TRẺ SƠ SINH BỊ THIẾU VITAMIN K

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "TRẺ SƠ SINH BỊ THIẾU VITAMIN K":

BÍ KÍP CHO MẸ CÓ CON ĂN DẶM LẦN ĐẦU

BÍ KÍP CHO MẸ CÓ CON ĂN DẶM LẦN ĐẦU

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Các chuyên gia về nhi khoa đã có những khuyến cáo về độ tuổi ăn dặm nên bắt đầu từ 6 tháng trở lên, các mẹ không nên cho trẻ ăn dặm quá sớm vì có thể ảnh hưởng đến hệ tiêu hóa của con. Tuy nhiên, mỗi bé lại có đặc điểm và tốc độ phát triển khác nhau. Nhiều bà mẹ lần đầu cho con ăn dặm đã phân vân không biết đâu là thời điểm thích hợp để cho con ăn dặm và bữa ăn dặm cần đáp ứng những tiêu chí nào? Dưới đây là bí kíp giúp các bà mẹ trẻ chuẩn bị bữa ăn dặm ngon miệng, đủ dinh dưỡng cho con, đồng thời bắt đầu tập cho bé thói quen “giờ ăn là giờ vui”. Dấu hiệu “Con muốn ăn dặm mẹ ơi” Thời điểm cho bé ăn dặm cần cân nhắc về cân nặng, giới tính của trẻ. Theo tiêu chuẩn của WHO thì: - Trẻ gái 6 tháng tuổi: nặng 7,3 kg, cao 65.7 cm - Trẻ trai 6 tháng tuổi: nặng 7.9 kg, cao 67,6 cm Ngoài ra có 1 số dấu hiệu nhận biết thời điểm bé có nhu cầu ăn bữa bổ sung như: - Sau khi bú mẹ, bé vẫn khóc và muốn bú thêm - Hay thức dậy nửa đêm để đòi bú trong khi trước đó bé ngủ ngoan. - Khi thấy mọi người ăn, bé tỏ ra thích thú, mắt theo dõi tập trung động tác lấy thức ăn, nhai, nuốt thức ăn của người lớn, tay chân khua khoắng muốn với cầm thức ăn. Bữa ăn cân bằng dinh dưỡng Mẹ nên cho bé ăn làm nhiều bữa nhỏ, đồng thời lưu ý nguồn protein trong thức ăn phải có đủ axit amin cần thiết. Khi mẹ cho bé bú, chất béo có trong sữa mẹ đã cung cấp 50% năng lượng cho bé. Chế độ ăn bổ sung thường có độ đậm năng lượng thấp do nguồn thức ăn nghèo chất béo. Đó chính là lý do vì sao, cần bổ sung chất béo ( dầu,mỡ) vào chế độ ăn cho bé.   Chế độ ăn bổ sung thường có độ đậm năng lượng thấp do nguồn thức ăn nghèo chất béo. Đó chính là lý do vì sao, cần bổ sung chất béo ( dầu,mỡ) vào chế độ ăn cho bé. (ảnh minh hoạ) Ngoài ra, bữa ăn của bé cần có đủ vitamin và khoáng chất. Tùy theo chế độ ăn của bà mẹ mà hàm lượng vitamin cần thiết trong sữa mẹ thay đổi, do đó chế độ ăn của bà mẹ mang thai và cho con bú cần phải đảm bảo dinh dưỡng. - Khi xát trắng gạo chúng ta vô tình đã loại bỏ nhiều vitamin vì vậy nên bổ sung bột đậu xanh và thịt lợn nạc vì chúng có nhiều vitamin. Không ít trường hợp trẻ mắc các bệnh lý do người mẹ thực hiện chế độ kiêng kem sau sinh, làm nguồn sữa mẹ thiếu vitamin B1. - Lòng đỏ trứng, các loại củ quả có màu vàng đậm, rau xanh là nguồn cung cấp vitamin A và caroten quan trọng đối với sự phát triển của trẻ. Thiếu vitamin A sẽ dẫn đến khô mắt, gây mù lòa, suy dinh dưỡng ở trẻ sơ sinh. - Rau xanh và hoa quả tươi còn cung cấp vitamin C cho cơ thể trẻ, đồng thời hỗ trợ quá trình hấp thu chất sắt. - Mặt khác, để phòng bệnh còi xương do thiếu vitamin D ở trẻ, gia đình cần kết hợp giữa chế độ ăn bổ sung và tắm nắng hợp lý cho bé. - Sữa mẹ cung cấp rất nhiều chất khoáng cần thiết đối với sự phát triển của trẻ như sắt, canxi có hàm lượng thích hợp và dễ hấp thụ. Ngược lại, chất sắt ở mỗi loại thực phẩm khác nhau sẽ có mức độ hấp thu khác nhau. Các loại thịt động vật, gia cầm có lượng chất sắt hấp thu cao nhất, rồi đến các loại đậu, đỗ, ngũ cốc. Đủ năng lượng Khi trẻ bú mẹ nguồn năng lượng bé nhận được chính là các chất béo có trong sữa mẹ. Khi mẹ cho bé ăn bột gạo nguyên chất thì bé chỉ có thể nhận được 3-5% năng lượng chất béo. Để đảm bảo bé có thể nhận đủ năng lượng thì thức ăn của bé phải đảm bảo về mặt chất lượng, tức là có đủ 4 nhóm: đạm, chất béo, vitamin, chất khoáng. Trong quá trình chế biến bữa ăn cho bé, mẹ cần lưu ý bổ sung thêm các nguồn thực phẩm  như thịt nạc, trứng, cá, tôm để thay đổi khẩu vị và cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết. Độ đậm, đặc thích hợp Ngay từ khi sinh ra, bé chỉ làm quen với một loại thức ăn duy nhất là sữa mẹ và đây là loại thức ăn ở dạng lỏng. Khi lần đầu chuẩn bị bữa ăn phụ cho bé, các mẹ lưu ý trong khâu chế biến thức ăn của trẻ nên bắt đầu từ thể lỏng rồi chuyển sang dạng sền sệt sau đó mới đặc dần. Bên cạnh đó, để bát bột nấu cho trẻ đạt tiêu chuẩn, mẹ cần tìm hiểu về mối quan hệ giữa độ đậm đặc và độ đậm năng lượng. Bột của trẻ lúc mới nấu, nhiệt độ nóng nhưng khi nguội dần sẽ càng đặc lại. Nếu pha thêm nước để đạt độ lỏng thích hợp  thì sẽ làm giảm độ năng lượng.  Vì vậy, để tăng độ đậm năng lượng và giảm độ đặc thì nên chia nhỏ các bữa ăn của trẻ, đồng thời bổ sung dầu mỡ trong quá trình chế biến dầu mỡ. Đa dạng hóa bữa ăn Mỗi bé có một khẩu vị và thói quen ăn uống khác nhau không ai giống ai. Các mẹ cần dành thời gian để quan sát, tìm hiểu sở thích của bé để có thực đơn chế biến phù hợp giúp bé luôn có cảm giác ngon miệng, thích thú để giờ ăn là giờ vui ngay từ những tháng đầu bé học nuốt, học nhai và sẽ ảnh hưởng đến thói quen dinh dưỡng về sau của trẻ. Ngoài các bữa bột bổ sung, mẹ có thể cho bé ăn bánh biscuit có bổ sung vitamin, calcium, DHA... thỏa mãn nhu cầu  muốn nhai, cắn khi bé mọc những chiếc răng đầu tiên.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Lợi hại của vitamin A và D

LỢI HẠI CỦA VITAMIN A VÀ D

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Sự thiếu hụt các loại vitamin tan trong dầu có thể gặp ở những người có chế độ dinh dưỡng không thích hợp hoặc những người bị các căn bệnh mạn tính vốn ngăn chặn sự hấp thu chất béo ở ruột, nhất là những bệnh nhân bị bệnh Crohn hay các bệnh xơ nang. Những bệnh nhân này bắt buộc phải dùng bổ sung các loại vitamin tan trong dầu theo chỉ định của bác sĩ. Dưới đây là vai trò và tầm quan trọng của các loại vitamin tan trong dầu đối với cơ thể. - Vitamin A: Quan trọng đối với thị giác, sự tăng trưởng của xương, quá trình sinh sản, cấu tạo da, bảo vệ các màng nhầy... Vitamin A cũng có vai trò như một chất kháng ôxy hóa, bảo vệ cơ thể trước các loại gốc tự do, vì vậy nó cũng giúp cơ thể hạn chế sự hình thành của một số dạng ung thư. Sự thiếu hụt vitamin A rất hiếm xảy ra ở các nước tiên tiến nhưng lại xảy ra như “cơm bữa” ở những quốc gia đang phát triển. Phụ nữ có thai và trẻ sơ sinh rất dễ bị thiếu vitamin A. Thiếu vitamin A có thể dẫn đến các tổn thương ở mắt, nhất là làm cứng giác mạc (xerophthalmia), rối loạn về da và làm tổn thương các màng nhầy trong cơ thể, nhất là màng nhầy ở hệ tiêu hóa...   Ở người lớn, sự thiếu hụt vitamin D sẽ gây loãng xương với triệu chứng đau xương đau, yếu cơ dễ dẫn đến nguy cơ gãy xương. (Ảnh minh họa) Vitamin A sẽ vô cùng nguy hại khi sử dụng nhiều, quá liều lượng trong suốt thai kỳ. Vì vậy những phụ nữ đang có thai hoặc chuẩn bị có thai không nên ăn gan động vật hoặc các loại thực phẩm có quá nhiều vitamin A và không tự ý dùng viên bổ sung vitamin A. Lượng vitamin cần thiết cho mỗi ngày ở người lớn là 600 microgram cho nữ giới và 700 microgram cho nam giới. Nếu sử dụng liều cao thường xuyên (trên 1.500 microgram) sẽ là liều gây độc, trong vài trường hợp có thể làm tổn thương vĩnh viễn gan, xương và thị giác. - Vitamin D: Rất quan trọng giúp cơ thể hấp thu, sử dụng calcium và phosphorus. Vitamin D vô cùng cần thiết trong chức năng tạo xương, răng, sụn... Vitamin D gồm 2 dạng: D2 tìm thấy trong các loại thực phẩm, D3 lại được tổng hợp trong cơ thể khi da được tiếp xúc với ánh sáng mặt trời. D2 được tìm thấy trong các loại thực phẩm như lòng đỏ trứng, cá thu, cá tuyết, cá hồi, cá mòi... Tại Anh, theo luật thì các loại bơ phải được cho thêm vitamin D; tại Mỹ, sữa cũng được cho thêm vitamin D. Ánh sáng mặt trời sẽ kích thích sự sản xuất vitamin D cho cơ thể. Người bình thường khi tiếp xúc với ánh sáng mặt trời sẽ có đủ vitamin D để mà “lai rai” cho hết kiếp. Tuy nhiên, vẫn có một số người cơ thể không thể tạo được vitamin D hoặc lượng vitamin D được sản xuất quá ít. Nhóm người này bao gồm người cao tuổi, người bệnh nằm liệt giường, những người bận rộn với công việc nội trợ nên suốt ngày ở trong nhà, những người luôn trang phục “kín mít” vì lý do tôn giáo, phụ nữ có thai và cho con bú... Vì vậy những đối tượng này cần phải ăn nhiều thực phẩm có vitamin D hoặc phải bổ sung vitamin D. Nhóm người này được đề nghị phải đưa vào cơ thể 10 microgram vitamin D cho mỗi ngày. Sự thiếu hụt vitamin D kéo dài sẽ gây mềm xương và yếu xương, ở trẻ em sẽ bị còi xương với những triệu chứng như đau xương, xương và răng bị biến dạng, chậm tăng trưởng... Ở người lớn, sự thiếu hụt vitamin D sẽ gây loãng xương với triệu chứng đau xương đau, yếu cơ dễ dẫn đến nguy cơ gãy xương.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Suýt hại con vì tắm nắng sai cách

