NÂNG CAO NHẬN THỨC CHO CÁN BỘ ĐẢNG VIÊN CÁC NGÀNH CÁC CẤP VỀ VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG XÂY DỰNG GIAI ĐÌNH VĂN HÓA

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "NÂNG CAO NHẬN THỨC CHO CÁN BỘ ĐẢNG VIÊN CÁC NGÀNH CÁC CẤP VỀ VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG XÂY DỰNG GIAI ĐÌNH VĂN HÓA":

Phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị ở vùng đồng bằng sông Hồng thời kỳ đổi mới

PHỤ NỮ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG THỜI KỲ ĐỔI MỚI

1. Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, trong những năm đổi mới vừa qua vị thế của phụ nữ Việt Nam ngày càng được nâng cao, nhất là trong lĩnh vực lãnh đạo, quản lý. Tuy nhiên, so với tiềm năng của phụ nữ và với yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, phụ nữ lãnh đạo, quản lý các cấp trong hệ thống chính trị còn ít về số lượng, hạn chế về chất lượng trong tương quan so với nam giới. Điều này ảnh hưởng lớn tới vị thế của phụ nữ và chất lượng nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. 2. Đồng bằng sông Hồng là địa bàn có quá trình phát triển lâu đời về văn hóa và truyền thống cách mạng, có sự phát triển khá cao về kinh tế - xã hội, đặc biệt trình độ dân trí luôn đạt mức cao so với các vùng khác trong toàn quốc. Tuy nhiên, tỷ lệ phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị ở vùng đồng bằng sông Hồng thấp hơn so với hầu hết các vùng miền khác trong cả nước (kể cả vùng núi phía Bắc), không đạt các chỉ tiêu đặt ra của Đảng, Nhà nước về công tác cán bộ nữ. Nguyên nhân chủ yếu là do: (1) nhận thức của cộng đồng trong vùng về sự cần thiết tăng cường phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị chưa cao, định kiến giới về vị thế, vai trò của phụ nữ còn nặng nề; (2) Chính sách, thực hiện chính sách về tăng cường sự tham chính của phụ nữ còn bất cập; (3) Điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội tăng cường sự tham chính của phụ nữ trong vùng còn nhiều khó khăn…Đây là những bất cập cần được quan tâm giải quyết cả về nhận thức lý luận cũng như trong hoạt động thực tiễn. 3. Tăng cường phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị các cấp vùng đồng bằng sông Hồng cần thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp sau: 1) Nâng cao nhận thức của cán bộ, nhân dân trong vùng về vị trí, vai trò của cán bộ nữ và sự cần thiết tăng cường phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị ở vùng đồng bằng sông Hồng; 2) Hoàn thiện các cơ chế, chính sách về công tác cán bộ nữ; 3) Phát huy vai trò các tổ chức trong hệ thống chính trị nhất là vai trò tham mưu của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ về công tác cán bộ nữ; 4) Phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội để phụ nữ có điều kiện thuận lợi tham gia lãnh đạo, quản lý; 5) Phụ nữ phải tự vươn lên để đáp ứng yêu cầu đặt ra đối với công tác lãnh đạo, quản lý các cấp trong tình hình hiện nay.
Xem thêm

183 Đọc thêm

NHỮNG NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG VÀ TỔ CHỨC CỦA ĐẢN CỘNG SẢN VIỆT NAM THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

NHỮNG NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG VÀ TỔ CHỨC CỦA ĐẢN CỘNG SẢN VIỆT NAM THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Phân tích những nguyên tắc xây dựng và tổ chức của Đảng Cộng Sản Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh Bài tập học kỳ Chuyên mục Bài tập học kỳ, Tư tưởng Hồ Chí Minh Đảng Cộng Sản Việt Nam giữ vai trò vô cùng quan trọng trong việc làm nên sự thành công của cách mạng Việt Nam. Đảng Cộng Sản như kim chỉ nam, dẫn lối, soi đường cho cách mạng giải phóng dân tộc. Sức mạnh to lớn của nhân dân chỉ phát huy khi được tập hợp, đoàn kết và được lãnh đạo bởi một tổ chức chính trị là Đảng Cộng Sản Việt Nam.Vai trò của Đảng trong thời chiến là lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc và có xứ mạng lịch sử đưa cách mạng đến thắng lợi cuối cùng, còn hiện nay vai trò của Đảng là lực lượng chính trị lãnh đạo toàn xã hội nhằm đảm bảo thắng lợi cho công cuộc đổi mới đất nước. Vì vậy, trong thời kì nào, Đảng luôn luôn giữ vai trò quan trọng hàng đầu. Là một lực lượng chính trị lãnh đạo toàn xã hội thì Đảng Cộng Sản Việt Nam phải có nguyên tắc cụ thể, rõ ràng, chặt chẽ trong việc tổ chức và hoạt động nên em xin chọn đề tài: “ Phân tích những nguyên tắc xây dựng và tổ chức của Đảng Cộng Sản Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh”. B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I, Các nguyên tắc xây dựng và tổ chức của Đảng Cộng Sản Việt Nam Đảng Cộng Sản Việt Nam phải được xây dựng theo những nguyên tắc Đảng kiểu mới của giai cấp vô sản. Vì vậy, Hồ Chí Minh tuân thủ các nguyên tắc tổ chức Đảng kiểu mới của Lênin vào việc xây dựng, tổ chức Đảng Cộng Sản Việt Nam. 1, Tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong xây dựng Đảng. Về tập trung, người nhấn mạnh tập trung trong Đảng là phải thống nhất về tư tưởng, tổ chức, hành động. Do đó“ Cá nhân phải phục tùng tổ chức; số ít phải phục tùng số nhiều; cấp dưới phải phục tùng cấp trên; các địa phương phải phục tùng Trung ương”. Từ đó làm cho“ Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến hành thì chỉ như một người”.Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh dân chủ trong Đảng. Quan niệm gốc của vấn đề này là ở chỗ, Hồ Chí Minh cho rằng: nước ta là nước dân chủ, “dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân”, là thành quả của cách mạng, là làm cho mọi người mạnh dạn có ý kiến, làm cho Đảng tập trung được trí tuệ, tăng cường sức mạnh lãnh đạo của Đảng. Người khẳng định: chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do, bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lí. Đó là một quyền lợi, cũng là nghĩa vụ của mồi người. Người luôn luôn nhấn mạnh phải chú ý thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng. Người cho rằng: “Phải thật sự mở rộng dân chủ để tất cả đảng viên bày tỏ hết ý kiến của mình; phải gom ý kiến của đảng viên để giúp đỡ Trung ương chuẩn bị Đại hội Đảng cho thật tốt”. Đồng thời, Người luôn nhấn mạnh sự cần thiết phải thực hiện và phát huy dân chủ trong nội bộ Đảng và trong nội bộ các tổ chức chính trị xã hội. Trong nguyên tắc này, dân chủ và tập trung là hai mặt có quan hệ gắn bó và thống nhất với nhau. Dân chủ để đi đến tập trung, là cơ sở của tập trung, chứ không phải là dân chủ tuỳ tiện, phân tán, vô tổ chức. Tập trung là tập trung trên cơ sở dân chủ, chứ không phải tập trung quan liêu theo kiểu độc đoán chuyên quyền. Nguyên tắc này có ý nghĩa nhằm bảo đảm cho Đảng phát huy sức mạnh trí tuệ của tập thể, bảo đảm sự đoàn kết thống nhất ý chí và hành động của Đảng. Tức là đề cao vai trò của tập trung, thực hiện tập trung trong Đảng để tạo sự thống nhất ý chí và hành động, tạo thành sức mạnh lãnh đạo to lớn trong tiến trình cách mạng. Đây là biểu hiện cụ thể tính tiên phong, tính chiến đấu của giai cấp công nhân. Cùng với tập trung phải chú ý thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng. Do đó, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là một yêu cầu khách quan của một tổ chức đảng chân chính. Khi nguyên tắc tập trung dân chủ bị vi phạm sẽ làm cho Đảng suy yếu, nội bộ Đảng mất đoàn kết, đường lối, chủ trương của Đảng lệch lạc, sai lầm, uy tín của Đảng bị giảm, Đảng sẽ dần mất quyền lãnh đạo với quần chúng. Vì vậy, phát huy nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt đảng nhằm xây dựng đoàn kết thống nhất trong Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong công tác xây dựng đảng giai đoạn hiện nay. Để thực hiện được nhiệm vụ này đòi hỏi phải giải quyết đồng bộ nhiều vấn đề mang tính hệ thống và trên cơ sở bảo đảm giữ vững các nguyên tắc sinh hoạt đảng. 2, Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách là nguyên tắc lãnh đạo của Đảng. Người cho rằng: “Tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách cần phải luôn đi đôi với nhau”. Vì sao cần phải có tập thể lãnh đạo? Vì một người dù khôn ngoan, tài giỏi đến mấy, dù có nhiều kinh nghiệm đến đâu cũng chỉ trông thấy, chỉ xem xét được một hoặc nhiều mặt của một vấn đề, không thể trông thấy và xem xét tất cả mọi mặt của một vấn đề. Do đó, cần phải có nhiều người. Nhiều người sẽ có nhiều kinh nghiệm, người thấy rõ mặt này, người thấy rõ mặt kia của vấn đề đó. Nhờ đó, mọi mặt của vấn đề đều được xem xét, vấn đề mới được giải quyết chu đáo, khỏi sai lầm. Từ đó, có thể thấy vai trò lãnh đạo tập thể là rất lớn. Chỉ có lãnh đạo tập thể mới huy động được toàn bộ trí tuệ của đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động chiến đấu vì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đồng thời, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “ Lãnh đạo không tập thể, thì sẽ đưa đến các tệ bao biện, độc đoán, chủ quan kết quả là hỏng việc”. Tuy nhiên, tập thể lãnh đạo mới chỉ là một vế của nguyên tắc. Vì sao cần phải cá nhân phụ trách? Trong công tác xây dựng Đảng, trách nhiệm của cá nhân được đề cao. Cá nhân phụ trách nhằm tạo ra tính chuyên trách, gắn trách nhiệm để giải quyết công việc một cách tốt nhất. Khi một vấn đề đã được tập thể bàn bạc kỹ lưỡng, kế hoạch đã được định rõ thì cần giao cho một người hoặc một nhóm người phụ trách theo kế hoạch mà thi hành. Nếu không cho cá nhân phụ trách, thì sẽ sinh ra tệ người này ỷ lại người kia, kết quả là không ai thi hành. Người khẳng định: “ Phụ trách không do cá nhân thì sẽ đi đến cái bừa bãi, lộn xộn, vô Chính phủ. Kết quả là hỏng việc”. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách là nguyên tắc có ý nghĩ to lớn. Thứ nhất là phát huy được sức mạnh tập thể đồng thời khẳng định năng lực cá nhân. Thứ hai là tránh được tình trạng quan liêu, chống lại bệnh độc đoán, chuyên quyền, vi phạm dân chủ trong Đảng; đồng thời chống lại tệ dựa dẫm tập thể, không dám chịu trách nhiệm. Đây là hiện tượng thường thấy hàng ngày, khi có thành tích thì nhận về mình, còn khuyết điểm sai lầm thì đổ lỗi cho tập thể. Không chú ý đến lãnh đạo tập thể thì sẽ bao biện, độc đoán, chủ quan; đồng thời không chú ý đến cá nhân phụ trách thì sẽ dẫn đến bừa bãi, lộn xộn, vô chính phủ. Trong giai đoạn đất nước mở cửa hội nhập với thế giới hiện nay, trách nhiệm của tập thể , của cá nhân càng phải được phát huy để tổ chức Đảng không ngừng phát triển lớn mạnh, đủ sức dẫn dắt toàn dân tộc đi đến thắng lợi cuối cùng thực hiện thành công mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. 3, Tự phê bình và phê bình là nguyên tắc sinh hoạt của Đảng, luật phát triển của Đảng. Hồ Chí Minh rất coi trọng nguyên tắc này, nó là vũ khí để rèn luyện Đảng viên, để nâng cao trình độ của lãnh đạo của Đảng, bảo đảm cho Đảng luôn trong sạch, vững mạnh. Người thường đặt “ tự phê bình” lên trước “phê bình” vì Người cho rằng mỗi đảng viên trước hết tự mình phải thấy rõ mình, để phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm. Hơn nữa nếu tự phê bình tốt thì mới phê bình người khác tốt được. Người xem đây là vũ khí để rèn luyện đảng viên, nhằm làm cho mỗi người tốt hơn, tiến bộ hơn và tăng cường đoàn kết nội bộ hơn. Đó cũng là vũ khí để nâng cao trình độ lãnh đạo của Đảng, để Đảng làm tròn sứ mệnh lãnh đạo cách mạng, làm tròn trách nhiệm trước giai cấp và dân tộc… Người đã thẳng thắn vạch rõ : “ Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu là có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”. Tự phê bình và phê bình vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật, muốn thực hiện tốt nguyên tắc này, đòi hỏi mỗi người phải trung thực, chân thành với bản thân mình cũng như với người khác, “phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”. Người đã phê phán những thái độ lệch lạc, sai trái thường xảy ra trong tự phê bình và phê bình như thiếu trung thực, che giấu khuyết điểm của bản thân, sợ phê bình, không dám phê bình, dĩ hoà vi quý, hoặc ngược lại lợi dụng phê bình để nói xấu, bôi nhọ, đả kích người khác… Nguyên tắc tự phê bình và phê bình của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm nhấn mạnh mục đích của tự phê bình và phê bình là cốt để phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm, để làm cho tư tưởng và hành động được đúng hơn tốt hơn, để làm việc có hiệu quả hơn. 4, Kỷ luật nghiêm minh và tự giác là quy luật phát triển sức mạnh của Đảng. Người đặc biệt coi trọng việc xây dựng một kỉ luật nghiêm minh và tự giác trong Đảng để tạo nên sức mạnh to lớn của Đảng. Sức mạnh to lớn của Đảng là ở tinh thần kỉ luật tự giác, ý thức tổ chức kỉ luật nghiêm minh của cán bộ Đảng viên. Mọi Đảng viên đều bình đẳng trước kỉ luật của Đảng. Nghiêm minh là nguyên tắc thuộc về tổ chức Đảng, vì đó là kỉ luật đối với mọi cán bộ, Đảng viên, không phân biệt cán bộ lãnh đạo cao hay thấp, là cán bộ lãnh đạo hay đảng viên thường, mọi cán bộ, Đảng viên đều bình đẳng trước kỉ luật của Đảng. Tự giác thuộc về mỗi cá nhân cán bộ, đảng viên đối với Đảng, một tổ chức của những người tự nguyện đứng trong hàng ngũ để cùng chiến đấu cho độc lập dân tộc và cho chủ nghĩa xã hội. Yêu cầu cao nhất của kỷ luật Đảng là chấp hành các chủ trương, Nghị quyết của Đảng và tuân thủ các nguyên tắc tổ chức, lãnh đạo và sinh hoạt đảng, các nguyên tắc xây dựng Đảng. Có như vậy Đảng mới thành một khối thống nhất về tư tưởng và hành động nếu không “ Đảng sẽ xệch xoặc, ý kiến lung tung, kỷ luật lỏng lẻo, công việc bế tắc”. Từ việc phải tuân thủ kỉ luật của Đảng, mỗi đảng viên dù ở cương vị nào, mỗi cấp ủy dù ở cấp bộ nào cũng phải nghiêm túc chấp hành kỷ luật của các đoàn thể và pháp luật của nhà nước, tuyệt đối không ai được cho phép mình coi thường, thậm chí đứng trên tất cả. Ý thức kỉ luật đó là ý thức Đảng của giai cấp công nhân. Việc đề cao ý thức kỉ luật đó đối với mọi cán bộ, đảng viên từ trên xuống dưới làm tăng thêm uy tín của Đảng; ngược lại ý thức kỉ luật xuống thấp, nếu cán bộ, đảng viên có nhiều vi phạm kỉ cương phép nước, tự cho mình là người lãnh đạo, coi thường kỉ luật của các đoàn thể nhân dân, thì uy tín của Đảng giảm thấp, càng dẫn tới nhiều nguy cơ cho Đảng. 5, Đoàn kết thống nhất trong Đảng là nguyên tắc quan trọng của Đảng. Thực sự đoàn kết thì mới thống nhất được ý chí và hành động của tổ chức Đảng. Trong cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài gian khổ, toàn Đảng phải đoàn kết thành một khối vững chắc, toàn Đảng phải đoàn kết thành một khối vững chắc, phải thống nhất ý chí và hành động trong toàn Đảng, mọi Đảng viên phải bảo vệ sự đoàn kết thống nhất của Đảng như bảo vệ con ngươi của chính mắt mình. Việc xây dựng sự đoàn kết thống nhất trong Đảng cũng như khối đại đoàn kết toàn dân luôn được Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm. Bỡi lẽ, việc xây dựng khối đoàn kết trong Đảng làm nòng cốt cho việc xây dựng sự đoàn kết thống nhất trong nhân dân. Người viết: “ Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và nhân dân ta. Các đồng chí từ trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí trong Đảng như giữ con ngươi của mắt mình”.Cơ sở để xây dựng sự đoàn kết thống nhất trong Đảng chính là đường lối, quan điểm và Điều lệ Đảng nhằm tạo sự thống nhất về tư tưởng, tổ chức và hành động, thông qua đó mà hiện thực hóa đường lối, quan điểm của Đảng trong cuộc sống. Hồ Chí Minh viết: “ Ngày nay, sự đoàn kết trong Đảng là quan trọng hơn bao giờ hết, nhất là sự đoàn kết chặt chẽ giữa các cán bộ lãnh đạo”. Ngày nay, tình hình thế giới và trong nước phát triển phức tạp, nhiệm vụ của Đảng ngày càng nặng nề, thực tế này đòi hỏi Đảng phải củng cố và tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong toàn Đảng, nhất là đối với cán bộ lãnh đạo có ảnh hưởng đến sự thống nhất của nhiều cán bộ đảng viên, đến toàn đảng. Để xây dựng sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, Người thường nêu những yêu cầu như: phải thực hiện và mở rộng dân chủ nội bộ cán bộ đảng viên có thể tham gia bàn bạc đến nơi đến chốn những vấn đề hệ trọng của Đảng, phải thường xuyên thực hiện tự phê bình và phê bình với tinh thần trung thực, chân thành, thẳng thắn, tự nghiêm khắc với mình và có tình yêu thương đồng chí… II. Đánh giá các nguyên tắc xây dựng và tổ chức Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt Nam và những biện pháp nâng cao hiệu quả của tổ chức Đảng.Ở bất kỳ thời nào, dù là thời chiến hay thời bình thì 5 nguyên tắc tổ chức Đảng vẫn giữ nguyên vị trí của nó trong quá trình tổ chức và hoạt động của Đảng. Mỗi một nguyên tắc lại giữ một vai trò quan trọng có mối liên hệ mật thiết với nhau tạo thành một thể thống nhất làm nên Đảng cộng sản của ngày hôm nay. Nguyên tắc quan trọng nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ ví nó làm cho tổ chức Đảng có tính kỉ luật chặt chẽ, loại trừ được sự chia rẽ bè phái, đảm bảo tập trung thống nhất tạo nên sức mạnh của Đảng. Nếu nguyên tắc này không được đảm bảo thì Đảng sẽ không thể trở thành tổ chức đoàn kết thống nhất, rất dễ lâm vào tình trạng chuyên quyền, độc đoán, vô tổ chức. 5 nguyên tắc này cần phải nhìn nhận một cách tổng thể và khái quát. Ví như nguyên tắc tập trung dân chủ và nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau. Người giải thích: “ Tập thể lãnh đạo là dân chủ. Cá nhân phụ trách là tập trung. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách tức là dân chủ tập trung”. Hay để nhấn mạnh nguyên tắc tự phê bình và phê bình, Người nhấn mạnh: “ Muốn đoàn kết chặt chẽ trong Đảng, ắt phải thống nhất tư tưởng, mở rộng dân chủ nội bộ, mở rộng tự phê bình và phê bình”. Theo đó, nguyên tắc tự phê bình và phê bình là cơ sở để thực hiện các nguyên tắc khác như nguyên tắc đoàn kết thống nhất trong Đảng, kỉ luật nghiêm minh và tự giác…. Tư tưởng xây dựng Đảng của chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa soi đường cho Đảng ta xây dựng và trưởng thành. Học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng hiện nay có ý nghĩa thực tiễn và lý luận sâu sắc, góp phần xây dựng Đảng ta thực sự trong sạch, vững mạnh, qua đó làm tăng thêm niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường phát triển của đất nước. Trong bối cảnh, điều kiện mới, đứng trước những cơ hội cũng như những thách thức không nhỏ, Đảng ta vẫn kiên trì chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đảng đã xác định nhiệm vụ phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt, đồng thời xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đạm đà bản sắc dân tộc, tạo nền tảng tinh thần cho sự phát triển xã hội. Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng cộng sản Việt Nam đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng về mọi mặt, nhằm làm cho Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh; phát huy những thành quả đã đạt được, khắc phục, ngăn chặn, tiến tới đẩy lùi những hạn chế, yếu kém; để lấy lại niềm tin trong nhân dân, xứng đáng với vai trò người lãnh đạo duy nhất của cách mạng Việt Nam. Cụ thể: Thứ nhất, tăng cường giáo dục động cơ, bồi dưỡng kỹ năng, xây dựng tinh thần tự giác học tập, tu dưỡng, rèn luyện cho đội ngũ đảng viên nhằm đáp ứng tốt nhất yêu cầu, đòi hỏi mới của xã hội của chức trách, nhiệm vụ, lĩnh vực, sát với công việc thực tế, thiết thực của mỗi đảng viên. Thứ hai, mỗi đảng viên cần phải tự xác định rõ về mình và tích cực giải quyết những mâu thuẫn giữa yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng, của địa phương, ngành, của cơ quan, đơn vị mình với trình độ bất cập của bản thân để xây dựng kế hoạch, xác định ý chí, quyết tâm thường xuyên tự học tập, tu dưỡng, rèn luyện nâng cao trình độ trí tuệ, kiến thức, năng lực cần thiết và phẩm chất đạo đức lối sống, phương pháp, tác phong công tác, làm việc của mình để hoàn thành nhiệm vụ được Đảng và nhân dân giao cho. Thứ ba, tạo môi trường, điều kiện rèn luyện thực tiễn và phong trào tự giác học tập, tu dưỡng, rèn luyện của đội ngũ đảng viên gắn với cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. C. KẾT THÚC VẤN ĐỀ. Thực tế lịch sử đã chứng minh, Đảng lãnh đạo thành công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, Đảng chủ trương, hoạch định chính sách xây dựng và phát triển đất nước vì vậy, vai trò của Đảng Cộng sản vô cùng quan trọng trong cả thời chiến và thời bình. Để làm được điều ấy, không phải chỉ trong quá trình làm cách mạng giải phóng dân tộc, mà cho đến ngày nay, đất nước hoàn toàn thống nhất, trải qua 80 năm hoàn thiện và phát triển, Đảng Cộng sản Việt Nam chưa khi nào rời xa các nguyên tắc hoạt động và tổ chức Đảng. Có thể nói khi nào còn chủ nghĩa xã hội, còn Đảng Cộng sản lãnh đạo thì khi đó năm nguyên tắc trên vẫn là kim chỉ nam dẫn dắt quá trình hoạt động và tổ chức của Đảng.
Xem thêm

