MỤC TIÊU VÌ SỰ TIẾN BỘ PHỤ NỮ

Tìm thấy 9,942 tài liệu liên quan tới từ khóa "MỤC TIÊU VÌ SỰ TIẾN BỘ PHỤ NỮ":

luận văn thạc sĩ - BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIA ĐÌNH NÔNG dân TỈNH HƯNG yên HIỆN NAY

luận văn thạc sĩ - BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIA ĐÌNH NÔNG dân TỈNH HƯNG yên HIỆN NAY

Nam nữ bình đẳng là một trong những quyền cơ bản, thiêng liêng của con người. Đấu tranh cho nam nữ bình quyền, giải phóng phụ nữ luôn gắn liền với các cuộc cách mạng xã hội. Trình độ giải phóng phụ nữ chính là thước đo trình độ phát triển, tiến bộ của một xã hội dân chủ. Trong các giai đoạn cách mạng cũng như trong công cuộc đổi mới hiện nay, Đảng ta luôn coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển, việc chăm lo phát triển nguồn lực con người là nhân tố quyết định thành công của công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay.
Xem thêm

Đọc thêm

Quyền của lao động nữ theo pháp luật Việt Nam

Quyền của lao động nữ theo pháp luật Việt Nam

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong lịch sử phát triển của loài người, phụ nữ luôn là một bộ phận đóng vai trò không thể thiếu đối với gia đình và xã hội. Bằng phẩm chất, trí tuệ và lao động sáng tạo, phụ nữ không chỉ góp phần tạo ra của cải, vật chất, tinh thần mà còn tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, vì sự tiến bộ của nhân loại. Phụ nữ là người lao động, người công dân đồng thời là người mẹ, người thầy đầu tiên trong cuộc đời mỗi con người. Do đó, khả năng và điều kiện lao động, trình độ văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ cũng như vị trí xã hội, đời sống vật chất của phụ nữ ảnh hưởng vô cùng to lớn đến sự phát triển thế hệ tương lai. Đứng dưới góc độ quyền con người thì quyền lao động và quyền bình đẳng được ghi nhận trong Công ước quốc tế về quyền con người của Liên hợp quốc năm 1948, Công ước về các quyền dân sự và chính trị năm 1966, Công ước CEDAW năm 1979 - Công ước của Liên hợp quốc về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ và các Công ước của ILO….Nhằm bảo đảm, bảo vệ, thúc đẩy quyền của phụ nữ trong việc hưởng thụ các quyền cơ bản của con người trước hết là bảo đảm cho phụ nữ được sống an toàn, tự do, bình đẳng, phát triển bền vững, Việt Nam đã gia nhập và phê chuẩn hai công ước quan trọng là Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (UDHR) năm 1948, Công ước CEDAW năm 1979. Với tư cách là một thành viên của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đồng thời là quốc gia ký kết Công ước số 111- Công ước về phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp năm 1958; Công ước số 100 về trả công bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ cho một công việc có giá trị ngang nhau năm 1951....Việt Nam đang ngày càng nỗ lực bảo vệ quyền của lao động nữ được tốt hơn. Ở Việt Nam, phụ nữ và nam giới đều bình đẳng trước pháp luật trong mọi đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Lao động nữ là nguồn nhân lực to lớn góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội đất nước trong thời kỳ hội nhập. Cuộc giải phóng phụ nữ gắn liền với cuộc giải phóng dân tộc là con đường cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã chọn dẫn đến sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam với khẩu hiệu “người cày có ruộng”, “nam nữ bình đẳng” làm luận cương chính trị. Ngay từ Hiến pháp năm 1946, Nhà nước đã quan tâm đến quyền của phụ nữ, rút ngắn khoảng cách phân biệt đối xử, “đàn bà ngang quyền với đàn ông” quy định này tạo tiền đề và cơ sở cho chuyển biến to lớn về vị trí vai trò của phụ nữ trong pháp luật và thực tế xã hội Việt Nam sau này. Kế thừa nguyên tắc tiến bộ của Hiến pháp 1946, tại Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 đều ghi nhận quyền của phụ nữ. Hiến pháp 2013, một lần nữa khẳng định: “Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới. Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội. Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới”. Một trong những mục tiêu và nhiệm vụ của pháp luật lao động là khai thác tiềm năng lao động của đất nước, tạo thêm nhiều việc làm, thúc đẩy sự phát triển của thị trường lao động. Vì vậy, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cả người sử dụng lao động và người lao động, bảo đảm mối quan hệ về lợi ích trong quan hệ lao động phát triển hài hoà và ổn định cũng là yêu cầu cấp thiết. Việc bảo vệ quyền và lợi ích của lao động nữ, trước hết là quyền bình đẳng với lao động nam không nằm ngoài yêu cầu đó. Thực hiện nhiệm vụ này, hệ thống pháp luật nước ta nói chung, pháp luật lao động nói riêng đã có những đóng góp quan trọng trong việc hoàn thiện cơ sở pháp lí nhằm bảo đảm, bảo vệ quyền của người lao động nữ. Trong nhiều năm qua Việt Nam đã rất nỗ lực chuyển hóa các quy định của ILO vào pháp luật lao động, chuyển hóa các quy định, các điều ước quốc tế về quyền con người vào các quy định tại Bộ luật Dân sự, Luật Bình đẳng giới, Luật Hôn nhân và gia đình…nhưng thực tế tình trạng phân biệt đối xử đối với lao động nữ vẫn tồn tại và việc bảo đảm, bảo vệ quyền của lao động nữ vẫn chưa hiệu quả. Thực tiễn thi hành pháp luật lao động đã cho thấy, sự gia tăng nhu cầu sử dụng lao động và tăng thu nhập cho người lao động không đồng nhất với với sự bảo đảm quyền lợi của người lao động. Do những đặc điểm về tâm sinh lý, giới tính, lao động nữ thường gặp khó khăn hơn so với lao động nam trong quan hệ lao động. Cùng với quan niệm sai lệch về giới làm cho lao động nữ trở thành đối tượng dễ bị tổn thương hơn.Với đặc thù về giới và sự tồn tại của quan niệm “trọng nam khinh nữ” lao động nữ ở Việt Nam vẫn bị yếu thế, gặp nhiều thách thức, bị xâm phạm về quyền và lợi ích. Từ thực trạng trên cho thấy nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về “Quyền của lao động nữ theo pháp luật Việt Nam” nhằm luận giải các vấn đề về quyền của lao động nữ như: quyền bình đẳng về việc làm và thu nhập, quyền nhân thân, quyền làm mẹ cũng như các biện pháp bảo vệ thúc đẩy quyền cho lao động nữ là cần thiết. Từ đó đề xuất việc hoàn thiện và đưa ra các giải pháp, kiến nghị giúp các nhà hoạch định chính sách, các chuyên gia về lao động và các nhà hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ có những biện pháp bảo đảm, bảo vệ thúc đẩy quyền cho lao động nữ ngày càng tốt hơn. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 2.1. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quyền của lao động nữ, xác lập các tiêu chí đánh giá thực tiễn việc bảo đảm, bảo vệ và thúc đẩy quyền của lao động nữ ở Việt Nam, từ đó xác định các yêu cầu và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quyền của lao động nữ. 2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt được mục đích trên, đề tài có nhiệm vụ giải quyết những vấn đề sau: Một là, đánh giá tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, rút ra những điểm hợp lý để kế thừa, phát triển nhằm mở rộng hướng nghiên cứu để đạt được mục đích đề ra. Hai là, nghiên cứu những vấn đề lý luận về quyền của lao động nữ, khái niệm về lao động nữ, quyền lao động của con người, đặc điểm và vai trò của lao động nữ trong quan hệ lao động. Trên cơ sở đặc điểm tâm sinh lý và vai trò giới lao động nữ có những điểm khác biệt với lao động nam nên bên cạnh những quyền lao động nói chung họ sẽ có những quyền lao động đặc thù. Ngoài ra, nghiên cứu hệ các công ước quốc tế về quyền con người, quyền của phụ nữ và tham khảo các công ước, khuyến nghị có liên quan của ILO, những quan điểm và pháp luật của một số nước về bảo vệ quyền của lao động nữ … Đây là một trong những cơ sở quan trọng để tham khảo trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật có liên quan ở nước ta. Ba là, nghiên cứu đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về quyền của lao động nữ, những ưu điểm, hạn chế trong thực tiễn về việc sử dụng lao động nữ; chỉ ra vấn đề cần sửa đổi, bổ sung trong hệ thống pháp luật cũng như việc nâng cao hiệu quả áp dụng nhằm mục đích sử dụng và bảo vệ quyền của lao động nữ tốt hơn. Bốn là, đặt ra những yêu cầu cần thiết của việc hoàn thiện các quy định hiện hành về quyền của lao động nữ, đề xuất các giải pháp, có luận giải cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về quyền của lao động nữ, không nhằm mục đích bảo vệ lao động nữ một cách duy ý chí mà là thực hiện vấn đề dân chủ, bình đẳng, nâng cao năng lực tự bảo vệ, giảm thiểu sự can thiệp của Nhà nước, bảo vệ lao động nữ hợp lý và bền vững phù hợp với nền kinh tế thị trường trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.
Xem thêm