SUÝT HẠI CON VÌ TẮM NẮNG SAI CÁCH

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Là một bà mẹ trẻ, lần đầu sinh con nên em còn thiếu nhiều kinh nghiệm và hiểu biết. Vì vậy, em rất tích cực lên mạng và các diễn đàn để tìm hiểu về chế độ dinh dưỡng, bổ sung các loại vitamin cho con với mong muốn con sinh ra thật khỏe mạnh và thông minh. Cũng giống như các loại vitamin khác, theo như em đọc trên một số bài báo và diễn đàn thì ngoài việc uống viên bổ sung vitamin D thì hầu hết các mẹ và các bài báo đều khuyên rằng cách bổ sung vitamin rẻ, tự nhiên mà hiệu quả đó là tắm nắng. Thật may, trước khi em lấy chồng em cũng là một người ham mê đi biển và luôn tận dụng mọi cơ hội đi biển để có thể thỏa mãn sở thích phơi mình trên bãi biển. Em có bầu lại đúng vào lúc mùa hè bắt đầu đến và em cảm thấy thật sự sung sướng khi vừa có thể thỏa mãn sở thích tắm nắng trên biển vừa cung cấp được vitamin D bằng cách tự nhiên cho con. Suýt hại con vì tắm nắng sai cách Nhà em cách biển cũng không xa lắm, vì thế thấy việc tắm nắng có lợi gấp đôi nên em thỏa thích và luôn tranh thủ, sắp xếp thời gian mỗi ngày ra biển phơi mình để nạp vitamin D từ ánh nắng mặt trời. Công việc của em lại rất thoải mái về thời gian nên mỗi ngày ngoài tranh thủ tắm nắng vào buổi sáng sớm (khoảng 6h đến 7h30), chiều đến (khoảng 15h đến 18h) em lại lang thang ra biển để cung cấp vitamin D chừng hơn 1 tiếng đến 2 tiếng mới về. Em được biết tắm nắng vào lúc trời nắng gắt rất có hại cho da, có thể dẫn đến ung thư da nên em cũng tránh những thời điểm như thế. Tuy nhiên, vào buổi chiều mặc dù không nắng gắt như buổi trưa nhưng có vẻ như những tia cực tím cũng không bỏ lỡ cơ hội để tha cho làn da của em. Do bầu bì nên em không dám dùng mỹ phẩm, kem chống nắng vì sợ ảnh hưởng đến sức khỏe của con. Dù cũng lo cứ tắm nắng đều đặn sáng chiều như thế da sẽ bị lão hóa và chẳng may ung thư da thì nguy nhưng lại nghĩ đến việc có thể cung cấp vitamin D tự nhiên, tốt cho sự phát triển của con nên em lại tặc lưỡi kệ đã. Đều đặn tắm nắng một tháng như thế, những vết nám, tàn nhang trên mặt em xuất hiện ngày càng nhiều và đậm nhưng em lại nghĩ rằng chắc do mình bầu bí, thay đổi nội tiết nên mới bị nám và chắc sau khi sinh xong những vết nám, tàn nhang đó sẽ hết. Tuy nhiên, sự thật thì không phải vậy. Em mải miết nạp vitamin D bằng việc tắm nắng trung bình 3 tiếng một ngày như thế được đến ngày thứ 3 của tháng thứ 2 thì tình cờ một hôm em đi tắm nắng cùng một người bạn. Hôm đó em đã kể về cái kỳ tích cung cấp vitamin D cho con bằng phơi nắng ngoài bãi biển và việc không hiểu sao em bị nám và tàn nhang nhiều như thế. Bạn em mới tá hỏa cảnh báo em rằng đều là do em tắm nắng mà ra, việc lạm dụng tắm nắng như kiểu của em lại vừa hại mẹ vừa hại con không chừng. Em nghe một hồi thấy có lý và bắt đầu lo lắng nên đã đi gặp bác sĩ để được tư vấn.   Em mải miết nạp vitamin D bằng việc tắm nắng trung bình 3 tiếng một ngày và không hề biết việc này nguy hại thế nào. (ảnh minh họa) Tắm nắng đúng cách khi mang thai Đi khám bác sĩ tư vấn cho em rằng: vitamin D có tác dụng rất quan trọng trong sự phát triển ở trẻ, nó có tác dụng làm giảm nguy cơ mắc bệnh còi xương, hoặc làm mềm xương ở trẻ. Thiếu hụt vitamin D trong quá trình mang thai sẽ khiến bà bầu có nguy cơ cao mắc bệnh tiểu đường, tiền sản giật (huyết áp cao và protein dư thừa trong nước tiểu), nhiễm trùng âm đạo và thậm chí là khiến sinh non hoặc thai nhi tử vong vì thiếu chất. Đối với bào thai trong bụng, khi bà mẹ bổ sung thiếu vitamin D, bé sau này có khả năng bị nhẹ cân, sâu răng, gia tăng bệnh hen suyễn và viêm nhiễm đường hô hấp, làm mềm hộp sọ ở trẻ sơ sinh. Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng sự thiếu hụt vitamin D ở người mẹ có thể ảnh hưởng đến điểm số phát triển trí tuệ thể chất của trẻ trong tương lai. Tuy nhiên nếu không biết cách tắm nắng hợp lý thì hại cả con và mẹ. Việc tiếp xúc với nhiệt độ cao trong ba tháng đầu có thể dẫn đến trẻ sơ sinh được sinh ra với trọng lượng sinh thấp hơn. Khi tắm nắng, thân nhiệt của mẹ sẽ tăng lên, gây nên hậu quả xấu, bởi nhiệt độ của bào thai cũng sẽ tăng theo bất thường. Đây có thể là nguyên nhân khiến cho não của thai nhi bị dị tật hoặc gây nên những dị tật bẩm sinh. Nghe đến đây em hốt hoảng vì em đang trong thời gian 3 tháng đầu đó. Em chưa kịp bình tĩnh bác sĩ lại nói tiếp: Ngoài ra, khi mang thai, cơ thể mẹ sẽ có sự thay đổi hàm lượng hormone cụ thể là oestrogen. Điều này lý giải vì sao trên mặt thai phụ thường xuất hiện nhiều đốm tàn nhang. Nếu mẹ tắm nắng quá nhiều trong thời gian mang thai thì những đốm nâu này sẽ khó mờ đi hơn, thậm chí là không thể biến mất sau khi sinh. Tuy nhiên sau thời kỳ này thì việc phơi nắng là cần thiết. Nên tắm nắng trong khoảng nửa giờ mỗi ngày và tránh khi nắng gắt. Vào mùa xuân và mùa thu có thể tắm nắng từ 8 - 10 giờ hoặc 15 - 17 giờ. Nếu là mùa hè tắm nắng lúc 6 giờ 30 đến 7 giờ 30, sau khi tắm nắng phải kịp thời lau khô mồ hôi và uống nước bổ sung. Để tránh hại da, các bà bầu nên tắm nắng vào buổi sáng (tốt nhất là từ 7-8 giờ sáng). Khi tắm nắng nên mặc ít quần áo, mỏng thoáng. Nghe tư vấn xong em run rẩy, lo lắng không biết con mình có bị ảnh hưởng gì không. Thật may là bác sĩ khám và đưa ra kết luận con vẫn khỏe mạnh, phát triển tốt. Bác sĩ nói may là em đi khám, được tư vấn kịp thời không thì hậu quả khôn lường, tuy nhiên bác sĩ cảnh báo em phải dừng ngay việc lạm dụng tắm nắng lại. Hóa ra, tắm nắng quá mức không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển của con mà còn hại cả mẹ, may mà em dừng kịp thời chứ nếu không những vết nám và tàn nhang còn lan nhiều và thâm đen thì sau này có thuốc tiên chữa cũng không giảm. Các mẹ nào ham phơi nắng hoặc muốn bổ sung vitamin D bằng việc tắm nắng thì hãy lưu ý, có chế độ tắm nắng hợp lý đừng để như em nhé.
Xem thêm

