TRUYỆN TRU TIÊN HỒI 250

Tìm thấy 7,522 tài liệu liên quan tới từ khóa "TRUYỆN TRU TIÊN HỒI 250":

SOẠN BÀI CHUYỆN BỐN MÙA

SOẠN BÀI CHUYỆN BỐN MÙA

Câu hỏi 1: Bốn nàng tiên trong truyện tượng trưng cho những mùa nào trong năm?Câu hỏi 2: Em hãy cho biết mùa xuân có gì hay? Câu hỏi 3: Mùa Hạ, mùa Thu, mùa Đông có gì hay?Câu hỏi 4: Em thích nhất mùa nào? Vì sao? Câu hỏi 1: Bốn nàng tiên trong truyện tượng trưng cho những mùa nào trong năm? -  Hướng dẫn: Em suy nghĩ xem, một năm có mấy mùa? Tên của các mùa đó. Trả lời được những nội dung đó là em đã tìm được nội dung câu trả lời. *   Bốn nàng tiên trong truyện tượng trưng cho......................... mùa trong năm: mùa.................. mùa.................. mùa.................. mùa................. Câu hỏi 2: Em hãy cho biết mùa xuân có gì hay? -     Hướng dẫn: Em đọc lại lời nói của Đông khi nói về Xuân, và lời của bà Đất, em sẽ tìm được nội dung câu trả lời -      Gợi ý. Mùa xuân về “Vườn..................... Xuân làm cho............................ ”  Câu hỏi 3: Mùa Hạ, mùa Thu, mùa Đông có gì hay? -     Hướng dẫn: Em đọc lại câu nói của Xuân về Hạ, câu nói của Hạ về Thu và câu nói của Thu về Đông kết hợp với lời nói của bà Đất, em sẽ tìm được nội dung câu trả lời. -    Gợi ý: Các mùa hạ, thu, đông, mỗi mùa đều có những vẻ sắc riêng. + Mùa hạ: Cho nắng cây cối mới................ ; học trò mới được.............. + Mùa thu: Giúp bưởi.............. , có trăng............. + Mùa đông: Có bếp lửa............. , ấp ủ mầm............. Câu hỏi 4: Em thích nhất mùa nào? Vì sao? -     Hướng dẫn: Dựa vào những sắc thái và vẻ đẹp riêng của từng mùa,căn cứ vào sở thích riêng của từng em. Từng em có thể nêu ý riêng của mình. Nhưng khi nêu sở thích riêng của mình, em cần giải thích cho mọi người biết.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Tìm hiểu văn học Chử Đồng Tử

TÌM HIỂU VĂN HỌC CHỬ ĐỒNG TỬ

Một vài điều cần biết về chuyện cổ tích 1. Cổ tích là tích cũ, chuyện xa xưa, ra đời khi xã hội có áp bức, bóc lột. Cổ tích kể về những truyện mang yếu tố hoang đường, sự tích kì lạ về con người, hoặc thế giới muôn loài, chứa đựng triết lý nhân sinh sâu sắc. 2. Người ta chia truyện cổ tích thành 3 loại: - Truyện cổ tích loài vật (Quạ và Công; Con thỏ tinh khôn...) - Truyện cổ tích thần kỳ (Chử Đồng Tử, Cây khế…) - Truyện cổ tích sinh hoạt (Chàng ngốc, Cái cân thuỷ tinh...) 3. Cuộc đấu tranh giữa thiện và ác, giàu và nghèo, thống trị và bị thống trị, chính nghĩa và phi nghĩa... Các bài học về ở hiền gặp lành, ác giả ác báo, tham thì thâm... rất dễ bắt gặp trong truyện cổ tích. Cổ tích nêu cao khát vọng về tự do và hạnh phúc, công bằng ở đời. Truyên "Chử Đồng Tử" 1. Tóm tắt. Ngày xưa ở nàng Chử Xá có hai cha con Chử Cù Vân và Chử Đồng Tử, nghèo khổ, mò cua bắt ốc, chỉ có một chiếc khố chung nhau, hễ ai đi đâu thì đóng: Chử Cù Vân ốm sắp chết dặn con cứ táng trần cho cha. Nhưng khi Chử Cù Vân qua đời thì Chử Đồng Tử đã lấy khố đóng cho cha rồi mới chôn cất. Ngày ngày Chử Đồng Tử vẫn xuống sông mò cua bắt cá kiếm sống. Thuở ấy có nàng Tiên Dung, công chúa của vua Hùng thứ ba, nhan sắc tuyệt trần, đã 17, 18 tuổi mà không chịu lấy chồng, chỉ thích chèo thuyền đi xem sông núi. Một hôm, thuyền của nàng đến khúc sông làng Chử Xá, thấy cảnh sông nước bờ bãi xinh đẹp, nàng bèn ra lệnh cho thị nữ vây màn tứ vi vào một nơi có bóng mát để tắm. Không ngờ nơi đó Chử Đồng Tử đang náu mình dưới cát. Tiên Dung giội nước một lúc, nàng giật mình thấy một chàng trai trồi lên. Nàng hỏi duyên cớ thì Chử Đồng Tử nói vì không có quần áo, thấy thuyền quan quân thì sợ nên phải vùi mình xuống cát để ẩn. Tiên Dung nói với Chử Đồng Tử : "Tôi đã nguyện không lấy chồng, nay duyên trời run rủi, lại gặp chàng chốn này mới biết cưỡng không được với trời". Nàng sai thị nữ đem áo quần cho Chử Đồng Tử và sửa soạn tiệc hoa. "Chử Đồng Tử bối rối chối từ, Tiên Dung nói: "Thiếp với chàng là tự trời xe duyên, việc gì mà từ chối!". Hai người nên vợ nên chồng từ đấy. Vua Hùng được tin giận lắm, ra lệnh cho quân quan, người hầu của Tiên Dung phải về kinh đô. Nàng sợ cha, đành cùng chồng ở lại làm ăn. Mấy năm sau, cuộc sống trở nên thịnh vượng. Nàng để chồng ra biển tìm vật lạ đem về đổi lấy các thứ khác. Chử Đồng Tử lên đường. Đến một nơi núi non hữu tình, thấy cái am nhỏ, chàng leo lên núi, may thay gặp sư Phật Quang. Thấy Chử Đồng Tử là người chân thật, sư Phật Quang truyền cho phép lạ, hơn một năm sau thành tài. Chử Đồng Tử xuống núi trở về nhà, lạy tạ nhà sư và được Phật Quang ban cho một cái gậy, một nón có phép mầu nhiệm biến hoá. Chử Đồng Tử đem phép mầu truyền lại cho Tiên Dung rồi hai vợ chồng du ngoạn cảnh sông núi. Có lần trời tối giữa đường, hai vợ chồng cắm cái gậy xuống đất, úp nón lên đầu gậy, hai người tựa vào nhau dưới nón mà ngủ. Nửa đêm tỉnh giấc, hai vợ chồng thấy mình đang sống trong một cung điện tráng lệ... Tin lạ ấy bay đến tai vua Hùng. Vua cả giận, ngỡ là Chử Đồng Tử và Tiên Dung làm phản bèn sai quân quan đi đánh dẹp. Binh mã triều đình chưa qua sông thì trời tối phải dừng lại. Đêm ấy, Tiên Dung và Chử Đồng Tử cùng bay lên trời. Mưa to, gió lớn, cung điện cũng biến mất. Về sau, bãi ấy gọi là bãi Tự Nhiên, đầm ấy gọi là đầm Nhất Dạ. Nghe nói, thời nước ta bị tàu đô hộ, Chử Đồng Tử đã cưỡi rồng xuống giúp Triệu Việt Vương một cái vuốt rồng cắm lên mũ đầu mâu... Nhờ thế mà quân ta phản công, chém được tường giặc Lương là Dương Sằn, khôi phục lại đất nước. 2. Ý nghĩa. - Chử Đồng Tử " là một truyện cổ tích thần kì, có nhiều dị bản đậm sắc thần kỳ" Nó cũng thuộc đề tài về những kẻ hèn mọn "lấy tiên, lấy công chúa... được kể qua nhiều truyện cổ tích thần kì. Truyện "Chử Đồng Tử" cũng vậy. Chử Đồng Tử mò cua, bắt cá, nghèo khổ, một cái khố cũng không có, nhưng rất hiếu thảo, chân thật. Hạnh phúc cầm tay rồi mà chàng vẫn bối rối, muốn chối từ. Với Tiên Dung thì nàng "gặp" và lấy Chử Đồng Tử là do "duyên trời run rủi", là " tự trời xe duyên". Qua đó, ta thấy truyện Chử Đồng Tử nói lên quan niệm của nhân dân ta về vấn đề hôn nhân là do duyên số, đồng thời thể hiện ước mơ tự do và dân chủ trong tình yêu, trong xây dựng hạnh phúc lứa đôi. Tiên Dung đã chủ động kết duyên với Chử Đồng Tử vượt qua lễ giáo và đẳng cấp, vượt qua mọi thử thách để bảo vệ hạnh phúc. Tình tiết Chử Đồng Tử cưỡi rồng xuống hạ thế giúp Triệu Việt Vương chiếc vuốt rồng linh nghiệm... để quân ta chém được tướng giặc là Dương Sằn, Tổ quốc được giải phóng, đã làm cho truyện cổ tích này thêm vị truyền thuyết thể hiện sâu sắc lòng yêu nước của nhân dân ta. Con người Việt Nam dù đi đâu làm đâu cũng nhớ về cội nguồn, tìm mọi cách để giúp nước. Chử Đồng Tử và Tiên Dung đã sống và hành động như vậy. Nhà sư Phật quang, cái nón và chiếc gậy nhiệm màu, cung điện tự mọc lên, tự mất đi, Chử Đồng Tử và Tiên Dung bay lên trời, Chử Đồng Tử giúp Triệu Quang Phục cái vuốt rồng.... đó là yếu tố hoang đường, kì diệu... làm cho truyện cổ tích này vô cùng hấp dẫn. Các địa danh: làng Chử Xá, bãi Tự Nhiên, đầm Nhất Dạ... nay vẫn còn đó, làm cho truyện cổ tích "Chử Đồng Tử" tuy mang màu sắc hư ảo, thần kì mà như thật, có thật. Rất thú vị về những tên người, tên đất... ấy.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Phân tích nhân vật Trương Phi trong truyện Hồi trống Cổ Thành.

PHÂN TÍCH NHÂN VẬT TRƯƠNG PHI TRONG TRUYỆN HỒI TRỐNG CỔ THÀNH.

