KINH NGHIỆM TRỒNG ĐẬU TƯƠNG

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "KINH NGHIỆM TRỒNG ĐẬU TƯƠNG":

NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TĂNG NĂNG SUẤT ĐẬU TƯƠNG VỤ HÈ TẠI HUYỆN PHÚC THỌ, HÀ NỘI

NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TĂNG NĂNG SUẤT ĐẬU TƯƠNG VỤ HÈ TẠI HUYỆN PHÚC THỌ, HÀ NỘI

62,49ArgentinaCanadaNguồn: Cục Xúc tiến thương mại Việt NamNhững kết quả nghiên cứu thống kê cho thấy, diện tích trồng đậu tươngcủa nước ta ngày càng thu hẹp trong khi diện đậu tương của thế giới liên tụctăng. Việt Nam hàng năm vẫn nhập khẩu một lượng lớn đậu tương của nướcngoài để phục vụ nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước. Tình trạng trên donhiều nguyên nhân, trong đó năng suất vẫn là vấn đề hạn chế đối với sản xuấtHọc viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệpPage 10đậu tương ở nước ta. Năng suất đậu tương ở Việt Nam những năm gần đâytuy đã được cải thiện, nhưng vẫn thấp hơn so với thế giới, chỉ đạt khoảng 60%so với trung bình chung toàn thế giới. Các biện pháp kỹ thuật canh tác chưađược nghiên cứu cải tiến đồng bộ theo hướng giảm chi phí sản xuất. Giáthành đậu tương trong nước vẫn ở mức cao, kém cạnh tranh so với đậu tươngnhập khẩu. Sản lượng đậu tương sản xuất ra không đáp ứng đủ nhu cầu.Do vậy, cần tiếp tục quan tâm nghiên cứu những yếu tố hạn chế đối vớinăng suất đậu tương, đặc biệt tập trung nghiên cứu về giống và biện pháp kỹ thuậtphù hợp nhằm tăng năng suất, góp phần tăng sản lượng, hạ giá thành sản xuất vìtrong điều kiện hiện nay việc tăng diện tích để tăng sản lượng là rất khó khăn.1.1.3. Tình hình sản xuất đậu tương tại huyện Phúc Thọ, Hà Nội* Tình hình sản xuất đậu tương tại thành phố Hà NộiCây đậu tương là một trong số những cây trồng truyền thống, luôn giữ
Xem thêm

122 Đọc thêm

BÁO CÁO TÌNH HÌNH SẢN XUẤT CÂY ĐẬU TƯƠNG Ở TỈNH SƠN LA

BÁO CÁO TÌNH HÌNH SẢN XUẤT CÂY ĐẬU TƯƠNG Ở TỈNH SƠN LA

Cây đậu tương là cây công nghiệp, cây thực phẩm chiến lược có giá trị đối với đời sống con người. Khó có thể tìm ra loại cây trồng nào có tác dụng nhiều mặt như cây đậu tương cung cấp thực phẩm cho người, nguyên liệu cho công nghiệp, thức ăn cho gia súc và là cây làm giàu đất. Do đó, hiện nay cây đậu tương không chỉ được trồng trong vụ xuân như một cây trồng phụ mà nó đã trở thành cây trồng chính trong vụ hè của những vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ, có thể thay thế hẳn cho vụ lúa mùa, trên các chân đất loại B (nếu trồng lúa thì bị cao hạn, trồng ngô thì quá úng mà năng suất của cả lúa và ngô đều thấp). Và rất phù hợp với các công thức luân canh 3 vụnăm. Đậu tương được gieo trồng phổ biến trên cả 7 vùng sinh thái trong cả nước. Trong đó, vùng Trung du miền núi phía Bắc là nơi có diện tích gieo trồng đậu tương nhiều nhất 69425 ha chiếm 37,10% tổng diện tích đậu tương của cả nước và cũng là nơi có năng suất thấp nhất chỉ đạt 10,30 tạha (Cục Trồng Trọt, 2006). Có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến năng suất đậu tương ở trung du miền núi thấp như chưa có bộ giống tốt phù hợp, mức đầu tư thấp, các biện pháp kỹ thuật canh tác chưa hợp lý. Trong các yếu tố hạn chế trên thì giống và biện pháp kỹ thuật là yếu tố cản trở chính đến năng suất đậu tương. Xuất phát từ thực trạng trên đòi hỏi chúng ta phải xem xét lại “Tình hình sản xuất cây đậu tương của tỉnh Sơn La” và so sánh với tình hình sản xuất cây đậu tương chung của cả nước.
Xem thêm

26 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ DÒNG, GIỐNG ĐẬU TƯƠNG TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ DÒNG, GIỐNG ĐẬU TƯƠNG TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN

như các giống chịu được thuốc diệt cỏ, cho phép khống chế cỏ dại tốt hơn vàkhuyến khích kỹ thuật trồng không lên luống bảo vệ đất, các giống này đượctrồng ở Argentina, Australia, Brazil, Canada, Cộng hòa séc, EU, Mỹ, (VũMinh Sơn, 2004) [30].Hiện nay, công tác nghiên cứu đậu tương trên thế giới nhằm đáp ứngđược những mục đích sau:- Nhập nội sau đó chọn lọc, thử nghiệm ở các vùng sinh thái khác nhau.- Dùng các tác nhân vật lý, hóa học gây đột biến để tạo ra nhữnggiống tốt phục vụ cho sản xuất.- Xác định địa bàn trồng đậu tương trên thé giới và các nước trồng đậutương có năng suất cao.Thông qua con đường nhập nội, chọn lọc lai tạo và gây đột biến màquốc gia sản xuất cây đậu tương mới. Các dòng nhập nội có năng suất caođều được sử dụng làm dòng, giống gốc trong các chương trình lai tạo vàchọn lọc. Vào những năm 1804, Mỹ đã tiến hành thí nghiệm đầu tiên tạibang Pelecibuahina đến năm 1893 thì Mỹ đã có hơn 10.000 mẫu giống đậutương thu nhập từ các nơi trên thế giới. Từ năm 1928 – 1932 tính trung bìnhhàng năm nước Mỹ nhập nội trên 1.190 dòng, giống đậu tương từ nhiềuquốc gia khác nhau trên thế giới. Hiện đã có trên 100 dòng đậu tương khácnhau được Mỹ đưa vào sản xuất, và đã chọn ra được một số giống có khảnăng chống chịu với bệnh Phytopthora và khả năng thích ứng rộng như:Amsoy 71, Lec 36, Clark 63, Harky 63. Hướng chính trong công tác nghiêncứu chọn giống là sử dụng các tổ hợp lai cũng như nhập nội, từ đó hóa đẻ trởthành giống thích nghi với từng vùng sinh thái, đặc biệt chú trọng công tácnhập nội để bổ sung vào nguồn quỹ gen. Việc chọn ra các giống có khả năngthâm canh cao, chống chịu tốt với điều kiện bất thuận, phản ứng yếu với10
Xem thêm

127 Đọc thêm

TÀI LIỆU CÂY ĐẬU TƯƠNG

TÀI LIỆU CÂY ĐẬU TƯƠNG

diệt sâu cao như Bulldock 25EC 0,8-1 lít/ha, Forvin 85WP 0,75-1 kg/ha, Karate25EC 0,3-0,5 lít/ha, Baythroid 50EC 0,6-0,8 lít/ha.* Sâu chích hút:Bọ xít xanh (Nejaravinedula) chích hút lá ở thời kỳ quả mẩy làm quả lép,không chín được. Hạt bị bọ xít xanh chích hút khi gieo mọc kém, tỷ lệ mọc mầm bịgiảm 50%. Về hình thái sâu trưởng thành có thể dễ dàng nhận biết: hình lá chắn,toàn thân màu xanh, phiến tiểu thuần có 3 chấm nhỏ. Bọ xít xanh phá hại cả lúa,ngô, lạc,... dễ phát triển thành dịch, cần phòng trừ kịp thời bằng cách dùng bẫyđèn thu bắt sâu bướm trưởng thành, diệt những ổ bọ xít mới nở hoặc vợt bắttrưởng thành, khi đậu bắt đầu ra hoa – quả non mà mật độ bọ xít 1-3 con/câyphun thuốc ngay với các loại thuốc như Cyper 25EC 0,6-0,8 l/ha, Perkill 50EC 0,10,3 l/ha,Actara 25WG 50gr/ha, Superkill 50EC 1-2 lít/ha.* Rệp (Aphismedicaginic):Rệp non có thể có cánh hoặc không có cánh. Rệp có cánh cơ thể màuvàng, xanh nhạt hoặc xanh đậm, phần đầu và mảnh lưng trước màu đen, phầnbụng hai bên có 3-4 chấm đen, phiến đuôi màu xanh. Rệp non không cánh: cơthể có màu vàng chanh hoặc vàng, sang thu lại có màu xanh thẫm, hoặc màuđen, màu hồng nhạt, toàn thân phủ bụi xáp. Rệp là môi giới truyền bệnh viruskhảm lá đậu tương, gây hại nặng ở vụ đậu tương hè, cần chú ý phòng trừ bằngcách: chặt bỏ cây chủ thân gỗ, cây dâm bụt,... tiêu diệt trứng qua đông và vệsinh đồng ruộng khi gieo trồng đậu tương. Luân canh đậu tương với lúa nướcvà các cây khác ký chủ với rệp đậu tương. Tỉa cây sớm, nhổ bỏ cây bị rệp vàchăm sóc làm cỏ kịp thời tạo điều kiện thông thoáng trong ruộng đậu tương.* Mọt đậu tương (Acanthoscelideb obtectus Say)Mọt này phổ biến ở nhiều nước phá hoại hạt đậu tương trong quá trìnhbảo quản gây thủng hạt, hỏng hạt, gây mùi khó chịu làm giảm chất lượng sảnphẩm. Mọt trưởng thành có thân hình ovan dài, màu nâu đỏ, bụng có màu vàngđỏ, toàn thân phủ long nhung màu vàng kim hay vàng lục. Mọt có thể xẩm nhậpngay trên đồng ruộng khi quả bắt đầu vàng bằng cách đẻ trứng trên các khe nứthoặc đường sống của quả. Trong kho mọt đẻ trứng lên vỏ quả hoặc lên bao bì
Xem thêm

15 Đọc thêm

QUY TRÌNH SẢN XUẤT NƯỚC TƯƠNG

QUY TRÌNH SẢN XUẤT NƯỚC TƯƠNG

Ở Việt Nam, bên cạnh nước mắm, nước tương là loại nước chấm không thể thiếu được trong những bữa cơm hằng ngày của mỗi gia đình. Tuy Trung Quốc là xứ sở đầu tiên của nước tương lên men, nhưng khi nước tương du nhập vào Việt Nam, được nhân dân Việt Nam chế biến thì nước tương đã mang phong cách và khẩu vị đặc trưng của người Việt Nam. Ngày nay, không chỉ các nước ở châu Á như : Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Philippine ưa chuộng nước tương mà ngay cả các nước ở châu Âu và châu Mỹ cũng rất thích vị ngọt đặc biệt của loại nước chấm này. Các loại nước chấm lên men được sản xuất từ đậu nành có một lịch sử sản xuất lâu đời.Trung quốc là quốc gia đầu tiên của nước chấm lên men đậu nành. Từ các nước phương đông rồi đến các nước phương Tây nước chấm lên men đậu nành dần được hình thành. Năm 1933 phương pháp này mới được nguyên cứu ở Liên Xô và sau đó là phương pháp sản xuất nước chấm lên men từ thực vật được hoàn chỉnh và phổ biến. Ở việt Nam, nước chấm đậu nành lên men, trước kia được sản xuất chủ yếu ở một số thành phố đông người Hoa.Trước đây, để tận dụng các sản phẩm phụ của ngành thịt, chúng ta bắt đầu sản xuất maggi theo phương pháp thủy phân axit. Sau này thì người ta nguyên cứu và sản xuất nước chấm bằng phương pháp lên men. Ngày nay con người đã biêt chọn những quy trình công nghệ sản xuất nước tương phù hợp với khẩu vị từng vùng, từng dân tộc… Do đó mà nước tương mang nhiều tên gọi khác nhau như maggi, xì dầu, nước chấm lên men, nước chấm hóa giải….Đậu nành (hay đậu tương, đỗ tương), tên khoa học là Glycine max, là một trong những cây trồng được thuần hóa và trồng sớm nhất của loài người.Những bằng chứng về lịch sử, địa lý và khảo cổ học đều công nhận rằng đậu nành có nguyên sản ở châu Á và có nguồn gốc từ Trung Quốc, từ đó lan truyền khắp thế giới, đến sau thế chiến thứ hai đậu nành mới thực sự phát triển ở Mỹ, Canada, Brazil… Và cũng từ đó việc sử dụng đậu nành làm thực phẩm, trong chăn nuôi, trong công nghiệp mới ngày càng được mở rộng.Trong số các loại cây hạt códầu trồng hàng năm trên thế giới, đậu phộng đứng thứ năm về diện tích trồng và thứ tư về sản lượng. Hiện có hơn một trăm nước trồng đậu phộng. Châu Á đứng đầu thế giới về diện tích trồng đậu phộng cũng như sản lượng, tiếp theo là châu Phi, Bắc Mỹ rồi đến Nam Mỹ. Trong số các nước trồng đậu phộng ở châu Á, Việt Nam đứng hàng thứ năm về sản lượng. Ở nước ta, đậu phộng được trồng nhiều ở Bắc Giang, Phú Thọ, Ninh Bình, Long An, Tây Ninh, Trà Vinh…Sản xuất nước tương công nghiệp sử dụng các loài nấm mốc thuần chủng. Các nghiên cứu về tương cho thấy nấm mốc có ý nghĩa quan trọng nhất trong sản xuất nước tương là nấm nốc Aspergillus oryzae. Chính vì thế trong công nghiệp đã ứng dụng chủ yếu nấm mốc Aspergillus oryzae thuần chủng, khi phát triển trong khối nuôi mốc có màu vàng. Nấm mốc Aspergillus oryzae có các loại enzyme : amylase, protease và các enzyme oxy hóa khử như glucooxydase
Xem thêm

43 Đọc thêm

Điều tra tiêu ở Phú Quốc

ĐIỀU TRA TIÊU Ở PHÚ QUỐC

Luận văn điều tra hiện trạng canh tác cây tiêu của các nông hộ trồng tiêu và xây dựng mô hình, quy trình trồng tiêu với diện tích 1 hecta ở huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Người dân ở đây có kinh nghiệm trồng tiêu lâu đời với diện tích trung bình mỗi nông hộ khoảng 8000 ha. Nông dân thường sử dụng tiêu lá nhỏ để trồng và chọn giống bằng thân chính. Đầu mùa mưa là thời vụ chính để xuống giống.

