CÂU 12 TẠI SAO LẠI NÓI NGÔN NGỮ LÀ MỘT HỆ THỐNG TÍN HIỆU ĐẶC BIỆT

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "CÂU 12 TẠI SAO LẠI NÓI NGÔN NGỮ LÀ MỘT HỆ THỐNG TÍN HIỆU ĐẶC BIỆT":

TÍN HIỆU THẨM MỸ MƯA TRONG THƠ HOÀNG CẦM NHÌN TỪ GÓC ĐỘ NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN

TÍN HIỆU THẨM MỸ MƯA TRONG THƠ HOÀNG CẦM NHÌN TỪ GÓC ĐỘ NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN

1. Lí do chọn đề tài 1.1. Mặc dù được xem là một trường phái khá non trẻ và vẫn còn có những quan niệm, hướng tiếp cận nghiên cứu chưa thống nhất, nhưng hiện nay, Ngôn ngữ học tri nhận (cognitive linguistics) là một trong những khuynh hướng thu hút được sự quan tâm nhất của giới ngôn ngữ học. Đối tượng cụ thể của ngôn ngữ học tri nhận là ngôn ngữ với tư cách là một trong những ứng dụng tri nhận của con người. Ngôn ngữ học tri nhận, một mặt xem xét lại những vấn đề ngôn ngữ của Ngôn ngữ học truyền thống (chẳng hạn như: phạm trù, ý niệm, ẩn dụ, hoán dụ,…); mặt khác, đặt ra những vấn đề mới chưa từng được nói đến trong ngôn ngữ học truyền thống (ví dụ như: khung tri nhận, hình – nền, ẩn dụ ý niệm – tri nhận,…). Nghiên cứu lí thuyết, lí luận của Ngôn ngữ học tri nhận sẽ giúp ta có nhiều khám phá mới mẻ trong nghiên cứu ngôn ngữ của loài ngườinói chung và ngôn ngữ nghệ thuật nói riêng. Vì vậy, nghiên cứu Ngôn ngữ học tri nhận giúp chúng ta nắm bắt rõ hơn về quá trình tư duy, khám phá thế giới của con người phản chiếu qua ngôn ngữ; và ngược lại, sự tri nhận cũng sẽ là cơ sở giúp giải mã các tầng bậc ý nghĩa của ngôn ngữ. 1.2. Có thể nói, nếu ngôn ngữ là cửa sổ mở ra các vùng tri nhận khác nhau với cấu trúc tri nhận và quy luật tri nhận trong thế giới tinh thần của con người thì tín hiệu thẩm mỹ chính là phương tiện thể hiện bằng ngôn ngữ các ý niệm và phạm trù tri nhận của con người. Do vậy, bên cạnh việc tiếp cận đối tượng nghiên cứu là tín hiệu thẩm mỹ theo phương pháp luận của ngữ pháp chức năng, chúng tôi bắt đầu ứng dụng phương pháp luận của Ngôn ngữ học tri nhận bằng việc tìm hiểu quá trình tri nhận và quá trình mã hóa các ý niệm bằng ngôn ngữ mà kết quả đâu tiên, cụ thể của quá trình này chính là các tín hiệu thẩm mỹ trong tác phẩm văn chương. Đến lượt mình, các phương tiện, biểu thức ngôn ngữ này lại trở thành điểm khởi đầu cho một quá trình tri nhận tiếp theo nảy sinh do sự tiếp xúc của người đọc với tác phẩm. Qua đó, cùng với thế giới tinh thần của tác giả, người đọc hình thành nên những ý niệm và những phạm trù tri nhận về chính những ý niệm đã được mã hóa trong tác phẩm. 1.3. Trong văn học Việt Nam, “mưa” được xem như là một biểu tượng, một tín hiệu thẩm mỹ hay một ẩn dụ cho một ý niệm nào đó. Với Hoàng Cầm, “mưa” trở thành nỗi ám ảnh. “Mưa” chuyên chở trong đó những cảm xúc tinh tế của một tâm hồn thơ đa tình. Có thể nói, Hoàng Cầm là “người góp tiếng nói nhiệm màu cho những cơn mưa” 35. Dựa vào hệ thống tín hiệu thẩm mỹ “mưa” và việc vận dụng lí thuyết của ngôn ngữ học tri nhận, chúng tôi đi tìm hiểu tín hiệu thẩm mỹ “mưa” trong thơ Hoàng Cầm trong sự tương quan với các ý niệm khác để từ đó cung cấp thêm một cái nhìn về thơ ông trên các phương diện: năng lực tư duy, sáng tạo ngôn ngữ nghệ thuật, đặc biệt là dấu ấn tư duy – văn hóa dân tộc phản chiếu trong thế giới quan, nhân sinh quan của tác giả. Khảo sát các công trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy chưa có một công trình nào thực sự lấytín hiệu“mưa” trong thơ Hoàng Cầm làm đối tượng nghiên cứu từ lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận. Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn “Tín hiệu thẩm mỹ “mưa” trong thơ Hoàng Cầm nhìn từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận”làm đề tài cho khóa luận của mình.
Xem thêm

108 Đọc thêm

Những nét đẹp văn hóa đặc trưng của nhât

NHỮNG NÉT ĐẸP VĂN HÓA ĐẶC TRƯNG CỦA NHÂT

1.Ngôn ngữ Tiếng Nhật Bản là một ngôn ngữ được hơn 130 triệu người sử dụng ở Nhật Bản và những cộng đồng dân di cư Nhật Bản khắp thế giới. Nó là một ngôn ngữ chắp dính (khác biệt với tiếng Việt vốn thuộc vào loại ngôn ngữ đơn lập phân tích cao) và nổi bật với một hệ thống các nghi thức nghiêm ngặt và rành mạch, đặc biệt là hệ thống kính ngữ phức tạp thể hiện bản chất thứ bậc của xã hội Nhật Bản, với những dạng biến đổi động từ và sự kết hợp một số từ vựng để chỉ mối quan hệ giữa người nói, người nghe và người được nói đến trong cuộc hội thoại.
Xem thêm

14 Đọc thêm

Ôn tập Tiếng Việt lớp 10

ÔN TẬP TIẾNG VIỆT LỚP 10

1. Hãy nêu những đặc điểm chung và đặc điểm diễn đạt của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt và phong cách ngôn ngữ nghệ thuật. Gợi ý: - Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt (còn được gọi là phong cách hội thoại, phong cách khẩu ngữ) chủ yếu tồn tại ở dạng nói, là kiểu diễn đạt trong giao tiếp hằng ngày, mang tính chất tự nhiên, thoải mái và sinh động, giàu cảm xúc, ít trau chuốt. Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt thể hiện tính khí, thói quen, nét riêng của mỗi cá nhân trong cách trao đổi, chuyên trò, tâm sự với người khác. Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt không dùng những lối nói trừu tượng, chung chung mà ưa chuộng những lối diễn đạt cụ thể, trực quan, sinh động, giàu âm thanh, giàu màu sắc, mang dấu ấn rõ rệt của những tình huống giao tiếp hằng ngày. Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt ưa thích những cách diễn đạt mới mẻ, tạo được ấn tượng cho người tiếp nhận. Trong phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, cảm xúc của người nói hay người viết được bộc lộ một cách tự nhiên, gắn với những tình huống giao tiếp cụ thể, muôn hình muôn vẻ. - Là loại phong cách ngôn ngữ dùng trong các văn bản thuộc lĩnh vực văn chương, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật khác với các phong cách ngôn ngữ khác ở những điểm cơ bản sau: + Tính thẩm mĩ: Văn chương là nghệ thuật ngôn ngữ, là sự thể hiện giá trị thẩm mĩ của ngôn ngữ. Ngôn ngữ trong văn bản nghệ thuật, với tư cách là chất liệu xây dựng hình tượng, có sự tổng hoà của ngữ âm và ngữ nghĩa, hoà phối để tạo nên hiệu quả thẩm mĩ. + Tính đa nghĩa: Nghĩa của văn bản nghệ thuật gồm nhiều thành phần: thành phần biểu thị thông tin khách quan, thành phần biểu thị tình cảm; thành phần nghĩa tường minh, thành phần nghĩa hàm ẩn. Các thành phần nghĩa này thống nhất với nhau trong những hình tượng nghệ thuật vừa cụ thể, vừa sinh động. Trong đó, thành phần nghĩa hàm ẩn có một vị trí đặc biệt quan trọng trong văn bản nghệ thuật, biểu thị những suy ngẫm, gợi liên tưởng, tưởng tượng,… tạo nên những tín hiệu thẩm mĩ, những thông điệp sâu sắc về cuộc sống và con người. + Dấu ấn riêng của tác giả: Mỗi nhà văn, nhà thơ thường có sở thích, sở trường riêng trong diễn đạt. Sở thích và sở trường ấy được bộc lộ ở những tác phẩm có giá trị và tạo thành nét độc đáo, dấu ấn riêng của tác giả. 2. Trình bày những hiểu biết của anh (chị) về các chức năng của ngôn ngữ, các nhân tố của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ. Gợi ý: - Ngôn ngữ là công cụ để đạt đến mục đích giao tiếp. Với tư cách là công cụ như vậy, ngôn ngữ có những chức năng cơ bản: Chức năng thông báo sự việc;  Chức năng bộc lộ (biểu cảm); Chức năng tác động. - Các nhân tố của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ: Nhân vật giao tiếp - người phát (người nói / người viết) và người nhận (người nghe / người đọc); Công cụ giao tiếp và kênh giao tiếp, là ngôn ngữ được chọn dùng làm phương tiện chuyên chở thông tin và hình thức thực hiện giao tiếp; Nội dung giao tiếp, là phạm vi hiện thực bên ngoài ngôn ngữ gồm những sự vật, sự việc nào đó trong đó sự vật thế nào, vì sao, ai làm, làm gì, với ai, ở đâu, khi nào, nhằm mục đích gì,… thường phải được xác định rõ; là bản thân ngôn ngữ, trong trường hợp này, ngôn ngữ được dùng để nói về chính ngôn ngữ; Hoàn cảnh giao tiếp, là những yếu tố thời gian, không gian, những hiểu biết của người tham gia giao tiếp, môi trường xã hội,… của một cuộc giao tiếp cụ thể. 3. Những yêu cầu trong sử dụng tiếng Việt. Gợi ý: 4. Ôn tập những kiến thức khái quát về lịch sử tiếng Việt: nguồn gốc, quan hệ họ hàng và các thời kì phát triển. Gợi ý: Xem lại bài Khái quát lịch sử tiếng Việt. 5. Hãy nêu những đặc điểm của văn bản, đặc điểm của văn bản nói và văn bản viết. Gợi ý: - Các đặc điểm của văn bản: Tính thống nhất về đề tài, chủ đề và mục đích; Tính hoàn chỉnh về hình thức(bố cục, câu, liên kết, từ ngữ); Văn bản có tác giả. - Các đặc điểm của văn bản nói: dùng trong giao tiếp với sự có mặt của người nói lẫn người nghe, là hình thức giao tiếp cơ bản nhất, sống động nhất, tự nhiên nhất của con người; sử dụng âm thanh, ngữ điệu làm phương tiện biểu hiện, kèm theo các phương tiện phi ngôn ngữ; có tính không trọn vẹn và ít trau chuốt. - Các đặc điểm của văn bản viết: có khả năng lưu giữ lâu dài, hướng tới phạm vi người đọc rộng lớn; sử dụng hệ thống các dấu câu, kí hiệu quy ước để biểu đạt và làm cho văn bản tự đầy đủ về ý nghĩa; có những từ ngữ đặc thù, không có trong văn bản nói; Các yếu tố trong văn bản  phù hợp với đặc thù giao tiếp gián tiếp và bởi vậy nó có tính tinh luyện và trau chuốt. 6. Viết một văn bản giới thiệu về ca dao Việt Nam (qua những bài đã học) và tự phân tích văn bản ấy: kiểu văn bản, các nhân tố giao tiếp, việc đáp ứng yêu cầu sử dụng tiếng Việt; và trình bày văn bản đó dưới dạng nói trước lớp rồi chỉ ra sự khác nhau giữa văn bản ở dạng nói và dạng viết. Gợi ý: - Viết văn bản theo các ý sau: + Ca dao là gì? + Ca dao Việt Nam có đặc điểm gì về nội dung? + Ca dao Việt Nam có những nét đặc sắc gì về nghệ thuật? + Vai trò thẩm mĩ của ca dao? - Đây là kiểu văn bản thuyết minh. - Dựa vào gợi ý ở bài tập 2 để xác định các nhân tố giao tiếp liên quan đến văn bản của mình. - Đánh giá văn bản theo yêu cầu sử dụng tiếng Việt: về ngữ âm, chữ viết, về từ ngữ, ngữ pháp và về phong cách ngôn ngữ). - Dựa vào gợi ý ở bài tập 5 để xác định sự khác nhau giữa văn bản ở dạng nói và dạng viết đối với văn bản của mình. loigiaihay.com
Xem thêm

