NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN VÀ NÔNG DÂN

Tìm thấy 7,448 tài liệu liên quan tới từ khóa "NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN VÀ NÔNG DÂN":

Báo cáo thực tập Nâng cao hoạt động cho vay lĩnh vực nông nghiệp nông thôn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh

BÁO CÁO THỰC TẬP NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG CHO VAY LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HUYỆN YÊN PHONG TỈNH BẮC NINH

Trong cơ cấu kinh tế của nước ta thì nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn và là một ngành luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm hàng đầu bằng sự đầu tư về mọi mặt, đưa nền nông nghiệp nước nhà phát triển cả về số lượng cũng như chất lượng. Vì thế, việc xây dựng và phát triển nông nghiệp và nông thôn là một trong những mục tiêu nhằm nâng cao và ổn định đời sống của người nông dân, góp phần làm thay đôi bộ mặt nông thôn Việt Nam. Được sự chỉ đạo của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, trong nhiều năm qua Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh luôn đóng vai trò quan trọng trong việc cấp vốn vay cho mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của địa phương, giúp các hộ nông nghiệp nông thôn trên địa bàn được tiếp cận vốn và dịch vụ của ngân hàng, chính điều này đã góp phần đưa kinh tế nông nghiệp tiếp tục chuyển đổi cơ cấu kinh tế, tạo ra nhiều việc làm, thêm nhiều ngành nghề mới, tăng thu nhập, nâng cao mức sống cho người dân.
Xem thêm

66 Đọc thêm

LUẬN VĂN GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN VN

LUẬN VĂN GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN VN

LI M UNông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất quan trọng trong nền kinh tếquốc dân của mỗi nớc. ở Việt Nam nông nghiệp giữ vị trí đặc biệt quan trọng vìnhiều lẽ: gần 80% dân số sống ở nông thôn, nguồn sống chính dựa vào nôngnghiệp; trong cơ cấu kinh tế quốc dân, GDP do nông nghiệp tạo ra vẫn chiếm vịtrí quan trọng; trên 50% giá trị xuất khẩu là từ nông sản, thủy sản. Sự tăng trởngcủa nông nghiệp có tác động lớn đến quy mô và tốc độ tăng trởng kinh tế quốcdân nói chung. Song muốn có tăng trởng, phải có đầu t thoả đáng. Nhiều họcthuyết kinh tế hiện đại đã kết luận rằng: đầu t là chìa khoá trong chiến lợc pháttriển kinh tế quốc dân nói chung, kinh tế ngành nói riêng của mỗi nớc. Một nềnkinh tế muốn giữ tốc độ tăng trởng trung bình, ổn định thì nhất thiết phải đảmbảo tỷ lệ đầu t trên GDP thoả đáng. Quan hệ này đối với nông nghiệp vẫn làchuẩn mực. Không có đầu t thoả đáng thì không có tốc độ tăng trởng mongmuốn, dù có các yếu tố về cơ chế chính sách, thị trờng và các yếu tố tinh thầnkhác. Từ trớc tới nay, nông nghiệp nớc ta luôn gắn với hình ảnh nông thôn. Hiệnnay, tuy bộ mặt xã hội đang thay đổi từng ngày thì hình ảnh đó vẫn nh vậy, mộtphần có nguyên nhân từ việc khoa học kỹ thuật lạc hậu nên chúng ta cha cónhững vùng sản xuất nông nghiệp kỹ thuật cao để tách ra khỏi hình ảnh nôngthôn. Chính mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ này mà nhiệm vụ phát triển nôngnghiệp không thể tách rời khỏi phát triển nông thôn.Trong những năm qua Đảng và Nhà nớc đã rất quan tâm, chú trọng đếnđầu t phát triển nông nghiệp, nông thôn và đã đạt đợc những thành tựu lớn trongsản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn. Bên cạnh những thành tựuđó vẫn còn nhiều vấn đề nổi cộm cần đợc phân tích và có giải pháp cụ thể. Vìvậy em mạnh dạn chọn đề tài: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quảđầu t phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam .Trong quá trình làm đề tài do trình độ và thời gian có hạn do vậy khôngthể tránh khỏi những thiếu xót. Rất mong thầy cô xem xét, góp ý để đề tài củaem đợc hoàn chỉnh hơn.Em xin chân thành cảm ơn!
Xem thêm

44 Đọc thêm

giáo trình quản lý nhà nước về nông nghiệp nông thôn

giáo trình quản lý nhà nước về nông nghiệp nông thôn

GIÁO TRÌNH QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN Hệ đào tạo: Cử nhân hành chính CHƯƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN I. Một số khái niệm 1. Khái niệm về nông thôn Các quốc gia trên thế giới trong quá trình phát triển đều phân các vùng lãnh thổ của mình thành hai khu vực là đô thị và nông thôn. Các nhà xã hội học đã đưa ra một số tiêu chí phân biệt khu vực nông thôn và khu vực đô thị như thành phần xã hội của dân số, các di sản văn hóa, sự phồn thịnh, sự phân hóa xã hội dân cư, mức độ phức tạp của cấu trúc và đời sống xã hội, cường độ và sự đa dạng của mối liên hệ xã hội,… Sự khác nhau căn bản giữa nông thôn và đô thị được phản ánh rõ nét trong những nguyên lý của xã hội học nông thôn đô thị. Trong đó những tiêu chí quan trọng giúp việc phân biệt khu vực nông thôn và khu vực đô thị bao gồm: sự khác nhau về nghề nghiệp, về môi trường, quy mô cộng đồng, mật độ dân số, tính hỗn tạp và thuần nhất của dân số, hướng di cư, sự khác biệt xã hội và phân tầng xã hội, hệ thống tương tác trong từng vùng (phụ lục 1). Khái niệm về nông thôn khác nhau ở mỗi quốc gia, nó phụ thuộc vào từng thời kỳ lịch sử và tiến trình phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia khác nhau trên thế giới. Ở những nước đang phát triển, việc phân biệt nông thôn với đô thị chưa thể tách bạch hoàn toàn, một số nơi khu vực nông thôn diễn ra quá trình đô thị hóa nhanh chóng nhưng vẫn còn có sự xen lẫn về đất đai, địa bàn dân cư và các hoạt động kinh tế xã hội (VD: ở các thị tứ, thị trấn). Hiện nay trên thế giới vẫn chưa có định nghĩa chuẩn xác về nông thôn, còn nhiều quan điểm khác nhau. Có quan điểm cho rằng cần dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng, có nghĩa vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng không phát triển bằng vùng đô thị. Quan điểm khác lại cho rằng nên dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trường và phát triển hàng hóa (so với đô thị là thấp hơn). Cũng có ý kiến, nên dùng chỉ tiêu mật độ dân cư và số lượng dân trong vùng để xác định, vùng nông thôn thường có số dân và mật độ dân thấp hơn vùng đô thị. Một quan điểm khác lại nêu ra, vùng nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp là chủ yếu, nguồn sinh kế chính của cư dân trong vùng là từ sản xuất nông nghiệp. Những ý kiến trên chỉ đúng khi đặt trong bối cảnh cụ thể của từng nước, phụ thuộc vào trình độ phát triển, cơ cấu kinh tế, cơ chế áp dụng cho từng nền kinh tế. Đối với những nước đang thực hiện công nghiệp hóa, đô thị hóa, chuyển từ sản xuất thuần nông sang phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ, xây dựng các khu đô thị nhỏ, thị trấn rải rác ở các vùng nông thôn thì khái niệm về nông thôn có những đổi khác so với khái niệm trước đây, có thể hiểu nông thôn hiện nay bao gồm cả những thị trấn, đô thị nhỏ, những trung tâm công nghiệp nhỏ có quan hệ gắn bó mật thiết với nông thôn, cùng tồn tại hỗ trợ và thúc đẩy nhau phát triển. Vì thế, trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, nếu nhìn nhận dưới góc độ quản lý có thể đưa ra khái niệm về nông thôn như sau: Nông thôn: Là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông dân. Tập hợp này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác. Vùng nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp là chủ yếu, mật độ dân cư thấp có tinh thần đoàn kết gắn bó tính cộng đồng cao, nhưng số đông có trình độ văn hóa thấp và lối sống còn mang tính tự do, tùy tiện. Bên cạnh dân cư làm nông nghiệp là chủ yếu, khu vực nông thôn còn có các làng nghề, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ nông thôn tạo nên kinh tế nông thôn Tóm lại: Nông thôn là địa bàn để người nông dân sinh sống và phát triển, là một bộ phận quan trọng cấu thành xã hội, đặc biệt là đối với các quốc gia có sản xuất nông nghiệp là nền tảng như Việt Nam. Nông thôn Việt Nam có chức năng chính: sản xuất, cung ứng nông phẩm cho xã hội và giữ bản sắc văn hoá truyền thống dân tộc và đảm bảo môi trường sinh thái. Cho nên, phát triển nông thôn là một tất yếu đặt ra trong giai đoạn hiện nay và mai sau. 2. Phát triển nông thôn Phát triển nông thôn là một phạm trù rộng được nhận thức với rất nhiều quan điểm khác nhau. Đã có nhiều nghiên cứu và triển khai ứng dụng thuật ngữ này ở các quốc gia trên thế giới. Ở Việt Nam, thuật ngữ phát triển nông thôn được đề cập đến từ lâu và có sự thay đổi về nhận thức qua các thời kỳ khác nhau. Phát triển nông thôn là một tổ hợp các hoạt động đa dạng, liên quan đến nhiều ngành, nhiều chính sách và hoạt động có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến khu vực nông thôn và đời sống của người dân nông thôn trên các mặt như: kinh tế nông thôn, xã hội nông thôn, điều kiện tự nhiên và môi trường nông thôn. Tuy nhiên, phát triển nông thôn chỉ có thể thực hiện hiệu quả một cách dài hạn nếu phạm vi khuôn khổ và chính sách rõ ràng và được thực hiện trên phạm vi toàn quốc. Hơn nữa, Là thành thành viên chính thức của WTO, đòi hỏi Việt nam phải hòa hợp với các hiệp định quốc tế và phải điều chỉnh để trở thành thành viên năng động của nền kinh tế toàn cầu. Khi tiến hành điều chỉnh cho phù hợp với một nền kinh tế mở, nhiều nhóm trong xã hội có khả năng sẽ không được hưởng lợi từ lợi ích kinh tế (đặc biệt tập trung ở khu vực nông thôn). Vì vậy, chúng ta phải phát triển nông thôn nhằm mục đích: Sản xuất được nhiều nông sản và sản phẩm hàng hóa, chất lượng sản phẩm và năng suất lao động cao, xuất khẩu tăng, tích lũy tái sản xuất mở rộng không ngừng. Cải thiện đời sống cho phần lớn dân chúng nông thôn: Đời sống của dân cư nông thôn không ngừng được nâng cao, trình độ học vấn được tăng lên, phát huy được những truyền thống tốt đẹp của cộng đồng nông thôn, thực hiện được dân chủ công bằng, văn minh xã hội và giảm đáng kể các tệ nạn xã hội. Tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học được bảo vệ và phát triển bền vững, giữ được cảnh quan và môi trường sinh thái nông thôn. Phát triển nông thôn nhằm mục đích giảm thiểu các tác động tiêu cực của quá trình toàn cầu hóa đến nhóm người dân dễ bị tổn thương (ở khu vực nông thôn thì nhóm người này chính là nông dân) Giảm đáng kể những thiệt hại do biến đổi khí hậu tác động đến nông nghiệp, nông thôn. Với những mục đích như trên chúng ta có thể khái niệm phát triển nông thôn như sau: Phát triển nông thôn: là một quá trình tất yếu cải thiện một cách bền vững về kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng sống của dân cư nông thôn. Quá trình này, trước hết chính là do người dân nông thôn với sự hỗ trợ của nhà nước và các tổ chức khác. Phát triển nông thôn sẽ thành công khi chính người dân nông thôn tham gia tích cực vào quá trình phát triển đó. Chính quyền các cấp phải nhận thức đầy đủ, nghiêm túc về phát triển nông thôn toàn diện, bền vững; xây dựng đề án phát triển nông thôn phải có sự tham gia của cộng đồng để lôi cuốn người dân vào tiến trình phát triển một cách có ý thức chủ động, năng động, làm sao để người dân thật sự là trung tâm của sự phát triển, là chủ thể của quá trình phát triển, họ vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển; Chính phủ và ngành nông nghiệp PTNT phải có chủ trương để khuyến khích được đội ngũ cán bộ khuyến nông tham gia vào công tác phát triển nông thôn mới như là một thành phần quan trọng hỗ trợ cho sự nghiệp phát triển cộng đồng trong hiện tại và tương lai lâu dài. Theo FAO: “Khuyến nông là cách đào tạo và rèn luyện tay nghề cho nông dân, đồng thời giúp họ hiểu được những chủ trương, chính sách về nông nghiệp, những kiến thức về kỹ thuật, kinh nghiệm về quản lý kinh tế, những thông tin thị trường, để họ có đủ khả năng tự giải quyết các vấn đề của gia đình và cộng đồng nhằm đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống, nâng cao dân trí góp phần xây dựng và phát triển nông thôn mới”
Xem thêm