2 Đọc thêm

23 lý do mẹ đẻ con kém khôn

23 LÝ DO MẸ ĐẺ CON KÉM KHÔN

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Nền tảng trí thông minh của trẻ được hình thành ngay khi còn là một thai nhi. Dị tật bẩm sinh, sinh non và nhiều điều kiện khác có ảnh hưởng nghiêm trọng đến tương lai và chất lượng cuộc sống của bé sau này. Nếu bạn dự định sinh em bé, cần hết sức lưu ý những điều sau để đảm bảo con mình sau này được thông minh, khỏe mạnh. 1. Tuổi của cha mẹ: Nghiên cứu của trường đại học Queensland, Úc cho thấy việc làm bố mẹ khi ở tuổi trên 40 có liên quan với nguy cơ trẻ em bị tự kỷ và các hội chứng bất thường trên khuôn mặt và hộp sọ. Các nhà khoa học khẳng định những em bé sinh ra khi bố nhiều tuổi thường có khả năng tập trung, trí nhớ, kỹ năng đọc, lý luận kém. Tuổi của người mẹ cũng có liên quan với bệnh tự kỷ, theo nghiên cứu của một hiệp hội về chứng tự kỷ. Thông thường khi người mẹ tăng thêm 5 tuổi thì đứa trẻ trung bụng sẽ có nguy cơ đối mặt với bệnh tự kỷ tăng 18%.   Tuổi của cha mẹ sẽ liên quan trực tiếp tới sự phát triển của thai nhi. (Hình minh họa) 2. Công việc của người cha: Theo một nghiên cứu của Đại học Bắc Carolina, công việc của người cha có thể làm tăng nguy cơ trẻ em bị dị tật bẩm sinh. Những người trong nhóm nguy cơ cao bao gồm nhiếp ảnh gia, thợ cắt tóc, nhà toán học và nhân viên liên quan tới thiết bị văn phòng. Giả thuyết cho rằng nguyên nhân là do việc tiếp xúc với hóa chất liên quan trong quá trình làm việc. 3. Sinh non: Nghiên cứu trên tạp chí Pediatrics cho thấy trẻ sinh ra ở tuần 37 và 38 có khả năng đọc kém hơn trẻ em sinh ra ở tuần 39, 40 hoặc 41. Nhóm trẻ này cũng có điểm toán thấp hơn bình thường. Tiến sĩ Bryan Williams, phó giáo sư  gia đình và y tế dự phòng Đại học Y Emory, Atlanta cho biết: "Trẻ sinh ra ở tuần 36 có kích thước não chỉ bằng 2/3 trẻ sinh ra đúng tuần. Nguyên nhân là do các bé vẫn còn trong quá trình hình thành não". 4. Thiếu dinh dưỡng: Thiếu canxi, sắt, iốt và các vitamin khác dẫn đến việc trẻ em bị chậm phát triển ngôn ngữ, chậm phát triển kỹ năng vận động, có vấn đề trong hành vì và có chỉ số IQ thấp. Thai nhi cần i-ốt để hình thành hormone tuyến giáp, một yếu tố cần thiết cho sự phát triển não bộ. Sắt cũng rất quan trọng để hình thành các tế bào máu đỏ vận chuyển ôxy đến thai nhi, giúp phát triển não và cơ thể. 5.Thiếu axit folic: Đây là nguyên nhân ảnh hưởng tới các ống thần kinh gây ra dị tật nghiêm trọng của não và tủy sống.  Axit folic được tìm thấy trong các loại rau lá xanh, bông cải xanh, đậu, trái cây và gan.   Bà mẹ nên bổ sung nhiều axit folic có trong rau màu xanh đậm. (Hình minh họa) 6. Thiếu vitamin D: Thiếu vitamin D sẽ dẫn đến tình trạng em bé bị suy dinh dưỡng và dễ mắc hen suyễn. Theo viện nghiên cứu sức khỏe trẻ em Telethon, nếu người mẹ bổ sung ít vitamin D trong quá trình mang thai thì em bé sau này sẽ tăng nguy cơ 2 lần việc rối loạn về ngôn ngữ. 7. Sử dụng thuốc tùy tiện: Theo quy định, phụ nữ mang thai không được dùng thuốc đặc biệt là trong ba tháng đầu của thai kỳ nếu không có chỉ dẫn của bác sĩ. Một số loại thuốc thông thường như aspirin có thể gây chảy máu trong não của thai nhi. 8. Căng thẳng: Một nghiên cứu của viện Lancet cho rằng căng thẳng của một người mẹ trong khi mang thai có thể làm tăng nguy cơ bẩm sinh trong não em bé. Nghiên cứu của Anh và Đan Mạch công bố trong cuốn Archives of General Psychiatry cho thấy việc người mẹ quá căng thẳng trong những tháng đầu của thai kỳ có thể ảnh hưởng tới sự phát triển thần kinh của thai nhi, dẫn đến tăng nguy cơ tâm thần phân liệt sau này. Sự căng thẳng ở đây không phải là do sự lo lắng thông thường của cuộc sống hàng ngày mà có liên quan tới những cú sốc tinh thần như sự mất mát của ai đó trong gia đình. Đây là nguyên nhân khiến cơ thể người mẹ đối mặt với sự gia tăng hoóc môn cortisol căng thẳng gây ảnh hưởng tới sự phát triển của thai nhi. 9. Tinh thần của người mẹ: Thai nhi rất nhạy cảm và dễ dàng bị ảnh hưởng cảm xúc của người mẹ. Nghiên cứu của trường Đại học California, Irvine cho thấy đứa trẻ được phát triển tốt nhất khi bà mẹ yêu đời và không rơi vào tình trạng trầm cảm.   Mệt mỏi, stress ở bà mẹ dễ ảnh hưởng tới trí não thai nhi. (Hình minh họa) 10. Thiếu ánh nắng: Nghiên cứu của Đại học Quốc gia Úc cho thấy bà mẹ ít tiếp xúc với ánh sáng mặt trời trong ba tháng đầu của thai kỳ có nguy cơ sinh ra những em bé bị bệnh đa xơ cứng sau này. Vitamin D rất quan trọng với thai nhi cũng như sự phát triển của hệ thống thần kinh trung ương. 11.Thuốc lá: Nicotine trong khói thuốc gây có thắt mạch máu, làm giảm lưu lượng máu và dinh dưỡng trong nhau thai. Các nghiên cứu ở Bệnh viện đại học Turku, Phần Lan cho thấy thai nhi tiếp xúc với khói thuốc có nguy cơ đối mặt với các vấn đề tâm thần trong thời thơ ấu và cả khi trưởng thành.  Nguyên nhân được cho là chất Nicotine gây trở ngại cho sự phát triển của tế bào não. Nghiên cứu của viện huyết thanh Statens, Copenhagen, Đan Mạch khẳng định việc mẹ hút thuốc dễ sinh ra những em bé bị rối loạn suy nhược mắt, hay còn gọi là lác mắt. 12. Rượu: Mẹ uống rượu khi mang thai dễ dẫn đến việc sinh con có chỉ số IQ thấp, khả năng tập trung kém, kỹ năng nhận thức kém, thiếu chú ý, có hành vi bốc đồng và khuyết tật các chức năng vận động. Uống nhiều rượu khi mang thai còn dẫn đến hội chứng rượu bào thai, trong đó có liên quan đến những bất thường của thai nhi, chẳng hạn như đầu nhỏ hơn, não bộ kém phát triển và thiệt hại hệ thống thần kinh trung ương thường xuyên. 13. Ô nhiễm: Thai nhi tiếp xúc với các ô nhiễm không khí có liên quan trực tiếp với căn bệnh tự kỷ sau này. Nghiên cứu mới cho thấy trẻ em có nguy cơ mắc chứng tự kỷ gấp 2, 3 lần so với đứa trẻ khác nếu thường xuyên tiếp xúc với khói xe, khói, ô nhiễm không khí ngay từ khi còn hình thành trong bụng mẹ. 14. Cần sa: Trẻ em có mẹ hút cần sa khi mang thai sẽ dễ bị các vấn đề rối loạn về hành vi, cảm xúc, lời nói, khiếm khuyết ngôn ngữ và bộ nhớ. 15. Cocain: Chất này khiến em bé gia tăng nguy cơ bất thường ở hộp sọ, gây ra nguyên nhân hộp sọ nhỏ khiến não không có chỗ phát triển. Đây là nguyên nhân khiến em bé bị chậm phát triển tâm thần, tăng nguy cơ xuất huyết trong não và dẫn đến tổn thương não. 16. Heroin: Những em bé trong bụng mẹ cũng rất dễ bị nghiện nếu người mẹ sử dụng Heroin. Nghiên cứu cho thấy các bé này khi lớn lên cũng có nhiều hành vi rối loạn. 17. Thuốc trừ sâu: Theo nghiên cứu của của Trường Y tế công cộng Berkeley, Đại học California việc tiếp xúc với thuốc trừ sâu lân hữu cơ trước khi sinh sẽ ảnh hưởng tới trí thông minh của trẻ. Các khuyến cáo cho rằng bà mẹ nên rửa kỹ rau quả và nên sử dụng sản phẩm hữu cơ để tránh tiếp xúc với thuốc trừ sâu từ thức ăn.   Sử dụng sản phẩm rau hữu cơ sẽ giúp bà bầu tránh nguy cơ về thuốc trừ sâu. (Hình minh họa) 18. Rubella: Bệnh Rubella ở bà mẹ mang thai có thể gây chậm phát triển tâm thần, đục thủy tinh thể, điếc ở trẻ sơ sinh. Nó cũng có thể gây dị tật nghiêm trọng nếu người mẹ nhiễm Rubella trong những tháng đầu tiên của thai kỳ. 19. Bệnh nhiễm ký sinh trùng Toxoplasma: Toxoplasma có thể lây nhiễm sang phụ nữ mang thai thông qua việc ăn trứng sống, thịt sống hoặc qua phân mèo. Đây là nguyên nhân dẫn đến chậm phát triển tâm thần, động kinh, mù, hoặc rối loạn thính giác ở trẻ. 20. Cytomegalovirus: Virus này có thể truyền qua nước bọt, máu, nước tiểu, tinh dịch. Nếu bà mẹ mang thai, đặc biệt trong 2 tháng đầu nhiễm cytomegalovirus có thể gây chậm phát triển tâm thần, điếc cho em bé trong bụng. 21. Giang mai: Bệnh lây truyền qua đường tình dục dễ gây biến chứng nặng ở não, mắt, xương, da, gan của trẻ sơ sinh. 22. Herpes sinh dục: Nhiễm trùng thường được truyền cho em bé trong quá trình chào đời. Herpes sinh dục gây ra bệnh tật và bệnh về não, mắt, da  nghiêm trọng cho trẻ sơ sinh nếu không được điều trị kịp thời. 23. Hóa chất độc hại: Trường nghiên cứu sản khoa và phụ khoa Royal cảnh báo phụ nữ mang thai  tiếp xúc với hóa chất công nghiệp như sơn, vải mới, đồ nội thất, xe hơi, kem dưỡng ẩm, sữa tắm... sẽ rất nguy hiểm cho sự phát triển của em bé trong bụng. Chất chì, metyl thuỷ ngân, thạch tín, biphenyl đã polyclo hóa và toluen chính là nguyên nhân ảnh hưởng tới sự phát triển của não thai nhi, gây ra khuyết tật thần kinh. Các bà mẹ tương lai cũng nên ăn chín, uống sôi thay vì sử dụng đồ hộp để giảm sự tiếp xúc với hóa chất trong bao bì thực phẩm.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Muốn con thông minh, chớ quên TOP thực phẩm này

MUỐN CON THÔNG MINH, CHỚ QUÊN TOP THỰC PHẨM NÀY

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Sinh con và nuôi dạy con, bố mẹ nào cũng mong muốn con thông minh, giỏi giang. Tuy nhiên, có nhiều bà mẹ than con ù lì, trí nhớ kém, chậm tiếp thu, không được thông minh như bạn bè rồi đưa con mình đến gặp bác sĩ. Thực tế, trẻ không tự thông minh. Trí thông minh và khả năng học hỏi của trẻ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: yếu tố di truyền, chế độ dinh dưỡng cho trẻ, môi trường giáo dục… Trong các yếu tố kể trên, có lễ chế độ dinh dưỡng là được đánh giá là một trong những nhân tố quan trọng thúc đẩy trí tuệ của trẻ. Tuy nhiên nhiều mẹ vẫn chưa biết cách cho con ăn uống khoa học, hay biết chọn lựa những thực phẩm thực sự tốt cho trí thông minh của trẻ. Do đó, mẹ nào còn đang gặp khó khăn trong việc chọn lựa thực phẩm giúp trẻ thông minh thì có thể tham khảo danh sách dưới đây, đảm bảo sẽ rất hữu ích. 1. Trứng gà Trứng gà được biết đến như một loại thực phẩm rất giàu protein, vitamin và khoáng chất rất cần thiết cho sự phát triển của trẻ. Ngoài ra trứng cũng rất giàu DHA và lecithin, không chỉ thúc đẩy sự phát triển của của hệ thần kinh và cơ thể mà nó có thể tiếp thêm sinh lực để não bộ phát triển khỏe mạnh hơn. Bên cạnh đó, trong lòng đỏ trứng gà còn có chứa chất choline rất có lợi cho trí nhớ của bé.   Trứng gà được biết đến như một loại thực phẩm rất giàu protein, vitamin và khoáng chất rất cần thiết cho sự phát triển của trẻ (Ảnh minh họa) Nhiều bố mẹ nhận thấy công dụng tuyệt vời này của trứng nên đã tận dụng tối đa bằng cách cho con ăn mỗi bữa ăn. Tuy nhiên, việc ăn trứng liên tục và quá nhiều có thể làm cho trẻ bị khó tiêu và thậm chí bị tiêu chảy. Theo các bác sĩ chuyên gia, mỗi tuần bé chỉ nên ăn từ 2 - 3 quả trứng, tốt nhất là cho bé ăn vào buổi sáng, đảm bảo nấu chín kỹ. 2. Cá hồi Cá hồi luôn được xem là một loại thực phẩm chức năng,bởi trong mỡ của cá hồi có chứa một lượng lớn omega – 3, axit béo, DHA và EPA. DHA có trong cá không chỉ giúp phát triển não bộ mà còn thúc đẩy phát triển tế bào não, kích thích sự mở rộng các dây thần kinh sọ não, giúp trẻ tăng khả năng tư duy, nhận thức. Nhiều nghiên cứu cho thấy, những trẻ em thường xuyên ăn cá sẽ có chỉ số IQ cao hơn so với những người ăn thịt do trong cá chứa rất nhiều DHA.   Bên cạnh đó, việc bổ sung thêm hàm lượng axit béo vào trong chế độ ăn uống của trẻ sẽ giúp trẻ thông minh hơn và phát triển các kĩ năng tư duy tốt hơn những trẻ khác. Theo các chuyên gia, ngay từ khi trẻ còn nhỏ, bố mẹ hãy cho con ăn nhiều cá hoặc dầu cá cũng rất tốt. Để trẻ dễ ăn, mẹ có thể xay nhuyễn hoặc nghiền nhỏ cá khi bé đuợc tròn 7 tháng. Một số trẻ nhỏ do cơ địa nên dễ dị ứng với các loại hải sản, vì thế với những bé này khi ngoài 2 tuổi, mẹ mới có thể bắt đầu bổ sung cho bé các loại thực phẩm từ cá, một cách dần dần để thích nghi. Bố mẹ cũng nên lưu ý rằng có một số loại cá cũng rất giàu omega 3 nhưng lại có hàm lượng thuỷ ngân cao như cá ngừ trắng, cá nhám, cá kiếm… đây là loại chất gây hại hệ thần kinh, cản trở việc hình thành não. Cá hồi là một gợi ý tuyệt vời cho bạn bởi đây là loại cá có hàm lượng thuỷ ngân cực thấp, không gây hại cho trẻ. 3. Thịt bò Thịt bò là một trong những loại thịt trẻ sơ sinh dễ tiêu hóa nhất và nó chứa một hàm lượng chất dinh dưỡng hết sức phong phú, giúp bé phát triển về trí não và thể chất. Trong thịt bò có chứa một lượng lớn sắt và kẽm có tác dụngổn định não giúp cho trẻ dễ dàng tập trung hơn và tăng cường trí nhớ.  Khi bé được 8 tháng, mẹ có thể cho bé làm quen với thịt bò trong thực đơn. Lúc đầu, chỉ nên cho bé ăn khoảng nửa thìa cà phê thịt say nhuyễn. Sau đó, có thể tăng dần lên 1-2 thìa cà phê thịt hoặc nhiều hơn, tùy theo độ tuổi của bé. Khi chọn thịt bò cho trẻ, mẹnên chọn loại thịt nạc, có khoảng 80% nạc và 20% chất béo. Không nên chọn cho bé những phần thịt chứa nhiều mỡ như sườn bò, gầu bởi những miếng thịt này chứa hàm lượng mỡ cao (sợi màu trắng và vàng lẫn với phần thịt, mầu thường sáng) thịt càng nạc thì màu càng tối. 4. Socola đen Socola đen cũng được đánh giá là một trong các thực phẩm giúp trẻ thông minh. Hợp chất flavonol trong socola đen giúp tăng cường hệ tuần hoàn, thúc đẩy quá trình lưu thông máu tới não bộ tốt hơn, giúp nâng cao quá trình nhận thức. Trên thực tế, ăn socola đen có thể cải thiện khả năng toán học của trẻ.   Hợp chất flavonol trong socola đen giúp tăng cường hệ tuần hoàn, thúc đẩy quá trình lưu thông máu tới não bộ tốt hơn, giúp nâng cao quá trình nhận thức (Ảnh minh họa) Không những vậy, sôcôla đen còn chứa 1 số hợp chất hóa học có tác động tích cực đến tâm trạng và sức khỏe của trẻ. Sôcôla chứa phenylethylamine (PEA), kích thích cơ thểgiải phóng endorphins, vậy nên ăn sôcôla đen sẽ giúp trẻ cảm thấy hạnh phúc hơn. Mỗi ngày mẹ nên cho con ăn từ 2-3 gam sô-cô-la đen. 5. Các loại hạt Các loại hạt như hạnh điều, hạnh nhân, lạc, hướng dương, bí ngô...chứarất nhiều protein, axit béo, vitamin, omega 3, omega 6 và khoáng chất cần thiết có tác dụng làm dịu não bộ của trẻ bởi những loại hạt này chứa Tryptophan (chấtcó tác dụng tạo sự thoải mái và thư giãn cho cả cơ thể).  Đối với những loại hạt này, các mẹ có thể cho con ăn trực tiếp, trộn với salad hoặc làm lạc vừng. 6. Bơ Trong bơ có một hàm lượng chất béo không no rất dồi dào, rất cần thiết cho sự phát triển trí não của trẻ sơ sinh, đặc biệt là lứa tuổi ăn dặm. Ngoài ra trong bơ còn chứa rất nhiều protein, các loại vitamin tự nhiên A, E, C rất cần thiết cho sự phát triển toàn diện của bé. Với quả bơ, mẹ có thể lột vỏ, tách hạt, xay nhuyễn với sữa tươi, sữa chua, váng sữa và cho bé ăn hàng ngày. 7. Quả việt quất Quả việt quất là loại thực phẩm tốt nhất dành cho bộ não, vì chúng kích thích các tín hiệu thần kinh của não. Chúng giúp bộ não chống lại stress oxy hóa và giảm các vấn đề về trí nhớ liên quan đến tuổi tác như chứng mất trí và bệnh alzheimer. Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng thêm quả việt quất vào chế độ ăn hàng ngày sẽ giúp trẻ cải thiện đáng kể bộ nhớ và chức năng não. 8. Gan động vật (bò, gà, dê) Gan của các loài động vật như bò, gà, dê cũng là thực phẩm giúp trẻ thông minh. Gan gia súc và gia cầm có rất nhiều vitamin (A, D, K, vitamin B1, B2, B6, B12, folate, biotin, và pantothenic acid) và muối khoáng (sắt, kẽm, selen) rất cần cho sự phát triển cả về thể chất và trí tuệ của trẻ. Nhưng nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, tuy gan có hàm lượng dinh dưỡng phong phú, nhưng cũng chính là "bộ máy giải độc" lớn nhất trong cơ thể, vì thế hàm lượng độc tố cũng như lượng khí thể hóa học trong gan cũng rất cao. Do đó mẹ chỉ nên cho bé ăn một lượng gan vừa đủ, nếu ăn quá nhiều sẽ không có lợi cho sức khỏe bé. Ngoài ra, lượng vitamin A có trong gan động vật nếu tích tụ quá nhiều trong cơ thể cũng có thể dẫn đến một số bệnh khác.   Mẹ chỉ nên cho bé ăn một lượng gan vừa đủ, nếu ăn quá nhiều sẽ không có lợi cho sức khỏe bé (Ảnh minh họa) 9. Bột yến mạch Bột yến mạch là một dạng ngũ cốc rất bổ dưỡng và cần thiết quá trình phát triển của trẻ. Đây là loại thực phẩm giàu chất xơ, vitamin B, vitamin E, canxi, magie, kẽm, sắt và kali. Những thành tố này đều rất quan trọng cho chức năng não. Ăn bộ yến mạch với mật ong và trái cây vào buổi sáng giúp tăng năng lượng và sự chú ý của trẻ, góp phần giúp trẻ có tinh thần học tập tốt hơn. 10. Rau xanh đa dạng màu sắc Rau xanh không chỉ giúp cung cấp cho bé một lượng lớn vitamin mà còn rất hữu ích cho sự phát triển bộ não của trẻ. Trong đó có loại rau củ như cà chua, cà tím, bí đỏ, cà rốt, ớt ngọt, ngô… chứa hàm lượng lớn các chất chống ôxy hóa, làm khôi phục lại những tế bào hư tổn trong não của trẻ. Tuy nhiên, mẹ nên nhớ rằng khi bổ sung rau xanh vào chế độ ăn uống của trẻ, mẹ cần tránh lỗi chỉ dập khuân cho trẻ ăn một loại rau xanh quen thuộc mà thay vào đó nên đa dạng cả về màu sắc lẫn mùi vị. 
Xem thêm