2 Đọc thêm

CHỨC NĂNG CỦA CÁC YẾU TỐ NGÔN TỪ TRONG THƠ (QUA KHẢO SÁT TẬP THƠ VỀ KINH BẮC CỦA HOÀNG CẦM)

CHỨC NĂNG CỦA CÁC YẾU TỐ NGÔN TỪ TRONG THƠ (QUA KHẢO SÁT TẬP THƠ VỀ KINH BẮC CỦA HOÀNG CẦM)

I. Lí do chọn đề tàiNgôn ngữ trong tác phẩm văn học là ngôn ngữ được cấu tạo lại từ ngôn ngữ tự nhiên nhằm phục vụ mục đích sáng tạo của người nghệ sĩ. Ngôn ngữ trong tác phẩm văn học thường được nói đến với chức năng thẩm mỹ xây dựng hình tượng văn học. Bởi chỉ có thông qua hình tượng người đọc mới có thể hiểu được lớp nội dung ý nghĩa. Nhưng có phải tất cả những yếu tố ngôn ngữ tồn tại trong tác phẩm văn học đều là ngôn ngữ nghệ thuật? Chúng đều được cấu tạo lại từ ngôn ngữ tự nhiên? Chúng tôi lựa chọn đề tài “Chức năng của các yếu tố ngôn từ trong thơ” để tìm đáp án cho câu hỏi đó.Việc lựa chọn đề tài này xuất phát từ sự băn khoăn về chức năng của ngôn ngữ trong tác phẩm văn học. Những cơ sở lý thuyết khi bàn đến ngôn ngữ nghệ thuật (ngôn ngữ trong tác phẩm văn học) chủ yếu nói đến chức năng thẩm mỹ chung cho tất cả các yếu tố ngôn ngữ, mà chưa chỉ ra chức năng cụ thể của từng yếu tố ngôn ngữ. Sẽ rất thiếu sót nếu như ngôn ngữ trong tác phẩm văn học chỉ được nhìn nhận ở khía cạnh chức năng thẩm mỹ tín hiệu thẩm mỹ. Theo chúng tôi, bên cạnh những yếu tố ngôn ngữ giữ chức năng thẩm mỹ thì vẫn còn những yếu tố ngôn ngữ không giữ chức năng này.Thực tiễn nghiên cứu thơ Hoàng Cầm cho thấy việc nghiên cứu ngôn ngữ trong thơ Hoàng Cầm đặc biệt là nghiên cứu tập “Về Kinh Bắc” ở góc độ lý luận ngôn ngữ cũng có khá nhiều đề tài, tuy nhiên chưa có đề tài nào chỉ ra được chức năng của từng yếu tố ngôn ngữ, đặc điểm của các yếu tố ngôn ngữ đó và chỉ ra một cách có hệ thống. Đó là một khoảng trống nhỏ để chúng tôi có cơ hội được tiến hành nghiên cứu đề tài này.
Xem thêm

144 Đọc thêm

Đề thi học sinh giỏi lớp 10 môn sinh học

ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI LỚP 10 MÔN SINH HỌC

Câu 1 (1 điểm) a. Các tế bào nhận biết nhau bằng các “dấu chuẩn” có trên màng sinh chất. Theo em dấu chuẩn là hợp chất hóa học nào? Chất này được tổng hợp và vận chuyển đến màng sinh chất như thế nào? b. Một loại polisaccarit được cấu tạo từ các phân tử glucozơ liên kết với nhau bằng liên kết -1,4- glycozit thành mạch thẳng không phân nhánh.Tên của loại polisaccarit này là gì? Ở tế bào nấm, chất hóa học nào thay thế vai trò của loại polisaccarit này? Hãy cho biết đơn phân cấu tạo nên chất hóa học này? Câu 2 (1 điểm) Trong tế bào có một bào quan được ví như “hệ thống sông ngòi, kênh rạch trên đồng ruộng”? Hãy cho biết tên gọi, cấu tạo, chức năng của loại bào quan này trong tế bào nhân thực? Câu 3 (1 điểm) a.Vì sao nói quang hợp ở vi khuẩn lam tiến hóa hơn quang hợp ở vi khuẩn lưu huỳnh? b. Để phân giải một phân tử glucozơ tế bào cần bao nhiêu phân tử NAD + và FAD? Câu 4 (1 điểm) a.Hệ số hô hấp là gì? Xét trên cùng số nguyên tử C thì dầu thực vật hay mỡ động vật sẽ có hệ số hô hấp cao hơn? Giải thích. b.Bằng chứng nào liên quan đến enzim ATP syltetaza để chứng minh ti thể bắt nguồn từ sinh vật nhân sơ theo con đường nội cộng sinh? Câu 5 (1 điểm) Chất adrênalin gây đáp ứng ở tế bào gan bằng phản ứng phân giải glicôgen thành glucôzơ, nhưng khi tiêm adrênalin vào tế bào gan thì không gây được đáp ứng đó. a. Tại sao có hiện tượng trên? b. Trong con đường truyền tín hiệu từ adrênalin đến phản ứng phân giải glicôgen, chất AMP vòng (cAMP) có vai trò gì? Câu 6 (1 điểm) Nêu 3 sự kiện chỉ xảy ra trong quá trình phân bào giảm phân mà không xảy ra trong phân bào nguyên phân? Giải thích tại sao 3 sự kiện đó lại dẫn đến sự đa dạng di truyền. Câu 7 (1 điểm) a.Các vi khuẩn cố định đạm có những đặc điểm cấu tạo nào đặc biệt giúp chúng thực hiện được việc cố định nitơ khí quyển? b.Ở vi sinh vật có 2 dạng quang hợp: Quang hợp thải O2 và quang hợp không thải O2. Nêu tên 1 số vi sinh vật thuộc 2 dạng này? Trong 2 dạng này, dạng nào tiến hóa hơn, vì sao? Câu 8 (1 điểm) Hãy nêu kiểu phân giải, chất nhận điện tử cuối cùng và sản phẩm khử của vi khuẩn lam, vi khuẩn sinh mê tan, vi khuẩn sunfat, nấm men rượu . Câu 9 (1 điểm) Phagơ SP01 là loại phagơ độc đối với vi khuẩn Baccillus subtilis. - Phagơ độc và phagơ ôn hòa là gì? Trình bày chu trình gây tan của SP01 đối với Bac. subtilis? - Một dịch huyền phù Bac. subtilis trong môi trường được đường hóa 2mol/l. Tiếp tục bổ sung lizôzim vào dịch nuôi cấy của vi khuẩn này. Các vi khuẩn có bị nhiễm bởi phagơ SP01 không? Vì sao? Câu 10 (1 điểm) Quan sát thấy 1 tế bào động vật có màng sinh chất nguyên vẹn, các bào quan tham gia quá trình tổng hợp protein không bị hỏng nhưng không thấy có protein xuất bào. Nêu giả thuyết tại sao có hiện tượng như vậy ? Trình bày thí nghiệm chứng minh ?
Xem thêm

4 Đọc thêm

Sử dụng VHDL thiết kế bộ đếm tiền chẵn từ 00 – 98 hoặc Đếm lẻ từ 01 – 99 hiển thị trên LED 7 thanh có tín hiệu SELECT, RESET, START, STOP.