Đọc thêm

ĐỔI MỚI CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH TRÊN SÓNG CỦA ĐÀI PHÁT THANH VÀ TRUYỀN HÌNH THANH HÓA ĐÁP ỨNG NHU CẦU CÔNG CHÚNG NÔNG THÔN

ĐỔI MỚI CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH TRÊN SÓNG CỦA ĐÀI PHÁT THANH VÀ TRUYỀN HÌNH THANH HÓA ĐÁP ỨNG NHU CẦU CÔNG CHÚNG NÔNG THÔN

1. Lý do chọn đề tài 1.1. Vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam là một nước nông nghiệp, dân cư sinh sống ở nông thôn hiện nay chiếm tỉ lệ tương đối lớn (theo Tổng Cục Thống Kê, Điều tra Lao động và việc làm Việt Nam năm 2011 là 70,3%). Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở Việt Nam luôn được Đảng và Nhà nước hết sức coi trọng trong các giai đoạn phát triển của cách mạng Việt Nam. Đó là vì nông dân là một lực lượng quan trọng của cách mạng và hiện còn đang chiếm tỷ lệ lớn trong dân số. Đồng thời, nông nghiệp, nông dân Việt Nam luôn khẳng định vai trò đóng góp hết sức to lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước. Nông nghiệp đã mở đường trong quá trình đổi mới, tạo nền tảng, động lực cho tăng trưởng kinh tế và là nhân tố quan trọng bảo đảm sự ổn định kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước. Đến nay, mặc dù sau 25 đổi mới, kinh tế nước ta đã phát triển khá toàn diện, song sản phẩm nông nghiệp vẫn là những sản phẩm chủ yếu thể hiện sự hội nhập của nền kinh tế Việt Nam với thế giới. Quả thực, vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân có ý nghĩa quan trọng trong chiến lược ổn định và phát triển lâu dài của nền kinh tế xã hội. Sự phát triển của nông nghiệp, sự biến đổi theo hướng văn minh ở nông thôn và sự trưởng thành của người dân đã, đang và sẽ tác động mạnh mẽ đến quá trình ổn định và phát triển kinh tế xã hội của nông thôn nói riêng và của đất nước nói chung.
Xem thêm

126 Đọc thêm

Luận văn thạc sỹ kinh tế: Phát triển kinh tế nông thôn Việt Nam trong quá trình CNH HĐH

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ: PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG THÔN VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH CNH HĐH

1. Tính cấp thiết của đề tàiĐối với nước ta, kinh tế nông thôn có vị trí rất quan trọng trong nền KTQD; đó là khu vực kinh tế chiếm hơn 73% dân số, hơn 55,7% lực lượng lao động xã hội, đóng góp 20,36% GDP( ) của đất nước.Trong quá trình thực hiện CNH HĐH, kinh tế nông thôn nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn: Nông nghiệp, ngành kinh tế chủ yếu của KTNT, đang chuyển mạnh sang sản xuất hàng hoá và vẫn duy trì được tốc độ phát triển bình quân 4 4,5%năm. Từ một nước thiếu ăn, nông nghiệp không chỉ đảm bảo an ninh lương thực quốc gia mà còn tạo cho nước ta vươn lên thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Kim ngạch xuất khẩu nông lâm ngư nghiệp liên tục tăng trưởng ở mức bình quân 16,8%năm. Kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội nông thôn được tăng cường đáng kể đã làm thay đổi bộ mặt nông thôn các vùng quê. Đời sống của đại bộ phận cư dân nông thôn đã được nâng lên cả tinh thần và vật chất. Công cuộc xoá đói, giảm nghèo đạt thành tựu to lớn, được thế giới đánh giá cao…Tuy nhiên, đứng trước yêu cầu phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, kinh tế nông thôn nước ta đang bộc lộ những mặt yếu kém, nổi bật như: Nông nghiệp phát triển kém bền vững, sức cạnh tranh thấp, chuyển dịch cơ cấu và ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, công nghệ tiên tiến còn hạn chế, phổ biến vẫn là sản xuất nhỏ, phân tán. Công nghiệp, dịch vụ nông thôn phát triển chậm, thiếu quy hoạch, quy mô nhỏ, chưa thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động ở nông thôn. Các hình thức tổ chức sản xuất chậm đổi mới, chưa đáp ứng được yêu cầu giải phóng nguồn lực thúc đẩy sản xuất hàng hoá ở nông thôn. Kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội còn yếu kém, ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng, năng lực thích ứng, đối phó với thiên tai còn thấp. Đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn tuy có được nâng lên nhưng vẫn ở mức thấp, chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng còn lớn và ngày càng cách xa đang là những vấn đề bức xúc lớn trong xã hội…Những mâu thuẫn, yếu kém trên không chỉ ảnh hưởng tới các mục tiêu CNH HĐH mà còn có nguy cơ gây mất ổn định xã hội và chính trị trong tương lai.Vậy nguyên nhân nào đã dẫn đến những mâu thuẫn yếu kém đó? KTNT nước ta sẽ vận động, phát triển ra sao trong quá trình CNH HĐH với bối cảnh hội nhập? giải pháp nào để hạn chế, giảm thiểu các mâu thuẫn, yếu kém; đảm bảo cho KTNT nước ta phát triển bền vững, đáp ứng các mục tiêu CNH HĐH đến năm 2020 (khi nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp). Đó đang là những vấn đề rất cần được lý giải hệ thống cả về lý luận và thực tiễn. Đó cũng là lý do để tác giả chọn đề tài: “Phát triển kinh tế nông thôn Việt Nam trong quá trình CNH HĐH” là luận văn Thạc sỹ kinh tế của mình với mong muốn đóng góp một phần vào giải quyết những vấn đề trên.2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tàiCho đến nay, trên lĩnh vực nông nghiệp nông thôn đã có nhiều tác giả nghiên cứu và đã công bố kết quả ở các cấp độ khác nhau như: Phát triển nền nông nghiệp hàng hoá định hướng XHCN ở Việt Nam của Tiến sỹ Phạm Văn Huỳnh. Con đường CNH HĐH nông nghiệp nông thôn tập hợp bài viết của nhiều tác giả do Ban tư tưởng văn hoá Trung ương phát hành. Đề tài phát triển nông thôn Việt Nam từ làng xã truyền thống đến văn minh thời đại của nhóm tác giả GS.TS Vũ Trọng Khải, TS Đỗ Thúc Đồng và TS. Phạm Bích Hợp. CNH từ nông nghiệp của TS. Đặng Kim Sơn. Nông nghiệp Nông dân nông thôn là vật cản hay động lực cho tăng tốc CNH của TS. Đặng Kim Sơn Về Nông dân và chính sách với nông dân thời kỳ CNH HĐH của Nguyễn Văn Tâm. Đổi mới quản lý ở cấp huyện xã đối với nông nghiệp nông thôn của TS. Chu Tiến Quang. Đầu tư vào Nông nghiệp, nông thôn thực trạng và định hướng của TS. Chu Tiến Quang.Các đề tài khoa học và công trình nghiên cứu đều đề cập đến và giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình CNH HĐH nông nghiệp nông thôn nhưng thường là những vấn đề lý luận chung hoặc những khía cạnh hẹp về quan hệ sản xuất trong nông nghiệp, quan điểm về nông nghiệp định hướng XHCN hoặc yếu tố văn hoá trong phát triển nông thôn, đổi mới hình thức quản lý trong nông nghiệp … chưa có công trình nào lý giải được hệ thống và toàn diện các vấn đề nêu ở trên.Vì vậy, Đề tài này tác giả muốn kế thừa các thành quả nghiên cứu của các tác giả, kết hợp nghiên cứu từ thực tiễn và kinh nghiệm từ các quốc gia đã tiến hành CNH HĐH đối với nông nghiệp nông thôn để lý giải rõ hơn các mâu thuẫn ở nước ta và kiến nghị một số giải pháp hữu ích cho giải quyết các mâu thuẫn đó. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Đề tài tập trung làm rõ sự phát triển của KTNT trong thời kỳ đẩy mạnh CNH HĐH (2000) đến nay. Đề xuất những giải pháp thúc đẩy tiến trình phát triển KTNT đến năm 2020 khi nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp.4. Mục đích nghiên cứu.Trên cơ sở phân tích thực trạng KTNT dưới tác động của quá trình CNH HĐH để làm rõ những mặt tích cực và tiêu cực của tác động này trong điều kiện nước ta. Đồng thời phân tích nguyên nhân của những mâu thuẫn phát sinh, rút ra tính phổ biến của sự vận động của KTNT trong quá trình CNH HĐH, nhằm tạo cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc đề ra các chính sách, giải pháp để khắc phục.Đề xuất một số giải pháp chủ yếu có tính đột phá để thúc đẩy tiến trình CNH HĐH nông nghiệp nông thôn. Đảm bảo cho KTNT phát triển mạnh hơn và bền vững, đạt được các mục tiêu của CNH HĐH mà Đảng đã đề ra.5. Phương pháp nghiên cứu. Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mac Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các văn kiện từ Đại hội Đảng lần thứ IV đến Đại hội Đảng lần thứ X. Đề tài cũng sử dụng một số luận điểm của một số tác giả trong và ngoài nước được đăng trên các tạp chí, báo và công trình khoa học đã công bố.Số liệu sử dụng trong Đề tài chủ yếu sử dụng tài liệu đã công bố của Tổng cục Thống kê, các báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các Bộ, ngành có liên quan, báo cáo của các địa phương trong quá trình thực hiện CNH HĐH.Về phương pháp nghiên cứu: Ngoài phương pháp phổ biến trong nghiên cứu khoa học xã hội, tác giả còn sử dụng một số phương pháp khác như: Khảo sát thực tiễn ở một số địa phương; tổng hợp phân tích thống kê; hội thảo phục vụ cho việc luận giải, chứng minh cho các nội dung mà tác giả đã nêu trong Đề tài.6. Những đóng góp mới về khoa học. Hệ thống hoá các tác động tích cực và hệ quả tiêu cực có tính phổ biến của quá trình CNH HĐH đối với nông nghiệp nông thôn.Phân tích các nguyên nhân dẫn đến những hệ quả tiêu cực trên. Qua đó đề xuất hệ thống giải pháp chủ yếu để hạn chế tác động tiêu cực, thúc đẩy quá trình CNH HĐH nông nghiệp nông thôn tăng tốc hơn nhưng vẫn đảm bảo cho kinh tế nông thôn phát triển bền vững, đáp ứng được các mục tiêu của CNH HĐH trong bối cảnh hội nhập.7. Kết cấu của luận văn bao gồm các phần chính sau Mở đầu Chương 1. Những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế nông thôn Việt Nam trong quá trình CNH, HĐH. Chương 2. Thực trạng kinh tế nông thôn nước ta dưới tác động của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá từ 2001 2007. Chương 3. Định hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế nông thôn trong tiến trình công nghiệp hoá hiện đại hoá. Kết luận Danh mục tài liệu tham khảo.
Xem thêm

119 Đọc thêm

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ TRỰC ĐẠI, HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ TRỰC ĐẠI, HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH

Trước tình hình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vàhội nhập kinh tế toàn cầu, cần có những chính sách cụ thể mang tính đột phánhằm giải quyết toàn bộ các vấn đề của nền kinh tế. Đáp ứng yêu cầu nàyNghị quyết của Đảng về nông nghiệp, nông thôn đi vào cuộc sống, đẩy nhanhtốc độ CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn, việc cần làm trong giai đoạn hiệnnay là xây dựng cho được các mô hình nông thôn mới đủ đáp ứng yêu cầuphát huy nội lực của nông dân, nông nghiệpnông thôn, đủ điều kiện hộinhập nển kinh tế thế giới. Thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về“Nông nghiệp, nông dânnông thôn”, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành“Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới” (Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày16/4/2009) và “Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới” tạiQuyết định số 800/QĐ-TTg ngày 06/4/2010 nhằm thống nhất chỉ đạo việc xâydựng nông thôn mới trên cả nước. Cùng với quá trình thực hiện chủ trươngcủa Đảng về phát triển nông thôn, xã Trực Đại đã tiến hành xây dựng mô hìnhnông thôn mới xây dựng làng, xã có cuộc sống no đủ, văn minh, môi trườngtrong sạch.Footer Page 3 of 133.Header Page 4 of 133.Từ năm 2011, xã Trực Đại đã triển khai áp dụng hoạt động nông thônmới của chính phủ và đạt được một số thành tựu đáng kể trong phát triểnnông nghiệp ở địa phương, nếp sống, mức sống, thu nhập tăng cao so vớinhững thời kỳ trước. Người dân đã áp dụng khoa học kĩ thuật vào trồng trọtchăn nuôi. Đời sống người dân đã được nâng cao cả về vật chất lẫn tinh thần,bộ mặt làng xã đã thay đổi rõ rệt, cảnh quan môi trường được đảm bảo hơn.Mặc dù đã có nghị quyết hướng dẫn thi hành, nhưng vẫn còn nhiều bất cập ởcấp xã cần được giải quyết. Do đó tôi chọn nghiên cứu đề tài: “ Đánh giá kết
Xem thêm

Đọc thêm

ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG của dồn điền đổi THỬA đến HIỆU QUẢ sử DỤNG đất NÔNG NGHIỆP tại HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH PHÚ THỌ

ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA ĐẾN HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH PHÚ THỌ

Họ c viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, không thể thay thế của sản xuất nông nghiệp. Trong lịch sử phát triển nông nghiệp, cải cách ruộng đất luôn là khâu bứt phá quyết định mọi quan hệ sản xuất và ảnh hưởng rõ rệt nhất đến quá trình phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Có thể nói đất đai cần thiết cho tất cả các ngành kinh tế quốc dân. Tuy nhiên tài nguyên đất đai có hạn. Bởi vậy việc quản lý, sử dụng đất đai hợp lý, hiệu quả và bền vững là một đòi hỏi cấp thiết không chỉ riêng đối với quốc gia nào. Trong công cuộc cải cách kinh tế nông nghiệp nông thôn những năm trước đây, Đảng và Nhà nước ta đã có hàng loạt những chính sách mới về đất đai nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, giải quyết vấn đề lương thực của cả nước, trong đó điển hình là Luật đất đai năm 1993. Nghị định số 64CP ngày 2791993 của Chính phủ “Ban hành bản quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụ ng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp”. Theo đó ruộng đất được chia đến tận tay người nông dân. Những chính sách mới về quyền sử dụng đất đai đã làm thay đổi hoàn toàn quan hệ sản xuất ở nông thôn, người nông dân đã thực sự trở thành người chủ mảnh đất của riêng mình. Đó là động lực cho sự phát triển vượt bậc của nền nông nghiệp nước ta sau giải phòng miền Nam. Điều đó đã đưa Việt Nam từ một nước hàng năm phải nhập khẩu một lượng lớn lương thực, vươn lên thành một nước xuất khẩu lớn trên thế giới về một số mặt hàng nông sản như: gạo, cà phê, chè, hạt tiêu, thuỷ sản… Vai trò to lớn của sự phân chia ruộng đất cho hộ nông dân như nói trên là không thể phủ nhận. Song với bối cảnh ngày nay, đất nước đang trên đà phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trong môi trường hội nhập kinh tế quốc tế, ngành nông nghiệp không những có nhiệm vụ quan trọng là đảm bảo an ninh lương thực quốc gia mà còn phải đảm bảo tối đa nguyên liệu cho ngành công nghiệp, tăng khối lượng nông sản xuất khẩu. Như vậy đòi hỏi chúng ta phải xây dự ng được một nền sản xuất nông nghiệp hàng hoá, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ
Xem thêm

100 Đọc thêm

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA CHUYÊN ĐỀ “TAM NÔNG” TRÊN BÁO NÔNG THÔN NGÀY NAY

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA CHUYÊN ĐỀ “TAM NÔNG” TRÊN BÁO NÔNG THÔN NGÀY NAY

1. Tính cấp thiết của đề tài “Với khoảng 70% dân số là nông dân, Việt Nam luôn coi trọng những vấn đề liên quan tới nông dân, nông nghiệp và nông thôn. Nền kinh tế Việt Nam trong hơn 20 năm Đổi mới vừa qua (1986 – 2008) đã đạt được những thành tựu phát triển khả quan. Trong lĩnh vực nông nghiệp, các loại nông sản đều tăng, nổi bật nhất là sản lượng lương thực đều tăng với tốc độ cao từ năm 1989 đến nay. Năm 1989 là năm đầu tiên sản lượng lương thực vượt con số 20 triệu tấn, xuất khẩu 1,4 triệu tấn gạo, đạt kim ngạch 310 triệu USD. Đến năm 2007 vừa qua sản lượng lương thực đã đạt đến con số kỷ lục 39 triệu tấn và đã xuất khẩu 4,5 triệu tấn gạo, đạt kim ngạch 1,7 tỷ USD. Trong bài “ Phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở Việt Nam” trên website của Bộ ngoại giao Việt Nam có nhắc tới sự phát triển của nông nghiệp. Trong quá trình lãnh đạo đất nước, với nhận thức sâu sắc về đặc điểm của nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền nông nghiệp lạc hậu, Đảng cộng sản Việt Nam luôn khẳng định tầm quan trọng của nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Sự đột phá đầu tiên về chính sách của Đảng trong thời kỳ đổi mới cũng được khởi đầu từ lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Tiếp sau đó, nhiều nghị quyết của Đảng đã bàn tới vấn đề này, qua đó góp phần bổ sung hoàn thiện hơn quan điểm chỉ đạo của Đảng đối với vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở mỗi giai đoạn phát triển của đất nước. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta tiếp tục đưa ra những quan điểm chỉ đạo đối với vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Đại hội XI đã khẳng định những thành tựu trong phát triển kinh tế xã hội nói chung, những kết quả đạt được của nông nghiệp, nông dân, nông thôn nói riêng và nhấn mạnh: “Sự phát triển ổn định trong ngành nông nghiệp, nhất là sản xuất lương thực đã đảm bảo an ninh lương thực quốc gia. Kinh tế nông thôn và đời sống nông dân được cải thiện hơn trước. Việc tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, đầu tư, phát triển giống mới có năng suất, chất lượng cao, phát triển các cụm công nghiệp, làng nghề, tiểu thủ công nghiệp... đã có tác động tích cực đến việc sản xuất, tạo việc làm và xóa đói, giảm nghèo”. Tuy nhiên, cùng với những thành tựu đạt được, nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta trong giai đoạn hiện nay cũng còn tồn tại nhiều hạn chế và yếu kém. Nghị quyết Đại hội XI của Đảng tiếp tục chỉ rõ: “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn chậm”; “Tình trạng thiếu việc làm còn cao”; “Đời sống của một bộ phận dân cư, nhất là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn. Xóa đói, giảm nghèo chưa bền vững, tình trạng tái nghèo cao. Khoảng cách chênh lệch giàu nghèo còn khá lớn và ngày càng dãn ra. Chất lượng công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe còn thấp, hệ thống y tế và chất lượng dịch vụ y tế chưa đáp ứng được yêu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân, nhất là đối với người nghèo, đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số; hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển chậm, thiếu đồng bộ, đặc biệt đối với khu vực đồng bào dân tộc thiểu số; trình độ phát triển giữa các vùng cách biệt lớn và có xu hướng mở rộng”; môi trường ở nhiều nơi đang bị ô nhiễm nặng; tài nguyên đất đai chưa được quản lý tốt, khai thác và sử dụng kém hiệu quả, chính sách đất đai có mặt chưa phù hợp”. Những quan điểm về vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng là sự khẳng định, bổ sung và tiếp tục phát triển chủ trương, đường lối lãnh đạo đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn được đặt ra từ Nghị quyết Trung ương 7 khóa X của Đảng. Quán triệt sâu sắc và vận dụng hiệu quả những quan điểm chỉ đạo trên của Đảng là cơ sở vững chắc để nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta có những bước phát triển mới.
Xem thêm

97 Đọc thêm

LUẬN văn THẠC sĩ đào tạo, PHỔ cập CHUYÊN môn NGÀNH NGHỀ CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG LĨNH vực NÔNG NGHIỆP ở nước TA HIỆN NAY

LUẬN văn THẠC sĩ đào tạo, PHỔ cập CHUYÊN môn NGÀNH NGHỀ CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG LĨNH vực NÔNG NGHIỆP ở nước TA HIỆN NAY

Trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế ở nước ta, nông nghiệp, nông thôn có vai trò rất quan trọng. Trong nhiều nhiệm kỳ Đại hội, Đảng ta đã xác định rõ vai trò của phát triển nông nghiệp, từ Đại hội V (1982), nông nghiệp được Đảng ta coi là “mặt trận hàng đầu”. Thực hiện quá trình đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước, Đại hội VIII đã xác định CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn là nhiệm vụ trọng tâm trong những năm trước mắt. Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011 2020 do Đại hội XI của Đảng thông qua đã khẳng: “Tiếp tục phát triển và đưa nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp lên một trình độ mới bằng ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ sinh học ... Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cải thiện đời sống nông dân và dân cư ở nông thôn”4, tr....
Xem thêm