11 Đọc thêm

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CÁN BỘ TRẺ NGÀNH LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI GIAI ĐOẠN 2015- 2020

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CÁN BỘ TRẺ NGÀNH LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI GIAI ĐOẠN 2015- 2020

1. Lý do chọn đề tài Nguồn nhân lực là một trong những nguồn lực quan trọng quyết định sự thành công của tổ chức, góp phần quyết định tạo ra giá trị vật chất và giá trị văn hóa cho tổ chức. Vì vậy, phát huy năng lực và phẩm chất nguồn nhân lực nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn lực con người là vấn đề then chốt để đạt được mục tiêu của tổ chức ở từng giai đoạn nhất định. Xác định tầm quan trọng của nguồn nhân lực, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, chú trọng đến công tác nâng cao năng lực cán bộ nói chung và cán bộ trẻ nói riêng. Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khoá X đã khẳng định sự cần thiết và tầm quan trọng của việc đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước nhằm nâng cao năng lực cán bộ trong giai đoạn hiện nay và lâu dài. Chính phủ đặt ra mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nâng cao kiến thức, năng lực quản lý điều hành và thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong Chiến lược phát triển thanh niên của Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh giai đoạn 2011 – 2020 cũng đưa ra các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cán bộ, trong đó đưa ra các giải pháp về đổi mới và từng bước nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục thanh niên, tham gia đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực trẻ, xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, nâng cao thể chất và tinh thần, kỹ năng sống, kiến thức cho thanh niên. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (sau đây gọi tắt là Bộ LĐTB&XH) là cơ quan thuộc Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các lĩnh vực: việc làm, dạy nghề, lao động, tiền lương, tiền công, bảo hiểm xã hội (bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp), an toàn lao động, người có công, bảo trợ xã hội, bảo vệ và chăm sóc trẻ em, bình đẳng giới, phòng, chống tệ nạn xã hội (sau đây gọi chung là lĩnh vực lao động, người có công và xã hội) trong phạm vi cả nước. Mục tiêu tổng quát của lĩnh vực lao động, người có công và xã hội đến năm 2020 về cơ bản đạt được sự phát triển bền vững các lĩnh vực lao động, người có công và xã hội của một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, khu vực; góp phần tăng trưởng kinh tế, giữ vững ổn định chính trị, trật tự và an toàn xã hội, quốc phòng an ninh. Để thực hiện tốt mục tiêu trên, một điều kiện tiên quyết mang tính quyết định là xây dựng đội ngũ công chức, viên chức (gọi chung là cán bộ) có đủ năng lực và đủ tầm để thực hiện nhiệm vụ. Do vậy, vấn đề nâng cao năng lực là vấn đề hết sức cấp bách và đòi hỏi cần thiết khách quan của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị của Ngành trong bối cảnh nước ta đang hội nhập sâu rộng nền kinh tế thế giới và khu vực. Công tác nâng cao năng lực cán bộ trẻ của ngành cần phải tăng cường để khắc phục một số hạn chế như: Năng lực cán bộ trẻ vẫn chưa đáp ứng tốt nhiệm vụ chuyên môn được giao. Thực hiện công việc còn thụ động, chưa chủ động, tích cực trong thực hiện công việc. Một số kỹ năng làm việc còn hạn chế so với yêu cầu đặt ra của công việc. Chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu. Cán bộ, tham gia vào các khoá đào tạo, bồi dưỡng chủ yếu là do yêu cầu duy trì hay chuyển ngạch chứ không phải với mục đích nâng cao trình độ và năng lực. Công tác tuyển dụng, sử dụng và đánh giá, quy hoạch đối với cán bộ trẻ vẫn còn tồn tại những bất cập. Xuất phát từ thực tiễn đó, tác giả chọn Đề tài “Một số giải pháp nâng cao năng lực cán bộ trẻ ngành Lao động- Thương binh và Xã hội giai đoạn 2015- 2020” nhằm đánh giá thực trạng năng lực công tác của cán bộ trẻ hiện nay, từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực cán bộ trẻ nhằm đáp ứng tốt nhất nhiệm vụ chính trị của Ngành giai đoạn 2015- 2020. 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu Vấn đề nâng cao năng lực cán bộ nói chung và cán bộ trẻ nói riêng là một chủ đề được quan tâm trong những năm gần đây, vì vậy có rất nhiều tác giả đề cập đến vấn đề này như: TS. Nguyễn Ngọc Vân, Phó Vụ trưởng Vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức - Bộ Nội vụ, Tạp chí tổ chức nhà nước đã có bài viết “trao đổi về đào tạo công chức” trong đó đặt ra những vấn đề trong công tác đào tạo công chức nhằm nâng cao năng lực của công chức ở cơ quan hành chính. Tạp chí hoạt động Khoa học Công nghệ số 7/2009 có bài viết “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ngành Khoa học Công nghệ theo nhu cầu công việc - thực tiễn và kinh nghiệm” đưa ra những giải pháp cụ thể đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ngành Khoa học và công nghệ. Lại Đức Vượng, Học viện hành hành chính, Luận án Tiến sỹ quản lý hành chính, “Quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức hành chính trong giai đoạn hiện nay”. Các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực trẻ và chính sách phát triển nguồn nhân lực trẻ như: Phạm Bằng (1999) “Tình hình thanh niên thế kỷ 20, những sự kiện quan trọng nhất”, đề tài cấp Bộ; Ủy ban Quốc gia về Thanh niên Việt Nam (2001), “Tình hình thanh niên Việt Nam”; Đặng Vũ Cảnh Linh (2003), “Vị thanh niên và chính sách đối với vị thanh niên”, NXB Lao động xã hội; Nguyễn Hữu Dũng (2003), “Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam”, NXB Lao động xã hội….Những nghiên cứu này đã tập trung phân tích về các hoạt động thực tiễn của thanh niên trên các lĩnh vực phát triển kinh tế xã hội, xác định vị trí, vai trò của họ với tư cách là nguồn nhân lực bổ sung và thay thế, là lực lượng nòng cốt trong lực lượng lao động của đất nước. Bên cạnh đó, các chính sách thanh niên, chính sách phát triển nguồn nhân lực cũng được đề cập trong đó nhấn mạnh tới vai trò của các chính sách giáo dục, đào tạo, dạy nghề, chính sách lao động việc làm, chính sách phúc lợi,… Trong Đề án Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cán bộ chủ chốt Hội LHPN xã, phường, thị trấn giai đoạn 2012 – 2016 của Ban chấp hành Hội liên hiệp phụ nữ Hà Nội đã xác định các mục tiêu nâng cao năng lực, trình độ cho đội ngũ chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ xã, phường, thị trấn nhằm chuẩn hoá cán bộ, đáp ứng yêu cầu công tác lãnh đạo của Hội tại cơ sở, từng bước xây dựng đội ngũ cán bộ nguồn chức danh Chủ tịch Hội xã, phường, thị trấn. Tại Hội thảo nâng cao năng lực cán bộ nữ ngành Công Thương giai đoạn 2015 – 2020, bên cạnh những cập nhật thông tin về bình đẳng giới, cũng như những kinh nghiệm về công tác phụ nữ của một số nước trên thế giới, còn có những chia sẻ về thực trạng và giải pháp tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ lãnh đạo nữ của một số đơn vị trong Bộ Công Thương. Ngoài ra, còn có rất nhiều hội thảo bàn về vấn đề nâng cao năng lực cán bộ, công chức. Các bài báo, công trình nghiên cứu, hội thảo trên đã đưa ra được những đánh giá chung về thực trạng năng lực cán bộ trong các cơ quan hành chính hiện nay ở nước ta, phân tích những khó khăn, bất cập và một số giải pháp nâng cao năng lực cán bộ như: giải pháp về đào tạo, bồi dưỡng, giả pháp trong công tác tuyển dụng, sử dụng cán bộ,.... Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu cụ thể về nâng cao năng lực cán bộ trẻ ngành Lao động, Thương binh và Xã hội, đặc biệt là trong giai đoạn 2015- 2020. Vì vậy, nghiên cứu mà tác giả đưa ra đảm bảo được tính mới và tính khả thi khi áp dụng thực tiễn tại Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội. 3. Mục tiêu nghiên cứu 3.1. Mục tiêu chung Đưa ra một số giải pháp nâng cao năng lực cán bộ trẻ ngành Lao động- Thương binh và xã hội giai đoạn 2015- 2020. 3.2. Mục tiêu cụ thể - Làm rõ cơ sở lý luận về năng lực cán bộ, đặc biệt là năng lực cán bộ trẻ. - Phân tích và đánh giá thực trạng năng lực cán bộ trẻ của ngành Lao động- Thương binh và Xã hội. - Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao năng lực cán bộ trẻ của của ngành Lao động- Thương binh và Xã hội. 4. Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi nội dung: Tác giả tập trung nghiên cứu về thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực cán bộ trẻ ngành Lao động- Thương binh và Xã hội. - Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực trạng: giai đoạn 2010- 2014 Đề xuất giải pháp: giai đoạn 2015- 2020 - Phạm vi không gian: Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội 5. Mẫu khảo sát Tổng số mẫu khảo sát 265 mẫu, trong đó: - Cán bộ trẻ của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội: 245 người, thông qua hình thức phát phiếu hỏi. - Nhóm lãnh đạo của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội: 20 người thông qua hình thức phỏng vấn sâu. 6. Câu hỏi nghiên cứu - Năng lực cán bộ trẻ ngành LĐTB& XH như thế nào? - Giải pháp nào để nâng cao năng lực cán bộ trẻ ngành LĐTB& XH giai đoạn 2015- 2020? 7. Giả thuyết nghiên cứu Nhìn chung, cán bộ trẻ của ngành được đào tạo tương đối cơ bản, đáp ứng khá tốt yêu cầu công việc, năng lực chuyên môn tương đối tốt,.., tuy nhiên cũng còn một số những hạn chế nhất định như: chưa phát huy hết phát huy được năng lực cán bộ, chưa đề cao tính tự chủ trong công việc, hạn chế về ngoại ngữ... Một số giải pháp để nâng cao năng lực cán bộ trẻ ngành Lao động- Thương binh và xã hội giai đoạn 2015- 2020 như: giải pháp về hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật trong công tác cán bộ, tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng và quản lý, sử dụng cán bộ trẻ, có chính sách thu hút và đãi ngộ đối với cán bộ trẻ có năng lực. 8. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp nghiên cứu tài liệu: tiến hành nghiên cứu một số tài liệu về năng lực cán bộ trẻ nói chung và của ngành LĐTB& XH nói riêng. - Phương pháp phân tích, thống kê: Dựa trên các số liệu phân tích, thống kê, đưa ra các nhận định và đánh giá về thực trạng năng lực cán bộ trẻ của ngành LĐTB& XH. - Phương pháp điều tra xã hội học: Tác giả tiến hành phát phiếu điều tra cho cán bộ trẻ của Bộ LĐTB&XH. Dung lượng mẫu khảo sát: 245 mẫu. - Phương pháp phỏng vấn sâu: Tác giả tiến hành phỏng vấn sâu đối với lãnh đạo đơn vị, Trưởng phòng Tổ chức cán bộ của một số đơn vị thuộc Bộ. Số lượng người tiến hành phỏng vấn sâu là: 20 người. 9. Kết cấu của Luận văn Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn có kết cấu như sau: Chương 1. Một số vấn đề lý luận cơ bản Chương 2. Thực trạng năng lực cán bộ trẻ ngành Lao động- Thương binh và Xã hội Chương 3. Một số giải pháp nâng cao năng lực cán bộ trẻ ngành Lao động- Thương binh và Xã hội giai đoạn 2015- 2020
Xem thêm

101 Đọc thêm

BÁO CÁO KIẾN TẬP: THỰC TRẠNG VÀ GIÁI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO VÀ BỒI DƯỠNG NGUỒN NHÂN LỰC TẠI HUYỆN TĨNH GIA – TỈNH THANH HÓA

BÁO CÁO KIẾN TẬP: THỰC TRẠNG VÀ GIÁI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO VÀ BỒI DƯỠNG NGUỒN NHÂN LỰC TẠI HUYỆN TĨNH GIA – TỈNH THANH HÓA

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN 1 LỜI NÓI ĐẦU 2 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 3 PHẦN I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 4 I. Khái quát chung về UBNDvà Phòng Nội vụ huyện Tĩnh Gia 4 1. Khái quát chung về UBND huyện Tĩnh Gia 4 1.1. Vị trí, chức năng 4 1.2. Nhiệm vụ và quyền hạn 4 1.3. Cơ cấu tổ chức 5 2. Khái quát chung về Phòng Nội vụ huyện Tĩnh Gia 5 2.1. Tên, địa chỉ, số điện thoại, email cơ quan 5 2.2. Vị trí chức năng 5 2.3. Nhiệm vụ và quyền hạn 6 2.4. Cơ cấu tổ chức 8 2.5. Mối quan hệ công tác 9 PHẦN II: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG NGUỒN NHÂN LỰC TẠI UBND HUYỆN TĨNH GIA 10 PHẦN MỞ ĐẦU 11 1. Lý do chọn đề tài 11 2. Mục tiêu nghiên cứu 11 3. Phạm vi nghiên cứu 12 4. Vấn đề nghiên cứu 12 5. Phương pháp nghiên cứu 12 6. Kết cấu đề tài 13 PHẦN NỘI DUNG 14 CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG NGUỒN NHÂN LỰC 14 1.1 Hệ thống khái niệm 14 1.1.1. Khái niệm nguồn nhân lực 14 1.1.2. Khái niệm đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực 14 1.1.3. Khái niệm liên quan 15 1.2. Mục tiêu và vai trò của đào tạo, bồi dưỡng nhân lực 15 1.2.1 Mục tiêu 15 1.2.2.Vai trò 15 1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực 17 1.3.1. các nhân tố bên trong tổ chức 17 1.3.2. Các nhân tố bên ngoài tổ chức 18 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG NGUỒN NHÂN LỰC TẠI UBND HUYỆN TĨNH GIA 20 2.1. Thực trạng chất lượng cán bộ, công chức huyện. 20 2.1.1 Về số lượng và cơ cấu 20 2.1.2. Về chất lượng 21 2.1.3. Về đạo đức công vụ và văn hóa giao tiếp 24 2.2. Nội dung đào tạo, bồi dưỡng nhân lực tại UBND huyện Tĩnh gia 25 2.3. Quy trình đào tạo, bồi dưỡng nhân lực tại UBND huyện Tĩnh Gia 27 2.4 Đánh giá chung về công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực tại UBND huyện Tĩnh Gia 31 2.4.1. Những mặt đã đạt được 31 2.4.2. Những mặt còn hạn chế 32 2.4.3. Nguyên nhân 33 CHƯƠNG III: NHỮNG GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG NGUỒN NHÂN LỰC TẠI UBND HUYỆN TĨNH GIA 35 3.1 Mục tiêu, phương hướng đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực tại UBND huyện Tĩnh Gia đến năm 2020 35 3.1.1. Mục tiêu chung 35 3.1.2. Mục tiêu cụ thể 36 3.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực tại UBND huyện Tĩnh Gia 36 3.2.1. Nâng cao nhận thức của các cấp các ngành về công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực 36 3.2.2. Hoàn thiện các chính sách nâng cao chất lượng cán bộ, công chức 37 3.2.3. Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn cán bộ công chức 38 3.2.4. Kiện toàn cơ quan tham mưu về công tác tổ chức cán bộ 39 3.2.5. Giáo dục đạo đức công vụ, xây dựng văn hóa công sở 40 3.2.6. Xây dựng quy chế công vụ 41 3.2.7. Tạo nguồn cán bộ bổ sung 42 3.2.8. Tạo động lức cho cán bộ công chức làm việc 42 3.3 Một số khuyến nghị 43 3.3.1 Đối với cơ quan thực tập 43 3.3.2. Đối với người lao động 44 KẾT LUẬN 45 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
Xem thêm