50 Đọc thêm

THỰC VẬT BIẾN ĐỔI GEN

THỰC VẬT BIẾN ĐỔI GEN

MỤC LỤC Trang 1 CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1. Lý do chọn đề tài 4 1.2. Mục tiêu nghiên cứu 5 1.2.1. Mục tiêu chung 5 1.2.2. Mục tiêu cụ thể 5 1.3. Phạm vi nghiên cứu 5 1.3.1. Phạm vi không gian 5 1.3.2. Phạm vi thời gian 5 1.4. Phương pháp nghiên cứu 5 1.4.1. Phương pháp thu thập số liệu 6 1.4.2. Phương pháp xử lý số liệu 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 7 2.1. Lịch sử hình thành và nguồn gốc 7 2.2. Khái niệm, đặc điểm của thực vật biến đổi gen 7 2.3. Vai trò của thực vật biến đổi gen 8 CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CỦA THỰC VẬT BIẾN ĐỔI GEN 9 3.1. Thực trạng của thực vật biến đổi gen trên Thế Giới 9 3.2. Thực trạng của thực vật biến đổi gen của Việt Nam 10 3.2.1. Chủ trương của Việt Nam về giống cây trồng biến đổi gen 10 3.2.2. Thực trạng cây trồng biến đổi gen 11 CHƯƠNG 4: ẢNH HƯỞNG CỦA THỰC VẬT BIẾN ĐỔI GEN ĐẾN SỨC KHỎE CON NGƯỜI, MÔI TRƯỜNG VÀ ĐA DẠNG SINH HỌC 13 4.1. Những lợi ích của thực vật biến đổi gen 13 4.2. Tác hại tiềm tàng của thực vật biến đổi gen 16 4.2.1. Đối với sức khỏe con người 16 4.2.2. Đối với môi trường 17 4.2.3. Đối với đa dạng sinh học 17 CHƯƠNG 5: VẤN ĐỀ THƯƠNG MẠI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THỰC VẬT BIẾN ĐỔI GEN 19 5.1. Tình hình phát triển của thực vật biến đổi gen 19 5.1.1. Tình hình phát triển của thực vật biến đổi gen trên Thế Giới 19 5.1.2. Tình hình phát triển của thực vật biến đổi gen ở Việt Nam 22 5.2. Tiềm năng phát triển của thực vật biến đổi gen và triển vọng cho tương lai 24 5.2.1. Tiềm năng phát triển 25 5.2.2. Triển vọng cho tương lai 26 CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN 28 DANH MỤC BẢNG Bảng 5.1: Diện tích cây trồng biến đổi gen năm2011 theo quốc gia 19 DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 5.1: Tình hình sử dụng CM trên Thế Giới năm 2009 22 CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Thực vật biến đổi gen là một trong những thành tựu cửa công nghệ sinh học nông nghiệp, vì nó mang lại nhiều lợi ích cho người nông dân như: năng suất cao, chất lượng tốt, kháng được sâu bệnh, kháng thuốc diệt cỏ, … Sau hơn 10 năm ứng dụng phát triển cây trồng biến đổi gen ở nhiều nước trên thế giới, đữ chứng minh rằng cây trồng biến đổi gen đữ mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt, việc triển khia ứng dụng cây trồng biến đổi gen tăng liên tục về số lượng các nước tham gia, về diện tích tăng hàng năm,… Do gánh nặng về dân số ngày càng tăng cao, nên thực phẩm biến đổi gen là một giải pháp đầy hứa hẹn để đảm bảo an ninh lương thực, xóa bỏ nạn đói và tình trạng suy dinh dưỡng trên thế giới. Bên cạnh đó, thực phẩm biến đổi gen còn góp phần vào công tác bảo vệ môi trường: thực phẩm biến đổi gen được cấp phép ra không những chỉ có những giá trị về dinh dưỡng và y tế tốt hơn mà các cây trồng hoặc vật nuôi tao ra chúng còn có thể chống chịu lại được sâu bọ và bệnh dịch, giúp giảm sử dụng thuốc trừ sâu, và chịu nhiệt độ cao. Tuy nhiên, ngoài những mặt tích cực, thực phẩm biến đổi gen cũng gây ra nhiều thách thức cho các chính phủ, các nhà khoa học, công nghiệp và những nhà hoạch định chiến lược, đặc biệt là trong lĩnh vực thử nghiệm an toàn, luật, chính sách quốc tế và dán nhãn thực phẩm. Với dân số là 86 triệu người, an ninh lương thực là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu của Việt Nam. Vì vậy, phát triển cây trồng biến đổi gen là một trong những giải pháp để góp phần giải quyết bài toán đảm bảo an ninh lương thực. Hiện tại, Việt Nam đã có những bước tiến trong nghiên cứu và canh tác cây trồng biến đổi gen; nhập khẩu, sử dụng thực phẩm biến đổi gen và các nguyên vật liệu có chứa sinh vật biến đổi gen. Tuy nhiên, công tác quản lý và dán nhãn thực phẩm biến đổi gen ở Việt Nam vẫn mới đang ở trong giai đoạn sơ khai. Hơn một thập kỷ qua sự bùng nổ của công nghệ sinh học (CNSH), mà hàng đầu là công nghệ biến đổi gen, đã tạo bước đột phá trong phát triển khoa học và nhiều ngành kinh tế kỹ thuật khác của loài người, có ảnh hưởng lớn lao đến sản xuất môi trường – xã hội và cuộc sống.Thành tựu kỳ diệu, thách thức rất đa chiều nhưng cơ hội, triển vọng cũng cực kỳ to lớn Đây là lý do nhóm chọn đề tài “Thực vật biễn đổi gen “ 1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.2.1. Mục tiêu chung Phân tích thực trạng thực vật biến đổi gen về vấn đề thương mại và phát triển trên thế giới. 1.2.2. Mục tiêu cụ thể • Phân tích thực trạng của thực vật biến đổi gen. • Phân tích ảnh hưởng của thực vật biến đổi gen đến sức khỏe con người môi trường và đa dạng sinh học. 1.3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1.3.1. Phạm vi không gian Đề tài nghiên cứu Phân tích thực trạng thực vật biến đổi gen về vấn đề thương mại và phát triển trên thế giới. 1.3.2. Phạm vi thời gian Đề tài được thực hiện vào ngày 15102015 đến ngày 22102015. 1.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.4.1. Phương pháp thu thập số liệu Số liệu thứ cấp được thu nhập trên internet, sách, tạp chí và các phương tiện truyền thông khác. 1.4.2. Phương pháp xử lý số liệu Số liệu được phân tích trên cơ sở chọn lọc, tổng hợp kết hợp phương pháp so sánh tương đối, tuyệt đối và đưa ra nhận xét, đánh giá. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH Cây trồng chuyển đổi gen được tạo ra lần đầu tiên vào năm 1982, bằng việc sử dụng loại cây thuốc lá chống kháng sinh. Những khu vực trồng thử nghiệm cây thuốc lá có khả năng chống thuốc diệt cỏ đầu tiên ở là ở Pháp và Hoa kỳ vào năm 1986. Năm 1987, Plant Genetic Systems ( Ghent, Bỉ ), được thành lập bởi Marc Van Montagu and Jeff Schell, là công ty đầu tiên phát triển cây trồng thiết kế gen di truyền ( thuốc lá ) có khả năng chống chịu côn trùng bằng cách biểu hiện các gen mã hóa protein diệt côn trùng từ vi khuẩn Bacillus Thuringiensis ( BT ). Trung Quốc là quốc gia đầu tiên chấp thuận cây công nghiệp chuyển đổi gen với cây thuốc lá kháng vi rút được giới thiệu lần đầu vào năm 1992, nhưng rút khỏi thị trường Trung Quốc vào năm 1997. Cây trồng biến đổi gen đầu tiên được phê chuẩn bán ở Mỹ vào năm 1994 là cà chua Flavrsavr, có thời gian bảo quản lâu hơn các loại cà chua thông thường. Năm 1994, Liên Minh Châu Âu phể chuẩn cây thuốc lá có khả năng chống chịu thuốc diệt cỏ Bromoxynil. Năm 1995, khoai tây BT đã được phê duyệt an toàn bởi Cơ quan Bảo vệ môi trường, trở thành cây nông sản kháng sâu đầu tiên được phê duyệt tại Hoa Kỳ.Các loại cây trồng chuyển đổi gen sau đó cũng được chấp thuận giao dịch ở Mỹ năm 1995: cải dầu với thành phần dầu chuyển đổi (Calgene), ngô bắp có vi khuẩn Bacillus thuringiensis (Bt) (CibaGeigy), bông kháng thuốc diệt cỏ bromoxynil (Calgene), bông kháng côn trùng (Monsanto), đậu nành kháng thuốc diệt cỏ glyphosate (Monsanto), bí kháng vi rút (Asgrow), và cà chua chín chậm (DNAP, Zeneca Peto, và Monsanto). Tính đến giữa năm 1996 đã có tổng cộng 35 phê chuẩn được cấp cho 8 loại cây công nghiệp chuyển đổi gen và 1 loại hoa cẩm chướng, với 8 điểm khác nhau tại 6 quốc gia cộng thêm EU. Năm 2000, lần đầu tiên các nhà khoa học đã biến đổi gen thực phẩm để gia tăng giá trị dinh dưỡng bằng việc sản xuất ra hạt gạo vàng. 2.2. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA THỰC VẬT BIẾN ĐỔI GEN a. Khái niệm Công nghệ biến đổi gen là công nghệ chuyển gen theo kỹ thuật DNA tái tổ hợp với những công cụ và kỹ thuật phân tử, thông qua việc phân lập những gen có ích từ sinh vật cho rồi chuyển trực tiếp vào sinh vật nhận, để tạo ra những sinh vật biến đổi gen. Quá trình này hoàn toàn mang tính nhân tạo và không thấy trong tự nhiên. Cây trồng biến đổi gen(Genetically Modified Crop GMC)là loại cây trồng được lai tạo ra bằng cách sử dụng các kỹ thuật của công nghệ sinh học hiện đại, hay còn gọi là kỹ thuật di truyền, công nghệ gene hay công nghệ DNA tái tổ hợp, để chuyển một hoặc một số gene chọn lọc để tạo ra cây trồng mang tính trạng mong muốn. b. Đặc điểm Công nghệ chuyển gen tìm cách phân lập những gen có ích riêng biệt từ cây cho rồi chuyển trực tiếp vào cây nhận, tránh được những phiền phức của cách tạo giống truyền thống. Do vậy thời gian tạo một giống mới theo kỹ thuật chuyển gen sẽ nhanh hơn nhiều so với kỹ thuật lai hữu tính. 2.3. VAI TRÒ CỦA THỰC VẬT BIẾN ĐỔI GEN Thực phẩm biến đổi gen cải thiện được chất lượng thực phẩm, làm tăng giá trị dinh dưỡng hoặc những tính trạng thích hợp cho công nghệ chế biến, chống chịu được thời tiết khắc nghiệt và có khả năng kháng được nhiều loại sâu bệnh góp phần tăng năng suất cây trồng. Cây trồng CNSH góp phần giảm hiệu ứng nhà kính từ quá trình canh tác nhờ việc giảm lượng năng lượng sử dụng, tăng lượng cacbon lưu trữ trong đất nhờ giảm việc làm đất. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CỦA THỰC VẬT BIẾN ĐỔI GEN 3.1. THỰC TRẠNG CỦA THỰC VẬT BIẾN ĐỔI GEN TRÊN THẾ GIỚI Diện tích cây trồng biến đổi gen toàn cầu tăng đáng kể từ 1,7 triệu ha vào năm 1996 lên trên 175 triệu ha vào năm 2013. Trong đó các quốc gia giữ có diện tích canh tác cây trồng công nghệ sinh học (CNSH) lớn có thể kể đến như Hoa Kỳ với diện tích canh tác cây trồng CNSH là 70,2 triệu ha, với tỷ lệ canh tác các loại cây trồng CNSHtổng diện 2013. Diện tích canh tác ở các nước đang phát triển đang ngày càng được mở rộng. Tỷ trọng diện tích canh tác cây trồng CNSH của nông dân Mỹ La tinh, Châu Á và Châu Phi lên tới 54% trong tổng diện tích canh tác cây trồng CNSH toàn cầu (tăng 2% so với năm 2012), do đó làm gia tăng chênh lệch tích canh tác là 90% vào năm 2013. Argentina với 24,4 triệu ha; Ấn Độ có sản lượng 11 triệu ha bông CNSH vào năm về diện tích canh tác giữa các nước công nghiệp và các nước đang phát triển từ khoảng 7 triệu năm 2012 lên đến 14 triệu ha vào năm 2013. Tính chung Nam Mỹ đã trồng 70 triệu ha hoặc chiếm 41%; châu Á trồng 20 triệu ha, chiếm 11%; và châu Phi trồng hơn 3 triệu ha, chiếm 2% diện tích canh tác cây trồng CNSH toàn cầu. Liên minh châu Âu vốn xưa nay là nơi có diện tích cây trồng CNSH khiêm tốn nhất cũng bắt đầu có những thay đổi tích cực khi diện tích canh tác cây trồng CNSH trong năm 2013 đã tăng lên 15% so với các năm trước. Tây Ban Nha dẫn đầu khối các nước EU với diện tích trồng ngô đột biến gen là 136.962 ha. Đặc biệt Trung Quốc, với dân số 1,3 tỷ người, là nước đông dân nhất trên thế giới, cây bông CNSH ở Trung Quốc đã đem lại lợi ích kinh tế trên 15 tỷ USD trong vòng 12 năm từ năm 1996 đến năm 2012. Một số nhà quan sát dự đoán Trung Quốc có thể mở đường cho việc phê chuẩn một số cây trồng CNSH lớn như ngô phytase – giống ngô đã nhận được phê duyệt về an toàn sinh học năm 2009, khi hai đặc tính lúa CNSH cũng được phê duyệt. Nhu cầu về thức ăn chăn nuôi để duy trì 500 triệu con lợn và 13 tỷ con gia cầm của Trung Quốc đã khiến nước này ngày càng trở nên phụ thuộc vào ngô nhập khẩu để bổ sung cho 35 triệu ha trồng ngô trong nước. Thế giới hiện có hơn 14 triệu nông dân áp dụng giống cây trồng biến đổi gen, năm 2009 cung cấp 77% sản lượng đậu nành, 49% sản lượng bông vải và 26% sản lượng ngô cho toàn cầu. Ngoài ra, 32 quốc gia và vùng lãnh thổ đã công nhận việc nhập khẩu cây trồng chuyển gen để tiêu thụ và sản xuất. Dự kiến đến năm 2015, thế giới sẽ có khoảng 40 nước cho phép trồng cây chuyển gen, diện tích sẽ tăng lên 200 triệu hecta, chủ yếu là ngô, đậu tương, bông vải, thuốc lá, cà tím, cà chua, đu đủ... 3.2. THỰC TRẠNG CỦA THỰC VẬT BIẾN ĐỔI GEN Ở VIỆT NAM 3.2.1. Chủ trương của Việt Nam về giống cây trồng biến đổi gen Tại Việt Nam, cây trồng biến đổi gen đã được đầu tư nghiên cứu và khảo nghiệm từ năm 2006 sau khi Chương trình trọng điểm phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn đến năm 2020 được phê duyệt tại Quyết định số 112006QĐTTg. Vào năm 2011, việc đưa ngô biến đổi gen vào sản xuất thương mại tại Việt Nam được dự kiến triển khai vào năm 2012 sau hai đợt khảo nghiệm trên diện rộng. Đến 2013, Bộ NNPTNT đã công nhận kết quả khảo nghiệm 5 giống ngô biến đổi gen để trình Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp phép an toàn sinh học. Thời gian qua, Bộ NNPTNT đã ban hành hàng loạt nghị định, thông tư để đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sinh học nhưNghị định số 692010NĐCP về an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gien, mẫu vật di truyền và sản phẩm của sinh vật biến đổi gien; Quyết định số 418QĐTTg về việc phê duyệt Chiến lược phát triển KH và CN giai đoạn 2011 2020;Thông tư 722009TTBNNPTNT ngày 17 tháng 11 năm 2009 ban hành danh mục loài cây trồng biến đổi gen được phép khảo nghiệm đánh giá rủi ro đối với đa dạng sinh học và môi trường cho mục đích làm giống cây trồng ở Việt Nam. Bộ TNMT đã ban hành Thông tư số 082013TTBTNMT ngày 1652013 về Đánh giá an toàn sinh học đối với cây trồng biến đổi gen, trong đó quy định thành lập Tổ chuyên gia có trách nhiệm hỗ trợ kỹ thuật cho Hội đồng ATSH đối với từng sự kiện biến đổi gen cụ thể; Thông tư số 022014TTBNNPTNT ngày 2412014 quy định trình tự, thủ tục cấp và thu hồi giấy xác nhận thực vật biến đổi gen đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi. Đặc biệt ngày 11 tháng 8 năm 2014, Bộ NN PTNN chính thức công bố cấp phê duyệt 04 sự kiện ngô biến đổi gen đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi. Các sự kiện được phê duyệt lần này bao gồm sự kiện Bt 11 và MIR162 của công ty TNHH Syngenta Việt Nam và MON 89034 (Bộ TNMT cấp Giấy chứng nhận ATSH vào ngày 27 tháng 8 năm 2014) và NK603 của công ty TNHH Dekalb Việt Nam (Monsanto). Giấy xác nhận phê duyệt được ban hành sau quá trình xem xét kỹ lưỡng và được chấp thuận bởi Hội đồng An toàn Thực phẩm và Thức ăn chăn nuôi biến đổi gen là không có bất kỳ ảnh hưởng bất lợi nào đối với con người và vật nuôi theo đúng trình tự được quy định theo thông tư 022014TTBNNPTNT. Đây là 4 sự kiện biến đổi gen đầu tiên được công nhận đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm và thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam. Theo dự kiến, tới năm 2015, ngô biến đổi được đưa vào trồng đại trà. PGS.TS. Lê Huy Hàm cho rằng, để sử dụng an toàn các loại cây trồng này, Nhà nước phải có quy chế, người sử dụng phải tuân thủ. Song song với đó, khi đưa vào trồng đại trà, các địa phương phải quy hoạch diện tích trồng phù hợp, khoanh vùng cây bản địa, ngăn không để các loại cây trồng biến đổi gen vào vùng này. 3.2.2. Thực trạng cây trồng biến đổi gen Tại Việt Nam, cây trồng biến đổi gen đã được đưa vào thử nghiệm gần 5 năm và dự kiến khoảng năm 2015, những sản phẩm được chế biến từ ngô, đậu nành… biến đổi gen sẽ xuất hiện trong siêu thị, chợ và bữa ăn của các gia đình Việt Nam. Có một thực tế, những loại thực phẩm biến đổi gen đang có mặt hầu hết ở các chợ và siêu thị tại thành phố Hồ Chí Minh. Một cuộc khảo sát cho thấy 111323 mẫu thực phẩm gồm: bắp, đậu nành, khoai tây, gạo, cà chua, đậu Hà Lan… chọn ngẫu nhiên ở 17 chợ, siêu thị trên địa bàn thành phố được kiểm nghiệm cho kết quả là sản phẩm biến đổi gen, trong đó có bắp Mỹ, bắp trái non, bắp non đóng hộp, bột bắp, bắp giống có nguồn gốc trong nước và nước ngoài dương tính với promoter 35S hoặc terminatornos một dạng biến đổi gen. Trong đó có 45 mẫu bắp, 29 mẫu đậu nành, 11 mẫu gạo, 15 mẫu khoai tây, 10 mẫu cà chua. Đáng chú ý là người tiêu dùng, các nhà phân phối và cả ban quản lý các siêu thị, chợ trên địa bàn thành phố hầu như không hiểu biết gì về thực phẩm biến đổi gen. Trước tình trạng đó, một số nhà sản xuất đã bắt đầu quan tâm đến việc công bố nguồn gốc nguyên liệu sản xuất để người tiêu dùng có quyền lựa chọn sản phẩm mình mua có được làm từ thực phẩm biến đổi gen hay không Dự kiến đến năm 2015 Việt Nam sẽ cho áp dụng trồng đại trà ba loại cây trồng biến đổi gen bao gồm: đậu tương và ngô để phục vụ cho chăn nuôi; cây bông phục vụ cho dệt may. CHƯƠNG 4: ẢNH HƯỞNG CỦA THỰC VẬT BIẾN ĐỔI GEN ĐẾN SỨC KHỎE CON NGƯỜI, MÔI TRƯỜNG VÀ ĐA DẠNG SINH HỌC 4.1. NHỮNG LỢI ÍCH CỦA THỰC VẬT BIẾN ĐỔI GEN Từ năm 1996 đến 2007, GMC đã bảo vệ 43 triệu ha đất trên thế giới, có tiềm năng rất lớn trong tương lai. Công nghệ biến đổi gen đã đạt được những thành tựu và mang lại lợi ích to lớn trong các lĩnh vực: nông nghiệp, công nghệ sinh học, y tế, bảo vệ môi trường, công nghiệp chế biến thực phẩm và thức ăn chăn nuôi. Tính đến năm 2050, ước tính dân số sẽ chạm mốc 9 tỷ người. Theo Uỷ ban Nông Lương Liên hợp quốc, điều này có nghĩa là lượng thực phẩm cần sản xuất để đáp ứng nhu cầu cho toàn cầu trong giai đoạn 2000 – 2050 tương đương với tổng lương thực cần trong 10.000 năm trước đây, trong khi diện tích đất canh tác nông nghiệp ngày càng thu hẹp, biến đổi khí hậu gay gắt trên toàn cầu. Hiện nay, thế giới vẫn đang phải đối mặt với thách thức hơn 1 tỷ người còn đang thiếu đói, cây trồng CNSH được tạo ra nhằm mục tiêu giải quyết thách thức nông nghiệp toàn cầu, nâng cao năng suất cây trồng trên cùng một diện tích đất canh tác nhờ các ưu thế lai chính xác và vượt trội, giảm lượng thuốc trừ sâu, xói mòn đất, góp phần phát triển nông nghiệp bền vững. Việc giảm sử dụng hóa chất là một trong những lợi ích ban đầu và rõ ràng cho người nông dân khi sử dụng cả cây trồng kháng thuốc trừ cỏ và cây trồng kháng sâu bệnh. Cây trồng CNSH đã giảm 474 triệu kg thuốc trừ sâu (tương đương 9%) trong giai đoạn 1996 2011, tương ứng với tổng lượng hoạt chất trừ sâu tại Liên minh châu Âu trong một năm với 3 vụ trồng trọt. Điều này tương ứng với việc giảm tác động lên môi trường 18,1% nhờ giảm lượng thuốc trừ sâu sử dụng trên diện tích trồng cây trồng công nghệ sinh học. • Trong tổng lợi ích thu nhập canh tác, 49% (tương đương với 48 tỷ USD) có được nhờ năng suất thu hoạch cao hơn do giảm sâu hại, áp lực về cỏ dại và hệ gen được cải thiện, còn lại nhờ việc giảm thiểu chi phí canh tác. • Phần lớn (51%) thu nhập từ canh tác năm 2011 đã đến trực tiếp với người nông dân của các quốc gia đang phát triển, 90% của nhóm này là những nông hộ nhỏ và nghèo. Tổng cộng từ năm 1996 2011, khoảng 50% tổng lợi ích thu về đã đến được với nông dân ở các quốc gia đã và đang phát triển. • Cây trồng công nghệ sinh học có khả năng chống chịu với thuốc trừ cỏ không chỉ làm giảm việc dùng thuốc diệt cỏ mà còn làm cho đất và nước sạch hơn, thúc đẩy việc áp dụng phương pháp canh tác không làm đất để giảm thiểu sự xói mòn đất và hiện tượng thải ra carbon làm biến đổi khí hậu vào khí quyển. Theo tính toán của Hội Đồng Khoa Học Nông nghiệp và Công Nghệ (CAST) cho rằng công nghệ mới như bắp và đậu nành có hàm lượng acid phytic thấp có thể giúp giảm nitơ và bài tiết phospho ở heo và gia cầm tương ứng 40% và 60%. Hệ thống tiêu hóa của bò được cải thiện có thể làm giảm bài tiết nitơ lên đến 34%, và giảm bài tiết phosphor đến 50%. • Tất cả các nước đang phát triển đã được hưởng lợi từ công nghệ sinh học thông qua việc nhập khẩu hàng hóa rẻ hơn, mức độ độc tố mycotoxin thấp hơn và năng suất cây trồng cao hơn và sạch hơn để trồng trong nước. Các nước đã phát triển cây trồng công nghệ sinh học cũng được hưởng lợi từ việc giảm sử dụng hóa chất, năng suất cao hơn và nông nghiệp mang tính cạnh tranh hơn, xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp biến đổi gen mang một nguồn thu ổn định và giải quyết vấn đề việc làm cho một bộ phận lớn người dân các nước này. Người nông dân tại các quốc gia đang phát triển chính là đối tượng thụ hưởng lợi của những ích lợi đang ngày càng gia tăng này. Môi trường cũng được bảo vệ tốt hơn nhờ việc nông dân ngày càng áp dụng phương pháp canh tác ít ảnh hưởng đến lớp đất phủ, quản lý cỏ dại bằng cách sử dụng các thuốc diệt cỏ lành tính và giảm thiểu lượng thuốc trừ sâu sử dụng nhờ ứng dụng cây trồng biến đổi gen kháng sâu hại. Việc giảm phun thuốc trừ sâu và chuyển đổi sang phương thức canh tác không làm đất ngày càng đóng vai trò tích cực trong giảm hiệu ứng nhà kính gây ra do canh tác nông nghiệp. • Đảm bảo an ninh lương thực và hạ giá thành lương thực trên thế giới GMC có thể giúp ổn định tình hình an ninh lương thực và hạ giá thành lương thực trên thế giới, bằng cách làm tăng nguồn cung lương thực, đồng thời làm giảm chi phí sản xuất, từ đó làm giảm lượng nhiên liệu đốt cần sử dụng trong các hoạt động nông nghiệp, giảm bớt một số tác động bất lợi gắn với sự biến đổi khí hậu. Trong số 44 tỷ USD lợi nhuận tăng thêm nhờ công nghệ sinh học, có 44% lợi nhuận từ việc tăng năng suất cây trồng, 56% lợi nhuận từ giảm chi phí sản xuất. Hướng nghiên cứu mới đối với cây lương thực là phát triển khả năng chịu hạn; các giống cây lương thực mới dự đoán sẽ được trồng ở Hoa Kỳ năm 2012, ở tiểu vùng Sahara thuộc châu Phi năm 2017. • Bảo tồn đa dạng sinh học GMC có lợi tiềm tàng đối với môi trường. GMC giúp bảo tồn các nguồn lợi tự nhiên, sinh cảnh và động, thực vật bản địa. Thêm vào đó, GMC góp phần giảm xói mòn đất, cải thiện chất lượng nước, cải thiện rừng và nơi cư trú của động vật hoang dã. Việc ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp là giải pháp giúp bảo tồn đất trồng, cho phép tăng sản lượng thu hoạch cây trồng trên 1,5 tỷ ha đất trồng hiện có, xoá bỏ tình trạng phá rừng làm nông nghiệp, bảo tồn đa dạng sinh học tại các cánh rừng và khu bảo tồn trên khắp thế giới. Theo ước tính, hàng năm các nước đang phát triển mất khoảng 13 triệu ha rừng vì các hoạt động nông nghiệp. Từ năm 1996 đến 2007, GMC đã bảo vệ 43 triệu ha đất trên thế giới, có tiềm năng rất lớn trong tương lai. • Góp phần xoá đói giảm nghèo 50% những người nghèo nhất trên thế giới là người nông dân ở các nước đang phát triển, nghèo tài nguyên, 20% còn lại là những người nông dân không có đất trồng, phụ thuộc hoàn toàn vào nghề nông.Vì thế, tăng thu nhập cho người nông dân nghèo sẽ đóng góp trực tiếp vào quá trình xoá đói giảm nghèo trên thế giới, tác động trực tiếp đến 70% người nghèo trên toàn thế giới. Tính đến thời điểm hiện tại, các giống bông và ngô biến đổi gen đã mang lại lợi nhuận cho hơn 12 triệu nông dân nghèo ở các nước Ấn Độ, Trung Quốc, Nam Phi, Philippin và số người hưởng lợi sẽ cao hơn trong thập niên thứ hai này. Trong đó việc tập trung phát triển các giống gạo biến đổi gen có thể mang lại lợi nhuận cho khoảng 250 triệu hộ nông dân nghèo canh tác lúa ở châu Á. • Giảm thiểu tác hại của biến đổi khí hậu và giảm lượng khí gây hiệu ứng nhà