Đọc thêm

CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM

CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM

CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM. Phần 1: Chính sách xây dựng nông thôn của các nước trên thế giới 1. Chính sách xây dựng nông thôn ở Thái Lan. Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống với dân số nông thôn chiếm khoảng 80% so với dân số cả nước. Để xây dựng nông thôn và phát triển bền vững nông nghiệp, Thái Lan đã đưa ra một số chính sách: Thứ nhất, chính sách trợ giá nông sản Nhiều ưu đãi về vốn và tăng cường bảo hiểm cho người nông dân được Chính phủ Thái Lan thực hiện; thuế nông nghiệp được bãi bỏ. Chính phủ hỗ trợ các chương trình tiếp thị, tìm kiếm địa chỉ xuất khẩu những sản phẩm sau thu hoạch và chế biến nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho tiêu thụ nông sản thông qua việc đẩy mạnh hình thức hợp đồng “chính phủ với chính phủ”; và đồng bộ hóa các chính sách để bảo đảm tính liên thông từ khâu gieo trồng, sản xuất đến bao tiêu xuất khẩu và giảm rủi ro cho người nông dân. Chính phủ Thái Lan thực hiện trợ giá cho nông dân đối với các nông sản chủ yếu như gạo, cao su, trái cây,… Khi giá thị trường thấp, Chính phủ đã dùng ngân sách bao tiêu nông sản cho nông dân. Việc trợ giá nông sản không chỉ thực hiện ở việc mua nông sản với giá ưu đãi, mà nông dân trồng lúa còn được hưởng những ưu đãi như mua phân bón với giá thấp, miễn cước vận chuyển phân bón, được cung cấp giống mới có năng suất cao, được vay vốn lãi suất thấp từ ngân hàng nông nghiệp,… Ngoài ra, Thái Lan cũng hỗ trợ về giá cho nông dân trồng 5 loại cây chủ lực là sầu riêng, nhãn, vải, măng cụt và chôm chôm. Để thực hiện tốt chính sách hỗ trợ này, Chính phủ Thái Lan sử dụng các chuyên viên cao cấp phụ trách chương trình với nhiệm vụ giám sát từ việc sản xuất, phân phối, chế biến, giá cả cho đến tìm thị trường xuất khẩu mới. Thứ hai, đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới trong nông nghiệp Do diện tích đất nông nghiệp có hạn nên Thái Lan đẩy mạnh phát triển nông nghiệp theo hướng đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhằm cải tạo đất trồng, lai tạo các giống cây trồng mới có khả năng thích ứng với những vùng đất canh tác bạc màu, khô hạn. Để giữ và nâng cao độ phì nhiêu đất nông nghiệp, Thái Lan sử dụng các loại phân bón hữu cơ, phân vi sinh và thuốc trừ sâu sinh học. Thông qua đó, vừa giúp sử dụng quỹ đất hiệu quả, giảm nhập khẩu phân bón và nâng cao xuất khẩu nông sản hữu cơ sạch. Ở Thái Lan hiện nay, mức độ cơ giới hóa đã bao phủ từng thửa ruộng. Ngay cả những khâu sau thu hoạch cũng được cơ giới hóa toàn bộ. Những bí quyết thành công của nông dân Thái Lan chính là sự kết hợp khéo léo giữa kinh nghiệm canh tác truyền thống với việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới. Bởi do điều kiện tự nhiên khác nhau nên nhiều vùng cần phải có những công nghệ và kỹ thuật canh tác đặc thù. “Nút thắt cổ chai” trong việc nâng cao chất lượng nông sản theo hướng phát triển bền vững đã được các nhà khoa học tháo gỡ bằng công nghệ sinh học (công nghệ biến đổi gen, lai tạo giống cây trồng, vật nuôi,...). Thứ ba, chính sách cơ cấu lại công nghiệp nông thôn Chính phủ Thái Lan đã tập trung vào các công việc: Cơ cấu lại ngành nghề phục vụ phát triển công nghiệp nông thôn, xem xét, đánh giá đầy đủ các nguồn tài nguyên, những kỹ năng truyền thông, nội lực, tiềm năng trong lĩnh vực sản xuất và tiếp thị,… Từ đó, tập trung phát triển các ngành mũi nhọn như sản xuất hàng nông sản, thủy sản, hải sản phục vụ xuất khẩu và tiêu dùng trong nước. Công nghiệp chế biến thực phẩm Thái Lan phát triển mạnh nhờ thực hiện một số chương trình hỗ trợ sau: Thực hiện chương trình “Mỗi làng một sản phẩm” (One tambon, One product OTOP), tức là mỗi làng làm ra một sản phẩm tiêu biểu, đặc trưng và có chất lượng cao; chương trình “Quỹ Làng” (Village Fund Program) nghĩa là mỗi làng sẽ nhận được một triệu baht từ Chính phủ cho dân làng vay mượn để phát triển kinh tế xã hội. Trên thực tế đã có trên 75.000 ngôi làng ở Thái Lan được nhận khoản vay này. Chương trình: “Thái Lan là bếp ăn của thế giới” nhằm khuyến khích các nhà chế biến và nông dân có những hành động thiết thực kiểm soát chất lượng vệ sinh thực phẩm, đảm bảo an toàn cho hàng nông sản xuất khẩu và người tiêu dùng. Thứ tư, mở rộng thị trường để thu hút đầu tư mạnh mẽ của nước ngoài cho nông nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến thực phẩm Chính phủ Thái Lan đã có chính sách trợ cấp ban đầu cho các nhà máy chế biến và đầu tư trực tiếp vào các kết cấu hạ tầng như cảng, kho lạnh, sàn đấu giá và đầu tư vào nghiên cứu và phát triển; xúc tiến phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đây là trách nhiệm của Cục xúc tiến Công nghiệp, Cục xúc tiến Nông nghiệp, Cục Hợp tác xã, Cục thủy sản, cơ quan tiêu chuẩn sản phẩm công nghiệp trực thuộc Bộ Công nghiệp và Bộ Nông nghiệp. Thứ năm, đẩy mạnh đào tạo kỹ thuật canh tác, chuyển giao công nghệ cho nông dân Công tác đào tạo kỹ thuật, nâng cao nhận thức cho người nông dân được coi trọng. Nhiều trường đại học, cao đẳng, trung học mở các khóa học tại chỗ về kỹ thuật canh tác, chuyển giao công nghệ nhằm thu hút và nâng cao trình độ nguồn nhân lực nông nghiệp. Thí dụ trường Chulalongkorn (lọt vào top 200 trường đại học hàng đầu thế giới) đã đầu tư thiết bị thí nghiệm hiện đại, hợp tác với chuyên gia từ những nước đi đầu trong nghiên cứu khoa học kỹ thuật nông nghiệp, đồng thời tạo cơ chế đãi ngộ cho nhiều nghiên cứu sinh trẻ sang nghiên cứu tại các trường đại học ở Mỹ, Nhật Bản và châu Âu. Nhờ những hướng đi đúng đắn trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao nên những vùng đất hoang, địa hình đồi núi dốc và cả những vùng khô cằn cũng được khai thác, sử dụng trồng không chỉ có ngô, lúa nương, mà còn trồng được nhiều loại lúa cao sản với năng suất cao. Thứ sáu, chính sách đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm Chính phủ Thái Lan thường xuyên thực hiện chương trình quảng bá vệ sinh an toàn thực phẩm. Năm 2004, Thái Lan phát động chương trình “Năm an toàn thực phẩm và Thái Lan là bếp ăn của thế giới”. Mục đích chương trình này là khuyến khích các nhà chế biến và nông dân có hành động kiểm soát chất lượng vệ sinh thực phẩm để bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Bên cạnh đó, Chính phủ thường xuyên hỗ trợ cho doanh nghiệp cải thiện chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm. Do đó, ngày nay, thực phẩm chế biến của Thái Lan được người tiêu dùng ở các thị trường khó tính, như Hoa Kỳ, Nhật Bản và EU, chấp nhận Thứ bảy, thực hiện bảo hiểm trong nông nghiệp Ở Thái Lan, các sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp dành cho tất cả nông dân và là bắt buộc đối với người vay vốn. Phạm vi bảo hiểm áp dụng cho cây lương thực, cây lấy dầu, cây vườn, cây thương mại hàng năm,... Mức bồi thường nhiều loại cây, con từ 6090% của sản lượng trung bình trong những năm trước. Nguồn kinh phí này được Chính phủ Thái Lan hỗ trợ đáng kể. 2. Chính sách xây dựng nông thôn ở Trung Quốc. Tháng 10 năm 2005 Hội nghị Trung ương 5 khóa 16 của ĐCSTQ đã đề nhiệm vụ chiến lược xây dựng nông thôn XHCN mới, hiện nay đang triển khai. • Văn kiện số 1 năm 2006 thúc đẩy việc xây dựng nông thôn mới bằng các biện pháp sau: • Xây dựng cho việc cung cấp nước sạch, cung cấp năng lượng sạch và xây dung đường nông thôn,
Xem thêm

Đọc thêm

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO VAY HỘ SẢN XUẤT TẠI CHI NHÁNH NHNN & PTNT HUYỆN QUỲNH PHỤ

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO VAY HỘ SẢN XUẤT TẠI CHI NHÁNH NHNN & PTNT HUYỆN QUỲNH PHỤ

1.Tính cấp thiết của đề tài. Trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, từ nền kinh tế hành chính quan liêu bao cấp sang cơ chế hoạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế quốc dân bao gồm nhiều thành phần kinh tế, nhiều ngành nghề với quy mô và trình độ khác nhau, công nghệ khác nhau. Phát triển nông – lâm – ngư nghiệp gắn liền công nghệ chế biến và xây dựng nông thôn mới. Để đưa nền kinh tế nông thôn phát triển ngang tầm nền kinh tế thành thị, từng bước công nghiệp hóa hiện đại hóa trong nông nghiệp. Vì thế việc phát triển và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ hàng đầu, nó có tầm quan trọng trong việc nâng cao và ổn định đời sống của hộ sản xuất nông nghiệp, không ngừng tăng cường và phát triển đời sống mới ở nông thôn. Muốn đạt được mục đích trên trước hết phải chú ý đến nền sản xuất nông nghiệp hiện nay bằng cách trong sản xuất nông nghiệp phải thay đổi cơ cấu và tính chất trong quan hệ sản xuất nông nghiệp, lấy sản xuất hộ nông dân là mặt trận hàng đầu, thông qua việc đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, đẩy mạnh việc phát triển trong chăn nuôi gia súc, gắn liền với việc sản xuất hàng hóa tiêu dùng phải đẩy mạnh sản xuất hàng hóa xuất khẩu, mở rộng kinh tế đối ngoại phát triển kinh tế dịch vụ, đẩy mạnh việc mở rộng và phát triển ngành nghề truyền thống. Từng bước xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng, xây dựng nền công nghiệp nặng với bước đi thích hợp. Ngày 02 tháng 03 năm 1993 Thủ tướng Chính Phủ ra nghị định số 14 ban hành quy định về chính sách cho hộ sản xuất vay vốn để phát triển nông lâm ngư nghiệp và kinh tế nông thôn. Kèm theo nghị định này có những quy định cụ thể về chính sách cho vay hộ sản xuất. Mục đích khai thác hết tiềm năng thế mạnh của từng vùng, sức lao động, năng lực trình độ tổ chức sản xuất tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội, nâng cao đời sống của các hộ sản xuất hết đói nghèo. Tạo điều kiện cho các hộ sản xuất có điều kiện vươn lên làm giàu chính đáng. Để thực hiện thắng lợi đường lối phát triển kinh tế của Đảng, thực hiện nghiêm túc chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ...chính sách cho hộ sản xuất vay vốn để phát triển nông lâm ngư nghiệp và kinh tế nông thôn. Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn dưới sự chỉ đạo của Ngân hàng nhà nước đã tổ chức triển khai tới toàn ngành, việc đầu tư cho các hộ sản xuất có nhu cầu vay vốn để sẩn xuất kinh doanh không phân biệt các thành phần kinh tế. Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chấp nhận khó khăn vì lợi ích kinh tế của đất nước và của ngành đã vượt qua những bước thăng trầm đứng vững lên trong cơ chế thị trường chuyển hướng đầu tư tín dụng về với nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Người nông dân mấy năm qua đã gắn bó, gần gũi, thực sự đã là người bạn đồng hành với ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn. Họ đã tiếp nhận vốn vay và sử dụng có hiệu quả nên thực sự đã hết được nghèo đói, một số hộ đã vượt lên làm giàu chính đáng vì vậy đầu tư vốn cho hộ sản xuất là rất cần thiết, thực sự là ý đảng lòng dân luôn được các cấp các ngành quan tâm giúp đỡ. Chính vì vậy, em chọn đề tài: “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho vay hộ sản xuất tại chi nhánh NHNN & PTNT huyện Quỳnh Phụ”
Xem thêm

58 Đọc thêm

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT CỦA HỘ NÔNG DÂN SAU KHI DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA TẠI HUYỆN VŨ QUANG, TỈNH HÀ TĨNH GIAI ĐOẠN 2005 2013

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT CỦA HỘ NÔNG DÂN SAU KHI DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA TẠI HUYỆN VŨ QUANG, TỈNH HÀ TĨNH GIAI ĐOẠN 2005 2013

Họ c viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong công cuộc cải cách kinh tế nông nghiệp nông thôn những năm trước đây, Đảng và Nhà nước ta đã có hàng loạt chính sách mới về đất đai nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, giải quyết vấn đề lương thực của cả nước, điển hình là Luật đất đai năm 2003, Nghị định số 64CP ngày 2791993 của Thủ tướng chính phủ quy định việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp. Với chính sách mới về quyền sử dụng đất như vậy đã làm thay đổi hoàn toàn quan hệ sản xuất ở nông thôn, người nông dân đã thực sự trở thành người chủ mảnh đất của riêng mình đó là động lực cho sự phát triển vượt bậc của nền nông nghiệp nước ta sau giải phóng miền Nam. Sản xuất nông nghiệp từ tự cung tự cấp sang đa dạng hàng hoá, hướng đến xuất khẩu. Một số hàng hoá đã vươn lên cạnh tranh khá và có vị thế trên thị trường thế giới, đem lại hiệu quả kinh tế cho người nông dân như gạo, cà phê, hạt điều, thuỷ sản…. Việc phân chia ruộng đất cho hộ nông dân như đã nói ở trên là không thể phủ nhận, song với bối cảnh ngày nay, đất nước đang trên đà phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trong môi trường hội nhập kinh tế quốc tế, ngành nông nghiệp không những có nhiệm vụ quan trọng là đảm bảo an ninh lương thực quốc gia mà còn phải đảm bảo tối đa nguyên liệu cho ngành công nghiệp, tăng khối lượng nông sản xuất khẩu. Nhưng sự manh mún ruộng đất đã dẫn đến tình trạng chung là hiệu quả của sản xuất thấp, hạn chế khả năng đổi mới và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, gây nên những khó khăn trong quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên đất. Với mục đích: khắc phục tình trạng ruộng đất manh mún, phân tán hiện nay để có điều kiện thực hiện vùng sản xuất nông nghiệp tập trung, tạo thuận lợi cho việc áp dụ ng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, cơ giới hóa nhằm giảm chi phí sản xuất; nâng cao thu nhập cho người nông dân, góp phần tích cực chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, chuyển dịch cơ cấu lao động trong nông nghiệp. Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, góp phần đẩy nhanh tiến
Xem thêm

87 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG QUY HOẠCH NÔNG NGHIỆP PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

ĐỀ CƯƠNG QUY HOẠCH NÔNG NGHIỆP PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

1. Trình bày khái niệm cơ bản về nông nghiệp và nông thôn Trả lời: a. Khái niệm nông nghiệp Nông nghiệp là ngành sản xuất cơ bản của xã hội Sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi Khai thác cây trồng con vật nuôi để làm tư liệu nguyên liệu chủ yếu tạo ra lương thực thực phẩm đáp ứng nhu cầu con người và một số nguyên liệu cho ngành công nghiệp Theo nghĩa hẹp: NN Trồng trọt và chăn nuôi Theo nghĩa rộng: NN Lâm nghiệp, nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản. b. Khái niệm nông thôn Là một phần lãnh thổ quốc gia hay một đơn vị hành chính nằm ngoài đô thị Là nơi sinh sống tập hợp dân cư chủ yếu là nông dân. Nông dân tham gia vào các hđ KTVHXH MT trong một thể chế nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác. NT ĐT ở chỗ: cộng đồng chủ yếu là nông dân sản xuất chủ yếu là NN, có mật độ dân số thấp hơn, cơ sở hạ tầng kém phát triển hơn, mức độ phúc lợi xã hội kém hơn, trình độ dân trí thấp tiếp cận thông tin và sản xuất hàng hóa kém hơn, môi trường tự nhiên, hoàn cảnh KTXH, đk sống khác biệt so với đô thị. c. Khái niệm XDNTM ở Việt Nam XDNTM là cuộc cách mạng, cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng: Xây dựng thôn xã gđ mình khang trang sạch đẹp. Phát triển sản xuất toàn diện. Có nếp sống văn hóa môi trường an ninh được đảm bảo. Thu nhập, đời sống sản xuất và tinh thần được nâng cao. XDNTM là sự nghiệp của toàn đảng toàn dân và hệ thống chính trị. NTM không chỉ là vấn đề KTXH mà là vấn đề KT CT kết hợp. XDNTM giúp cho nhân dân có niềm tin, tích cực chăm chỉ và đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn giàu đẹp dân chủ văn minh.
Xem thêm

16 Đọc thêm

HỘI NÔNG DÂN TỈNH THANH HOÁ 1986 2014

HỘI NÔNG DÂN TỈNH THANH HOÁ 1986 2014

1. Lí do chọn đề tài Nước ta là một nước nông nghiệp, nông dân chiếm đại đa số trong dân tộc, nông dân là lực lượng sản xuất chính tạo ra của cải vật chất để nuôi sống toàn bộ xã hội. Đồng thời, nông dân Việt Nam vốn có truyền thống yêu nước cách mạng và có sức mạnh vĩ đại trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhất là từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, có đường lối cách mạng và đường lối nông vận đúng đắn, khoa học đã phát huy được sức mạnh của nông dân. Đặc biệt, cũng từ năm 1930 Đảng đã tổ chức một đoàn thể chính trị riêng của nông dân để tổ chức đấu tranh cho nông dân, từ đó phong trào của nông dân chuyển từ đấu tranh “tự phát” sang “tự giác” đạt được những thắng lợi rất to lớn. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Hội Nông dân vận động, tổ chức nông dân cách mạng đã thu được từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nông dân cùng với công nhân là lực lượng cơ bản, nòng cốt trong lực lượng cách mạng Việt Nam. Trong Mặt trận dân tộc thống nhất, nông dân liên minh với công nhân và trí thức cách mạng là cơ sở vững chắc của khối đoàn kết dân tộc giải quyết các nhiệm vụ cách mạng. Xuất phát từ vai trò, sức mạnh của giai cấp nông dân Việt Nam, Luận cương chính trị tháng 10 năm 1930 của Đảng ta đã khẳng định: “ …Trong cuộc cách mạng tư sản dân quyền , vô sản giai cấp và nông dân là hai lực lượng chính” “Dân cày là hạng người chiếm đại đa số ở Đông Dương (hơn 90%), họ là một động lực mạnh cho cách mạng tư sản dân quyền”, “ Vấn đề thổ địa là cái cốt của cách mạng tư sản dân quyền , vô sản giai cấp có đứng đầu và cùng với quần chúng dân cày mà tranh đấu để bênh vực quyền lợi hằng ngày cho dân cày và để thực hành thổ địa cách mạng cho triệt để thì mới có thể giành quyền lãnh đạo dân cày được”75, tr.19. Với cơ cấu chiếm hơn 70% dân số, nông dân nước ta hiện vẫn là lực lượng xã hội đông đảo nhất và có vai trò rất quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, cho phát triển kinh tế xã hội đất nước và xây dựng nông thôn mới. Việc nhận thức đúng đắn vai trò của nông dân nước ta hiện nay, một mặt, là cơ sở để tiếp tục động viên, khuyến khích nông dân tích cực tham gia các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; mặt khác, là căn cứ để có những giải pháp nhằm tiếp tục phát huy tốt vai trò sức mạnh đó, góp phần đưa cách mạng nước ta nhanh chóng đạt tới mục tiêu đã đề ra. Chính vì vậy, khi nghiên cứu lịch sử dân tộc Việt Nam chúng ta không thể không nghiên cứu nông dân và Hội Nông dân Việt Nam. Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa là một bộ phận của Hội Nông dân cả nước, bên cạnh những đặc điểm chung của Hội Nông dân cả nước, Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa mang những đặc điểm riêng. Giống như nông dân toàn quốc, nông dân và Hội Nông dân Thanh Hóa cũng có vị trí, vai trò quan trọng trong sự nghiệp cách mạng đối với cả nước và đối với địa phương. Chính vì thế, nghiên cứu về vấn đề Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa không những giúp chúng ta hiểu sâu sắc Hội Nông dân và phong trào nông dân Thanh Hóa mà còn hiểu sâu sắc hơn Hội Nông dân toàn quốc. Đồng thời, chúng ta có nhận thức đúng đắn về vai trò của tổ chức Hội Nông dân trong Mặt trận dân tộc thống nhất, hiểu rõ vai trò của giai cấp nông dân đối với phong trào giải phóng dân tộc. Từ năm 1986 đến nay đất nước ta đang trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế thế giới, nền kinh tế xã hội nước ta nói chung và kinh tế nông nghiệp, nông thôn nói riêng đã và đang thu được những thành quả quan trọng. Tuy nhiên, chúng ta cũng đứng trước những khó khăn, thách thức to lớn hơn trước. Đặc biệt, trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội nước ta, nâng cao đời sống nhân dân, bảo vệ Tổ quốc hiện nay còn nhiều vướng mắc, khó khăn, tồn tại, đặc biệt là vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn đang có những vấn đề bất cập đặt ra đòi hỏi chúng ta phải giải quyết. Chính vì vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam hiện nay đã rất quan tâm giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn, xây dựng nông thôn mới để thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế xã hội của đất nước. Kết quả nghiên cứu của Luận văn còn đóng góp một số tư liệu mới sưu tập được phục vụ cho công tác giảng dạy, học tập, nghiên cứu, biên soạn lịch sử trong các nhà trường và công tác giáo dục truyền thống của Hội Nông dân, cho giai cấp nông dân, thế hệ trẻ, nhân dân Thanh Hoá và nhiều tỉnh khác. Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2014 có ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, thiết thực. Xuất phát từ những lý do đó, chúng tôi đã chọn vấn đề: “Hội Nông dân tỉnh Thanh Hoá 1986 2014” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ khoa học lịch sử của mình.
Xem thêm

140 Đọc thêm

HỘI NÔNG DÂN TỈNH THANH HOÁ 1986 2014

HỘI NÔNG DÂN TỈNH THANH HOÁ 1986 2014

1. Lí do chọn đề tài Nước ta là một nước nông nghiệp, nông dân chiếm đại đa số trong dân tộc, nông dân là lực lượng sản xuất chính tạo ra của cải vật chất để nuôi sống toàn bộ xã hội. Đồng thời, nông dân Việt Nam vốn có truyền thống yêu nước cách mạng và có sức mạnh vĩ đại trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhất là từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, có đường lối cách mạng và đường lối nông vận đúng đắn, khoa học đã phát huy được sức mạnh của nông dân. Đặc biệt, cũng từ năm 1930 Đảng đã tổ chức một đoàn thể chính trị riêng của nông dân để tổ chức đấu tranh cho nông dân, từ đó phong trào của nông dân chuyển từ đấu tranh “tự phát” sang “tự giác” đạt được những thắng lợi rất to lớn. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Hội Nông dân vận động, tổ chức nông dân cách mạng đã thu được từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nông dân cùng với công nhân là lực lượng cơ bản, nòng cốt trong lực lượng cách mạng Việt Nam. Trong Mặt trận dân tộc thống nhất, nông dân liên minh với công nhân và trí thức cách mạng là cơ sở vững chắc của khối đoàn kết dân tộc giải quyết các nhiệm vụ cách mạng. Xuất phát từ vai trò, sức mạnh của giai cấp nông dân Việt Nam, Luận cương chính trị tháng 10 năm 1930 của Đảng ta đã khẳng định: “ …Trong cuộc cách mạng tư sản dân quyền , vô sản giai cấp và nông dân là hai lực lượng chính” “Dân cày là hạng người chiếm đại đa số ở Đông Dương (hơn 90%), họ là một động lực mạnh cho cách mạng tư sản dân quyền”, “ Vấn đề thổ địa là cái cốt của cách mạng tư sản dân quyền , vô sản giai cấp có đứng đầu và cùng với quần chúng dân cày mà tranh đấu để bênh vực quyền lợi hằng ngày cho dân cày và để thực hành thổ địa cách mạng cho triệt để thì mới có thể giành quyền lãnh đạo dân cày được ”, 75, tr.19 Với cơ cấu chiếm hơn 70% dân số, nông dân nước ta hiện vẫn là lực lượng xã hội đông đảo nhất và có vai trò rất quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, cho phát triển kinh tế xã hội đất nước và xây dựng nông thôn mới. Việc nhận thức đúng đắn vai trò của nông dân nước ta hiện nay, một mặt, là cơ sở để tiếp tục động viên, khuyến khích nông dân tích cực tham gia các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; mặt khác, là căn cứ để có những giải pháp nhằm tiếp tục phát huy tốt vai trò sức mạnh đó, góp phần đưa cách mạng nước ta nhanh chóng đạt tới mục tiêu đã đề ra. Chính vì vậy, khi nghiên cứu lịch sử dân tộc Việt Nam chúng ta không thể không nghiên cứu nông dân và Hội Nông dân Việt Nam. Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa là một bộ phận của Hội Nông dân cả nước, bên cạnh những đặc điểm chung của Hội Nông dân cả nước, Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa mang những đặc điểm riêng. Giống như nông dân toàn quốc, nông dân và Hội Nông dân Thanh Hóa cũng có vị trí, vai trò quan trọng trong sự nghiệp cách mạng đối với cả nước và đối với địa phương. Chính vì thế, nghiên cứu về vấn đề Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa không những giúp chúng ta hiểu sâu sắc Hội Nông dân và phong trào nông dân Thanh Hóa mà còn hiểu sâu sắc hơn Hội Nông dân toàn quốc. Đồng thời, chúng ta có nhận thức đúng đắn về vai trò của tổ chức Hội Nông dân trong Mặt trận dân tộc thống nhất, hiểu rõ vai trò của giai cấp nông dân đối với phong trào giải phóng dân tộc. Từ năm 1986 đến nay đất nước ta đang trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế thế giới, nền kinh tế xã hội nước ta nói chung và kinh tế nông nghiệp, nông thôn nói riêng đã và đang thu được những thành quả quan trọng. Tuy nhiên, chúng ta cũng đứng trước những khó khăn, thách thức to lớn hơn trước. Đặc biệt, trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội nước ta, nâng cao đời sống nhân dân, bảo vệ Tổ quốc hiện nay còn nhiều vướng mắc, khó khăn, tồn tại, đặc biệt là vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn đang có những vấn đề bất cập đặt ra đòi hỏi chúng ta phải giải quyết. Chính vì vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam hiện nay đã rất quan tâm giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn, xây dựng nông thôn mới để thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế xã hội của đất nước. Kết quả nghiên cứu của Luận văn còn đóng góp một số tư liệu mới sưu tập được phục vụ cho công tác giảng dạy, học tập, nghiên cứu, biên soạn lịch sử trong các nhà trường và công tác giáo dục truyền thống của Hội Nông dân, cho giai cấp nông dân, thế hệ trẻ, nhân dân Thanh Hoá và nhiều tỉnh khác. Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2014 có ý nghĩa khoa học, ý nghĩa về thực tiễn sâu sắc, thiết thực. Xuất phát từ những lý do đó, chúng tôi đã chọn vấn đề: “Hội Nông dân tỉnh Thanh Hoá 1986 2014” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ khoa học lịch sử của mình.
Xem thêm