Bên cạnh kho tàng văn học dân gian rất đồ sộ với tác phẩm Kinh Thi nổi tiếng, nhân dân Trung Quốc còn rất tự hào với hai đỉnh cao chói lọi là thơ Đường và tiểu thuyết Minh – Thanh. Văn học Minh – Thanh là giai đoạn phát triển cuối cùng của văn học cổ điển Trung Quốc.   Đây là thời kì nền văn học Trung Quốc khá đa dạng, phong phú và đạt nhiều thành công về mặt nghệ thuật. Trong đó có sự lên ngôi đầy vẻ vang của tiểu thuyết. Tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc là một loại truyện dài, được kể thành chương hồi và theo trật tự trước sau của sự việc. Khái niệm tiểu thuyết trong văn học Minh – Thanh khác với tiểu thuyết hiện đại sử dụng ngày nay. Có thể kể đến những đỉnh cao tiêu biểu của tiểu thuyết Minh – Thanh đã rất quen thuộc với chúng ta ngày nay như Tây du kí, Nho lâm ngoại sử, Thuỷ hử truyện, Tam quốc diễn nghĩa, Hồng lâu mộng… Trong đó, Tam quốc diễn nghĩa là tác phẩm phản ánh một thời kì dài và đầy biến động của lịch sử Trung Quốc, đó là thời Tam quốc. La Quán Trung viết tác phẩm này dựa trên ba nguồn tư liệu chính là sử liệu (cuốn sử biên niên Tam quốc chí của Trần Thọ đời Tấn và cuốn Tam quốc chí của Bùi Tùng Chi người Nam Bắc triều) ; dã sử, truyền thuyết trong dân gian ; tạp kịch, thoại bản đời Nguyên (cuốn Tam quốc chí bình thoại). Vì thế tác phẩm vừa là một thiên sử kí, vừa là một tác phẩm văn học có giá trị nghệ thuật.   Qua việc kể lại những câu chuyện về cuộc chiến tranh cát cứ giữa ba tập đoàn phong kiến Nguỵ, Thục, Ngô, bằng nhãn quan chính trị của mình, La Quán Trung đã bày tỏ khát vọng về một xã hội công bằng, ổn định với vua hiền tướng giỏi, nhân dân ấm no. Mặc dù, lấy đề tài từ những câu chuyệnlịch sử đã lùi sâu vào quá khứ nhưng tác giả đã khắc hoạ một thế giới nhân vật sinh động trong những mối quan hệ rất chặt chẽ, với đủ những nét tính cách khác nhau. Không một nhân vật nào trùng lặp nhân vật nào trong thế giới hàng nghìn nhân vật ấy. Đoạn trích Hồi trống Cổ Thành đã phần nào bộc lộ một trong những nét tính cách tiêu biểu của hai nhân vật xuất hiện khá nhiều trong tác phẩm là Quan Vân Trường và Trương Phi. Đoạn trích rất ngắn so với sự đồ sộ của tác phẩm nhưng cũng đã thể hiện được một đặc trưng bút pháp nghệ thuật của La Quán Trung cũng như đặc điểm chung của tiểu thuyết cổ điển Minh – Thanh.    Đoạn trích Hồi trống Cổ Thành có kết cấu hoàn chỉnh và đầy kịch tính. Đây là một đặc điểm trong nghệ thuật trần thuật của tiểu thuyết cổ điển, mỗi chương hồi thường là một câu chuyện có giới thiệu, mở mối, mở nút và thắt nút như kết cấu một vở kịch. Sau khi giới thiệu nhân vật và sự việc thì mở ra mâu thuẫn, rồi mâu thuẫn được đẩy lên đỉnh điểm rồi được giải quyết bằng một hành động nào đó. Trong đoạn Hồi trống Cổ Thành, mở đầu tác giả giới thiệu việc Quan Công đang trên đường tìm về Nhữ Nam gặp Lưu Bị, ngang qua Cổ Thành biết được Trương Phi ở đó bèn đưa hai chị dâu vào. Đồng thời tác giả cũng giới thiệu cảnh ngộ của Trương Phi. Mâu thuẫn bắt đầu khi Trương Phi nghe tin Quan Công đến, vác xà mâu, lao ngựa ra đánh Quan Công, và được đẩy lên cao hơn khi quân mã Sái Dương xuất hiện. Là câu chuyện đậm màu chiến trận nên mọi mâu thuẫn giữa các nhân vật đều được giải quyết bằng hành động. Mâu thuẫn giữa Quan Công và Trương Phi xuất phát từ sự hiểu lầm của Trương Phi nhưng cũng được giải quyết bằng hành động. Hành động chém đầu tướng giặc. Mâu thuẫn chỉ được giải quyết khi đầu Sái Dương rơi xuống đất, còn mọi lời giải thích đều không có ý nghĩa gì. Về mặt nội dung, đoạn trích là một câu chuyện hoàn chỉnh, đặc điểm này giúp cho việc nắm bắt nội dung dễ dàng hơn. Mỗi hồi của tiểu thuyết chương hồi thường giải quyết hoàn chỉnh một mâu thuẫn hoặc hoàn thành diễn biến một sự kiện, đồng thời lại mở ra một câu chuyện mới tạo nên phần nối kết với hồi sau. Vì thế kết thúc mỗi hồi bao giờ cũng có câu : "muốn biết sự việc thế nào xem hồi sau sẽ rõ". Mỗi hồi đều được kết thúc khi mâu thuẫn đang ở cao trào là một kiểu tạo sức hấp dẫn của nghệ thuật kể chuyện trong tiểu thuyết cổ điển.    Vốn là những truyện kể dân gian được sưu tầm và ghi chép lại nên phương thức trần thuật của Tam quốc diễn nghĩa mang đặc điểm truyện kể rất rõ. Truyện được kể theo trật tự thời gian trước sau của sự việc. Nếu sự việc xảy ra đồng thời hoặc muốn chuyển từ nhân vật này sang nhân vật khác thì dùng từ chuyển "lại nói". Truyện kể ít quan tâm đến diễn biến tâm lí và suy nghĩ nội tâm của nhân vật. Tính cách nhân vật được bộc lộ qua hành động và cử chỉ. Tác giả ít xen vào lời giới thiệu hoặc bình luận. Nếu bình luận một trận đánh hoặc một sự việc, hành động nào đó của nhân vật thì tác giả trích một bài thơ, một bài vịnh nào đó của người đời sau. Và tên mỗi chương bao giờ cũng là câu văn đối ngẫu tóm tắt sự việc chính xảy ra trong hồi đó. Nội dung của câu chuyện Hồi trống Cổ Thành được tóm tắt trong câu : "Chém Sái Dương anh em hoà giải ; Hồi Cổ Thành tôi chúa đoàn viên". Đoạn trích này đã thể hiện khá rõ những đặc sắc nghệ thuật trần thuật và nghệ thuật xây dựng nhân vật của Tam quốc diễn nghĩa. Những nét tính cách không thường nổi bật trong tác phẩm của hai nhân vật Quan Công và Trương Phi đã được thể hiện trong đoạn trích. Quan Công vốn rất tự phụ, ít khi nhún nhường ai, nhưng trong trường hợp đặc biệt này, trước cơn giận của Trương Phi, lại rất nhũn nhặn, mềm mỏng. Ở đây hiện lên một Quan Công oai hùng trong tư thế chém đầu tướng giặc nhưng cũng lại là một người anh chín chắn, đúng mực. Còn Trương Phi tính tình vốn xốc nổi, đơn giản nhưng mối nghi ngờ đã làm cho vị anh hùng này thận trọng hơn. Đó là những nét tính cách khác tạo nên sự đa chiều trong nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật của tác giả. Dù thế nào thì mỗi nhân vật của Tam quốc diễn nghĩa vẫn có một tính cách đặc trưng rất cá tính, không thể trộn lẫn vào đâu được. Đoạn trích này ca ngợi tài năng phi thường của Quan Công, lòng dạ thẳng ngay của Trương Phi và trên hết là lòng trung nghĩa sắt son của cả hai người.   Trương Phi nổi tiếng là người ngay thẳng, nóng nảy và trung thực. Nên mọi lí lẽ với Trương Phi đều không có sức thuyết phục. Người như Trương Phi không bao giờ chấp nhận và cũng khó có thể hiểu được những uẩn khúc trong việc Quan Công về ở với Tào Tháo. Vì thế khi nghe tin Quan Công đến Cổ Thành, Trương Phi đã phản ứng rất quyết liệt : "Phi nghe xong, chẳng nói chẳng rằng, lập tức mặc áo giáp, vác mâu lên ngựa…". Nhìn thấy Quan Công thì không thèm nói một lời, "Trương Phi mắt trợn tròn xoe, râu hùm vểnh ngược, hò hét như sấm, múa xà mâu chạy lại đâm Quan Công". Không có lời bình luận, không miêu tả tâm lí nhân vật nhưng tính nóng nảy và sự tức giận của Trương Phi được thể hiện rất rõ qua hành động, nét mặt, lời nói. Phản ứng của Trương Phi thể hiện tính trung thực, yêu ghét rõ ràng. Lời thanh minh của Quan Công, lời giải thích của Cam phu nhân, Mi phu nhân đều chỉ như dầu đổ vào lửa. Trương Phi không thích nghe lí lẽ, chỉ tin vào những điều mắt trông thấy. Cơn giận đang ngùn ngụt lại trông thấy quân mã kéo tới. Cơn giận của Trương Phi được đẩy lên đỉnh điểm "múa bát xà mâu hăm hở xông lại đâm Quan Công". Nhân vật của tiểu thuyết cổ điển tuy có tính cách rất rõ nét nhưng vẫn mang tính ước lệ của văn học trung đại. Vì vậy, hành động của nhân vật bao giờ cũng minh hoạ cho tính cách và tư tưởng giai cấp chứ không nhất thiết tuân theo lôgic tâm lí. Tình nghĩa anh em thuở hàn vi sẽ chẳng có ý nghĩa gì nếu ai đó bị nghi ngờ là phản bội. Chỉ có lí tưởng trung nghĩa là nguyên tắc ứng xử duy nhất. Và mọi mâu thuẫn chỉ được giải quyết trên cơ sở lợi ích cộng đồng. Anh em Quan, Trương đoàn tụ khi đầu Sái Dương rơi xuống đất. Trương Phi thẳng tay đánh trống giục giã Quan Vũ và "rỏ nước mắt thụp lạy Vân Trường" khi nỗi nghi ngờ được giải toả. Việc Trương Phi buộc Quan Công phải chém đầu Sái Dương trong ba hồi trống thể hiện một thái độ dứt khoát và cương quyết, đây cũng là chi tiết đậm màu sắc Tam quốc nhất. Trương Phi biết rõ tài năng của Quan Công, Quan Công từng chém rơi đầu Hoa Hùng, một viên tướng giỏi và trở về doanh trại mà chén rượu vẫn còn nóng. Việc Quan Công chém được Sái Dương không phải là việc khó nhưng lại rất có ý nghĩa bởi đó là cách duy nhất để Quan Công minh oan. Sự minh oan cũng không mấy khó khăn nhưng nó thể hiện thái độ dứt khoát và trắng đen rõ ràng của Trương Phi. Tác giả đã tạo nên một tình huống rất đặc sắc để vừa ngợi ca tình cảm anh em gắn bó nghĩa tình của Lưu, Quan, Trương vừa bộc lộ rõ tính cách thẳng ngay của Trương Phi và đức độ của Quan Công.    Trương Phi và Quan Công là những tướng tài của nhà Thục, tiêu biểu cho nhà Thục. Lưu Bị và nhà Thục là nơi tác giả gửi gắm ước mơ của quần chúng nhân dân về một ông vua hiền, một triều đình chính nghĩa và nhân đạo.    Với lối kể chuyện dân gian, đơn giản hoá tình tiết trong sự đa dạng của sự kiện, Tam quốc diễn nghĩa đã đạt đến chuẩn mực của nghệ thuật kể chuyện. Tam quốc diễn nghĩa là tiểu thuyết cổ điển tiêu biểu ở cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật. Thành công của tác phẩm không chỉ bởi giá trị lớn của tác phẩm về quân sự, lịch sử và về đạo đức mà còn bởi thế giới nhân vật được xây dựng rất thành công. Những nhân vật tiêu biểu của Tam quốc diễn nghĩa đã trở nên rất quen thuộc đối với văn hoá và người đọc phương Đông. Không đi sâu khai thác tính cách bằng diễn biến tâm lí nhân vật như tiểu thuyết hiện đại mà xây dựng tính cách nhân vật bằng những hành động, cử chỉ có ý nghĩa khái quát, La Quán Trung vẫn xây dựng được một thế giới nhân vật đa dạng có khả năng bao quát và tái hiện sinh động một thời kì lịch sử dài gần một trăm năm với rất nhiều biến động. Qua đây tác giả đã gửi gắm những suy nghĩ và thể hiện cái nhìn của mình về xã hội Minh Thanh. Chỉ với một đoạn trích Hồi trống Cổ Thành nhưng hai nhân vật Quan Công và Trương Phi đã nổi lên vẻ đẹp sáng ngời về lòng nhân nghĩa, sự trung thực và chân thành của tình anh em, tôi chúa. Là tiểu thuyết khai thác đề tài trận mạc nhưng Tam quốc đã để lại rất nhiều những câu chuyện giáo dục nghĩa tình, giáo dục lối sống, lối ứng xử theo tiêu chuẩn Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín của người quân tử phương Đông.
Xem thêm

2 Đọc thêm

GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ LỚP LÁ ĐỀ TÀI TRUYỆN QUẢ BẦU TIÊN

GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ LỚP LÁ ĐỀ TÀI TRUYỆN QUẢ BẦU TIÊN

Lĩnh vực phát triển tình cảm kỹ năng xã hộiChủ đề: Thế giới thực vậtĐề tài: Truyện “Quả bầu tiên”Độ tuổi: 5 - 6 tuổiNgày dạy:Người dạy: Bùi Ngọc KhươngQua bâutiênChuyện gì đã xảy ra với một con chim én?Chú bé đã làm gì?Khi mùa xuân đến én nhỏ đã làm gì?Chim én đã trả ơn cậu bé như thế nào?Khi cậu bé bổ quả bầu ra có những gì?Khi nghe tin cậu bé được chim én cho hạtbầu, tên địa chủ đã làm gì?