kính (GHG) GMC có thể giúp giải quyết những lo ngại lớn nhất về môi trường: giảm thiểu các loại khí gây hiệu ứng nhà kính, giảm thiểu tác động của thay đổi thời tiết. Thứ nhất, giảm lượng khí CO2, làm giảm lượng nhiên liệu hoá thạch, giảm lượng thuốc trừ sâu và thuốc diệt cỏ. Theo đánh giá, GMC đã làm giảm khoảng 1,1 tỷ kg khí CO2 thải ra từ các hoạt động nông nghiệp, tương đương với cắt giảm 500 ngàn xe ôtô lưu thông trên đường. Thứ hai, phương pháp canh tác không cần cày xới nhờ công nghệ sinh học làm giảm thêm 13,1 tỷ kg khí CO2, tương đương với giảm 5,8 triệu xe ôtô lưu hành trên đường. Như vậy, trong năm 2007, tổng lượng khí CO2 mà công nghệ sinh học làm giảm trên toàn thế giới đạt mức 14,2 tỷ kg, tương đương với loại bỏ 6,3 triệu xe ôtô (Brooks và Barfoot, 2009). • Tăng hiệu quả sản xuất nhiên liệu sinh học Công nghệ sinh học có thể giúp tối ưu hoá chi phí sản xuất nhiên liệu sinh học thế hệ thứ nhất và thứ hai, nhờ tạo ra các giống cây chịu tác động của môi trường (khô hạn, nhiễm mặn, nhiệt độ khắc nghiệt…) hoặc các tác động của sinh vật (sâu bệnh, cỏ dại…), nâng cao năng suất thu hoạch của cây trồng, bằng việc thay đổi cơ chế trao đổi chất của cây. Sử dụng công nghệ sinh học, các nhà khoa học cũng có thể tạo ra những enzym đẩy nhanh quá trình chuyển hoá của nguyên liệu sản xuất thành nhiên liệu sinh học. • Góp phần ổn định các lợi ích kinh tế Khảo sát gần đây nhất về tác động của GMC trên toàn cầu từ năm 1996 đến 2007 (Brooks và Barfoot, 2009) cho thấy lợi nhuận mà GMC mang lại cho riêng những người nông dân trồng chúng trong năm 2007 đạt 10 tỷ USD (6 tỷ USD ở các nước đang phát triển, 4 tỷ USD ở các nước công nghiệp). Tổng lợi nhuận trong giai đoạn 1996 2007 đạt 44 tỷ USD, từ các nước đang phát triển và nước công nghiệp. 4.2. TÁC HẠI TIỀM TÀNG CỦA THỰC VẬT BIẾN ĐỔI GEN 4.2.1. Đối với sức khỏe con người: Bên cạnh những lợi ích cơ bản của cây trồng biến đổi gen, theo một vài nhà khoa học thế giới, thì loại thực phẩm này cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ ảnh hưởng lâu dài tới sức khỏe cộng đồng, môi trường. Theo các nhà khoa học, cây trồng biến đổi gen có thể gây gây dị ứng, làm nhờn kháng sinh, có thể tạo ra độc tố và gây độc lâu dài cho cơ thể. Đây là một trong những tranh luận chủ yếu và vấn đề chỉ được tháo gỡ khi chứng tỏ được rằng sản phẩm protein có được từ sự chuyển đổi gen không phải là chất gây dị ứng. Gen kháng sinh có thể được chuyển vào các cơ thể vi sinh vật trong ruột của người và động vật ăn thành phẩm biến đổi gen. Điều này có thể dẫn tới việc tạo ra các vi sinh vật gây bệnh có khả năng kháng thuốc. 4.2.2. Đối với môi trường: • Cây trồng biến đổi gen mang các yếu tố chọn lọc (chịu lạnh, hạn, mặn hay kháng sâu bệnh…) phát triển tràn lan trong quần thể thực vật. Điều này làm mất cân bằng hệ sinh thái và làm giảm tính đa dạng sinh học của loài cây được chuyển gen. • Cây trồng biến đổi gen mang các gen kháng thuốc diệt cỏ có thể thụ phấn với các cây dại cùng loài hay có họ hàng gần gũi, làm lây lan gen kháng thuốc diệt cỏ trong quần thể thực vật. Việc gieo trồng cây trồng biến đổi gen kháng sâu bệnh trên diện rộng, ví dụ, kháng sâu đục thân, có thể làm phát sinh các loại sâu đục thân mới kháng các loại cây trồng biến đổi gen này. Việc sử dụng thuốc trừ sâu sinh học Bt đã cho phép phòng trừ hiệu quả sâu bệnh, nhưng sau 30 năm sử dụng, một số loại sâu bệnh đã trở nên nhờn thuốc ở một vài nơi • Ngoài ra, một bộ phận các nhà khoa học lo ngại đến khả năng chuyển gen từ cây trồng vào các vi khuẩn trong đất. Tuy nhiên, khả năng xảy ra điều này là vô cùng nhỏ. Hiện nay, các chuyên gia CNSH đang cố gắng giảm thiểu các rủi ro nêu trên và theo dõi cẩn thận các thử nghiệm cây trồng biến đổi gen trong phòng thí nghiệm, cũng như ngoài đồng ruộng trước khi đưa ra thị trường thương mại. Nếu được thiết kế và sử dụng đúng phương pháp thì có thể quản lý được các nguy cơ của cây trồng biến đổi gen đối với môi trường một cách hiệu quả. 4.2.3. Đối với đa dạng sinh học: Nguy cơ GMC có thể phát tán những gen biến đổi sang họ hàng hoang dã của chúng, sang sâu bệnh có nguy cơ làm tăng tính kháng của chúng đối với đặc tính chống chịu sâu bệnh, thuốc diệt cỏ hoặc làm tăng khả năng gây độc của GMC đối với những loài sinh vật có ích. Dưới sức ép của chọn lọc tự nhiên, côn trùng sẽ trở lên kháng các loại thuốc diệt côn trùng do cây trồng tạo ra và gây thiệt hại cho cây trồng. Giải pháp GMC không bền vững cho một số vấn đề như kháng sâu bệnh, vì các loại dịch hại này có thể tái xuất hiện do bản chất di truyền thích ứng với môi trường của chúng. Cây trồng kháng sâu có khả năng tiêu diệt các loại côn trùng hữu ích khác như ong, bướm, v.v... làm ảnh hưởng đến chuỗi thức ăn tự nhiên, ảnh hưởng đến đa dạng sinh học nói chung. Việc trồng GMC đại trà, tương tự như việc phổ biến rộng rãi một số giống năng suất cao trên diện tích rộng lớn, sẽ làm mất đi bản chất đa dạng sinh học của vùng sinh thái, ảnh hưởng đến chu trình nitơ và hệ sinh thái của vi sinh vật đất. CHƯƠNG 5: VẤN ĐỀ THƯƠNG MẠI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THỰC VẬT BIẾN ĐỔI GEN 5.1. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CỦA THỰC VẬT BIẾN ĐỔI GEN 5.1.1. Tình hình phát triển của thực vật biến đổi gen trên Thế Giới Công nghệ sinh học đã có những bước tiến nhảy vọt góp phần mang lại những thành tựu to lớn cho loài người. Trong 13 năm, từ 1996 đến 2008, số nước trồng GMC đã lên tới con số 25 một mốc lịch sử một làn sóng mới về việc đưa GMC vào canh tác, góp phần vào sự tăng trưởng rộng khắp toàn cầu và gia tăng đáng kể tổng diện tích trồng GMC trên toàn thế giới lên 73,5 lần (từ 1,7 triệu ha năm 1996 lên 125 triệu ha năm 2008). Trong năm 2008, tổng diện tích đất trồng GMC trên toàn thế giới từ trước tới nay đã đạt 800 triệu ha. Năm 2008, số nước đang phát triển canh tác GMC đã vượt số nước phát triển trồng loại cây này (15 nước đang phát triển so với 10 nước công nghiệp), dự đoán xu hướng này sẽ tiếp tục gia tăng trong thời gian tới nâng tổng số nước trồng GMC lên 40 vào năm 2015. Bảng 5.1: Diện tích cây trồng biến đổi gen năm2011 theo quốc gia Nguồn: Clive James, 2011 Quốc gia Diện tích (triệu ha) Loại cây trồng biến đổi gen 1 Hoa Kỳ 69,0 Ngô, đậu tương, bông, cải dầu, củ cải đường, cỏ linh lăng, đu đủ, bí đao 2 Brazil 30,3 Đậu tương, ngô, bông 3 Argentina 23,7 Đậu tương, ngô, bông 4 Ấn Độ 10,6 Cải dầu, ngô, đậu tương, củ cải đường 5 Canada 10,4 Cải dầu, ngô, đậu tương, củ cải đường 6 Trung Quốc 3,9 Bông, đu đủ, cà chua, tiêu ngọt 7 Paraguay 2,8 Đậu tương 8 Pakistan 2,6 Bông 9 Nam Phi 2,3 Ngô, đậu tương, bông 10 Uruguay 1,3 Đậu tương, ngô 11 Bolivia 0,9 Đậu tương 12 Úc 0,7 Bông, cải dầu 13 Philippines 0,6 Ngô 14 Myanmar 0,3 Bông 15 Burkina Faso 0,3 Bông 16 Mehico 0,2 Bông, đậu tương 17 Tây Ban Nha 0,1 Ngô 18 Colombia <0,1 Bông 19 Chile <0,1 Ngô, đậu tương, cải dầu 20 Honduras <0,1 Ngô 21 Bồ Đào Nha <0,1 Ngô 22 Cộng hòa Czech <0,1 Ngô 23 Phần Lan <0,1 Ngô 24 Ai Cập <0,1 Ngô 25 Slovakia <0,1 Ngô 26 Rumani <0,1 Ngô 27 Thụy Điển <0,1 Cà chua 28 Costa Rica <0,1 Bông, đậu tương 29 Đức <0,1 Cà chua Trong giai đoạn 19962003, đặc tính chống chịu thuốc diệt cỏ của cây trồng biến đổi gen vẫn liên tục giữ vị trí hàng đầu, tiếp theo là đặc tính kháng sâu bệnh. Năm 2003, đặc tính chống chịu thuốc diệt cỏ được triển khai trên cây đậu tương, ngô, cải dầu (canola) và bông, chiếm 73% (49,767,7 triệu ha tổng diện tích trồng cây biến đổi gen trên toàn cầu), trong khi 12,2 triệu ha (18%) được dùng cho cây trồng Bt. Diện tích trồng bông và ngô có các gen chống chịu thuốc diệt cỏ và kháng sâu bệnh tiếp tục tăng, chiếm 8% (5,8 triệu ha) tăng so với 4,4 triệu ha của năm 2002. Hai cây trồng giữ vị trí hàng đầu trong năm 2003 là đậu tương chống chịu thuốc diệt cỏ, được trồng với diện tích 41,4 triệu ha chiếm 61% trong tổng diện tích toàn cầu và được trồng tại 7 nước; và ngô Bt với diện tích 9,1 triệu ha, tương đương với 13% diện tích trồng cây biến đổi gen trên thế giới và được trồng tại 9 nước. Diện tích trồng ngô Bt tăng mạnh nhất là ở Mỹ. Đáng chú ý là trong năm 2004 Nam Phi đã trồng 84.000 ha ngô trắng Bt dùng làm thực phẩm, tăng 14 lần so với lần đầu tiên khi loại ngô này được giới thiệu ở Nam Phi vào năm 2001. Diện tích trồng ngô và bông Btchống chịu thuốc diệt cỏ cũng tăng mạnh, cho thấy xu hướng các gen biến đổi chiếm một tỷ lệ lớn trong diện tích trồng cây biến đổi gen trên phạm vi toàn cầu. Năm nước đang phát triển, dẫn đầu là Trung Quốc và Ấn Độ ở Châu Á, Braxil và Argentina ở Mỹ La Tinh, Nam Phi trên lục địa Châu Phi là các nước dẫn đầu về diện tích cây trồng biến đổi gen. Hoa Kỳ tiếp tục là nước có diện tích trồng cây CNSH lớn nhất trên toàn cầu với 69,0 triệu ha, với tỷ lệ áp dụngtrung bình gần 90% trên tất cả các loại cây trồng công nghệ sinh học. Diện tích trồng cỏ linh lăng RR lại tiếp tục lên đến 200.000 ha, cộng với 475.00 ha của củ cải đường RR. Đu đủ kháng virut từ Mỹ đã được phép tiêu dùng như một loại trái cây tươi thực phẩm ở Nhật Bản, có hiệu lực từ tháng 12 năm 2011. Từ năm 1996 đến 2010, cây trồng CNSH đã đóng góp cho an ninh lương thực, phát triển bền vững và biến đổi khí hậu bằng cách tăng sản lượng cây trồng với trị giá 78,4 tỷ USD; tạo một môi trường tốt hơn, bằng cách tiết kiệm 443 triệu kg thuốc trừ sâu; riêng năm 2010 đã giảmlượng khí thải CO2 19 tỷ kg, tương đương với gần 9 triệu xe ô tô trên đường;bảo tồn đa dạng sinh học bằng cách tiết kiệm 91 triệu ha đất; và giúp xoá đói giảm nghèo bằng cách giúp đỡ 15 triệu nông dân nhỏ, những người nghèo nhất thế giới. 5.1.2. Tình hình phát triển của thực vật biến đổi gen ở Việt Nam Việt Nam – quốc gia thứ 29 trồng cây biến đổi gen Năm 2015, Việt Nam trở thành quốc gia tiếp theo trồng đại trà ngô biến đổi gen, có khả năng kháng sâu. Tầm nhìn đến năm 2020, diện tích cây biến đổi gen ở Việt Nam sẽ chiếm 30%50% tổng diện tích ngô, bông và đậu tương trồng mới. Việt Nam cũng đang nhập hàng triệu tấn ngô, khô dầu đậu tương... làm nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi, trong đó có cả thực phẩm biến đổi gen. Do chưa có quy định cụ thể về việc khai báo nên khó nói được Việt Nam nhập khẩu bao nhiêu sản phẩm biến đổi gen Việt Nam bắt đầu xây dựng hành lang pháp lý cho việc ứng dụng công nghệ sinh học từ năm 2005 khi thông qua Chương trình hành động của chính phủ về việc phát triển ứng dụng công nghệ sinh học. Tháng 12006, chương trình trọng điểm ứng dụng và phát triển công nghệ sinh học trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn được phê duyệt. Mục tiêu giai đoạn 20112015 là “Đ­ưa một số giống cây trồng biến đổi gen vào sản xuất”. Đến năm 2020 “Diện tích trồng trọt các giống cây trồng mới tạo ra bằng các kỹ thuật của công nghệ sinh học chiếm trên 70%, trong đó diện tích trồng các giống cây biến đổi gen chiếm 3050%”. 