50 Đọc thêm

TÀI LIỆU THAM KHẢO tư TƯỞNG hồ CHÍ MINH về CÔNG tác THANH TRA

TÀI LIỆU THAM KHẢO tư TƯỞNG hồ CHÍ MINH về CÔNG tác THANH TRA

Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Đó là tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; về xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân; về chống tham ô, lãng phí, quan liêu, thực hành tiết kiệm; về nền văn hóa dân tộc và hiện đại; về đạo đức cách mạng; về đoàn kết trong Đảng, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh ... Tư tưởng Hồ Chí Minh đã và đang soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi. Đó là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta cũng như là kim chỉ nam trong nhận thức và hành động của các cán bộ đảng viên dù ở bất cứ vị trí và lĩnh vực công tác nào.
Xem thêm

Đọc thêm

TIỂU LUẬN CAO HỌC MÔN XÂY DỰNG ĐẢNG VỀ TỔ CHỨC THỰC TRẠNG “ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SINH HOẠT CHI BỘ “ TRÊN ĐỊA BÀN ĐẢNG BỘ XÃ BẢN CÁI , HUYỆN BẮC HÀ , TỈNH LÀO CAI

TIỂU LUẬN CAO HỌC MÔN XÂY DỰNG ĐẢNG VỀ TỔ CHỨC THỰC TRẠNG “ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SINH HOẠT CHI BỘ “ TRÊN ĐỊA BÀN ĐẢNG BỘ XÃ BẢN CÁI , HUYỆN BẮC HÀ , TỈNH LÀO CAI

Chi bộ là “ tế bào “ của Đảng , là nơi tiến hành các hoạt động xây dựng nội bộ tổ chức cơ sở đảng , là nơi giáo dục và rèn luyện đảng viên phân công nhiệm vụ vàquản lý đảng viên của Đảng cộng sản Việt Nam . Chi bộ còn là hạt nhân lãnh đạo của hệ thống chính trị ở cơ sở . chi bộ và đảng bộ cơ sở lãnh đạo thành công các nghị quyết , chị thị , chính sách của đảng ,thực hiện nghiêm chỉnh hiến pháp và pháp luật của nhà nước việt nam , chi bộ còn là nơi đào tạo , bồi dưỡng đội ngũ cán bộ , và làm tốt công tác dân vận . như vậy chi bộ có tốt thì Đảng mới mạnh. Sinh hoạt theo định kỳ của chi bộ là hoạt động thường xuyên theo quy định của điều lệ đảng. sinh hoạt chi bộ có vai trò rất lớn trong việc trong việc xây dựng nội bộ đảng trong sạch vững mạnh , nâng cao năng lực và sức chiến đấu của đảng , góp phần không nhỏ vào việc thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ mà Đảng đề ra . Nhưng , hiện nay nhiều tổ chức cơ sở đảng , nhiều chi bộ còn xem nhẹ việc sinh hoạt chi bộ , các chi bộ ấy chỉ làm qua loa , hình thức ,có nơi còn không tiến hành đầy đủ , chất lượng sinh hoạt chi bộ kém ( đảng viên tham gia không đầy đủ , đảng viên đến muộn , về sớm ,nội dung nghèo nàn , hình thức tổ chức gò bó , đơn điệu … những điều đó được đại hội X cuả đảng nhận định như sau : “không ít cớ sở đảng yếu kém , năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu thấp , sinh hoạt đảng và quản lý đảng viên lỏng lẻo , nội dung sinh hoạt nghèo nàn , phê bình và tự phê bình yếu “ (1.tr271) . Nguyên nhân chủ yếu của các khuyết điểm trên là do một bộ phận cấp ủy và đảng viên chưa nhận thức được tầm quan trọng của sinh hoạt chi bộ định kỳ , chưa thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ , chưa lắng nghe ý kiến của đảng viên và quần chúng , năng lực về việc cụ thể hóa và thực hiện các chủ trương , chính sách của cấp trên chưa tốt , việc bồi dưỡng nghiệp vụ công tác xây dựng đảng chưa được chú trọng ,công tác kiểm tra giám sát của cấp ủy chưa được thực hiện đúng mức. Nói về vấn đề này , chỉ thị số 10 CTTW ngày 3032007 của ban bí thư đã chỉ rõ :” vẫn còn không ít tổ chức cơ sở đảng và chi bộ yếu kém , một bộ phận cán bộ đảng viên , trong đó có cả đảng viên là cán bộ lãnh đạo quản lý ở các cấp suy thoái về đạo đức chính trị và đạo đức lối sống , nhiều cấp ủy , chi bộ chưa thực hiện nghiêm túc chế độ sinh hoạt đảng , buông lỏng công tác quản lý , giáo dục đảng viên , nội dung sinh hoạt chi bộ còn nghèo nàn , thiếu nội dung chính trị tư tưởng cụ thể ,tính lãnh đạo , tính giáo dục , tính chiến đấu , tinh thần phê bình và phê bình ,ý thức tổ chức kỷ luật yếu kém , tinh thần đoàn kết và tình yêu thương đồng chí bị giảm sút , chi bộ chưa thực sự là nơi sinh hoạt tư tưởng để cấp ủy nắm bắt và hiểu tâm tư , nguyện vọng của đảng viên , chi bộ chưa thể hiện tốt vai trò là nơi lãnh đạo , giáo dục , quản lý , giám sát và rèn luyện đội ngũ đảng viên . tình hình đó đã làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với đảng , giảm năng lực và sức chiến đấu của đảng ngay từ chi bộ “
Xem thêm

42 Đọc thêm

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SINH HOẠT CHI BỘ VĂN PHÒNG ĐẢNG ỦY PHƯỜNG MỸ HÒA, THÀNH PHỐ LONG XUYÊN GIAI ĐOẠN HIỆN NAY THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SINH HOẠT CHI BỘ VĂN PHÒNG ĐẢNG ỦY PHƯỜNG MỸ HÒA, THÀNH PHỐ LONG XUYÊN GIAI ĐOẠN HIỆN NAY THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

MỞ ĐẦU1.Lý do chọn đề tài:Chi bộ có vai trò rất quan trọng đối với công tác xây dựng Đảng “Trong sạch vững mạnh” góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng .Vì vậy, nâng cao chất lượng sinh hoạt Chi bộ là một đòi hỏi khách quan mang tính quy luật. Trong mỗi thời kỳ cách mạng khác nhau, cần phải nâng cao chất lượng sinh hoạt cho phù hợp để đáp ứng yêu cầu nhiện vụ của thời kỳ đó. Đất nước ta đang chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa, mục tiêu của Đảng ta là phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước CNH HĐH. Tất cả chỉ vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; vững tin đi lên Chủ nghĩa Xã hội. Tình hình này đặt ra nhiều vấn đề mới về lý luận và thực tiễn đối với công tác xây dựng Đảng nói chung và nâng cao chất lượng sinh hoạt Chi bộ nói riêng. Trong Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XI) bên cạnh nêu lên những kết quả đạt được, công tác xây dựng Đảng vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém qua nhiều nhiệm kỳ chậm được khắc phục, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng; nếu không được sửa chữa kịp thời sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ, một trong những nguyên nhân dẫn đến hạn chế, yếu kém trên một phần là do ta chưa nâng cao được chất lượng sinh hoạt chi bộChủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Chi bộ là nền móng của Đảng, chi bộ tốt thì mọi việc sẽ tốt”; “Chi bộ, Đảng bộ cơ sở mạnh hay không mạnh; một việc làm của chi bộ, Đảng bộ, của đảng viên tốt hay không tốt, đúng hay sai đều tác động trực tiếp đến đời sống vật chất, tinh thần, có khi đến cả sinh mệnh chính trị của người dân, đến lòng tin của nhân dân với Đảng”.Vấn đề sinh hoạt chi bộ có vai trò và tác dụng to lớn đối với việc xây dựng nội bộ Đảng, củng cố tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, khẳng định và phát huy những mặt mạnh, chỉ ra những sai lầm, khuyết điểm của cán bộ, đảng viên và của chi bộ. Sinh hoạt chi bộ còn là diễn đàn dân chủ phát huy tính sáng tạo của đảng viên để từ đó có thể tìm ra những giải pháp thực hiện nhiệm vụ chính trị đạt hiệu quả. Qua sinh hoạt chi bộ, trình độ mọi mặt của từng đảng viên được nâng lên và đảng viên dần dần trưởng thành.Vì thế, tôi chọn đề tài “Nâng cao chất lượng sinh hoạt Chi bộ Văn phòng Đảng ủy phường Mỹ Hòa, thành phố Long Xuyên giai đoạn hiện nay Thực trạng và giải pháp
Xem thêm

33 Đọc thêm

ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐẢNG VIÊN TẠI CHI BỘ HÀNG NÓN, PHƯỜNG HÀNG GAI, QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐẢNG VIÊN TẠI CHI BỘ HÀNG NÓN, PHƯỜNG HÀNG GAI, QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Công tác phát triển đảng viên là nhiệm vụ rất quan trọng trong công tác xây dựng tổ chức đảng nói riêng, xây dựng Đảng nói chung, nhằm củng cố, xây dựng, nâng cao sức chiến đấu, năng lực lãnh đạo của Đảng, trẻ hóa đội ngũ cán bộ, tạo nguồn thừa kế cho các tổ chức cơ sở đảng tại đơn vị. Thực tế gần 90 năm qua, nhờ làm tốt công tác phát triển đảng viên, Đảng ta đã không ngừng lớn mạnh. Từ chỗ chỉ có hơn 5.000 đảng viên trước khi giành chính quyền, Đảng ta đã phát triển lên hàng triệu đảng viên, với hàng vạn cơ sở đảng, đủ sức lãnh đạo nhân dân ta hoàn thành thắng lợi sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. 2.1. Khái quát chung về Đảng ủy phường Hàng Gai Đảng ủy phường Hàng Gai là địa bàn dân cư gồm những đảng viên là cán bộ, công nhân, viên chức, sĩ quan, hạ sĩ quan nghỉ hưu, bộ đội phục viên, xuất ngũ về sinh hoạt; tổng số đảng viên: 36 đc. Trong đó: chuyển đến là 07 đc; từ trần 01 đc. Hiện nay, số đảng viên Chi bộ là 41 đc, trong đó đảng viên được miễn sinh hoạt đảng là 08 đc, đảng viên đã được tặng Huy hiệu Đảng là 16 đc, về tuổi đời: Dưới 60 tuổi: 08 đc; Trên 60 tuổi: 33 đc Địa bàn dân cư Hàng Gai nằm trên một đường phố cổ gồm có: 5 tổ dân phố gồm 66 biển số nhà; 1 Ban Công tác Mặt trận, 1 Chi đoàn Thanh niên, 1 Chi hội Phụ nữ, 1 Chi hội CCB, 1 Tổ Dân vận, 1 Tổ Bảo vệ, 1 Tổ Hòa giải. Trên tuyến phố đa số các hộ dân kinh doanh, sản xuất hàng thủ công nghiệp theo nghề truyền thống tôn, inốc, gương kính, dịch vụ ăn uống, may mặc, khách sạn, Cán bộ, đảng viên và nhân dân chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước, quy định của địa phương, tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước ở khu dân cư, chăm lo xây dựng gia đình văn minh hạnh phúc, các gia đình chính sách trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, người có công đều được Cấp ủy, Chính quyền, các đoàn thể quan tâm chu đáo. Đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, Tình hình an ninh chính trị – trật tự an toàn xã hội được giữ vững, an sinh xã hội đảm bảo. Về tổ chức bộ máy: Tổng số đơn vị trên địa bàn phường có tổ chức Đảng sinh hoạt tại Đảng bộ:11 đơn vị (trong đó có cơ quan UBND phường, 1 đơn vị Công an phường, 1 trường THCS, 1 trường Tiểu học, 7 địa bàn dân cư). Về tổ chức Đảng: Tổng số đảng viên: 301 đảng viên (300 chính thức, 01 dự bị); Tổng số BCH Đảng bộ phường có: 14 đc ;Tổng số Chi bộ trực thuộc: 11 Chi bộ Tổ chức Công đoàn: (Công đoàn cơ quan UBND phường) BCH có 03 đc (với 24 đoàn viên, 2 tổ Công đoàn); Đoàn thanh niên: BCH có 11 đc; 120 đoàn viên; 12 Chi đoàn. Về chất lượng tổ chức Đảng:1111 Chi bộ đạt trong sạch vững mạnh và hoàn thành tốt nhiệm vụ.Đảng bộ phường được Quận ủy công nhận Đảng bộ trong sạch vững mạnh. Công tác xây dựng Đảng được Đảng ủy thường xuyên quan tâm, hệ thống chính trị tiếp tục có chuyển biến tốt. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, rèn luyện phẩm chất đạo đức chính trị cách mạng và lối sống của đội ngũ cán bộ, đảng viên được coi trọng và tập trung chỉ đạo. Đảng ủy đã tổ chức hội nghị tuyên truyền trong Đảng viên về việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; Xây dựng và triển khai kế hoạch học tập chuyên đề năm 2018 tới cho toàn thể Đảng viên trong Đảng bộ. Trong năm Đảng ủy đã tổ chức học tập, quán triệt và triển khai thực hiện các Văn kiện Hội nghị Trung ương 6, Hội nghị TW7 (khóa XII); Sơ kết công tác giữa nhiệm kỳ Đại hội Đảng ủy phường lần thứ XII (nhiệm kỳ 2015 – 2020).
Xem thêm

Đọc thêm

TẬP HUẤN MÔI TRƯỜNG

TẬP HUẤN MÔI TRƯỜNG

ĐỀ CƯƠNGXÂY DỰNG KẾ HOẠCH VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH TẬP HUẤN “NÂNG CAO NHẬN THỨC CHO CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ XÃ HỘI TẠI THỊ TRẤN NHƯ QUỲNH – TỈNH HƯNG YÊN”MỤC LỤC1. Phân tích tình hình:22. Đối tượng tham gia buổi tập huấn:33. Mục tiêu của buổi tập huấn44. Kế hoạch, nội dung chương trình, nội dung bài giảng:54.1. Kế hoạch tổ chức tập huấn nâng cao nhận thức cho cộng đồng về bảo vệ54.2. Nội dung chương trình tập huấn:64.3. Nội dung bài giảng:74.3.1. Đối tượng: Hội nông dân, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên74.3.2. Đối tượng: Cán bộ làm công tác môi trường tại xã Cự Khê:85. Kinh phí:95.1. Nguồn kinh phí:95.2. Cơ sở lập dự toán kinh phí:95.3.Tổng kinh phí thực hiện10PHỤ LỤC12Chuyên đề: Tổng quan về rác thải121. Tính cấp thiết của chương trình tập huấn112. Thực trạng tại địa phương113. Nội dung chính của chuyên đề133.1. Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường từ rác thải133.2 Hậu quả133.3 Biện pháp giải quyết144. Kiến nghị145. Tài liệu tham khảo14Chuyên đề: Hiện trạng môi trường trên địa bàn xã Cự Khê, huyện Thanh Oai, ảnh hưởng đến sức khỏe và đề xuất biện pháp giảm thiểu161. Tính cấp thiết của chương trình tập huấn162. Thực trạng tại địa phương163. Nội dung chính của chuyên đề183.1 Hiện trạng183.2 Biện pháp giảm thiểu194. Kiến nghị195.Tài liệu tham khảo20 1.Phân tích tình hình:2.Đối tượng tham gia buổi tập huấn:Hội phụ nữ;Hội nông dân;Đoàn thanh niên;Cán bộ làm công tác môi trường tại các Thôn, Xã, Thị trấn thuộc thị trấn Như Quỳnh;Dân tộc: Kinh;Trình độ nhận thức: Đối tượng chủ yếu là các đơn vị tổ chức xã hội; người dân còn thiếu hiểu biết và trình độ nhận thức về vai trò của , cách bảo vệ tài nguyên nước nói riêng và môi trường địa phương nói chung.3.Mục tiêuSau khóa học học viên sẽ được nâng cao kiến thức, kỹ năng tác nghiệp về rác thải sinh hoạt. Vận dụng tốt chính sách, pháp luật ngành môi trường vào việc giải quyết hiệu quả công tác tuyên truyền chuyên môn về bảo vệ môi trường ở địa phương. Cụ thể như sau:➢Về kiến thức:•Biết được vấn đề tổng quan về môi trường, về hiện trạng rác thải sinh hoạt của địa phương và sự cần thiết phải bảo vệ, quản lý tài nguyên nước.•Liệt kê một số biện pháp quản lý và kiểm soát ô nhiễm từ rác thải sinh hoạt.•Nhận dạng các đối tượng cần thanhkiểm tra bảo vệ môi trường; thực hiện cam kết bảo vệ môi trường, đánh giá tác động môi trường.•Lập xây dựng tổ chức một chiến dịch truyền thông môi trường…➢Về kỹ năng:•Kiểm soát,phát hiện các cơ sở, doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường từ rác thải.•Biết thực hiện các thủ tục hành chính trong quản lý xử lý rác thải.•Xây dựng một kế hoạch giáo dục, tuyên truyền kiến thức, pháp luật về bảo vệ môi trường.•Quản lý và xử lý chất thải ứng dụng công nghệ Biogas trong giảm thiểu ô nhễm môi trường.•Áp dụng công nghệ NANO trong xử lý nước sạch.•Học viên có thêm kỹ năng thuyết trình và thuyết phục.•Nâng cao nghiệp vụ môi trường về bảo vệ môi trường.•Áp dụng công nghệ GIS trong quản lý nước ngầm.➢Về thái độ:•Có nhận thức đúng đắn về việc bảo vệ môi trường tại và xung quanh khu vực sinh sống, làm việc.•Có thái độ tích cực trong thực hiện công tác tuyên truyền mọi người cùng nhau thực hiện bảo vệ môi trường. •Góp phần truyền thông nâng cao nhận thức của cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường.•Góp phần bảo vệ môi trường tại thị trấn.
Xem thêm

89 Đọc thêm

CHÍNH TRỊ HỌC NÂNG CAO THỰC TRẠNG NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO VÀ SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA ĐẢNG BỘ XÃ HUA PĂNG – HUYỆN MỘC CHÂU – TỈNH SƠN LA

CHÍNH TRỊ HỌC NÂNG CAO THỰC TRẠNG NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO VÀ SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA ĐẢNG BỘ XÃ HUA PĂNG – HUYỆN MỘC CHÂU – TỈNH SƠN LA

