PHONG TRÀO VĂN NGHỆ QUẦN CHÚNG

Tìm thấy 9,002 tài liệu liên quan tới từ khóa "PHONG TRÀO VĂN NGHỆ QUẦN CHÚNG":

Báo cáo thực tập: Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý phong trào văn nghệ tại cơ sở

BÁO CÁO THỰC TẬP: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ PHONG TRÀO VĂN NGHỆ TẠI CƠ SỞ

Ở nông thôn vùng nông thôn miền núi các hoạt động văn hóa dân gian vấn đóng góp vai trò chủ đạo trong đời sống của người dân. Văn hóa dân gian thực sự là nguồn sữa mẹ nuôi sống đời sống văn hóa ở các thôn bản và cũng chính là cội nguồi của dân tộc. Vì vậy ngành văn hóa xác định nhiệm vụ trọng tâm của phong trào văn hóa văn nghệ của cơ sở và khởi nguồn định nguồn cho dòng chảy văn hóa dân gian phát triển. người dân vùng nông thôn miền núi khát khao sinh hoạt văn hóa cộng đồng, vì vậy nhu cầu sinh hoạt này mỗi thành viên, mỗi người dân tự hóa thân vừa là người thưởng thức vừa là người sáng tạo. Tập trung xây dựng các đội văn nghệ của các thôn bản và tổ chức các trò chơi dân gian. Khởi động và tổ chức các lễ hội truyền thống của từng làng, bản trên cơ sở giữ gìn và phát huy phong tục tập quán, bản sắc dân tộc. Tập trung xóa bỏ các hủ tục lạc hậu lựa chọn những giải pháp phù hợp với nhu cầu cuộc sống của nhân dân.Trong đó chú trọng các kênh truyền hình phát tiếng dân tộc như ở một số thôn, bản do điều kiện địa hình phức tạp, trình độ dân trí thấp nên chưa thành lập được đội văn hóa, văn nghệ cho thôn bane mình.Vì vậy chúng tôi cần phải tăng cường công tác nghiên cứu phát huy phong trào văn hóa, văn nghệ ở cở sở đối với vấn đề phát triển kinh tế xã hội và nhiệm vụ trọng yếu của người làm công tác quản lý văn hóa, trước hết đời hỏi sự cấp bách của cuộc sống càng cấp bách hơn khi trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã nẩy sinh nhiều vấn đề mới, đòi hỏi phải có sự tham gia của người quản lý văn hóa, văn nghệ đáp ứng nhu cầu cuộc sống của nhân dân trong thôn, bản.1.1.2 Một số khái niệm, đặc điểm và vai trò cơ bản liên quan đến phong trào văn nghệ tại Xã Tà TổngHơn lúc nào hết văn hóa, văn nghệ là một bộ phận rất quan trọng trong cuộc sống của mỗi chúng ta. Vì văn hóa, văn nghệ góp phần đác lực vào công cuộc xây dựng con người Việt Nam, lối sống lành mạnh nền đạo đức mới đời sống trí tuệ và tinh thần xã hội ngang tầng với ự nghiệp vĩ đại của nhân dân vì sự hưng thịnh và phùn vinh của tổ quốc. Trong sự nghiệp vĩ đại này xây dựng kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm “ Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thức đẩy phát triển kinh tế xã hội”.Thật vậy văn hóa đối với mỗi chúng ta nhất thiết phải đi đôi với phát triển kinh tế, không chỉ tăng cường mà còn là phát trển, không chỉ nâng cao đời sống vật chất mà càn phải nâng cao cả đời sống tinh thần không phải chỉ lo tạo ra của cải lợi nhuận mà đánh mất con người, đánh mất những giá trị dân tộc và nhân văn. Văn hóa không chỉ đi đôi với kinh tế mà hơn thế nữa, văn hóa còn đóng góp một vai trò định hướng điều tiết sự phát triển kinh tế, phải tạo môi trường văn hóa lành mạnh cho sự phát triển kinh tế xã hội.Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII chỉ rõ: “ Mọi hoạt động văn hóa, văn nghệ phải nhằm xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sác dân tộc xây dựng con người Việt Nam về tư tưởng đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh cho sự phát triển của xã hội”.Nền văn hóa tiên tiến đó là nền văn minh tinh thần ở trình độ cao, thể hiện những giá trị truyền thống của dân tộc hòa quyện làm một với tinh hoa của thế giới hiện đại, phát triển trên cơ sở mặt bằng dân trí cao và một nền khoa học công nghiệp đủ sức giải quyết các vấn đề của cuộc sống đáp ứng những nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng tăng lên của toàn thể nhân dân.Một nền văn hóa tiên tiến phải là một nền văn hóa thấm nhuần nhưng tư tưởng yêu nước tiến bộ mà cốt lõi là chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là mục tiêu tất cả vì con người hạnh phúc và sự phát triển toàn diện của con người.