3 Đọc thêm

THỰC PHẨM ''''VÀNG'''' CHO BÉ ĂN DẶM

THỰC PHẨM ''''VÀNG'''' CHO BÉ ĂN DẶM

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Khi bé đến độ tuổi ăn dặm, các mẹ cần phải lựa chọn những thực phẩm vừa phù hợp lại giàu dưỡng chất, tốt cho sự phát triển của bé nhé. Sau đây Eva xin giới thiệu một vài thực phẩm tốt cho bé trong độ tuổi ăn dặm để các mẹ cùng tham khảo. 1. Bí đỏ Bí đỏ có chứa nhiều chất dinh dưỡng như vitamin A, vitamin C, kali, magie, sắt, beta-carotene, protein, chất xơ… rất tốt cho máu, thị giác của bé. Đây là thực phẩm nên cho bé làm quen khi ăn dặm bởi bí đỏ dễ xay nhuyễn, có màu sắc đẹp và hương vị ngon nên rất phù hợp với bé. Các mẹ có thể nấu nhừ, dầm nhuyễn bí đỏ để nấu cháo cho bé ăn, nhưng nhớ đừng cho bé ăn hỗn hợp “bánh bí đỏ” vì nó có thể chứa nhiều đường. Các mẹ nhớ chỉ nên cho bé ăn bí đỏ 1-2 lần/ tuần thôi nhé kẻo bé bị vàng da đấy. 2. Xoài Xoài chứa hầu hết các loại vitamin như A, C, E và K cũng như nhiều chất dinh dưỡng khác như chất xơ, magiê và kali. Chính vì vậy, xoài là một loại quả tuyệt vời để đưa vào chế độ ăn dặm của bé. Nếu bé đã biết cầm thức ăn, các mẹ có thể cắt xoài chín, tươi ra thành những miếng nhỏ cho bé. Nhưng nhớ cắt bỏ hết những phần có xơ để bé không bị hóc nhé. Dù vậy, các mẹ cũng nên tìm hiểu kỹ xem bé có bị dị ứng với xoài không nhé. Nếu có, tuyệt đối không cho bé ăn xoài và cũng không nên để trẻ nghịch hay tiếp xúc da với quả xoài để tránh ảnh hưởng tới sức khỏe của bé nhé.   Các mẹ nhớ để ý kỹ xem bé có bị dị ứng với xoài không nhé (Hình minh họa) 3. Quả bơ Các chất dinh dưỡng, vitamin (chất xơ, chất béo bão hòa, kali, carbohydrate, protein, vitamin E, vitamin B2, vitamin B6, vitamin C…) có trong quả bơ rất có lợi cho sự phát triển ở bé. Đặc biệt, vitamin B tổng hợp trong trái bơ có tác dụng tăng cường trí nhớ vì thế đây là một nguồn dinh dưỡng hoàn hảo, khổng lồ cho sự phát triễn trí não của trẻ. Các mẹ không cần phải chế biến quá cầu kỳ trước khi cho trẻ ăn. Chỉ cần chọn quả bơ chín rồi gọt vỏ, nạo thành những miếng nhỏ giúp bé nhâm nhi, hoặc nấu cùng cháo cũng khiến mùi vị thêm đậm đà, ngầy ngậy giúp bé ăn ngon miệng hơn. 4. Thịt bò Thịt bò là một nguồn cung cấp sắt phong phú, giúp bé phát triển trí não và lưu thông ôxy trong cơ thể. Tuy nhiên, các mẹ cũng cần nghiên cứu chế biến thịt bò thật cẩn thận và hợp lý bởi giai đoạn này răng bé vẫn chưa đủ để nhai thịt.  5. Thịt gà  Thịt gà chứa nhiều protein và chất sắt, đây là nguồn dinh dưỡng chất lượng dành cho bé đặc biệt trong thời kỳ ăn dặm. Phần ức và phần lườn của gà giàu protein, ít chất béo, phần đùi gà chứa nhiều sắt và có hàm lượng chất béo cao. Thịt gà dễ tiêu hóa nhất trong số các loại thịt, được xếp vào danh sách "thịt trắng", và "thịt trắng" dễ hấp thụ hơn "thịt đỏ" (Thịt bò, thịt lợn). 6. Pho mát  Pho mát là một nguồn giàu riboflavin (vitamin B2) cần thiết cho quá trình chuyển hóa protein, chất béo và carbohydrate thành năng lượng. Trong phomát chứa nhiều chất béo bão hòa không tốt cho người lớn nhưng lại rất tốt cho trẻ nhỏ.   Trong pho mát có nhiều chất béo bão hòa tốt cho trẻ nhỏ (Hình minh họa) 7. Khoai lang Khoai lang là loại củ chứa nhiều tinh bột, acid amin, beta caroten, vitamin C, vitamin B1, canxi, kẽm, sắt, magie, natri, kali,… an toàn cho bữa ăn dặm của bé. Ngoài ra, khoai lang chứa rất ít chất béo, không có cholesterol và là một nguồn photochemical phong phú, giúp bé chống lại các loại bệnh tật. Vị ngon ngọt, thanh mát của loại củ này sẽ khiến bé thích thú hơn với bữa ăn dặm. 8. Sữa chua  Sữa chua có tác dụng rất tốt, cần thiết cho sức khỏe của bé. Nó cung cấp lượng lớn canxi, cao hơn trong sữa tươi, góp phần thúc đẩy sự phát triển hệ xương của trẻ. Hai hộp sữa chua mỗi ngày có thể bổ sung đến 50% nhu cầu canxi mỗi ngày của các bé. Ngoài ra, các dưỡng chất và lợi khuẩn trong sữa chua còn giúp trẻ tăng sức đề kháng, ổn định hệ tiêu hóa.  Tuy sữa chua là thực phẩm rất tốt cho sức khỏe của bé nhưng các mẹ cũng không nên cho con ăn quá nhiều. Nếu bé ăn quá nhiều sữa chua sẽ rất dễ phải đối mặt với tình trạng quá nhiều axit trong dạ dày. Hiện tượng này sẽ ảnh hưởng đến niêm mạc dạ dày và bài tiết chất xúc tác tiêu hoá. Điều này lâu ngày sẽ làm mất đi cảm giác thèm ăn của bé. Liều lượng sữa chua khuyến cáo cho trẻ chỉ nên ăn từ 1 - 2 cốc mỗi ngày. 9. Cam quýt  Cam quýt là những trái cây giàu vitamin C giúp của thiện sức đề kháng của cơ thể trẻ và giúp trẻ hấp thụ chất sắt từ các thực phẩm khác. Hơn nữa, thường xuyên ăn cam quýt cũng giúp tăng cường hệ miễn dịch chống lại các loại vi khuẩn. Trong cam quýt có chứa nhiều chất xơ và pectin có thể thúc đẩy nhu động ruột giúp loại bỏ chất độc hại. Các mẹ có thể cho con ăn sau mỗi bữa ăn hoặc vắt nước cho con uống.   Cam quýt giàu vitamin C rất tốt cho trẻ nhỏ (Hình minh họa) 10. Cà chua Cà chua là loại quả giàu vitamin, chất xơ và chất chống ôxy hóa, đây được cho là thực phẩm an toàn, lợi ích cho bữa ăn dặm của bé. Cà chua có tác dụng giải độc, tái sinh tế bào, phát triển hệ thống thần kinh, tránh cảm cúm, bảo vệ da cho bé. Ngoài ra, cà chua còn là một nguồn thực phầm dồi dào lycopene – một sắc tố chống oxy hóa giúp ngăn ngừa ung thư và bệnh tim. Tuy nhiên, các nghiên cứu chỉ ra rằng lycopene trong cà chua có thể được hấp thụ hiệu quả hơn nếu được nấu cùng với một chút dầu ăn. Các mẹ có thể xay nhỏ cà chua nấu cùng với bữa ăn dặm của bé. Các mẹ cũng cần lưu ý cân đối lượng cà chua vừa phải trong chế độ ăn dặm của bé nhé.   Các mẹ lưu ý cân đối lượng cà chua vừa phải trong khẩu phần ăn của bé thôi nhé (Hình minh họa) 11. Cà rốt  Cà rốt chứa nguồn beta caroten, vitamin A, khoáng chất, chất xơ vô cùng dồi dào, điều này rất có lợi cho thị giác, tim mạch của bé. Đây là một trong những thực phẩm dễ kết hợp nên các mẹ có thể tùy ý sáng tạo thực đơn ăn dặm cho con bằng cách luộc, hấp với thực đơn ăn dặm. Các chuyên gia cho rằng nên bổ sung lượng cà rốt hợp lý. Chỉ nên cho trẻ ăn cà rốt 2 lần/tuần, mỗi lần khoảng 30-50g. Ăn như vậy mới có tác dụng ức chế sự phát triển của các tế bào gây ung thư. Còn nếu cho bé ăn quá nhiều cà rốt có thể khiến bé bị thiếu máu, do đó bé dễ mắc bệnh vàng da, chán ăn, tâm thần bất ổn, bồn chồn và khó ngủ. Thậm chí, ban đêm bé còn hay giật mình, sợ hãi, khóc và nhiều triệu chứng khác nữa. 12. Cá Cá chứa nhiều nhóm axit amin, nguồn Omega 3 tuyệt vời cho sức khỏe mà cơ thể trẻ sơ sinh đang phát triển rất cần. Các Omega 3 trong cá có tác dụng cực tốt đến sự phát triển của não bộ, trí thông minh và mắt của trẻ. Đặc biệt cá hồi cung cấp một nguồn chất béo cần thiết hỗ trợ chức năng của não bộ và hệ thống miễn dịch.
Xem thêm