1 Lý do chọn đề tài. Trong thời kỳ mới, Đảng ta tiếp tục thực hiện chủ trương phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt và phát triển văn hóa nền tảng tinh thần của xã hội. Sự nghiệp CNH,HĐH càng phát triển và đi vào chiều sâu, càng đòi hỏi tổ chức cơ sở đảng (TCCSĐ) với tư cách là hạt nhân lãnh đạo chính trị phải trong sạch, vững mạnh, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng. Qua 83 năm chiến đấu xây dựng và trưởng thành, Đảng cộng sản Việt Nam đã xây dựng được 1 hệ thống tổ chức chính trị vững mạnh từ Trung ương đến cơ sở, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ và khẳng định vai trò là Đảng duy nhất cầm quyền, lãnh đạo đưa đất nước từng bước quá độ lên CNXH, bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc và các thành quả cách mạng đã giành được. Một trong những đóng góp hết sức quan trọng vào những thành công của cách mạng đó chính là hệ thống tổ chức Đảng cơ sở. Trong suốt quá trình cách mạng, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng XHCN, đặc biệt ngày nay trong sự nghiệp đổi mới đất nước, tổ chức Đảng ở cơ sở đã luôn làm tốt vai trò, nhiệm vụ của mình, là nền tảng của Đảng, là hạt nhân lãnh đạo chính trị ở cơ sở. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã ghi rõ Những thành tựu đã đạt được, những tiềm năng đã khai thác, những kinh nghiệm có giá trị đều bắt nguồn từ sự nỗ lực phấn đấu của quần chúng ở cơ sở mà hạt nhân là tổ chức Đảng. Thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo nhằm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Thực hiện mục tiêu: “ Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”. Thành tựu của hai mươi lăm năm đổi mới đã đưa đất nước ta sang một trang sử mới. Kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội phát triển, an ninh – quốc phòng được giữ vững, vị thế của Việt Nam trên trường Quốc tế được nâng cao. Bên cạnh những thuận lợi là vậy, song vẫn còn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Đảng ta nhận định, thách thức chủ yếu vẫn là nguy cơ bên trong. Nổi lên là: “ Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn và đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp, cùng sự phân hóa giàu nghèo và sự lãnh đạo, quản lý, điều hành của nhiều cấp, nhiều ngành còn yếu kém, làm giảm lòng tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, đe dọa sự ổn định, phát triển của đất nước”. Trước yêu cầu của công cuộc đổi mới, đòi hỏi Đảng ta, các tổ chức cơ sở Đảng phải đổi mới chính mình, củng cố xây dựng đội ngũ để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu giải quyết những vấn đề nảy sinh từ cơ sở. Do đó Đảng ta phải thường xuyên chăm lo xây dựng, củng cố và nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng.Với ý nghĩa quan trọng của tổ chức cơ sở Đảng, để đóng góp vào việc xây dựng tổ chức cơ sở Đảng, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới, trên cơ sở vận dụng những nguyên lý của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng vào thực tiễn.Với vị trí, vai trò và tầm quan trọng của tổ chức cơ sở đảng như vậy nên em lựa chọn đề tài: “Thực trạng năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ xã Hua Păng – huyện Mộc Châu – tỉnh Sơn La”
Xem thêm

23 Đọc thêm

sự vận dụng quan điểm của v i lênin về đảng viên, và các nguyên tắc tổ chức của đảng của đảng ta tiểu luận cao học

SỰ VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA V I LÊNIN VỀ ĐẢNG VIÊN, VÀ CÁC NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC CỦA ĐẢNG CỦA ĐẢNG TA TIỂU LUẬN CAO HỌC

V.I LêNin (2241870 – 2101 1924). Sinh ra và lớn lên trong một gia đình trí thức Nga tiến bộ tại thành phố XimBiếc. Khi còn nhỏ. Ông là một người học rất xuất sắc và luôn đạt kết quả học tập rất cao. Sau khi tốt nghiệp trường trung học cổ điển ở XimBiếc. Năm 1877 LêNin vào học khoa luật ở trường Đại học CaDan. Năm 17 tuổi LêNin bị bắt và đày về làng Côcưsơkinô, cách CaDan cách 40 dặm Nga. Tại đây ông đã tham gia vào phong trào đấu tranh cách mạng ở Nga (Vào tháng chạp 1887) Sau cách mạng Tháng Mười vấn đề Đảng cầm quyền luôn được V.I.Lênin quan tâm và đã được ông đề cập trong nhiều bài viết và tác phẩm lý luận. Năm 1894 LêNin viết tác phẩm “Những người bạn dân là thế nào và họ đấu tranh chống những người dân chủ xã hội ra sao”. Năm 1895 ông viết bản “Dự thảo cương lĩnh của Đảng”. Mùa hè năm 1896 ông viết bản “Dự thảo và thuyết minh cương lĩnh của Đảng dân chủ xã hội”. “Thuyết minh về cương lĩnh”. Cuối năm 1897, trong khi bị đày ở Xibêri. LêNin viết tác phẩm “Nhiệm vụ của những người dân chủ xã hội Nga”. Năm 1899. Ông viết tác phẩm “Sự phát triển của nghĩa tư bản ở Nga”.v.v… Năm 1904 ông viết tác phẩm “Một bước tiến, hai bước lùi”. Và đặc biệt hơn cả ông đã đề cập đến những vấn đề quan trọng như vấn đề đảng viên, tổ chức cơ sở Đảng và các nguyên tắc tổ chức của Đảng trong tác phẩm “Dự thảo cương lĩnh của Đảng”. Mặc dù bước đầu còn khó khăn, nhưng những nội dung trên là một thứ vũ khí sắc bén để chống lại phái Mensêvích lúc bấy giờ. Phát triển quan điểm của C.Mác, Ph. Ăngghen, V.I.Lênin đã xây dựng chính Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân và chính Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân Nga đã thực hiện vai trò lãnh đạo giai cấp công nhân Nga hoàn thành nhiệm vụ lịch sử thế giới của mình. Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga năm 1917 đã mở ra một kỷ nguyên mới đưa cả loài người quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy rằng. Đảng có vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức mới có khả năng tạo lập, giữ vững và không ngừng nâng cao được vai trò đó. Sức mạnh của Đảng được tạo thành và củng cố từ sự vững mạnh của mỗi tổ chức Đảng và đội ngũ đảng viên cùng với việc thực hiện đầy đủ, đúng đắn những nguyên tắc tổ chức của Đảng. Mặt khác, sức mạnh của Đảng cũng được tạo ra và nhân lên thông qua các tổ chức của Đảng và các đảng viên của đảng. Trong công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta khẳng định: phải tự đổi mới và tự chỉnh đốn, chỉnh đốn Đảng là tiền đề để đổi mới xã hội. Là một Đảng chiến đấu, một Đảng hành động, Đảng ta coi công tác đảng viên là một trong những vấn đề có tầm quan trọng hàng đầu. Chất lượng của tổ chức cơ sở đảng và đảng viên phản ánh trực tiếp và cụ thể chất lượng của Đảng. Nâng cao chất lượng đảng viên sẽ góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, từ đó nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của toàn Đảng. Hiện nay vấn đề này càng trở nên quan trọng và cần thiết, khi mà “Không ít tổ chức đảng yếu kém, nhất là ở cơ sở, không làm tròn vai trò hạt nhân chính trị và nền tảng của Đảng, không đủ sức giải quyết những vấn đề phức tạp nẩy sinh từ cơ sở, thậm chí có những tổ chức cơ sở đảng tê liệt, mất sức chiến đấu. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ chốt các cấp, yếu kém cả về phẩm chất và năng lực; thiếu tính chiến đấu và tinh thần bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, giảm sút lòng tin, phai nhạt lý tưởng…” . Trước yêu cầu khách quan và thực tế công tác đổi mới, chỉnh đốn Đảng ta hiện nay, em chọn vấn đề “Sự vận dụng quan điểm của V.I.Lênin về đảng viên, và các nguyên tắc tổ chức của Đảng của Đảng ta” làm đề tài tiểu luận cho học phần: Quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin Hồ Chí Minh về Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước.
Xem thêm

21 Đọc thêm

SỰ THAM GIA CỦA PHỤ NỮ TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH

SỰ THAM GIA CỦA PHỤ NỮ TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH

chính bản thân chúng ta. Mỗi một quốc gia, mỗi một đất nước, chính quyền địaphương, người dân cần hiểu roc vấn đề ô nhiễm, và thấy đượ vai trò của mỗi ngườikhi có sự đóng góp làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Thấy được những nguy cơtừ ô nhiễm môi trường gây ra. Chúng ta đang xây dựng chương trình nông thônmới trong đó có có sự tham gia của phụ nữ trong công tác quản lý môi trườngnông thôn, từ đó ta thấy được vai trò sự tham gia của phụ nữ trong quản lý môitrường nông thôn (Lê Thạc Cán, 2009).2.1.3. Vai trò sự tham gia của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thônSự tham gia của phụ nữvai tròtrong công tác quản lý môi trường ?.Đây là một câu hỏi mà các nhà quản lý về môi trường cần suy ngẫm để nâng caovai trò của phụ nữ trong QLMT. Vì những tính chất có sức mạnh nổi bật khi cósự tham gia của phụ nữ là: tính đoàn kết, gắn bó, hỗ trợ lẫn nhau vì quyền lợichung (sức mạnh tập thể bao giờ cũng lớn hơn sức mạnh cá nhân, sự tuyêntruyền, vận động hiệu quả); sự sáng tạo và duy trì các kiến thức bản địa (đây làmột đặc trưng văn hoá phi vật thể, lan truyền và bổ sung từ thế hệ này qua thế hệkhác, tạo ra sức sống của phụ nữ trong quá trình sản xuất và bảo vệ cuộc sống);lòng tự hào về truyền thống của làng xóm, của quê hương gắn với tình yêu dântộc, yêu gia đình, chăm no đời sống gia đình đó cũng chính là cuội nguồn lớnnhất của sức mạnh phụ nữ. Hiện nay công tác BVMT đang đứng trước thách thứcto lớn, khi mà nhu cầu về một môi trường sống trong lành và an toàn luôn mâuthuẫn với nhu cầu hưởng thụ một đời sống vật chất sung túc. Nói cách khác, côngtác BVMT đang phải đối mặt với các mẫu thuẫn trong suy nghĩ, thái độ, hành vivề môi trường giữa các nhóm người khác nhau trong xã hội, giữa người này vớingười khác và ngay cả trong bản thân một con người. Để quản lý môi trường cóhiệu quả, trước hết cần dựa vào các cộng đồng mà trong đó có sự tham gia củaphụ nữ trong công tác quản lý môi trường. Các mục tiêu kinh tế, xã hội và môitrường phải là thể thống nhất, hài hoà và có sự tham gia của tất cả các cá nhâncũng như các tổ chức trong việc chăm sóc môi trường ở cơ sở để đáp ứng nhuHọc viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Xem thêm

122 Đọc thêm

BÁO CÁO TỔNG KẾT CÔNG TÁC THI ĐUA, KHEN THƯỞNG UBND XÃ NĂM 2015.

BÁO CÁO TỔNG KẾT CÔNG TÁC THI ĐUA, KHEN THƯỞNG UBND XÃ NĂM 2015.

ỦY BAN NHÂN DÂN XÃ PHƯỚC THÀNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập Tự do Hạnh phúc Số: BCUBND Phước Thành, ngày 17 tháng 12 năm 2015 BÁO CÁO Tổng kết công tác thi đua, khen thưởng năm 2015 phương hướng, nhiệm vụ năm 2016 Qua một năm triển khai thực hiện nhiệm vụ công tác thi đua, khen thưởng, Uỷ ban nhân dân xã Phước Thành tổng kết phong trào thi đua yêu nước năm 2015 và đề ra phương hướng, nhiệm vụ tổ chức thực hiện phong trào thi đua năm 2016, với các nội dung như sau: I. VỀ TỔ CHỨC PHONG TRÀO THI ĐUA 1. Tổ chức phát động các phong trào thi đua: Tiếp tục phát huy truyền thống thi đua yêu nước trong thời kỳ đổi mới; Ủy ban nhân dân xã xây dựng kế hoạch tổ chức phát động đợt thi đua đặc biệt lập thành tích chào mừng kỷ niệm 67 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua Ái quốc (1161948 1162015) đã tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động của các ngành, các cấp nhất là người đứng đầu cho đến cán bộ, công chức, viên chức và các tầng lớp nhân dân về vị trí, vai trò, tác dụng của phong trào thi đua yêu nước trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Phát huy truyền thống yêu nước, khơi dậy ý thức tự giác, sức sáng tạo của các tầng lớp nhân dân; tạo khí thế thi đua sôi nổi trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội, xóa đói, giảm nghèo; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; đảm bảo quốc phòng, an ninh, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội năm 2015 và nhiệm vụ 05 năm 2011 2015 theo tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã nhiệm kỳ 20102015 và Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp. Tổ chức các hoạt động thiết thực để kỷ niệm 66 năm ngày Bác Hồ ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc, tạo khí thế động viên các tầng lớp nhân dân thi đua tham gia xây dựng và phát triển tỉnh nhà, lập thành tích chào mừng kỷ niệm 125 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (1951890 1952015); đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phát hiện kịp thời, nêu gương các điển hình tiên tiến, các nhân tố mới, tiêu biểu trong phong trào thi đua yêu nước. Trong năm qua, UBND xã luôn có sự quan tâm chỉ đạo triển khai công tác thi đua, khen thưởng trên địa bàn xã, trong đó đã tổ chức phổ biến quán triệt đến cán bộ, công chức xã, cán bộ thôn các văn bản phát luật về công tác thi đua khen thưởng như: Luật Thi đua, Khen thưởng ngày 26112003 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng ngày 26112013; Nghị định số 652014NĐCP ngày 0172014 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng năm 2013; Quyết định số 492014QĐUBND ngày 31122014 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Nam ban hành Quy chế về công tác thi đua, khen thưởng; Hướng dẫn số 03HDTĐKT ngày 2592015 của Hội đồng Thi đua – Khen thưởng huyện Phước Sơn về hướng dẫn công tác thi đua khen thưởng đối với xã, thị trận thuộc huyện Phước Sơn nhằm tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động trong tổ chức triển khai thực hiện. Hội đồng Thi đua – khen thưởng xã được quan tâm thành lập, kiện toàn và củng cố, Quy chế hoạt động của Hội đồng thi đua, khen thưởng xã được quan tâm xây dựng. Nhận thức được tầm quan trọng của các phong trào thi đua nhằm hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội, UBND xã chú trọng đến công tác chỉ đạo, lãnh đạo và đôn đốc triển khai thực hiện các phong trào thi đua. Từ đầu năm UBND xã đã phối hợp cùng với Công đoàn tổ chức Hội nghị Cán bộ công chức trong đơn vị đã phát động các phong trào thi đua đến toàn thể cán bộ, công chức toàn đơn vị, đồng thời tổ chức cho 100% cán bộ, công chức trong đơn vị đăng ký các danh hiệu thi đua trong năm để làm mục tiêu phấn đấu thi đua trong năm và tổ chức làm đăng ký thi đua tập thể của đơn vị gửi về Thường trực Hội đồng TĐKT huyện. Trong phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới đã đạt được sự đồng tình ủng hộ của các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội và đông đảo nhân dân bằng nhiều việc làm cụ thể như: phong trào đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xoá đói giảm nghèo, hiến đất làm đường, đóng góp xây dựng hạ tầng ở cơ sở, phong trào tự quản trật tự an ninh thôn, xóm. Tập trung xây dựng và phát triển nông thôn mới có cơ cấu kinh tế hợp lý, hoàn thiện kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội nông thôn tạo điều kiện để thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển toàn diện, bền vững, đời sống vật chất và tinh thần của nông dân từng bước được nâng lên; hướng tới xây dựng nông thôn mới bền vững theo hướng văn minh, giàu đẹp, bảo vệ môi trường sinh thái, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc; đảm bảo các điều kiện học tập, chữa bệnh, sinh hoạt văn hóa, thể dục thể thao ở các vùng nông thôn; bảo đảm vững chắc an ninh lương thực. Nhằm tiếp tục thúc đẩy phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới theo hướng cụ thể, hiệu quả. Xã hiện có 04 khối thi đua (Đảng, chính quyền, đoàn thể, thôn) với 30 ban, ngành, bộ phận trực thuộc; việc phân chia khối thi đua phù hợp với đặc điểm, tính chất hoạt động và nhiệm vụ chính trị của từng ban, ngành, bộ phận trong cùng một khối thi đua; nhờ đó, hoạt động các khối thi đua đã từng bước đi vào nề nếp, hoạt động ngày càng hiệu quả hơn, việc ký kết giao ước thi đua, đăng ký danh hiệu thi đua ở từng khối thi đua được thực hiện một cách nghiêm túc. Thông qua hoạt động cụm, khối thi đua đã tạo được mối quan hệ phối hợp, hỗ trợ lẫn nhau trong trong thực hiện nhiệm vụ chung. Năm 2015, nhiều phong trào thi đua chuyên đề được các ban, ngành quan tâm tổ chức thực hiện, như : Dân vận khéo Dân vận chính quyền; chuyên đề Cải cách hành chính; chuyên đề Nông dân sản xuất kinh doanh giỏi; chuyên đề chung sức xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 2020; chuyên đề Đảm bảo trật tự an toàn giao thông; chuyên đề Xây dựng xã, phường vững mạnh về quân sự và quốc phòng;; chuyên đề Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc; chuyên đề Thi đua tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Các thôn thực hiện tốt các chỉ tiêu thi đua phát triển kinh tế xã hội và các chuyên đề thi đua điển hình như thôn 4B, thôn 4A, thôn 2. Sau mỗi đợt thi đua có tổng kết, đề nghị khen thưởng kịp thời các tập thể, cá nhân có thành tích nổi trội, vượt chỉ tiêu kế hoạch, đã tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức thi đua yêu nước, tạo được động lực để cán bộ, công chức và nhân dân phấn đấu nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc, phát huy tính sáng tạo, cải tiến trong công tác.
Xem thêm

12 Đọc thêm

Tiểu luận cao học môn cơ sở lý luận công tác tư tưởng của đảng giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ đảng viên huyện tứ kỳ tỉnh hải dương trong thời kỳ mớ

TIỂU LUẬN CAO HỌC MÔN CƠ SỞ LÝ LUẬN CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG GIÁO DỤC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ ĐẢNG VIÊN HUYỆN TỨ KỲ TỈNH HẢI DƯƠNG TRONG THỜI KỲ MỚ