3 giống cây được quan tâm đưa vào sản xuất là ngô, bông, đậu tương. Tại Việt Nam, cây trồng biến đổi gen đã được đưa vào thử nghiệm gần 5 năm và dự kiến khoảng năm 2015, những sản phẩm được chế biến từ ngô, đậu nành… biến đổi gen sẽ xuất hiện trong siêu thị, chợ và bữa ăn của các gia đình Việt Nam. Trước tình trạng đó, một số nhà sản xuất đã bắt đầu quan tâm đến việc công bố nguồn gốc nguyên liệu sản xuất để người tiêu dùng có quyền lựa chọn sản phẩm mình mua có được làm từ thực phẩm biến đổi gen hay không Việt Nam áp dụng hàng rào kép với thực phẩm biến đổi gen Đại diện Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ủng hộ áp dụng công nghệ biến đổi gen vào canh tác, song cho biết vẫn có cơ chế giám sát nhằm đảm bảo an toàn tuyệt đối cho người sử dụng. Người tiêu dùng xa lạ với thực phẩm biến đổi gen Theo Phó giáo sư, Tiến sĩ Lê Huy Hàm, thực phẩm biến đổi gen được sử dụng gần 20 năm nay. Y văn thế giới chưa ghi nhận bất kỳ rủi ro nào mà nó gây ra. Việt Nam cũng áp dụng quy chế đặc thù rằng chỉ sử dụng thực phẩm biến đổi gen khi 5 nước phát triển (Nhật, Mỹ, Austrailia, Hàn Quốc và EU) cho sử dụng. Nếu 5 nước này công nhận thì Việt Nam mới cho phép sử dụng. Sau khi cho sử dụng, chúng ta vẫn yêu cầu nhà sản xuất thực phẩm biến đổi gen tiếp tục theo dõi, nhằm can thiệp thời khi có bất thường xảy ra tại Việt Nam và trên thế giới. Như vậy, nước ta hiện có hàng rào kép về an toàn sinh học của cây biến đổi gen Bằng các Nghị quyết, đề án, Văn bản pháp luật, Văn bản chỉ đạo, Nhà nước ta, các bộ ngành, chuyên môn như NNPTNT, KHCN, TNMT, Y tế… đã khẳng định rõ quan điểm: Coi phát triển CNSH là một mũi nhọn của KHCN hôm nay và ngày mai, tiếp thu và ứng dụng nhanh chóng có hiệu quả công nghệ biến đổi gen đặc biệt là cây trồng biến đổi gen đi đôi với đảm bảo an toàn sinh học. Trước mắt tổ chức khảo nghiệm, đánh giá rủi ro về an toàn sinh học đối với những giống biến đổi gen của các cây trồng mà sản phẩm phục vụ chế biến nguyên liệu không sử dụng là thức ăn cho người và gia súc như cây lâm nghiệp, cây làm sợi, cây bông… rồi đến các cây làm nguyên liệu sản xuất chế biến thức ăn cho gia súc, cuối cùng là cây trồng dùng làm thức ăn cho người. Bộ NNPTNT đã có quyết định từ năm 2011 đưa vào nghiên cứu, khảo nghiệm, đánh giá để sử dụng giống biến đổi gen ở ngô, đỗ tương, bông. Tin rằng cùng với thế giới, nước ta sẽ nhanh chóng phát triển công nghệ biến đổi gen vì sự thịnh vượng của đất nước, giàu có của nhân dân và bền vững của môi trường. 5.2. TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN CỦA THỰC VẬT BIẾN ĐỔI GEN VÀ TRIỂN VỌNG CHO TƯƠNG LAI 5.2.1. Tiềm năng phát triển Lý do thuyết phục nhất đối với công nghệ sinh học mà cụ thể là cây trồng biến đổi gen đó là khả năng đóng góp của chúng trong các lĩnh vực sau: Nâng cao sản lượng cây trồng và do vậy góp phần đảm bảo an ninh lương thực, thức ăn gia súc và chất xơ trên toàn cầu. Bảo toàn sự đa dạng sinh học do đây là một công nghệ ít tiêu tốn đất có khả năng đem lại sản lượng cao hơn. Sử dụng một cách có hiệu quả hơn các yếu tố đầu vào đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững nông nghiệp và môi trường Tăng khả năng ổn định sản xuất làm giảm những thiệt hại phải gánh chịu trong các điều kiện khó khăn. Cải thiện các lợi ích kinh tế và xã hội và loại bỏ tình trạng đói nghèo ở các nước đang phát triển. Kinh nghiệm trong 8 năm đầu tiên từ 19962003, trong đó tổng diện tích trên 300 triệu ha cây trồng biến đổi gen đã được trồng tại 21 nước trên toàn cầu, đã đáp ứng sự mong mỏi của hàng triệu hộ nông dân lớn và nhỏ ở cả các nước công nghiệp và đang phát triển. Năm 2003, đã có bằng chứng cho thấy cây trồng GM được trồng thương mại hóa tiếp tục đem lại các lợi ích đáng kể về mặt kinh tế, môi trường và xã hội cho các hộ nông dân lớn và nhỏ ở các nước đang phát triển, diện tích trồng cây biến đổi gen trên toàn cầu tiếp tục tăng trên 10%, mức tăng hàng năm là hai con số. Số hộ nông dân thu lợi từ cây trồng GM ngày càng nhiều và đạt 7 triệu người năm 2003, tăng so với 6 triệu của năm 2002. Đáng chú ý là trong năm 2003, trên 85% trong tổng số 7 triệu người trồng này thu lợi từ cây trồng GM là các nông dân nghèo trồng bông Bt, chủ yếu ở 9 tỉnh của Trung Quốc và nông dân nghèo ở Makhathini Flats, thuộc tỉnh KwaZulu Natal của Nam Phi. Nước ta với quy mô dân số gần 90 triệu dân, nên nhu cầu về lươngthực, thực phẩm của nước ta rất lớn. Việt Nam còn là nước chịu ảnh hưởng nặngnề của tình trạng biến đổi khí hậu nên việc ứng dụng cây trồng biến đổi gen đểtăng năng suất và sản lượng là hết sức cần thiết. Các nước có nền khoa học pháttriển đã nghiên cứu rất kỹ và chúng ta có thể tin tưởng trình độ khoa học củacác nước đó. Thực tế hiện nay, ngô và đậu tương chúng ta đang nhập là sản phẩmcủa cây trồng biến đổi gen. Nếu chúng ta trồng được thì sẽ hạn chế nhập khẩu. Có giá trị lớn trên toàn cầu Năm 2003, trị giá thị trường cây trồng biến đổi gen trên toàn cầu ước tính đạt từ 4,5 tới 4,75 tỷ đôla, tăng so với con số 4 tỷ đôla năm 2002, chiếm 15% trong tổng trị giá 31 tỷ đôla thị trường bảo vệ cây trồng trên toàn cầu và chiếm 13% trong tổng trị giá 30 tỷ đôla thị trường hạt giống toàn cầu. Trị giá thị trường cây trồng GM trên toàn cầu dựa trên giá bán hạt giống biến đổi gen cộng với bất cứ khoản chi phí công nghệ áp dụng nào khác. Giá trị thị trường cây trồng GM trên toàn cầu dự kiến đạt 5 tỷ đôla hoặc hơn thế nữa vào năm 2005. Năm 2003, ba nước đông dân nhất ở châu Á là Trung Quốc, Ấn Độ và Indonesia (tổng dân số là 2,5 tỷ người và GDP của cả ba nước là trên 1,5 nghìn tỷ đôla), ba nền kinh tế lớn ở châu Mỹ Latinh là Argentine, Brazil và Mexico (dân số là 300 triệu người và GDP là 1,5 nghìn tỷ đôla) và nền kinh tế lớn nhất châu Phi là Nam Phi (dân số 45 triệu người và GDP là 130 tỷ đôla) tất cả đã chính thức trồng cây trồng biến đổi gen. Tổng số dân của những nước trên là 2,85 tỷ người với GDP là trên 3.000 tỷ đôla, đây là những người nhận được các lợi ích đáng kể mà cây trồng biến đổi gen đem lại. Mười nước trồng cây biến đổi gen đứng đầu thế giới, mỗi nước trồng ít nhất 50.000 ha trong năm 2003, có tổng dân số xấp xỉ 3 tỷ người, gần bằng một nửa dân số thế giới và GDP là 13 nghìn tỷ đôla, khoảng một nửa mức GDP của toàn cầu là 30 nghìn tỷ đôla. Trong năm 2003, cây trồng biến đổi gen được trồng ở 18 nước với tổng số dân là 3,4 tỷ người, sống ở 6 châu lục ở miền Bắc và miền Nam Bán cầu là châu Á, châu Phi, Mỹ Latinh, bắc Mỹ, châu Âu và châu Đại Dương. Do vậy, mặc dù vẫn còn những bất đồng về cây trồng biến đổi gen nhưng diện tích và số lượng người trồng loại cây này mỗi năm vẫn tiếp tục tăng hai con số hoặc hơn thế kể từ khi chúng được giới thiệu vào năm 1996, và năm 2003 có 7 triệu nông dân đã thu lợi từ công nghệ này. 5.2.2. Triển vọng cho tương lai Với những lợi ích mà cây trồng biến đổi gen mang lại, cùng với những yêu cầu của con người ngày càng tăng về vấn đề an ninh lương thực, nâng cao nâng suất, chất lượng cây trồng, và đặc biệt là đối phó với sự biến đổi của khí hậu,… cây trồng biến đổi gen được dự báo sẽ tiếp tục tăng trong những năm tới (Isaaa.org). Hiện nay có 40 nước đang đề xuất đưa cây trồng chuyển gen vào canh tác, và có hơn 70 sản phẩm tiềm năng đang xin cấp phép thương mại hóa, trong đó đáng chú ý là các tính trạng mới như gạo vàng (Golden rice), tính trạng đa năng kháng các côn trùng và thuốc diệt cỏ, khoai tây kháng bệnh mốc sương và lượng đường thấp,… Ở Việt Nam, để tạo đà cho phát triển cây trồng biến đổi gen, nhiều cơ quan nghiên cứu như Viện Di truyền Nông nghiệp, Viện Công nghệ Sinh học, Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long …. đã có những nghiên cứu cơ bản ban đầu như sàng lọc các gen hữu ích, thiết kế vector chuyển gen. Đã có báo cáo kết quả ban đầu trong nghiên cứu cây chuyển gen đối với cây ngô, đậu tương, lúa, bông ở Việt Nam nhưng còn rất hạn chế. Công tác nghiên cứu, phát triển cây trồng biến đổi gen sẽ trở nên ngày càng mạnh mẽ hơn, đặc biệt khi việc khảo nghiệm đánh giá rủi ro đối với đa dạng sinh học và môi trường của các cây chuyển gen: ngô, bông vải, và đậu tương với mục đích làm giống đã được Chính phủ cho phép. Cho tới nay Việt Nam đã mua hạt giống ngô chuyển gen từ các công ty Syngenta, DEKALB, Pioneer Hibred đối với tính trạng kháng sâu và thuốc trừ cỏ, bao gồm Bt11, GA21, bt11xGA21, MON89034, NK603, MON89034xNK603, TC1507. Các giống ngô này được phép trồng khảo nghiệm trên diện rộng với mục đích làm thức ăn gia súc. Đây là các giống chuyển gen có thể được cấp phép trồng rộng rãi ở Việt Nam trong thời gian tới sau khi trải qua quy trình khảo nghiệm Có thể thấy triển vọng tương lai đáng khích lệ trong năm năm tiếp theo: ngô chịu hạn vào năm 2012; gạo vàng vào năm 2013; và lúa Bt trước mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ năm 2015, 1 tỷ người nghèo ở các hộ trồng lúa ở châu Á có khả năng hưởng lợi. Cây trồng biến đổi gen có thể đóng góp to lớn cho các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ 2015 về cắt giảm một nửa đói nghèo bằng cách tối ưu hóa năng suất cây trồng. Theo ông Clive James, người sáng lập và chủ tịch danh dự ISAAA, cây trồng công nghệ sinh học góp phần cho sự phát triển bền vững, an ninh lương thực và thích ứng với biến đổi khí hậumôi trường. Phân tích tổng hợp toàn cầu về tác động của cây trồng công nghệ sinh học trong 20 năm (19952014) cho thấy, cây trồng công nghệ sinh học giúp tăng 22% sản lượng, giảm 37% việc sử dụng thuốc trừ sâu nhờ đó lợi nhuận cho nông dân tăng lên 68%. Việc tăng sản lượng của cây công nghệ sinh học còn giúp bảo tồn đa dạng sinh học nhờ tiết kiệm đất canh tác. Bên cạnh đó, đem lại môi trường tốt hơn nhờ tiết kiệm được 500 triệu kg phân bón hóa học. Riêng năm 2013, phát thải khí CO2 đã giảm tới 28 tỷ kg, tương đương với lượng khí thải của 12,4 triệu chiếc xe ô tô lưu thông trên đường một năm. Cây trồng CNSH là rất cần thiết nhưng không phải là giải pháp duy nhất và việc tuân thủ các tập quán thực hành nông nghiệp tốt như luân canh và quản lý tính kháng là điều cần thiết cho cây trồng CNSH cũng như đối với cây trồng truyền thống CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN Công nghệ cây trồng chuyển đổi gen là kỹ thuật sinh học hiện đại. Không chỉ đem lại nhiều lương thực thực phẩm cho người dân phục vụ đời sống , mà đây còn la một công nghệ tiên tiến hiện đại vượt bậc của khoa học thế giới . bên cạnh những lợi ích thì cũng còn nhiều mối e ngại và khó khăn về mặt pháp lý kỹ thuật cũng như quan điểm của các nước trên thới giới. Cây trồng CNSH đang minh chứng giá trị toàn cầu như một công cụ cho những nông dân nghèo nguồn lực, những người phải đối mặt với nguồn cung cấp nước giảm và áp lực gia tăng về cỏ dại và sâu bệnh cùng với những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu sẽ chỉ tiếp tục góp phần thúc đẩy sự cần thiết của công nghệ này. Trong mười bảy năm qua, công nghệ biến đổi gen này đã có những đóng góp tích cực quan trọng về mặt kinh tế xã hội và môi trường. Những đóng góp này được ghi nhận dù mới chỉ có một số lượng hạn chế các loạt hạt giống BĐG của một số ít cây trồng được thương mại hóa. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1.http:vi.wikipedia.orgwikiC%C3%A2y_tr%E1%BB%93ng_bi%E1%BA%BFn_%C4%91%E1%BB%95i_gen 2.http:voer.edu.vncmotsothanhtuutronglinhvuctaothucvatchuyengenb998e48c4b7fb593 3. http:voer.edu.vnccongnghechuyengenothucvatb998e48c2975250e
Xem thêm