12 Đọc thêm

Hướng dẫn soạn bài : Lẽ ghét thương (Trích Truyện Lục Vân Tiên)

HƯỚNG DẪN SOẠN BÀI : LẼ GHÉT THƯƠNG (TRÍCH TRUYỆN LỤC VÂN TIÊN)

LẼ GHÉT THƯƠNG (Trích Truyện Lục Vân Tiên) Nguyễn Đình Chiểu I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Nguyễn Đình Chiểu (1822 - 1888) sinh tại làng Tân Thới, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định, mất tại Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu khá lận đận. Lớn lên và theo đuổi nghiệp khoa cử vào lúc xã hội loạn lạc, đất nước rơi vào hoạ xâm lăng, bản thân lại mù loà từ năm 25 tuổi. Bỏ dở nghiệp thi cử, ông chuyển sang học thuốc, làm nghề bốc thuốc chữa bệnh và mở trường dạy học.  2. Truyện Lục Vân Tiên là truyện thơ, được viết dưới hình thức thơ lục bát. Truyện Nôm là thể loại văn học khá phát triển trong lịch sử văn học Việt Nam thế kỉ XVIII - XIX. Đó là những thành tựu đáng tự hào của nền văn học dân tộc. 3. Đoạn trích Lẽ ghét thương (từ câu 473 đến câu 504 của tác phẩm) là lời của một nhân vật trong truyện, đó là nhân vật ông Quán trong cuộc đàm đạo giữa ông và các nho sĩ trẻ tuổi. Từ “ghét” “thương” ở đây cũng không đơn giản là chỉ tình cảm đối với một ai đó. Chuyện ghét thương được nhìn nhận bằng quyền lợi của nhân dân. Quan điểm yêu ghét của ông Quán chính là quan điểm của tác giả, nhà thơ, nhà văn, ông đồ Nguyễn Đình Chiểu.  II. TÓM TẮT TRUYỆN  Nhân vật chính của tác phẩm là Lục Vân Tiên, một chàng trai văn võ song toàn. Cháng đã đánh tan bọn cướp cứu Kiều Nguyệt Nga. Nguyệt Nga nguyện lấy chàng để trả nghĩa. Trên đường đi thi, Lục Vân Tiên nghe tin mẹ mất, chàng phải quay về chịu tang. Chàng khóc thương mẹ đến mà cả hai mắt. Chàng bị Trịnh Hâm ghen ghét đố kị, lừa đẩy chàng xuống sông nhưng chàng được cứu thoát. Võ Thể Loan đã hứa gả con gái cho chàng nay thấy chàng bị mù liền trở mặt, đẩy chàng vào hang sâu. Chàng đã đựoc thần Phật cứu giúp, mắt sáng trở lại, rồi đỗ trạng nguyên, được cử đi đánh giặc Ô Qua. Kiều Nguyệt Nga quyết chung thuỷ với Vân Tiên. Thái sư bắt nàng đi cống cho giặc. Nàng nhảy xuống sông tự vẫn ôm theo bức hình Vân Tiên. Nàng được cứu sống, lại bị cha con Bùi Kiệm ép duyên, nàng bỏ trốn. Tác phẩm kết thúc có hậu, Vân Tiên thắng trận trở về gặp Nguyệt Nga, hai người kết nghĩa vợ chồng.  III. RÈN KĨ NĂNG 1. Vì chưng hay ghét cũng là hay thương ý nói: Biết ghét là vì biết thương. Vì thương dân nên ghét những kẻ làm hại dân. Đây là câu nói có tính chất khái quát tư tưởng của Nguyễn Đình Chiểu trong cả đoạn trích. Tác giả đã lí giải căn nguyên chuyện ghét thương của mình. 2. Ông Quán ghét những kẻ đã bày ra “chuyện tầm phào”. Đó là những nhân vật nổi tiếng tàn ác: Kiệt Trụ mê dâm, U lệ đa đoan, Ngũ bá phân vân, thúc quý phân băng. Hai nhân vật nổi tiếng tàn bạo trong lịch sử phong kiến Trung Hoa thời cổ đại. Những tên vua tàn ác mà tên  tuổi đều gắn với những giai thoại về sự độc ác khôn cùng. Tiếp đến là hai thời kì đen tối của lịch sử Trung Hoa. Kẻ cầm quyền tranh giành quyền lực đẩy nhân dân vào nạn binh đao. Kẻ thì ăn chơi, hưởng thụ sa đoạ, người thì say sưa tranh giành quyền lục nhưng tất cả bọn chúng đều gây ra một hậu quả chung là đẩy nhân dân vào cuộc sống vô cùng khổ cực. Ông Quá ghét những kẻ làm nhân dân phải chịu khổ cực. Cả bốn câu ông đều nhắc đến dân, nhắc đến những hậu quả mà nhân dân lao động phải chịu: dân “sa sầm sẩy hang”, dân chịu “lầm than”, dân “nhọc nhằn” và “lằng hằng rối dân”. Đối tượng ghét là tất cả những gì có hại cho nhân dân. Mức độ ghét cũng rất dứt khoát, rõ ràng và quyết liệt, thể hiện thái độ không khoan nhượng, không dung tha đối với điều xấu. 3. Đối tượng “thương” là nhân vật cụ thể, những bậc hiền tài một lòng giúp đời, giúp dân. Đó là: Khổng Tử, Nhan Tử, Gia Cát, Đổng Tử, Đào Tiềm, Hàn Dũ, Liêm, Lạc. Họ đều là những con người nổi tiếng về tài và đức song lại gặp toàn chuyện không may mắn. Họ đều là người có nhân cách cao cả, đều hết lòng thương yêu dân chúng, sống trọn đạo bề tôi, giữ vững phẩm cách của nhà Nho. Đối tượng “thương” đều là những người tài đức vẹn toàn. Thái độ thương ở đây bao gồm cả sự cảm thông, trân trọng, kính phục của tác giả và cũng là sự tự thương mình của ông Đồ Chiểu. 4. Nhà thơ đã mượn chuyện bàn luận về ghét thương, về lịch sử để thể hiện thái độ của mình đối với cuộc đời. Việc ghét thương gắn chặt với quyền lợi của nhân dân lao động. Việc dẫn toàn những chuyện của sử sách Trung Quốc có ngụ ý nói về xã hội Việt Nam thời nhà Nguyễn. Những chuyện ghét thương ấy là bóng dáng hiện thực xã hội mà tác giả phải chứng kiến. Dùng chuyện lịch sử để nói chuyện hiện thực là cách để tư tưởng và tâm sự của tác giả có thể tự do giãi bày.  5. Tác giả đã sử dụng rất thành công các phương tiện ngôn ngữ như điệp từ, từ láy, thành ngữ, tiểu đối để thể hiện thái độ ghét thương rất rõ ràng, dứt khoát và quyết liệt của mình. Đặc biệt nhà thơ đã sử dụng rất hiệu quả biện pháp nghệ thuật điệp từ ghét, thương và các từ ngữ biểu cảm như: ghét cay ghét đắng, sa sầm sẩy hang, lằng nhằng rối dân, phui pha, ngùi ngùi,… IV. TƯ LIỆU THAM KHẢO 1. Về tác phẩm (Truyện Lục Vân Tiên) “Và cái trữ tình trong Lục Vân Tiên thật đáng mến, đáng yêu, một chất trữ tình đôn hậu mà không thiếu bề sâu sắc. Ta hãy thử lấy một ví dụ thôi, đó là chung quanh bức tượng của Nguyệt Nga vẽ Vân Tiên. Truyện Lục Vân Tiên sau khi mở đầu bằng một cảnh dân chạy giặc, thì bắt đầu ngay một câu chuyện tình giữa Kiều Nguyệt Nga và Lục Vân Tiên; cái chí tình của Nguyệt Nga, ngay những lúc đầu, đã làm cho người đọc cảm động. Việc Nguyệt Nga nhớ Vân Tiên, vẽ ra thành một bức tượng hình Vân Tiên, và từ đó không rời bức tượng nữa, là một điển hình ai ai cũng nhớ từ đó về sau, hễ có Nguyệt Nga là có bức tượng Vân Tiên, Nguyệt Nga tượng trưng cho sự chung tình, lòng chung thủy. Hình ảnh Nguyệt Nga rất trong trẻo, rất đáng quý mến; người con gái ấy thông minh, biết suy nghĩ, biết xử sự hợp nghĩa, hợp tình. Bức tượng Vân Tiên đã thành một điệp khúc trong truyện thơ. Khi bắt đầu vẽ tượng: Làu làu một tấm lòng thành, Hóa ra một bức tượng hình Vân Tiên  Cái tình yêu muôn thuở của con người, khi thì nó hóa ra dệt gấm, như chức cẩm hồi văn của nàng Tô Huệ, khi thì nó ẩn trong tiếng đàn, như chuyện nàng Kiều, khi nó hóa thành những bài thơ như trong Tình sử, khi nó hóa thành một bức chân dung hồi kí như chuyện Kiều Nguyệt Nga. Lục ông đến thăm Kiều công, cha của Nguyệt Nga, cho biết tin đồn vang là Vân Tiên đã chết. Nghe tin đó: Nguyệt Nga đứng dựa bên phòng, Tay ôm bức tượng khóc ròng như mưa. ... Khi Nguyệt Nga được vớt lên, cùng vớt liền với bức tượng. Đến khi vào ở nhà Bùi Ông, không ở được, bởi con là “Bùi Kiệm máu dê”, phải trốn ra đi, thì cũng: Dán trong vách phấn một tờ, Vai mang bức tượng kíp giờ ra đi. Đến lúc tái hợp Vân Tiên- Nguyệt Nga cũng là nhờ bức tượng Vân Tiên: Hỏi rằng bức ấy tượng chi, Khen ai khéo vẽ dung nghi giống mình. Như vậy, Nguyệt Nga với bức tượng là một điển hình của tình yêu chung thủy; tâm sự Nguyệt Nga, chung quanh Nguyệt Nga, đã làm nảy bao câu trữ tình đôn hậu và sâu sắc ở ngòi bút Đồ Chiểu”.  Xuân Diệu (Mấy vấn đề về cuộc đời và thơ văn     Nguyễn Đình Chiểu (Tái bản).        NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1969, tr.45-47) 2. Về đoạn trích "Quán rằng: ghét việc tầm phào, Ghét cay, ghét đắng, ghét vào tận tâm." Chính thái độ yêu ghét dứt khoát mãnh liệt ấy đã tạo cho truyện Lục Vân Tiên một tinh thần đấu tranh, một tinh thần phấn khởi lôi kéo người đọc… … Thương và ghét đều vì nhân dân. Làm lợi cho dân thì thương, làm hại cho dân thì ghét: Ghét đời Kiệt Trụ mê dâm ... Sớm đầu tối đánh lằng nhằng rối dân. … Nguyễn Đình Chiểu cũng đứng trên lập trường nhân nghĩa của nhân dân mà có một thái độ dứt khoát: yêu và ghét, “Ghét cay, ghét đắng, ghét vào tận tâm”… Thái độ thật dứt khoát ấy được xây dựng trên một lý tưởng vững chắc bền bỉ, không gì lay chuyển nổi. Nhân vật Kiều Nguyệt Nga tiêu biểu cho cái lý tưởng ấy. Trong truyện Lục Vân Tiên mỗi nhân vật chính diện đều theo đuổi một lý tưởng như vậy”. Vũ Đình Liên       (Mấy vấn đề về cuộc đời và      thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, Sđd) WWW.SOANBAI.COM
Xem thêm

4 Đọc thêm

Hãy phân tích câu thơ :Trai thời trung hiếu làm đầu gái thời tiết hạnh làm câu trau mình

HÃY PHÂN TÍCH CÂU THƠ :TRAI THỜI TRUNG HIẾU LÀM ĐẦU GÁI THỜI TIẾT HẠNH LÀM CÂU TRAU MÌNH

Mở đầu truyện lục vân tiên của nguyễn đình chiểu có viết: Trai thời trung hiếu làm đầu gái thời tiết hạnh làm câu trau mình Hãy giải thích câu thơ ấy.Đạo làm người ấy có phù hợp với xá hội ngày này không?