Đọc thêm

Nâng cao công tác sử dụng nữ cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước trong giai đoạn hiện nay

Nâng cao công tác sử dụng nữ cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước trong giai đoạn hiện nay

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ SỬ DỤNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC NỮ TRONG CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC 1.1. Cán bộ, công chức Ngày 13112008, Quốc hội đã thông qua Luật cán bộ, công chức số 222008QH12. Có hiệu lực kể từ ngày 01012009. Điều 4: Cán bộ, công chức 1. Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. 2. Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. 1. 2. Luật bình đẳng giới. Luật số 732006QH11 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29112006 và có hiệu lực từ ngày 0172007. “Điều 11: Luật bình đảng giới về chính trị Nam nữ bình đẳng tham gia quản lý nhà nước và tham gia quản lý xã hội Nam nữ bình đẳng trong tham gia xây dựng và thực hiện hương ước và quy ước của cộng đồng xã hội hoặc quy định, quy chế của cơ quan tổ chức. Nam nữ bình đẳng trong việc tự ứng cử và được giứi thiệu tham gia đại biểu quốc hội, hội đồng nhân dân, tự ứng cử và được ứng cử vào cơ quan lãnh đạo của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp và tổ chức xã hội nghề nghiệp. Nam nữ được bình đẳng về tiêu chuẩn chuyên môn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm vào cùng cơ quan vị trí quản lý, lãnh đạo ở các cơ quan, tổ chức. Các biện pháp thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị bao gồm: + Bảo đảm tỷ lệ thích đáng nữ đại biểu quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân phù hợp với tiêu chuẩn quốc gia về sự tiến bộ phự nữ. + Bảo đảm tỷ lệ thích đáng trong việc bổ nhiệm các chức danh trong các cơ quan nhà nước phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới” (3). 1.3. Một số văn bản hành chính về công tác cán bộ nữ trong tình hình mới. Chỉ thị số 37 CTTW, ngày 1651994 của Ban Bí thư Trung ương về “Một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới”. Nghị quyết 04 NQTW ngày 12071997 của Bộ chính trị về “Tăng cường và đổi mới công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới”. Về việc nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế xã hội là yêu cầu quan trọng để thật sự thực hiện quyền bình đẳng, dân chủ của phụ nữ, là điều kiện để phát huy tài năng trí tuệ, và nâng cao địa vị xã hội của phụ nữ. Chống những biểu hiện lệch lạc coi thường phụ nữ, khắt khe hẹp hòi trong công tác tuyển dụng và đề bạt cán bộ công chức nữ. Chỉ thị 44 CTTW, ngày 0761984 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Một số vấn đề cấp bách trong công tác cán bộ phụ nữ” để xác nhận Nghị quyết 11 NQTW, ngày 2742007 của Bộ chính trị về “Công tác phụ nữ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. trong đó, chú trọng đến công tác quy hoạch, đào tạo cán bộ nữ phù hợp với điều kiện mới của đất nước, tương xứng với trình độ và chuyên môn của phụ nữ, phấn đấu đưa Việt Nam thành quốc gia dẫn đầu về bình dẳng giới.
Xem thêm

Đọc thêm

BẢO VỆ QUYỀN LỢI PHỤ NỮ THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM NĂM 2014

BẢO VỆ QUYỀN LỢI PHỤ NỮ THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM NĂM 2014

đánh giá tiến bộ xã hội. Trên thực tế, Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tếđã ban hành, ký kết và tham gia nhiều văn bản pháp lý công nhận, thực thivà bảo vệ quyền con người, trong đó có quyền phụ nữ như Hiến chươngLiên hợp quốc (1945), Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền (1948), Côngước về các quyền chính trị của phụ nữ (1952), Công ước về quốc tịch củangười phụ nữ lấy chồng (1957), Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xãhội và văn hóa (1966), Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt, đối xửđối với phụ nữ (1979),...Trong số các văn kiện pháp lý về quyền con người, có thể khẳng định,CEDAW là văn bản quan trọng nhất do Liên hợp quốc thông qua đề cập mộtcách toàn diện, cụ thể các quyền con người cơ bản của người phụ nữ; là vănbản pháp lý thể hiện sự đồng tâm của cộng đồng thế giới trong việc bảo vệquyền phụ nữ nói chung, quyền của người phụ nữ trong quan hệ kết hôn vớingười nước ngoài nói riêng. Điều này đem lại sức mạnh pháp lý quốc tế cũng15như sự phổ cập rộng rãi của Công ước trong đời sống quốc tế. Theo Ủy banCEDAW, cho tới nay đã có 186 quốc gia trên thế giới phê chuẩn hoặc ký kếtCông ước, chiếm hơn 90% thành viên của Liên hợp quốc.Với cơ cấu gồm Lời nói đầu, 6 phần và 30 điều khoản,Công ước đã điều chỉnh các quyền của phụ nữ trên tất cả các lĩnhvực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và quan trọng hơn là quyềnbình đẳng của phụ nữ nhằm chống lại sự phân biệt đối xử trong cáclĩnh vực nói trên [Dẫn theo 17, tr. 5].Tinh thần của Công ước được xây dựng trên cơ sở các mục tiêu củaLiên hợp quốc nhằm bảo đảm nhân cách, phẩm giá và các quyền cơ bản củacon người cũng như quyền bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới. Công ướckhông chỉ giải thích rõ ý nghĩa của bình đẳng mà còn chỉ ra phương thức
Xem thêm