SỬ DỤNG VHDL THIẾT KẾ BỘ ĐẾM TIỀN CHẴN TỪ 00 – 98 HOẶC ĐẾM LẺ TỪ 01 – 99 HIỂN THỊ TRÊN LED 7 THANH CÓ TÍN HIỆU SELECT, RESET, START, STOP.

CHƯƠNG I. GIỚI THIỆU CHUNGI. TỔNG QUAN VỀ NGÔN NGỮ VHDL“Very High Speed Integrated Circuit” là ngôn ngữ chuẩn trong công nghiệp, được sử dụng để mô tả phần cứng từ mức trừu tượng tới mức tối cụ thể. VHDL nhanh chóng trở thành một ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi trên thế giới cho những thiết kế có độ phức tạp trung bình. Các thiết kế sử dụng ngôn ngữ VHDL được hỗ trợ bởi máy tính, FPGA, các tiêu chuẩn trên VHDL được hỗ trợ bởi công cụ của nó, các công cụ này bao gồm: mô phỏng, tổng hợp, định đường đi…VHDL là một nhánh của chương trình “Very High Speed Integrated Circuit”(VHSIC), được phát triển bởi Department of Defense vào đầu thập niên 80. Mục tiêu của chương trình VHSIC là tạo ra những mạch điện được tích hợp thông dụng mới. Những người tham gia chương trình muốn đẩy mạnh hơn nữa việc giới hạn công nghệ trong giai đoạn thiết kế và sản xuất ra các vi mạch tích hợp.Chương trình đã đạt được những thành công đáng ngạc nhiên, nhưng trong quá trình phát triển những mạch điện có độ phức tạp lớn, người thiết kế căn cứ vào những công cụ đã được sử dụng để tạo ra những thiết kế lớn thì không có đầy đủ, các công cụ hỗ trợ cho người thiết kế hầu hết ở mức cổng. Tạo ra một thiết kế sử dụng hàng trăm, hàng nghìn cổng mà sử dụng dạng mức cổng thì thật sự là một nhiệm vụ cực kỳ khó khăn. Chính vì thế một phương pháp mô tả mới được ra đời đó là VHDL. Ban đầu VHDL được thiết kế như một ngôn ngữ dùng chung để cung cấp các tài liệu và mô phỏng. Sau đó VHDL đã bao gồm các công cụ tổng hợp để tả thiết kế ở mức thanh ghi.Vào 1981, ngôn ngữ mô tả phần cứng đã được đề nghị và được gọi là VHSIC Hardware Description Language mà ngày nay chúng ta gọi là VHDL. Mục đích của ngôn ngữ mới này bao gồm 2 phần: Đầu tiên người thiết kế muốn có một ngôn ngữ giúp họ có thể vận dụng để mô tả các mạch điện phức tạp, kế tiếp tiếp họ muốn ngôn ngữ đó trở thành một chuẩn để tất cả mọi người làm việc trong một môi trường VHSIC có thể phân phối các thiết kế của họ tới những người khác trong một định dạng chuẩn. Từ những chương trình con có thể sắp xếp để tạo thành một chương trình chính với một định dạng chuẩn duy nhất.Năm 1986 VHDL đã đưa ra một chuẩn gọi là IEEE, chuẩn này đã qua một số lần thay đổi sửa chữa và công nhận là chuẩn IEEE 1076 vào tháng 12 năm 1987. 1. Các đặc điểm chính của ngôn ngữ VHDL Đặc tính tổng quát:VHDL có thể được sử dụng để lập tài liệu thiết kế, thiết kế mức độ cao, mô phỏng tổng hợp và kiểm tra phần cứng, nó cho phép kiểm tra phần cứng từ mức hệ thống tới mức cổng. Hỗ trợ tính đồng thời nghĩa là các hợp phần tử nhỏ đến lớn hoạt động tại mọi thời điểm Hỗ trợ phân cấp thiết kế:Khi thiết kế bằng VHDL người thiết kế có thể phân bài toán lớn thành những bài toán nhỏ hơn sao cho có thể giải quyết và quản lí dễ dàng. Đây là đặc tính thiết yếu của ngôn ngữ phần cứng đa cấp, thiết kế chứa một mô tả giao diện và các mẫu có thể dựa vào thư viện để sau khi dịch bởi chương trình dịch. Với đặc điểm này người thiết kế có thể có tạo ra những thư viện riêng có chứa các thành phần dàanh cho những thiết kế sau này mà không phải thiết kế lại, điều này cho phép người thiết kế rút ngắn thời gian thiết kế và quá trình thiết kế trở nên đơn giản hơn rất nhiều Các lệnh tuần tự:Khi người thiết kế phân chia hệ thống thành những hợp phần đồng thời hay những phần con, tiếp đó người thiết kế có thể mô tả hoạt động chi tiết bên trong bằng những cấu trúc ngôn ngữ lập trình như: case, ifthenelse, loop,... các lệnh tuần tự người thiết kế có thể mô tả hệ thống một cách dễ dàng và linh hoạt, ngoài ra còn giúp cho người làm việc chung một nhóm có thể dễ dàng hiểu được ý tưởng thiết kế của nhau để có sự phối hợp tốt hơn. Thiết kế tương thích chung:Để thiết kế tổng quát, ngôn ngữ VHDL cho phép người thiết kế đặt cấu hình mô tả hợp phần có thông số chung trong thiết kế, mô tả tương thích chung có thể thay đổi kích thích, đặc tính vật lý, định thời, đặc tính tải và mội trường hoạt động của thiết kế. Khai kiểu và cách dùng:Ngôn ngữ VHDL cho phép mô tả các biến số ở kiểu như: bit, Boolean, iteger, floating point, kiểu liệt kê, kiểu dãy, bản ghi, ngoài ra còn hỗ trợ các kiểu do người thiết kế định nghĩa. VHDL cũng cho phép người thiết kế định nghĩa các loại toán tử cho riêng mình để phục vụ cho quá trình thiết kế linh hoạt hơn. Sử dụng các chương trình con:Một đặc điểm đặc biệt của ngôn ngữ VHDL là cho phép đặc tả định thời ở tất cả các cấp, nó cho phép người thiết kế đặt giá trị của tín hiệu với thời gian chậm, định nghĩa tín hiệu đồng bộ, đặc tả độ rộng xung, các ràng buộc thời gian khác…, người thiết kế có thể căn cứ vào những điểm này để định các giá trị tín hiệu sao cho phù hợp với các thiết kế phần cứng. Đặc tả cấu trúc:
Xem thêm

37 Đọc thêm

ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÔN NGỮ BÁO IN HIỆN ĐẠI TIỂU LUẬN CAO HỌC

ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÔN NGỮ BÁO IN HIỆN ĐẠI TIỂU LUẬN CAO HỌC

1. Lý do chọn đề tài Là hệ thống tín hiệu để truyền tải thông tin trong tác phẩm báo chí, ngôn ngữ có vai trò quan trọng đối với sự hình thành của tác phẩm báo chí. Thông qua ngôn ngữ là chữ viết, hình ảnh, lời nói, âm thanh... tin tức báo chí được thể hiện đáp ứng nhu cầu thông tin của công chúng. Một tác phẩm báo chí có sức nặng hay không phụ thuộc không chỉ vào bản chất vấn đề thời sự tác động đến công chúng như thế nào mà còn phụ thuộc rất lớn vào cách thể hiện của nhà báo. Nói cách khác, ngôn ngữ là phương thức biểu hiện của nội dung thông tin. Bên cạnh những đặc điểm chung, mỗi loại hình báo chí khác nhau, ngôn ngữ lại mang những đặc điểm khác nhau. Với báo in, yếu tố ngôn ngữ hàng đầu phải kể đến là hệ thống chữ viết, hình ảnh minh họa. Trải qua thời gian, ngôn ngữ báo chí có sự vận động phù hợp với nội dung thông tin ở mỗi giai đoạn khác nhau cũng như nhu cầu, cách thức tiếp nhận thông tin của công chúng trong mỗi giai đoạn. Sự vận động của ngôn ngữ báo in hiện đại là một vấn đề mới và hiện chưa có nhiều nghiên cứu về vấn đề này. Ngôn ngữ báo in có sự thay đổi, biến hóa theo một số xu hướng mới, trong đó có sự tác động lớn từ xu hướng quốc tế hóa. Một số từ mới cũng ra đời từ cách giao tiếp mới mẻ của công chúng. Tìm hiểu đặc điểm của ngôn ngữ báo in hiện đại không chỉ giúp các phóng viên, nhà báo có vốn kiến thức về ngôn ngữ phong phú, vận dụng vào hoạt động tác nghiệp một cách thành thục, đúng ngữ cảnh và thành công, mà còn là tài liệu quý cho hoạt động nghiên cứu khoa học về vấn đề này, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
Xem thêm

14 Đọc thêm

HƯỚNG DẪN SOẠN BÀI : ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÔN NGỮ NÓI VÀ NGÔN NGỮ VIẾ

HƯỚNG DẪN SOẠN BÀI : ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÔN NGỮ NÓI VÀ NGÔN NGỮ VIẾ

ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÔN NGỮ NÓI VÀ NGÔN NGỮ VIẾT I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Về khái niệm ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Ngôn ngữ nói là ngôn ngữ âm thanh, dùng trong giao tiếp tự nhiên hàng ngày ; trong đó người nói người nghe tiếp xúc trực tiếp với nhau, có thể thay phiên nhau trong vai nói và vai nghe. Ngôn ngữ viết là thứ ngôn ngữ được thể hiện bằng chữ viết trong văn bản và được tiếp nhận bằng thị giác. 2. Những đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết a) Ngôn ngữ nói                 - Ngôn ngữ nói rất đa dạng về ngữ điệu : Giọng nói có thể cao hay thấp, nhanh hay chậm, mạnh hay yếu, liên tục hay ngắt quãng. Trong ngôn ngữ nói, ngữ điệu là yếu tố quan trọng góp phần bộc lộ và bổ sung thông tin. - Trong ngôn nữ nói, ngoài sự kết hợp giữa âm thanh và giọng điệu còn có các phương tiện bổ trợ ngôn ngữ khác như : nét mặt, ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ,… của người nói: - Từ ngữ trong ngôn ngữ nói được sử dụng khá đa dạng : có những lớp từ mang tính khẩu ngữ, có những từ ngữ địa phương, các tiếng lóng, các biệt ngữ, các trợ từ, thán từ, các từ  ngữ đưa đẩy,… Ngôn ngữ nói hay dùng những câu tỉnh lược (có khi lược chỉ còn có một từ) nhưng cũng có khi câu nói rườm rà, có nhiều yếu tố dư, hoặc lặp đi lặp lại (để nhấn mạnh hoặc để người nghe có điều kiện tiếp nhận, lĩnh hội, thấu đáo nội dung giao tiếp. - Ngôn ngữ nói được sản sinh nhanh chóng, tức thời, không có sự gọt giũa, suy ngẫm hay lựa chọn. b) Ngôn ngữ viết - Ngôn ngữ viết được sản sinh một cách có chọn lọc, được suy nghĩ, nghiền ngẫm và gọt giũa kĩ càng. - Trong ngôn ngữ viết, sự hỗ trợ của hệ thống dấu câu, của các kí hiệu và văn  tự, của các hình ảnh minh hoạ, bảng biểu, sơ đồ…. giúp  biểu hiện rõ thêm nội dung giao tiếp. - Từ ngữ trong ngôn ngữ viết được lựa chọn, thay thế nên có điều kiện đạt được độ chính xác cao. Đồng thời khi viết, tuỳ từng phong cách ngôn ngữ của văn bản mà người viết có sự lựa chọn hệ thống ngôn  từ cho phù hợp. - Trong văn bản viết, người ta thường tránh dùng các từ mang tính khẩu ngữ, các từ địa phương, tiếng lóng…. Về câu, ngôn ngữ viết thường dùng các câu dài, câu nhiều thành phần nhưng được tổ chức mạch lạc, chặt chẽ nhờ các quan hệ từ và sự sắp xếp  các thành phần phù hợp. 3. Ưu, nhược điểm của ngôn  ngữ nói và ngôn ngữ viết  Trong giao tiếp bằng ngôn ngữ, người nghe có thể phản hồi để người nói điều chỉnh, sửa đổi. Hoặc hai bên có thể trực tiếp giải quyết những thắc mắc để đi đến những thống nhất chung. Tuy nhiên, do giao tiếp bằng ngôn ngữ nói diễn ra tức thời, mau lẹ nên các phương tiện ngôn ngữ thường không được lựa chọn, gọt giũa kĩ càng. Trong khi đó, người nghe cũng phải tiếp nhận lĩnh hội  nhanh nên cũng ít có điều kiện suy ngẫm và phân tích. So với ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết được lựa chọn rất kĩ càng và chính xác. Trong khi đó, người đọc cũng có điều kiện đọc đi đọc lại, phân tích và nghiền ngẫm nội dung văn bản. Tuy nhiên, để giao tiếp được bằng ngôn ngữ viết thì cả người viết và người đọc đều phải biết các kí hiệu chữ viết, các quy tắc chính tả, quy tắc tổ chức văn bản. Đồng thời giao tiếp theo hình thức này thường nảy sinh những thắc mắc nhưng những thắc mắc ấy lại không thể giải quyết được tức thì. II. RÈN KĨ NĂNG 1. Đặc điểm ngôn ngữ viết của đoạn trích trong bài Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt : - Sử dụng một hệ thống các thuật ngữ của ngành ngôn ngữ học: vốn chữ, từ vựng, ngữ pháp, phong cách, thể văn,... - Ba ý lớn được tách thành ba dòng để trình bày luận điểm một cách rõ ràng, mạch lạc nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người tiếp nhận. - Dùng các từ chỉ thứ tự (một là, hai là, ba là...) để đánh dấu luận điểm và thứ tự trình bày. - Dùng các dấu câu: dấu chấm, dấu phẩy, dấu ba chấm, dấu ngoặc đơn, dấu ngoặc kép. - Có phần giải thích rõ ràng (nằm trong ngoặc) thể hiện rõ dụng ý của người viết về việc lựa chọn và thay thế các từ là thuật ngữ. 2. Đặc điểm của ngôn ngữ nói ở đoạn trích trong truyện Vợ nhặt : - Các từ ngữ thường gặp trong lời ăn tiếng nói hàng ngày : mấy, có khối, nói khoác, sợ gì, đằng ấy, cười tít,... - Miêu tả nhiều cử chỉ điệu bộ (kèm theo lời nói) : đẩy vai, cười (nắc nẻ), cong cớn, ngoái cổ, ton ton chạy... - Các từ hô gọi : kìa, này, nhà tôi ơi, đằng ấy,... - Các từ tình thái : có khối... đấy, đấy, sợ gì,... Ngoài ra trong đoạn trích các nhân vật tham gia đối thoại trực tiếp nên còn liên tục thay phiên đổi vai cho nhau. 3. a) Cần bỏ từ "trong" (để câu có chủ ngữ) và từ "thì" ; thay từ "hết ý" bằng từ như “rất” (đẹp) hoặc “vô cùng”,... b) Thay từ "vống lên" bằng "quá mức thực tế" (hoặc từ "vống" bằng từ  "quá"), thay "vô tội vạ" bằng "vô căn cứ". c) Bỏ từ "sất", thay từ “thì ” (từ thứ 2) bằng từ “đến”. Tuy nhiên câu này còn cần phải thay đổi cả nội dung vì câu tương đối tối nghĩa.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Khảo sát ngôn ngữ người dẫn chương trình truyền hình qua kênh BiBi

KHẢO SÁT NGÔN NGỮ NGƯỜI DẪN CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH QUA KÊNH BIBI