1 Đọc thêm

TRUYỆN KIỀU VÀ NGUYỄN DU

TRUYỆN KIỀU VÀ NGUYỄN DU

Nguyễn Du viết “Truyện Kiều” vào đầu thế kỉ XIX( 1805 –1809). Truyện dựa theo cốt truyện “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân ( Trung Quốc). Lúc đầu, Nguyễn Du đặt tên là “Đoạn trường tân thanh” ( Khúc ca mới đứt ruột hay Tiếng kêu đứt ruột) sau này, người ta quen gọi là “Truyện Kiều”. Một biểu hiện nữa về sự sáng tạo của Nguyễn Du qua “Truyện Kiều” là:+ “Kim Vân Kiều truyện” viết bằng chữ Hán, thể loại văn xuôi, có kết cấu thành từng chương (hồi). Toàn bộ tác phẩm gồm 20 chương.+ Đến Nguyễn Du đã trở thành tác phẩm trữ tình,viết bằng chữ Nôm, theo thể lục bát có độ dài 3254 câu. Ông đã có những sáng tạo lớn về nhiều mặt nội dung cũng như nghệ thuật.
Xem thêm

6 Đọc thêm

ĐỀ KIỂM TRA NGỮ VĂN LỚP 9 CHUYEN DE THO TRUNG DAI LOP 9

ĐỀ KIỂM TRA NGỮ VĂN LỚP 9 CHUYEN DE THO TRUNG DAI LOP 9

Câu 2:Nêu những nét chính về thời đại, gia đình, cuộc đời Nguyễn Du đã có ảnh hưởngđến việc sáng tác Truyện Kiều?Đáp án:Nguyễn Du (1765- 1820) tên chữ:Tố Như, Hiệu: Thanh Hiên. Quê làng Tiên Điền,Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Ông sinh trưởng trong một gia đình đại quý tộc nhiều đời làmquanvà có truyền thông về văn học. Thuở nhỏ ông được sống vinh hoa phú quí, lên 9tuổi mồ côi cha, 12 tuổi mồ côi mẹ, ông sống nương nhờ người anh cùng cha khác mẹlà Nguyễn Khản.Nguyễn Du sinh trưởng vào cuối TK XVIII đầu TK XIX, trong một thời đại cónhiều biến động dữ dội: Xã hội phong kiến Việt Nam bước vào thời kì khủng hoảngsâu sắc. Ông đã sống nhiều năm lưu lạc, tiếp xúc nhiều vùng văn hóa, nhiều cảnh đời,những con người, những số phận khác nhau. Những thay đổi kinh thiên động địa củathời đại đã tác động mạnh tới tình cảm, nhận thức của Nguyễn Du để ông hướng ngòibút vào hiện thực:“ Trải qua một cuộc bể dâu3Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”.- Mức tối đa: Như đáp án- Chưa tối đa: Trả lời có ý đúng nhưng chưa đầy đủ.- Không đạt: Trả lời sai hoặc không có câu trả lời.Câu 3:Nghĩa của từ được biểu đạt tinh tế trong văn cảnh. Em hãy giải thích nghĩa của từ “chân trời” trong câu thơ sau:“ Cỏ non xanh tận chân trờiCành lê trắng điểm một vài bông hoa”.Đáp án:
Xem thêm

10 Đọc thêm

LUYỆN TẬP VỀ LẬP LUẬN PHÂN TÍCH: TÁC PHẨM VĂN XUÔI

LUYỆN TẬP VỀ LẬP LUẬN PHÂN TÍCH: TÁC PHẨM VĂN XUÔI

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Tác phẩm văn xuôi tái hiện đời sống thông qua cốt truyện, hệ thống nhân vật, tình tiết, chi tiết, sự kiện… Tác phẩm văn xuôi có khả năng phản ánh hiện thực rất rộng lớn. 2. Khi phân tích tác phẩm văn xuôi cần chú ý đến: cốt truyện, nhân vật, chi tiết, tình huống, hiện thực đời sống được phản ánh trong tác phẩm… Qua việc phân tích làm rõ giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm văn xuôi. II. RÈN KĨ NĂNG Câu 1 a) Nội dung chính mà người viết muốn làm nổi bật ở đoạn văn là sự tinh tế, tài tình của Thạch Lam trong việc sử dụng ngôn từ để thể hiện sự tranh chấp bóng tối – ánh sáng trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ”. Qua đó thể hiện triết lí về thân phận con người. Có thể đặt tên sau cho đoạn trích: “Bóng tối – ánh sáng trong “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam” b) Để làm nổi bật nội dung cần phân tích, người viết đã dựa vào các yếu tố sau của tác phẩm: - Thể loại: Truyện ngắn, có mở đầu – “biến diễn” – kết thúc - Cốt truyện - Các chi tiết, hình ảnh, câu chữ: “Con tàu như đem một chút thế giới khác đi qua”, “Bầu trời đỏ rực như lửa cháy”, “êm ả, yên lặng, thong thả, gượng nhẹ”… - Văn phong, câu cú “Hà Nội xa xăm, hà Nội sáng rực, vui vẻ và huyên náo” - Nhân vật (Liên). Câu 2 a) Phân tích ý nghĩa của các sự vật mà dân gian đã chọn cho Tấm hoá thân trong truyện Tấm Cám. Mở đoạn: Trong truyện cổ tích “Tấm Cám”, cô Tấm đã bốn lần hoá thân. Mỗi sự vật hoá thân có những ý nghĩa riêng. Thân đoạn: - Chúng đều rất đẹp, thanh cao, thơm thảo: vàng anh là giống chim quý và đẹp, xoan đào có gỗ tốt, quả thị thơm tho.. - Chúng đều có ích, gắn bó với người dân lao động: cây xoan đào cho mắc võng nằm, khung cửi dệt vải mặc… Như vậy chúng phù hợp với cô Tấm thảo hiền, xinh đẹp. - Các sự vật ấy phù hợp với diễn biến câu chuyện. Kết đoạn: Các sự vật hoá thân càng khiến cô Tấm trở nên đẹp đẽ, đáng yêu, đáng mến; giúp câu chuyện trở nên hấp dẫn, li kì. b) Phân tích giá trị của tình huống truyện trong đoạn trích “Hồi trống Cổ Thành” (trích Tam quốc diễn nghĩa – La Quán Trung) Mở đoạn: - Đoạn trích “Hồi trống Cổ Thành” hấp dẫn người đọc bởi tình huống truyện hấp dẫn. Thân đoạn: - Tình huống truyện là gì? - Phân tích tình huống truyện: + Mâu thuẫn: Trương Phi tính nóng nảy, chưa rõ đầu đuôi sự việc, nghi ngờ Quan Công – Quan Công gặp nhiều uẩn khúc. + Cao trào: Hai anh em vốn kết nghĩa vườn đào, thề sinh tử có nhau bất ngờ lao vào đánh nhau. (Để chứng minh lòng trung thành của mình, trong vòng ba hồi trống Cổ Thành, Quan Vũ phải giết kẻ thù.) + Cởi nút: Trương Phi đánh trống, Quan Công giết được giặc. Kết đoạn: Tình huống truyện góp phần bộc lộ tính cách nhân vật, thể hiện tài năng của tác giả. c) Chất thơ trong truyện Hai đứa trẻ của Thạch Lam. Mở đoạn: - Hai đứa trẻ của Thạch Lam là một truyện ngắn giàu chất thơ. Thân đoạn: - Truyện đi sâu vào thế giới nội tâm của hai đứa trẻ nên giàu cảm xúc hồn nhiên trong sáng. - Câu văn dài, cách miêu tả chi tiết, gợi hình. - Ngôn ngữ rất tinh tế, dùng nhiều từ láy, tính từ; dùng nhiều biện pháp so sánh, …. Kết đoạn: - Chất thơ đã góp phần làm nên thành công cho tác phẩm. loigiaihay.com Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học
Xem thêm

2 Đọc thêm

Đề +HDC HSG huyen ngữ văn 9

Đề +HDC HSG huyen ngữ văn 9

ĐỀ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI HUYỆN LỚP 9 Môn: Ngữ văn Thời gian làm bài: 150 phút (không kể giao nhận đề) Câu 1 (2,0 điểm): Em hãy trả lời các câu hỏi sau: 1. Đây là nhận định về nhà văn nào ? Là nhà văn hiện thực xuất sắc với những truyện ngắn, truyện dài chân thực viết về người nông dân nghèo đói bị vùi dập và người trí thức nghèo sống mòn mỏi, bế tắc trong xã hội cũ. 2. Là nhà văn Đan Mạch nổi tiếng với loại truyện kể cho trẻ em. Nhiều truyện ông biên soạn lại từ truyện cổ tích, nhưng cũng có những truyện do ông hoàn toàn tự sáng tạo ra. Bạn đọc khắp năm châu quen thuộc với nhiều truyện của ông như Nàng công chúa và hạt đậu, Bầy chim thiên nga, Nàng tiên cá … Hãy cho biết ông là ai ?
Xem thêm

Đọc thêm

TÀI LIỆU THAM KHẢO GIÁO án ôn bồi DƯỠNG học SINH GIỎI lớp 6, SOẠN THEO CHỦ đề và TUẦN

TÀI LIỆU THAM KHẢO GIÁO án ôn bồi DƯỠNG học SINH GIỎI lớp 6, SOẠN THEO CHỦ đề và TUẦN

Giúp HS :Nắm chắc khái niệm truyền thuyết.Nắm vững hơn nội dung, ý nghĩa của hai truyền thuyết Con Rồng, cháu tiên và Bánh chưng, bánh giầy.Phát hiện được và hiểu ý nghĩa của các chi tiết tưởng tượng, kì ảo của hai truyện .Biết kể sáng tạo nội dung hai truyện .Nắm được cấu tạo từ và từ các từ đã cho biết tạo các kiểu câu.Bước đầu biết được 6 phương thức biểu đạt chính của văn bản

Đọc thêm

NÀNG TIÊN CÁ ( TRUYỆN TRANH BẢN ĐẸP)

NÀNG TIÊN CÁ ( TRUYỆN TRANH BẢN ĐẸP)

Câu chuyện nàng tiên cá chắc hẳn không xa lạ gì với mọi người. Chúng ta cùng đọc và nhớ lại những chi tiết xảy ra trong truyện nhé. Vì là truyện tranh màu nên rất bắt mắt và tăng thêm phần hấp dẫn cho truyện đọc.

32 Đọc thêm

(TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN) NHÂN VẬT ANH HÙNG VĂN HÓA TRONG TRUYỆN KỂ DÂN GIAN VỀ THỜI KỲ VĂN LANG ÂU LẠC

(TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN) NHÂN VẬT ANH HÙNG VĂN HÓA TRONG TRUYỆN KỂ DÂN GIAN VỀ THỜI KỲ VĂN LANG ÂU LẠC

Cơ luôn hiện diện trong tâm thức dân gian trong những phong tục đánhdấu tuổi trưởng thành này.- Phong tục hôn nhânThời kỳ này có sự rút lui của chế độ hôn nhân lạc hậu nhường chỗ chomột hình thái gia đình mới. Phong tục hôn nhân từ thời kỳ Văn Lang - ÂuLạc đã mang nét đặc trưng riêng biệt. Việc hôn nhân thoạt nhìn đó là củahai người nhưng đối với cộng đồng cư dân nông nghiệp là sự kéo theo việcxác lập quan hệ của hai dòng tộc, của hai cộng đồng nhỏ. Những cuộc gắnkết của Lạc Long Quân với Âu Cơ, Sơn Tinh với Mị Nương, Chử Đồng Tửvới Tiên Dung… mang vết dấu của sự hòa trộn của các dòng dân cư. Phongtục hôn nhân và tính cộng đồng còn thể hiện rõ khi cộng đồng coi đó làmột công cụ duy nhất và thiêng liêng để duy trì dòng dõi và phát triểnnguồn nhân lực.- Phong tục tang maTrước khi đem chôn xác chết, một số nghi lễ được cử hành, phản ánhquan niệm của con người về cõi sống, cõi chết. Cộng đồng cư dân tin rằng22người chết sẽ tiếp tục một cuộc sống mới ở một thế giới khác. Nhân vật anhhùng văn hóa trong truyện kể dân gian sau khi chết có sự hiển linh âm phù.3.3.2.3. Phong tục tập quán liên quan đến sinh hoạt cộng đồng và anhhùng văn hóa khai sáng, kiến thiết xã hội, bảo trợ cho cuộc sống củacộng đồngPhong tục hái lộc đầu xuân mà vua Hùng khởi xướng với mong ướcđem lại điều tốt lành cho gia đình, dòng dõi, tông tộc.Phong tục ăn trầu với nét đẹp nghĩa tình mang đậm bản sắc văn hóa dântộc, biểu trưng cho triết lý “mở” của cư dân nông nghiệp lúa nước. Vua Hùngđã trở thành người anh hùng văn hóa khai sáng phong tục đẹp của dân tộc.Phong tục kết chạ mà Thánh Tản khơi nguồn giữa hai làng miền núi và
Xem thêm