4 Đọc thêm

THIẾU MÁU THIẾU SẮT

THIẾU MÁU THIẾU SẮT

6.1.1. Điều trị thiếu sắt:− Cho trẻ uống các muối sắt, các muối Fe hoá trị 2 dễ hấp thu hơn.− Liều lượng có hiệu quả: 4 - 6 mg sắt nguyên tố/kg/ngày.− Có thể dùng:+Sulfat sắt: 20 mg/kg/ngày chia 2 - 3 lần (100mg sulfat sắt có 20 mg Fe).+Gluconat sắt: 40 mg/kg/24h chia 2 - 3 lần (100mg gluconat sắt có 11 mg sắt).− Chú ý:+Thời gian điều trị từ 8 - 12 tuần lễ, có thể dùng dài ngày hơn.+Sắt phải được uống vào khoảng cách giữa 2 bữa ăn.+Tác dụng phụ: có thể buồn nôn, đau vùng thượng vị, ợ hơi nóng, táo bón hoặc ỉachảy  Khi đó có thể giảm bớt liều hoặc uống cách xa bữa ăn.+Nên cho thêm Vitamin C 0,1 g x 3 viên/ ngày để sắt dễ hấp thụ.
Xem thêm

6 Đọc thêm

SLIDE CÁC NHÓM MÁU NGOÀI HỆ ABO

SLIDE CÁC NHÓM MÁU NGOÀI HỆ ABO

Sinh ra do miễn dịch (truyền máu hoặc thai nghén)Bản chất IgG, hoạt hoá bổ thể, có khả năng lọt qua hàng rào rau thaiKT bất thờng, phổ biến sau hệ Rh, xuất hiện sau truyền máuKT kháng k có đặc tính rất giống KT kháng K nhng gặp với tần số ít hơnCác KT khác: KT kháng Kpa, Kpb, Jsa, Jsb ít gặp hơn KT kháng K, k rất nhiềuHệ nhóm máu Kell4. Vai trò của hệ nhóm máu Kell trong thực hành truyền máuĐóng vai trò quan trọng trong thực hành truyền máu, sau hệ ABO và RhGây phản ứng tan máu muộn và vàng da tan máu ở trẻ sơ sinh do bất đồng nhóm máu mẹ conCác KT miễn dịch chống K phản ứng rất mạnh với hồng cầu mang KN K và gây tan máu trong lòng mạch khitruyền máu không phù hợp.Hệ nhóm máu Kidd1. Lịch sử phát hiệnNăm 1951, Allen và CS phát hiện ra KT đặc hiệu chống KN JkaHai năm sau đó, Flaut phát hiện KT đồng miễn dịch chống KN Jkb do truyền máu
Xem thêm

88 Đọc thêm

Lỗi lớn khiến mẹ sinh con nhẹ cân

LỖI LỚN KHIẾN MẸ SINH CON NHẸ CÂN

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Những em bé sinh ra ít hơn 2,5kg được cho là nhẹ cân. Trẻ sơ sinh nhẹ cân dễ mắc nhiều nguy cơ thị lực và hệ thần kinh phát triển kém so với thông thường. Ngay cả khi siêu âm, các bác sĩ đã có thể cho bạn biết về điều này dựa trên kết quả về hình ảnh. Nguyên nhân gây nhẹ cân Do sinh non Sinh non là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng trẻ sơ sinh thiếu cân. Tuy nhiên, bạn sinh con đủ tháng nhưng bé vẫn bị nhẹ cân. Nguyên nhân có thể là do di truyền hoặc do trẻ không được chăm sóc đầy đủ về dinh dưỡng khi còn trong bào thai. Sinh non nghĩa là sinh trước 37 tuần của thai kỳ. Tỷ lệ trẻ sinh non có nguy cơ tử vong cao hơn so với trẻ đủ tháng tuổi. Do lối sống và bệnh của mẹ Ngoài yếu tố do sinh non thì lối sống và bệnh của mẹ cũng gây nên tình trạng trên. Một số nguyên nhân khác như: mẹ dưới 17 tuổi, tăng cân không đủ trong thai kỳ, mẹ hút thuốc hoặc uống rượu khi mang thai, mẹ bị nhiễm trùng hoặc mắc bệnh như tiểu đường và cao huyết áp cũng có thể là mẹ bị bệnh mãn tính. Cũng có thể là mang thai đôi hoặc thai ba, mẹ có tiền sử sinh non.   Mẹ nên ngừng sử dụng chất kích thích vì đấy có thể là nguyên nhân dẫn đến tình trạng nhẹ cân ở trẻ sơ sinh. (ảnh minh họa) Cách khắc phục Mẹ phải thường xuyên kiểm tra sức khỏe của cả mẹ và con để theo dõi chi tiết sự phát triển của thai nhi. Đồng thời, cần chăm sóc sức khỏe của mẹ thật tốt cả về thể trạng lẫn tình thần. Axit folic đóng vai trò rất quan trọng và cần khoảng 400 mg trong suốt thai kỳ. Nếu lượng axit này bị thiếu sẽ dẫn đến nguy cơ những dị tật bẩm sinh. Nếu mẹ có thói quen hút thuốc lá thì phải ngưng ngay vì trong thuốc lá có chứa các chất khiến trẻ có trọng lượng thấp và nhiều vấn đề khác về sức khỏe. Mẹ cũng phải giảm uống rượu và một số loại kích thích. Đảm bảo về chế độ dinh dưỡng cho mẹ. Chăm sóc trẻ nhẹ cân Tại bệnh viện Trong giai đoạn đầu, trẻ nhẹ cân nên được chăm sóc tại bệnh viện. Ở đây, các bác sĩ có thể giúp điều chỉnh nhiệt độ cơ thể, dinh dưỡng cho bé. Bạn thấy có quá nhiều dây được tiếp xúc với bé con thì cũng không nên lo lắng quá. Bởi vì chúng dùng để đo các chỉ số như: Mức độ oxy, huyết áp, nhịp tim, nhiệt độ cơ thể. Chăm sóc tại nhà Khi trẻ cứng cáp hơn, gia đình có thể chuyển bé về chăm sóc tại nhà cho thuận tiện. Theo các chuyên gia, chỉ có khoảng 20% trẻ sơ sinh bị nhẹ cân bẩm sinh, 80% là do lối sống của mẹ. Lúc này, gia đình đặc biệt là người mẹ phải hết sức chú ý trong phương pháp chăm sóc trẻ. Nên chăm sóc theo sự hướng dẫn của bác sĩ. Những bệnh do nhẹ cân Hiển nhiên rằng trẻ nhẹ cân sẽ có nguy cơ mắc bệnh tật cao hơn so với trẻ đủ cân, thậm chí là những bệnh hiểm nghèo. Các bệnh thường gặp: giảm chức năng hô hấp phổi, hệ thống miễn dịch suy yếu, bại não, khuyết tật bẩm sinh, các vấn đề về nhận thức hành vi… Phòng tránh Trước khi có ý định mang thai, phụ nữ phải có sự chuẩn bị kỹ càng về mặt tâm lý cũng như sức khỏe. Người phụ nữ cần tiêm văcxin phòng một số bệnh như cúm, sởi, rubella…Tìm hiểu về bệnh di truyền hoặc một số bệnh có thể ảnh hưởng đến thai nhi.
Xem thêm

2 Đọc thêm

BÀI GIẢNG CÁC NHÓM MÁU NGOÀI HỆ ABO

BÀI GIẢNG CÁC NHÓM MÁU NGOÀI HỆ ABO

Sinh ra do miễn dịch (truyền máu hoặc thai nghén)Bản chất IgG, hoạt hoá bổ thể, có khả năng lọt qua hàng rào rau thaiKT bất thờng, phổ biến sau hệ Rh, xuất hiện sau truyền máuKT kháng k có đặc tính rất giống KT kháng K nhng gặp với tần số ít hơnCác KT khác: KT kháng Kpa, Kpb, Jsa, Jsb ít gặp hơn KT kháng K, k rất nhiềuHệ nhóm máu Kell4. Vai trò của hệ nhóm máu Kell trong thực hành truyền máuĐóng vai trò quan trọng trong thực hành truyền máu, sau hệ ABO và RhGây phản ứng tan máu muộn và vàng da tan máu ở trẻ sơ sinh do bất đồng nhóm máu mẹ conCác KT miễn dịch chống K phản ứng rất mạnh với hồng cầu mang KN K và gây tan máu trong lòng mạch khitruyền máu không phù hợp.Hệ nhóm máu Kidd1. Lịch sử phát hiệnNăm 1951, Allen và CS phát hiện ra KT đặc hiệu chống KN JkaHai năm sau đó, Flaut phát hiện KT đồng miễn dịch chống KN Jkb do truyền máu
Xem thêm

88 Đọc thêm

Thiếu vitamin D làm tăng nguy cơ thiếu máu ở trẻ

THIẾU VITAMIN D LÀM TĂNG NGUY CƠ THIẾU MÁU Ở TRẺ

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Một nghiên cứu mới đây của Bệnh viện Nhi Johns Hopkins đã chỉ ra rằng, lượng vitamin D hấp thụ từ ánh nắng mặt trời thấp có thể làm tăng nguy cơ trẻ mắc bệnh thiếu máu. Nhóm nghiên cứu đã phân tích mẫu máu của hơn 10.400 trẻ để tìm ra mối liên hệ giữa hàm lượng vitamin D và bệnh thiếu máu. Kết quả cho thấy, những trẻ có hàm lượng vitamin D thấp cũng sẽ có lượng hemoglobin thấp (thành phần của máu). Đặc biệt, trẻ có lượng vitamin D thiếu xuống thấp hơn 30ng/ml có nguy cơ mắc bệnh thiếu máu cao gần gấp đôi so với những trẻ có đủ hàm lượng vitamin D cần thiết.   Trẻ có lượng vitamin D thiếu xuống thấp hơn 30ng/ml có nguy cơ mắc bệnh thiếu máu cao gần gấp đôi so với những trẻ có đủ hàm lượng vitamin D cần thiết. (Ảnh minh họa) Nguyên nhân cho hiện tượng này được các nhà nghiên cứu giải thích có thể là do vitamin D có tác dụng sản xuất hồng cầu, có khả năng điều chỉnh tình trạng viêm nhiễm miễn dịch - những tác nhân có thể gây ra bệnh thiếu máu.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Sinh con mùa đông thông minh hơn mùa hè?

SINH CON MÙA ĐÔNG THÔNG MINH HƠN MÙA HÈ?