1.Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tàiDân gian ta có câu: “Trẻ lên ba, cả nhà học nói”. Câu tục ngữ này cho thấy tầm quan trọng của việc học nói đối với trẻ nhỏ. Ở tuổi lên ba, các trung khu ngôn ngữ ở vỏ não, cơ quan tiếp nhận ngôn ngữ (tai) và cơ quan phát âm (dây thanh đới, họng, môi, lưỡi) của trẻ đã đến thời kỳ tương đối hoàn thiện. Về mặt tâm lý, ở tuổi này trẻ rất ham nói. Đặc biệt từ khoảng 20 tháng trở ra, trẻ có thể nói suốt ngày, do đó sự phát triển ngôn ngữ đạt được tốc độ rất nhanh, mà sau này lớn lên, khó có giai đoạn nào sánh bằng. Trẻ có được một tốc độ phát triển ngôn ngữ nhanh như vậy là còn nhờ quá trình hoạt động với thế giới xung quanh, sự chú ý tìm hiểu của trẻ đối với các thuộc tính, công dụng của đồ vật ngày càng tăng khiến cho trẻ thấy cần có sự giúp đỡ của người lớn ngày càng nhiều hơn, và phương thức giao tiếp với người lớn cũng dần dần được thay đổi. Có một thực tế không thể phủ nhận rằng, trẻ em ngày nay chịu sự ảnh hưởng không nhỏ của truyền hình. Sự ra đời của hàng loạt chương trình, hàng loạt kênh chuyên biệt dành cho thiếu nhi giúp cho bữa ăn tinh thần của các em ngày càng phong phú. Đương nhiên, các chương trình truyền hình dành cho các em phải đảm bảo được yếu tố đầu tiên, đó là giáo dục. Các chương trình dạy kĩ năng, dạy hát, dạy múa, kể chuyện phải có những chuẩn mực nhất định trong sử dụng ngôn ngữ, nhằm truyền tải tới các em những thông điệp trong sáng, ngắn gọn, dễ hiểu nhất. Chỉ có vậy, truyền hình mới đạt được cả 2 mục đích là thông tin và giáo dục đối với đối tượng khán giả đặc biệt này. Hay nói cách khác, hiệu quả của tác phẩm truyền hình không thể tách rời khả năng sử dụng ngôn ngữ của người làm báo, mà trong chương trình thiếu nhi, chúng tôi đề cao khả năng sử dụng ngôn ngữ của người dẫn chương trình.Lý luận báo chí đã cho chúng ta biết: Mỗi loại hình báo chí khác nhau, với những đặc trưng riêng của mình có ngôn ngữ thể hiện khác nhau. Ngôn ngữ của truyền hình là hình ảnh và âm thanh (bao gồm từ ngữ, tiếng động, âm nhạc). Nói cách khác, truyền hình tác động vào công chúng cả bằng thị giác và thính giác. Và giống như các loại hình báo chí khác, ngôn ngữ truyền hình phải đảm bảo những tiêu chuẩn nhất định như tính chính xác, khách quan; tiết kiệm, ngắn gọn; tính chất phổ cập xã hội. Trong cuốn “Ngôn ngữ báo chí” (NXB Thông tấn, 2009) phần mở đầu tác giả Vũ Quang Hào có viết: “Nói đến “ngôn ngữ báo chí”, nếu hiểu “báo chí” không theo nghĩa truyền thống, nghĩa là báo chí được hiểu gồm báo in, báo phát thanh và báo hình thì có thể nói rằng, ở tập bài giảng này ngôn ngữ báo hình hoàn toàn bị bỏ ngỏ, do chỗ chúng tôi không thể tự xác định được phạm vi khảo sát. Lý do là ở chỗ, theo chúng tôi, ngôn ngữ truyền hình – với tư cách là ngôn ngữ của một loại hình truyền thông đại chúng (cho đám đông) đang “nhòe” vào miền của ngôn ngữ hàn lâm (kiểu ngôn ngữ của các chương trình khoa giáo) và vào miền của các ngôn ngữ khác, như ngôn ngữ nghệ thuật – cả nghệ thuật tạo hình lẫn nghệ thuật biểu hiện – (kiểu ngôn ngữ của các chương trình văn hóa, văn nghệ, điện ảnh…).” Chính từ nhận định này mà các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ truyền hình những năm gần đây đã bắt đầu được quan tâm nhiều hơn nhưng riêng phạm vi khảo sát “lời nói của người dẫn chương trình trong các chương trình truyền hình dành cho thiếu nhi” chưa được quan tâm nghiên cứu sâu để tìm ra các giải pháp nâng cao chất lượng, sao cho xứng với vị trí và vai trò của truyền hình, đặc biệt là truyền hình dành cho đối tượng công chúng là trẻ em từ 012 tuổi.Ra đời ngày 162006, cho đến nay kênh truyền hình thiếu nhi BiBi là kênh truyền hình duy nhất do Đài Truyền hình Việt Nam đầu tư sản xuất dành riêng cho lứa tuổi từ 012 tuổi. Trong bối cảnh một số kênh truyền hình khác cũng có những chương trình dành cho lứa tuổi thiếu nhi như KidsTV Family (VTC11), HTV3 (kênh truyền hình thiếu nhi và gia đình), VTV6 (kênh truyền hình dành cho thanh thiếu niên) thì duy nhất kênh BiBi định vị nhóm khán giả mục tiêu là trẻ em từ 012 tuổi. Đây là giai đoạn đầu đời cực kì quan trọng. Nhiều nhà nghiên cứu, nhiều bậc cha mẹ đã dành nhiều thời gian tìm hiểu các kiến thức nuôi dạy, chăm sóc trẻ ở lứa tuổi này. Với mục đích đồng hành cùng các em nhỏ trong những năm đầu đời, kênh BiBi xây dựng các chương trình phù hợp với đặc điểm tâm, sinh lý của các em. Các chương trình giáo dục, giải trí của kênh luôn có tiêu chí nhẹ nhàng, sinh động và gần gũi với các em, vừa đáp ứng nhu cầu thông tin phong phú vừa mang tính giáo dục, nâng cao hiểu biết, nhận thức cho các em nhỏ. Với những nét đặc thù như vậy nên ngôn ngữ dẫn chương trình trên kênh truyền hình BiBi cũng có những đặc điểm riêng. Học viên nhận thấy những đặc điểm riêng đó rất cần được nghiên cứu nhưng lại chưa được quan tâm đúng mức. Việc nghiên cứu khảo sát để một mặt, thấy được sự phát triển của ngôn ngữ truyền hình nói chung, mặt khác giúp cho người sản xuất chương trình có cơ sở nâng cao hiệu quả truyền thông nói riêng, góp phần đưa ra những giải pháp nhằm chuẩn hóa lời nói của người dẫn chương trình trong chương trình truyền hình dành cho thiếu nhi. Nói cách khác, công trình của chúng tôi có ý nghĩa cấp thiết về cả lý luận và thực tiễn, là công trình đầu tiên nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về vấn đề này. Học viên chọn một số chuyên mục phát sóng trên kênh BiBi từ tháng 32013 đến tháng 92014 như Xúc Xắc – Lúc Lắc, Trổ tài cùng bé, Vương quốc Tại sao, Nhảy cùng BiBi và Ngôi sao BiBi để khảo sát là vì: Từ khi ra đời vào năm 2006 cho đến nay, kênh BiBi đã có những thay đổi đáng kể nhằm làm phong phú, đa dạng nội dung và thể loại chương trình dành cho thiếu nhi. Các chuyên mục nói trên đều nhằm vào lứa tuổi từ 012 tuổi, đây là lứa tuổi đang hoàn thiện dần các kĩ năng sống, các kĩ năng sử dụng ngôn ngữ. Từ tháng 32013, các chương trình này đã có thay đổi cơ bản về mặt nội dung và được sắp xếp vào khung giờ phát sóng hợp lý, có tính định kì hàng tuần, tạo được sự yêu mến nhất định với các em nhỏ.2.Tình hình nghiên cứu đề tài Về đề tài ngôn ngữ truyền hình, đã có một số công trình nghiên cứu và sách, tài liệu phục vụ giảng dạy đã được xuất bản, nhưng các khái niệm, định nghĩa được đưa mới mang tính khái quát chung như cuốn “Tác phẩm báo chí tập 1” do TS. Tạ Ngọc Tấn chủ biên, Giáo trình nghiệp vụ báo chí, tập 1, Hà Nội 1978 của Khoa Báo chí, Trường tuyên huấn Trung ương; Ngôn ngữ báo chí của Nguyễn Tri Niên; Ngôn ngữ báo chí của Vũ Quang Hào – NXB Thông tấn, Hà Nội 2009. Tác giả Trần Bảo Khánh có đề cập đến đặc trưng của ngôn ngữ truyền hình trong cuốn “Sản xuất chương trình truyền hình”. Tác giả đã phân tích và chỉ ra được cấu tạo của ngôn ngữ truyền hình gồm những gì, yếu tố nào đóng vai trò quan trọng. Tuy nhiên, đây là những khái niệm cơ bản về ngôn ngữ truyền hình. Ngoài ra còn có “Đặc điểm ngôn ngữ phóng sự ngắn truyền hình” luận văn tốt nghiệp đại học báo chí, Nguyễn Kiều Hưng, tháng 62001. Luận văn cao học của một số học viên như “Ngôn ngữ truyền hình Việt Nam: vấn đề và thảo luận” của Phan Quốc Hải, “Ngôn ngữ truyền hình trong bản tin Thời sự Đài Truyền hình Việt Nam” của Mai Thị Minh Thảo, “Khảo sát ngôn ngữ phỏng vấn trên truyền hình ở Thừa Thiên – Huế” của Hoàng Lê Thúy Nga, “Nhận diện đặc điểm ngôn ngữ trên kênh truyền hình O2TV” của Phạm Quỳnh Trang, “Ngôn ngữ phóng sự trên VTV1 – Đài Truyền hình Việt Nam” của Bùi Minh Hằng. Các công trình nói trên đều đưa ra được những khái quát cơ bản về ngôn ngữ truyền hình dành cho đối tượng công chúng là người lớn hoặc ngôn ngữ về những lĩnh vực chuyên biệt như sức khỏe, thời sự, chính trị... Có một công trình nghiên cứu mang tên “Vấn đề giáo dục đạo đức cho trẻ em trên kênh truyền hình BiBi” của Lê Thị Minh Huyền đã nêu được vai trò của kênh truyền hình BiBi đối với vấn đề giáo dục đạo đức cho trẻ em, tuy nhiên công trình không đi sâu vào nghiên cứu, phân tích lời nói của người dẫn chương trình, đặc biệt là “ngôn ngữ lời nói dẫn chương trình truyền hình thiếu nhi”.
Xem thêm

156 Đọc thêm

DẪN LUẬN NGÔN NGỮ_CHƯƠNG I: KHÁI NIỆM NGÔN NGỮ HỌC

DẪN LUẬN NGÔN NGỮ_CHƯƠNG I: KHÁI NIỆM NGÔN NGỮ HỌC

DẪN LUẬN NGÔN NGỮ_CHƯƠNG I: KHÁI NIỆM NGÔN NGỮ HỌCNội dung:I. Bản chất của ngôn ngữII. Chức năng của ngôn ngữIII. Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệtIV. Nguồn gốc và sự phát triển của ngôn ngữ

26 Đọc thêm

BÁO CÁO NGÔN NGỮ SQL

BÁO CÁO NGÔN NGỮ SQL

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ SQL Ngôn ngữ hỏi có cấu trúc (SQL) và các hệ quản trị cơ sở dữ liệu quan hệ là một trong những nền tảng kĩ thuật quan trọng trong công nghiệp máy tính. Cho đến nay, có thể nói rằng SQL đã được xem là ngôn ngứ chuẩn trong cơ sở dữ liệu. Các hệ quản trị cơ sở dữ liệu thương mại hiện có như Oracle, SQL Server, Informix, DB2,… đều chọn SQL làm ngôn ngữ cho sản phẩm của mình. Vậy thực sự SQL là gì? Tại sao nó lại quan trọng trong các hệ quản trị cơ sở dữ liệu? SQL có thể làm được những gì và như thế nào? Nó được sử dụng ra sao trong các hệ quản trị cơ sở dữ liệu quan hệ? Nội dung của chương sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về SQL và một số vấn đề liên quan. 1.1. SQL là ngôn ngữ cơ sở dữ liệu quan hệ SQL, viết tắt của Structure Query Language (ngôn ngữ hỏi có cấu trúc), là công cụ để tổ chức, quản lí và truy xuất dữ liệu được lưu trữ trong các cơ sở dữ liệu. SQL là một hệ thống ngôn ngữ bao gồm tập các câu lệnh sử dụng để tương tác với cơ sở dữ liệu quan hệ. Tên gọi ngôn ngữ hỏi có cấu trúc phần nào làm chúng ta liên tưởng đến một công cụ (ngôn ngữ) dùng để truy xuất dữ liệu trong các cơ sở dữ liệu. Thực sự mà nói SQL vượt xa so với một công cụ truy xuất dữ liệu, mặc dù đây là mục đích ban đầu khi SQL được xây dựng nên và truy xuất dữ liệu vẫn còn là một trong những chức năng quan trọng của nó. SQL được sử dụng để điều khiển tất cả các chức năng mà một hệ quản trị cơ sở dữ liệu cùg cấp cho người dùng bao gồm:  Định nghĩa dữ liệu: SQL cung cấp khả năng định nghĩa các cơ sở dữ liệu, các cấu trúc lưu trữ và tổ chức dữ liệu cũng như mối quan hệ giữa các thành phần dữ liệu.  Truy xuất và thao tác dữ liệu: Với SQL, người dùng có thể dễ dàng thực hiện các thao tác truy xuất, bổ sung, cập nhật và loại bỏ dữ liệu trong các cơ sở dữ liệu.  Điều khiển truy cập: SQL có thể được sử dụng để cấp phát và kiểm soát các thao tác của người sử dụng trên dữ liệu, đảm bảo sự an toàn cho cơ sở dữ liệu.  Đảm bảo toàn vẹn dữ liệu: SQL định nghĩa các toàn vẹn trong cơ sở dữ liệu nhờ đó đảm bảo tính hợp lệ và chính xác trước các thao tác cập nhật cũng như các lỗi của hệ thống. Như vậy, có thể nói rằng SQL là một ngôn ngữ hoàn thiện được sử dụng trong các hệ thống cơ sở dữ liệu và là một thành phần không thể thiếu trong các hệ quản trị cơ sở dữ liệu. Mặc dù SQL không phải là một ngôn ngữ lập trình như C, C++, Java,… song các câu lệnh mà SQL cung cấp có thể được nhúng vào trong các ngôn ngữ lập trình nhằm xây dựng các ứng dụng tương tác với cơ sở dữ liệu.
Xem thêm