Xem thêm

37 Đọc thêm

KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945-1954

KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945-1954

Trong quá trình 30 năm phát triển của văn học cách mạng (1945-1975), giai đoạn 1945-1954 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Ðây vừa là thời kỳ mở đầu, đắp nền cho văn học mới vừa là bước chuyển tiếp lịch sử ghi nhận nhiều thay đổi triệt để và sâu sắc, từ quan niệm nghệ thuật cho tới thực tế sáng tác. Vượt qua những thử thách khắc nghiệt của hoàn cảnh chiến tranh, văn học chín năm kháng chiến chống Pháp đã khẳng định sự tồn tại và phát triển với tầm vóc xứng đáng. Tuy những thành tựu còn ở mức độ ban đầu nhưng đóng góp chính của nó là mang đến một sắc thái độc đáo, làm bừng lên khí thế mới chưa từng có trong đời sống văn học dân tộc.  I. BỐI CẢNH LỊCH SỬ – XÃ HỘI             - Cách mạng tháng Tám (1945) thành công, mở ra một kỷ nguyên mới cho đất nước – kỷ nguyên độc lập, tự chủ. Ngày 2-9-1945, tại quảng trường Ba Ðình, Hồ Chủ Tịch đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Ách nô lệ bị đập tan, con người Việt Nam được giải phóng; bừng lên một niềm hạnh phúc lớn lao đến thiêng liêng, như kết quả tất yếu từ khát vọng tự do và quyết tâm cứu nước của cả dân tộc.             - Nhưng chính quyền cách mạng non trẻ, ngay lúc đó, đã phải đương đầu với muôn vàn khó khăn trên tất cả các phương diện của đời sống. Nền kinh tế hầu như kiệt quệ với hệ thống kho tàng trống rỗng, nông nghiệp lạc hậu, mất mùa vì lũ lụt ; các ngành công thương nghiệp, thủ công nghiệp bị đình đốn hoặc phá sản. (Hậu quả thảm khốc là nạn đói xảy ra, làm chết hơn hai triệu người, ngót 1/10 dân số nước ta bấy giờ). Trình độ dân trí, văn hóa giáo dục thấp kém với hơn 80% dân số mù chữ. Cùng lúc, các thế lực thù trong giặc ngoài lăm le chờ thời cơ để gây rối, hòng làm suy yếu và lật đổ nhà nước Cách mạng. Ðược Anh mở  đường, thực dân Pháp trở lại gây căng thẳng ở Nam Bộ. Quân Tưởng Giới Thạch kéo vào miền Bắc. Trong nước, các tổ chức Việt Nam cách mệnh đồng minh của Nguyễn Hải Thần (Việt Cách) và Việt Nam quốc dân đảng của Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam (Việt Quốc) núp bóng quân Tưởng, bất hợp tác với Cách mạng, liên tục quấy phá ; lớp địa chủ, tư sản cũng ngóc dậy, ngấm ngầm chống đối.             - Vượt qua mọi khó khăn, chính quyền dân chủ nhân dân không những được giữ vững mà còn ngày càng củng cố, mạnh mẽ hơn. Dưới sự lãnh đạo tài tình của Ðảng và Hồ Chủ Tịch, bằng nhiều biện pháp kịp thời nhân dân ta đã chặn đứng nạn đói, phát động một cao trào bình dân học vụ diệt giặc dốt và phong trào tình nguyện nhập ngũ để bảo vệ nhà nước Cách mạng, bảo vệ sự toàn vẹn của tổ quốc. Ngày 6-1-1946, quốc hội đầu tiên được bầu qua tổng tuyển cử. Hiếp pháp được công bố. Những thế lực thù địch lần lượt bị khuất phục bằng chính sách ngoại giao kiên quyết về nguyên tắc nhưng uyển chuyển về sách lược của ta : hai trăm ngàn quân Tưởng Giới Thạch phải rút về nước kéo theo sự tán loạn của bọn phản động tay sai ; hiệp định Sơ bộ (6-3-1946) và Tạm ước (14-9-1946) giúp nhân dân tranh thủ được thời gian hòa hoãn để chuẩn bị lực lượng đương đầu lâu dài với thực dân Pháp.             - Khi mọi biện pháp ngoại giao không còn hiệu quả trước dã tâm của Pháp nhằm áp đặt chế độ thuộc địa lên nước ta một lần nữa, cuộc kháng chiến toàn quốc bắt đầu. Ðáp lời kêu gọi ngày 19-12-1946 của Hồ Chủ Tịch, cả đất nước đã đứng lên, vừa đánh giặc vừa củng cố lực lượng, huy động sức mạnh dân tộc không chỉ ở hiện tại mà cả từ truyền thống quật khởi bốn nghìn năm.             - Từ năm 1947, liên tiếp những chiến thắng quan trọng đã làm thay đổi cục diện, tương quan lực lượng giữa ta và địch : chiến thắng Việt Bắc thu đông (1947) chặn đứng sức tiến công của giặc, chuyển cuộc kháng chiến từ thế phòng ngự sang cầm cự ; chiến thắng Biên giới (1950) phá vỡ thế phong tỏa, mở đường thông với phe xã hội chủ nghĩa ; chiến thắng Hòa Bình (1952) mở rộng vùng giải phóng,… Cuối cùng, chiến thắng Ðiện Biên Phủ (7-5-1954) làm lịm tắt ý đồ xâm lược của thực dân Pháp, buộc chúng phải chấp nhận thương lượng và ký kết hiệp định Giơnevơ về Ðông Dương (20-7-1954).             Cuộc kháng chiến chín năm đã kết thúc thắng lợi. Một nửa nước được giải phóng. Chính quyền kiểu mới ở các cấp từng bước được củng cố. Tổ chức Ðảng vững mạnh hơn nhiều. Ðại hội Ðảng lần 2 (1951) xác định đúng đắn đường lối cho kháng chiến. Năm 1953, Hồ Chủ Tịch ra sắc lệnh giảm tô và cải cách ruộng đất. Tuy có nơi có lúc còn cực đoan, thái quá nhưng về cơ bản cuộc Cách mạng phản phong này đã thực sự giải phóng đất đai và người nông dân, thủ tiêu triệt để quan hệ sản xuất cũ, đem lại cho kháng chiến một động lực mạnh mẽ. Nền kinh tế tự túc đảm bảo được những nhu cầu thiết yếu của đời sống nhân dân trong kháng chiến.             - Trong hoàn cảnh chiến tranh hết sức khó khăn, văn hóa giáo dục vẫn không ngừng được nâng cao. Nạn mù chữ cơ bản được thanh toán (phổ cập cấp 1 trong toàn dân). Tiếng Việt trở thành ngôn ngữ chính thức giảng dạy trong tất cả các cấp học. Một số trường Ðại học được mở ra để đào tạo nhân tài cho đất nước (y khoa, sư phạm)…             Tất cả những phương diện của tình hình lịch sử – xã hội nêu trên đã có ảnh hưởng trực tiếp, tạo nên những thuận lợi và khó khăn riêng cho sự phát triển, quyết định diện mạo của văn học giai đoạn này.  II. TÌNH HÌNH VĂN HỌC                 1) Trước hết, phải kể đến sự lãnh đạo và quan tâm giúp đỡ thường xuyên của Ðảng. Thông qua hoạt động của các tổ chức văn nghệ, Ðảng đã đề ra chủ trương chính sách tích cực, giúp chấn chỉnh kịp thời những lệch lạc ; phát động các cuộc thi để kích thích phong trào sáng tác, phát hiện tài năng mới ; động viên văn nghệ sĩ thâm nhập thực tế,… (Hội văn nghệ Việt Nam được thành lập, ra tạp chí Văn nghệ – năm 1948 ; tổ chức giải thưởng văn nghệ các năm 1951-1952, 1954-1955,…)             - Cách mạng tháng Tám đã giải phóng dân tộc, đồng thời cũng giải phóng cho văn học khỏi những trói buộc của quan niệm cũ. Tính dân chủ được nâng cao, văn học không còn là sở hữu riêng của một lớp người mà thành giá trị chung cho tất cả mọi người. Quan niệm nghệ thuật tiến bộ được khẳng định, đưa văn học trở về với ngọn nguồn đích thực là đời sống rộng lớn của nhân dân, hứa hẹn một sự khởi sắc rực rỡ.             - Lực lượng sáng tác được tập hợp đông đảo, có sự góp mặt đầy đủ và bổ sung lẫn nhau giữa các thế hệ. Dưới ngọn cờ của Ðảng, văn nghệ sĩ dù ở thế hệ nào cũng hướng về lý tưởng chung, soi sáng cuộc đời và công việc sáng tạo nghệ thuật. Mặc dù còn phải tiếp tục giải quyết nhiều vướng mắc về lập trường, quan điểm, về tư tưởng nghệ thuật nhưng nhìn chung ngay từ buổi đầu, đa số lớp trước Cách mạng đều phát huy tinh thần dân tộc, hăng hái đi theo kháng chiến bằng lương tâm và trách nhiệm cao nhất của người nghệ sĩ chân chính. Bên cạnh đó, phải kể đến lớp nhà văn trưởng thành từ quân đội, từ phong trào sáng tác  quần chúng. Sáng tác của họ mang đậm đà hơi thở đời sống, tạo nên sức trẻ cho nền văn học, có sức động viên, khích lệ tinh thần nhân dân rất mạnh mẽ.             - Trình độ học vấn, đời sống tinh thần, năng lực thẩm mỹ được nâng cao, quần chúng trở thành nhân tố quan trọng cho sự hồi sinh của văn học. Nhân dân là đối tượng phản ánh, là độc giả và cũng chính là người trực tiếp sáng tạo nghệ thuật. Giới văn chương được mở  rộng, sinh hoạt văn nghệ sôi nổi hẳn lên. Mặt khác, chín năm kháng chiến khổ nhục mà vĩ đại – một hiện thực hoành tráng, giàu chất sử thi – là nguồn đề tài phong phú cho sáng tác. Cuộc sống mới, quan hệ xã hội mới với bao nhiêu cung bậc tình cảm của con người Việt Nam tự do đã gợi lên những cảm hứng mãnh liệt, điều kiện cần thiết trước hết cho sáng tác.             - Tuy khởi đầu cho một thời kỳ mới nhưng văn học 1945-1954 không hoàn toàn tách rời mà gắn bó chặt chẽ, kế thừa những thành tựu của giai đoạn trước Cách mạng. Những năm 40 là thời kỳ khủng hoảng cao độ của chế độ thuộc địa, xã hội bế tắc, hoang mang, không tìm được hướng đi. Tình hình văn học, do đó hết sức phức tạp với nhiều khuynh hướng, nhiều giá trị biểu hiện khác nhau. Văn học kháng chiến chống Pháp có đầy đủ điều kiện để tiếp nhận phần tinh hoa, thành tựu cũng như loại trừ những yếu tố không có lợi cho sự nghiệp chung. Ðặc biệt, phải kể đến những cách tân về phương diện nghệ thuật của văn chương lãng mạn, giá trị hiện thực và nhân đạo của văn học hiện thực phê phán, tính chiến đấu mạnh mẽ của văn học Cách mạng (chủ yếu là thơ ca trong tù của Bác Hồ, Tố Hữu, Sóng Hồng, Lê Ðức Thọ,…)              2) Trong bối cảnh chung thời chiến tranh, văn học chín năm chống Pháp phải đương đầu với những khó khăn, thiếu thốn về nhiều mặt : điều kiện in ấn, phát hành rất hạn chế, thời gian và công sức của văn nghệ sĩ dành cho sáng tác không nhiều, sự khủng bố của kẻ thù,… Nhiều cây bút đang độ sung sức đã ngã xuống, gây nên mất mát không gì bù đắp được (Trần Ðăng, Nam Cao, Thôi Hữu,…)             Mặt khác, về phía chủ quan, tuy hầu hết văn nghệ sĩ đã tán thành quan niệm sáng tác mới, nhưng để biến nhận thức ấy thành xúc động nghệ thuật, thành hình tượng nghệ thuật có sức lay động lòng người thì quả không phải chuyện giản đơn một sớm một chiều. Tình cảm bao giờ cũng chuyển biến chậm hơn. Không ít lần, nhất là ở những khúc quanh của lịch sử (thời kỳ đầu kháng chiến, trong cải cách ruộng đất), hàng ngũ sáng tác có biểu hiện hoang mang, dao động. Ðây chính là lý do giải thích vì sao mãi đến gần cuối cuộc kháng chiến, văn học Cách mạng mới có được những thành tựu đáng kể.      2. Các chặng đường phát triển :               Có thể khảo sát quá trình phát triển của văn học giai đoạn này qua hai chặng cụ thể như sau :              1) 1945-1946 : Ðây là năm bản lề, văn học chuyển mình hòa vào dòng thác Cách mạng. Văn học Cách mạng dần trở thành trào lưu chủ đạo. Ðội ngũ sáng tác nòng cốt vẫn là những cây bút đã khẳng định tên tuổi từ trước. Trừ một số ít tỏ ra lạc lõng, hầu hết tự nguyện đứng vào hàng ngũ văn nghệ sĩ mới với niềm hạnh phúc lớn lao : được hai lần giải phóng. (Hội văn hóa cứu quốc được thành lập).             