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Các nghiên cứu cho rằng, khi mang thai, việc bạn ăn thực phẩm khác nhau theo mùa cũng là nguyên nhân dẫn đến việc con bạn nhận được chất dinh dưỡng khác nhau. Ngoài ra, môi  trường cũng là một trong những yếu tố để đứa trẻ chào đời được cao lớn, thông minh hơn. Vitamin D đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành hệ thống miễn dịch và xương của trẻ. Hàm lượng Vitamin D thay đổi theo thời gian trong năm, điều đó dẫn đến việc bà bầu ăn và tiếp xúc với ánh sáng mặt trời cũng khác nhau. Bên cạnh đó, nhiệt độ thay đổi theo mùa và các loại virus mùa đông cũng có thể giải thích sự khác biệt của một đứa bé sinh ra mùa xuân, hè, thu hay đông. Sinh mùa nào thì trẻ khỏe nhất? Rất khó để có câu trả lời chính xác, nhưng nghiên cứu cho thấy những em bé sinh vào tháng 6 và 10 có chiều cao vượt trội hơn trẻ em khác vì được nhận nhiều vitamin D hơn trong thai kỳ.Các nhà nghiên cứu tiến hành đo hàm lượng vitamin D ở phụ nữ mang thai 37 tuần và thấy những người tiếp xúc với ánh nắng mặt trời nhiều nhất sẽ sinh ra những em bé có chiều cao hơn 0,5 cm so với những em bé sinh vào những tháng mùa đông.   Trẻ sinh mùa hè được tiếp xúc nhiều với ánh nắng sẽ có lợi hơn. (Hình minh họa) Những bé sinh vào mùa thu và mùa đông cũng dễ đối mặt với nguy cơ dị ứng thực phẩm. Nguyên nhân cũng được cho là do việc tiếp xúc với vitamin D ít hơn trong thời gian mang thai. Đặc biệt, trẻ sinh mùa thu có nguy cơ mắc bệnh hen suyễn, nguyên nhân là do khi trời lạnh các bé thường được ủ ấm trong nhà và sẽ dễ tiếp xúc với bụi bẩn, các chất gây dị ứng trong những tháng đầu tiên của cuộc đời. Về giấc ngủ, trẻ sinh mùa xuân sẽ ngủ sâu giấc hơn so với trẻ sinh mùa thu. Một lý do có thể là do đồng hồ cơ thể của bé bị ảnh hưởng do sự tiếp xúc với ánh sáng mặt trời khi chào đời.  Đó cũng là nguyên nhân mà trẻ sinh mùa xuân thường ngủ muộn còn trẻ sinh mùa thu lại có xu hướng buồn ngủ sớm hơn. Sinh mùa nào thì trẻ thông minh nhất? Thực tế là khi mới đi học, những trẻ sinh ra và mùa Xuân có xu hướng hoàn thành các bài kiểm tra tốt hơn các trẻ sinh vào mùa Thu và mùa Hè. Nguyên nhân đơn giản là khi năm học mới bắt đầu vào tháng 9 thì các bé sinh đầu năm sẽ có nhiều lợi thế hơn các bé giữa năm và cuối năm.   Các bé sinh mùa đông thường dễ mắc nguy cơ dị ứng do ủ ấm trong nhà. (Hình minh họa) Tuy nhiên khi lớn lên thì lợi thế này sẽ ít rõ ràng hơn, và nghiên cứu mới đây cũng chỉ ra rằng trẻ em sinh mùa đông thường có xu hướng đạt điểm cao hơn trong các bài kiểm tra lý luận và phát triển thể chất so với trẻ sinh mùa hè. Trường đại học Harvard và Queensland đã tiến hành nghiên cứu trong 21 nghìn trẻ sơ sinh từ khi chào đời, lúc 8 tháng, 4 tuổi và 7 tuổi. Sau 7 năm, kết quả cho thấy trẻ sinh mùa đông có cân nặng trên 210 gram, chiều cao trên 0,19 cm và có điểm thi tốt hơn so với trẻ sinh mùa hè.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Những thực phẩm “cấm kị” cho trẻ sơ sinh

NHỮNG THỰC PHẨM “CẤM KỊ” CHO TRẺ SƠ SINH

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Trẻ dưới 1 tuổi vẫn đang trong quá trình hình thành đầy đủ và hoàn thiện dần các chức năng của từng bộ phận trên cơ thể. Chính vì vậy, các mẹ cần chọn lọc những thực phẩm phù hợp với trẻ và nên tránh những loại thực phẩm sau đây: Muối Mẹ không nên thêm muối vào bất cứ thức ăn nào dành cho bé, vì nó không tốt cho thận của bé lúc này. Không sử dụng viên súp hay nước chấm vì chúng chứa hàm lượng muối cao. Hãy lưu ý điều này khi nấu ăn cho gia đình và cho trẻ.   Trẻ dưới 1 tuổi chưa cần nêm muối vào cháo, bột (ảnh minh hoạ) Đường Không nên dùng các loại thực phẩm nhiều đường như bánh quy, kẹo hay nước ngọt vì có thể gây sâu răng ở trẻ. Sử dụng chuối nghiền, sữa mẹ hoặc sữa công thức để làm ngọt thức ăn cho trẻ nếu cần thiết. Mật ong Mật ong chứa vi khuẩn gây độc tố cho đường ruột của bé. Điều này có thể dẫn đến tình trạng ngộ độc ở trẻ sơ sinh. Mật ong cũng là một dạng đường có thể gây sâu răng cho trẻ. Vì vậy, không nên dùng mật ong cho trẻ dưới một tuổi.   Mật ong được nhiều chuyên gia khuyến cáo không nên cho trẻ sơ sinh ăn (ảnh minh hoạ) Các loại hạt Trẻ dưới 5 tuổi không nên cho ăn các loại hạt, nhất là đậu phộng. Bên cạnh đó, đậu  phộng cũng là loại thực phẩm dễ gây dị ứng cho trẻ nhỏ. Thức ăn hàm lượng chất béo thấp Chất béo cung cấp rất nhiều năng lượng và các vitamin cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Trẻ dưới 2 tuổi nên bổ sung các loại thức ăn như sữa nguyên chất, sữa chua và pho mát hơn là các loại thực phẩm ít chất béo. Chất béo bão hòa Không nên cho trẻ ăn thức ăn chứa chất béo bão hòa hay chất béo có hại như khoai tây chiên, bánh mý kẹp và bánh ngọt. Một số loại cá Các mẹ cần tránh những loại cá có hàm lượng thủy ngân nhất định như cá mập, cá kiếm, cá marlin,… bởi chúng có thể ảnh hưởng đến sự phát triển hệ thần kinh của trẻ. Hải sản có vỏ Không nên cho trẻ ăn các loại hải sản này vì có thể tăng nguy cơ ngộ độc ở trẻ. Trứng sống hoặc chưa chín Trẻ dưới 6 tháng tuổi có thể cho ăn trứng nhưng phải đảm bảo trứng được luộc chín cho đến khi cả lòng trắng và lòng đỏ rắn lại.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Lỗi phản tác dụng khi mẹ cho bé ăn chuối sai cách

LỖI PHẢN TÁC DỤNG KHI MẸ CHO BÉ ĂN CHUỐI SAI CÁCH

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Từ lâu chuối vẫn được coi là trái cây có nguồn dinh dưỡng tốt cho sức khỏe. Đối với trẻ em, chất xơ của chuối có tác dụng làm cho ruột hoạt động đều hạn chế biếng ăn ở trẻ, rất có lợi cho hệ miễn dịch của bé. Với nguồn kali và chất xơ dồi dào, chuối được đánh giá là một loại quả hàng đầu của tự nhiên. Bên cạnh đó, trong chuối còn có hàm lượng vitamin C, vitamin B2, B6 dồi dào giúp cung cấp năng lượng hoàn thiện cho bé một ngày vui chơi lành mạnh. Tuy nhiên, nhiều mẹ vẫn không biết nên cho trẻ ăn chuối ra sao cho đúng. Dưới đây sẽ là lời giải đáp cho một số thắc mắc của mẹ khi cho trẻ ăn chuối. 4 tháng tuổi bắt đầu có thể ăn chuối Chuối là loại hoa quả rất tốt cho các bé tuổi ăn dặm. Do đó khi các bé được khoảng 4 tháng tuổi, tuy nhiên khi mới bắt đầu cho trẻ tập ăn chuối, các mẹ chỉ nên cho con ăn với số lượng vừa phải để có thể thăm dò phản ứng của trẻ, chớ nên "tống" một lúc sẽ khiến bé khó tiếp nhận. Với độ tuổi ăn dặm, các mẹ có thể chế biến một số món chuối cho trẻ như chuối nghiền trộn sữa, bột chuối, bánh trứng chuối, chuối nướng... Không nên chọn các những quả có vỏ vàng "đẹp không tì vết" Nhiều mẹ tin rằng khi mua chuối nên chọn các nải chín đều, vàng ươm thì sẽ ngon. Nhưng thực tế, các loại quả chuối như vậy rất có thể đã được người bán dấm bằng thuốc nên sẽ vừa kém ngon vừa dễ hỏng nếu không kịp ăn nhanh. Các mẹ nên chọn những nải chuối chín lác đác, nghĩa là quả chín, quả xanh và màu thì không được đẹp cho lắm. Chuối như vậy là chuối chín tự nhiên nên khi ăn không bao giờ có vị chát, khó chịu như chuối ngâm bằng hóa chất Trung Quốc. Trong trường hợp các mẹ mua nhiều một lúc mà không ăn hết thì cẩn phải biết bảo quản đúng cách để tránh cho chuối bị hỏng.  Nếu có tủ lạnh, mẹ hãy gói quả chuối trong giấy báo hoặc túi nhựa có khóa kéo rồi đặt vào ngăn mát. Chuối sẽ tươi lâu hơn và không bị thâm vỏ. Nếu không có tủ lạnh, mẹ chỉ nên mua chuối vừa chín tới, cuống vẫn còn xanh, vỏ không có vết thâm, trầy; sau đó treo nải chuối lên móc, đặt ở nơi thoáng khí, tránh ánh sáng mặt trời hoặc lửa nóng. Trẻ ăn quá nhiều chuối có khả năng bị tê liệt tạm thời và nhịp tim không đều Chuối là một trong những hoa quả giàu dinh dưỡng, tuy nhiên, các mẹ cần biết khi cho trẻ ăn chuối quá nhiều một ngày cũng không tốt đâu nhé. Bởi chuối có chứa nhiều mangan và kali, do đó nếu bé ăn quá nhiều chuối có thể gây ra tình trạng tăng kali trong máu. Khi ấy, bé có thể gặp các triệu chứng bao gồm yếu cơ, tê liệt tạm thời và nhịp tim không đều.   Bởi chuối có chứa nhiều mangan và kali, do đó nếu bé ăn quá nhiều chuối có thể gây ra tình trạng tăng kali trong máu (Ảnh minh họa) Đặc biệt, hàng ngày bé nhà bạn đã ăn rất nhiều các loại thực phẩm bổ sung vitamin khác mà còn ăn nhiều  chuối sẽ khiến dư thừa hàm lượng vitamin và khoáng chất quá cao. Điều này có thể gây khó khăn rất lớn cho quá trình tiêu hóa. Kết quả khiến bé bị đầy hơi và đau dạ dày. Theo nghiên cứu của Trường Đại học Maryland Medical Center, thì lượng chuối trẻ nên ăn mỗi ngày theo từng độ tuổi là: - Trẻ sơ sinh sơ sinh đến 6 tháng tuổi: 500 mg - Trẻ sơ sinh 7 tháng đến 12 tháng: 700 mg - Trẻ em 1 tuổi: 1.000 mg - Trẻ em 2-5 tuổi: 1.400 mg -Trẻ em 6-9 tuổi: 1.600 mg - Trẻ em trên 10 tuổi: 2.000 mg Chuối cũng kỵ với một số thực phẩm khác Mẹ cần biết chuối có kỵ với một số thực phẩm sau: - Chuối hột kỵ mật ong, đường: chướng bụng - Chuối tiêu kỵ khoai môn: đau bụng - Chuối và khoai tây: trên mặt sẽ nổi những đốm nhỏ Khi trẻ bị đau đầu ăn chuối sẽ làm tăng lưu lượng máu lên não không tốt cho trẻ Chuối là thực phẩm có nhiều lợi ích cho trẻ, nhưng không phải lúc nào mẹ cũng có thể cho con ăn. Mẹ nên chú ý các trường hợp sau đây: Khi trẻ đang đói: Trong quả chuối có chứa rất nhiều magiê và vitamin C. Chuối có tác dụng trong quá trình thúc đẩy hệ tiêu hóa hoạt động tốt. Nhưng sẽ phản tác dụng khi mẹ cho bé dùng chuối làm thực ăn khi đói, lúc này hàm lượng magiê sẽ tăng đột ngột trong máu, làm mất sự cân bằng của tim mạch, gây tổn hại cho sức khỏe của bé. Ngoài ra, trong chuối có hàm lượng vitamin C cao, nên vitamin C khi được vào cơ thế lúc đói cũng sẽ gây tổn hại cho dạ dày của bạn. Do đó, khi con kêu đói, các mẹ đừng dại cho con ăn ngay một quả chuối. Khi trẻ đang bị táo bón: Rất nhiều mẹ cho rằng ăn chuối có thể giúp nhuận tràng, nên khi thấy con bị táo bón vẫn cho con ăn chuối thường xuyên.  Tuy nhiên, chuối không những không giải quyết được chứng táo bón mà ngược lại còn khiến táo bọn nặng hơn. Các mẹ nên biết rằng chuối thuộc loại hoa quả nhiệt đới, chuối mà chúng ta ăn đều đã được xử lý bằng một số hóa chất bảo quản giúp thúc đẩy quá trình chuối chín nhanh. Những chất này là nguyên nhân khiến cho táo bón nặng thêm. Do vậy, các bé có chức năng dạ dày kém không nên ăn nhiều chuối. Khi trẻ bị đau đầu: Khi trẻ bị đau đầu, mẹ cũng nên hạn chế cho con ăn chuối bởi các tyramine, phenyethyamine, axit amin trong chuối làm giãn các mạch máu và và làm tăng lưu lượng máu lên não nên không tốt cho trẻ. Khi trẻ đang bị tiêu chảy: Khi trẻ đang bị tiêu chảy, mẹ không nên cho con ăn nhiều chuối, nếu không ăn thì càng tốt, bởi vì trong chuối có một lượng chất xơ mềm, oligosaccarid_ chất làm cho bệnh tiêu chảy nặng hơn.  Một số lưu ý khác khi cho trẻ ăn chuối - khi cho bé ăn mẹ cần nạo sạch phần xơ vỏ bám ở thịt chuối - Không nên cho trẻ ăn chuối hột khi bé chưa được 8 tháng - Không nên cho trẻ ăn chuối chưa chín - Những quả chuối có dấu hiệu bị hỏng, các mẹ không nên tiếc quả mà tiếp tục cho trẻ ăn
Xem thêm

