÉO

ĐÊM KHUYA ĐỂ ĐÈN, DỄ BÉO

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Dựa theo đánh giá từ thí nghiệm trên chuột trong thời gian dài, Đại học bang Ohio, Mỹ đã phát hiện, những con chuột phải sống dưới ánh sáng đèn ngay cả đêm khuya có thể trọng tăng hơn 40%. Bởi, ánh đèn kích thích tới khu vực trao đổi chất của não, làm rối loạn chức năng trao đổi chất, gây tình trạng tích trữ chất béo quá lượng, từ đó dẫn đến tăng cân không kiểm soát. Các chuyên gia khoa học Mỹ mới đây chỉ ra, ở các thành phố lớn - nơi đèn điện thông đêm, tỷ lệ người dân béo phì tăng cao. Việc ngủ hoặc sinh hoạt và làm việc dưới ánh đèn thời gian dài khi đêm khuya gây biến đổi quy luật trao đổi chất, dẫn đến nhu cầu ăn uống cũng biến đổi.   Ánh đèn kích thích tới khu vực trao đổi chất của não, làm rối loạn chức năng trao đổi chất, gây tình trạng tích trữ chất béo quá lượng, từ đó dẫn đến tăng cân không kiểm soát. (Ảnh minh họa) Có nhiều loại ánh sáng đèn khi tối trời như ánh sáng từ đèn điện trong phòng, bên ngoài đường phố, phát ra từ ti vi hoặc máy vi tính. Lưu ý, chỉ cần sinh hoạt dưới các loại ánh sáng này khi đêm khuya, sẽ tăng nguy cơ béo phì. Do vậy, chuyên gia khuyến cáo, đi ngủ nên tắt hết đèn, càng về khuya càng cần giảm cường độ ánh sáng của ti vi và máy tính, nhằm giảm ảnh hưởng xấu tới sức khỏe do ô nhiễm ánh sáng.
Xem thêm

1 Đọc thêm

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI SỐ 1

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI SỐ 1

vô tận của sự phát triển không thể chỉ được xem xét đơn thuần góc độ số lượnghay chất lượng mà là sự tổng hợp của cả số lượng và chất lượng; không chỉ là bộphận dân số trong độ tuổi lao động mà là các thế hệ con người với những tiềm năng,sức mạnh trong cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội.Đối với một tổ chức hay một doanh nghiệp thì NNL được hình thành trên cơsở các cá nhân có vai trò, vị trí được phân công khác nhau nhưng do yêu cầu hoạtđộng của tổ chức, của doanh nghiệp, đã được liên kết lại với nhau để được phấn đấucho một mục tiêu nhất định, nhằm đạt được những thành quả do tổ chức, doanhnghiệp đó đề ra. Bất cứ tổ chức nào cũng được hình thành bởi các thành viên là con6người hay NNL của nó. Do đó, có thể nói NNL của một tổ chức bao gồm tất cảnhững người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồnlực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm thể lực và trí lực. Trong đó: Thể lựcchỉ sức khoẻ của thân thể nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng sức khoẻ của từngngười, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ ytế; Trí lực chỉ sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếucũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách... của từng con người. Trong sản xuất kinhẾdoanh truyền thống, việc tận dụng các tiềm năng về thể lực của con người là khôngUbao giờ thiếu hoặc lãng quên và có thể nói như đã được khai thác gần tới mức cạn
Xem thêm

120 Đọc thêm

Tong hop kien thuc toan cap III full

Tong hop kien thuc toan cap III full

Giaùo vieân Th.S NGUYEÃN VUÕ MINH Đt : 0914449230 TÓM TẮT CÔNG THỨC TAØI LIEÄU NAØY CUÛA …………….......................………………… BIEÂN HOØA, 25082016 LÖU HAØNH NOÄI BOÄ NHÔÙ 1: PHÖÔNG TRÌNH VAØ BAÁT PHÖÔNG TRÌNH BAÄC NHAÁT A.x = B • A  0 : phöông trình coù nghieäm duy nhaát • A = 0 vaø B  0 : phöông trình voâ nghieäm • A = 0 vaø B = 0 : phöông trình voâ soá nghieäm Ax > B • A > 0 : • A < 0 : • A = 0 vaø B  0 : voâ nghieäm • A = 0 vaø B < 0 : voâ soá nghieäm NHÔÙ 2 : PHÖÔNG TRÌNH BAÄT HAI MOÄT AÅN ax2 + bx + c = 0 ( a  0)  = b2 – 4ac
Xem thêm