143 Đọc thêm

SỰ THAM GIA của CỘNG ĐỒNG TRONG PHÁT TRIỂN ĐƯỜNG GIAO THÔNG NÔNG THÔN tại HUYỆN yên KHÁNH, TỈNH NINH BÌNH

SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG PHÁT TRIỂN ĐƯỜNG GIAO THÔNG NÔNG THÔN TẠI HUYỆN YÊN KHÁNH, TỈNH NINH BÌNH

Họ c viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 1 PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Hiện nay, 70% dân số nước ta đang sống ở khu vực nông thôn. Vì thế, để đạt được mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp có trình độ khoa học tiên tiến thì nhất thiết phải có sự đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, nhất là đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn. Cơ sở hạ tầng (CSHT) nông thôn phát triển sẽ tác động đến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của khu vực nông thôn, tạo điều kiện cạnh tranh lành mạnh, tăng sức thu hút vốn đầu tư nước ngoài và sức huy động nguồn vốn trong nước vào thị trường nông nghiệp, nông thôn. Giao thông nông thôn (GTNT) là một bộ phận quan trọng trong kết cấu hạ tầng, là tiền đề cho phát triển kinh tế xã hội (KT – XH) khu vực nông thôn. Thực tế đã chứng minh, nơi nào CSHT giao thông hoàn chỉnh thì ở đó KT – XH phát triển nhanh và bền vững. Đặc biệt là hiện nay việc đầu tư xây dựng CSHT giao thông còn là một trong những tiêu chí và là nền tảng cho việc xây dựng nên diện mạo nông thôn mới. GTNT là một trong những mắt xích thiết yếu, nối các vùng nông thôn với hệ thống quốc lộ, tỉnh lộ, khu đô thị, khu công nghiệp, khu chế xuất. Những vùng có mạng lưới giao thông đảm bảo sẽ góp phần thu hút nguồn lao động, hạ giá thành trong sản xuất và mở rộng thị trường nông thôn, kích thích kinh tế hộ nông dân tăng gia sản xuất, làm thay đổi bộ mặt nông thôn, thu nhập của các hộ nông dân tăng, đời sống nông dân được nâng lên, thực hiện mục tiêu xoá đói, giảm nghèo ở nông thôn. Chính vì vậy, việc phát triển đường GTNT là vấn đề có vai trò quan trọng trong chủ trương phát triển nông thôn bền vững theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa (CNH – HĐH), không những cần sự tham gia của các cấp chính quyền mà còn cần sự tham gia của cộng đồng để mang lại lợi ích cho tất cả các bên liên quan. Với phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm,
Xem thêm

132 Đọc thêm

Luận văn thạc sĩ Báo chí đáp ứng nhu cầu thông tin thị trường tiêu thụ nông sản của nước ta thời hội nhập

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ ĐÁP ỨNG NHU CẦU THÔNG TIN THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ NÔNG SẢN CỦA NƯỚC TA THỜI HỘI NHẬP

1.Tính cấp thiết của đề tàiXã hội ngày càng hiện đại, nhu cầu thông tin của con người cũng ngày càng tăng. Báo chí nước ta đang phát triển cả về số lượng và chất lượng nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội. Nhiều tờ báo đã hướng đến những đối tượng công chúng chiếm số đông nhưng cũng có những tờ chỉ phục vụ một nhóm đối tượng nào đó.Chiếm tỷ lệ 58% lao động trên địa bàn nông thôn và 51,9% cơ cấu lao động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, nông dân rất cần được bảo trợ 48, cung cấp thông tin để nâng cao hiểu biết, nắm bắt thị trường, phát triển sản xuất và tìm đầu ra cho sản phẩm. Thực tế nhiều năm qua cho thấy: Thị trường tiêu thụ nông sản khá bấp bênh, nhiều rủi ro và thua thiệt. Trong nhiều nguyên nhân đó có một phần do nông dân khó có điều kiện tiếp cận thông tin thị trường, những tiến bộ khoa học mới, những chủ trương, chính sách, chế độ ưu đãi của Nhà nước đối với phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn.
Xem thêm

144 Đọc thêm

PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TẠI THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT

PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TẠI THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT

1.1. Lý do chọn đề tàiXây dựng nông thôn mới (NTM) là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước,là một phần rất quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,nhằm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 nhưNghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5 tháng 8 năm 2008 đã nêu một cách toàn diện quanđiểm của Đảng ta về xây dựng nông thôn mới. Trên phạm vi cả nước việc này đang trởthành một phong trào rộng lớn với nhiều chỉ thị, văn bản hướng dẫn của Trung ươngĐảng và các Bộ, Ngành, được triển khai một cách rầm rộ và sâu rộng, hai năm qua đãđạt được những kết quả bước đầu.Xã Tam Giang là xã nằm trong vùng trồng cây công nghiệp như cây cà phê,tiêu..., đặc trưng cho các tỉnh Tây Nguyên. Do đặc điểm của 2 mùa rõ rệt nên vấn đềthiếu nước tưới vào mùa khô đang là trở ngại cho sự phát triển cây trồng, ảnh hưởngtrực tiếp đến đời sống sinh hoạt, sản xuất của người dân. Trong những năm qua, cơ sởhạ tầng thiết yếu phục vụ cho đời sống, sản xuất của nhân dân tuy đã được đầu tưnhưng vẫn còn nhiều mặt hạn chế, đời sống kinh tế - xã hội vẫn còn nhiều khó khăn,chưa khai thác hết tiềm năng và lợi thế các ngành sản xuất tại địa phương, chưa đápứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, chưa đưa sản xuấtnông nghiệp ở nông thôn thành sản xuất hàng hóa thật sự. Thực hiện chủ trương xâydựng nông thôn mới của Đảng và Nhà nước đã định hướng phát triển kinh tế các vùngphù hợp, phát triển mạng lưới đô thị nhỏ và vừa, các thị trấn, các trung tâm dịch vụhay cụm kinh tế kỹ thuật làm hậu thuẫn thúc đẩy sản xuất, tạo thêm việc làm và cảithiện đời sống cho người dân tại địa bàn xã Tam Giang.Triển khai thực Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủtướng Chính phủ về xây dựng nông thôn mới theo chuẩn nông thôn mới, xã TamGiang đang gặp nhiều khó khăn, vướng mắc cần giải quyết như xuất phát điểm của xãthấp, trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ còn hạn chế, đời sống của nhân dân cònkhó khăn. Để góp phần công sức vào quá trình xây dựng nông thôn mới ở địa phương,tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Tình hình phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội theo tiêuchí nông thôn mới tại xã Tam Giang, huyện Krông Năng, tỉnh ĐăkLăk” làm
Xem thêm