48 Đọc thêm

GIAO TIẾP PHI NGÔN NGỮ ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG MỘT SỐ TIỂU THUYẾT VÀ TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

GIAO TIẾP PHI NGÔN NGỮ ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG MỘT SỐ TIỂU THUYẾT VÀ TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

- Khoảng cách trong giao tiếp – một đặc điểm của ngôn ngữ cử chỉ, thuộcphạm trù “không gian cá nhân” - phụ thuộc vào tuổi tác (ví dụ ngƣời lớn có thểxoa đầu một em bé vì lãnh địa của em bé còn nhỏ, nhƣng dù là cán bộ cao cấp thìcũng không thể xoa đầu một cụ già 80 tuổi), phụ thuộc vị thế xã hội (vị thế xã hộicàng cao thì lãnh địa càng lớn), phụ thuộc quan hệ thân sơ giữa những ngƣời đốithoại, phụ thuộc địa phƣơng và văn hóa của từng dân tộc (khoảng cách trong giaotiếp của ngƣời châu Á khác với ngƣời châu Âu,…)d. Năm 2005, tác giả Trần Thị Nga đã tiến hành một đề tài khoa học nghiêncứu một cách khá hệ thống về một lọai PTGTPNN mà tác giả gọi là ngôn ngữ cửchỉ, đó là “Nghiên cứu đặc điểm văn hóa ngôn ngữ cử chỉ của người Việt” [9].Trong công trình này, tác giả đã tìm hiểu ngôn ngữ cử chỉ dƣới lí thuyết của tínhiệu học, lí thuyết giao tiếp và ngữ dụng học để thấy đƣợc bản chất tín hiệu củangôn ngữ cử chỉ, tính đồng nghĩa, đa nghĩa, đơn nghĩa của cử chỉ; thấy đƣợc ýnghĩa cử chỉ trong việc biểu thị các hành vi ngôn ngữ. Đóng góp lớn của đề tài làđã mô tả và thiết lập đƣợc hệ thống danh sách ngôn ngữ cử chỉ của ngƣời Việt dựatrên những quan sát trong thực tiễn hoạt động giao tiếp và dựa trên những cứ liệutrong các tác phẩm văn học, đồng thời so sánh khái quát sự tƣơng đồng và dị biệtgiữa cử chỉ của ngƣời Việt với ngƣời Anh, ngƣời Nga.Những thành tựu nghiên cứu của những nhà khoa học nƣớc ta về PTGTPNNrất đáng trân trọng, đã tạo tiền đề lí thuyết cơ bản cho luận văn tiếp tục tìm hiểu vềvấn đề này.Các tác giả nƣớc ngoài.Có khá nhiều tác giả nƣớc ngoài quan tâm đến PTGTPNN là cử chỉ điệu bộ,đã trình bày những ý tƣởng của mình trong các bài báo khoa học hay các côngtrình viết về ngôn ngữ cơ thể - ngôn ngữ cử chỉ trong văn hóa giao tiếp.a. J.Vendryes (1990) cho rằng: “Có thể đƣa ra một định nghĩa chung nhấtcho ngôn ngữ. Ngôn ngữmột hệ thống kí hiệu”, và “nên hiểu kí hiệu là bất kìphù hiệu nào mà con ngƣời có thể dùng để giao tiếp qua lại với nhau”. Do vậy,
Xem thêm

145 Đọc thêm

đề cương môn tâm lý học đại cương

ĐỀ CƯƠNG MÔN TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG

ĐỀ CƯƠNG MÔN TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNGCâu 1:Khái niệm tâm lý người? Phân tích bản chất tâm lý người?VD1.KNChủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: Tâm lý người là sự pa hiện thực khách quan vào não con người thông qua chủ thể, tâm lý người có bản chất XH lịch sử2.Bản chất của tâm lý ngườia. Tâm lý người là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não con người thông qua chủ thể. Phản ánh là quá trình tác động qua lại hệ thống này và hệ thống khác, kết quả là để lại dấu vết (hình ảnh) tác động ở cả hệ thống tác động và hệ thống chịu sự tác động.+Phản ánh cơ học:Ví dụ: viên phấn được dùng để viết lên bảng để lại vết trên bảng và ngược lại bảng làm mòn (để lại vết) trên đầu viên phấn.+Phản ánh vật lí: mọi vật chất đều có hình thức phản ánh này.Ví dụ: khi mình đứng trước gương thì mình thấy hình ảnh của mình qua gương.+Phản ánh sinh học: phản ánh này có ở thế giới sinh vật nói chung.Ví dụ: hoa hướng dương luôn hướng về phía mặt trời mọc.+Phản ánh hóa học: là sự tác động của hai hợp chất tạo thành hợp chất mới.Ví dụ: 2H2 + O2 > 2H2O+Phản ánh xã hội: phản ánh các mối quan hệ trong xã hội mà con người là thành viên sống và hoạt động.Ví dụ: trong cuộc sống cần có sự giúp đỡ, đùm bọc lẫn nhau như câu “Lá lành đùm lá rách.”Phản ánh tâm lí: là hình thức phản ánh cao nhất và phức tạp nhất.Đó là kết quả của sự tác động của hiện thực khách quan vào não người và do não tiến hành.Ví dụ: Trong một lần đi chơi ta quen được một người và có ấn tượng tốt về người đó, một thời gian sau gặp lại ta bắt gặp một hành động không hay của người đó thì thoạt tiên chúng ta sẽ không tin người đó có thể hành động như vậy và suy nghĩ nhiều lí do để biện minh cho hành động đó. Do đó có thể nói , kết quả của lần phản ánh trước sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lần phản ánh sau.Câu 2:phản xạ là gì? So sánh phản xạ có đk và Phản xạ ko đk? VDCâu 3: phân tích vai trò của hoạt động và giao tiếp với sự hình thành và phát triển tâm lý? Liên hệ bản thân?Câu 4: phân tích các thời kỳ phát triển tâm lý trên phương diện cá thể? VDgđ tuổi sơ sinh, hài nhi+tuổi sơ sinh:02 tháng: là tuổi ăn ngủ phối hợp vs px bẩm sinhVD: trẻ đái dầm+tuổi hài nhi: 312 tháng: giao tiếp xúc cảm trực tiếp vs ng lớnVD: trẻ biết theo bố mẹ, người thân.Câu 5:ý thức là gì? Phân tích sự hình thành và phát triển của ý thức cá nhân?Câu 6: Tư duy là gì? Những đặc điểm của tư duy? VD.1.Tư duy là gì?VD: Tại sao hạt mưa rơi xuống, đọng lại long lanh trên chiếc lá?Tại sao xe chở xăng thường phải có dây xích sắt nối đất?Tại sao giữa hai thanh ray xe lửa lại có khoảng cách nhỏ?Câu 7: Ngôn ngữ là gì? Các chức nằng cơ bản của ngôn ngữ.phân tích vai trò của ngôn ngữ đối với hoạt động nhận thức?1.Khái niệm: Câu 8: Tình cảm là gì? Nêu các mức độ và các loại tình cảm?ý nghĩa của chúng trong cuộc sống?1.KNTình cảmlà thái độ thể hiện sự rung cảm của con người đối với sự vật, hiện tượng có liên quan tới nhu cầu, liên quan tới động cơ của họ.ND pa: Pa mqh giữa các sv,htg vs nhu cầu, động cơ of con ngPvi pa: Pvi pa của tc có tính lựa chọnPhương thức pa: tc pa TG = hình thức rung cảm.2. Các mức độ và các loại tình cảm a. Các mức độ tình cảm: Màu sắc xúc cảm của cảm giác: Đây là mức độ thấp nhất của tình cảm, nó là một sắc thái cảm xúc đi kèm theo quá trình cảm giác nào đó. Ví dụ: Màu đỏ, vàng da cam, vàng… đưa lại cho con người cảm xúc ấm áp ( được gọi là những gam màu nóng). Còn các màu xanh, xanh lục, tím… đưa đến cảm giác lạnh lẽo ( những gam màu lạnh). Các màu nóng và lạnh mang lại cho con người những hiệu ứng tâm lý khác nhau: màu nóng dễ làm con người phấn chấn, hoạt bát, năng nổ, còn màu lạnh dễ giúp người ta bình tĩnh, hiền hoà, lắng dịu. Rung cảm: là biểu hiện đầu tiên of cảm xúc tc, nhưng nó chưa đạt đến ngưỡng xúc cảm, chưa biểu hiện thật cụ thể trên vẻ mặt.VD: có lúc ta cảm thấy buồn buồn, vui vui, hơi bực bội ko rõ nguyên nhân. Xúc cảm: Là những rung cảm xảy ra nhanh, cường độ mạnh, và rõ rệt hơn so vs màu sắc xúc cảm. Câu 9: Ý chí là gì? Khái niệm cấu trúc của hành động ý chí?liên hệ bản thân?Câu 10: Kỹ xảo là gì? Sao sánh kỹ xảo và thói quen?Nêu các quy luật hình thành kỹ xảo?Câu 11:Trí nhớ là gì? Nêu các quá trình cơ bản của trí nhớ? Làm thế nào để có trí nhớ tốt?Câu 12: Nhân cách là gì? Các đặc điểm cơ bản của nhân cách?Theo em môi trường sống có vai trò ntn đối với sự hình thành nhân cách cá nhân?Câu 13: tính cách là gì? Phân tích cấu trúc của tính cách?Câu 13: tính cách là gì? Phân tích cấu trúc của tính cách?1. Tính cách là gì?Tính cách là một thuộc tính tâm lý phức hợp của cá nhân bao gồm hệ thống thái độ của nó đối với hiện thực, thể hiện trong hệ thống hành vi, cử chỉ, cách nói năng tg ứng.Trong cuộc sống hàng ngày, ta thường dùng từ “tính tình”, “tính nết” “tư cách” để chỉ tính cách. Những nét tính cách tốt thường được gọi là “đặc tính”, “lòng”, “tinh thần”.Những nét tính cách xấu thường gọi là “thói” “tật”Tính cách mang tính ổn định và bền vững, tính thống nhất đồng thời cũng thể hiện tính độc đáo, riêng biệt, điển hình cho mỗi cá nhân. Vì thế tính cách của cá nhân là sự thống nhất giữa cái chung và cái riêng, cái điển hình với cái cá biệt. Tính cách của cá nhân chịu sự chế ước của xã hội.2.Cấu trúc của tính cáchTính cách có cấu trúc rất phức tạp, bao gồm: hệ thống thái độ và hệ thông hành vi, cử chỉ, cách nói năng tương ứng. Hệ thống thái độ của cá nhân bao gồm các mặt sau đây:+ Thái độ đối với tập thể và xã hội thể hiện qua nhiều tính cách như lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội ; thái độ chính trị; tinh thần đổi mới; tinh thần hợp tác cộng đồng.+ Thái độ của con người đối với lao động thể hiện ở lòng yêu lao động, cần cù, có kỷ luật, tận tâm với công việc,…+ Thái độ đối với mọi ng thể hiện ở những nét tính cách như lòng yêu thương con ngưởi theo tinh thần nhân đạo, quý trọng con ngườ, có tinh thần đoàn kết tương trợ, tính cởi mở, tính chân thành, thẳng thắn, công bằng….+ Thái độ đối với bản thân, thể hiện ở những nét tính cách như: tính khiêm tốn, lòng tự trọng, tinh thần tự phê bình… Hệ thống hành vi, cử chỉ, cách nói năng của cá nhân : đây là sự thể hiện cụ thể ra bên ngoài của hệ thống thái độ nói trên. Hệ thống hành vi, cử chỉ, cách nói năng rất đa dạng, chịu sự chi phối của hệ thống thái độ. Trong đó thái độ là mặt nội dung, mặt chủ đạo, còn hành vi, cử chỉ, cách nói năng là hình thức biểu hiện của tính cách, chúng không tách rời nhau, thống nhất hữu cơ vơi nhau.Câu 14: Anh (chị) nhận thức ntn về năng lực cá nhân? Những nhận thức này giúp ích gì cho anh chị trong học tập?
Xem thêm