124 Đọc thêm

BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIA ĐÌNH

BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIA ĐÌNH

LỜI MỞ ĐẦU Như ta đã biết gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. “Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt”. Nhà nước ta hiện nay, mục tiêu, chuẩn mực cơ bản, trực tiếp mà chúng ta hướng tới chính là xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc. Trong gia đình cần chú trọng xây dựng quan hệ dân chủ, bình đẳng giữa các thành viên, bình đẳng giữa con trai và con gái, bình đẳng giữa các thành viên nam và thành viên nữ nhất là dân chủ bình đẳng giữa vợ và chồng; điều này góp phần tạo nên sự nề nếp, hoà thuận, kỷ cương trong mỗi gia đình. Yếu tố này trở thành một trong những nội dung cơ bản và chủ yếu, cấp thiết trong xây dựng gia đình mới ở Việt Nam. Trong những năm qua, Đảng và nhà nước ta đã không ngừng hoàn thiện khung luật pháp, chính sách về quyền bình đẳng trên lĩnh vực bình đẳng giới và được quy định trong một số văn bản pháp luật: Luật dân sự, Luật hôn nhân và gia đình, Luật bình đẳng giới, Luật phòng chống bạo lực gia đình, các công ước quốc tế như công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, công ước Liên hiệp quốc về quyền trẻ em…mà trọng tâm là luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Luật Hôn nhân và gia đình khi điều chỉnh đã dựa trên các nguyên tắc tự nguyện – tiến bộ. Thông qua các điều luật ta có thể thấy rằng hệ thống pháp luật Nhà nước ta đang ngày càng khẳng định quyền bình đẳng giữa các thành viên trong gia đình đặc biệt là khẳng định quyền bình đẳng giữa vợ chồng về mọi mặt trong gia đình. Tuy nhiên, “bình đẳng về mặt pháp luật vẫn chưa phải là bình đẳng trong đời sống”. Vì vậy, để làm rõ thực trạng vấn đề bình đẳng giới trong gia đình, bình đẳng giữa các thành viên, quyền bình đẳng giữa vợ chồng cũng như tìm ra các giải pháp thiệt thực để quyền bình đẳng được thực hiện ngày càng đảm bảo và hiệu quả chúng em đã chọn đề tài “Bình đẳng giới trong gia đình”
Xem thêm

14 Đọc thêm

Phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị ở vùng đồng bằng sông Hồng thời kỳ đổi mới

PHỤ NỮ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG THỜI KỲ ĐỔI MỚI

1. Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, trong những năm đổi mới vừa qua vị thế của phụ nữ Việt Nam ngày càng được nâng cao, nhất là trong lĩnh vực lãnh đạo, quản lý. Tuy nhiên, so với tiềm năng của phụ nữ và với yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, phụ nữ lãnh đạo, quản lý các cấp trong hệ thống chính trị còn ít về số lượng, hạn chế về chất lượng trong tương quan so với nam giới. Điều này ảnh hưởng lớn tới vị thế của phụ nữ và chất lượng nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. 2. Đồng bằng sông Hồng là địa bàn có quá trình phát triển lâu đời về văn hóa và truyền thống cách mạng, có sự phát triển khá cao về kinh tế - xã hội, đặc biệt trình độ dân trí luôn đạt mức cao so với các vùng khác trong toàn quốc. Tuy nhiên, tỷ lệ phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị ở vùng đồng bằng sông Hồng thấp hơn so với hầu hết các vùng miền khác trong cả nước (kể cả vùng núi phía Bắc), không đạt các chỉ tiêu đặt ra của Đảng, Nhà nước về công tác cán bộ nữ. Nguyên nhân chủ yếu là do: (1) nhận thức của cộng đồng trong vùng về sự cần thiết tăng cường phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị chưa cao, định kiến giới về vị thế, vai trò của phụ nữ còn nặng nề; (2) Chính sách, thực hiện chính sách về tăng cường sự tham chính của phụ nữ còn bất cập; (3) Điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội tăng cường sự tham chính của phụ nữ trong vùng còn nhiều khó khăn…Đây là những bất cập cần được quan tâm giải quyết cả về nhận thức lý luận cũng như trong hoạt động thực tiễn. 3. Tăng cường phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị các cấp vùng đồng bằng sông Hồng cần thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp sau: 1) Nâng cao nhận thức của cán bộ, nhân dân trong vùng về vị trí, vai trò của cán bộ nữ và sự cần thiết tăng cường phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị ở vùng đồng bằng sông Hồng; 2) Hoàn thiện các cơ chế, chính sách về công tác cán bộ nữ; 3) Phát huy vai trò các tổ chức trong hệ thống chính trị nhất là vai trò tham mưu của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ về công tác cán bộ nữ; 4) Phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội để phụ nữ có điều kiện thuận lợi tham gia lãnh đạo, quản lý; 5) Phụ nữ phải tự vươn lên để đáp ứng yêu cầu đặt ra đối với công tác lãnh đạo, quản lý các cấp trong tình hình hiện nay.
Xem thêm

183 Đọc thêm

Vấn đề phòng chống bạo lực gia đình trên báo chí tiểu luận cao học

Vấn đề phòng chống bạo lực gia đình trên báo chí tiểu luận cao học

1. Tính cấp thiết của đề tàiNgày 2511 hàng năm được Liên Hợp quốc lấy làm Ngày quốc tế phòng, chống bạo lực gia đình. Hiện có 89 quốc gia có những quy định pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình. Ở Việt Nam, ngày 21112007, Luật phòng chống bạo lực gia đình ra đời, đồng thời Nhà nước cũng ban hành nhiều văn bản pháp luật với chế tài xử lý nghiêm minh những hành vi bạo lực gia đình. Việc sử dụng thông tin đại chúng để tuyên truyền được coi là một trong nhưng giải pháp hữu hiệu trong công cuộc phòng chống BLGĐ, đặc biệt là nam giới tham gia nói không với BLGĐ. Trước đây, các chương trình truyền thông về vấn đề này vẫn còn mang tính thời vụ, chưa đồng bộ, thường chỉ là truyền thông theo các ngày lễ kỷ niệm, hoặc chỉ đưa tin khi có sự vụ BLGĐ xảy ra...gây nên tình trạng mất cân đối thông tin. Rất ít tác phẩm báo chí phân tính, bình luận sâu sắc về vấn đề BLGĐ dưới các góc độ xã hội như: tâm lý học, xã hội học, pháp luật... Các cơ quan báo chí chưa chủ động trong công tác truyền thông, vẫn làm theo phong trào hoặc có chăng là nội dung kế hoạch tuyên truyền trong các dự án của các tổ chức phi chính phủ. Để có những thông tin về BLGĐ, ngăn chặn tình trạng BLGĐ, những người làm việc trong lĩnh vực truyền thông, từ các nhà báo, các biên tập viên cho đến những nhà quản lý phải có một cách nhìn nhận mới mẻ, nhạy cảm và tiến bộ nhất về vấn đề giới BLGĐ hiện nay. Những gì các loại hình truyền thông đại chúng đã làm được trong việc truyền thông phòng chống bạo lực gia đình (TTPCBLGĐ), góp phần nâng cao nhận thức về việc gây ra BLGĐ là vi phạm nhân quyền, vi phạm pháp luật, từ đó có những chiến lược truyền thông phù hợp.Kể từ khi Luật phòng chống BLGĐ ra đời, đến nay các loại hình báo chí đã có nhiều tin bài phản ánh tập trung tuyên truyền về vấn đề này. Các tin bài đa dạng hơn, phong phú hơn, không chỉ đơn thuần là việc đưa tin.Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về bạo lực gia đình (BLGĐ) đối với phụ nữ. Và đã có những cách nhìn nhận rằng việc bảo vệ quyền của phụ nữ thuộc về phụ nữ. Điều này đã làm chúng ta bỏ quên một lực lượng hùng hậu. Đó chính là những người đàn ông đã biết vượt qua sai lầm, chía tay với BLGĐ, biết hàn gắn những tổn thương mất mát do mình gây ra, góp phần xây dựng gia đình no ấm, hạnh phúc. Đó là những người đàn ông tiến bộ. Chính họ mới là những ngưởi chủ lực trong công cuộc bảo vệ hạnh phúc gia đình, mang lại tiếng cười cho các em thơ. Họ là các tư vấn viên, tuyên truyền viên tích cực trong công cuộc vận động, thuyết phục những nam giới khác nói không với BLGĐ.Trong các nghiên cứu về bạo lực gia đình, phụ nữ và trẻ em là nạn nhân của BLGĐ chiếm tỷ lệ rất lớn. Cũng từ những nghiên cứu này, chúng ta có thể nhận ra rằng nam giới là người gây ra bạo lực và chính nam giới là người có thể ngăn chặn bạo lực gia đình. Với tình hình đó, tác giả chọn đề tài: “Vấn đề phòng chống bạo lực gia đình trên báo chí”, (khảo sát mục “Thức đêm của bạn” trên kênh VOV giao thông và mục “Gia đình” của giadinh.net.vn từ 12011 đến 62012) làm đề tài nghiên cứu cho luận văn này. Thông qua việc phân tích, tổng hợp công tác truyền thông về phòng chống bạo lực gia đình nói chung, truyền thông PCBLGĐ cho nam giới nói riêng, chỉ ra những thành tựu và hạn chế, đề xuất kiến nghị và giải pháp. Tác giả hi vọng đề tài này sẽ góp phần vào việc nâng cao chất lượng các chương trình truyền thông về PCBLGĐ cho nam giới, nam giới nói không với BLGĐ, nhằm xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc.
Xem thêm