25 Đọc thêm

Cách trồng mướp hương sai trĩu quả ngay tại nhà

CÁCH TRỒNG MƯỚP HƯƠNG SAI TRĨU QUẢ NGAY TẠI NHÀ

Mướp hương là một loại quả có thể được chế biến ra nhiều món ăn ngon khiến ai ai trong nhà cũng đều yêu thích. Vị ngọt thanh mát của loại quả này không chỉ giúp kích thích vị giác mà còn có tác dụng giải nhiệt cho cơ thể, nhất là vào mùa hè. Chứa đựng nhiều thành phần tốt có tác dụng tuyệt vời đối với sức khỏe, mướp hương là một trong số những loại quả được rất nhiều người chọn lựa trong các bữa ăn gia đình. Thay vì ra chợ mua về mướp hương có thể không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm thì sao bạn không tự học cách trồng mướp hương ngay tại nhà để thỏa mãn niềm đam mê của mình nhỉ? Kinh nghiệm trồng mướp hương tại nhà sai quả 1. Chuẩn bị đồ để trồng mướp hương Giống như trồng một số loại rau củ quả khác như trồng hành lá, trồng cà chua, trồng xà lách… thì để trồng được mướp hương ngay tại nhà, bạn sẽ phải chuẩn bị một số dụng cụ như sau:
Xem thêm

5 Đọc thêm

Thiết kế nhà máy sản xuất dầu đậu tương tinh luyện, năng suất 70 tấn hạt ngày ( full bản vẽ )

THIẾT KẾ NHÀ MÁY SẢN XUẤT DẦU ĐẬU TƯƠNG TINH LUYỆN, NĂNG SUẤT 70 TẤN HẠT NGÀY ( FULL BẢN VẼ )

”. Dầu mỡ là một loại phụ gia sử dụng phổ biến trong thực phẩm nhằm nâng cao giá trị dinh dưỡng (Giá trị của dầu mỡ có được trước hết là do nó cung cấp cho cơ thể nhiều năng lượng hơn các loại thực phẩm giàu protein và gluxit khác, ngoài ra còn cung cấp một lượng vitamin cần thiết nhất là những vitamin tan trong dầu mỡ như vitamin A, K, E, D… ), kích thích ngon miệng và tăng giá trị cảm quan cho sản phẩm. Bên cạnh đó, nó còn làm nguyên liệu để sản xuất các mặt hàng tiêu dung : Sơn, vecni, các loại keo, nến, chất tẩy rửa, mỹ phẩm, chất thấm ướt, chất tạo nhủ, chất hoạt động bề mặt, sản xuất glyxerin, thức ăn gia súc, phân bón ... Xã hội phát triển kéo theo đời sống ngày càng cao, đòi hỏi yêu cầu về dinh dưỡng cũng càng cao. Trong khi, lượng dầu mỡ có nguồn gốc động vật lại chứa nhiều nguy cơ tiềm ẩn về bệnh cho con người, đồng thời khả năng bảo quản lại thấp, hiệu quả khai thác lại không cao ( thời gian nuôi, thức ăn,…), thì cây có dầu là một trong những tài nguyên có tiềm năng lớn đang được khai thác nước ta. Sản lượng về dầu thực vật nói riêng và chất béo không ngừng tang lên. Trong vòng 30 năm ( Từ 1960 đến 1989 ) sản lượng này đã tang 2,7 lần và đạt khoảng 77 triệu tấn. Theo bộ công nghiệp Mỹ thì dầu đậu tương đã tang từ 54 % ( năm 1960) lên 76 % ( 19821983 ) trong thị trường sản xuất dầu ăn.Ở nước ta, do điều kiện có nhiều vùng khí hậu và đất đai khác nhau nên những hạt có dầu rất phong phú. Diện tích trồng cây có dầu ở nước ta ngày càng tăng, sản lượng lớn do cải tiến được giống cây trồng và lựa chọn được thời vụ thích hợp để sản xuất.Nắm bắt được tình hình và xu hướng phát triển ngày càng lớn về tiềm năng của cây đậu nành, tôi được giao nhiệm vụ: “Thiết kế nhà máy sản xuất dầu đậu tương tinh luyện, năng suất 70 tấn hạt ngày”.
Xem thêm

124 Đọc thêm

HIỆU QUẢ KINH TẾ CÂY CAO SU TIỂU ĐIỀN TẠI XÃ HƯƠNG THỌ THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ – TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

HIỆU QUẢ KINH TẾ CÂY CAO SU TIỂU ĐIỀN TẠI XÃ HƯƠNG THỌ THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ – TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

kinh tế thế giới và giá cả các hàng hóa liên quan (như dầu thô), nhưng cũng cần xemxét đến tình hình cung cầu cao su trên thế giới. Cao su là cây dài ngày, trung bình sau7 năm mới cho thu hoạch (cao su tiểu điền có thể muộn hơn 8-9 năm), do vậy giá cả18cao su hôm nay có thể ảnh hưởng đến lượng cung của 10-20 năm sau. Điều đó chothấy công tác dự báo cần phải được đặc biệt chú ý. Hiện nay, công tác dự báo cung cầucác nông sản Việt Nam còn nhiều bất cập. Trong tương lai các phương pháp và môhình dự báo mới trên thế giới nên được áp dụng cho các mặt hàng nông sản tại ViệtNam nói chung và cao su nói riêng.Giá cao su có sự biến động rất lớn. Giá tăng liên tục trong một số năm qua,nhưng do giá dầu thô sụt giảm và khủng hoảng tài chính toàn cầu. Hệ quả trực tiếp là giáuếcao su lại có xu hướng giảm theo. Giá mủ cao su không chỉ biến động qua các năm màcòn biến động theo mùa vụ, sự chênh lệch giá cao su giữa hai mùa mưa , nắng lên đếnH10.000-15000/kg. Để giảm bớt những rủi ro có thể xảy ra đối nông dân trồng cao su, đadạng hóa cây trồng và đa dạng hóa thu nhập của hộ là một trong những hướng cần thiếttếvà hiệu quả. Các địa phương có diện tích trồng cây cao su tiểu điền nhiều cần có chínhsách hướng dẫn phù hợp để giúp nông dân giảm bớt rủi ro có thể xảy ra.Cơ sở hạ tầng và giao thông: Cơ sơ hạ tầng tốt là nền tảng cho sự phát triển bền
Xem thêm

83 Đọc thêm

phân tích phân tử và khả năng kháng bệnh ghẻ thường do vi khuẩn streptomyces scabies ở một số dòng khoai tây chuyển gen mir

PHÂN TÍCH PHÂN TỬ VÀ KHẢ NĂNG KHÁNG BỆNH GHẺ THƯỜNG DO VI KHUẨN STREPTOMYCES SCABIES Ở MỘT SỐ DÒNG KHOAI TÂY CHUYỂN GEN MIR

MỞ ĐẦU 1.1. Tính cấp thiết của đề tài Khoai tây (Solanum tuberosum L.) là cây lương thực đóng vai trò quan trọng thứ 4 trên thế giới. Là cây trồng có hàm lượng nước và dinh dưỡng cao nên khoai tây dễ bị tấn công bởi rất nhiều loại sâu bệnh hại. Trong đó đáng chú ý là bệnh ghẻ thường (Common scap) do vi khuẩn Streptomyces Scabies tấn công. Bệnh được ghi nhận gây hại trên hầu hết các quốc gia trồng khoai tây, trong đó có Việt Nam (Dung và cs., 2003) Bệnh ghẻ thường khoai tây là một trong những bệnh hại nghiêm trọng xuất hiện ở tất cả các vùng trồng khoai tây trên thế giới bao gồm: Mỹ, Ấn Độ, Châu Á và Châu Phi (Waner, 2006). Ở Mỹ, bệnh ghẻ thường là bệnh hại nghiêm trọng thứ 4 trên cây khoai tây, gây thiệt hại cho ngành công nghiệp khoai tây khoảng 3.5 tỉ USD (Meng và cs., 2012). Ở Việt Nam, hầu hết các vùng trồng khoai tây đều bị ảnh hưởng bởi bệnh này (Dung và cs., 2003). Các biện pháp phòng chống bệnh hiện nay như: không dùng phân chuồng, tăng cường tưới nước và giảm pH của đất thực tế là không cho hiệu quả rõ rệt, đồng thời cũng gây ra những tác động xấu đến môi trường và giảm tính bền vững của hệ thống nông nghiệp. Hiện tại có rất ít các giống khoai tây thương mại có tính kháng bệnh cao, trong khi đó khả năng phát triển các giống kháng bệnh lại gặp khó khăn do cho đến nay vẫn chưa tìm thấy nguồn gen kháng bệnh trong các loài khoai tây Solanum tuberosum. Trong khi các nỗ lực nhằm tạo giống kháng bệnh thông qua lai tạo truyền thống còn chưa có kết quả, việc sử dụng công nghệ gen đã cung cấp một công cụ hiệu quả để nâng cao tính kháng của khoai tây đối với bệnh này. Yếu tố gây độc ở Streptomyces Scabies (S.scabies) được xác định là Thaxtomin A (TA) – một loại phytotoxin ức chế sinh tổng hợp cellulose. Cùng với phát hiện này, Scheible và cộng sự (2003) đã tìm ra một đột biến gene kháng TA ở Arabidopsis, gọi là txr1. Gen tương ứng với đột biến này là gen TXR1. Đồng thời, sử dụng công cụ Blast (NCBI) cho thấy TXR1 có mức tương đồng cao trên các loài thực vật khác, như cà chua, đậu tương, ngô, lúa và lúa mì… (khoảng từ 73 đến
Xem thêm

70 Đọc thêm

SUY NGHĨ CỦA EM VỀ CÂU TỤC NGỮ ĂN QUẢ NHỚ KẺ TRỒNG CÂY

SUY NGHĨ CỦA EM VỀ CÂU TỤC NGỮ ĂN QUẢ NHỚ KẺ TRỒNG CÂY

1. Mở bài: - TN chiếm vị trí quan trọng trong kho tàng văn học dân gian. - Tục ngữ là những kinh nghiệm quý về thiên nhiên, lđsx, về con người và xh. - TN còn là những bài học về đạo lí làm người. - “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” là một trong các bài học ấy. 2. Thân bài: a. Giải thích: - Khi ta ăn một trái chín ngọt thơm ta phải nhớ ơn người trồng cây để tạo ra trái chín ấy. - Nghĩa bóng: + Ăn: hưởng thụ + Quả: thành quả bao gồm cả thành quả vật chất và thành quả tinh thần. + Người trồng cây: là người tạo ra thành quả.  Câu tục ngữ là bài học về lòng biết ơn với những người đã tạo ra thành quả cho chúng ta hưởng thụ
Xem thêm

3 Đọc thêm

Đề kiểm tra học kì 1 môn địa lý lớp 9 năm 2013 (P1)

ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ 1 MÔN ĐỊA LÝ LỚP 9 NĂM 2013 (P1)