1. Tính cấp thiết của đề tài:Trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa khi bàn và đánh giá lĩnh vực nào, chúng ta cũng đều quan tâm đến vấn đề hiệu quả, nhất là hiệu quả hoạt động chính trị tư tưởng. Vậy, muốn làm rõ quan niệm về hiệu quả công tác chính trị tư tưởng phải làm rõ quan niệm về chính trị tư tưởng, làm rõ nội hàm của quan niệm này. Chúng ta đánh giá hiệu quả chính trị tư tưởng của Đảng cũng cần phải bắt đầu thống nhất quan niệm về chính trị tư tưởng của Đảng nhằm: Phát triển hệ tư tưởng của Đảng hình thành phát triển cương lĩnh, đạo luật, cơ sở của Đảng trong từng giai đoạn, từng thời kỳ. Truyền bá hệ tư tưởng, truyền bá cương lĩnh, đường lối, cơ sở của Đảng trong xã hội để xây dựng thế giới quan khoa học. Nhân sinh quan cộng sản, xây dựng niềm tin cho cán bộ, Đảng viên trong nhân dân vào mục tiêu lý tưởng cách mạng, niềm tin vào đường lối, cơ sở, vào sự lao động của Đảng và nhân dân. Cổ vũ, đông viên, giai cấp tự giác, chủ động, tích cực thực hiện nhiệm vụ của Đảng. Xây dựng đời sống xã hội tỉnh nhà cao đẹp mà điều cốt lõi là bồi dưỡng con người mới XHCN. Cùng vời công tác tổ chức, xây dựng Đảng mạnh về chinh trị, tư tưởng và tổ chức. Đó cũng là 5 nội dung chủ yếu là thước đo cơ bản để đánh giá hoạt động của công tác tư tưởng của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Muốn có CNXH phải có con người CNXH”. Ngày nay, trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, xây dựng đất nước cán bộ Đảng viên vững vàng về chính trị có trình độ chuyên môn cao là đòi hỏi tất yếu. Đối với Đảng và nhà nước ta, giáo dục là cách tốt nhất để nâng cao trình độ nhân thức của cán bộ Đảng viên, cũng là nâng cao trình độ, trí tuệ của toàn Đảng. Như những điều biết không có trí tuệ thì không thể lao động được. Ngay từ buổi đầu cách mạng, việc truyền bá chủ nghĩa Mác Lênin vào Việt Nam thông qua những buổi học của: “Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội” một hình thức của giáo dục lý luận chính trị do Chủ tịch Hồ Chí Minh mà chúng ta đã có những lớp cán bộ đầu tiên rất kiên cường va hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Nội dung giáo dục lực lượng chính trị là giáo dục chủ nghĩa Mác –Lênin, tư tương Hồ Chí Minh, cương lĩnh, điều lệ trong các nghị quyết của Đảng, cuộc sống pháp luật, pháp lệnh nhân dân. Đảng ta đã xác định chủ nghĩa Mác Lênin tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam hành động của Đảng và cách mạng. Mọi thắng lợi hay vấp váp tổn thất của cách mạng đều liên quan trực tiếp đến việc Đảng ta có nhận thức và vận dụng đúng đắn chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh hay không? Vì vậy của chủ nghĩa Mác Lênintư tưởng Hồ Chí Minh là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của công tác CTTT, cũng là yêu cầu của sự nghiệp cách mạng
Xem thêm

26 Đọc thêm

Biến đổi về vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở Hà Nội hiện nay qua nghiên cứu một số xã, phường

Biến đổi về vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở Hà Nội hiện nay qua nghiên cứu một số xã, phường

1. Tính cấp thiết của đề tài Trong xã hội hiện đại ngày nay, vai trò và những đóng góp, cống hiến của phụ nữ trong đời sống nói chung, trong gia đình nói riêng ngày càng được khẳng định thông qua các hoạt động trên nhiều lĩnh vực, trong cả gia đình và ngoài xã hội. Dưới ảnh hưởng của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tiến trình hội nhập, toàn cầu hóa ở nước ta, phụ nữ Việt Nam ngày càng có nhiều điều kiện, cơ hội thuận lợi để thể hiện, khẳng định năng lực, trình độ bản thân cũng như tham gia tích cực vào sự nghiệp xây dựng, phát triển gia đình và đất nước bền vững. Có một thực tế, cũng là thành tựu đáng ghi nhận, là các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ngày càng thể hiện rõ quan điểm xóa bỏ phân biệt, bất bình đẳng nam - nữ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo điều kiện thuận lợi để phụ nữ được hưởng thụ các thành tựu của công cuộc xây dựng, đổi mới, phát triển đất nước, tham gia các hoạt động xã hội và được ghi nhận những đóng góp của mình trên nhiều lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa… Hướng tới bảo đảm quyền bình đẳng và quyền lợi chính đáng cho phụ nữ là một mục tiêu chiến lược để đất nước và con người Việt Nam phát triển bền vững. Thành quả mà chúng ta đạt được trong những năm qua, là phụ nữ và vai trò của người phụ nữ ngày càng được khẳng định và nhìn nhận, đánh giá đúng đắn hơn bởi hiệu quả không chỉ từ những chủ trương, chính sách mang tính chiến lược đó, mà còn từ chính những nỗ lực và sự đóng góp về cả vật chất và tinh thần mà phụ nữ mang lại cho gia đình và xã hội… Song rõ ràng, bên cạnh những thành tựu, vẫn có những tồn tại, hạn chế trong việc đánh giá, nhìn nhận vai trò của người phụ nữ cũng như những đóng góp, cống hiến của họ trong nhiều lĩnh vực xã hội, mà trước tiên là trong gia đình. Thực trạng này tồn tại không phải ở đâu xa, mà ở ngay Thủ đô Hà Nội - trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của nước ta. Trong bối cảnh Thủ đô đang có những sự biến chuyển, phát triển mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực hòa vào tiến trình hội nhập chung của đất nước, người phụ nữ Hà Nội ngày càng có điều kiện, cơ hội tham gia, hòa nhập sâu, rộng vào các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội. Cùng với những biến chuyển về chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật trong bảo vệ và phát huy vai trò của phụ nữ, cùng với những đổi thay nhất định về nhận thức của xã hội…, vai trò của phụ nữ trong gia đình cũng vì thế mà có những biến đổi. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, người phụ nữ dù trong gia đình Hà Nội gốc hay không, có việc làm (công việc chuyên môn, làm nông hoặc làm nghề) hay không, đa phần đều gặp một “lực cản” chung về quan niệm vốn tồn tại đã lâu, là việc đảm nhiệm vai trò làm vợ, làm mẹ, chịu trách nhiệm các công việc nhà, nuôi dạy con cái… đương nhiên được coi là của phụ nữ chứ không phải của nam giới; sự chia sẻ, thông cảm của các thành viên trong gia đình với các vai trò nói trên của phụ nữ vì thế cũng khá hạn chế, nên dễ dẫn đến những xung đột và gây trở ngại cho phụ nữ trong việc cống hiến trí và lực cho nghề nghiệp và các hoạt động xã hội khác. Mâu thuẫn giữa những biến đổi đã và vẫn đang diễn ra giữa vai trò của người phụ nữ trong gia đình với những quan niệm, rào cản xã hội, định kiến giới…, giữa mong muốn và hiện thực, giữa lý thuyết và thực tiễn, giữa phụ nữ và nam giới cũng như các thành viên khác trong gia đình v.v.. đang cản trở không nhỏ đến việc phát huy vai trò, năng lực của người phụ nữ, đến tiến trình xây dựng văn hóa gia đình, đánh giá một cách công bằng và phát huy hiệu quả nguồn nhân lực nữ phục vụ công cuộc đổi mới, phát triển Thủ đô nói riêng, đất nước nói chung. Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã dành nhiều quan tâm cho phụ nữ nước ta nói chung, phụ nữ Hà Nội nói riêng, bảo vệ những quyền lợi chính đáng của phụ nữ và phát huy vai trò của họ, trước hết là trong gia đình. Cũng có không ít bài viết, sách, công trình nghiên cứu… nói về phụ nữ và vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở Hà Nội với những khía cạnh nghiên cứu khác nhau. Tuy nhiên, thực tiễn sự biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình trên địa bàn luôn luôn đa dạng và phức tạp, đòi hỏi có sự nghiên cứu, kiến giải thấu đáo, kịp thời và thỏa đáng hơn nữa để tiếp tục gìn giữ, phát huy, phát triển một cách chính đáng và tích cực các vai trò của người phụ nữ trong gia đình. Nghiên cứu những biến đổi về vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở Hà Nội hiện nay dưới góc nhìn văn hóa nhằm tìm hiểu những nguyên nhân, căn nguyên văn hóa sâu xa dẫn đến những đổi thay trong đời sống gia đình và xã hội, đồng thời góp phần tìm hiểu những biến đổi về gia đình và văn hóa gia đình với những sắc thái, giá trị điển hình, đặc sắc hội tụ nơi mảnh đất Thủ đô ngàn năm văn hiến đang là vấn đề thời sự đặt ra trong bối cảnh hội nhập với nhiều thời cơ và thách thức đan xen. Việc gìn giữ, phát huy bền vững giá trị nguồn nhân lực nữ trong gia đình, lấy đó là cơ sở, động lực cho sự phát triển xã hội, đất nước ta nói chung có trở nên hiệu quả hay không phụ thuộc một phần không nhỏ vào hoạt động nghiên cứu, tìm hiểu biến đổi vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở Hà Nội hiện nay trên thực tế. Với những lý do trên, tôi chọn “Biến đổi về vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở Hà Nội hiện nay qua nghiên cứu một số xã, phường” làm đề tài nghiên cứu.
Xem thêm

Đọc thêm

BÀI THẢO LUẬN NHÓM CHƯƠNG 4 5 6 VÀ 7 MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH HAY

BÀI THẢO LUẬN NHÓM CHƯƠNG 4 5 6 VÀ 7 MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH HAY