19 Đọc thêm

đề cương môn bảo hiểm xã hội đại học kinh tế quốc dân có đáp án

ĐỀ CƯƠNG MÔN BẢO HIỂM XÃ HỘI ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN CÓ ĐÁP ÁN

Câu 5. So sánh BHXH BHTM Câu 6. Tại sao nói chính sách BHXH là bộ phận cấu thành quan trọng trong hệ thống chính sách xã hội mỗi quốc gia. Câu 7.Tại sao nhà nước phải thống nhất quản lý BHXH: câu 8. Tại sao ở VN hiện nay Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm tới vấn đề ASXH Câu 9. Đối tượng hưởng cứu trợ xã hội và ưu đãi xã hội Câu 10: các hình thức cứu trợ xã hội cơ bản Câu 11: So sánh bhxh với ưu đãi xã hội và cứu trợ xã hội Câu 12: Xóa đói giảm nghèo góp phần đảm bảo ASXH lâu dài và bền vững: Những vấn đề còn tồn tại trong công tác cứu trợ xã hội ở VN hiện nay Vì sao phải nâng cao nhận thức về BHXH: 16.Phân tích mối quan hệ giữa BHXH với tăng trưởng và phát triển kinh tế Quá trình hình thành và phát triển của BHXH Câu 18: Cơ sở hình thành hệ thống chế độ BHXH: Câu 19: Kết cấu của các chế độ bhxh Câu 20: Hệ thống các chế độ BHXH theo công ước 102: Câu 21 :Phân biệt tài chính BHXH với NSNN, với tài chính doanh nghiệp Câu 22 : đặc điểm của tài chính bhxh CÂU 23: Phân loại quỹ BHXH và ý nghĩa của từng cách phân loại Câu 24: Quỹ BHXH và mục đích sử dụng quỹ Câu 25Tại sao hầu hết các quốc gia khi xác định mức đóng góp BHXH đều căn cứ vào tiền lương ? Câu 26: Tại sao khi mới triển khai BHXH, các quốc gia lại áp dụng với đối tượng CBCNVC nhà nước, người hưởng lương từ NSNN ? CÂU 27: Đầu tư quỹ BHXH tạm thời nhàn rỗi? Các hình thức đầu tư quỹ BHXH ở Việt nam hiện nay CÂU 28 Nguyên tắc định phí BHXH Câu 29 Cơ sở định phí BHXH Câu 30. Vai trò của thanh kiểm tra BHXH Câu 31.Quy trình thanh kiểm tra BHXH Câu 32. Các hình thức vi phạm pháp luật BHXH? Câu 33. So sánh thanh tra và kiểm tra BHXH Câu 34:đặc điểm của hệ thống các CĐ bhxh Câu 35:đặc điểm của đối tượng hưởng BHXH Câu 36: vì sao việc xđ đúng đtg hưởng bhxh đầy đủ rõ ràng chính xác rất quan trong ?
Xem thêm

54 Đọc thêm

QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ NGUỒN GỐC VÀ BẢN CHẤT CỦA Ý THỨC. Ý NGHĨA CỦA VIỆC NẮM VỮNG VẤN ĐỀ NÀY

QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ NGUỒN GỐC VÀ BẢN CHẤT CỦA Ý THỨC. Ý NGHĨA CỦA VIỆC NẮM VỮNG VẤN ĐỀ NÀY

Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: ý thức của con người là sản phẩm của quá trình phát triển tự nhiên và lịch sử - xã hội. Để hiểu được nguồn gốc và bản chất của ý thức cần phải xem xét trên cả hai mặt tự nhiên và xã hội. I. Nguồn gốc của ý thức 1. Thuộc tính phản ánh của vật chất và sự ra đời của ý thức - Phản ánh là thuộc tính chung của mọi dạng vật chất. Đó là năng lực giữ lại, tái hiện của hệ thống vật chất này những đặc điểm của hệ thống vật chất khác trong quá trình tác động qua lại. - Cùng với sự tiến hoá của thế giới vật chất, thuộc tính phản ánh của nó cũng phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Trong đó ý thức là hình thức phản ánh cao nhất của thế giới vật chất. - Ý thức là một thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao của bộ não người, là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người. 2. Vai trò của lao động và ngôn ngữ trong sự hình thành và phát triển của ý thức - Lao động là hoạt động đặc thù của con người, làm cho con người khác với tất cả các động vật khác. + Trong lao động, con người đã biết chế tạo ra các công cụ và sử dụng các công cụ để tạo ra của cải vật chất. + Lao động của con người là hành động có mục đích - tác động vào thế giới vật chất khách quan làm biến đổi thế giới nhằm thoả mãn nhu cầu của con người. + Trong quá trình lao động, bộ não người được phát triển và ngày càng hoàn thiện, làm cho khả năng tư duy trừu tượng của con người cũng ngày càng phát triển. - Lao động sản xuất còn là cơ sở của sự hình thành và phát triển ngôn ngữ. + Trong lao động, con người tất yếu có những quan hệ với nhau và có nhu cầu cần trao đổi kinh nghiệm. Từ đó nảy sinh sự "cần thiết phải nói với nhau một cái gì đấy". Vì vậy, ngôn ngữ ra đời và phát triển cùng với lao động. + Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu thứ hai, là cái "vỏ vật chất" của tư duy, là phương tiện để con người giao tiếp trong xã hội, phản ánh một cách khái quát sự vật, tổng
Xem thêm

10 Đọc thêm

[TỦ SÁCH HƯỚNG NGHIỆP] NGHỀ PHIÊN DỊCH

[TỦ SÁCH HƯỚNG NGHIỆP] NGHỀ PHIÊN DỊCH

Phiên dịch hiểu một cách đơn giản là việc chuyển một chữ, một câu, một văn bản (nói hoặc viết) từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác mà không làm thay đổi nghĩa của chúng Phiên dịch viên là người chuyên làm công việc chuyển các văn bản (nói hoặc viết) từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác một cách chính xác, giúp những người không cùng sử dụng một ngôn ngữ có thể hiểu nhau