Đọc thêm

Bài C2 trang 21 sgk vật lí 9

BÀI C2 TRANG 21 SGK VẬT LÍ 9

Mắc một bóng đèn vào hiệu điện thế không đổi bằng dây dẫn ngắn thì đèn sáng bình thường... C2. Mắc một bóng đèn vào hiệu điện thế không đổi bằng dây dẫn ngắn thì đèn sáng bình thường, nhưng nếu thay bằng dây dẫn khá dài có cùng tiết diện và được làm từ cùng một loại vật liệu thì đèn sáng yếu hơn. Hãy giải thích tại sao. Hướng dẫn. Mắc một bóng đèn vào hiệu điện thế không đổi bằng dây dẫn ngắn thì đèn sáng bình thường, nhưng nếu thay bằng dây dẫn khá dài có cùng tiết diện và được làm từ cùng một loại vật liệu thì đèn sáng yếu hơn. Vì dây dẫn khá dài ấy có điện trở lớn hơn dây kia.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Báo cáo đề tài số 1: “Điều khiển hệ thống đèn giao thông”

Báo cáo đề tài số 1: “Điều khiển hệ thống đèn giao thông”

Phiếu giao đề tài : Điều khiển hệ thống đèn giao thông Hoạt động ở 2 chế độ . Chế độ hoạt động bình thường . Chế độ nhấp nháy Ở chế độ hoạt động bình thường (chế độ 1) hoạt động từ 5 h sang đến 9h tối hàng ngày Đúng 5h sáng chế độ 1 hoạt động: Có 2 cột đèn Nam và Bắc. Mỗi cột có 3 đèn xanh , đỏ, vàng.Đèn xanh sáng trong 40 s sau đó đèn vàng sáng trong 5s đèn đỏ sáng 45s. Đến 9h tối chế độ 1 ngắt chuyến sang chế độ 2 hoạt động. Ở chế độ hoạt động ban đêm (chế độ 2) : Hoạt động từ 9h tối đến 5h sáng hôm sau. Đúng 9h tối chế độ 2 hoạt động,đèn xanh và đỏ ở cả 2 cột Nam và Bắc không sáng. Chỉ 2 đèn vàng thay phiên nhau nhấp nháy mỗi đèn sáng trong 5s.
Xem thêm

Đọc thêm

Bể SBR và hiệu quá xử lý

Bể SBR và hiệu quá xử lý

Mô tả về hoạt động bể SBR, các ưu nhược điểm của bể. Thông số thiết kế của bể. Hiệu quả xử lý, các quá trình sinh học diễn ra trong bể. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian sục khí lên sự sinh trưởng của vi sinh vật và hiệu quả xử lý. So sánh bể aerotank và bể sbr

Đọc thêm

BÀI BÁO CÁO THỰC HÀNH ĐO ECG

BÀI BÁO CÁO THỰC HÀNH ĐO ECG

Nhịp tim và biên độ sóng R :Nhịp tim : 48 lần / phútBiên độ sóng R : 13 mm4.8. Đo điên tim chế độ tự động “AUTO “ có lọc nhiễu nguồn .I,II,IIIaVR,aVL,aVF7V1,V2,V3,V4,V5,V6Tính trục điện tim qua ba đạo trình I,II,III84.10 . Đo điện tim chế độ tự động “ AUTO “ tư thế ngồiI,II,IIIaVR,aVL,aVF9