Bài thảo luận nhóm chương 4 5 6 và 7 môn tư tưởng hồ chí minh hayBài thảo luận nhóm chương 4 5 6 và 7 môn tư tưởng hồ chí minh hayBài thảo luận nhóm chương 4 5 6 và 7 môn tư tưởng hồ chí minh hayBài thảo luận nhóm chương 4 5 6 và 7 môn tư tưởng hồ chí minh hayy dựng Đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh thì Đảng phải thường xuyênđổi mới và chỉnh đốn. 3. Hồ CHí Minh đã nhiều lần đề cập tới đòi hỏi xây dựng Đảng ta: là đạo đức, làvăn minh”, một Đảng tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự và lương tâm của dân tộc vàthời đại. Chỉnh đốn và đổi mới Đảng là nhằm làm cho Đảng ta vững mạnh về cả chính trị,tư tưởng và tổ chức, làm cho đội ngũ cán bộ Đảng viên không ngừng nâng caophẩm chất, năng lực trước những yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng. Sống trong xã hội, mỗi cán bộ, đảng viên đều phải chịu sự ảnh hưởng của cái tốt,cái xấu, chỉ có thể phát huy được cái tốt , cái hay bằng việc rèn luyện thường củacán bộ, đảng viên, thường xuyên chỉnh đống đảng. Khi cách mạng gặp khó khăn, việc xây dựng và chỉnh đốn Đảnglà công việc tấtyếu phải làm, là công việc đạc biệt coi trọng, nhằm nâng cao bản lĩnh chính trịcách mạng cho cán bộ đảng viên, đồng thời củng cố lòng in trong nhân dân. Khi cách mạng thắng lợi sẽ dễ sa vào chủ nghĩa cá nhân, chủ quan, duy ý chí=>kiêu ngại, xa hiện thực dẫn đến công tác xây dựng và chỉnh đốn càng phải đượcquan tâm, chú ý. Trước lúc đi xa, Người để lại những lời tâm huyết, căn dặn toàn Đảng:” việc cầnlàm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảnglàm cho mỗi cán bộ Đảng viên, mỗi chi bộ đềura sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó.toàn tâm phục vụ nhân dân nhằm hạn chế,ngăn chặn, đẩy lùi và tẩy trừ mọi tệ nạn do thái hóa, biến chất gây ra trong điềukiện Đảng lãnh đạo chính quyền.Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, hiện nay toàn Đảng ta ra sức phấn đấu,tự chỉnh đốnvà đổi mới lạ Đảng. Nghị quyết Trung ương IV được ban chấp hành trung ươngĐảng khóa VI đề ra nhằm đúng tình hình, nguyên nhân và biện pháp khắc phục,giúp cho Đảng ngàu càng hoàn thiện hơn, ngày càng trong sạch, vững mạnh hơn.Từ khi thực hiện đường lối đổi mới trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đạtđược nhiều kết quả tích cực, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng khôngngừng được nâng cao, củng cố, đa số cán bộ Đảng viên có ý thức phục vụ nhân dân,được nhân dân tin tưởng.Bên cạnh đó, những hạn chế yếu kém cần được rút kinh nghiệm, khắc phục và sửachữa. Một bộ phận không nhỏ cán bộ Đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, 4. đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau: Chạy theo danh lợi, tiền tài, thamnhũng, lãng phí, vô nguyên tắc…Để tạo chuyển biến mạnh mẽ về công tác xây dựng Đảng, cần tiếp tục thực hiện 8nhiệm vụ trong công tác xây dựng Đảng mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần XI củaĐảng đã đề ra; lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt 3 vấn đề: Kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị,đạo đức, lối sống của cán bộ Đảng viên. Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp TW đáp ứng yêucầu của sự nghiệp Công nghiệp hóaHiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu, tiếp tục đổi mớiphương pháp lãnh đạo của Đảng.Chƣơng 5 : Tƣ Tƣởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế.Câu 1: Sự vận dụng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh của Đảng ta về đại đoàn kết dântộc trong bối cảnh hiện nay?Trả lời:1.Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc. Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định thành công củacách mạng.Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, trong thời đại mới, để đánh bại các thế lực đế quốc thựcdân nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người phải tậphợp được tất cả mọi lực lượng có thể tập hợp, xây dựng được khối đại đoàn kếttoàn dân tộc bền vững. Chính vì vậy trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kếttoàn dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, co bản, nhất quán và lâu dài, xuyênsuốt tiến trình cách mạng. Đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, của dân tộc.Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, yêu nước, nhân nghĩa, đoàn kết là sức mạnh, làmạch nguồn của mội thắng lợi. Đại đoàn kết là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, đồng 5. thời cũng là nhiệm vụ hàng đầu của mọi giai đoạn cách mạng. nhấn mạnh vấn đềnày là nhấn mạnh tới vai trò của thực lực cách mạng, đó chính là khố đại đoàn kếttoàn dân tộc.Hồ Chí minh còn chỉ ra rằng, đại đoàn kết dân tộc không chỉ là mục tiêu của Đảngmà còn là nhiệm vụ hàng đầu của cả dân tộc. Bởi vì, cách mạng là sự nghiệp chungcủa cả quần chúng nhân dân, phải do quần chúng và vì quần chúng. Đại đoàn kết dân tộc là đoàn kết toàn dân.Nội hàm khái niệm đại đoàn kết trong tư tưởng Hồ Chí minh rất phong phú, baogồm nhiều tầng nấc, nhiều cấp bậc các quan hệ liên kết giữa các thành viên, các bộphận, các lực lượng xã hội.Đoàn kết rộng rãi, thực sự, chân thành dựa trên nền tảng liên minh giai cấp côngnhân, nông dân, tri thức.Thực hiện đại đoàn kết toàn dân phải kế thừa truyền thống yêu nước nhân nghĩađoàn kết của dân tộc, đồng thời phải có tấm lòng khoan dung, độ lượng, tin vàonhân dân, tin vào con người.Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc phải kế thừa truyền thống yêu nước nhân nghĩa đoàn kết của dân tộc được hình thành và phát triển qua hàng nghìnnăm dựng nước và giữ nước, trở thành giá trị bền vững, thấm sâu vào tư tưởng,tình cảm, tâm hồn của mỗi con người Việt Nam được truyền từ thế hệ này sang thếhệ khác. Đó là truyền thống yêu nước , lòng tự hào dân tộc , yêu thương con người,thủy chung, sống có tình nghĩa.Cùng với những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Hồ Chí minh còn đặc biệt quantâm đến lòng khoan dung, đọ lượng với con người. Lòng khón dung độ lượng ở HồChí Minh không phải là một sách lược nhất thời, một thủ đoạn chính trị mà là sựtiếp nối truyền thống nhân ái, bao dung của dân tộc.Hình thức tổ chức của khối đại đoàn kết toàn dân tộc là mặt trận dân tộc thốngnhất.Mặt trận dân tộc thống nhất là một tổ chức chính trị xã hội rộng lớn của nhân dânViệt Nam, là nơi quy tụ, tập hợp đông đảo các giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo,đảng phái, các tổ chức và cá nhân yêu nước ở trong và ngoài nước, phấn đấu vì 6. mục tiêu chung là độc lập dân tộc, thống nhất của tổ quốc, tự do và hạnh phúc củanhân dân.2.Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc trong bối cảnh hiện nay. Thực trạng và yêu cầu.Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân,do dân, vì dân. Việt Namchur động hội nhập kinh tế quốc tế, mở cửa sẵn sàng làbạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì độc lập,hòa bình và phát triển.Trong những năm đổi mới nền kinh tế của đất nước, nước ta tiếp tục phát triển vớinhịp độ cao so với các nước khác trong khu vực. Tình hình chính trị ổn định.Đảmbảo thống nhất, đoàn kết toàn dân tộc phát triển đất nước theo nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tình hình xã hội có tiến bộ. Đời sống vật chấtvà tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện. vị thế của đất nước đượcnâng cao trên trường quốc tế.Tuy vậy, chúng ta cũng đang đứng trước những thách thức lớn trên con đường pháttriển của đất nước như nạn tham nhũng, quan liêu cùng với sự suy thoái đạo đứccủa một bộ phận không nhỏ độ ngũ cán bộ, đảng viên đã và đang cản trở việc thựchiện có hiệu quả đường lối, chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước. Cùngvới việc đối mặt với những âm mưu và các thế lực thù địch trong và ngoài nước,chúng lợi dụng những vấn đề nhạy cảm như dân tộc, tôn giáo hòng tuyên truyền,xuyên tạc những chủ trương chính sách của đảng và nhà nước gây mất trật tự anninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, làm giảm niềm tin của nhân dân với chínhphủ.Yêu cầu đặt ra trong giai đoạn cách mạng hiện nay là phải củng cố và tăng cườngkhối đại đoàn kết dân tộc nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, tiếnhành thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu củachủ nghĩa xã hội.Cụ thể: 7. Đảng ta phải luôn xác định cách mạng Việt Nam là một bộ phận không thể táchrời của cách mạng vô sản thê giới, Việt Nam tiếp tục đoàn kết, giúp đỡ và ủng hộcác phong trào cách mạng, các xu hướng, trào lưu tiến bộ của thời đại về mục tiêuhòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiens bộ xã hội.Giữ vững nguyên tắc độc lập, tự chủ, tự cường, chủ trương phát huy sức mạnh dântộc trên cơ sở đó chủ trương tranh thủ sự đồng tình ủng hộ từ lực lượng bên ngoài,nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu mỗi thời kỳ.Sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng về đại đoàn kết trong công cuộc đổimới hiện nay: Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội.Hoàn thiện hệ thống luật pháp, có biện pháp xử lý nghiêm minh đối với nhữnghành vi sai trái để nêu gương và củng cố niềm tin của nhân dân vào đảng, chínhphủ.Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đặt lợi ích của nhân dân, của dân tộc lêntrên hết.Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.Nhìn chung, khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giữa giai cấpcông nhân, nông dân, tri thức được mở rộng hơn, là nhân tố quan trọng thúc đẩy sựphát triển kinh tế, xã hội, giữ vững ổn định chính trị xã hội của đất nước. Với tínhchất là một tổ chức liên minh chính trị. Mặt trận tổ quốc Việt Nam đã phối hợp vớichính quyền giải quyết ngày càng có hiệu quả những vấn đề bức xúc của nhân dân,thực hiện dân chủ, đổi mới xã hội, chăm lo lợi ích chính đáng của nhân dân, thamgia ngày càng thiết thực vào việc xây dựng, giám sát, bảo vệ Đảng và chính quyền.Trước yêu cầu của nhiệm vụ mới, mặt trận tổ quốc Việt Nam phải chủ động gópphần cùng đảng và nhà nước xây dựng, hoàn thiện một số chính sách chung để sứcmạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trở thành động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩaquyết định thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Mặt trận tập trung đẩymạnh hơn nữa các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước, nhất là cuộc vậnđộng “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” góp phần cùngđảng và nhà nước ta đưa nước ta ra khỏi tình trạng nước kém phát triển. 8. Khơi dậy và phát huy tinh thần đại đoàn kết dân tộc .Khơi dậy và phát huy sức mạnh nội lực. Nâng cao ý chí tự lực tự cường trongchính sách đaik đoàn kết, đồng thời phải khắc phục những tiêu cực của kinh tế thịtrường, đặc biệt là tâm lý chạy theo đồng tiền, cạnh tranh không lành mạnh làmphai nhạt truyền thống đoàn kết, tình nghĩa.Xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Phải chống các tệ nạn xã hội,nhất là tệ tham nhũng, quan lieu. Phải tiếp tục đổi mới chính sách nhà nước, chínhsách giai cấp, chính sách xã hội.Xác định hướng đi cho đất nước đó là đại đoàn kết toàn dân tộc cội nguồn sứcmạnh của đất nước, là yếu tố quan trọng quyết định sự phát triển của đất nước.Câu 2 : Sự vận dụng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh của Đảng ta về kết hợp sức mạnhdân tộc với sức mạnh thời đại trong công cuộc đổi mới hiện nay?Trả lời:1.Tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.Sức mạnh dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh đó là chủ nghĩa yêu nước nồngnàn,là tinh thần đoàn kết, ý chí đấu tranh anh dũng, bất khuất cho độc lập tự do củadân tộc, là ý chí tự lực tự cường. Cùng với sức mạnh dân tộc là sức mạnh thời đạiđó là đoàn kết với các dân tộc anh em trên thế giới nhất là sự ra đời của hệ thốngcác nước xã hội chủ nghĩa lúc bấy giờ đã trở thành một nhân tố làm nên sức mạnhthời đại, là sự đồng tình ủng hộ của các nước anh em và loài người tiến bộ trên thếgiới. Sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại là một nội dung quan trọng trong tưtưởng Hồ Chí Minh,nó góp phần đưa cách mạng đi đến thắng lợi.Đặt cách mạng Việt Nam trong sự gắn bó với cách mạng vô sản thế giới.Hồ Chí Minh đã nhận thấy nguyên nhân thất bại của các phong trào yêu nước củaông cha ta cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 là do đường lối cách mạng không đúng đắn,phương pháp cách mạng không phù hợp với xu thế của thời đại. Nắm được đặcđiểm đó của thời đại mới, Hồ Chí Minh đã hoạt động không mệt mệt mỏi để gắncách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới. Và Hồ Chí Minh đã xác định chínhxác đường lối chiến lược, sách lược và phương pháp cách mạng đúng đắn cho cáchmạng Việt Nam đó là đi theo con đường của cách mạng vô sản. 9. Kết hợp chặt chẽ giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trongsáng.Là nhà yêu nước chân chính Hồ Chí Minh đã phát huy triệt để sức mạnh của chủnghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc. Đồng thời là nhà quốc tế chủ nghĩa trong sáng,Hồ Chí Minh đã suốt đời đấu tranh không mệt mỏi để củng cố và tăng cường tìnhđoàn kết hữu nghị giữa Việt Nam với các dân tộc khác đang đấu tranh cho mụctiêu chung là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.Chủ trương dựa vào sức mình là chính, tranh thủ sự giúp đỡ của các nước xã hộichủ nghĩa, sự ủng hộ của nhân loại tiến bộ, đồng thời không quên nghĩa vụ quốc tếcao cả của mình.Có quan hệ hữu nghị, hợp tác,sẵn sang làm bạn với mọi nước dân chủ.Thực hiện quan điểm đối ngoại, hòa bình, hữu nghị, Hồ Chí Minh đã thể hiện làmột nhà ngoại giao mẫu mực vừa cứng rắn về nguyên tắc vừa mềm dẻo về sáchlược. Hồ Chí Minh giương cao ngọn cờ hào bình, đoàn kết quốc tế, đồng thời luônphân biệt rõ bạn, thù của cách mạng.2.Sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng ta về kết hợp sức mạnh dân tộc vớisức mạnh thời đại trong công cuộc đổi mới hiện nay.Sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại là một nội dung quan trọng làm nên thắnglợi trong từng giai đoạn cách mạng của nước ta. Lịch sử đã chứng minh điều đó.Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân pháp và đế quốc mĩ, ngoài lòng yênnước nồng nàn, ý chí quyết thắng lợi kẻ thù xâm lược, sự dũng cảm, kiên cườngbất khuất của nhân dân ta còn có sự ủng hộ về vật chất và tinh thần của bạn bèquốc tế đã đưa cách mạng việt nam đi đến thắng lợi, giải phóng dân tộc ra khỏi ápbức bóc lột, đất nước hoàn toàn độc lập.Trong công cuộc đổi mới suốt 25 năm qua nhờ kết hợp sức mạnh dân tộc với sứcmạnh thời đại, đảng và nhân dân ta đã đạt được những thành tựu về mọi mặt. Kinhtế chuyển từ kinh tế bao cấp, tự cung tự cấp sang nền kinh tế thị trường định hướngxã hội chủ nghĩa, nhờ vậy mà kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển từ một nướckém phát triển lên đang phát triển, đời sống của nhân dân được cải thiện. Chínhtrị_xã hội ổn định, an ninh quốc phòng được củng cố và nâng cao, đặc biệt nước tađã có quan hệ ngoại giao với các nước trong khu vực và thế giới. 10. Bên cạnh những thành tựu đạt được chúng ta cũng còn những hạn chế tồn tại như:chất lượng nguồn nhân lực còn yếu kém chưa đáp ứng được với những yêu cầu màxã hội đặt ra. Hiện tượng suy thoái đạo đức ở một bộ phận không nhỏ cán bộ đảngviên, nạn tham nhũng, quan lieu, lãng phí…sự chống phá của các thế lực thù địchtrong và ngoài nước gây mất đoàn kết nội bộ.Để khắc phục những tồn tại nêu trên và thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, đẩymạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đòi hỏi đảng và nhà nước ta phải xây dựng,phát huy cao độ sức mạnh đoàn kết dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại. Cụ thể:Phải thấu suốt quan điểm đại đoàn kết toàn dân là nguồn sức mạnh, động lực chủyếu và là nhân tố bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.Lấy mục tiêu chung của cách mạng làm điểm tương đồng, xóa bỏ mặc cảm, địnhkiến, phân biệt đối sử về thành phần, giai cấp, dân tộc, tôn giáo.Đảm bảo công bằng và bình đẳng xã hội, chăm lo lợi ích thiết thực, chính đángcủa các giai cấp, tầng lớp nhân dân, kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân _tập thể_xã hội,thực hiện dân chủ gắn liền với giữ gìn kỷ cương, chống quan lieu, tham nhũng,lãng phí, nâng cao tinh thần yêu nước, phẩm chất chính trị, tinh thần tự lực tựcường.Đại đoàn kết dân tộc phải được thực hiện bằng nhiều biện pháp,hình thức trong đócó chủ trương của Đảng, chính sách của nhà nước có ý nghĩa quan trongh hàng đầu. Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên và thế hệ tri thức trẻ đủ đức đủ tài, vừa hồngvừa chuyên. Trong điều kiện thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập quốc tế, đa dạng hóa quanhệ đối ngoại trong khu vực và trên thê giới phải nắm vững phương châm ngoạigiao mềm dẻo, nguyên tắc cứng rắn, biết nắm bắt cơ hội, vượt qua thử thách. Học tập khoa học công nghệ tiên tiến của nước ngoài và áp dụng vào Việt Nammột cách linh hoạt. 11. Chƣơng VI : Tƣ tƣởng Hồ chí minh về dân chủ và xây dựng nhà nƣớc của dân, do dân, vì dân.Câu 1: Vận dụng TT HCM về dân chủ và nhà nƣớc của dân, do dân, vì dânvao việc xây dựng nhà nƣớc pháp quyền XHCN trong công cuộc đổi mới hiệnnay?Trả lời:Tư tưởng HCm về dân chủ HCM quan niệm “dân chủ” có nghĩa là “dân là chủ” và “dân làm chủ”.“Dân là chủ” là đề cập đến vị thế của dân, “dân làm chủ” là đề cập đến năng lực vàtrách nghiệm của dân.Dân chủ thể hiện ở việc đảm bảo quyền lợi con người, quyền công dân.Dân chủ trong xã hội Việt Nam được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực chính trị,kinh tế, văn hóa và xã hội. Trong đó dân chủ trên lĩnh vực chính trị là quan trọngnhất, đó là: Đảm bảo quyền con người Quyền lực thuộc về nhân dân Nhà nước của dân, do dân, vì dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảngvà sự quản lý của nhà nước.+ Trên lĩnh vực kinh tế dân chủ được thực hiện: Mọi người, mọi thành phần kinh tế đều có cơ hội,, quyền bình đẳng trong phát triển kinh tế. Không xóa bỏ sở hữu hợp pháp của tư sản dân tộc.+ Trên lĩnh vực VHXH dân chủ được thể hiện: Mỗi người dân không phân biệt giàtrẻ, trai gái, giàunghèo,không phân biệt dân tộc tôn giáo, họ đều có quyền học tập, nâng cao trình độ và được khẳng định năng lực của mình. Là chủ thể của văn hóa và được hưởng những giá trị của văn hóa. 12. Tư tưởng HCM về nhà nước của dân, do dân, vì dân Nhà nước của dân:+Trong Quốc Hội khóa I, HCM đã kahwngr định rõ ràng: “Nước Việt Nam là nướcDân chủ cộng hòa. Tất cả mọi quyền lực trong nhà nước và trong xã hội đều thuộcvề nhân dân, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu – nghèo, giai cấp, dân tộc,tôn giáo” ( Điều 1 Hiến pháp năm 1946).+Nhân dân bầu ra đại biểu quốc hội và đại biểu hội đông nhân dân và cũng cóquyền bãi miễn họ nếu họ tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân.+Người dân được hưởng quyền dân chủ, có quyền làm tất cả những việc mà phápluật không cấm và có nghĩa vụ phải tuân theo pháp luật.Nhà nước do dân:+ Nhà nước do dân lập nên, do dân ủng hộ, do dân làm chủ vì vậy HCM luôn nhấnmạnh nhiệm vụ của những người cách mạng phải làm cho nhân dân hiểu nhữngchủ trương, đường lối của Đảng, làm cho nhân dân tin, dân ủng hộ và làm chonhân dân giác ngộ được quyền làm chủ của mình để nâng cao ý thức trách nhiệmchăm lo xây dựng nhà nước của mình.Nhà nước vì dân+nhà nước vì dân là nhà nước phục vụ lợi ích, nguyện vọng của dân, không có mụcđích và lợi ích nào khác ngoài lợi ích của nhân dân, không có đặc quyền đặc lợi,thực sự trong sạch, cần – kiệm – liêm – chính .+Cán bộ, đẳng viên vừa là người lãnh đạo, người hướng dẫn nhân dân nhưng đồngthời cũng là những người “đầy tớ” trung thành của nhân dân, là những người “ lotrước nỗi lo của thiên hạ, vui sau niềm vui của thiên hạ”Vận dụng TT HCM về dân chủ và nhà nước của dân, do dân, vì dân vào việc xâydựng nahf nước pháp quyền XHCN trong công cuộcđổi mới hiện nay. Phát huy dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, quyền lực nhà nướcthuộc về nhân dân.+Tiếp tục hoàn thiện các thiết chế dân chủ gián tiếp 13. +Nhân dân tham gia quản lý nhà nước bằng sự phối – kết hợp giữa các tổ chức,phong trào, các nguồn lực để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng nhànước pháp quyền XHCN và hội nahapj quốc tế, đẩy mạnh các hoạt động tổ chứcthực hiện pháp luật. Đổi mới tổ chức, hoạt động của Quốc hội theo yêu cầu xây dựng nhà nước phápquyền XHCN của dân, do dân, vì dân.+Tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc thực hiện các chức năng củaQuốc hội.+Phát huy vai trò, trách nhiệm , nâng cao năng lực, bản lĩnh và nghiệp vụ hoạtđộng của đại biểu Quốc hội.+Tiếp tục kiện toàn các cơ quan Quốc hội+ Tăng cương mối quan hệ giữa Quốc hội với nhân dân+Đảm bảo các điều kiện thuận lợi cho hoạt động của Quốc hội.Đẩy mạnh cải cách nền hành chính nhà nước theo yêu cầu xây dựng nhà nướcpháp quyền XHCN của dân , do dân, vì dân.+Đẩy mạnh cải cách thể chế của nền hành chính nhà nước.+Cải cách tổ chức hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước.+ Đổi mới, nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức+Đổi mới chế đồ tài chính công và tài sản côngĐẩy mạnh cải cách nên tư pháp theo yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyềnXHCN của dân, do dân, vì dân.+Tiếp tục sửu đổi, bổ sung vầ hoàn thiện hệ thống pháp luật tạo cơ sở vững chắccho hoạt động của tư pháp.+Đổi mới tổ chức hoạt động của các cơ quan tư pháp+Chấn chỉnh các tổ chức và các hoạt động bổ trợ tư pháp 14. +Đẩy mạnh công tác xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp đáp ứng về số lượng và chấtlượng theo yêu cầu của nhà nước pháp quyền XHCN.