Đọc thêm

Đường lối xây dựng, phát triển Nền văn hóa và giải quyết các vấn đề xã hội

ĐƯỜNG LỐI XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HÓA VÀ GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI

Đường lối xây dựng, phát triển Nền văn hóa và giải quyết các vấn đề xã hộiChuyên ngành kinh tế Tài chính Ngân hàngChích:Một là: kết hợp các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội.Hai là: xây dựng và hoàn thiện thể chế gắn kết tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển.Ba là: chính sách xã hội được thực hiện trên cơ sở phát triển nền kinh tế, gắn bó hữu cơ giữa quyền lợi và nghĩa vụ, giữa cống hiến và hưởng thụ.Bốn là: coi trọng chỉ tiêu GDP bình quân đầu người gắn với chỉ tiêu phát triển con người (HDI) và chỉ tiêu phát triển các lĩnh vực xã hội
Xem thêm

15 Đọc thêm

CTXH VỚI NHÓM PHỤ NỮ BỊ BẠO HÀNH

CTXH VỚI NHÓM PHỤ NỮ BỊ BẠO HÀNH

Công tác xã hội ở nước ta lâu nay bị đánh đồng với hoạt động tự thiện: ai bỏ công đi hoạt động giúp người, từ ông tổ trưởng dân phố tới người đi cứu trọ cũng được cho là làm “Công tác xã hội”. Nhưng công tác xã hội không phải là thứ mà ai cũng có thể làm được – tức là phải được đào tạo, có chuyên môn mới có thể thực hành công tác xã hội được. Và đich thực công tác xã hội là một khoa học, một nghề chuyên môn. Công tác xã hội đã trở thành một môn khoa học xã hội ứng dụng để hình thành những giải phá cho các hậu quả xã hội tiêu cực tất yếu của quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa: đó là sự thay đổ trong cấu trúc và khủng hoảng gia đình, khoảng cách giàu – nghèo, trẻ em cơ nhỡ, người gia lang thang, rượu chè, cờ bạc, mại dâm… Dựa trên các cơ sở khoa học về hành vi con người và các khoa học khác, công tác xã hội đã hình thành triết lý, các quy phạm đạo đức, các nguyên tắc và phương pháp hành động đặc thù để giúp cá nhân, nhóm, tập thể và cộng đồng gặp khó khăn, chịu tổn thương sâu sắc về cả thể chất lẫn tinh thần; đồng thời khơi dậy tiềm năng của chính họ để tìm ra những giải pháp và nguồn lực vượt khó, giúp họ hòa nhập cộng đồng. Công tác xã hội không chỉ giải quyết mà còn phòng ngừa các vấn đề xã hội, góp phần thực hiện an sinh xã hội, đẩy mạnh phát triển xã hội để hướng tới phát triển bền vững, “bình đẳng công bằng, tiến bộ xã hội và phát triển toàn diện con người” Những phụ nữ bị bạo hành (đặc biệt là bạo hành gia đình) là một trong những nhóm đối tượng dễ bị tổn thương. Do vậy, các nhà công tác xã hội cần phải đi sâu tìm hiểu và thực hiện công tác xã hội đối với nhóm đối tượng này. Để làm được điều này, trước hết các nhà công tác xã hội cần phải tìm hiểu những khía cạnh sau: Bạo hành – bạo hành gia đình là gì? Phân loại bạo hành và đối tượng phải chịu sự bạo hành? Nguyên nhân của bạo hành xuất phát từ đâu? Những mong muốn, nhu cầu cơ bản của phụ nữ Thực trạng bạo hành phụ nữ ở Việt Nam hiện nay Hậu quả bạo hành đối với phụ nữ ở Việt Nam Bạo lực đối với trẻ em – khía cạnh liên thế hệ của bạo lực Phản ứng của chị em phụ nữ khi bị bạo hành Sau đó, các nhà công tác xã hội mới có thể tiến hành thực hành công tác xã hội với nhóm phụ nữ bị bạo hành này Trên đây là những vấn đề mà nhóm I sẽ đề cập tới trong bài tiểu luận của nhóm về đề tài: công tác xã hội với phụ nữ bị bạo hành. Trong đó, nhóm đi sâu vào tìm hiểu bạo hành phụ nữ trong gia đình
Xem thêm

22 Đọc thêm

Xác định chỉ định của phẫu thuật TOT trong điều trị tiểu không kiểm soát khi gắng sức ở phụ nữ

Xác định chỉ định của phẫu thuật TOT trong điều trị tiểu không kiểm soát khi gắng sức ở phụ nữ

Mục tiêu: Xác định chỉ định của phẫu thuật TOT trong điều trị tiểu không kiểm soát khi gắng sức ở phụ nữ. Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu tiến cứu mô tả cắt ngang 74 bệnh nhân được chẩn đoán són tiểu không tự chủ tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội từ 01 - 01 - 2013 đến 5 - 2018.