Nhìn chung, sáng tác thời kỳ này tập trung vào hai chủ đề lớn. Thứ nhất, ngợi ca thắng lợi vĩ đại của Cách mạng và bộc lộ niềm phấn khởi, tự hào tột độ của toàn dân (Vui bất tuyệt, Hồ Chí Minh – Tố Hữu, Ngọn quốc kỳ – Xuân Diệu, kịch Bắc sơn – Nguyễn Huy Tưởng). Thứ hai, tái hiện lại thực trạng xã hội tăm tối trước Cách mạng để tố cáo tội ác dã man của thực dân và tay sai, đánh tan những ảo tưởng cuối cùng vào sự lừa mị của chúng ; từ đó, giáo dục ý thức trân trọng, thiết tha với chế độ mới (Mò sâm banh – Nam Cao, Lò lửa và địa ngục – Nguyên Hồng, Một lần tới thủ đô – Trần Ðăng, Chùa Ðàn – Nguyễn Tuân).             Ðược viết do sự thôi thúc của nhiệt tình, trách nhiệm công dân mà chưa có độ sâu sắc, độ lắng đọng từ phía cảm xúc người nghệ sĩ nên phần lớn tác phẩm dễ rơi vào quên lãng. Nhiều văn nghệ sĩ còn quá bỡ ngỡ trước cuộc sống mới, yêu mến nhưng chưa hiểu Cách mạng bao nhiêu nên chưa thật sự gắn bó và đồng cảm với quần chúng. Một số vẫn chưa hết băn khoăn, đắn đo như Chế Lan Viên sau này tâm sự : Cách mạng làm tôi vui nhưng cũng làm tôi lo lắng. Tôi có còn được tự do ? Văn học Cách mạng có phải là văn học ? (Văn nghệ, 18-9-1976).              2) 1947-1949 : Kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Ðông đảo văn nghệ sĩ tự nguyện tham gia. Xuất hiện kiểu nhà văn – chiến sĩ, những người vừa trực tiếp chiến đấu vừa dùng ngòi bút như một thứ vũ khí để đấu tranh với kẻ thù và động viên, cổ vũ quần chúng. Có thể kể : Chính Hữu, Hoàng Trung Thông, Quang Dũng, Hồ Phương,… Tuy có thừa nhiệt tình và vốn sống thực tế nhưng do những cây bút trẻ này còn thiếu kinh nghiệm sáng tác nên chất lượng tác phẩm của họ thường không đồng đều. Dù sao, cũng đã có tín hiệu lạc quan của những phong cách mới, mang đậm đà hương sắc từ cuộc sống kháng chiến.             Sự chuyển biến của văn nghệ sĩ lớp trước Cách mạng ở những năm đầu  chặng này vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của kháng chiến. Chưa đủ những điều kiện cần thiết (thời gian, thực tế kháng chiến) để họ gắn bó máu thịt, nắm bắt được tâm tư nguyện vọng của quần chúng. Do đó, những tác phẩm hay vẫn chưa nhiều. Tiêu biểu : thơ của Tố Hữu (Cá nước, Phá đường, Bà mẹ Việt Bắc, Bầm ơi) ; truyện ngắn : Ðôi mắt – Nam Cao, Làng – Kim Lân, Thư nhà – Hồ Phương, truyện và ký sự của Trần Ðăng.             