Cập nhật đề kiểm tra học kì 1 lớp 9 môn Địa lý năm học 2013 - 2014, gồm 2 đề ( đề số 1 và đề số 2) ngày 21/11/2013. Đề kiểm tra số 1  (Thời gian làm bài: 45 phút) I. Trắc nghiệm khách quan (4 điểm) Câu 1 (4 điểm) Khoanh tròn chỉ một chữ cái in hoa đứng trước ý đúng trong các câu sau: a) Cơ cấu dân số theo độ tuổi của nước ta đang có sự thay đổi theo hướng: A. tỉ lệ trẻ em giảm xuống, tỉ lệ người trong độ tuổi lao động và trên độ tuổi lao động tăng lên. B. tỉ lệ trẻ em tăng lên, tỉ lệ người trong độ tuổi lao động và trên độ tuổi lao động giảm xuống. C. tỉ lệ trẻ em và tỉ lệ người trong độ tuổi lao động giảm xuống, tỉ lệ người trên độ tuổi lao động tăng lên. D. tỉ lệ trẻ em và tỉ lệ người trong độ tuổi lao động tăng lên, tỉ lệ người trên độ tuổi lao động giảm xuống. b) Xu hướng chuyển dịch cơ cấu sử dụng lao động của nước ta là: A. tăng tỉ trọng lao động trong khu vực nông, lâm, ngư nghiệp; giảm tỉ trọng lao động trong khu vực công nghiệp- xây dựng và dịch vụ.  B. giảm tỉ trọng lao động trong khu vực nông, lâm, ngư nghiệp; tăng tỉ trọng lao động trong khu vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ. C. tăng tỉ trọng lao động trong khu vực nông, lâm, ngư nghiệp; công nghiệp - xây dựng và giảm tỉ trọng lao động trong khu vực dịch vụ. D. giảm tỉ trọng lao động trong khu vực nông, lâm, ngư nghiệp; công nghiệp - xây dựng và tăng tỉ trọng lao động trong khu vực dịch vụ. c) Ý nào không thuộc thế mạnh kinh tế chủ yếu của vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ? A. Khai thác khoáng sản, phát triển thủy điện. B. Trồng cây công nghiệp lâu năm, rau quả cận nhiệt và ôn đới. C. Trồng cây lương thực, chăn nuôi nhiều gia cầm. D. Trồng rừng, chăn nuôi gia súc lớn. d) Loại cây công nghiệp hàng năm nào trong các loại cây dưới đây được trồng nhiều ở vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ? A. Đậu tương. B. Bông. C. Dâu tằm. D. Thuốc lá. đ) Sản phẩm nông, lâm, ngư nghiệp chủ yếu của vùng Bắc Trung Bộ là: A. lúa, ngô, khoai, đậu, cá, tôm. B. chè, hồi, quế, trâu, bò. C. cao su, cà phê, đậu tương, mía, gỗ, cá. D. trâu, bò, lạc, gỗ, cá, tôm. e) Hoạt động kinh tế chủ yếu của Duyên hải Nam Trung Bộ là : A. sản xuất lương thực. B. trồng cây công nghiệp xuất khẩu. C. du lịch, khai thác, nuôi trồng thuỷ sản. D. khai thác khoáng sản. g) Khó khăn trong phát triển nông nghiệp của vùng Duyên hải Nam Trung Bộ là: A. diện tích đồng bằng nhỏ hẹp. B. thường bị thiên tai (hạn hán, bão lụt...). C. đất xấu, cát lấn. D. Tất cả các ý trên. h) Loại khoáng sản có trữ lượng lớn nhất ở Tây nguyên là : A. sắt.  B. bô xít. C. kẽm. D. thiếc. Câu 2 (4 điểm) Dựa vào bảng số liệu dưới đây: Tốc độ tăng dân số, sản lượng lương thực và bình quân lương thực theo đầu người ở đồng bằng sông Hồng (%) Năm Tiêu chí 1995 1998 2000 2002 Dân số 100,0 103,5 105,6 108,2 Sản lượng lương thực 100,0 117,7 128,6 131,1 Bình quân lương thực theo đầu người 100,0 113,8 121,8 121,2 a) Vẽ biểu đồ đường thể hiện tốc độ tăng dân số, sản lượng lương thực và bình quân lương thực theo đầu người ở Đồng bằng sông Hồng b) Từ biểu đồ đã vẽ, nêu nhận xét và giải thích về sự thay đổi của dân số, sản lượng lương thực và bình quân lương thực theo đầu người ở Đồng bằng sông Hồng trong thời kì trên. Câu 3 (2 điểm) Vì sao Tây Nguyên trở thành vùng sản xuất cà phê lớn nhất nước ta?    Đề kiểm tra số 2 (Thời gian làm bài: 45 phút)  I. Trắc nghiệm khách quan ( 4 điểm)  Câu 1 (2 điểm)  Khoanh tròn chỉ một chữ cái in hoa đứng trước ý đúng hoặc đúng nhất trong các câu sau:  a) Nguyên nhân chủ yếu làm cho đồng bằng sông Hồng có năng suất lúa cao nhất cả nước là:  A. đất phù sa màu mỡ.  B. khí hậu và thuỷ văn thuận lợi. C. thâm canh, tăng năng suất, tăng vụ.  D. nguồn lao động dồi dào.  b) Đồng bằng sông Hồng là vùng có mật độ dân số:  A. rất cao.  B. cao nhất trong các vùng của cả nước.  C. thuộc loại cao nhất cả nước.  D. thuộc loại cao của cả nước.  c) Khó khăn trong phát triển nông nghiệp của vùng Duyên hải Nam Trung Bộ là:  A. diện tích đồng bằng nhỏ hẹp.  B. thường bị thiên tai (hạn hán, bão lụt...).  C. đất xấu, cát lấn.  D. Tất cả các ý trên.  d) Cây công nghiệp lâu năm nào chỉ trồng được ở Trung du và miền núi Bắc Bộ mà không trồng được ở Tây Nguyên?   A. Cà phê.  B. Hồi.  C. Cao su.  D. Điều. Câu 2 (2 điểm) Ghép mỗi ý ở bên trái với một ý ở bên phải thể hiện đúng thế mạnh về kinh tế của từng vùng. 1. Trung du và miền núi Bắc Bộ   a. Nghề rừng, chăn nuôi gia súc lớn 2. Đồng bằng sông Hồng b. Trồng cây lương thực, chăn nuôi gia cầm 3. Bắc Trung Bộ c. Khai thác và nuôi trồng thuỷ sản 4. Duyên hải Nam Trung Bộ d. Sản xuất lúa gạo, nuôi trồng và đánh bắt thủy, hải sản.   e. Khai thác khoáng sản, phát triển thuỷ điện II . Tự luận (6 điểm) Câu 3 (2,5 điểm) Dựa vào lược đồ dưới đây và kiến thức đã học: Hãy : a) Nêu nhận xét khái quát về nguồn tài nguyên khoáng sản của vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ và sự phân bố của chúng. b) Giải thích vì sao ngành công nghiệp khai khoáng và thuỷ điện là những ngành công nghiệp quan trọng của vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ? c) Giải thích vì sao ngành công nghiệp luyện kim lại được phân bố ở Thái Nguyên? Câu 4 (3,5 điểm) Dựa vào bảng số liệu dưới đây : Sản lượng thuỷ sản ở Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ năm 2002 (nghìn tấn)   Bắc Trung Bộ Duyên hải Nam Trung Bộ Nuôi trồng 38,8 27,6 Khai thác 153,7 493,5 Hãy : a) Tính tỉ trọng sản lượng thuỷ sản nuôi trồng và khai thác của vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ so với toàn vùng Duyên hải miền Trung (gồm 2 vùng trên). b) So sánh sản lượng thuỷ sản của vùng Bắc Trung Bộ với vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và giải thích Trên đây là 2 đề kiểm tra học kì 1 môn địa lý lớp 9 phần 1 Tuyensinh247 sẽ tiếp tục cập nhật đề kiểm tra phần 2 các em thường xuyên theo dõi. (moet)
Xem thêm

6 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG ENZYME TRONG CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT CHẾ PHẨM ISOFLAVONE DẠNG AGLYCONE

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG ENZYME TRONG CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT CHẾ PHẨM ISOFLAVONE DẠNG AGLYCONE

Khóa luận tốt nghiệpnữ mãn kinh theo phương pháp mù đôi kéo dài trong 6 tháng. Kết quả là việc tiêuthụ 40g SPI chứa 90mg isoflavone giúp làm tăng 2,2% mật độ xương quanh thắtlưng so với mức cơ bản [17].Ngăn ngừa bệnh tim mạchNghiên cứu trước đây chỉ ra rằng isoflavon trong đậu tương kích hoạt hoạtđộng của enzyme nitric oxide synthases nội mô, dẫn đến tăng sản xuất nitric oxide,làm giảm huyết áp. Safiya Richardson và nhóm của bà đã nghiên cứu mối liên hệgiữa isoflavone và huyết áp với hơn 5000 người Mỹ trong thời gian 20 năm. Kếtquả nghiên cứu được trình bày tại hội nghị lần thứ 61 của hội khoa học tim mạchMỹ diễn ra hàng năm. Họ phát hiện ra rằng những bệnh nhân cao huyết áp có lượngisoflavone thấp hơn người bình thường, đặc biệt là người Mỹ gốc Phi. Lượng sửdụng isoflavone nhiều nhất (&gt; 2,5 mg/ngày) có thể làm giảm 5,5 mmHg huyết áptâm thu và còn có thể giảm 10 mmHg nếu tăng liều lượng sử dụng lên đối vớinhững người bị cao huyết áp. Nghiên cứu kết luận rằng đối với tất cả mọi người khisử dụng tối thiểu 2,5 mmHg isoflavon/người/ngày có thể giúp giảm huyết áp tâmthu [24].Chống ung thưĂn uống là yếu tố quan trọng làm giảm nguy cơ mắc các bệnh ung thư. Vớichế độ ăn mỗi ngày sử dụng chế phẩm từ đậu tương hoặc một ly sữa đậu nành là cóthể phòng ngừa được nhiều loại ung thư như ung thư vú, ung thư phổi, ruột, trựctràng, dạ dày hay ung thư tuyến tiền liệt.Bảng 1.6. Hàm lượng sử dụng đậu tương trung bình ở một số nướcSTTTên nướcHàm lượng sử dụng đậu tương
Xem thêm

55 Đọc thêm

TRỒNG VÀ CHĂM SÓC RAU HỮU CƠ

TRỒNG VÀ CHĂM SÓC RAU HỮU CƠ

Phát triển chương trình dạy nghề trình độ sơ cấp nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn giai đoạn 2009 – 2015 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, là nhu cầu cấp thiết của các cơ sở đào tạo nghề. Đối tượng người học là lao động nông thôn, đa dạng về tuổi tác trình độ văn hoá và kinh nghiệm sản xuất. Vì vậy, chương trình dạy nghề cần kết hợp một cách khoa học giữa việc cung cấp những kiến thức lý thuyết với kỹ năng, thái độ nghề nghiệp. Trong đó, chú trọng phương pháp đào tạo nhằm xây dựng năng lực và các kỹ năng thực hiện công việc của nghề theo phương châm đào tạo dựa trên năng lực thực hiện. Sau khi tiến hành hội thảo DACUM dưới sự hướng dẫn của các tư vấn trong và ngoài nước cùng với sự tham gia của các chủ trang trại, công ty và các nhà trồng rau, chúng tôi đã xây dựng sơ đồ DACUM, thực hiện bước phân tích nghề và soạn thảo chương trình đào tạo nghề trồng kỹ thuật trồng rau hữu cơ cấp độ công nhân lành nghề. Chương trình được kết cấu thành 6 mô đun và sắp xếp theo trật tự lô gíc nhằm cung cấp những kiến thức và kỹ năng từ cơ bản đến chuyên sâu về kỹ thuật trồng rau hữu cơ.
Xem thêm

Đọc thêm

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA Mo, Cu VÀ CHẤT ĐIỀU HÒA SINH TRƯỞNG CCC (Chlor cholin chlorid) ĐẾN KHẢ NĂNG CHỊU MẶN CỦA MỘT SỐ GIỐNG ĐẬU TƯƠNG

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MO, CU VÀ CHẤT ĐIỀU HÒA SINH TRƯỞNG CCC (CHLOR CHOLIN CHLORID) ĐẾN KHẢ NĂNG CHỊU MẶN CỦA MỘT SỐ GIỐNG ĐẬU TƯƠNG

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI. Sự biến đổi khí hậu (BĐKH) toàn cầu đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng. Một trong những hệ quả của nó là sự nóng lên của trái đất, băng tan, nước biển dâng cao dẫn đến sự xâm thực của nước mặn vào nội địa làm nhiễm mặn một số lượng lớn đất nông nghiệp. Điều đó gây ra những bất lợi cho quá trình sinh trưởng và phát triển của thực vật, do đó làm giảm năng suất của cây trồng. Cây đậu tương ( Glycine max(L) Merrill) là cây có giá trị kinh tế và hàm lượng chất dinh dưỡng cao. Hạt đậu tương chứa nhiều chất dinh dưỡng quan trọng, trong đó protein chiếm 38 40%, lipit chiếm 18 24% cao hơn so với các loại đậu khác, hydratcacbon chiếm khoảng 30 40%. Protein trong hạt đậu tương có giá trị không những về hàm lượng lớn mà còn có đầy đủ và cân đối các loại axit amin cần thiết, đặc biệt là trong hạt đậu tương có chứa nhiều lizin và triptophan đây là 2 loại axit amin không thay thế có vai trò quan trọng trong sự phát triển của cơ thể 11. Trong hạt đậu tương còn chứa chất sắt, canxi, phot pho và các thành phần chất xơ tốt cho tiêu hoá. Vitamin trong đậu tương có nhiều nhóm B đáng kể là vitamin B1, B2, B6 40. Ngày nay người ta mới biết thêm trong hạt đậu tương còn có chất lexithin, có tác dụng làm cho cơ thể trẻ lâu, tái sinh các mô, làm cứng xương và tăng sức đề kháng cho cơ thể. Trong hạt đậu tương còn chứa nhiều các loại vitamin E, A, B, D, C… và các loại muối khoáng khác. Do đó mà từ hạt đậu tương người ta đã chế biến ra rất nhiều các sản phẩm khác nhau 40. Các kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy các chế phẩm đậu tương còn có khả năng ức chế sinh trưởng của tế bào ung thư 10.
Xem thêm

106 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU CHIẾT XUẤT, PHÂN LẬP VÀ ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG CHỐNG OXY HÓA IN VITRO CỦA ISOFLAVONOID TỪ HẠT ĐẬU TƯƠNG (Glycine max L.)