3 Đọc thêm

Những trường hợp mẹ KHÔNG được cho trẻ ăn trứng

NHỮNG TRƯỜNG HỢP MẸ KHÔNG ĐƯỢC CHO TRẺ ĂN TRỨNG

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Trứng gà là thức ăn giàu chất dinh dưỡng như protein, canxi, photpho, sắt, chất khoáng, các men, hormone và nhiều vitamin có lợi cho sự phát triển của trẻ. Với các chế biến đơn giản, mẹ dễ dàng có thể cho con một món ăn ngon từ trứng như trứng rán, trứng sốt cà chua.... Mặc dù trứng gà có nhiều tác dụng với trẻ, nhưng các mẹ nên biết không phải lúc nào cũng thích hợp để cho con ăn trứng. Dưới đây là một số trường hợp các mẹ cần biết và tránh cho con ăn trứng tại những thời điểm này.   Trứng gà có rất nhiều tác dụng với trẻ nhỏ, nhưng các mẹ nên biết không phải lúc nào cũng thích hợp để cho trẻ ăn trứng (Ảnh minh họa) 1. Trẻ dưới một tuổi Trường hợp không nên ăn trứng đầu tiên là khi trẻ dưới 1 tuổi.Để thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của trẻ sơ sinh, một số bà mẹ thường cho con cái của họ ăn trứng mỗi bữa ăn. Điều này có thể làm cho trẻ bị khó tiêu và thậm chí bị tiêu chảy. Bởi vì do chức năng tiêu hóa của trẻ sơ sinh, đường tiêu hóa chưa trưởng thành và sự bài tiết của các enzym tiêu hóa khác nhau là không đủ, vì vậy ăn trứng quá nhiều sẽ làm tăng gánh nặng cho dạ dày và ruột của trẻ sơ sinh. Trẻ sơ sinh dưới 6 tháng tuổi không nên ăn lòng trắng trứng vì trong lòng trắng trứng có lượng protein khá cao có thể khiến bé bị dị ứng trong khi hệ miễn dịch và sức đề kháng của bé còn rất yếu. Khi bé được 9 tháng tuổi, mẹ mới cho bé ăn lòng đỏ trứng và nên cho ăn từng ít một. Tốt nhất mỗi tuần mẹ chỉ nên cho bé ăn 2 lòng đỏ trứng nấu chung với cháo hoặc bột, không nên luộc trứng rồi cho bé ăn lòng đỏ vì rất dễ khiến bé bị mắc nghẹn khi ăn. Khi cho bé ăn trứng, các mẹ nên chú ý các biểu hiện như phát ban da, nổi mề đay, nôn mửa và các hiện tượng dị ứng khác sau khi trẻ ăn lòng đỏ trứng. Bởi vì hệ thống miễn dịch của trẻ sơ sinh là tương đối yếu. Do đó, các phản ứng dị ứng có thể xảy ra sau khi ăn một số loại thức ăn mới.  2. Trẻ bị sốt, cảm Bình thường trứng là một thực phẩm rất bổ dưỡng cho sức khỏe trẻ con. Tuy nhiên, các bác sĩ khuyên rằng khi trẻ bị sốt thì không nên ăn trứng. Bởi trong trứng có rất nhiều protein nên sau khi ăn sẽ tạo ra một nhiệt lượng lớn. Những trẻ đang bị sốt ăn trứng gà sẽ làm cho nhiệt lượng cơ thể tăng lên không phát tán ra ngoài được, do vậy sốt càng cao và rất lâu khỏi.   Trẻ đang bị sốt ăn trứng gà sẽ làm cho nhiệt lượng cơ thể tăng lên không phát tán ra ngoài được, do vậy sốt càng cao và rất lâu khỏi (Ảnh minh họa) Trẻ nhỏ bị cảm cũng là đối tượng không được ăn trứng gà bởi trong trứng gà ẩn chứa rất nhiều vi khuẩn salmonella len lỏi qua những lỗ nhỏ li ti xâm nhập vào lòng đỏ quả trứng. Vi khuẩn này sẽ phá hủy hệ miễn dịch của trẻ nhỏ, kéo dài thời gian nhiễm bệnh cảm. Vì vậy, khi bị sốt, cảm bố mẹ không nên cho ăn trứng gà mà thay vào đó nên uống nhiều nước, rau quả tươi và hạn chế những thứ có chứa nhiều protein. 3. Trẻ vừa bị ốm dậy Trẻ vừa bị ốm dậy cũng là một trong những trường hợp không nên ăn trứng. Khi trẻ vừa mới ốm dậy, nhiều cha mẹ thường nấu cháo nóng và đánh trứng vào cho trẻ ăn để mau khỏi bệnh. Tuy nhiên với những trẻ vừa qua khỏi đợt sốt tuyệt đối không nên ăn trứng gà bởi lượng protein hoàn toàn trong trứng gà như anbumin và ovoglobumin khi hấp thu vào cơ thể còn chưa hồi phục của trẻ nhỏ sẽ làm tăng lượng nhiệt của cơ thể, kiến cơn ốm có thể quay trở lại hoặc bé lâu khỏi bệnh hơn. Tốt nhất nên cho trẻ ăn cháo thịt với hành hoa để phục hồi sức khỏe.  4. Trẻ bị tiêu chảy Rất nhiều mẹ nghĩ rằng khi con bị tiêu chảy sẽ mất nhiều chất dinh dưỡng và cần phải bồi bổ cơ thể bằng cách ăn nhiều trứng gà. Tuy nhiên, suy nghĩ này của phụ huynh là hoàn toàn không đúng. Đối với trẻ bị tiêu chảy, do dịch tiêu hóa tiết ra ít hơn, hoạt tính men tiêu hóa bị giảm, việc chuyển hóa chất mỡ, chất đạm và đường bị rối loạn, chức năng tái hấp thu nước và chất dinh dưỡng ở ruột non gặp trở ngại, phần lớn các chất dinh dưỡng bị thải ra ngoài qua đường tiêu hóa. Cho nên, việc bổ sung trứng gà (thực phẩm giàu đạm và chất béo) cho trẻ trong giai đoạn này không những sẽ làm mất đi tác dụng bổ dưỡng cơ thể, mà ngược lại còn làm cho tình trạng bệnh càng nặng thêm, làm gián đoạn quá trình chuyển hóa các chất dinh dưỡng vào trong cơ thể, ảnh hưởng đến đường ruột. Vì thế, trong thời gian bị tiêu chảy, mẹ không nên cho trẻ ăn trứng gà.  5. Trẻ béo phì, thừa cân Những trẻ nhỏ mắc bệnh béo phì không nên ăn trứng gà bởi trong trứng có chứa rất nhiều cholesterol và chất béo bão hòa khiến thân hình của trẻ ngày càng nặng nề hơn. Tốt nhất cha mẹ cần cho trẻ ăn nhiều rau xanh và hoa quả chưa nhiều vitamin để giảm bớt lượng mỡ trong cơ thể.   Những trẻ nhỏ mắc bệnh béo phì cũng là trường hợp không nên ăn trứng gà bởi trong trứng có chứa rất nhiều cholesterol và chất béo bão hòa khiến thân hình của trẻ ngày càng nặng nề hơn (Ảnh minh họa) 6. Trẻ nhỏ bị tiểu đường Ngày nay, trẻ nhỏ được làm quen nhiều với đồ ăn vặt hay những đồ ăn chiên béo ngậy hay có hàm lượng đường cao. Việc cha mẹ chiều chuộng cho trẻ ăn quá nhiều đồ ngọt sẽ khiến trẻ có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường mãn tính rất cao. Đây là căn bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ hiện nay. Khi trẻ bị bệnh tiểu đường ăn quá nhiều trứng, sẽ khiến bệnh trở nên trầm trọng hơn. Bởi trứng là loại thực phẩm chứa nhiều chất béo omega-3, là nguồn cung cấp vitamin, protein và nhiều dưỡng chất khác có lợi sức khỏe nhưng chúng cũng chứa rất nhiều cholesterol và chất béo bão hòa. Đây là những “thủ phạm” có thể gây ra bệnh tiểu đường loại 2.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Nguy cơ tăng cân vì bổ sung Vitamin bừa bãi

NGUY CƠ TĂNG CÂN VÌ BỔ SUNG VITAMIN BỪA BÃI

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Hai nguyên tắc quan trọng của việc giảm cân là giảm lượng và tăng sự tiêu thụ. Điều đó có nghĩa là bạn nên điều chỉnh chế độ ăn uống và tăng cường các bài tập cùng một lúc để tăng cường hiệu quả giảm cân. Vitamin đóng vai trò rất quan trọng đối với sự sống của con người, bởi nó là những chất xúc tác không thể thiếu trong các quá trình chuyển hóa chất. Do đó, bổ sung vitamin đầy đủ cho cơ thể là rất cần thiết. Đồng thời, việc bổ sung vitamin có thể giúp bạn giảm cân hiệu quả. Trong thực tế, nhiều trường hợp khi cơ thể thiếu vitamin, người ta sẽ ăn nhiều hơn để bổ sung mức vitamin cần thiết và điều này sẽ khiến bạn tăng cân. Hiện nay, cuộc sống hiện đại là nguyên nhân chủ yếu gây thiếu vitamin,  việc thiếu vitamin ngay trong khẩu phần ăn hàng ngày. Nguyên nhân vì chúng ta tiêu hao năng lượng do vận động ít hơn, lao động chân tay ít nên ăn ít hơn. Khẩu phần ăn hạn chế này không cung cấp đủ các loại vitamin và chất khoáng cho cơ thể. Thường là thiếu nhiều loại vitamin cùng một lúc, nên khi điều trị cần phối hợp nhiều loại vitamin. Nếu bổ sung đầy đủ vitamin sẽ giúp bình thường hóa quá trình trao đổi chất mà không làm tăng trọng lượng cơ thể.   Bổ sung Vitamin không đúng cách có thể khiến bạn bị tăng cân (Ảnh minh họa) Các nguồn chính của vitamin bao gồm ngũ cốc thô, rau, trái cây và trứng. Lương thực thô chứa nhiệt hàm lượng vitamin dồi dào. Những người muốn giảm cân có thể sử dụng ngũ cốc thô để thay thế các loại thực phẩm chủ yếu, vì thực phẩm thô có thể không chỉ đối phó với cơn đói mà còn giúp mọi người giảm cân. Béo phì được gây ra bởi sự mất cân bằng của sự thay thế. Vitamin B hỗn hợp chỉ là một loại chất dinh dưỡng quan trọng để ảnh hưởng đến thay thế của cơ thể con người. Vì vậy, việc thiếu vitamin B hỗn hợp có thể gây ra bệnh béo phì. Nhiều người từ chối ăn các loại lương thực, thực phẩm chủ yếu chứa tinh bột. Họ cũng không ăn trứng và thịt, cholesterol cao có trong những thực phẩm này có thể gây ra bệnh béo phì và gây nguy hiểm cho sức khỏe. Tuy nhiên, các loại thực phẩm đã đề cập ở trên chứa phong phú vitamin B hỗn hợp. Nếu mọi người luôn luôn từ chối những thực phẩm này, lượng vitamin như vậy sẽ có thể gây ra thiếu vitamin nghiêm trọng.   Vitamin cần được bổ sung đúng cách và khoa học  (Ảnh minh họa) Ví dụ, thiếu vitamin B1 có thể cản trở việc chuyển đổi glucose thành nhiệt, thiếu vitamin B6 sẽ ảnh hưởng đến chuyển hóa chất béo bên trong cơ thể con người và gây ra sự tích tụ mỡ, thiếu vitamin B12 sẽ cản trở sự chuyển hóa của béo axit và gây ra việc sử dụng không đúng các protein, chất béo và carbohydrates. Việc từ chối những thực phẩm này có thể gây ra sự mất cân bằng nghiêm trọng của các chất dinh dưỡng, và tạo thành một loại vòng luẩn quẩh. Trong thực tế, mỗi loại thức ăn hay chất dinh dưỡng có chức năng riêng của nó. Do đó, trọng lượng lý tưởng cần được thực hiện trên cơ sở của chế độ ăn uống cân bằng. Thời điểm uống vitamin tốt nhất Khi hấp thu vào cơ thể, có 4 loại vitamin phải tan trong mỡ mới hấp thu được, đó là vitamin A, K, D, E. Còn lại là các vitamin tan trong nước. Vì thế, người ta khuyên nên uống các loại vitamin sau bữa ăn. Có thể uống riêng từng loại vitamin hoặc uống chung một lúc đều được, bởi tất cả chúng đều được hấp thu trong ruột non mà không hề có sự tương tác lẫn nhau.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Cách trị táo bón cho trẻ sơ sinh