Đọc thêm

Các nghiên cứu trong tương lai của ngành công nghiệp chế biến phụ phẩm giết mổ

Các nghiên cứu trong tương lai của ngành công nghiệp chế biến phụ phẩm giết mổ

Những tiến bộ và thay đổi này đã trực tiếp tác động tới việc tái chế các chất thải nông nghiệp thành các sản phẩm có giá trị được gia tăng. Rất nhiều trong số những thay đổi này đã buộc ngành công nghiệp chế biến phụ phẩm phải đánh giá lại cách quản lý và sử dụng các quần thể động vật và định hướng cho các phương pháp tiếp cận và mục tiêu nghiên cứu trong cộng đồng khoa học của ngành chế biến phụ phẩm. Bài viết thông tin đến các bạn các nghiên cứu trong tương lai của ngành công nghiệp chế biến phụ phẩm giết mổ.
Xem thêm

Đọc thêm

tiểu luận cao học những biến đổi tâm lý của phụ nữ trong giai đoạn hiện nay

tiểu luận cao học những biến đổi tâm lý của phụ nữ trong giai đoạn hiện nay

1. Lý do chọn đề tài Từ thời đại các vua Hùng đến thời đại Hồ Chí Minh, qua những chặng đường vô cùng oanh liệt dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, phụ nữ Việt Nam đã tỏ rõ truyền thống thông minh, sáng tạo, lao động cần cù, chiến đấu dũng cảm. Trong quá trình phát triển, hình ảnh, tư tưởng, tâm lý của người phụ nữ Việt Nam từng bước được biến đổi để thích ứng với sự thay đổi của xã hội. Nhìn lại chặng đường bốn nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, phụ nữ Việt nam luôn giữ một vai trò quan trọng trong lịch sử dân tộc. Từ chiến thắng quân Đông Hán của Hai Bà Trưng đã mở đầu 2000 năm lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc, tiếp theo là bà Triệu Thị Trinh, Thái Hậu Dương Vân Nga, Đô Đốc Bùi Thị Xuân. Dưới chế độ phong kiến và đế quốc, phụ nữ là lớp người bị áp bức, bóc lột chịu nhiều bất công nên luôn có yêu cầu được giải phóng và sẵn sàng đi theo cách mạng. Ngày 321930 Đảng cộng sản Đông Dương thành lập trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã ghi: Nam nữ bình quyền. Đảng sớm nhận rõ, phụ nữ là lực lượng quan trọng của cách mạng và đề ra nhiệm vụ: Đảng phải giải phóng cho phụ nữ, gắn liền giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp với giải phóng phụ nữ. Những chiến công oanh liệt của nhân dân ta trong suốt 30 năm đấu tranh gian khổ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược mãi mãi là thiên anh hùng ca bất diệt trong hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc. Trong đó có công lao đóng góp to lớn của phụ nữ. Trang sử dân tộc mãi mãi còn ghi những chiến công vang dội của các đội nữ dân quân du kích, biệt động nội thành, các đội pháo binh,... giáp mặt với quân thù, linh hoạt mưu trí giáng cho địch những đòn bất ngờ, bắn rơi máy bay, bắn cháy tàu chiến Mỹ, các đội dân công hỏa tuyến, các đội nữ thanh niên xung phong dũng cảm “xẻ dọc trường sơn đi cứu nước”, đã có hàng chục vạn nữ chiến sĩ đã cống hiến cả tuổi thanh xuân cho sự nghiệp kháng chiến cứu nước vĩ đại. Lịch sử còn ghi những kỳ tích lẫy lừng của hàng triệu các má, các chị ở tuyến đầu với Đội quân tóc dài nổi tiếng trong thế trận 3 mũi giáp công chống phá ấp chiến lược. Non sông gấm vóc ngàn năm vẫn tô thắm những hình ảnh sáng ngời chủ nghĩa anh hùng cách mạng của hàng triệu phụ nữ 5 tốt ở Miền Nam, Ba đảm đang ở Miền Bắc, vừa lao động xây dựng đất nước, vừa chi viện sức người sức của cho tiền tuyến, gánh vác việc nước, đảm đang việc nhà để chồng con yên tâm đánh giặc, nhiều bà mẹ đã hiến tặng cả đàn con thân yêu cho độc lập tự do của Tổ quốc, tất cả sự hy sinh gian khổ đó đã hun đúc nên những người phụ nữ Việt Nam kiên cường xứng đáng với 8 chữ vàng Bác Hồ kính yêu trao tặng Anh hùng bất khuất, trung hậu, đảm đang. Từ sau khi đất được hoàn toàn độc lập, Bắc nam thống nhất, để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới, phụ nữ Việt Nam đã tham gia nhiều phong trào Người phụ nữ mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sau gần 30 năm đổi mới đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn. Kinh tế tăng trưởng khá cao và phát triển tương đối toàn diện. Văn hóa xã hội có tiến bộ trên nhiều mặt phong trào thi đua Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc gắn với cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Phụ nữ Việt Nam phát huy truyền thống “Anh hùng Bất khuất Trung hậu Đảm đang”. Do đặc điểm tâm lý về giới tính, về tính chất lao động và vai trò của phụ nữ trong gia đình, xã hội mà trong tâm lý của người phụ nữ, bên cạnh những đặc điểm tâm lý chung của người Việt Nam, vẫn có những đặc điểm riêng cần lưu ý trong công tác tuyên truyền. Những đặc điểm ấy được biểu hiện trong hoạt động nhận thức, tình cảm và trong nhân cách của người phụ nữ Việt Nam. Nhận thức tầm quan trọng của việc nghiên cứu đặc điểm tâm lý riêng của người phụ nữ Việt Nam để công tác tuyên truyền đạt hiệu quả, em đã chọn đề tài “Những biến đổi tâm lý của phụ nữ trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài tiểu luận môn học Tâm lý học trong hoạt động tư tưởng.
Xem thêm

Đọc thêm

BÁO CÁO NCTT TỐT NGHIỆP TCCT.KẾT QUẢ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ VẬN ĐỘNG PHỤ NỮ XÂY DỰNG GIA ĐÌNH NO ẤM, BÌNH ĐẲNG, TIẾN BỘ, HẠNH PHÚC CỦA HỘI PHỤ NỮ Ở XÃ LONG KHÁNH

BÁO CÁO NCTT TỐT NGHIỆP TCCT.KẾT QUẢ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ VẬN ĐỘNG PHỤ NỮ XÂY DỰNG GIA ĐÌNH NO ẤM, BÌNH ĐẲNG, TIẾN BỘ, HẠNH PHÚC CỦA HỘI PHỤ NỮ Ở XÃ LONG KHÁNH