NGHIÊN CỨU CHIẾT XUẤT, PHÂN LẬP VÀ ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG CHỐNG OXY HÓA IN VITRO CỦA ISOFLAVONOID TỪ HẠT ĐẬU TƯƠNG (GLYCINE MAX L.)

Đậu tương là cây trồng khá phổ biến trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Hạt đậu tương được sử dụng để chế biến thành nhiều loại thức ăn khác nhau như đậu phụ, bột đậu nành, sữa đậu nành, tào phớ, dầu đậu nành…Đây là những loại thức ăn được sử dụng thường xuyên của một số nước châu Á, trong đó có Việt Nam. Ngoài giá trị dinh dưỡng cao do trong thành phần có rất nhiều loại acid amin trong đó có 8 acid amin cần thiết thì trong hạt đậu tương còn có chứa một số isoflavonoid là genistein, daidzein, glycitein và các dạng glycosid của chúng có nhiều tác dụng tốt đối với sức khỏe. Các isoflavonoid trong hạt đậu tương là những chất có tác dụng chống oxy hóa mạnh. Bên cạnh đó chúng còn được xếp vào nhóm các phytoestrogen – nhóm chất lấy từ thực vật có tác dụng tương tự như hormone sinh dục 17β estradiol. Sự kết hợp 2 tính chất này của các isoflavonoid trong hạt đậu tương giúp cho chúng có được tác dụng tốt trong phòng ngừa một số bệnh như ung thư vú, ung thư buồng trứng, ung thư ruột kết..; các bệnh về tim mạch như tăng lipid máu, vữa xơ động mạch; ngăn ngừa loãng xương… Các isoflavonoid này còn có tác dụng tốt giúp cải thiện một số hội chứng ở phụ nữ tiền mãn kinh như cơn bốc hỏa, chứng hay quên, mất tập trung…
Xem thêm

83 Đọc thêm

Kỹ thuật trồng và thu hoạch nấm Linh Chi.

KỸ THUẬT TRỒNG VÀ THU HOẠCH NẤM LINH CHI.

Để trồng nấm Linh Chi đỏ đạt năng suất cao chúng ta phải tìm hiểu học hỏi kỹ thuật và kinh nghiệm của rất nhiều người, vì mỗi người trồng nấm đều có phương pháp, cách thức nuôi trồng khác nhau tùy theo về kiến thức và kinh nghiệm lâu năm trong nghề. Thực tế, muốn trồng nấm Linh Chi đỏ không dễ và cũng không quá khó, đã có rất nhiều người nuôi trồng thành công và trở thành tỷ phú và một số thất bại nặng nề do thiếu kiến thức kỹ thuật nuôi trồng, kinh nghiệm và chưa tự xây dựng nuôi trồng theo quy trình, đa số còn phải phụ thuộc hoàn toàn vào các nhà sản xuất phôi giống, một phần rủi ro do phôi giống kém chất lượng, môi trường bị nhiễm bệnh ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển của cây nấm làm cho năng xuất bị sụt giảm. Với một số kiến thức về kỹ thuật và kinh nghiệm nuôi trồng nấm Linh Chi đỏ trại nấm Linh Chi Tiên Thảo, chúng tôi sẽ hướng dẫn và chia sẻ các kỹ thuật trồng nấm Linh Chi đỏ đạt năng xuất cao.
Xem thêm

10 Đọc thêm

LUẬN VĂN NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA NACL TỚI ĐỘNG THÁI TÍCH LŨY MỘT SỐ CHẤT TRAO ĐỔI, HOẠT ĐỘ ENZYM CHỐNG OXY HÓA Ở MẦM ĐẬU TƯƠNG

LUẬN VĂN NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA NACL TỚI ĐỘNG THÁI TÍCH LŨY MỘT SỐ CHẤT TRAO ĐỔI, HOẠT ĐỘ ENZYM CHỐNG OXY HÓA Ở MẦM ĐẬU TƯƠNG

Trong điều kiện môi trường sinh thái biến đổi như hiện nay, một trong những vấn đề đang được quan tâm nhất là sự nóng lên của Trái Đất. Điều này sẽ dẫn đến hàng loạt vấn đề nghiêm trọng. Một trong những ảnh hưởng đó không thể không nhắc đến là hiện tượng mực nước biển dâng cao làm cho hàng ngàn ha đất đai bị nhiễm mặn.Địa hình nước ta có đường bờ biền dài 3260km, do đó, cũng như nhiều quốc gia giáp biển trên thế giới Việt Nam đang đứng trước nguy cơ xâm lấn của nước biển do hậu quả của biến đổi khí hậu (BĐKH) toàn cầu.Theo thống kê của tổ chức Nông lương Liên hợp quốc FAO, hằng năm diện tích đất nông nghiệp giảm mạnh do bị nhiễm mặn là 3% trên toàn thế giới, 6% ở Việt Nam và các nước Đông Nam Á khác 19. Sự xâm nhập của nước biển vào lục địa làm cho tính chất lý hóa của đất trồng bị biến đổi nghiêm trọng. Đất nhiễm mặn là nguyên nhân quan trọng làm giảm thế năng nước xung quanh vùng rễ của cây trồng làm cho cây trồng lấy nước khó khăn, nên thường không sinh trưởng và phát triển bình thường được.Vì vậy, việc nghiên cứu về giống cây trồng chịu mặn và biện pháp nâng cao khả năng chống chịu của cây trồng đang là chủ đề được nhiều nhà khoa học quan tâm. Một số nghiên cứu trên lúa, cải dầu, đậu tương, đậu xanh..., cho thấy prolin và glyxin betain có vai trò quan trọng trong việc điều hòa thẩm thấu, bảo vệ và làm giảm tác hại của các điều kiện nhiễm mặn đối với cây trồng 9 10 14 26 55 .Ngoài ra các tác nhân oxy hóa (ROS) như các gốc tự do superoxit anion (O2.), hydrogen peroxit (H2O2) và các gốc hydroxyl (.HO)… cũng được sinh ra trong suốt quá trình cây trồng gặp điều kiện nhiễm mặn; ROS có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng, làm phá vỡ sự trao đổi chất bình thường thông qua quá trình ôxy hoá các chất béo, protein và axit nucleic. Để chống lại ảnh hưởng xấu các tác nhân này, kết quả nghiên cứu của Karuppanapandian T., JC Moon, C. Kim, K. Manoharan, W. Kim (2011);S. Mutlu, Ö. Atici and B. Nalbantoglu (2009),… chỉ ra rằng thực vật đã hình thành các cơ chế bảo vệ khác nhau, trong đó chủ yếu dựa vào các enzym có hoạt tính phân huỷ các hợp chất oxy hoá như superoxit dismutaza (SOD) triệt tiêu gốc superoxit (O2.) hay catalaza (CAT), peroxidaza (POD), alkyl hydroperoxit, glutathion reductaza có tác dụng phân huỷ hydrogen peroxit (H2O2)... 36 57 58Các nhà khoa học đã chú ý đi sâu vào hướng tìm hiểu ảnh hưởng của muối đến các quá trình sinh lí, sự hình thành các chất có vai trò bảo vệ, tuy nhiên các nghiên cứu cho đến nay còn nhiều điều chưa làm rõ cơ chế ảnh hưởng của muối, động thái tích lũy và hoạt động của các chất chống oxy hóa ở hạt trong quá trình nảy mầm, một giai đoạn sinh trưởng rất mẫn cảm với stress môi trường.Trong cơ cấu cây trồng, đậu tương (Glycine max (L.) Merr.)còn gọi là đậu nành, là một cây trồng cạn ngắn ngày có giá trị kinh tế cao là cây trồng đứng vị trí thứ tư trong các cây làm lương thực, thực phẩm sau lúa mì, lúa nước và ngô. Ở Việt Nam, đậu tương được gieo trồng tại 25 trong số 63 tỉnh thành cả nước, với khoảng 65% tại khác khu vực phía Bắc và 35% tại các khu vực phía Nam 70. Hạt đậu tương có thành phần dinh dưỡng cao, có khá nhiều loại vitamin... Phân tích thành phần sinh hoá cho thấy trong hạt đậu tương đang nảy mầm, ngoài hàm lượng vitamin C cao, còn có các thành phần khác như: vitamin PP, và nhiều chất khoáng khác như Ca, P, Fe v.v... Đậu tương có khả năng cung cấp năng lượng khá cao, khoảng 4700 calkg. Sản phẩm từ đậu tương được dùng làm thực phẩm cho con người, là một vị thuốc để chữa bệnh, làm thức ăn cho gia súc, nguyên liệu cho công nghiệp, hàng xuất khẩu 5. Đậu tương còn là cây có tác dụng cải tạo đất, tăng năng suất cây trồng khác do hoạt động cố định nitơ của vi khuẩn Rhizobium cộng sinh trên rễ cây.Với những giá trị dinh dưỡng, giá trị sử dụng và giá trị kinh tế của cây đậu tương; việc lựa chọn được giống đậu tương có khả năng chống chịu tốt và cho năng suất cao trên những vùng đất nhiễm mặn là hướng nghiên cứu đang được quan tâm chú ý.
Xem thêm

87 Đọc thêm

Đề cương luận án: NGHIÊN CứU ĐộNG THÁI HÀM LƯợNG PROLIN, GLYCINBETAIN VÀ HOạT Độ MộT Số ENZYM TRONG MầM ĐậU TƯƠNG ở ĐIềU KIệN THIếU NƯớC VÀ NHIễM MặN

ĐỀ CƯƠNG LUẬN ÁN: NGHIÊN CỨU ĐỘNG THÁI HÀM LƯỢNG PROLIN, GLYCINBETAIN VÀ HOẠT ĐỘ MỘT SỐ ENZYM TRONG MẦM ĐẬU TƯƠNG Ở ĐIỀU KIỆN THIẾU NƯỚC VÀ NHIỄM MẶN

1.2. Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu động thái hàm lượng prolin và glycine betaine trong mầm đậu tương ở điều kiện thiếu nước và khả năng phục hồi sau thiếu nước. Nghiên cứu động thái hoạt độ một số enzym trong mầm đậu tương ở điều kiện mặn và khả năng phục hồi sau nhiễm mặn. 1.3. Những đóng góp mới của đề tài 1) Lần đầu tiên ở Việt Nam tiến hành nghiên cứu sâu về ảnh hưởng của 2 tác nhân môi trường gây stress điển hình: thiếu nước và nhiễm mặn tới một số biến đổi bên trong của quá trình nảy mầm: hoạt độ các enzym phân hủy chất dự trữ trong hạt nảy mầm, enzym chống oxy hóa, hàm lượng các chất bảo vệ tế bào khỏi stress (prolin, glycinbetain) trong suốt quá trình nảy mầm bị stress và động thái hoạt động của chúng sau thời gian bị stress. 2) Nghiên cứu động thái hoạt động của các chất chống stress và các chất thúc đẩy hạt nảy mầm có thể góp phần làm rõ mối quan hệ của phản ứng tự vệ và khả năng sinh trưởng ở giai đoạn đầu tiên của quá trình phát triển cá thể của đậu tương nói riêng và thực vật nói chung. Đồng thời nghiên cứu góp phần làm rõ và sâu sắc thêm vai trò sinh lí của các chất chống stress. 3) Cho phép so sánh ảnh hưởng của 2 loại tác nhân stress tới quá trình nảy mầm và sinh trưởng mầm và khả năng phục hồi sau stress của chúng. II. TổNG QUAN TÀI LIệU 2.1. Đặc điểm thực vật học và hóa sinh hạt đậu tương Đậu tương có tên khoa học là (Glycine Max (L.) Merrill) thuộc họ Đậu (Fabaceae), họ phụ cánh bướm (Papilionoidace) có bộ NST 2n = 40. Cây đậu tương là cây trồng cạn thu hạt, gồm các bộ phận chính: rễ, thân, lá, hoa, quả và hạt. Rễ đậu tương là rễ cọc, gồm rễ cái và các rễ phụ, trên rễ có nhiều nốt sần chứa vi khuẩn Rhizobium japonicum, có khả năng cố định đạm của không khí tạo thành đạm dễ tiêu. Các công trình nghiên cứu cho thấy những giống có khả năng cộng sinh và có đủ nốt sần thường làm cho hàm lượng protein cao, cho nên trồng cây đậu tương có tác dụng cải tạo đất. Thân cây đậu tương là thân thảo, ít phân cành dạng bụi, lá đậu tương là lá kép với 3 lá chét, nhưng đôi khi cũng có 4 5 lá chét. Đậu tương là cây tự thụ phấn, hoa đậu tương nhỏ, không hương vị, có màu tím, tím nhạt hoặc trắng, hoa mọc từ nách lá hoặc ngọn, quả đậu tương thuộc loại quả ráp, thẳng hoặc hơi cong, có nhiều lông khi chín có màu vàng hoặc xám. Hạt đậu tương không có nội nhũ mà chỉ có một lớp vỏ bao quanh một phôi lớn. Hạt có hình tròn hoặc bầu dục, tròn dài, tròn dẹt, ovan... Vỏ hạt thường nhẵn và có màu vàng nhạt, vàng đậm, xanh, nâu, đen... đa số là hạt màu vàng. Khối lượng hạt rất đa dạng dao động từ 20 400 mg hạt. Màu sắc rốn hạt ở các giống là khác nhau, đây là một biểu hiện đặc trưng của giống. Thời gian sinh trưởng của cây đậu tương thường chia ra nhóm chín sớm, trung bình và muộn.
Xem thêm

21 Đọc thêm

Cùng chủ đề