CÁCH TRỊ TÁO BÓN CHO TRẺ SƠ SINH

Cách trị táo bón cho trẻ sơ sinh – Táo bón ở trẻ sơ sinh là một bệnh rất phổ biến ở nhiều trẻ nhỏ. Táo bón ở trẻ sơ sinh làm ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của bé, mặt khác cũng gây nhiều khó khăn và lo lắng cho cha mẹ. Vậy cách trị táo bón cho trẻ sơ sinh như thế nào cho hiệu quả? Bạn hãy tham khảo cách tri táo bón cho trẻ sơ sinh nhé. http:wapmaster.vncachtritaobonchotresosinh.html http:wapmaster.vn

6 Đọc thêm

BÀI GIẢNG ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ TRẺ SƠ SINH TS BS CKII HUỲNH THỊ DUY HƯƠNG

BÀI GIẢNG ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ TRẺ SƠ SINH TS BS CKII HUỲNH THỊ DUY HƯƠNG

Khi nuôi bằng sữa bò: bổ sung thêm vitamin D 1000 đơn vị/ngày, liên tục cho đến tuổi ăn dặm– Nên bổ sung các chất trên/phối hợp sữa mẹ và sữa bònếu tốc độ phát triển nhanh (trẻ sinh non sau 1 thángtuổi), vì sữa mẹ đơn thuần không cung cấp đủ nhu cầu vềCa, P và vitamin D.– Tuyến phó giáp trạng dễ bị suy do phải tăng hoạt động đểbù trừ tình trạng bị thiếu Ca và P thườngĐặc điểm về chuyển hóa các chất• Các chất khoáng– Fe: mẹ cung cấp trong 2 tháng cuối thai kỳ,• Càng sinh non trẻ càng dễ bị thiếu Fe.• Dự trữ sắt: 262mg%/đủ tháng, 106mg%/non tháng, đủ chotrẻ đủ tháng không bị thiếu máu/3 tháng đầu, nhưng chỉ 1tháng ở trẻ sinh non  lưu ý thiếu máu sau 1 tháng tuổi/trẻsinh non (điều trị bằng truyền máu) và viên sắt uống chỉ cókhả năng hấp thụ/ruột sau 2 tháng tuổi
Xem thêm

55 Đọc thêm

Nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ hạ đường máu giai đoạn sơ sinh sớm tại khoa nhi bệnh viện trường Đại học Y-Dược Huế

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ HẠ ĐƯỜNG MÁU GIAI ĐOẠN SƠ SINH SỚM TẠI KHOA NHI BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y-DƯỢC HUẾ

ĐẶT VẤN ĐỀ Hạ glucose máu sơ sinh là tình trạng giảm nồng độ glucose trong máu, đây là hội chứng thường gặp ở trẻ sơ sinh đặc biệt là những ngày đầu sau sinh [58], nguyên nhân gây bệnh thường là sự suy giảm sản xuất glucose hoặc dự trữ glycogen ở gan trong thời kỳ bào thai, hoặc sự gia tăng nhu cầu sử dụng glucose, rối loạn tân tạo glucose, phân hủy glycogen. Bình thường mức độ sử dụng glucose ở trẻ sơ sinh cao hơn người lớn trong đó não là nơi sử dụng glucose như một nguồn năng lượng chủ yếu. Đối với trẻ sơ sinh non tháng, thấp cân, dự trữ glycogen thường giảm, khả năng phân hủy glycogen tạo đường cũng giảm nên trẻ dễ bị hạ đường máu trong những giờ đầu sau sinh [53]. Từ trong bào thai glucose là loại thức ăn cung cấp năng lượng duy nhất, chính vì vậy sau sinh theo thời gian lượng đường trong máu trẻ giảm hoàn toàn là sinh lý, chính sự giảm này sẽ cân bằng hormone trong cơ thể đặc biệt là insulin. Khi mọi thứ hoạt động nhịp nhàng thì đường trong máu được duy trì, nếu không hạ đường máu sẽ xảy ra. Tuy nhiên, ở những trẻ có nguy cơ cao, chẳng hạn trẻ sinh ra từ mẹ đái tháo đường, do có quá nhiều nồng độ insulin trong máu nên trẻ luôn bị hạ đường máu sau sinh. Ngoài ra, những trẻ có yếu tố nguy cơ như dự trữ glucose kém, những trẻ được cung cấp dồi dào nguồn glucose trong thai kỳ hoặc trong thời gian chuyển dạ hoặc trẻ bị mắc bệnh lý giai đoạn sơ sinh sớm đều là những trẻ có nguy cơ hạ đường máu sau sinh [37]. Hạ đường máu trẻ sơ sinh triệu chứng rất nghèo nàn và không điển hình, có thể gây nhầm lẫn với các nguyên nhân khác trong giai đoạn sơ sinh đặc biệt là trong giai đoạn sơ sinh sớm. Glucose là nguồn cung cấp năng lượng duy nhất cho tổ chức thần kinh và não sử dụng cho quá trình trao đổi chất nên thiếu glucose cũng như thiếu oxy nếu không được chẩn đoán và xử trí kịp thời sẽ gây rối loạn chức năng tế bào não [58] và tổn thương não ngay cả không có triệu chứng lâm sàng của hạ đường máu [71], để lại di chứng nặng nề thậm chí có thể tử vong. Theo nghiên cứu hồi cứu của tác giả Kerstjens JM và cộng sự cho thấy trẻ đẻ non bị hạ đường máu thì nguy cơ chậm phát triển ở độ tuổi mẫu giáo gấp 2,19 lần [46]. Do đó kiểm soát đường máu ở trẻ sơ sinh đặc biệt trẻ sơ sinh giai đoạn sơ sinh sớm là rất quan trọng nhằm tránh những hậu quả nặng nề và đáng tiết xảy ra [71]. Tuy nhiên rối loạn này có thể phát hiện và tầm soát sớm bằng xét nghiệm đường máu mao mạch ở trẻ sơ sinh và xử lý theo phát đồ của tổ chức y tế thế giới. Cho đến nay trong điều kiện kinh tế phát triển vấn đề phát hiện và tầm soát hạ đường máu trẻ sơ sinh rất đơn giản. Điều quan trọng là phải tiên lượng trước vấn đề cũng như các yếu tố nguy cơ gây hạ đường máu ở trẻ sơ sinh và có kế hoạch để đối phó kịp thời bằng cách sàng lọc tất cả những trẻ có nguy cơ hạ đường máu trong giai đoạn sơ sinh sớm. Vì vậy, đề tài: “Nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ hạ đường máu giai đoạn sơ sinh sớm tại khoa nhi bệnh viện trường Đại học Y-Dược Huế’’ nhằm các mục tiêu sau: 1. Mô tả tỉ lệ hạ đường máu theo loại sơ sinh và một số bệnh lý thường gặp giai đoạn sơ sinh sớm. 2. Xác định một số yếu tố nguy cơ từ mẹ, con liên quan đến hạ đường máu giai đoạn sơ sinh sớm.
Xem thêm

109 Đọc thêm

Muốn con thông minh phải ăn nhiều chất sắt

MUỐN CON THÔNG MINH PHẢI ĂN NHIỀU CHẤT SẮT

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Các bé sơ sinh khi ra đời đều có một nguồn dự trữ sắt dồi dào, thường đủ cho nhu cầu của bé trong vòng 4-6 tháng. Sữa mẹ và sữa công thức chứa lượng sắt cần thiết cho nhu cầu của bé, nhưng sữa mẹ giúp bé hấp thụ dưỡng chất này tốt hơn. Sau 4-6 tháng, khi trẻ bắt đầu tập ăn những thức ăn rắn cũng là lúc mẹ nên bổ sung các thực phẩm chứa sắt cho con. Ngũ cốc chính là thực phẩm cung cấp dồi dào chất sắt nhất dành cho bé. Tầm quan trọng của chất sắt Sắt là nhân tố quan trọng để cơ thể sản xuất hemoglobin, giúp hồng cầu vận chuyển oxy đến các mô và cơ quan trong cơ thể. Thiếu sắt có thể dẫn đến thiếu máu, làm giảm khả năng vận động thông thường ở trẻ như đi, nói. Alan Greene, bác sĩ nhi khoa của DrGreene.com nhận định rằng trẻ bị thiếu máu khả năng mắc bệnh cao hơn so với những đứa trẻ khác. Da thường nhợt nhạt, chán ăn, giảm khả năng tập trung và học tập. Thức phẩm chứa hàm lượng sắt cao nhất Các bác sĩ nhi khoa khuyên rằng ngũ cốc tăng cường là thực phẩm tăng cường chất sắt tốt nhất cho trẻ sơ sinh. Không chỉ chứa hàm lượng sắt cao mà ngũ cốc rất có lợi cho hệ tiêu hóa của trẻ. Chỉ với khoảng ¾ cốc có thể cung cấp cho trẻ 18mg sắt mỗi ngày.   Các bác sĩ nhi khoa khuyên rằng ngũ cốc tăng cường chất sắt là thực phẩm tốt nhất cho trẻ sơ sinh (Ảnh minh họa) Hay trong mỗi khẩu phần bột yến mạch cung cấp 11mg sắt, đáp ứng nhu cầu hàng ngày của trẻ từ 7-12 tháng tuổi. Các sản phẩm ngũ cốc chứa hàm lượng sắt khác nhau, vì vậy trước khi mua cho bé, các mẹ cần kiểm tra kỹ để xác định lượng sắt trong mỗi loại. Các thực phẩm chứa sắt khác Gan gà cũng là một trong những thực phẩm chứa sắt tốt cho bé. Trong gan gà cũng chứa lượng sắt khá cao, trung bình khoảng 11mg trong mỗi khẩu phần. Các loại thịt không có lợi cho hệ tiêu hóa của bé giai đoạn này, vì vậy các mẹ cần xay nhuyễn gan trước khi cho bé ăn. Đậu nghiền, đậu lăng, cải bó xôi hay lòng đỏ trứng cũng là nguồn cung cấp chất sắt tương đối cho bé. Lưu ý trứng có thể gây dị ứng, vì vậy hãy hỏi ý kiến bác sỹ trước khi cho bé ăn loại thực phẩm này. Lưu ý Khi bé không hấp thụ được các loại thực phẩm giàu chất sắt, cứ sau nửa thìa thức ăn, bạn có thể bổ sung 1 chút sữa mẹ hoặc sữa công thức cho bé. Mặc dù các loại trái cây có múi không khuyến khích cho trẻ dưới 12 tháng tuổi, nhưng một số loại thực phẩm giàu vitamin C như mơ, cà chua, dâu tây, dưa và bông cải xanh lại giúp tăng khả năng hấp thu sắt ở trẻ. Để đảm bảo sức khỏe cho bé  trong những năm đầu đời, mẹ nên bổ sung những thực phẩm giàu sắt cho bé  và đưa con đi xét nghiệm máu thường xuyên nhằm phát hiện kịp thời tình trạng thiếu sắt trong cơ thể.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Cùng chủ đề