27 Đọc thêm

Soạn bài: Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga

SOẠN BÀI: LỤC VÂN TIÊN CỨU KIỀU NGUYỆT NGA

Hướng dẫn soạn văn, soạn bài, học tốt bài LỤC VÂN TIÊN CỨU KIỀU NGUYỆT NGA (Trích Truyện Lục Vân Tiên) Nguyễn Đình Chiểu I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu từng được xem là "một trong những sản phẩm hiếm có của trí tuệ con người có cái ưu điểm lớn là diễn tả được trung thực những tình cảm của một dân tộc" (Lời nói đầu bản dịch của G. Ô-ba-rê, trong Một số tư liệu về cuộc đời và thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, NXB Khoa học xã hội, 1965). 2. . Truyện Lục Vân Tiên có kiểu kết cấu ước lệ theo khôn mẫu của truyện truyền thống: người tốt gặp gian truân, bị kẻ xấu hãm hại nhưng được phù trợ và cứu giúp, cuối cùng được đền đáp xứng đáng, kẻ xấu bị trừng trị. Đây là loại truyện thể hiện khát vòng cháy bỏng của nhân dân: ở hiền gặp lành, cái thiện chiến thắng cái ác. 3. Hình ảnh Lục Vân Tiên trong đoạn trích là một chàng trai nghĩa hiệp, tài giỏi, không chịu nổi cảnh "bất bình": - Vân Tiên ghé lại bên đàng, Bẻ cây làm gậy nhằm làng xông vô… - Vân Tiên tả đột hữu xông Khác nào Triệu Tử phá vòng Đương Dang Hành động đó thể hiện tính cách anh hùng, tài năng và tấm lòng cao thượng của Vân Tiên. Hình ảnh Vân Tiên trong trận đánh được miêu tả theo phong cách văn chương cổ, đó là theo cách so sánh với mẫu hình lí tưởng Triệu Tử Long (Triệu Vân) một mình phá vòng vay của Tào Tháo trong trận Đương Dang (Đương Dương) nổi tiếng. Thái độ cư xử của Vân Tiên với Kiều Nguyệt Nga sau khi đánh cướp cũng thể hiện rõ bản chất của con người hào hiệp, trọng nghĩa khinh tài, từ tâm, nhân hậu. Tuy có màu sắc của lễ giáo phong kiến (Khoa khoan ngồi đó chớ ra – Nàng là phận gái, ta là phận trai) nhưng đoạn thơ vẫn thể hiện đức tính khiêm nhường đáng quí của chàng. 4. Đoạn trích cũng cho thấy: Kiều Nguyệt Nga tuy là cô gái khuê các nhưng thuỳ mị, nết na, có học thức. Trước ân nhân, nàng giãi bày rất chan thành: Trước xe quân tử tạm ngồi Xin cho tiện thiếp lay rồi sẽ thưa Không những thế, nàng còn tỏ ra rất áy náy, tìm mọi cách để trả ơn chàng, và ý thức sâu sắc rằng: Lấy chi cho phỉ tấm lòng cũng ngươi Đó là một vẻ đẹp tâm hồn trong sáng, cũng là vẻ đẹp lí tưởng nhân văn của tác phẩm Truyện Lục Vân Tiên. 4. Truyện Lục Vân Tiên ban được Nguyễn Đình Chiểu sáng tác và truyền miệng qua các môn đệ, dưới hình thức "kể thơ", tác giả trực tiếp thể hiện tình cảm của mình đối với nhân vật, do đó có tính dân gian đậm nét. Ngôn ngữ thể hiện trong đoạn trích là ngôn ngữ bình dân, giản dị, gần với lời ăn tiếng nói của người dân Nam Bộ, rất tự nhiên cho nên nó có sức sống lâu bền trong đời sống. II. RÈN LUYỆN KỸ NĂNG 1. Đoạn thơ có nhiều đoạn đối thoại, cần đọc rõ giọng của nhân vật. 2. Đây cũng là đoạn thơ có nhiều thuận lợi cho việc rèn kĩ năng đọc diễn cảm, từ đó có thể hiểu thêm về sắc thái đa dạng của ngôn ngữ.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Đọc hiểu văn bản " Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga"

ĐỌC HIỂU VĂN BẢN " LỤC VÂN TIÊN CỨU KIỀU NGUYỆT NGA"