năm đã giảm dần, bản sắc văn hóa truyền thống được phát huy và giữ vững.Hội phụ nữ xã Long Khánh có tổng số 438 hội viên, được phân bốđều trên 9 chi hội gắn với 9 thôn bản, ngay từ đầu năm các chi hội đã bám sátcác nội dung của phong trào thi đua “Phụ nữ tích cực học tập, lao động, sángtạo, xây dựng gia đình hạnh phúc” và thực hiện 3 nhiệm vụ trọng tâm củaHội. Thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động, hỗ trợ phụ nữ phát triểntoàn diện, xây dựng gia đình hạnh phúc. Tuyên truyền, vận động phụ nữ pháttriển trí tuệ, đạo đức, năng lực sáng tạo, ý thức công dân, đáp ứng yêu cầuthời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Tuyêntruyền, vận động hỗ trợ phụ nữ xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ,hạnh phúc. Vận động, hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững,vận động phụ nữ tham gia bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu.Xây dựng tổ chức Hội vững mạnh, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chínhquyền,thực hiện giám sát, phản biện xã hội. Xây dựng củng cố Tổ chức Hộivững mạnh, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố kiện toàn vàthực hiện tốt công tác đôn đốc, kiểm tra, duy trì tốt 1 phong trào thi đua và 3nhiệm vụ trọng tâm của Hội đạt hiệu quả thiết thực, giúp hội viên phụ nữngày càng gắn bó với tổ chức Hội, tin tưởng vào đường lối đổi mới của Đảng,chính sách pháp luật của nhà nước, xây dựng nông thôn mới ngày càng vữngmạnh và toàn diện.2. Thực trạng hoạt động thực hiện nhiệm vụ vận động phụ nữ xâydựng gia đình no ấm, bình đăng, tiến bộ, hạnh phúc của Hội Phụ nữ xãLong Khánh.Hội Liên hiệp phụ nữ xã Long Khánh xác định trách nhiệm của tổ chứcHội trong xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc. Hội phụnữ thường xuyên đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, chăm lo đời sốngvật chất, tinh thần cho hội viên. Công tác tuyên truyền, giáo dục được chútrọng dưới nhiều hình thức, trong đó tập trung thực hiện phong trào thi đua“Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”
Xem thêm

10 Đọc thêm

Phòng chống suy dinh dưỡng bà mẹ, trẻ em, nâng cao tầm vóc người việt nam

PHÒNG CHỐNG SUY DINH DƯỠNG BÀ MẸ, TRẺ EM, NÂNG CAO TẦM VÓC NGƯỜI VIỆT NAM

Cải thiện tình trạng dinh dưỡng của bà mẹ, trẻ em dưới 5 tuổi, phụ nữ tuổi sinh đẻ, trẻ vị thành niên; góp phần nâng cao thể chất, tầm vóc của người Việt NamĐối tượng: bà mẹ có thai và cho con bú; trẻ em dưới 5 tuổi, phụ nữ tuổi sinh đẻ và trẻ vị thành niên.Hoạt động truyền thông phổ biến kiến thức dinh dưỡng hợp lý cho các nhóm đối tượng được triển khai đồng bộ với nhiều hình thức và nội dung ngày càng đa dạng, sáng tạo, thu hút sự tham gia của nhiều nhóm đối tượng khác nhau, nâng cao nhận thức và thực hành dinh dưỡng đúng của người dân thành phố, góp phần đáng kể vào thành công của các chương trình mục tiêu quốc gia. Phạm vi: triển khai toàn diện các can thiệp dinh dưỡng cho bà mẹ và trẻ em trên toàn quốc tại các cơ sở y tế các cấp và cộng đồng ưu tiên cộng đồng nghèo.
Xem thêm

24 Đọc thêm

TÓM TẮT BÁO CÁO: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TRẺ EM VÀ PHỤ NỮ TỈNH KON TUM

TÓM TẮT BÁO CÁO: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TRẺ EM VÀ PHỤ NỮ TỈNH KON TUM

hiểu: trẻ em vi phạm pháp luật; kết hôn sớm; vànhững ưu tiên trong phát triển các dịch vụ vàmạng lưới bảo vệ trẻ em. Đây là những vấn đềđược xác định trong đợt khảo sát do Sở LĐTB&XHtiến hành tại 14 xã, phường và thị trấn trong năm2012. Nhằm đáp ứng yêu cầu đặt ra trên đây,nghiên cứu đã tiến hành đi sâu phân tích một sốvấn đề có nhiều ảnh hưởng quan trọng tới lứatuổi vị thành niên và thanh niên mới lớn hiện nayở Kon Tum, cũng như đi tìm hiểu, xem xét côngtác bảo vệ trẻ em dựa vào cộng đồng trong bốicảnh kinh tế - xã hội và văn hóa - xã hội hiện đạinằm trong sự chuyển dịch và biến đổi của cáchình thái thiết chế văn hóa, xã hội.Báo cáo nghiên cứu bao gồm 8 chương, cụ thểnhư sau:Chương 1 Giới thiệu - đưa ra một tổng quangiới thiệu mục tiêu, khung phân tích, phươngpháp, câu hỏi chi tiết, địa bàn đi thực tế và nhữngngười tham gia nghiên cứu.Chương 2 Bối cảnh phát triển - đưa ra bối cảnhnghiên cứu với các đặc điểm và xu hướng chínhvề địa lý, nhân khẩu học, cấu trúc dân tộc, nềnkinh tế của tỉnh và thu nhập hộ gia đình. Chươngnày cũng đưa ra so sánh các chỉ số về phát triểncon người ở Kon Tum với các tỉnh khác trong khuvực Tây Nguyên và trên toàn quốc; đồng thời nêubật những vấn đề và các thách thức lớn trong cácPHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TRẺ EM VÀ PHỤ NỮ TỈNH KON TUM
Xem thêm

Đọc thêm

Giáo án Đaọ đức lớp 5 Học Kì I

Giáo án Đaọ đức lớp 5 Học Kì I

Giáo án đạo đức lớp 5 học kỳ I Bài 1: Em là học sinh lớp 5 Bài 2: Có trách nhiệm về việc làm của mình Bài 3: Có chí thì nên Bài 4: Nhớ ơn tổ tiên Bài 5: Tình bạn THỰC HÀNH GIỮA HỌC KÌ I Bài 6: Kính già, yêu trẻ Bài 7. Tôn trọng phụ nữ Bài 8: Hợp tác với những người xung quanh Bài: Thực hành kĩ năng cuối học kì I I. Mục tiêu. Củng cố kiến thức các bài đạo đức về chủ đề: Kính già yêu trẻ, tôn trọng phụ nữ, hợp tác với những người xung quanh. II. Đồ dùng dạy học Các dụng cụ chuẩn bị đóng vai, màu, giấy, bút vẽ. III. Các hoạt động dạy học chủ yếu: A.Kiểm tra bài cũ. Em hãy đọc câu thành ngữ tục ngữ, ca dao, nói về tinh thần đoàn kết. B.Bài mới. 1.Giới thiệu bài: Nêu nhiệm vụ tiết học. 2. Hoạt động Hoạt động 1: Củng cố kiến thức các bài đạo đức đã học. + Mục tiêu: HS nhớ và nhắc lại những kiến thức đã học trong các bài đạo đức: Kính già yêu trẻ, tôn trọng phụ nữ, hợp tác với những người xung quanh. + Các bước tiến hành: Bước 1: GV cho hs nêu tên 5 bài đạo đức đã học từ tuần 12 đến tuần 17 và nêu nội dung đã học được từ bài học đó. Bước 2: HD học sinh tự viết những điều mà mình đã làm được lien quan đến những bài đạo đức đã học. Bước 3: HS trình bày trước lớp. Bước 4: GV và hs nhận xét và tuyên dương những hs làm được nhiều việc tốt.
Xem thêm

Đọc thêm

NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN NGÀNH HÀNG ƯU TIÊN CHO HUYỆN BÁC ÁI VÀ THUẬN BẮC, TỈNH NINH THUẬN

NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN NGÀNH HÀNG ƯU TIÊN CHO HUYỆN BÁC ÁI VÀ THUẬN BẮC, TỈNH NINH THUẬN