Đổi mới công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ năng lực, phẩmchất. Đẩy mạnh đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng và những hiện tượng tiêu cựckhác trong bộ máy nhà nước.Đôi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước trong điều kiệnxây dựng nhà nước pháp quyền XHCN.Câu 2:Vận dụng TT HCM về một nhà nƣớc có hiệu lực pháp lý mãnh mẽ vàocông cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng hiện nay?Trả lời:1. Xác định bản chất tham nhũng Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, tham nhũng được xác định là lực cản trởcông cuộc đổi mới, tác động tiêu cực tới sự phát triển của đất nước, bóp méo cácgiá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, làm gia tăng khoảng cách giàu và nghèo.Nghiêm trọng hơn, tham nhũng còn làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào sự lãnhđạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và là nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chếđộ ta. Nhận thức được những tác hại đó, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục vận dụng,phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng chống tham nhũng trong tình hình mới. 2. Đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong những năm qua và định hƣớngcủa Đảng ta Báo cáo Chính trị tại Đại hội Đảng lần thứ IX khẳng định: “Điều cần nhấnmạnh là: tình trạng tham nhũng và suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lốisống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đang cản trở việc thực hiệnđường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, gây bất bình và làm giảm lòng tintrong nhân dân”. Cho nên, Đảng chủ trương “Tăng cường tổ chức và cơ chế, tiếptục đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng trong bộ máy nhà nước và toàn bộhệ thống chính trị, ở các cấp, các ngành, từ trung ương đến cơ sở”. Đại hội X củaĐảng cũng nêu thực trạng: “Thoái hoá, biến chất về chính trị, tư tưởng, về đạo đức,lối sống; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu dân trong một bộ phậnkhông nhỏ cán bộ, đảng viên diễn ra nghiêm trọng, kéo dài, chưa được ngăn chặn, 15. đẩy lùi, nhất là trong các cơ quan công quyền, các lĩnh vực xây dựng cơ bản, quảnlý đất đai, quản lý doanh nghiệp nhà nước và quản lý tài chính, làm giảm lòng tincủa nhân dân đối với Đảng. Đó là một nguy cơ lớn liên quan đến sự sống còn củaĐảng, của chế độ”. Nghị quyết. Đại hội X của Đảng đã xác định “đấu tranh chốngtham nhũng là nhiệm vụ trọng tâm của công tác xây dựng Đảng, là nhiệm vụ trựctiếp, thường xuyên của cả hệ thống chính trị, là nhiệm vụ của toàn xã hội”. Dự thảo Chiến lược phát triển kinh tế xã hội trình Đại hội XI, có đánh giá tìnhhình hiện nay “Tham nhũng, lãng phí còn nghiêm trọng, chưa được đẩy lùi”. Cuối tháng 112010, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã tổ chức Hội nghị toànquốc tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng trong nhiệm kỳ Đại hội X củaĐảng. Hội nghị này đã cho thấy một cách khá toàn diện cuộc đấu tranh phòngchống tham nhũng của Đảng và nhân dân ta trong những năm qua. Trong nhiệm kỳ này (20062010), Đảng và Nhà nước đã coi đấu tranh phòng,chống tham nhũng là nhiệm vụ trọng tâm của công tác xây dựng Đảng, là nhiệm vụtrực tiếp, thường xuyên của cả hệ thống chính trị, là nhiệm vụ của toàn xã hội.Đảng và Nhà nước đã dành sự quan tâm lớn trong chỉ đạo điều hành, thể hiệnquyết tâm chính trị cao, tổ chức thực hiện, triển khai đồng bộ, toàn diện các giảipháp phòng, chống tham nhũng. Tháng 72006, Hội nghị Trung ương 3 (khóa X)đã ban hành Nghị quyết về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tácphòng chống tham nhũng”; Quốc hội khoá XII đã ban hành Luật sửa đổi, bổ sungmột số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng, trong đó quy định thành lập Banchỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng. Hàng năm, Ban Bí thư tổ chức Hộinghị toàn quốc để quán triệt, đánh giá kết quả phòng chống tham nhũng; Quốc hộinghe báo cáo và cho ý kiến về công tác phòng chống tham nhũng; Uỷ ban thườngvụ Quốc hội tăng cường công tác giám sát về phòng chống tham nhũng. Công tácphòng chống tham nhũng là một nội dung chính trong các phiên họp thường kỳ củaChính phủ. Các bộ, ngành trung ương và các cấp uỷ, chính quyền địa phương đã tổchức nghiêm túc việc quán triệt, triển khai thực hiện công tác phòng chống thamnhũng bằng những chương trình, kế hoạch cụ thể, thường xuyên kiểm tra, đánh giákết quả thực hiện. Trên nhiều mặt, công tác phòng chống tham nhũng đã đạt kết quả và chuyểnbiến rõ nét. Công tác tuyên truyền giáo dục phòng chống tham nhũng gắn với việcthực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”đã tạo được chuyển biến trong nhận thức, ý thức và trở thành hành động trongphòng, chống tham nhũng. Việc phòng ngừa tham nhũng với những giải pháp đồngbộ đang từng bước phát huy tác dụng, mang lại hiệu quả thiết thực. Việc phát hiện, 16. xử lý các vụ án tham nhũng được tăng cường. Nhiều vụ án tham nhũng nghiêmtrọng, phức tạp được phát hiện, xử lý nghiêm theo pháp luật. Ban chỉ đạo phòng,chống tham nhũng ở trung ương và cấp tỉnh, cùng các đơn vị chuyên trách vềphòng, chống tham nhũng được hình thành khẩn trương đi vào hoạt động, đã giúpcác cấp uỷ, chính quyền và người đứng đầu triển khai nhiệm vụ phòng, chống thamnhũng. Sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong công tác đã được phát huy. Về phương hướng công tác phòng chống tham nhũng nhiệm kỳ tới (2011 –2015) nhiều ý kiến tại Hội nghị cho rằng cần kiên quyết mục tiêu: ngăn chặn, từngbước đẩy lùi tham nhũng; loại bỏ dần cơ hội, điều kiện phát sinh tham nhũng. Đểđạt mục tiêu ấy, các cấp uỷ đảng phải thực sự coi phòng, chống tham nhũng làtrọng tâm công tác lớn, trong đó phải bố trí cán bộ có năng lực, bản lĩnh và phẩmchất đạo đức làm công tác phòng, chống tham nhũng. Cùng với việc hoàn thiện thểchế để phòng ngừa, phải khắc phục những hạn chế phòng chống tham nhũng trongnhiệm kỳ vừa qua và triển khai các giải pháp đã được đề ra trong “Chiến lượcphòng, chống tham nhũng đến năm 2020” và kế hoạch thực hiện “Công ước Liênhợp quốc về chống tham nhũng”. Cần có nhiều biện pháp, giải pháp cụ thể, sáng tạo hơn. Như công chức phảigiải trình nguồn gốc tài sản khi có yêu cầu, và có cơ chế để xử lý hành vi làm giàubất chính; khoan hồng đặc biệt với người đưa hối lộ nhưng tự giác khai báo; có cơchế ngăn chặn hành vi che giấu, tẩu tán tài sản do tham nhũng mà có. Đề án đưanội dung phòng, chống tham nhũng vào chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộcần được khẩn trương triển khai; phát huy vai trò tích cực của báo chí trong phòngchống tham nhũng. Các cấp uỷ Đảng, chính quyền các ngành, các cấp cần xác địnhđúng vai trò, vị trí công tác phòng chống tham nhũng, coi đây là một trong cáctrọng tâm công tác lớn có tính chất thường xuyên, liên tục. Trước hết, phải đánhgiá đúng thực trạng tham nhũng trong từng cơ quan, tổ chức, đơn vị, từ đó xâydựng chương trình, kế hoạch phòng chống tham nhũng tại cơ quan đơn vị mình.Cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu phải là tấm gương sáng về phẩm chấtđạo đức lối sống “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”. Công tác phòng chốngtham nhũng phải là nội dung kiểm điểm định kỳ công tác của các cấp, các ngành.Kết quả thực hiện phòng chống tham nhũng là một tiêu chí không thể thiếu đượctrong việc bình xét thi đua, khen thưởng và phân loại chất lượng đảng viên, đề bạtcán bộ. Hội nghị còn thảo luận, đề xuất với Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị,Ban Bí thư một số nội dung: 17. Cho nghiên cứu cơ chế công khai tài sản một số chức danh chủ chốt, cao cấpcủa Đảng, Nhà nước; công khai tài sản của cán bộ, công chức khi được đề bạt, bổnhiệm và ứng cử; có cơ chế để thẩm định, xác minh tài sản, thu nhập. Có quy chế về trách nhiệm người đứng đầu tổ chức đảng khi để ra tham nhũngnơi mình được giao nhiệm vụ lãnh đạo, quản lý. Từ vụ Vinashin và những yếu kémtrong điều tra, truy tố, xét xử án tham nhũng, cân nhắc tái lập Ban Kinh tế, Ban Nộichính của Đảng. Đẩy mạnh việc ký kết hiệp định tương trợ tư pháp, tạo thuận lợi cho xử lý ántham nhũng có yếu tố nước ngoài. Cân nhắc việc áp dụng biện pháp điều tra đặcbiệt đối với tội phạm tham nhũng. Với những gì mà toàn Đảng, toàn dân ta đã làm được trong những năm quatrong việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về chống tham nhũng; với những bàihọc kinh nghiệm đã được đúc kết; với những giải pháp đã và đang được đưa ra; vớiquyết tâm mới, động lực mới sau Đại hội Đảng lần thứ XI, những mục tiêucủa cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở nước ta nhất định sẽ được thựchiện. CHƢƠNG VII: TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA, ĐẠO ĐỨC VÀ XÂY DỰNG CON NGƢỜI MỚICâu 1: Trong công cuộc đổi mới đất nƣớc hiện nay, sinh viên cần học tập vàlàm theo tƣ tƣởng, tấm gƣơng đạo đức Hồ Chí Minh nhƣ thế nào?Trả lời: Hiện nay, sinh viên là lực lượng đông đảo, có tri thức, có vai trò quan trọng trongsự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc Xã Hội Chủ Nghĩa. Khi đánh giá về vai tròcủa sinh viên, Người nhấn mạnh “ Thanh niên là người chủ trương lai đất nước.Thật vậy, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là thanh niên.” Đối với thế hệ sinh viên ngày nay, Người đòi hỏi phải ra sức học tập trong tất cảcác lĩnh vực, không chỉ trong nhà trường, sách vở mà còn cả trong gia đình, xã hội,thực tiễn cuộc sống. Học không phải làm quan mà là học để lấy kiến thức, kinhnghiệm để phụng sự cho Tổ quốc, Nhân dân, làm cho dân giàu nước mạnh, xã hộingày càng phát triển 18. Thanh niên, sinh viên muốn làm chủ tương lai của đất nước một cách xứngđáng thì ngay từ bây giờ phải tự giác rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình,phải tích cực chuẩn bị cho tương lai. Nét nổi bật của sinh viên Việt Nam là ý chívươn lên, tinh thần cần cù sáng tạo, ham mê nghiên cứu để thoát khỏi nghèo nàn,lạc hậu cho bản thân và xã hội. Việc giáo dục sinh viên phải liên hệ chặt chẽ cuộcvới những cuộc đấu tranh của đất nước nhằm giúp họ tránh những độc hại, tiêu cựccủa xã hội, tiếp thu cái hay, tiến bộ trong cuộc sống. Sinh viên phải giữ vững đạo đức cách mạng, sống trong sạch, lành mạnh, giản dị,biết vươn tới các giá trị chân – thiện – mỹ. Chúng ta phải có hoài bão, lý tưởngsống và niềm tin ở tương lai của dân tộc, biết đấu tranh bảo vệ sự công bằng, lênán cái xấu. Phải đoàn kết chặt chẽ với nhau, kiên trì phấn đấu vượt mọi khó khăn,thi đua học tập tốt và tham gia lao động sản xuất góp phần vào công cuộc xây dựngđất nước ngày càng giàu đẹp hơn.Muốn thực hiện được như vậy thì sinh viên ngày nay cần: Thường xuyên bồi dưỡng, tiếp thu đạo đức cách mạng, đạo đức cách mạng ở đâylà đạo đức mới, là phẩm chất không thể thiếu và là cái gốc của con người. Ngườicách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi đến mấy cũng khônglãnh đạo được nhân dân.Theo Hồ Chí Minh, nội dung cốt lõi của đạo đức cách mạng là cần, kiệm, liêm,chính. Nếu thiếu một trong bốn phẩm chất đó thì con người không thể trở thànhngười đúng nghĩa. Đạo đức cách mạng không phải là cái có sẵn mà nó là kết quảcủa sự đấu tranh, rèn luyện bền bỉ của mỗi người. Vì vậy, sinh viên phải thực sự nỗlức rèn luyện đạo đức cách mạng. Thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư,tích cực đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, phê phán thói hư, tật xấu, thườngxuyên phê bình, tự phê bình…giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ. Sinh viên phảo biết bồi dưỡng thể chất. Theo Hồ Chí Minh, sức khỏe là vốn quýnhất. Người đặc biệt quan tâm tới sự phát triển toàn diện của thanh niên, trong đócó sự phát triển về mặt thể chất. Theo Người, việc giữ gìn dân chủ, xây dựng nướcnhà, thực hiện đời sống mới…phải có sức khỏe thì mới thành công, Bởi vì “mộtngười dân yếu ớt tức là cả nước yếu ớt, mỗi một người dân khỏe mạnh tức là cảnước khỏe mạnh.” Với tinh thân đó, Người tự mình nêu gương sáng về rèn luyệnsức khỏe và kêu gọi tất cả mọi người thường xuyên rèn luyện thân thể. Nó vừa là 19. trách nhiệm vừa là bổn phận của mỗi người dân yêu nước. Đặc biệt đối với sinhviên, thanh niên, Người mong muốn họ phải có sức sống dẻo dai, thể chất cườngtráng, tinh thần mạnh mẽ và nghị lực lớn. Để có được vậy, không còn cách nàokhác là hăng hái làm việc, tích cực rèn luyện thể dục, thể thao. Muốn vậy, Đảng và Nhà nước ta cần phải có các biện pháp kịp thời để khắcphục bằng một số giải pháp như sau: Cần quan tâm giáo dục đạo đức, lối sống cho sinh viên nhiều hơn nữa.Nội dung giáo dục đạo đức, lối sống cần ohair thiết thực và có tính chuyên sâu. Kết hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong việc giáo dục, rènluyện đạo đức lối sống cho sinh viên. Cần phải phát huy vai trò tự học tập, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống thanhniên.Câu 2:Vận dụng tƣ tƣởng Hồ Chí Minhvề con ngƣời vào việc xây dựng conngƣời mới XHCN ở nƣớc ta hiện nay?Trả lời:Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người:Con người được nhìn nhận trong một chỉnh thể: + Hồ Chí Minh xem xét con người như một chỉnh thể thống nhất về tâm lực,thểlực và các hoạt động của nó. Hồ Chí Minh có cách nhìn nhận ,xem xét con người trong tính đa dạng:đa dangtrong quan hệ xã hội,đa dạng trong tính cách,khát vọng,phẩm chất,khả năng,đadạng trong hoàn cảnh xuất thân,điều kiện sống,làm việc. + Hồ Chí Minh xem xét con người trong sự thống nhất của 2 mặt đối lập: thiệnác,haydở,tốtxấu,hiền lànhdữ…bao gồm cả mặt sinh học và mặt xã hội của conngười.Con người cụ thể,lịch sử: 20. Hồ Chí Minh dùng khái niệm “con người” theo nghĩa rộng ở một số trường hợp“phẩm giá con người”nhưng phần lớn Người xem xét con người trong các quan hệxã hội,quan hệ giai cấp,theo giới tính,nghề nghiệp trong khối thồng nhất của cộngđồng dân tộc và quan hệ quốc tế.Bản chất con người mang tính xã hội:Trong quá trình lao động,sản xuất,con người dần nhận thức được các hiệntượng,quy luật của tự nhiên,của xã hội,hiểu về mình và hiểu biết lẫn nhau từ đó xáclập mối quan hệ giữa người với người.Con người là sản phẩm của xã hội,là tổng hòa các quan hệ xã hội từ hẹp đếnrộng,chủ yếu bao gồm các quan hệ anh em,họ hàng,bầu bạn,đồng bào,loài người.Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về con người vào xây dựng con người mớiXHCN trong công cuộc đổi mới hiện nay: Toàn Đảng,toàn dân ta đã xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủnghĩa.Để công cuộc xây dựng XHCN ở nước ta đi đến thắng lợi cần phải có nhữngcon người mớicon người xã hội chủ nghĩa.Sự nghiệp xây dựng con người mới là 1sự nghiệp lâu dài nhưng sự nghiệp cũng luôn có mục tiêu và yêu cầu cụ thể trongtừng giai đoạn cách mạng.Trong giai đoạn nàygiai đoạn đầu của thời kỳ quá độlên CNXH,Đảng và nhà nước ta quán triệt thực hiện 1 số nội dung sau: Có ý thức làm chủ nhà nước, tinh thần tập thể XHCN và tư tưởng “mình vì mọingười,mọi ngươi vì mình”. Cán bộ Đảng viên phải nêu cao tinh thần phụ trách trước Đảng,trước nhândân.Phải thậi sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân,không được lên mặt “quancách mạng” trước dân.Xây dựng con người mới vừa có đức,vừa có tài,Muốn làm được như vậy thì phảinâng cao chất lượng giáo dục,đào tạo,nâng cao năng lực,trình độ chuyên môn củađội ngũ cán bộ giảng viên sao cho đáp ứng được với những yêu cầu đặt ra hiện 21. nay, vì thế mỗi người không ngừng học hỏi,học mọi lúc,mọi nơi,luôn có ý thức tựrèn luyện đạo đức,lối sống,phẩm chất chính trị,cach mạng để xây dựng những conngười có trình độ,năng lực. +Phải có nhận thức sâu sắc về công việc mà mình đảm nhiệm,lao động có ýthức,kỷ luật,có tinh thần hợp tác với đồng nghiệp,biết đánh giá công việc và hiệuquả lao động của mình. +Có văn hóa,có tình nghĩa,có ý thức nâng cao trình độ về mọi mặt,biết giải quyếttốt các quan hệ xã hội. +Phải có lòng yêu nước thưong dân,có tình yêu thương giai cấp và đồng loại,sốngnhân văn,nhân đạo,kiên quyết đấu tranh chống những âm mưu chống phá của cáckẻ thù,bảo vệ thành quả cách mạng.+Dám phê phán những hành vi sai trái,đấu tranh phòng chống các tệ nan thamnhũng,quan liêu,lãng phí.+Sống cần,kiệm,liêm,chính,chí công vô tư.Câu 3: Vận dụng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh vào xây dựng một nền văn hóa ViệtNam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc hiện nay?Trả lời:1. Những quan điểm chunga. Định nghĩa về văn hóa Tháng 81943: Lần đầu tiên Hồ Chí Minh nêu ra 1 định nghĩa về văn hóa: “Vì lẽsinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minhra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngàyvề ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minhđó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng vớibiểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời 22. sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”.b. Quan điểm về vị trí, vai trò của văn hóa trong đời sống, xã hội Văn hóa là đời sống tinh thần của xã hội, thuộc kiến trúc thượng tầng. Văn hóa không thể đứng ngoài mà phải ở trong kinh tế và chính trị, phải phục vụnhiệm vụ chính trị và thúc đẩy sự phát triển của kinh tế.c. Quan điểm về tính chất của nền văn hóa Tính dân tộc: biểu hiện như đặc tính dân tộc, cốt cách dân tộc nhằm nhấn mạnhđến chiều sâu bản chất rất đặc trưng của văn hóa dân tộc, giúp phân biệt, khôngnhầm lẫn với văn hóa của các dân tộc khác. Tính khoa học: thể hiện ở tính hiện đại, tiến tiến, thuận với trào lưu tiến hóa củathời đại. Tính khoa học của văn hóa đòi hỏi phải đấu tranh chống lại những gì tráivới khoa học, phản tiến bộ, phải truyền bá tư tưởng triết học macxit, đấu tranhchống lại chủ nghĩa duy tâm, thần bí, mê tín dị đoan, phải biết gạn đục, khơi trong,kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Tính đại chúng: thể hiện ở chỗ nền văn hóa ấy phải phục vụ nhân dân và do nhândân xây dựng nên.d. Quan điểm về chức năng của văn hóa Văn hóa bồi dưỡng tư tưởng đúng đắn và những tình cảm cao đẹp. Mở rộng hiểu biết, nâng cao dân trí. Bồi dưỡng những phẩm chất, phong cách và lối sống tốt đẹp, lành mạnh, hướngcon người đến chân, thiện, mỹ để hoàn thiện bản thân.2. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiêntiến, đậm đà bản sắc dân tộc hiện nay.a. Thành tựu Những giá trị và đặc sắc văn hóa của 54 dân tộc anh em được kế thừa và pháttriển góp phần làm phong phú thêm nền Văn hóa Việt Nam thống nhất, đa dạng. 23. Một số nét mới trong chuẩn mực văn hóa của con người Việt Nam đang từngbước hình thành. Các tài năng văn hóa, nghệ thuật được khuyến khích. Nhiều di sản văn hóa cả vật chất và phi vật chất đã được giữ gìn, tôn tạo. Việc phân phối, sản xuất các sản phẩm văn hóa đã nhanh và đều khắp. Dân trí được nâng lên cùng với văn hóa phát triển đã góp phần khơi dậy tính chủđộng, sáng tạo của nhân dân và nâng cao tính đồng thuận xã hội, tạo ra bầu khôngkhí dân chủ niềm tin của nhân dân được nâng lên.b. Hạn chế Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Mức độ trầm trọng của các tệ nạn quan liêu, bao cấp, lãng phí và những hiệntượng tiêu cực khác. Môi trường văn hóa có mặt xuống cấp, lối sống văn hóa trong lãnh đạo và quản lýchưa được nâng cao, đội ngũ những người làm công tác văn hóa chưa đủ mạnh.3. Giải pháp Tăng cường sự lao động của Đảng, sự quản lý nhà nước, phát huy sức mạnh tổnghợp của đất nước, tạo ra sự chuyển biến cơ bản và bước phát triển mạnh mẽ trongxây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” gắn chặtvới cuộc vận động chính trị sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, học tậpvà thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức lối sống trong cán bộ, đảng viên vànhân dân nhất là đối với cán bộ chủ chốt các cấp và thanh niên. Xây dựng môi trường văn hóa, phát triển văn hóanghệ thuật thông tin đại chúng,bảo tồn phát huy di sản văn hóa, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số. Nâng cao hợp tác quốc tế về văn hóa, giữ vững hòa nhập chứ không hòa tan. Nâng cao trình độ và nhận thức lãnh đạo cho cán bộ, đảng viên trên lĩnh vực vănhóa. 24. Nêu cao tinh thần gương mẫu về tư tưởng, đạo đức, lối sống. Recommended 56 câu hỏi tự luận và đáp án chi tiết Tư Tưởng Hồ Chí Minh 56 câu hỏi tự luận và đáp án chi tiết Tư Tưởng Hồ Chí Minh … Hà Dím 104,748 đề Cương và đáp án tham khảo môn tư tưởng hồ chí minh đề Cương và đáp án tham khảo môn tư tưởng hồ chí minh congatrong82 133,562 Bài tiểu luận môn tư tưởng hồ chí minh chuẩn Bài tiểu luận môn tư tưởng hồ chí minh chuẩn kuki29292 42,449 Tài liệu môn tư tưởng hồ chí minh Tài liệu môn tư tưởng hồ chí minh lekimhuong 78,890 Tiểu luận tư tưởng hồ chí minh về đạo đức cách mạng Tiểu luận tư tưởng hồ chí minh về đạo đức cách mạng Dzaigia1988 28,406 Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh N.d Duong 29,087 Tư tưởng Hồ Chí Minh www.tailieubachkhoa.vn Tư tưởng Hồ Chí Minh www.tailieubachkhoa.vn Nam Xuyen 1,242 đườNg lối 20 câu hỏi ôn tập (kèm đáp án) bookbooming đườNg lối 20 câu hỏi ôn tập (kèm đáp án) bookbooming bookbooming 48,035 3. tt hcm ve dai doan ket dan toc1 3. tt hcm ve dai doan ket dan toc1 Hoang Nguyen 43 Tư tưởng hồ chí minh về đại đoàn kết dân tộc Tư tưởng hồ chí minh về đại đoàn kết dân tộc Phú Quốc Nguyễn 16,181 Tư tưởng hồ chí minh Tư tưởng hồ chí minh hangngoc14 39,551 Tìm hiểu tôn giáo Tìm hiểu tôn giáo Fink Đào Lan 4,412 56 câu hỏi tự luận và đáp án môn tthcm 56 câu hỏi tự luận và đáp án môn tthcm dreamteller 13,279 Tư tưởng HCM về con đường quá độ lên CNXH ở Việt Nam và sự vận dụng tư tưởng đó trong công cuộc đổi mới hiện nay ở nước ta. Tư tưởng HCM về con đường quá độ lên CNXH ở Việt Nam và sự vận dụng …… Hải Nguyễn Hoàng 39,755 Bài thu hoạch lớp cảm tình đảng Bài thu hoạch lớp cảm tình đảng quachduong_khang 32,986
Xem thêm