I - TÌM HIỂU CHUNG 1. Tác giả: - Quê mẹ ở huyện Tân Thới, tỉnh Gia Định (nay là thành phố Hồ Chí Minh); quê cha ở xã Bồ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên  Huế, nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu (tức Đồ Chiểu, 1822-1888) thi đỗ tú tài năm 1843; đến năm 1849 thì mắt bị mù, ông về Gia Định dạy học và bốc thuốc chữa bệnh cho dân. Khi thực dân Pháp xâm lược Nam Kỳ, Nguyễn Đình Chiểu tích cực tham gia phong trào kháng chiến, cùng các lãnh tụ nghĩa quân bàn việc đánh giặc, đồng thời sáng tác thơ văn khích lệ tinh thần nghĩa sĩ. Khi Nam Kì rơi vào tay giặc, ông về sống ở Ba Tri (Bến Tre). Mặc dù thực dân Pháp và tay sai nhiều lần mua chuộc, dụ dỗ nhưng Nguyễn Đình Chiểu đã giữ trọn lòng trung thành với Tổ quốc, kiên quyết không hợp tác với chúng. - "Nguyễn Đình Chiểu là một trong những nhà thơ đầu tiên ở Nam Bộ đã dùng chữ Nôm làm phương tiện sáng tác chủ yếu, để lại một khối lượng thơ văn khá lớn và rất quý báu. Trước khi thực dân Pháp xâm lược, sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu thiên về thể loại truyện thơ Nôm truyền thống, xoay quanh đề tài đạo đức xã hội, nổi tiếng nhất là truyện Lục Vân Tiên (khoảng đầu những năm 50, thế kỉ XIX) rồi đến Dương Từ - Hà Mậu. Sau khi thực dân Pháp xâm lược, Nguyễn Đình Chiểu viết một loại tác phẩm nhằm khích lệ tinh thần chiến đấu hi sinh của nhân dân Pháp xâm lược, Nguyễn Đình Chiểu viết một loại tác phẩm nhằm khích lệ tinh thần chiến đấu hi sinh của nhân dân và biểu dương những tấm gương anh hùng, liệt sĩ: Chạy tây (1859), Văn Tế Trương Định (1864), Mười hai bài thơ điếu Phan Tòng (1868), Văn tế nghĩa sĩ trận vọng Lục tỉnh (1874), ngoài ra còn Thảo thử hịch (Hịch đánh chuột), Thư gửi cho em và mốt số bài thơ Đường luật khác như Ngựa Tiêu sương, Từ biệt cố nhân, Tự thuật...Từ sau khi Nam Bộ lọt hoàn toàn vào tay giặc, Nguyễn Đình Chiểu còn viết một truyện thơ Nôm dài dưới hình thức hỏi đáp về y học Ngự Tiều y thuật vấn đáp. Có thể Nguyễn Đình Chiểu còn là tác giả của bài Hịch kêu gọi nghĩa binh đánh tây rất phổ biến ở Nam Kì những ngày đầu chống Pháp. Nguyễn Đình Chiểu đã trao đổi ngòi bút của mình một "thiên chức" lớn lao là truyền bá đạo làm người chân chính và đấu tranh không mệt mỏi với những gì xấu xa để tiện, trái đạo lí, nhân tâm. Đó là khát vọng hành đạo cứu đời của người nho sĩ không may bị tật nguyền nhưng lòng vẫn tràn đầy nhiệt huyết. Từ tác phẩm đầu tay đến tác phẩm cuối cùng, chưa bao giờ ngòi bút Nguyễn Đình Chiểu xa rời thiên chức ấy: " Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm, Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà" (Trịnh Thu Tiết - Từ tác giả tác phẩm văn học Việt Nam dùng cho nhà trường, NXB Đại học Sư phạm, 2004). 2. Tác phẩm - Truyện Lục Vân Tiên là một truyện thơ Nôm rất nổi tiếng ở Nam Kì và Nam Trung Kỳ, được Nguyễn Đình Chiểu sáng tác khoảng đầu những năm 50 của thế kỉ XIX. Do được lưu truyền chủ yếu dưới hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian (kể thơ, nói thơ, hát thơ...) nên truyện có nhiều bản khác nhau. Theo văn bản phổ biến hiện nay thì truyện có 2082 câu thơ, được sáng tác theo thể lục bát. - "Truyện được sáng tác dưới hình thức truyện kể, ban đầu chỉ truyền miệng và chép tay, lưu hành trong đám môn đệ và những người mến mộ tác giả, rồi sau mới lan rộng ra nhân dân và ngay lập tức được truyền tụng rộng rãi khắp chợ cùng quê, hội nhập được sinh hoạt văn hoá dân gian, đặc biệt là ở Nam Kỳ, dưới hình thức "kể thơ","nói thơ," Vân Tiên"hát" Vân Tiên.Truyện được xuất bản lần đầu bằng chữ Nôm năm 1986 bằng chữ quốc ngữ năm 1897, bản dịch tiến Pháp đầu tiên là bản dịch của G.Aubaret xuất bản năm 1864. Từ đó đến nay có rất nhiều bản in khác nhau, do đó cũng có rất nhiều dị bản, có khi thêm bớt cả trăm câu thơ, đặc biệt là ở đoạn kết. Theo văn bản thường dùng hiện nay, truyện có 2082 câu thơ lục bát. Truyện kể về một chàng trai văn võ song toàn, tên là Lục Vân Tiên. Đang theo thầy học tập trên núi, nghe tin triều đình mở khoá thi, Vân Tiên xin phép thầy xuống núi đua tài. Dọc đường về thăm cha mẹ, Vân Tiên gặp một đám cướp đang hoành hành. Chàng đã một mình bẻ gậy xông vào đánh tan bọn cướp, cứu thoát tiểu thư con quan Tri Phủ là Kiều Nguyệt Nga. Làm xong việc nghĩa, không màng đến sự trả ơn, Vân Tiên thanh thản ra đi, gặp và kết bạn với Hớn Minh. Còn Nguyệt Nga, về tời phủ đường của cha, cảm ơn cứu mạng và cũng mến phục tài đức của Vân Tiên, nàng đã hoạ một bức hình Vân Tiên treo luôn bên mình. Vân Tiên về thăm cha mẹ rồi cùng Tiểu đồng lên đường tới trường thi. Qua Hàn Giang, chàng ghé thăm nhà Võ Công, người đã hứa gả con gái là Võ Thể Loan cho chàng. Thấy Vân Tiên khôi ngô tuấn tú, Võ Công rất mừng, giới thiệu cho chàng một người bạn đồng hành là Vương Tử Trực, lại cho con gái ra tiễn đưa Vân Tiên với những lời dặn dò tình nghĩa. Vân Tiên cùng Tử Trực tới kinh đô, gặp Trịnh Hâm, Bùi Kiệm, cả bốn người vào quán uống rượu, làm thơ. Thấy Vân Tiên, Tử Trực tài cao, Trịnh Hâm sinh lòng đố kỵ, ghen ghét. Đúng ngày vào thi, Vân Tiên nhận được tin mẹ chết, vội bỏ thi trở về quê chịu tang. Đường sá xa xôi vất vả, lại thương khóc mẹ nhiều, Vân Tiên bị đau mắt nặng. Tiểu đồng hết lòng chạy chữa thuốc thang nhưng chỉ gặp toàn những lang băm và các thầy bói, thầy pháp lừa đảo, bịt bợm nên tiền mất mà tật vẫn mang, Vân Tiên bị mù cả hai mắt. Đang khi bối rối lại gặp Trịnh Hâm đi thi trở về. Vốn sẵn tính đố kỵ, độc ác, Trịnh Hâm lập âm mưu dụ Tiểu đồng vào rừng hái thuốc, rồi trói vào gốc cây, lại nói dối Vân Tiên là Tiểu đồng đã bị cọp vồ. Hắn đưa Vân Tiên xuống thuyền, hứa sẽ về đến tận nhà. Nhưng khi thuyền ra giữa vời, lợi dụng đêm khuya thanh vắng, hắn đã đẩy chàng xuống nước. Tiểu đồng được Sơn quân cởi trói, tưởng Vân Tiên đã chết liền ở lại đó "che chói giữ mả", thờ phục sớm hôm. Còn Vân Tiên được Giao Long dìu đỡ, đưa vào bãi, lại được ông Ngư vớt lên, cứu chữa. Vân Tiên nhờ đưa tới nhà họ Võ để nương tựa. Nhưng cha con Võ Công tráo trở đã tìm cách hãm hại Vân Tiên, đem chàng bỏ vào trong hang núi Thương Tòng. Năm sáu ngày sau nhờ Du thần cứu, Vân Tiên mới ra được khỏi hang, lại được ông Tiều cho ăn và cõng ra khỏi rừng. May mắn chàng lại gặp được bạn hiền là Hớn Minh, vì "bẻ giò" cậu công tử con quan để cứu người con gái bị cưỡng bức giữa đường, Hớn Minh đã phải bỏ thi, lẩn trốn ở trong rừng. Hớn Minh đưa Vân Tiên về ngôi chùa cổ trong rừng nương náu. Cha con Võ Công, sau khi hãm hại được Vân Tiên lại tìm cách ve vãn Vương Tử Trực, lúc này đã đỗ thủ khoa đến nhà họ Võ để hỏi thăm tin tức Vân Tiên. Vương Từ Trực lòng dạ thẳng ngay đã mắng thẳng vào mặt cha con Võ công bội bạc, phản phúc, khiến Võ Công hổ thẹn sinh bệnh mà chết. Còn Kiều Nguyệt Nga nghe tin Vân Tiên đã chết, nàng thề sẽ suốt đời thủ tiết thờ chồng. Nàng đa từ chối lời cầu hôn của gia đình quan Thái sự cho nên bị Thái sự thù oán, tâu vua bắt nàng đi cống giặc Ô Qua. Trước khi phải ra đi, nàng đã sang nhà họ Lục làm chay bảy ngày cho Lục Vân Tiên theo lễ vợ chồng, rồi để tiền bạc lại nuôi cha Vân Tiên. Khi thuyền tới nơi biên giới, Nguyệt Nga đã ôm bức bình hình Vân Tiên nhảy xuống biển, quan quân phải đem cô hầu gái Kim Liên thế vào. Nhờ được sóng thần và Phạt quan âm cứu giúp, Nguyệt Nga dạt vào vườn hoa nhà họ Bùi. Bùi ông, cha của Bùi Kiệm về, hắn vẫn tán tỉnh, đòi lấy nàng làm vợ. Nguyệt Nga phải giả nhận lời, để tìm kế hoãn binh, rồi nửa đêm, nàng mang bức bình Vân Tiên trốn khỏi nhà họ Bùi vào rừng, nương nhờ ở nhà một bà lão dệt vải. Trong khi đó, Lục Vân Tiên đã được Tiên ông cho thuốc, mắt sáng như xưa. Chàng từ biệt Hớn Minh, trở về nhà thăm cha, viếng mộ mẹ. Biết chuyện Nguyệt Nga, Vân Tiên cảm động, tìm đến thăm Kiều công, cha của nàng, rồi ở lại đó ôn nhuần kinh sử. Năm sau, gặp khoa thi, chàng đõ Trạng Nguyên. Xảy ra có giặc Ô Qua gây hấn, Vân Tiên phụng mệnh vua cầm quân đi đánh giặc, tiến cử Hớn Minh làm phó tướng. Giặc tan, Vân Tiên mải đuổi theo tướng giặc, lạc vào rừng, tời nhà lão bà để hỏi thăm đường và gặp được Kiều Nguyệt Nga. Chàng trở lại triều đình, tâu trình mọi việc với vua. Sở vương tỉnh ngộ, cách chức Thái sư, sắc phong chức cho Kiều công, ban thưởng những người có công dẹp giặc. Những kẻ bạc ác bất nhân như Trịnh Hâm, mẹ con Võ Thể Loan đều không thoát được lưới trời. Tiểu đồng, Ngư ông, Tiều phu đều được đền ơn xứng đáng. Vân Tiên và Nguyệt Nga sum họp một nhà, chung hưởng hạnh phúc dài lâu" (Trịnh Thu Tiết - Từ tác giả tác phẩm văn học Việt Nam dùng cho nhà trường, Sđd). - Đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga nằm ở phần đầu của truyện. Nghe tin triều đình mở khoa thi, Lục Vân Tiên từ giã thầy xuống núi đua tài. Trên đường trở về nhà thăm cha mẹ, gặp bọn cướp hoành hành, Lục Vân Tiên đã một mình đánh tan bọn cướp, cứu được Kiều Nguyệt Nga. Sau đó, Vân Tiên lại tiếp tục cuộc hành trình. II - GIÁ TRỊ TÁC PHẨM 1. Qua đoạn trích, có thể nhận ra những tính cách nổi bật của Lục Vân Tiên. Trước hết, đó là sự cương trực, nghĩa khí, trọng lễ nghĩa và đạo lí. Đó là một chuẩn mực cho vẻ đẹp của kẻ trượng phu thời phong kiến. Qua những lời Kiều Nguyệt Nga nói với Lục Vân Tiên, có thể thấy nàng là một người con gái khuê các, ăn nói nhỏ nhẹ, dịu dàng: "Chút tôi liễu yếu đào tơ", "Xin theo cùng thiếp đền ân cho chàng"... 2. Hai nhân vật (Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga) trong đoạn trích này chủ yếu được miêu tả qua hành động và ngôn ngữ. Hành động thì mạnh mẽ, dũng cảm, lời nói thì cương trực, thẳng thắn, không một chút vòng vo uẩn khúc. Cách miêu tả như vậy rất gần với cách miêu tả trong truyện cổ tíc h: các nhân vật thường có tính cách nhất quán, rõ ràng, phân biệt rõ chính và tà, phải và trái, thiện và ác,... 3. Ngôn ngữ trong Truyện Lục Vân Tiên rất gần với ngôn ngữ trong ca dao dân ca, rất mộc mạc, giản dị chứ không hàm súc, đa nghĩa như ngôn ngữ trong Truyện Kiều hay các tác phẩm thơ được viết theo thể lục bát sau này. Điều đó một phần có thể do điều kiện sáng tác (Nguyễn Đình Chiểu bị mù, khi viết thường phải nhờ người khác chép lại), một phần khác do cái "chất Nam Bộ" trong con người và cả trong văn chương Nguyễn Đình Chiểu. Có thể nói ông là người con của miền đất Nam Bộ, sống mộc mạc, giản dị và có tính cách rất mạnh mẽ, dứt khoát. Xem thêm: I/Đôi nét về tác giả: Nguyễn Đình Chiểu sinh năm 1822 tại làng Tân Khánh, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định (nay thuộc TP Hồ Chí Minh). Tự là Mạnh Trạch, hiệu là Hiếu Trai. Ông mất tại Ba Tri (Bến Tre) vào năm 1888. Cha ông vốn là một viên quan nhỏ. Cha bị cách chức nên ông đã có một thời tuổi trẻ khó khăn phải về tá túc tại quê nội ở Huế học nhờ một người bạn của cha. Năm 1843, nhờ chuyên tâm học hành Nguyễn Đình Chiểu đã đậu Tú Tài ở Gia Định. Ba năm sau khi đang chuẩn bị thi Hội ở Huế thì được tin mẹ mất, ông phải bỏ thi về chịu tang. Trên đường về vì than khóc nhiều, ông đã bị nhuốm bệnh rồi mù hẳn khi đang ở tuổi 26. Tiếp đó, gia đình vị hôn thê lại bội ước, ông về quê mẹ dạy học và làm thuốc, sông nghèo khổ trong hoàn cảnh đất nước bị thực dân Pháp xâm lược Nam Bộ. Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu đã chịu nhiều đau khổ bất hạnh nhưng ông vẫn sống với đạo dức cao cả, không để thực dân Pháp mua chuộc. Đứng về phía những người kháng chiến, dù không trực tiếp cầm vũ khí chiến đấu, ông vẫn luôn cùng bàn bạc với các lãnh tụ nghĩa quân và sáng tác thơ văn động viên cổ vũ những hành động đánh giặc rất chính nghĩa, anh hùng của nhân dân ta. II/Truyện thơ Lục Vân Tiên : 1/Tóm tắt : -Lục Vân Tiên là một học trò có đức có tài, giỏi cả văn võ. Trên đường lên Kinh dự thi, chàng tình cờ dẹp được giặc cướp Phong Lai và cứu được Kiều Nguyệt Nga. Cô gái này rất cảm phục chàng. -Giữa đường, nghe tin mẹ mất, Vân Tiên phải trở về quê thọ tang. Chàng bao lần thọ nạn nhưng luôn luôn được thần và dân cứu giúp. -Kiều Nguyệt Nga sau khi thoát nạn đã tự xem Vân Tiên như “chồng” của mình. Do bị gian thần hảm hại, nàng bị buộc đi cống giặc Ô Qua nhưng vẫn một lòng chung thủy với Vân Tiên. Giữa đường nàng đã tự vẫn nhưng cũng được Phật Bà và nhân dân cứu giúp. -Cuối cùng hai người vẫn gặp nhau và chung sống trong hạnh phúc. 2/Vài nét về nội dung và nghệ thuật a/Kết cấu : Kết cấu truyện Lục Vân Tiên theo kiểu chương, hồi. Một kiểu truyền thống phương Đông xoay quanh diễn biến cuộc đời của nhân vật chính. b/Thể loại: Lục Vân Tiên là một truyện thơ Nôm viết theo thể lục bát, một thể thơ dân tộc. Truyện mang tính chất là một chuyện kể chú trọng đến hành động hơn là nội tâm nhân vật. Vào dân gian, truyện biến thành hình thức "nói thơ Vân Tiên", một loại hình sinh hoạt văn hoá dân gian một thời khá phổ biến ở Nam bộ. c/Qua cách xây dựng nhân vật chính diện và phản diện đối lập nhau, truyện thơ LVT được viết nhằm đề cao đạo đức của nhân dân, truyền dạy đạo lý làm người . Truyện ca ngợi tình nghĩa : tình cha con, tình mẹ con, tình bằng hữu, nghĩa vợ chồng…tình yêu thương giúp đỡ người hoạn nạn. Ngoài ra, truyện còn đề cao tinh thần vì nghĩa sẵn sàng ra tay cứu khổn phò nguy. Đặc biệt thể hiện khát vọng của nhân dân hướng tới chính nghĩa. III/Vị trí đoạn trích : Đoạn trích thuộc phần đầu tác phẩm. Trên đường đi thi, Lục Vân Tiên thấy dân khóc than bỏ chạy. hỏi thăm mới biết bọn cướp đã hoành hành, bắt đi hai người con gái . Thấy cảnh bất bình, Vân Tiên nổi giận liền ra tay dẹp bọn cướp cứu người bị nạn. Hai người con gái ấy là Kiều Nguyệt Nga và tì tất Kim Liên IV/Đọc và hiểu văn bản: 1/Về tính chất tự truyện của tác phẩm: Đọc tiểu sử tác giả Nguyễn đình Chiểu và Truyện Lục Vân Tiên ta thấy có những yếu tố giống và khác nhau giữa cuộc đời tác giả và nhân vật Lục Vân Tiên. Trước hết là những chi tiết trùng hợp: -NĐC cũng chẳng khác chi LVT lúc vào đời thật hăm hở và đầy khát vọng, cũng đều lên kinh ứng thí : “Chí lăm bắn nhạn ven mây, Danh tôi đặng rạng, tiếng thầy bay xa” “Làm trai trong cõi người ta, Trước lo báo bổ sau là hiển vang” Nhưng cả hai đếu bất hạnh đến khắc nghiệt : Mẹ mất phải bỏ thi về chịu tang, bị đau mắt và sau đó bị mù. Vì thế đã bị bội hôn . Nhưng sau đó, họ đều được một cuộc hôn nhân tốt đẹp. Nếu Lục Vân Tiên cưới được Kiều Nguyệt Nga thì Nguyễn Đình Chiểu cũng cưới được cô Năm Điền. Chính vì thế mà nhiều ý kiến cho rằng LVT là một tự truyện. Tuy nhiên cuộc đời của tác giả và nhân vật cũng có những điểm khác nhau. Đó là Vân Tiên được tiên ông cứu cho sáng mắt để sau đó lại tiếp tục đi thi đỗ Trạng nguyện, được vua cử đi dẹp giặc Ô Qua thắng lợi. còn cụ Đồ Chiểu thì không như thế. Với cụ vĩnh viễn là bóng tối. Sự khác biệt đó thể hiện ước mơ và khát vọng của tác giả. 2/Về nhân vật Lục Vân Tiên : Đây là nhân vật lý tưởng của tác phẩm được khắc họa qua một kiểu thức khuôn mẫu thường gặp trong truyện Nôm truyền thống. Hình ảnh này cũng giống như hình ảnh Thạch Sanh đánh đại bàng cứu công chúa trong truyện cổ. Hành động đánh giặc cướp cứu người của Lục Vân Tiên cho ta thấy tính cách của chàng. Một chàng trai anh hùng, tài năng và giàu nghĩa khí. Chỉ một mình, lại không có vũ khí chàng đã dám bẻ gậy xông vào bọn cướp đông người giáo gươm đầy đủ. Hình ảnh Lục Vân Tiên xông xáo tung hoành được nhả thơ miêu tả thật đẹp sánh ngang với hình ảnh Triệu Tử Long – một dũng tướng thời Tam Quốc. “Vân Tiên tả đột hữu xung, Khác nào Triệu Tử giữa vòng Đương Vương” Với võ nghệ cao cường, LVT đã đánh tan bọn cướp và diệt tên đầu đảng Phong Lai. Hành động của chàng còn tỏ rõ đức độ của người nghĩa hiệp : “Giữa đường thấy sự bất bình chẳng tha”. Không sợ nguy hiểm Vân Tiên sẵn sàng vì nghĩa trừ hại cho dân . Đánh xong bọn cướp thấy hai cô gái còn chưa hết hãi hùng Vân Tiên đã ân cần hỏi han, an ủi họ. Hành động của chàng thật đàng hoàng, chững chạc. Tuy có phần câu nệ nhưng vẫn là phong độ giữ lễ của một con người có văn hoá trong khi ứng xử với hai người con gái : “ Khoan khoan ngồi đó chớ ra . Nàng là phận gái ta là phận trai”. Vân Tiên đã từ chối cái lạy trả ơn, từ chối lời mời đền đáp, không nhận trâm vàng trao tặng mà chỉ nhận lời cùng Nguyệt Nga làm thơ xướng hoạ. Câu trả lời “Làm ơn há dễ trông người trả ơn” và đặc biệt là câu nói của Vân Tiên “Nhớ câu kiến ngãi bất vi. Làm người thế ấy cũng phi anh hùng” cho thấy chàng là một người trọng nghĩa khinh tài đáng quý. 3/Nhân vật Nguyệt Nga: Đoạn truyện ngoài việc giới thiệu Lục Vân Tiên còn cho ta biết về Kiều Nguyệt Nga biểu hiện qua những lời giải bày của nàng với ân nhân. Đó là lời lẽ của một cô gái có giáo dục, có học thức. Cách nói năng của nàng dịu dàng, mực thước và chân thành: “Trước xe quân tử tạm ngồi, Xin cho tiện thiếp lậy rồi sẽ thưa. Chút tôi liễu yếu đào thơ, Giữa đường gặp phải bụi dơ đã phần. Hà Khê qua đó cũng gần, Xin theo cùng thiếp đền ân cho chàng” Là một cô gái rất mực đằm thắm ân tình, Nguyệt Nga nhớ ơn và mong muốn đền ơn người đã cứu giúp mình giữ được tiết hạnh: “Lâm nguy chẳng kịp giải nguy. Tiết trăm năm cũng bỏ đi một hồi” Nhất là cuối cùng, nàng đã tự nguyện gắn bó cuộc đời mình với cuộc đời chàng trai nghĩa khí ấy và sẵn sàng liều chết để giữ trọn ân tình chung thủy với người yêu. Suy cho cùng nhân vật Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga chính là hai mặt của một cách sống. Một là làm ơn không cần người khác đền ơn. Hai là chịu ơn thì phải nhớ ơn. Đó cũng là tính cách sống có tính truyền thồng tốt đẹp của người Việt Nam chúng ta. Một cách sống cần được giữ gìn và phát huy. 4/ Phương thức miêu tả nhân vật trong đoạn truyện : Trong đoạn truyện này nhân vật được miêu tả chủ yếu qua hành động, cử chỉ, lời nói. Do bị mù nên Truyện LVT sáng tác là để đọc truyền miệng. Dù các học trò và mọi người có ghi chép lại nhưng nói chung đã lưu truếyn trong nhân gian chủ yếu qua các hình thức nói thơ, kể thơ. Cũng vì thế nên khi mô tả nhân vật tác giả ít chú ý khắc hoạ ngoại hình, cũng ít đi sâu phân tích nội tâm nhân vật. Nhân vật trong LVT thường đặt trong những mối quan hệ xã hội, những xung đột của đời sống rồi bằng hành động, cử chỉ, lời nói của mình mà tự bộc lộ tính cách ra. Ngoài ra tác giả cũng tỏ thái độ của mình trong việc ca ngợi hay phê phán nhân vật đó. 5/ Ngôn ngữ của tác phẩm qua đoạn trích : Lời thơ mộc mạc giản dị gần gũi với lời ăn tiếng nói thường ngày và mang đậm sắc thái địa phương Nam bộ. Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ kể chuyện tự nhiên ít trau chuốt uyển chuyển nhưng lại dễ đi sâu vào tâm hồn quần chúng nhân dân. Trong đoạn trích này, sắc thái ngôn ngữ đa dạng. Lời thơ bình dị chất pghác nhất là trong đoạn đầu, đoạn kế tiếp lời Vân Tiên bất bình, phẩn nộ cùng với lời tên cướp tự phụ hống hách và đoạn đối thoại giữa Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga thì lời thơ mềm mỏng, xúc động chân thành. (Sưu tầm)
Xem thêm