Báo cáo nghiên cứu lựa chọn ngành hàngưu tiên cho hai huyện Bác Ái và Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận nằm trong khuôn khổ dự án “Tăng cường tiếp cận thị trường và khuyến khích phụ nữ Raglai làm chủ kinh tế tại tỉnh Ninh Thuận” (RVNA93) do tổ chức Oxfam tài trợ trong giai đoạn 2010 2014. Dự án có những mục tiêu cụ thể sau: (i) Nâng cao kiến thức và kỹ năng của phụ nữ Raglai về sản xuất hàng hóa và tiếp cận nền kinh tế thị trường, (ii) Tăng cường sức mạnh của phụ nữ Raglai trong các quan hệ kinh tế thông qua thúc đẩy liên kết các tổ nhóm sản xuấtkinh doanh vừa và nhỏ, (iii) Phát triển hoạt động sản xuất và thị trường hàng hóa thông qua vận động chính sách và hỗ trợ trực tiếp cho các doanh nghiệp và tổ nhóm nông dân sản xuất, (iv) Thúc đẩy sự thay đổi trong phân công lao động giữa nam và nữ trong gia đình để tạo điều kiện cho người phụ nữ tham gia vào các hoạt động kinh tế giúp tăng thu nhập gia đình. Nghiên cứu này nhằm xác định ngành hàng ưu tiên và cung cấp thông tin, cơ sở khoa học cho tổ chức Oxfam xây dựng định hướng hỗ trợ cho cộng đồng người dân tộc Raglai trong những năm tiếp theo
Xem thêm

Đọc thêm

GIẢI PHÁP NÂNG CAO LỢI NHUẬN CỦA HỢP TÁC XÃ CÔNG NGHIỆP TIẾN BỘ

GIẢI PHÁP NÂNG CAO LỢI NHUẬN CỦA HỢP TÁC XÃ CÔNG NGHIỆP TIẾN BỘ

Gần 30 năm sau cuộc chuyển mình từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung với những tư duy cản trở sự phát triển. Bước sang giai đoạn nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa với sự quản lý của Nhà nước. Nền kinh tế nước ta đã đạt được bước phát triển đáng ghi nhận. Sau khi gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO một vận hội mới đi kèm với những thách thức lại mở ra cho các doanh nghiệp. Trong bối cảnh kinh tế thị trường mở như hiện nay, lợi nhuận đã trở thành mục đích kinh doanh, đảm bảo cho sự phát triển và tồn tại của mỗi doanh nghiệp. Lợi nhuận là đòn bẩy kinh tế, là mục tiêu hàng đầu và là đích cuối cùng mà tất cả các doanh nghiệp đều vươn tới. Chỉ khi nào có lợi nhuận thì doanh nghiệp mới có điều kiện tích luỹ để tái sản xuất mở rộng, nâng cao uy tín và thế lực của mình trên thị trường cũng như không ngừng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội. Vì vậy việc xác định đúng đắn vai trò của lợi nhuận để từ đó tìm ra những biện pháp để nâng cao lợi nhuận là một trong những vấn đề thường trực của các doanh nghiệp hiện nay. Cũng như bao doanh nghiệp khác, bước vào nền kinh tế thị trường ở thời kỳ cạnh tranh và nhất là thời điểm mà kinh tế thế giới đang rơi vào tình trạng suy thoái như hiện nay Hợp tác xã Công nghiệp Tiến Bộ bên cạnh việc đạt được những thành tựu đáng khích lệ nhưng cũng đứng trước không ít những khó khăn thử thách. Để đứng vững và cạnh tranh được trên thị trường với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, đảm bảo hoạt động có lãi, giữ vững mà không ngừng mở rộng thị trường, đảm bảo đồng lương, đời sống cho cán bộ công nhân viên, đóng góp cho ngân sách Nhà nước. Đòi hỏi Hợp tác xã phải lập ra những kế hoạch hoạt động, và định hướng phát triển phù hợp với điều kiện đơn vị và thích ứng với thị trường. Với những kiến thức được học tập nghiên cứu tại nhà trường cùng với sự tìm hiểu thực tế tại đơn vị và đặc biệt với sự hướng dẫn tận tình của Giảng viên Thạc Sĩ Nguyễn Hương Giang và sự giúp đỡ của các cô các chú Cán bộ, Công nhân viên Hợp tác xã em đã mạnh dạn nghiên cứu đề tài: “Giải pháp nâng cao lợi nhuận của Hợp tác xã Công nghiệp Tiến Bộ” để làm luận văn tốt nghiệp nhằm làm sáng tỏ bản chất và nguồn gốc của lợi nhuận trong nền kinh tế thị trường, đi đôi với việc nghiên cứu và đánh giá khái quát thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị từ đó đưa ra những giải pháp nâng cao lợi nhuận cho Hợp tác xã. Cấu trúc bài luận văn được chia thành 3 chương: CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH THỰC HIỆN LỢI NHUẬN TẠI HỢP TÁC XÃ CÔNG NGHIỆP TIẾN BỘ CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO LỢI NHUẬN TẠI HỢP TÁC XÃ CÔNG NGHIỆP TIẾN BỘ Kính thưa: Do thời gian nghiên cứu thực tiễn ở đơn vị không nhiều, cộng với phần kiến thức còn nhiều hạn chế nên bài luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong nhận được ý kiến đóng góp của quý Thầy Cô và các bạn. Em xin chân thành cảm ơn!
Xem thêm

57 Đọc thêm

TƯƠNG QUAN GIỚI TRONG PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG GIA ĐÌNH NÔNG THÔN

TƯƠNG QUAN GIỚI TRONG PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG GIA ĐÌNH NÔNG THÔN

.ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT GIỚI TRONG PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN Giảng viên: Nguyễn Thị Minh Hiền Đề tài: Tương quan giới trong phân công lao động gia đình nông thôn Phần I. MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong ¼ thế kỷ qua, các quốc gia trên toàn thế giới đã không ngừng cải thiện vấn đề bất bình đẳng giới. Phụ nữ đã được hưởng những lợi ích về quyền, về học hành, sức khỏe, việc làm và đời sống, thậm chí nhiều quốc gia còn bảo đảm quyền bình đẳng cho phụ nữ theo luật pháp trong những lĩnh vực như sở hữu tài sản, thừa kế, hôn nhân. Tổng cộng có 136 nước hiện nay đã quy định công khai bảo vệ quyền bình đẳng giữa mọi công dân và chống phân biệt đối xử nam nữ trong hiến pháp. Tuy nhiên, những tiến bộ trên không phải dễ dàng mà có. Các thành quả cũng không đến một cách đồng đều ở mọi nước hay đối với mọi phụ nữ, cũng như trên mọi bình diện của vấn đề bình đẳng giới. Trên thực tế, bất bình đẳng vẫn tồn tại dai dẳng đối với phụ nữ trong nhiều lĩnh vực như những thiệt thòi về y tế, bất bình đẳng trong sở hữu tài sản, bất bình đẳng trong hoạt động kinh tế, bất bình đẳng trong thu nhập, bất bình đẳng trong trách nhiệm công việc nhà, chăm sóc gia đình, bất bình đẳng trong quyết định các công việc gia đình… Ở khắp mọi nơi trên thế giới, phụ nữ vẫn phải dành nhiều thời gian mỗi ngày để chăm sóc gia đình và làm việc nhà hơn người chồng: chênh lệch thời gian làm việc nhà dao động từ 1 đến 3 tiếng, thời gian chăm sóc gia đình (con cái, cha mẹ già, người bệnh) dao động từ 2 đến 10 lần, và thời gian tham gia các hoạt động thị trường thấp hơn nam giới từ 1 đến 4 tiếng. Thậm chí ngay cả khi phụ nữ có nhiều thời gian làm việc thị trường hơn người chồng, họ vẫn phải chịu trách nhiệm chính cho việc chăm sóc gia đình, làm việc nhà. Và ở nhiều nơi, phụ nữ ít được tham gia vào quá trình ra quyết định trong gia đình, trong cộng đồng và trong xã hội hơn nam giới. Việc nữ giới có được tham gia vào quá trình đưa ra quyết định hay không là yếu tố quan trọng thể hiện vai trò của người phụ nữ. Tại Việt Nam, sự phát triển của xã hội đã làm vai trò và vị trí của người phụ nữ được nâng lên đáng kể. Phụ nữ đã có quyền bình đẳng so với nam giới. Họ được tự do học hành, được tham gia vào các hoạt động của xã hội theo khả năng của mình, có được quyền bỏ phiếu, ứng cử… Tuy nhiên, các yếu tố truyền thống, đặc biệt là tư tưởng nho giáo vẫn còn là một nhân tố đáng kể tác động trực tiếp đến quan niệm và hành vi ứng xử của người dân trong xã hội. Các chuẩn mực xã hội và những lễ giáo phong kiến khiến cho người phụ nữ luôn bị ràng buộc trong gia đình, rơi vào địa vị phụ thuộc, luôn sống bó hẹp trong “tam tòng tứ đức”. Họ được xem là có nghĩa vụ lao động cực nhọc, thức khuya dậy sớm, không có tiếng nói trong gia đình, không được tham gia vào các công việc xã hội. Quan niệm “trọng nam khinh nữ” và tư tưởng coi thường người phụ nữ vẫn còn đang tồn tại dưới nhiều biến thái khác nhau. Chế độ gia trưởng và sự bất bình đẳng thường là những nguyên nhân dẫn đến sự phụ thuộc trong cuộc sống gia đình của người phụ nữ. Định kiến hẹp hòi của xã hội đang bao trùm lên người phụ nữ, gán cho người phụ nữ vai trò nội trợ như là một biểu trưng chung của người phụ nữ, khiến họ không thể tách rời khỏi gia đình, khỏi vai trò nội trợ của mình để tham gia hoạt động xã hội trong khi họ còn tham gia vào công việc và quan hệ xã hội rộng lớn hơn. Chính vì vậy, trong khi xem xét các khía cạnh liên quan đến bình đẳng giới, chúng ta không thể không nghiên cứu sự khác biệt giới trong phân công lao động gia đình, cụ thể là sự phân công lao động giữa vợ và chồng trong các hoạt động công việc khác nhau của gia đình như công việc nội trợ, chăm sóc và giáo dục con cái, quyền quyết định chính các công việc gia đình… xem trong gia đình phụ nữ và nam giới ai làm gì? Ai có gì? Ai được gì? Có sự bất bình đẳng trong phân công lao động không? Để góp phần làm rõ những vấn đề trên, chúng tôi chọn đề tài “Tương quan giới trong phân công lao động gia đình nông thôn” (Nghiên cứu trường hợp tại xã Tân Kỳ, Huyện Tứ Kỳ, Tỉnh Hải Dương) .Từ đó đề ra những khuyến nghị và giải pháp để nâng cao hơn nữa vai trò của người phụ nữ, phát huy hết tiềm năng của họ, góp phần xây dựng một xã hội ngày càng phát triển công bằng và văn minh. Sở dĩ chúng tôi chọn xã Tân Kỳ, huyện Tứ Kỳ, Hải Dương để nghiên cứu vì xã Tân Kỳ là một xã thuần nông với hơn 70% số hộ dân sinh sống bằng nghề nông. Tuy nhiên hiện nay, thay vì làm ruộng, người nông dân đi làm công nhân cho các công ty gần nhà, đi xuất khẩu lao động… Mặc dù quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đã làm thay đổi ít nhiều đến vùng nông thôn này, nhưng sự phân công lao động trong gia đình vẫn bị ảnh hưởng bởi những quan niệm truyền thống.
Xem thêm

17 Đọc thêm

THIẾT LẬP MỤC TIÊU

THIẾT LẬP MỤC TIÊU

Thiết lập mục tiêuChỉ cần bạn xác định chính xác điều mình cần thực hiện và phác họa đượccon đường đi là bạn đã thành công quá nửa rồi.Hôm trước, tớ ghé một hiệu sách cũ ở đường Phạm Văn Đồng và thấy ngạcnhiên với một cô bạn đang mua sách. Cuốn sách cô bạn cầm trên tay là Hợptuyển văn học Mỹ, dày tới cả gang. Dù người bán hàng đã cảnh báo đây làmột cuốn sách không dễ đọc, nhất là khi, cô bạn chỉ có thể đọc trôi chảy nhanđề và lời giới thiệu ở trang đầu cuốn sách. Tò mò một chút, t ớ hỏi: “Sao bạnlại mua cuốn sách dày thế? Trong khi từ vựng chưa có bao nhiêu? ” Bạn ngạingùng, giải thích: “Lớp mình cũng có nhiều bạn đã đọc đến những cuốn nhưthế này rồi. Mình cứ mua về, để đấy cho đỡ thua kém bạn bè. Rồi thì đọcdần, chắc cũng được vài phần trăm”. Anh bán hàng nhìn tớ, lắc đầu cười khicô bạn vừa khuất bóng: “Anh cá là cô bé đó chẳng đọc được bao nhiêu đâu.Được vài hôm rồi sách đi đằng sách ngay ý mà”. Tớ không nghĩ như anhsong cũng thầm thắc mắc, sao cô bạn không mua cuốn sách nào đó phù hợpvới trình độ của mình hơn? Hay là, vì chẳng có mục tiêu rõ ràng khi đọc sáchnên với bạn ấy, cuốn sách nào cũng như nhau, miễn rằng nó giúp cô “tăngđiểm” trong mắt bạn bè.Khi bắt đầu vô lớp luyện thi TOEIC, chúng tớ đều được thầy giáo hỏi về mụctiêu điểm số của mỗi người. Thông thường, sẽ có 3 chặng mà học viên cầnphải vượt qua. Đó là 250 — 500 điểm, 500 — 750 điểm và trên 750 điểm.Xác định được mốc điểm cần phải đạt được cũng giống như việc đặt viêngạch đầu tiên trên hành trình luyện thi đầy gian nan. H ơn thế nữa, thầy giáocòn yêu cầu mỗi người viết số điểm mong muốn vào một tờ giấy và dán vàochỗ dễ thấy nhất trong góc học tập. Mục tiêu được cụ thể hóa và lặp đi lặp lạithườ ng xuyên thì sẽ dễ thành hiện thực hơn nhiều. Vậy mà, vẫn có bạnkhông trả lời được câu hỏi của thầy khiến thầy ngạc nhiên:“Thế em đi luyệnthi để làm gì? Chẳng lẽ, em không muốn mình đạt được một mức điểm nàođó sao?” Câu trả lời không thể thật thà hơn: “Vì em thấy hầu hết các nhàtuyển dụng đều yêu cầu một chứng chỉ ngoại ngữ nên em đi học rồi đi thi đểlấy chứng chỉ mang về”. Cả lớp tớ cười nhưng thầy giáo lại nghiêm nghị:
Xem thêm

3 Đọc thêm