55 Đọc thêm

TÌNH HÌNH SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TẠI XÃ EATAR, HUYỆN CƯ M’GAR, TỈNH ĐẮK LẮK

TÌNH HÌNH SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TẠI XÃ EATAR, HUYỆN CƯ M’GAR, TỈNH ĐẮK LẮK

MỤC LỤC LỜI CÁM ƠN i MỤC LỤC ii DANH MỤC BẢNG BIỂU v PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1 1.1 Lý do chọn đề tài 1 1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2 PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU, CƠ SỞ LÝ LUẬN 3 2.1 Cơ sở lý luận 3 2.1.1 Một số khái niệm cơ bản 3 2.1.2 Vai trò, vị trí và đặc điểm của sản xuất nông nghiệp 4 2.2 Cơ sở thực tiễn 5 2.2.1 Tình hình sản xuất nông nghiệp của thế giới 5 2.2.2 Bài học phát triển nông nghiệp ở các nước trên thế giới 6 2.2.3 Bài học kinh nghiệm với Việt Nam 13 2.2.4 Tình hình sản xuất nông nghiệp của Việt Nam hiện nay 17 PHẦN III: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19 3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 19 3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 19 3.2 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 19 3.2.1 Điều kiện tự nhiên 19 3.2.2 Tài nguyên 21 3.2.3 Điều kiện kinh tế 22 3.2.4 Điều kiện văn hóa – xã hội 23 3.2.5 Đánh giá tổng quan về đặc điểm của địa bàn nghiên cứu 23 3.3 Phương pháp nghiên cứu 25 3.3.1 Phương pháp chọn địa điểm nghiên cứu 25 3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu và thông tin 25 3.3.3 Phương pháp xử lí số liệu và thông tin 25 3.3.4 Phương pháp phân tích 25 3.3.5 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 26 PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27 4.1 Thực trạng sản xuất nông nghiệp 27 4.1.1 Thực trạng sản xuất nông nghiệp của xã Eatar 27 4.1.2 Thực trạng sản suất nông nghiệp của nông hộ 34 4.2 Định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng cho sản phẩm nông nghiệp của xã Eatar 36 4.2.1 Xác định những yếu tố ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp của xã Eatar 36 4.2.2 Xác định những thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp của xã Eatar 37 4.2.3 Đề xuất một số giải giải quyết khó khăn và nâng cao chất lượng sản phẩm cho ngành nông nghiệp của xã Eatar 39 PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 42 5.1 Kết luận 42 5.2 Kiến nghị 42 5.2.1 Đối với nhà nước 42 5.2.2 Đối với địa phương 43 TÀI LIỆU KHAM KHẢO 44 CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT, KÝ HIỆU Stt Từ viết tắt Nguyên nghĩa 1 DT Diện tích 2 Đvt Đơn vị tính 3 GT Giá trị 4 HĐT Hiện đại hóa 5 HTX Hợp tác xã 6 NS Năng suất 7 SL Sản lượng 8 UBND Ủy ban nhân dân DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 3.1: Diện tích, tỷ lệ các loại đất của xã Eatar 21 Bảng 4.1: Giá trị, cơ cấu ngành nông nghiệp của xã Eatar qua các năm 27 Bảng 4.2: Diện tích, cơ cấu một số loại cây trồng chính của xã Eatar năm 2014 28 Bảng 4.3: Biến động diện tích một số loại cây trồng của xã Eatar qua các năm 29 Bảng 4.4: Năng suất và sản lượng một số cây trồng chính của xã Eatar 30 Bảng 4.5: Giá trị, sản lượng một số cây trồng của xã Eatar 31 Bảng 4.6: Quy mô và giá trị một số vật nuôi chính của xã Eatar 32 Bảng 4.7: Biến động số lương vật nuôi của xã Eatar qua các năm 33 Bảng 4.8: Giá trị các loại vật nuôi chính của xã Eatar 34 Bảng 4.9: Diện tích, năng suất và sản lượng một số cây trồng của Nông hộ 34 Bảng 4.10: Giá trị, sản lượng một số cây trồng của nông hộ năm 2014 35 Bảng 4.11: Số lượng giá trị các loại vật nuôi của Nông hộ 36 PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Lý do chọn đề tài Việt Nam là một nước sản xuất nông nghiệp là chủ yếu với trên 65% dân số sinh sống ở vùng nông thôn lấy sản xuất nông nghiệp làm sinh kế chính; nhưng sản xuất mang tính nhỏ lẻ, manh mún, chất lượng chưa cao và giá trị còn thấp. Nước ta có tới trên 26 triệu ha đất sản xuất nông nghiệp và có trên 24 triệu lao động trong linh vực này (Theo Tổng cục thống kê, 2014). Năm 2014, ngành Nông nghiệp của nước ta tiếp tục phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức về thời tiết, dịch bệnh, thị trường như: mùa khô kéo dài, biên độ nhiệt lớn, các đợt nắng nóng diễn ra thất thường.... Việc Trung Quốc đưa dàn khoan vào vùng lãnh hải của nước ta đã có ảnh hưởng nhất định tới thị trường nhiều loại nông sản đặc biệt như: thị trường cao su, mì, vải.... vì các mặt hàng này chủ yếu là xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc. Trước tình hình nông nghiệp chung của nước ta, ngành nông nghiệp của huyện Cư M’gar cũng mang tính nhỏ lẻ, manh mún, chất lượng chưa cao và giá trị còn thấp. Huyện Cư M’gar nằm ở phía bắc tỉnh Đắk Lắk, có vị trí quan trọng; giàu tiềm năng lợi thế để phát triển kinh tế xã hội, với tổng diện tích tự nhiên là 82.443 ha. Đặc điểm địa hình bằng phẳng, có hệ thống suối trải đều khắp địa bàn và với hơn 70% diện tích là đất đỏ bazan, thích hợp cho việc sản xuất các loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao theo hướng sản xuất hàng hóa, tập trung chuyên canh như cà phê, cao su. Khi mới thành lập dân số toàn huyện chỉ có 41.176 người, gồm 3 dân tộc anh em sinh sống ở 8 xã. Đến nay, dân số toàn huyện trên 162.000 người, 25 dân tộc anh em với nhiều nền văn hóa phong phú, đa dạng sinh sống ở 17 xã, thị trấn. Xã Eatar là một xã sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, với tổng diện tích đất nông nghiệp là 3.804,07 ha chiếm 92,02% tổng diện tích tư nhiên. Cây công nghiệp lâu năm có 3.674,08 ha gồm cà phê 2.837,55 ha, cao su là 697 ha... và cây lương thực có 185 ha. Xã có 11 thôn buôn gồm 5 thôn và 6 buôn, với trên 7 ngàn người sinh sống. Trước tình hình chung của ngành nông nghiệp cả nước, ngành nông nghiệp của xã cũng gặp nhiều khó khăn trong việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm như: được mùa thì mất giá, ngược lại mất mùa thì được giá và chất lượng nông sản chưa cao. Chính vì những lý do trên nên em chọn đề tài ‛‛Tình hình sản xuất nông nghiệp tại xã Eatar, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk”. 1.2 Mục tiêu nghiên cứu Thực trạng sản xuất nông nghiệp của xã Eatar, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk. Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm cho ngành nông nghiệp của xã Eatar, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk. PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU, CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Cơ sở lý luận 2.1.1 Một số khái niệm cơ bản 2.1.1.1 Khái niệm về nông nghiệp Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp. Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản. Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế của nhiều nước, đặc biệt là trong các thế kỷ trước đây khi công nghiệp chưa phát triển. Trong nông nghiệp cũng có hai loại chính, việc xác định sản xuất nông nghiệp thuộc dạng nào cũng rất quan trọng: Nông nghiệp thuần nông hay nông nghiệp sinh nhai là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp có đầu vào hạn chế, sản phẩm đầu ra chủ yếu phục vụ cho chính gia đình của mỗi người nông dân. Không có sự cơ giới hóa trong nông nghiệp sinh nhai. Nông nghiệp chuyên sâu: là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp được chuyên môn hóa trong tất cả các khâu sản xuất nông nghiệp, gồm cả việc sử dụng máy móc trong trồng trọt, chăn nuôi, hoặc trong quá trình chế biến sản phẩm nông nghiệp. Nông nghiệp chuyên sâu có nguồn đầu vào sản xuất lớn, bao gồm cả việc sử dụng hóa chất diệt sâu, diệt cỏ, phân bón, chọn lọc, lai tạo giống, nghiên cứu các giống mới và mức độ cơ giới hóa cao. Sản phẩm đầu ra chủ yếu dùng vào mục đích thương mại, làm hàng hóa bán ra trên thị trường hay xuất khẩu. Các hoạt động trên trong sản xuất nông nghiệp chuyên sâu là sự cố gắng tìm mọi cách để có nguồn thu nhập tài chính cao nhất từ ngũ cốc, các sản phẩm được chế biến từ ngũ cốc hay vật nuôi... 2.1.1.2 Khái niệm về sản xuất Sản xuất có nhiều cách định nghĩa. Nói chung sản xuất là quá trình tạo ra của cải vật chất. Theo wikipedia: Sản xuất hay sản xuất của cải vật chất là hoạt động chủ yếu trong các hoạt động kinh tế của con người. Sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng, hay để trao đổi trong thương mại. Quyết định sản xuất dựa vào những vấn đề chính sau: sản xuất cái gì?, sản xuất như thế nào?, sản xuất cho ai?, giá thành sản xuất và làm thế nào để tối ưu hóa việc sử dụng và khai thác các nguồn lực cần thiết làm ra sản phẩm? Theo Liên hiệp quốc: Sản xuất là quá trình sử dụng lao động và máy móc thiết bị của các đơn vị thể chế (một chủ thể kinh tế có quyền sở hữu tích sản, phát sinh tiêu sản và thực hiện các hoạt động, các giao dịch kinh tế với những thực thể kinh tế khác) để chuyển những chi phí là vật chất và dịch vụ thành sản phẩm là vật chất và dịch vụ khác. 2.1.2 Vai trò, vị trí và đặc điểm của sản xuất nông nghiệp 2.1.2.1 Vai trò của sản xuất nông nghiệp Nông nghiêp có vai trò quan trọng trong viêc cung cấp các yếu tố đầu vào cho Công nghiệp và khu vực thành thị. Ðiều đó được thể hiện ở các mặt sau: Sản xuất nông nghiệp cung cấp lương thực thực phẩm cho xã hội đại bô phận là sản phẩm nuôi sống con người và không có mọt ngành sản xuất nào thay thế được. Khi xã hội càng phát triển đời sông con người dược nâng cao thì nhu cầu về lương thực thực phẩm tăng về số lượng và chất lượng, chủng loại do 2 yếu tố sau: Thứ nhất là do sự tăng lên không ngừng của dân số;Thứ hai là do sự tăng lên của nhu cầu bản thân con người. Do vậy chỉ có một nền nông nghiệp phát triển ở trình độ cao mới đáp ứng được nhu cầu tăng lên thường xuyên đó. Sản xuất nông nghiệp cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp đặc biệt là công nghiệp chế biến và nông sản có giá trị cao để xuất khẩu. Nông nghiệp cung cấp sức lao động cho ngành công nghiệp và các ngành kinh tế khác. Nông nghiệp, nông thôn là thị trưòng tiêu thụ rộng lớn các sản phẩm công nghiệp. Nông nghiệp còn là nguồn tích lũy ngoại tệ lớn để phục vụ cho sư nghiệp công nghiêp hóahiện đại hóa đát nước. Nông nghiệp và nông thôn có vai trò to lớn đối với sự phát triển bền vững của môi trường. 2.1.2.2 Vị trí của xản xuất nông nghiệp Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng và phức tạp. Nó không chỉ là một ngành kinh tế đơn thuần mà còn là hệ thống sinh học, kỹ thuật, bởi vì một mặt cơ sở để phát triển nông nghiệp là việc sử dụng tiềm năng cây trồng, vật nuôi. Chúng phát triển theo quy luật sinh học nhất định con người không thể ngăn cản các quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong của chúng, mà phải trên cơ sở nhận thức đíng đắn các quy luật đó để có những giải pháp thích hợp tác động vào chúng. Mặt khác quan trọng hơn là phải làm cho người sản xuất có sự quan tâm thỏa đáng, gắn lợi ích của họ với sử dụng quá trình sinh học nhằm tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm cuối cùng hơn. Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của nền kinh tế quốc dân, nógiữ vai trò to lớn trong phát triển kinh tế ở hầu hết các nước, nhất là ở các nước đang phát triển, những nước nàyđại bộ phận sống bằng nghề nông. Tuy nhiên ngay cả những nước có nền công nghiêp phát triển cao thì sản lượng nông sản của các nước này không hề giảm, đảm bảo cung đủ cho đời sống con người những sản phẩm tối cần thiết đó là lương thực thực phẩm.những sản phẩm nàycho trình độ khoa học phát triển cao như hiện nay vãn chưa coa ngành nào thaythế được. Lương thực thực phẩm là yếu tố đầu tiên có tính chất quyết định đến sự tồn tại và phát triển của con người và phát triển kinh tế xã hội của đất nước. 2.1.2.3 Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên địa bàn rộng lớn, phức tạp, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên mang tính khu vực rõ rệt. Trong nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được. Đất đai là điều kiện cần thiết cho tất cả các ngành sản xuất, nhưng nội dung kinh tế của nó lại rất khác nhau. Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cơ thể sống – cây trồng và vật nuôi. Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao. Nông nghiệp nước ta đang từ tình trạng lạc hậu, tiến lên xây dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa theo định hướng XHCN không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Nền nông nghiệp nước ta là nền nông nghiệp nhiệt đới, có pha trộn tính chất ôn đới, nhất là ở miền Bắc và được trải rộng trên 4 vùng rộng lớn, phức tạp: trung du, miền núi, đồng bằng và ven biển. 2.2 Cơ sở thực tiễn 2.2.1 Tình hình sản xuất nông nghiệp của thế giới Thế giới hiện nay có trên 8 tỷ người sinh sống, tiêu thụ 476 triệu tấn gạo năm 2014 (với sản lượng giao dịch đạt 42 triệu tấn). Nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất không thể thay thế được với sản lượng gạo đạt 503,6 triệu tấn. Hiện nay, Nông nghiệp với su hướng sản xuất sản phẩm chất lượng tốt đáp ung nhu cầu cao, ngày càng nhiều công nghiệp phương pháp sản xuất mới được đưa vào áp dụng như công nghệ tưới nước nhỏ giọt của isaren giúp trồng cây ơ vùng đất khô, tiết kiệm nước và năng suất cao; phát triển công nghệ sinh học tạo ra giống cây trồng vật nuôi mới có năng suất chất lượng cao hơn; sản xuất nông nghiệp theo phương pháp hữu cơ. Ngoài nhưng thuận lơi trên nèn nông nghiệp thế giới đang phải đối mặt với: Tình trạng dất khô suy thoái làm mất đi 40 tỷ USD về sản lượng nông nghiệp, biến đổi khí hậu ngày càng tác động mạnh làm tổn thất 5 tỷ USD mỗi năm cho ngành nông nghiệp và đăc biệt là tình trạng nền kinh tế thế giới đang trong giai đoạn khó khăn do suy thoái kinh tế. 2.2.2 Bài học phát triển nông nghiệp ở các nước trên thế giới 2.2.2.1 Ở Thái Lan Thứ nhất là chính sách trợ giá nông sản. Ở Thái Lan đang thực hiện trợ giá cho nông dân trên các lĩnh vực nông sản chủ yếu như sau: gạo, cao su, trái cây, .v..v… Chính phủ Thái Lan đã mua giá gạo thơm 6.500bahttấn trong khi giá thị trường chỉ 5.000 – 5.200bahttấn. Việc trợ giá nông sản không chỉ thực hiện ở việc mua giá ưu đãi của nông dân mà nông dân trồng lúa còn được hưởng những ưu đãi khác như mua phân bón với giá thấp, miễn cước vận chuyển phân bón, được cung cấp giống mới có năng suất cao, được vay vốn lãi xuất thấp từ ngân hàng nông nghiệp .v..v… Ngoài ra, Thái Lan cũng có hỗ trợ về giá cho nông dân trồng 05 loại cây chủ lực là sầu riêng, nhãn, vải, măng cụt và chôm chôm. Thực hiện tốt chính sách hổ trợ này chính phủ Thái Lan đưa các chuyên viên cao cấp phụ trách chương trình với nhiệm vụ giám sát từ việc sản xuất, phân phối, chế biến, giá cả cho đến tìm thị trường xuất khẩu mới. Thứ hai là chính sách công nghiệp nông thôn. Thái Lan vốn là nước nông nghiệp truyền thống với số dân nông thôn chiếm khoảng 80%. Do vậy, công nghiệp nông thôn được coi là nhân tố quan trọng giúp cho Thái Lan nâng cao chất lượng cuộc sống của nông dân. Để thực hiện nhiệm vụ này, chính phủ Thái Lan đã tập trung vào các công việc sau: cơ cấu lại ngành nghề phục vụ phát triển công nghiệp nông thôn, xem xét đầy đủ các nguồn tài nguyên, xem xét những kỹ năng truyền thống, nội lực tiềm năng trong lĩnh vực sản xuất và tiếp thị,… Cụ thể là Thái Lan đã tập trung phát triển các ngành mũi nhọn như sản xuất hàng nông thủy, hải sản phục vụ xuất khẩu và tiêu dùng trong nước. Thứ ba là: mở cửa thị trường thích hợp để thu hút đầu tư mạnh mẽ của nước ngoài cho nông nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến thực phẩm. Ở đây chính phủ Thái Lan đã có chính sách trợ cấp ban đầu cho các nhà máy chế biến và đầu tư trực tiếp vào các cơ sở hạ tầng như cảng, kho lạnh, sàn đấu giá và đầu tư vào nghiên cứu và phát triển; xúc tiến công nghiệp và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ở Thái Lan xúc tiến tiến công việc này là trách nhiệm của Cục xúc tiến Công nghiệp, Cục xúc tiến Nông nghiệp, Cục Hợp tác xã, Cục thủy sản, cơ quan tiêu chuẩn sản phẩm công nghiệp trực thuộc Bộ Công nghiệp và Bộ nông nghiệp. Tóm lại chính sách xây dựng phát triển nông thôn ở Thái Lan là một loạt chính sách ra đời từ thách thức của nền nông nghiệp Thái Lan, đó là diện tích canh tác bị thu hẹp, nông dân bỏ ruộng vườn đi làm thuê, nông dân không được hưởng lợi từ các chính sách của chính phủ. Đây là chính sách nhằm “bắt bệnh” và tìm thuốc chữa xuất phát từ sự quan tâm của vua Thái Lan đến chính phủ và chính quyền của các địa phương. Các chính sách ấy đã kết hợp được kinh nghiệm truyền thống và công nghệ hiện đại đề từng bước làm cho suy nghĩ, nhận thức cùa người nông dân Thái Lan thay đổi, họ đã hiểu sản xuất nông nghiệp không chỉ để ăn mà còn để xuất khẩu. Từ đây họ đã chung sức, chung lòng phát triển nền nông nghiệp với tốc độ tăng trưởng nhanh, công nghệ cao và một số lĩnh vực đứng đầu thế giới. 2.2.2.2 Ở Trung Quốc Trung Quốc là một quốc gia có 7.000 triệu nông dân chiếm 60% dân số cả nước. Trung Quốc đã từng trải qua một giai đoạn cực kỳ khó khăn đó là quá trình tích tụ ruộng đất để hiện đại hóa đã đẩy hàng triệu nông dân ra thành phố làm việc, ruộng đồng hoang hóa, các quan chức địa phương và giới thương nhân thường câu kết để chiếm ruộng đất nông nghiệp để xây cất nhà cửa hoặc biến thành khu công nghiệp. Do vậy, nông thôn Trung Quốc khi yên bình mà liên tục diễn ra biểu tình, gây rối, kiện cáo, bạo lực. Số liệu thống kê cho thấy hồi năm 2004 Trung Quốc có 74.000 vụ khiếu kiện tập thể thu hút gần 4 triệu người tham gia và 2005 số vụ là 84.000 và 2006 là 90.000 vụ. Trước tình hình đó ông Hongyuan giám đốc TT nghiên cứu kinh tế nông thôn, Bộ nông nghiệp Trung Quốc khẳng định: Nguyên nhân là do vi phạm quyền đất đai của người nông dân diễn ra thường xuyên khi chính quyền địa phương quyết định thay cho nông dân và vấn đề là phải có sự cải cách sửa đổi để bảo vệ quyền lợi đầy đủ cho người nông dân. Một số thay đổi mang tính chất đột phá trong chính sách đối với phát triển nông nghiệp và nông thôn ở Trung Quốc đã được thực hiện như sau: Thứ nhất, nhanh chóng giảm thuế để thu hút đầu tư vào nông nghiệp. Ở đây Trung Quốc đã thực thi chính sách miễn, giảm thuế nông nghiệp cho các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp. Hiện Trung Quốc có trên 10.000 doanh nghiệp hoạt động ở nông thôn chiếm 30% tổng số doanh nghiệp cả nước. Thực tế hầu hết là doanh nghiệp vừa và nhỏ (gần bằng 10 tỷ doanh nghiệp), các doanh nghiệp có số vốn từ 200 tỷ trở lên chỉ chiếm 30%. Cách này đã vực dậy tình trạng thua lỗ của quá nhiều doang nghiệp đầu tư vào nông nghiệp và nông thôn. Để thu hút tốt chính sách này Trung Quốc đã thành lập nhiều đoàn kêu gọi xúc tiến đầu tư ở Nga, Nhật, Trung Quốc, Ấn Độ, EU,…. Hiện nay Bộ Nông nghiệp đã trình cho chính phủ đề án thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào nông nghiệp, nông thôn Trung Quốc đến 2015, trong đó chú trọng phát triển công nghệ sinh học để tạo ra giống cây trồng, vật nuôi có năng xuất chất lượng cao, áp dụng công nghệ chế biến bảo quản sau thu hoạch để nâng cao giá trị; an toàn vệ sinh của sản phẩm sau thu hoạch. Thứ hai, bắt đầu từ năm 2009 trở đi Trung Quốc sẽ phát triển khu công nghiệp công nghệ cao. Đó là các công nghệ được ứng dụng tiên tiến và mới nhất; công nghệ được ghép nối trong một qui trình liên tục khép kín; công nghệ có khả năng ứng dụng trong điều kiện cụ thể và có thể nhân rộng; mô hình phải đạt hiệu quả về kinh tế và là nơi hợp tác giữa nhà Khoa học – Nhà nước – Doanh nghiệp – Nhà nông trong đó doanh nghiệp đóng vai trò chủ đạo. Với chính sách như vậy, Trung Quốc đã làm bùng nổ về phát triển nông nghiệp, nông thôn chuyên sâu theo cách “Nhất thôn, nhất phẩm” (Mỗi thôn có một sản phẩm). Đến nay, Trung Quốc đã có 154.842 doanh nghiệp kinh doanh nông nghiệp kéo theo sự phát triển của 90.980.000 hộ sản xuất trên 1.300.000.000 mẫu diện tích trồng cây các loại ; 95.700.000 mẫu chăn nuôi thủy, hải sản. Trước mắt lục địa Trung Quốc này đã xây dựng 4.139 khu công nghiệp tiêu chuẩn hóa cấp tình và quốc gia. Thứ ba, bài học “Tam nông” trong xây dựng nông thôn mới ở Trung Quốc với tiêu chí “hai mở, một điều chỉnh” đó là: mở cửa giá thu mua, mở cửa thị trường mua bán lương thực và một điều chỉnh là chuyển từ trợ cấp gián tiếp qua lưu thông thành trở thành trợ cấp trực tiếp cho nông dân trồng lương thực. Để thực hiện được tiêu chí trên thì chính phủ Trung Quốc đã mạnh tay hỗ trợ tài chính tam nông với ba mục tiêu: “Nông nghiệp gia tăng sản xuất, nông nghiệp phát triển và nông dân tăng thu nhập.” Định hướng hổ trợ tài chính cho Tam nông ở Trung Quốc hiện nay là: “Nông nghiệp hiện đại, nông thôn đô thị hóa, nông dân chuyên nghiệp hóa”. Thư tư, Trung Quốc thực hiện chính sách nông thôn mới là khuyến nông và tăng quyền cho nông dân. Nội dung cốt lõi của chính sách này là nông dân được trao đổi, sang nhượng không hạn chế quyền sử dụng đất nông nghiệp mà họ đang được hưởng cho nông dân khác hoặc cho doanh nghiệp miễn là không chuyển đổi mục đích sử dụng. Nông dân cũng sẽ được thế chấp, cầm cố quyền sử dụng đất để vay vốn ngân hàng hoặc góp vốn vào công ty nông nghiệp. Việc nông dân được phép bán đất đã tạo điều kiện cho sự ra đời của các nông trại qui mô lớn với công nghệ canh tác. 2.2.2.3 Ở Nhật Bản Sau Chiến tranh thế giới II, kinh tế Nhật Bản bị tàn phá nặng nề, không chỉ sản xuất công nghiệp mà nông nghiệp cũng đạt ở mức rất thấp, nguyên liệu và lương thực trong nước thiếu thốn trầm trọng. Do vậy trong điều kiện đất chật người đông, để phát triển nông nghiệp Nhật Bản coi phát triển khoa họckỹ thuật nông nghiệp là biện pháp hàng đầu. Nhật Bản tập trung vào các công nghệ tiết kiệm đất như: tăng cường sử dụng phân hoa học; hoàn thiện công tác quản lý và kỹ thuật tưới tiêu nước cho ruộng lúa; lai tạo và đưa vào sử dụng đại trà những giống kháng bệnh, sâu rầy và chịu rét; nhanh chóng đưa sản xuất nông nghiệp sang kỹ thuật thâm canh, tăng năng suất... Đây là một thành công quan trọng về định hướng đầu tư khiến cho sản xuất nông nghiệp vào năm 1950 đã được phục hồi xấp xỉ mức trước chiến tranh, sản lượng tiếp tục tăng và tới năm 1953 đã vượt mức trước chiến tranh 30%. sản lượng nâng cao là điều kiện thuận lợi để Nhật Bản thực hiện Chương trình HĐH sản xuất nông nghiệp. Cùng với những chính sách phát triển như sau: Phát triển khoa họckỹ thuật nông nghiệp: Để phát triển khoa họckỹ thuật nông nghiệp, Nhật Bản chủ yếu dựa vào các viện nghiên cứu nông nghiệp của Nhà nước và chính quyền các địa phương. Viện quốc gia về khoa học nông nghiệp được thành lập ở cấp Nhà nước là cơ quan có trách nhiệm tổng hợp gắn kết toàn bộ các viện nghiên cứu cấp ngành thành một khối. Bên cạnh đó, các viện nghiên cứu nông nghiệp cũng tăng cường liên kết nghiên cứu vối các trường đại học, các xí nghiệp tư nhân và các hội khuyến nông; liên kết vối các tổ chức này và các tổ chức của nông dân để giúp nông dân tiếp cận công nghệ, trang thiết bị tiên tiến, giúp tăng năng suất, chất lượng, đảm bảo nông nghiệp tăng trưởng ổn định. Cải cách ruộng đất: Cải cách ruộng đất năm 1945 và 1948 đã tạo động lực kích thích mạnh mẽ nông nghiệp phát triển, mở rộng việc mua bán nông phẩm và tăng nhanh tích lũy. Từng hộ sản xuất riêng lẻ, vối quy mô quá nhỏ thì không thể có đủ điều kiện kinh tế và kỹ thuật để HĐH quá trình sản xuất nông nghiệp hàng hóa lớn. Năm 1995 số lượng nông trại giảm 791 nghìn cái (giảm 18,7%) so vối năm 1985. Quy mô ruộng đất bình quân của một nông trại có sự thay đổi theo hướng tích tụ ruộng đất vào các trang trại lớn để tăng hiệu quả sản xuất. Xu hướng này thể hiện rõ nhất trong giai đoạn 19901995, qui mô đất lúa bình quânhộ tăng từ 7180m2 lên 8120m2.
Xem thêm