5 Đọc thêm

THE LITTLE PRINCE HOÀNG TỬ BÉ

THE LITTLE PRINCE HOÀNG TỬ BÉ

Hoàng tử bé, được xuất bản năm 1943, là tiểu thuyết nổi tiếng nhất của nhà văn và phi công Pháp Antoine de SaintExupéry. Ông đã thuê ngôi biệt thự The Bevin House ở Asharoken, New York, Long Island trong khi viết tác phẩm nàyCuốn tiểu thuyết cũng bao gồm nhiều bức tranh do chính SaintExupéry vẽ. Tác phẩm đã được dịch sang hơn 250 ngôn ngữ (bao gồm cả tiếng địa phương) và cho đến nay đã bán được hơn 200 triệu bản khắp thế giới, trở thành một trong những sách bán chạy nhất của mọi thời đại và được phát triển trở thành một sê ri truyện tranh có 39 chương. Truyện còn được dùng như tài liệu cho những người muốn làm quen với ngoại ngữ..
Xem thêm

64 Đọc thêm

Hướng dẫn soạn bài : Luyện tập về lập luận phân tích (tác phẩm văn xuôi)

HƯỚNG DẪN SOẠN BÀI : LUYỆN TẬP VỀ LẬP LUẬN PHÂN TÍCH (TÁC PHẨM VĂN XUÔI)

LUYỆN TẬP VỀ LẬP LUẬN PHÂN TÍCH (tác phẩm văn xuôi) I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Tác phẩm văn xuôi tái hiện đời sống thông qua cốt truyện, hệ thống nhân vật, tình tiết, chi tiết, sự kiện... Tác phẩm văn xuôi có khả năng phản ánh hiện thực rất rộng lớn. 2. Khi phân tích tác phẩm văn xuôi cần chú ý đến: cốt truyện, nhân vật, chi tiết, tình huống, hiện thực đời sống được phản ánh trong tác phẩm... Qua việc phân tích làm rõ giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm văn xuôi. II. RÈN KĨ NĂNG Câu 1 a) Nội dung chính mà người viết muốn làm nổi bật ở đoạn văn là sự tinh tế, tài tình của Thạch Lam trong việc sử dụng ngôn từ để thể hiện sự tranh chấp bóng tối - ánh sáng trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ”. Qua đó thể hiện triết lí về thân phận con người.  Có thể đặt tên sau cho đoạn trích: “Bóng tối - ánh sáng trong “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam” b) Để làm nổi bật nội dung cần phân tích, người viết đã dựa vào các yếu tố sau của tác phẩm: - Thể loại: Truyện ngắn, có mở đầu – “biến diễn” – kết thúc - Cốt truyện - Các chi tiết, hình ảnh, câu chữ: “Con tàu như đem một chút thế giới khác đi qua”, “Bầu trời đỏ rực như lửa cháy”, “êm ả, yên lặng, thong thả, gượng nhẹ”... - Văn phong, câu cú “Hà Nội xa xăm, hà Nội sáng rực, vui vẻ và huyên náo” - Nhân vật (Liên). Câu 2 a) Phân tích ý nghĩa của các sự vật mà dân gian đã chọn cho Tấm hoá thân trong truyện Tấm Cám. Mở đoạn: Trong truyện cổ tích “Tấm Cám”, cô Tấm đã bốn lần hoá thân. Mỗi sự vật hoá thân có những ý nghĩa riêng. Thân đoạn: - Chúng đều rất đẹp, thanh cao, thơm thảo: vàng anh là giống chim quý và đẹp, xoan đào có gỗ tốt, quả thị thơm tho.. - Chúng đều có ích, gắn bó với người dân lao động: cây xoan đào cho mắc võng nằm, khung cửi dệt vải mặc...  Như vậy chúng phù hợp với cô Tấm thảo hiền, xinh đẹp. - Các sự vật ấy phù hợp với diễn biến câu chuyện. Kết đoạn:  Các sự vật hoá thân càng khiến cô Tấm trở nên đẹp đẽ, đáng yêu, đáng mến; giúp câu chuyện trở nên hấp dẫn, li kì. b) Phân tích giá trị của tình huống truyện trong đoạn trích “Hồi trống Cổ Thành” (trích Tam quốc diễn nghĩa – La Quán Trung) Mở đoạn: - Đoạn trích “Hồi trống Cổ Thành” hấp dẫn người đọc bởi tình huống truyện hấp dẫn. Thân đoạn: - Tình huống truyện là gì? - Phân tích tình huống truyện: + Mâu thuẫn: Trương Phi tính nóng nảy, chưa rõ đầu đuôi sự việc, nghi ngờ Quan Công – Quan Công gặp nhiều uẩn khúc. + Cao trào: Hai anh em vốn kết nghĩa vườn đào, thề sinh tử có nhau bất ngờ lao vào đánh nhau. (Để chứng minh lòng trung thành của mình, trong vòng ba hồi trống Cổ Thành, Quan Vũ phải giết kẻ thù.) + Cởi nút: Trương Phi đánh trống, Quan Công giết được giặc. Kết đoạn:  Tình huống truyện góp phần bộc lộ tính cách nhân vật, thể hiện tài năng của tác giả. c) Chất thơ trong truyện Hai đứa trẻ của Thạch Lam. Mở đoạn: - Hai đứa trẻ của Thạch Lam là một truyện ngắn giàu chất thơ. Thân đoạn: - Truyện đi sâu vào thế giới nội tâm của hai đứa trẻ nên giàu cảm xúc hồn nhiên trong sáng. - Câu văn dài, cách miêu tả chi tiết, gợi hình. - Ngôn ngữ rất tinh tế, dùng nhiều từ láy, tính từ; dùng nhiều biện pháp so sánh, .... Kết đoạn: - Chất thơ đã góp phần làm nên thành công cho tác phẩm. 
Xem thêm

3 Đọc thêm

Tóm tắt truyện con Rồng cháu Tiên

TÓM TẮT TRUYỆN CON RỒNG CHÁU TIÊN

Đề bài: Em hãy kể tóm tắt truyện con Rồng cháu Tiên. Ngày xưa ở Lạc Việt có một vị thần nòi rồng gọi là Lạc Long Quân, sống ở dưới nước, thỉnh thoảng lên cạn trừ bọn yêu quái và dạy dân trồng trọt. Ở vùng núi cao bấy giờ có nàng Âu Cơ tuyệt trần nghe tiếng miền đât Lạc thần đã tìm đến thăm. Âu Cơ, Lạc Long Quân gặp nhau và trở thành vợ chồng. Âu Cơ có mang, sinh ra cái bọc trăm trứng nở ra 100 người con khôi ngô khỏe mạnh. Vì không quen sống ở cạn nên Lạc Long Quân đem 50 con xuống biển – Âu Cơ đem 50 con lên núi, dặn nhau không bao giờ quên lời hẹn. Người con trưởng theo Âu Cơ lên làm vua lấy hiệu Hùng Vương, đặt tên nước là Văn Lang, mười mấy đời truyền nối không thay đổi. Bởi sự tích này mà người Việt Nam khi nhắc đến nguồn gốc của mình thường xưng là con Rồng cháu Tiên.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Đề thi thử vào lớp 10 môn ngữ văn đề số 86