32 Đọc thêm

INTRODUCTION TO DIGITAL SIGNAL AND SYSTEM ANALYSIS

INTRODUCTION TO DIGITAL SIGNAL AND SYSTEM ANALYSIS

Khi tiến vào thời đại kỹ thuật số, nhiều người trong các lĩnh vực khác nhau là khá quan tâm để hiểu tại sao điều này đã xảy ra. Họ hy vọng sẽ có được những nguyên tắc cơ bản về tín hiệu kỹ thuật số và hệ thống kỹ thuật số liên quan. Thay vì nhắm mục tiêu nâng cao trình độ hay chuyên gia, họ thường hy vọng sẽ nắm bắt các chủ đề như hiệu quả và hiệu quả càng tốt mà không thực hiện nhiệm vụ không thể theo thời gian và nỗ lực có sẵn thường hạn chế. Cuốn sách này được viết cho những người mới bắt đầu những người muốn đạt được một cái nhìn tổng quan về chủ đề này, hiểu được các phương pháp cơ bản và biết làm thế nào để đối phó với các tín hiệu kỹ thuật số cơ bản và hệ thống.
Xem thêm

111 Đọc thêm

BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ KHIẾM THÍNH TỪ 18 – 36 THÁNG TUỔI

BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ KHIẾM THÍNH TỪ 18 – 36 THÁNG TUỔI

MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 1.Lý do chọn đề tài 1 2. Mục đích nghiên cứu 3 3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3 4. Giả thuyết khoa học 3 5. Nhiệm vụ nghiên cứu 4 6. Phạm vi nghiên cứu 4 7. Phương pháp nghiên cứu 4 8. Dự kiến cấu trúc luận văn 5 CHƯƠNG 1: CƠ Sở LÝ LUậN Về VIệC PHÁT TRIểN NGÔN NGữ NÓI CHO TRẻ KHIếM THÍNH 18 – 36 THÁNG TUổI 6 1.1Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6 1.1.1Ngoài nước 6 1.1.2Việt Nam 10 1.2Một số vấn đề về trẻ khiếm thính 12 1.2.1Khái niệm TKT 12 1.2.2Mức độ khiếm thính 12 1.2.3Một số đặc điểm tâm lý TKT 13 1.3.1Quá trình phát triển ngôn ngữ nói của trẻ 18 – 36 tháng tuổi 16 1.3.2Quá trình phát triển ngôn ngữ nói của TKT 18 – 36 tháng tuổi 9; 25; 33 17 1.3.3Nội dung phát triển ngôn ngữ nói của TKT 18 – 36 tháng tuổi 18 1.3.4Biện pháp phát triển ngôn ngữ nói của TKT 18 – 36 tháng tuổi 24 1.4Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển ngôn ngữ nói của TKT 18 – 36 tháng tuổi 27 Tiểu kết chương 1 29 CHƯƠNG 2: THựC TRạNG Sự PHÁT TRIểN NGÔN NGữ NÓI CủA TRẻ KHIếM THÍNH 18 – 36 THÁNG TUổI 31 2.1 Tổ chức khảo sát 31 2.1.1 Mục đích khảo sát 31 2.1.2 Phạm vi và địa bàn khảo sát 31 2.1.3 Nội dung khảo sát 31 2.1.4 Phương pháp khảo sát 31 2.2 Kết quả khảo sát 32 2.2.1 Khả năng ngôn ngữ nói của TKT 18 – 36 tháng tuổi 32 2.2.1.2 Khả năng phát âm của TKT 38 2.2.1.3 Khả năng ngôn ngữ hiểu của TKT 40 2.2.1.4 Khả năng ngôn ngữ diễn đạt của TKT 41 2.2.2 Biện pháp phát triển ngôn ngữ nói cho TKT 42 2.2.2.1 Nhận thức của giáo viên, phụ huynh về việc phát triển ngôn ngữ nói cho TKT 42 2.2.2.2 Nhận thức của giáo viên, phụ huynh về nội dung phát triển ngôn ngữ cho TKT 43 2.2.2.3 Biện pháp phát triển ngôn ngữ nói cho TKT 46 2.2.3 Các yếu tổ ảnh hưởng đến sự phát triển ngôn ngữ nói của TKT 49 2.2.3.1 Thời điểm phát hiện và trang bị phương tiện trợ thính 49 2.2.3.2 Mức độ suy giảm thính lực và khả năng nghe sau đeo phương tiện trợ thính 50 2.2.3.3 Chất lượng chăm sóc thính học 51 2.2.3.4 Chất lượng can thiệp sớm 52 2.2.3.5 Điều kiện nghe 52 Tiểu kết chương 2 53 CHƯƠNG 3: Đề XUấT MộT Số BIệN PHÁP PHÁT TRIểN NGÔN NGữ NÓI CHO TRẻ KHIếM THÍNH 18 – 36 THÁNG TUổI 54 3.1. Những nguyên tắc cơ bản đinh hướng cho việc xây dựng biện pháp phát triển ngôn ngữ nói 18 – 36 tháng tuổi 54 3.1.1 Nguyên tắc vừa sức 54 3.1.3 Nguyên tắc hệ thống và phát triển 55 3.1.4 Nguyên tắc cá biệt hóa 55 3.1.5 Nguyên tắc hòa nhập 55 3.2. Biện pháp phát triển ngôn ngữ nói cho TKT 18 – 36 tháng tuổi 55 3.2.1 Biện pháp hình thành và phát triển kĩ năng nghe cho TKT 55 3.2.2 Biện pháp phát triển ngôn ngữ nói thông qua các tình huống giao tiếp hàng ngày 60 3.2.3 Biện pháp phát triển ngôn ngữ nói thông qua kể chuyện 61 3.2.4 Biện pháp phát triển ngôn ngữ nói thông qua các trò chơi dân gian 63 3.2.5 Biện pháp xây dựng môi trường nghe giàu ngôn ngữ 65 3.3. Thử nghiệm bước đầu tính khả thi của các biện pháp phát triển ngôn ngữ nói cho TKT 18 – 36 tháng 67 3.3.1. Mục đích 67 3.3.2. Tiến trình thử nghiệm 67 3.3.3. Kết quả thử nghiệm 68 Tiểu kết chương 3 78 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 79
Xem thêm

102 Đọc thêm

Câu hỏi và đáp án môn marketing căn bản

CÂU HỎI VÀ ĐÁP ÁN MÔN MARKETING CĂN BẢN

Câu hỏi và đáp án môn marketing căn bản Câu 1: Tại sao nói thỏa mãn nhu cầu là vấn đề sống còn của Công ty trong giai đoạn hiện nay? Cho ví dụ minh họa. Theo định nghĩa của Philip Kotler: “Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được. Như vậy cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được”. Đó là một trạng thái đặc biệt của con người, nó xuất hiện khi con người tồn tại, sự thiếu hụt ấy đòi hỏi phải được thoả mãn, bù đắp. Ý tưởng cốt lõi của Marketing là hướng tới thoả mãn nhu cầu của con người.
Xem thêm

13 Đọc thêm

Một số kinh nghiệm phát triển ngôn ngữ thông qua môn nhận biết tập nói cho trẻ 18 – 24 tháng

MỘT SỐ KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ THÔNG QUA MÔN NHẬN BIẾT TẬP NÓI CHO TRẺ 18 – 24 THÁNG

A. ĐẶT VẤN ĐỀ Ngôn ngữ, giao tiếp và đọc, viết có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển nhân cách của trẻ Mầm Non nói riêng, của con người và xã hội nói chung. Lứa tuổi mầm non là thời kỳ phát cảm ngôn ngữ. Đây là lứa tuổi có nhiều điều kiện thuận lợi nhất cho sự lĩnh hội ngôn ngữ nói và kĩ năng đọc, viết ban đầu của trẻ ở giai đoạn này trẻ đạt được những thành tích vĩ đại mà các giai đoạn trước hoặc sau không thể có được, trẻ học nghĩa và cấu trúc của từ, cách sử dụng từ ngữ để chuyển tải suy nghĩ và cảm xúc của mình hiểu đúng mục đích, cách thức con người sử dụng chữ viết. Phát triển ngôn ngữ và giao tiếp có ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực khác của trẻ, ngôn ngữ là công cụ của tư duy. Vì thế ngôn ngữ có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển nhận thức, giải quyết các vấn đề và khả năng tư duy, ký hiệu tượng trưng của trẻ. Đối với trẻ từ 1 – 3 tuổi là giai đoạn trẻ đang tập nói và hoàn thiện câu do đó trẻ rất thích được giao tiếp, thích được trò chuyện, khám phá sự vật, hiện tượng xung quanh mình. Nhưng vì ngôn ngữ của trẻ còn hạn chế, các cháu còn sử dụng ngôn ngữ thụ động, nhiều khi chưa nói đúng với hoàn cảnh thực tế. Vì vậy tôi thấy cần phải tìm hiểu biện pháp tác động để kích thích ngôn ngữ của trẻ phát triển thông qua các giờ nhận biết, tập nói, thơ, chuyện và các hoạt động khác. Việc phát triển vốn từ, luyện phát âm và dạy trẻ nói đúng ngữ pháp không thể tách rời các môn học cũng như các hoạt động trong ngày của trẻ. Mỗi từ cung cấp cho trẻ phải dựa trên một hiện tượng cụ thể để trẻ ghi nhớ một cách chính xác, phù hợp với tình huống sử dụng nội dung. Vốn từ cung cấp cho trẻ phụ thuộc vào khả năng tiếp xúc hoạt động và nhận thức của trẻ giúp trẻ hoàn thiện và phát triển các kĩ năng nghe, nói, diễn đạt nhận biết, sự vật, hiện tượng xung quanh một cách chính xác. Đây là cơ sở để trẻ tiếp thu kiến thức trong bậc học tiếp theo. Vì vậy tôi chọn đề tài “Một số kinh nghiệm phát triển ngôn ngữ thông qua môn nhận biết tập nói cho trẻ 18 – 24 tháng” làm đề tài.
Xem thêm

12 Đọc thêm

Cùng chủ đề