53 Đọc thêm

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ ÁN NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ VÂN LĨNH, HUYỆN THANH BA, TỈNH PHÚ THỌ

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ ÁN NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ VÂN LĨNH, HUYỆN THANH BA, TỈNH PHÚ THỌ

chức, vận hành và cảnh quan môi trường; đạt hiệu quả cao nhất trên tất cả trình mặtkinh tế, chính trị, văn hóa xã hội. Tiến bộ hơn so với mô hình cũ, chứa đựng trìnhđặc điểm chung, có thể phổ biến và vận dụng trên toàn lãnh thổ.Xây dựng mô hình nông thôn mới là việc đổi mới tư duy, nâng cao năng lựccủa người dân, tạo động lực cho mọi người phát triển kinh tế, xã hội góp phần thựchiện chính sách vì nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Thay đổi cơ sở vật chất, diệnmạo đời sống, văn hóa qua đó thu hẹp khoảng trìnhh giữa nông thôn và thành thị.Đây là quá trình lâu dài và liên tục, là một trong những nội dung quan trọng cần tậptrung lãnh đạo, chỉ đạo trong đường lối, chủ trương phát triển đất nước và trình địaphương.Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân,của cả hệ thống chính trị. Nông thôn mới không chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội, mà làvấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp.Nghị quyết 26/TQ – TW của ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã đềra chủ trương xây dựng nông thôn mới phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sốngcủa nhân dân, phát triển nông nghiệpnông thôn nâng cao đời sống vật chất vàtinh thần của cư dân ở nông thôn. Nghị quyết đã xác định rõ mực tiêu: “Xây dựngnông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và trìnhhình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh côngnghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc dântộc, dân trí được nâng cao; môi trường sinh thái được bảo vệ, hệ thống chính trị ởnông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường”.1.1.2. Sự cần thiết xây dựng mô hình nông thôn mớiĐể hướng tới mục tiêu công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, trở thànhquốc gia phát triển giảm thiểu khoảng trìnhh giàu nghèo; Nhà nước cần quan tâmphát triển nông nghiệp, nông thôn. Nông sản là sản phẩm thiết yếu cho toàn xã hộivà ở Việt Nam khu vực nông thôn chiếm đến 70% dân số. Thực hiện đường lối mớicủa Đảng và Nhà nước trong chính sách phát triển nông thôn, nông nghiệp đượcxem như mặt trận hàng đầu, chú trọng đến trình chương trình lương thực, thực
Xem thêm

Đọc thêm

Cùng chủ đề