ĐỀ THI THỬ VÀO LỚP 10 MÔN NGỮ VĂN ĐỀ SỐ 86

I. Trắc nghiệm Bài tập 1 Khoanh tròn vào chữ cái đầu dòng ghi các ý đúng : 1. Đoạn thơ Thuý Kiều báo ân báo oán thuộc phần nào của Truyện Kiều ? A. Gặp gỡ và đính ước. B. Gia biến và lưu lạc. C. Đoàn tụ. 2. Đoạn thơ từ câu Cho gươm mời đến Thúc lang đến câu Mưu sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa trong Thuý Kiều báo ân báo oán kể về việc : A. Kiều báo ân Thúc Sinh. B. Kiều báo oán Hoạn Thư. C. Gồm cả A và B. 3. Câu thơ : Gấm trăm cuốn bạc nghìn cân, Tạ lòng dễ xứng báo ân gọi là. Cho biết : Kiều trả chưa xứng với ân của Thúc Sinh. Kiều trọng ân nghĩa hơn tiền bạc. Cả hai nội dung trên. 4. Trong khi đang trả ân Thúc Sinh, Kiều đã nhắc đến Hoạn Thư, điều đó có ý nghĩa : A. Kiều muốn xem ân của Hoạn Thư cũng ngang với ân của Thúc Sinh đối với nàng. B. Kiều không thể nào quên được nỗi đau đớn, nhục nhã mà Hoạn Thư đã gây ra cho nàng. C. Kiều muốn trấn an Thúc Sinh. 5. Lời chào của Kiều trong câu thơ sau : Thoắt trông nàng đã chào thưa : “Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây !” A.  Mang tính chất xã giao. B. Thể hiện sự tôn trọng Hoạn Thư. Mỉa mai, đánh phủ đầu Hoạn Thư. 6. Lời kêu ca của Hoạn Thư : Rằng : “Tôi chút phận đàn bà, Ghen tuông thì cũng người ta thường tình. Nghĩ cho khi gác viết kinh, Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo. Lòng riêng riêng những kính yêu, Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai. Trót lòng gây việc chông gai Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng.” Có nội dung : A. Đánh đồng cái ghen của kẻ có quyền thế với cái ghen thường tình của đàn bà. B. Kể công không bắt giữ Kiều khi nàng trốn khỏi Quan Âm các. C. Nhận tất cả lỗi thuộc về mình. D. Tất cả các nội dung trên. 7. Lời kêu ca của Hoạn Thư chứng tỏ : A. Hoạn Thư là người biết rõ phải trái. B. Hoạn Thư là người quỷ quái tinh ma. C. Hoạn Thư là người chân thật. D. Tất cả các nội dung trên. 8. Nhận định sau đây đúng hay sai ? Tuy có hạn chế trong việc Kiều tha Hoạn Thư song không vì vậy mà màn báo ân báo oán mất đi sự công bằng vì danh giá và địa vị như Hoạn Thư dẫu sao cũng đã bị nhấn xuống bùn đen. A. Đúng. B. Sai. 9. Bài học rút ra được từ cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu : A. Nghị lực sống và cống hiến cho đời. B. Lòng yêu nước và tinh thần bất khuất chống giặc ngoại xâm. C. Cả A và B. 10. Truyện Lục Vân Tiên được viết ra nhằm mục đích trực tiếp là truyền dạy đạo lí làm người. Đạo lí đó là : A. Xem trọng tình nghĩa giữa con người với con người trong xã hội. B. Đề cao tinh thần nghĩa hiệp, sẵn sàng cứu khốn phò nguy. C. Thể hiện khát vọng của nhân dân hướng tới lẽ sống công bằng và những điều tốt đẹp trong cuộc đời. D. Bao gồm A, B, và C. 11. Truyện Lục Vân Tiên thuộc thể loại : A. Thơ trữ tình bằng chữ Hán B. Thơ trữ tình bằng chữ Nôm C. Truyện thơ bằng chữ Nôm. 12. Qua việc đánh cướp cứu Kiều Nguyệt Nga, ta thấy Lục Vân Tiên là một người : A. Có tài năng. B. Có tấm lòng vị nghĩa, giữa đường thấy chuyện bất bình chẳng tha. C. Có phẩm chất anh hùng. D. Gồm tất cả các nội dung trên. 13. Nhân vật Lục Vân Tiên trong đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga được xây dựng thông qua : A. Lời nói. B. Hành động. C. Cử chỉ. D. Tất cả các ý trên. 14. Lục Vân Tiên giống nhân vật nào sau đây về hành động nghĩa hiệp ? A. Nhà vua trong truyện Tấm Cám. B.  Người em trong truyện Cây khế. C. Thạch Sanh trong truyện Thạch Sanh. D. Người anh trong truyện Cây khế. 15. Đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga thể hiện Lục Vân Tiên là một con người : A. Có tính cách anh hùng, có tài năng và tấm lòng vị nghiã. B. Chính trực, hào hiệp, trọng nghĩa khinh tài song cũng rất từ tâm, nhân hậu. C. Gồm cả A và B. 16. Ngôn ngữ của tác giả trong đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga là : A. Ngôn ngữ mộc mạc, bình dị, gần với lời nói thông thường và mang sắc thái địa phương Nam Bộ. B. Nó có phần thiếu trau chuốt, uyển chuyển nhưng lại phù hợp với ngôn ngữ người kể chuyện ; tự nhiên, dễ đi vào quần chúng. C. Ngôn ngữ thơ đa dạng, phù hợp với diễn biến tình tiết. D. Tất cả các ý trên. Bài tập 2 Nối các dòng ở ô A và ô B sao cho thích hợp : Nghệ thuật xây dựng nhân vật được thể hiện qua bút pháp ước lệ miêu tả ngoại hình. Nghệ thuật xây dựng nhân vật được thể hiện qua ngôn ngữ độc thoại, bút pháp tả cảnh ngụ tình để miêu tả tâm trạng. Nghệ thuật xây dựng nhân vật được thể hiện qua ngôn ngữ đối thoại. Kiều ở lầu Ngưng Bích Thuý Kiều báo ân báo oán Chị em Thuý Kiều A B       Bài tập 3 Đoạn thơ sau trong Truyện Kiều : Buồn trông cửa bể chiều hôm, Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa ? Buồn trông ngọn nước mới sa, Hoa trôi man mác biết là về đâu ? Buồn trông nội cỏ rầu rầu, Chân  mây mặt đất một màu xanh xanh. Buồn trông gió cuốn mặt duềnh, ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi. Là đoạn tả cảnh để gián tiếp miêu tả nội tâm nhân vật. Em hãy tìm mối quan hệ của cảnh và nội tâm nhân vật trong đoạn thơ. Bài tập 4 Tìm từ thích hợp để điền vào chỗ trống : 1. Người ta có thể miêu tả nội tâm . . . . . . . . . . . . . . . . . bằng cách diễn tả những ý nghĩ, cảm xúc, tình cảm của nhân vật ; cũng có thể miêu tả nội tâm . . . . . . . . . . . . . . . . bằng cách miêu tả cảnh vật, nét mặt, cử chỉ, trang phục v.v.. của nhân vật. 2. Đoạn trích Thuý Kiều báo ân báo oán là sự thể hiện . . . . . . . . . . . . . công lí chính nghĩa theo quan điểm của quần chúng nhân dân. 3. Đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga thể hiện khát vọng hành đạo giúp đời của tác giả và khắc hoạ những phẩm chất đẹp đẽ của hai nhân vật : Lục Vân Tiên và . . . . . . . . . . . . . . . . . . . Bài tập 5 Tìm những câu thơ tả cảnh trong đoạn sau trích trong  Truyện Lục Vân Tiên : Mười ngày đã tới ải Đồng, Mênh mông biển rộng đùng đùng sóng xao. Đêm nay chẳng biết đêm nào, Bóng trăng vằng vặc bóng sao mờ mờ. Trên trời lặng lẽ như tờ, Nguyệt Nga nhớ nỗi tóc tơ chẳng tròn. II. Tự luận Phân tích đoạn Thuý Kiều xử Hoạn Thư  trích trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Đáp án  I. Trắc ngiệm Bài tập 1 Khoanh tròn vào chữ cái sau : Câu 1 : B Câu 2 : A. Câu 3 : B. Câu 4 : B. Câu 5 : C. Câu 6 : Câu 7 : B. Câu 8 : A. Câu 9 : C. Câu 10 : D. Câu 11: C. Câu 12 : D. Câu 13 : D. Câu 14 : C. Câu 15 :C. Câu 16 : D. Bài tập 2 Nối dòng 1 ở ô A với dòng 2 ở ô B. Nối dòng 2 ở ô A với dòng 3 ở ô B. Nối dòng 3 ở ô A với dòng 1 ở ô B. Bài tập 3 Đoạn thơ tả cảnh ngụ tình. Mỗi biểu hiện của cảnh đều phù hợp với từng trạng thái của tình cảm, tức với nội tâm nhân vật. Diễn tả tâm trạng của Kiều, Nguyễn Du đã chọn cách biểu hiện tình trong cảnh, cảnh trong tình. Cảnh chiều tà bên bờ biển với những hình ảnh cánh buồm thấp thoáng xa xa, nội cỏ rầu rầu, chân mây mặt đất tạo nên một không gian rộng lớn, rợn ngợp khiến con người trở nên nhỏ bé, trơ trọi và cô đơn, rất phù hợp với hoàn cảnh của Kiều. Hình ảnh  Hoa trôi man mác biết là về đâu gợi thân phận nổi nênh, vô định giống như thân phận hiện tại của Kiều. Các từ ngữ  thuyền ai, xa xa cùng với các từ trực tiếp thể hiện nỗi buồn đó chính là nỗi buồn tha phương, nỗi nhớ thương vời vợi của Kiều. Âm thanh của gió, đặc biệt của sóng ầm ầm kêu quanh ghế ngồi cũng chính là nỗi sợ hãi và như  báo trước dông bão sắp ập đến đối với Kiều. Bài tập 4 1. Điền  từ :  trực tiếp trước và gián tiếp sau. 2. Điền từ : ước mơ. 3. Điền từ : Kiều Nguyệt Nga. Bài tập 5 Những câu tả cảnh trong đoạn thơ : Câu 2, 3, 4, 5. II. Tự luận Đây là đề nghị luận về một đoạn trích trong tác phẩm truyện thơ, phân tích cảnh Thuý Kiều xử Hoạn Thư. Ngoài yêu cầu chung của kiểu văn bản nghị luận về đoạn trích trong tác phẩm truyện, về nôi dung, cần phân tích cuộc đối đáp giữa Kiều và Hoạn Thư. Trong cuộc đối đáp này, hành động, lời nói của Kiều đầy mỉa mai, đay nghiến như quất vào danh gia họ Hoạn, nàng quyết trừng trị Hoạn Thư như đã nói với Thúc Sinh Mưu sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa.Trước lời nói và thái độ của Kiều, Hoạn Thư kinh hoàng hết mức song vẫn kịp tìm cách  lí giải để gỡ tội. Hắn đánh đồng cái ghen của một kẻ có quyền thế với cái ghen thường tình của đàn bà, đưa Kiều từ vị trí đối lập trở thành người đồng cảnh với hắn. Từ tội nhân, Hoạn Thư đã biện bạch để trở thành nạn nhân của chế độ đa thê. Tiếp đó, Hoạn Thư kể công đối với Kiều và cuối cùng nhận hết tội lỗi về mình, trông cậy vào tấm lòng khoan dung, độ lượng rộng lớn của Kiều. Hoạn Thư  khôn ngoan, sâu sắc đến quỉ quái tinh ma. Hoạn Thư được Kiều tha bổng, chủ yếu không phải do lời tự bào chữa mà là do tấm lòng độ lượng Đã lòng tri quá thì nên của Kiều.
Xem thêm

6 Đọc thêm