13 Đọc thêm

BAÌ GIẢNG CHI TIẾT MÔN LÝ THUYẾT ĐIỀU KHIỂN TỰ ĐỘNG DÙNG CHO NGHÀNH MÁY TÀU BIỂN CHUONG 2

BAÌ GIẢNG CHI TIẾT MÔN LÝ THUYẾT ĐIỀU KHIỂN TỰ ĐỘNG DÙNG CHO NGHÀNH MÁY TÀU BIỂN CHUONG 2

2.1.2 Chế độ làm việc động của hệ thống tự động điều chỉnh:Chế độ làm việc động của hệ thống tự động điều chỉnh là một trạng thái mà đó sự cân bằnggiữa các tác động bị phá vỡ, vì vậy các thông số của quá trình điều chỉnh thay đổi theo thời gian.Khi kết thúc chế độ động hệ thống sẽ trở về trạng thái cân bằng tĩnh mới hoặc trở về trạng thái cânbằng ban đầu.Quá trình động xảy ra khi hệ thống chuyển từ trạng thái tĩnh này sang trạng thái tĩnh khác gọi làquá trình quá độ hay quá trình chuyển tiếp của hệ thống điều chỉnh tự động điều chỉnh. Quá trình quá độcủa hệ thống tự động điều chỉnh thường có các dạng sau đây:- Quá trình quá độ nhiều dao động (đường 1 trên hình vẽ)- Quá trình quá độ ít dao động (đường 2)- Quá trình quá độ không có quá điều chỉnh (đường 3)- Quá trình quá độ là quá trình đơn điệu (đường 4)y(t)124yo3Hình 2.1.4: Quá trình chuyển tiếp của hệ thống tự động điều chỉnht hệ thống tự động điềuTrong kỹ thuật, để đảm bảo cho hệ thống hoạt động tốt, quá trình động củachỉnh phải thỏa mãn những yêu cầu sau đây:- Quá trình động của hệ thống phải đưa hệ thống tới một trạng thái ổn định. Đồ thị biểu diễn sựthay đổi của đại lượng được điều chỉnh (đặc tính động hay đặc tính quá độ của hệ thống) phải tiệm cận
Xem thêm

12 Đọc thêm

Trình bày ý kiến thuyết phục mọi người về sự cần thiết của cả trăng và đèn

TRÌNH BÀY Ý KIẾN THUYẾT PHỤC MỌI NGƯỜI VỀ SỰ CẦN THIẾT CỦA CẢ TRĂNG VÀ ĐÈN

Đèn khoe đèn tỏ hơn trăng.Đèn ra trước gió còn chăng hỡi đèn?.Trăng khoe trăng tỏ hơn đèn.Cớ sao trăng phải chịu luồn đám mây?  Bài làm tham khảo    Trình bày ý kiến nhằm thuyết phục mọi người:    Có lúc tôi tự hỏi: Trăng và đèn ai hơn ai? Cái nào cần thiết hơn trong cuộc sống chúng ta? Theo tôi, cả đèn và trăng đều cần thiết. Trăng là nguồn sáng khi đêm về, không sợ gió, không sợ mất nguồn điện. Trăng soi sáng muôn nơi. Trăng làm cho cuộc sống thêm tươi đẹp. Trăng gợi cảm hứng sáng tác cho nhà thơ, hoạ sĩ... Những đêm có trăng, vạn vật đều trở nên tươi đẹp hơn, thơ mộng hơn. Đặc biệt các bạn thiếu nhi rất thích hội Rằm tháng tám (Tết Trung thu). Tuy thế, trăng cũng không thể kiêu ngạo với đèn. Trăng khi mờ, khi tỏ, khi khuyết, khi tròn, gặp hôm trời nhiều mây trăng sẽ bị che khuất. Một tháng trăng chỉ xuất hiện có mấy ngày.    Còn đèn thì sao? Đèn soi sáng trong đêm ở gần nên soi rõ hơn, giúp chúng ta đọc sách, làm việc lúc tối trời. Đèn chắng bao giờ bị mây che khuất. Tuy vậy đèn cũng không thế kiêu ngạo với trăng. Vì đèn ra gió thì tắt, dù là đèn điện cũng có thể mất điện. Đèn dầu và đèn điện chỉ soi sáng  được một nơi.    Ở mặt này thì trăng hơn đèn, còn ở mặt kia thì đèn hơn trăng. Vì vậy cả trăng và đèn đều rất cần cho cuộc sống của con người, cho mọi sinh hoạt trên trái đất này.    
Xem thêm

1 Đọc thêm

Cùng chủ đề