24 Đọc thêm

HIỆU QUẢ TUYÊN TRUYỀN CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC CẤP HUYỆN VỀ CUỘC VẬN ĐỘNG “NGƯỜI VIỆT NAM ƯU TIÊN DÙNG HÀNG VIỆT NAM” TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI HIỆN NAY

HIỆU QUẢ TUYÊN TRUYỀN CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC CẤP HUYỆN VỀ CUỘC VẬN ĐỘNG “NGƯỜI VIỆT NAM ƯU TIÊN DÙNG HÀNG VIỆT NAM” TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI HIỆN NAY

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong những năm qua, nền kinh tế của đất nước có bước phát triển mới về quy mô và trình độ của lực lượng sản xuất. Chất lượng sản phẩm hàng hóa của Việt Nam ngày càng được nâng cao. Nhiều sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trường nội địa, được người tiêu dùng yêu thích, mua sắm và sử dụng. Có những sản phẩm không những khẳng định trên thị trường trong nước mà ngày càng phát uy tín trên thị trường quốc tế như cà phê, gạo, hạt điều, thủy sản, đồ gỗ, hàng may mặc, điện tử… Đất nước ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế quốc tế, nhưng tác động của nền kinh tế thế giới đến nước ta sẽ nhanh mạnh theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực. Về mặt tích cực đó là tạo ra cơ hội để chúng ta giao lưu, hợp tác, tranh thủ những thành tựu của khoa học - kỹ thuật, mở rộng thị trường…Tuy nhiên, việc hội nhập sâu vào nền kinh tế quốc tế cũng có tác động tiêu cực đến nền kinh tế của đất nước, đặc biệt do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2008, sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn: sức tiêu thụ sản phẩm giảm sút, nhiều mặt hàng xuất khẩu giảm, lượng hàng tồn kho cao, hàng vạn doanh nghiệp phải tạm dừng sản xuất, giải thể hoặc phá sản; số người thất nghiệp gia tăng. Với dân số hiện nay hơn 93 triệu người, thị trường Việt Nam có tiềm năng lớn để phát triển nhưng chưa được quan tâm khai thác đúng mức. Tâm lý sính hàng ngoại vẫn còn tồn tại trong một bộ phận không nhỏ của người tiêu dùng. Trước yêu cầu đưa nền kinh tế đất nước vượt qua khó khăn, thách thức, phát triển nhanh, bền vững, giải quyết tốt an sinh xã hội. Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” được triển khai theo chủ trương của Bộ Chính trị (từ 31 tháng 7 năm 2009) là một trong những giải pháp quan trọng để góp phần thúc đẩy thị trường trong nước bền vững qua việc phát huy mạnh mẽ lòng yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, tự tôn dân tộc, xây dựng văn hóa tiêu dùng của người Việt Nam; động viên các doanh nghiệp sản xuất ra nhiều hàng Việt Nam có chất lượng, sức cạnh tranh cao, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu; huy động cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân cùng chung tay, giải quyết những khó khăn, bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước. Từ khi Đảng chủ trương đổi mới toàn diện đến nay, nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã tập trung giải quyết Tuyên truyền là một trong những hoạt động quan trọng trong công tác tư tưởng của Đảng, là động lực thúc đẩy sự nghiệp cách mạng của Đảng nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước tới cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, tạo nên sự thống nhất trong nhận thức và hành động trong toàn Đảng, sự đồng thuận trong xã hội, cỗ vũ quần chúng thực hiện thắng lợi mục tiêu kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn lịch sử. Đối với Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, để thực hiện mục tiêu trên, một trong những nhiệm vụ rất quan trọng chính là công tác tuyên truyền phải đi trước một bước, để định hướng cho người tiêu dùng trong nước và nước ngoài nhận thức đúng khả năng sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ Việt Nam; vận động người tiêu dùng Việt Nam sử dụng hàng Việt Nam khi tiêu dùng cá nhân, coi đó là thể hiện lòng yêu nước, nét đẹp trong văn hóa tiêu dùng của người Việt Nam; các cơ quan, đơn vị và tổ chức chính trị - xã hội sử dụng hàng hóa nội địa khi thực hiện mua sắm công. Nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò của công tác tuyên truyền Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” cho người tiêu dùng; Vai trò của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp huyện trong công tác tuyên truyền về Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam trên địa bàn Hà Nội đã mang lại những kết quả tích cực, góp phần từng bước nâng cao nhận thức của người Hà Nội trong văn hóa tiêu dùng đối với hàng Việt Nam. Kết quả tuyên truyền về Cuộc vận động sau 03 năm triển khai thực hiện đã được Thủ tướng Chính phủ ghi nhận tại chỉ thị số 24/CT-TTg ngày 17 tháng 9 năm 2012 “Cuộc vận động bước đầu tạo phong trào mạnh mẽ trong mọi tầng lớp nhân dân trên cả nước, đã tạo ra xu hướng lựa chọn tiêu dùng hàng Việt Nam, góp phần thúc đẩy sản xuất, nâng cao uy tín của doanh nghiệp Việt Nam mà còn có ý nghĩa tích cực trong việc thực hiện các giải pháp để giữ vững ổn định sản xuất, kinh doanh, bảo đảm đời sống của nhân dân, duy trì phát triển kinh tế, ổn định xã hội của đất nước trong điều kiện tác động tiêu cực của khủng hoảng kinh tế thế giới”. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được trong hơn 03 năm qua thì hiệu quả tuyên truyền về Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” vẫn còn nhiều hạn chế, thiếu sót, làm ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả chung của Cuộc vận động, cần phải có những giải pháp cụ thể, thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả Cuộc vận động trên địa bàn Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung. Vì lý do trên học viên xin chọn đề tài: Hiệu quả tuyên truyền của Mặt trận Tổ quốc cấp huyện về Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” trên địa bàn Hà Nội hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Công tác tư tưởng.
Xem thêm

131 Đọc thêm

HOẠT ĐỘNG CỦA NHÀ VĂN HÓA QUẬN TÂY HỒ THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

HOẠT ĐỘNG CỦA NHÀ VĂN HÓA QUẬN TÂY HỒ THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT MỞ ĐẦU 1 1. Lý do chọn đề tài 1 2. Tình hình nghiên cứu 2 3. Mục tiêu và nhiệm vụ 4 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4 5. Phương pháp nghiên cứu 4 6. Cái mới của đề tài 4 7. Nội dung của đề tài 5 Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHÀ VĂN HÓA VÀ NHỮNG KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ VĂN HÓA QUẬN TÂY HỒ 6 1.1. Một số vấn đề lý luận về Nhà văn hoá 6 1.1.1. Khái niệm về thiết chế và thiết chế xã hội 6 1.1.1.1. Thiết chế 6 1.1.1.2. Khái niệm thiết chế xã hội 7 1.1.2. Khái niệm thiết chế văn hóa 7 1.1.3. Nhà văn hóa 8 1.1.3.1. Khái niệm 8 1.1.3.2. Đặc điểm, chức năng và nhiệm vụ hoạt động của Nhà văn hoá 8 1.1.4. Vai trò của thiết chế văn hóa trong đời sống cộng đồng 11 1.2. Khái quát về quận Tây hồ 12 1.2.1. Khái quát chung về truyền thống lịch sử văn hóa quận Tây Hồ 12 1.2.2. Tình hình kinh tế xã hội của Quận Tây Hồ 14 Chương 2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA NHÀ VĂN HÓA QUẬN TÂY HỒ 19 2.1. Khái quát về Nhà văn hóa quận Tây Hồ 19 2.1.1. Sơ lược quá trình hình thành Nhà văn hoá quận Tây Hồ 19 2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn tổ chức của Nhà văn hóa quận Tây Hồ. 20 2.2. Cơ cấu tổ chức và quy chế làm việc của Nhà văn hóa quận Tây Hồ 22 2.2.1. Cơ cấu tổ chức 22 2.2.2. Quy chế làm việc 22 2.2.2.1. Giám đốc 22 2.2.2.2. Phó Giám đốc 23 2.2.2.3. Tổ trưởng, tổ phó 24 2.2.2.4. Cán bộ phụ trách Thông tin cổ động 25 2.2.2.5. Cán bộ phụ trách công tác Văn hóa, văn nghệ quần chúng 25 2.2.2.6. Cán bộ phụ trách công tác Thư viện 25 2.2.2.7. Cán bộ thuộc tổ Hành chính Quản trị Dịch vụ 25 2.2.2.8. Cán bộ phụ trách công tác tuyển sinh 25 2.2.2.9. Nhân viên bảo vệ 26 2.3. Kết quả hoạt động của Nhà văn hóa quận Tây Hồ 26 2.3.1. Hoạt động văn nghệ quần chúng, câu lạc bộ 26 2.3.2. Hoạt động Thể dục thể thao, vui chơi giải trí 28 2.3.3. Hoạt động tuyên truyền cổ động 29 2.3.4. Hoạt động Thư viện 31 2.3.5. Hoạt động mở các lớp năng khiếu 33 2.3.6. Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở 34 2.4. Đánh giá kết quả hoạt động của Nhà văn hoá quận Tây Hồ 37 Chương 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CỦA NHÀ VĂN HÓA QUẬN TÂY HỒ THÀNH PHỐ HÀ NỘI 42 3.1. Phương hướng và nhiệm vụ 42 3.1.1. Phương hướng 42 3.1.2. Nhiệm vụ 49 3.2. Những biện pháp cụ thể 51 3.2.1. Nâng cao nhận thức về vai trò của hoạt động của Nhà văn hóa Quận Tây Hồ 51 3.2.2. Xây dựng, củng cố và hoàn thiện mạng lưới quản lý ngành văn hóa từ quận tới cơ sở 53 3.2.3. Công tác đào tạo và sử dụng cán bộ 54 3.2.5. Đầu tư kinh phí và cơ sở vật chất kỹ thuật cho Nhà văn hóa 56 3.2.6. Đẩy mạnh hoạt động xã hội hóa trên lĩnh vực văn hóa của Quận 58 3.5. Khuyến nghị 60 KẾT LUẬN 63 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 65 PHẦN PHỤ LỤC 69
Xem thêm

89 Đọc thêm

tiểu luận cao học - quan điểm của đảng về công tác kiểm tra, giám sát

TIỂU LUẬN CAO HỌC - QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT

Công tác kiểm tra, giám sát là nhu cầu cần thiết đối với hoạt động của con người và đối với mọi tổ chức. Quá trình hình thành, hoạt động và phát triển của một tổ chức đòi hỏi phải thực hiện công tác kiểm tra, giám sát để xác định mục đích hoạt động đúng đắn, sự tuân thủ nguyên tắc, chấp hành nội quy, quy định của các thành viên gắn kết trong một tập thể. Thông qua kiểm tra, giám sát để kịp thời chấn chỉnh, bổ sung thúc đẩy quá trình hoạt động theo chiều hướng phát triển của tổ chức.Đặc biệt đối với tổ chức Đảng, công tác kiểm tra, giám sát là một khâu quan trọng trong quy trình lãnh đạo của Đảng, là những chức năng lãnh đạo của Đảng, là một bộ phận quan trọng của công tác xây dựng đảng. Kiểm tra, giám sát được tiến hành thường xuyên, đúng nguyên tắc có ý nghĩa hết sức quan trọng. Nó đảm bảo cho Cương lĩnh chính trị, đường lối, chiến lược, các nghị quyết của Đảng được xác định đúng đắn, ngày càng hoàn thiện và chấp hành triệt để, thực sự gắn liền với cuộc sống. Kiểm tra, giám sát vừa góp phần nâng cao chất lượng lãnh đạo của Đảng, làm cho sự lãnh đạo gắn với thực tiễn hơn, vừa đảm bảo sự thống nhất tuyệt đối giữa nghị quyết và sự chấp hành, giữa lời nói với việc làm, giúp cho các cấp ủy Đảng khắc phục được bệnh quan liêu, chủ quan duy ý chí trong quá trình lãnh đạo. Nếu Đảng làm tốt công tác kiểm tra, giám sát sẽ ngăn chặn được sự chia rẽ, tình trạng mất đoàn kết, các biểu hiện vô tổ chức, vô kỷ luật và đảm bảo cho nguyên tắc tập trung dân chủ được tuân thủ nghiêm túc, góp phần giáo dục, bảo vệ, nâng cao uy tín đội ngũ cán bộ, đảng viên.Để phát huy vai trò, tác dụng kiểm tra, giám sát trong từng thời kỳ, tùy theo tình hình, yêu cầu của nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng đảng mà Đảng ta đề ra những quan điểm, nhiệm vụ, nội dung, biện pháp trong chỉ đạo toàn Đảng tiến hành công tác kiểm tra, giám sát nhằm làm cho công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng ngày càng được đổi mới, hoàn thiện, phù hợp, nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả đáp ứng được yêu cầu do thực tiễn đặt ra. Trong giai đoạn hiện nay, đứng trước những yêu cầu đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, công tác xây dựng đảng bên cạnh những kết quả đạt được còn bộc lộ những mặt hạn chế yếu kém, chưa ngang tầm với yêu cầu của thời kỳ mới. Trong đó, chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của ủy ban kiểm tra các cấp còn nhiều hạn chế, bất cập, do nhiều tổ chức đảng vẫn còn nhận thức chưa đầy đủ vai trò, vị trí, ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, nhất là trong quá trình thực hiện nhiệm vụ công tác kiểm tra, giám sát theo các quy định của Đảng và trong việc thực hiện chức năng tham mưu về cấp ủy về kiểm tra, giám sát.Từ thực tế đó, cùng với việc tự đổi mới, chỉnh đốn đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng phải đồng thời tiến hành nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát. Chính vì vậy, nhất là từ sau Nghị quyết Trung ương 5 khóa X của Đảng, việc tuyên truyền, học tập, nghiên cứu, nắm vững và tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, giám sát của Đảng là vấn đề được các cấp, các ngành và cán bộ, đảng viên quan tâm và công tác kiểm tra, giám sát ngày càng giữ vị trí, vai trò quan trọng trong công tác xây dựng đảng. Vì vậy tôi chọn đề tài: “Quan điểm của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát” làm tiểu luận cho môn học: hệ thống quan điểm đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam
Xem thêm

22 Đọc thêm

tieu luan NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SINH HOẠT CHI bộ ĐẢNG TRƯỜNG TIỂU học KIM sơn, TRỰC THUỘC ĐẢNG bộ KIM sơn

tieu luan NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SINH HOẠT CHI bộ ĐẢNG TRƯỜNG TIỂU học KIM sơn, TRỰC THUỘC ĐẢNG bộ KIM sơn

1. Lý do chọn đề tài Trong văn kiện của Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XI, phần “Xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng” đã đánh giá trong công tác xây dựng Đảng đang nổi lên một số vấn đề, trong đó có nêu: “Trong công tác xây dựng Đảng, bên cạnh những ưu điểm, đang nổi lên một số mặt yếu kém và khuyết điểm, nhất là khuyết điểm về công tác giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên, chưa ngăn chặn và đẩy lùi được sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống. Một số tổ chức Đảng ở các cấp chưa được chỉnh đốn; dân chủ bị vi phạm, kỷ luật, kỷ cương lỏng lẻo, nội bộ không đoàn kết. Công tác tư tưởng, công tác lý luận còn yếu kém, bất cập. Công tác tổ chức, cán bộ còn một số biểu hiện trì trệ. Tổ chức chỉ đạo thực hiện các nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước còn yếu”. Để khắc phục tình trạng trên nhằm đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Đại hội IX cũng đã chỉ ra là “Trong những năm tới, toàn Đảng phải tiếp tục thực hiện có hiệu quả các nghị quyết về xây dựng Đảng, nhất là Nghị quyết Trung Ương 6 (lần 2) khóa VIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng”. Một trong các giải pháp nhằm tiếp tục thực hiện cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng với quyết tâm và nỗ lực cao hơn, tạo chuyển biến cơ bản trên cả ba mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức là: “Thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ tự phê bình và phê bình trong Đảng”. Nâng cao nhận thức thống nhất trong Đảng về nguyên tắc tập trung dân chủ. Xây dựng và bổ sung các quy định, quy chế thực hiện nguyên tắc này. Cụ thể hóa nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; chế độ trách nhiệm của người đứng đầu; quy định cụ thể về bảo lưu ý kiến, bảo đảm cho người có ý kiến bảo lưu được phát biểu đầy đủ trong tổ chức Đảng và một số cơ quan lý luận thích hợp. Giữ vững chế độ sinh hoạt định kỳ của các tổ chức Đảng, mở rộng dân chủ, khuyến khích tranh luận thẳng thắn; tôn trọng, tập hợp và xem xét để tiếp thu hết ý kiến đúng đắn của các cấp ủy viên và đảng viên trước khi quyết định... Khi có ý kiến khác nhau phải thảo luận kỹ, đối với những vấn đề quan trọng phải biểu quyết; khi cần, phải điều tra, khảo sát, làm thí điểm rồi kết luận. Khi đã có kết luận thì mọi người phải nói và làm theo kết luận; đảng viên có ý kiến thuộc về thiểu số có quyền báo cáo lên cấp trên.” Để thực hiện tốt vấn đề nêu trên, Đại hội IX cũng đã chỉ ra việc phải làm là: “Xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở Đảng. Tất cả các Đảng bộ, chi bộ đều phải phấn đấu thực hiện đúng chức năng là hạt nhân lãnh đạo chính trị ở cơ sở. Các cấp ủy viên cấp trên phải tập trung chỉ đạo và củng cố các Đảng bộ, chi bộ yếu kém, kịp thời kiện toàn cấp ủy và tăng cường cán bộ ở những nơi có nhiều khó khăn, nội bộ mất đoàn kết. Nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp ủy, chi bộ. Phân công, hướng dẫn, kiểm tra đảng viên chấp hành nhiệm vụ, phát huy vai trò tiên phong gương mẫu; giữ mối liên hệ với quần chúng ở nơi công tác, với chi bộ và nhân dân nơi cư trú. Phát triển đảng viên theo đúng tiêu chuẩn. Đổi mới việc phân tích, đánh giá chất lượng các tổ chức cơ sở Đảng và đảng viên.”. Từ những nhận định đúng đắn nêu trên của Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX, đối chiếu với thực tế hoạt động của các chi bộ Đảng nói chung và chi bộ Đảng trường Tiểu học Kim Sơn nói riêng, đặc biệt là việc sinh hoạt của chi bộ, tôi nhận thấy nhiều vấn đề cần phải nghiên cứu, làm rõ và bổ sung về nội dung sinh hoạt của chi bộ. Qua học tập nghiên cứu lý luận chủ nghĩa MácLê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối chủ trương chính sách mới của Đảng và Nhà nước tại lớp Trung cấp lý luận chính trị Hành chính, tôi lựa chọn đề tài: “NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SINH HOẠT CHI BỘ ĐẢNG TRƯỜNG TIỂU HỌC KIM SƠN, TRỰC THUỘC ĐẢNG BỘ KIM SƠN ” làm đề tài tiểu luận tốt nghiệp với mong muốn sử dụng các kiến thức đã được học để giải quyết vấn đề nêu trên.
Xem thêm

Đọc thêm

Cùng chủ đề