Nhằm tạo bước phát triển đáng kể cho văn nghệ, Ðảng đã tiến hành hàng loạt biện pháp tích cực : tổ chức học tập, thảo luận những báo cáo quan trọng có tính định hướng (Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam – Trường Chinh, 1948 ; Xây dựng nền văn nghệ nhân dân – Tố Hữu, 1949), tổ chức nhiều hội nghị tranh luận về các vấn đề văn nghệ (Hội nghị văn nghệ bộ đội- 4/1919, Hội nghị tranh luậnvăn nghệ tại Việt Bắc- 3/1949). Tổ chức của văn nghệ sĩ từng bước được kiện toàn. Hội văn nghệ Việt Nam được thành lập (1948). Với phương châm Cách mạng hóa tư tưởng, quần chúng hóa sinh hoạt, nhằm xây dựng một nền văn nghệ Dân tộc, khoa học, đại chúng, văn nghệ sĩ hăng hái xốc ba lô tham gia kháng chiến. Những đợt đi thực tế ra mặt trận được tổ chức trang nghiêm, tưng bừng đã gây ấn tượng rất sâu sắc đối với người cầm bút vốn xuất thân từ tầng lớp trí thức.             Những tác động ấy đã giúp văn nghệ sĩ dần rũ bỏ những ám ảnh của nếp sống, nếp nghĩ cũ ; tạo một thái độ chân thành, gắn bó máu thịt với cuộc sống ; giúp giải quyết thỏa đáng những vấn đề còn vướng mắc về tư tưởng và phương pháp sáng tác như : viết cái gì ? viết cho ai ? viết như thế nào ?.             Trong khi bộ phận chuyên nghiệp còn đang loay hoay nhận đường thì, đặc biệt, phong trào văn nghệ quần chúng vốn manh nha từ những ngày đầu Cách mạng, giờ phát triển sôi nổi hẳn lên và giữ vai trò chủ yếu trong sinh hoạt văn nghệ kháng chiến. Không khí khẩn trương và hoàn cảnh đặc biệt của kháng chiến rất thích hợp với những hình thức tự biên tự diễn, phục vụ kịp thời như kịch lửa trại, vè độc tấu, ca dao diệt đồn, thơ báng súng…. Cho dù chất lượng nghệ thuật còn hạn chế nhưng không thể phủ nhận rằng vào thời điểm bấy giờ, văn nghệ quần chúng đã đáp ứng thỏa đáng nhu cầu đời sống tinh thần người Việt Nam trong kháng chiến.              3) 1950-1954 : Ðây là những năm văn học gặt hái được nhiều thành tựu rực rỡ, nhất là thơ ca. Các nhà thơ : Tố Hữu, Nông Quốc Chấn, Hoàng Trung Thông, Chính Hữu, Trần Hữu Thung, Minh Huệ,… đều có tác phẩm hay. Ở lĩnh vực văn xuôi, tiểu thuyết đã có những thể nghiệm bước đầu đáng khích lệ với Con trâu (Nguyễn Văn Bổng), Xung kích (Nguyễn Ðình Thi), Vùng mỏ (Võ Huy Tâm).             Phong trào văn nghệ quần chúng sôi nổi và ngày càng sâu rộng vẫn là món ăn tinh thần chính yếu của nhân dân. Thơ bộ đội, thơ của các cây bút dân tộc ít người có một số tác phẩm nổi bật (Dọn về làng – Nông Quốc Chấn, Nhớ vợ – Cầm Vĩnh Ui, Em tắm – Bạc Văn Ùi). Các loại hình sân khấu truyền thống cũng bước đầu được phục hồi tuy vẫn còn nặng về hình thức và hiếm kịch bản có giá trị văn học cao.  III. THÀNH TỰU NỔI BẬT Ở CÁC THỂ LOẠI :     1. Thơ ca :               Ðây là thể loại phát triển thành cao trào mạnh hơn cả với nhiều thành tựu nổi bật. Truyền thống yêu thơ của dân tộc và đặc điểm lịch sử cụ thể của chín năm kháng chiến đã quyết định thực tế ấy. Thơ ca tiếp tục gắn bó với đời sống buồn vui, lúc hạnh phúc cũng như khi gian lao, vất vả của con người Việt Nam. Nhà phê bình Hoài Thanh đã có nhận xét xác đáng : Hầu hết những người mang ba lô lặng lẽ đi trên các nẻo đường kháng chiến trong một quyển sổ tay nào đó thế nào cũng có ít bài thơ… Trong cuộc chiến tranh nhân dân của chúng ta, tiếng súng, tiếng nhạc, tiếng thơ cùng hòa điệu. (Nói chuyện thơ kháng chiến).              1) Có thể nhận thấy sự khởi sắc của thơ giai đoạn này, trước hết, qua khảo sát phong trào và lực lượng sáng tác. Từ sau Cách mạng tháng Tám, thơ không còn là vương quốc riêng của các nhà thơ chuyên nghiệp. Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp đồng thời cũng giải phóng cho nhà thơ, trong cuộc đời cũng như trong sáng tạo nghệ thuật. Sự gặp gỡ giữa lý tưởng Cách mạng và lý tưởng thẩm mỹ của dân tộc là điều kiện khách quan cho sự xuất hiện hình mẫu người nghệ sĩ kiểu mới. Có thể nói : không có thế hệ nhà thơ kiểu mới thì không có thơ ca Cách mạng. Giờ đây, anh cán bộ chính trị, anh cán bộ quân sự, anh công an, anh bình dân học vụ, anh thông tin, anh hỏa thực, các chị phụ nữ, các em thiếu nhi, hết thảy đều làm thơ. (Hoài Thanh – Nói chuyện thơ kháng chiến).             Không khí quần chúng sôi nổi một mặt tạo điều kiện thử thách và khẳng định các tài năng trẻ, mặt khác, góp sức cùng cao trào cách mạng tác động mạnh mẽ vào tâm tư tình cảm của các nhà thơ lãng mạn, giúp hồn thơ họ hồi sinh. Với kinh nghiệm và tài năng đã được khẳng định, đóng góp của Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Lưu Trọng Lư, Tế Hanh, Huy Cận,… tuy chưa thật sự là hơi thở mãnh liệt của thời đại nhưng vẫn có ý nghĩa sâu sắc : khơi gợi lòng yêu nước, hào khí đấu tranh và lòng tự hào dân tộc. Việc hầu hết các nhà thơ tiêu biểu của phong trào thơ Mới tìm đến với Cách mạng, tiếp tục phát huy năng lực sáng tạo, luôn có mặt ở vị trí hàng đầu  trận tuyến văn nghệ Cách mạng là một hiện tượng đặc sắc. Ðiều đó chứng tỏ tính ưu việt, sức hấp dẫn mạnh mẽ của chế độ mới và đường lối văn nghệ Cách mạng.             - Ở năm đầu sau Cách mạng, thơ tập trung thể hiện niềm vui lớn của dân tộc, ca ngợi Ðảng và Bác Hồ, ca ngợi con người mới, chế độ mới. Nổi bật nhất phải kể đến Tố Hữu với Huế tháng Tám, Vui bất tuyệt, Hồ Chí Minh ;… Xuân Diệu với hai trường ca Ngọn quốc kỳ và Hội nghị non sông.             Kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Hòa vào lòng người hăm hở trên trận tuyến chung, có đội ngũ chỉnh tề, khỏe khoắn của các nhà thơ. Mấy năm đầu, nhiều thi sĩ còn gặp khó khăn. Tâm hồn họ chưa hòa nhịp kịp với đời sống kháng chiến sôi nổi, sống động. Các nhà thơ vẫn còn vương vấn với những thi đề quen thuộc, những tình cảm tiểu tư sản xốc nổi, đậm màu sắc anh hùng cá nhân ; cách biểu hiện sáo mòn,… Sương mù của bầu trời tinh thần cũ giờ vẫn còn lẩn quẩn trong vườn thơ Cách mạng, biểu hiện ở những Ðạo rớt, Mộng rớt, Buồn rớt,…. Giữa cảm xúc thơ trong Ngày về (Chính Hữu), Màu tím hoa sim (Hữu Loan), Tây tiến (Quang Dũng) với tình cảm chân chất, phơi phới lạc quan trong tư thế anh hùng thời đại mới của quần chúng – còn một khoảng cách nhất định. Bởi lẽ, một khi nhận thức lý trí chưa thật sự hóa thành rung động tình cảm chân thành thì hình tượng nghệ thuật khó có sức lay động mạnh mẽ.             Thực tế kháng chiến đã thay đổi cách nhìn, cách nghĩ và củng cố lập trường tư tưởng của các nhà thơ, giúp họ ngày càng gần gũi, gắn bó với nhân dân. Lớp trước cách mạng dần bắt kịp và hòa nhập vào đời sống mới. Bên cạnh đó, các nhà thơ trẻ không ngừng tự khẳng định bằng sáng tác có giá trị. Những tác phẩm tiêu biểu thời kỳ này : Việt Bắc (Tố Hữu) ; Nhớ, Ðất nước (Nguyễn Ðình Thi) ; Bài ca vỡ đất, Bao giờ trở lại (Hoàng Trung Thông) ; Ðồng chí (Chính Hữu) ; Nhớ (Hồng Nguyên) ; Thăm lúa (Trần Hữu Thung) ; Ðêm nay Bác không ngủ (Minh Huệ) ; Dọn về làng (Nông Quốc Chấn) ; Nhớ máu (Trần Mai Ninh)….             - Một trong những thành tựu thơ ca kháng chiến nổi bật là sáng tác của Bác Hồ. Người làm thơ vừa để cổ vũ, động viên mọi tầng lớp nhân dân (Thơ tặng các cháu thiếu nhi, Khuyên thanh niên, Tặng các cụ du kích, Gửi nông dân), vừa nhằm thỏa mãn một phần nhu cầu đời sống tinh thần phong phú của mình (Cảnh rừng Việt Bắc, Cảnh khuya, Nguyên Tiêu, Báo tiệp, Thu dạ, Ðăng Sơn). Những sáng tác này góp phần làm nổi rõ ở Bác một tâm hồn nghệ sĩ hết sức tinh tế, nhạy cảm trước vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước và con người Việt Nam.              2) Về nội dung tư tưởng, thơ ca 1945-1954 luôn gắn bó chặt chẽ, phản ánh chân thực và sinh động hiện thực kháng chiến hoành tráng. Lần giở những trang thơ, có thể gặp lại bước đường của lịch sử. Khác với thơ lãng mạn trước đó, thơ ca kháng chiến phát triển trên nền hiện thực tâm trạng của nhân dân. Từ chỗ thơ Mới chỉ bộc lộc cái Ðẹp trong từng con người riêng lẻ, trường cảm xúc giờ đây được mở rộng ; phạm vi phản ánh cũng bao gồm từ nơi sâu kín tâm hồn người cho tới khoảng rộng bao la của cả đất nước, dân tộc.             - Các thi sĩ đã đưa được không khí thời đại mới mẻ, khỏe khoắn vào thơ. Khuynh hướng sử thi ngày càng nổi rõ. Thơ tập trung thể hiện tâm tình phơi phới tin yêu, lạc quan, tự tin, tự hào của người Việt Nam được giải phóng ; những ước mơ, khát vọng cháy bỏng ; những sắc thái tình cảm cao cả trong cuộc chiến đấu tuy gian khó nhưng vô cùng anh dũng.             - Cảm hứng thơ chủ yếu hướng ngoại, chú ý nhiều đến tình cảm công dân nên ít nói tới con người trong đời sống riêng tư. Tình yêu lứa đôi cũng như mọi cung bậc tình cảm khác đều được cảm nhận thông qua tình đồng chí. Do đó, trong khi mặt chói sáng của hiện thực được phản ánh sinh động thì chiều sâu đời sống, ở đó có nỗi buồn mất mát, chia lìa – chất bi tráng – lại chưa được quan tâm đúng mức. Tuy nhiên, sự phiến diện ở đây là tự giác và cần thiết. Hoàn cảnh lịch sử đòi hỏi mỗi cá nhân phải biết hi sinh cái riêng tư, vì vận mệnh đất nước. Thơ ca không thể đứng ngoài sự hi sinh vĩ đại ấy. Không có gì quí hơn độc lập tự do, các nhà thơ sẽ chẳng được ngợi ca nếu chỉ chuyên tâm sáng tác nhiều thơ mà để nước mất, dân nô lệ một lần nữa.             - Nhân vật trữ tình trong thơ kháng chiến nghĩ suy và hành động chủ yếu hướng về số phận tổ quốc. Các nhà thơ đặc biệt khơi gợi, đề cao tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý thức làm chủ và quyết tâm xả thân (Ðất nước  - Nguyễn Ðình Thi ; Bao giờ trở lại – Hoàng Trung Thông ; Bên kia sông Ðuống – Hoàng Cầm ; Ðôi mắt người Sơn Tây – Quang Dũng).             Tình yêu nước, trước hết, được thể hiện rất đậm nét qua tình cảm đối với những con người trong kháng chiến. Ðó là những con người vừa bình thường, chân chất vừa phi thường, chói sáng. Truyền thống cha ông và khí phách của giai cấp vô sản được kết tinh ở người anh hùng thời đại mới. Tiêu biểu hơn cả là hình ảnh người Vệ quốc quân. Tầm cao tư tưởng và chiều sâu tâm hồn của hình tượng người Việt Nam được tập trung làm nổi bật ở hai phương diện : phẩm chất cách mạng tốt đẹp và tình nghĩa quân dân thắm thiết.             Ðặc biệt, tình yêu nước còn được thể hiện đầy xúc động qua lòng kính yêu Chủ Tịch Hồ Chí Minh. Rất nhiều bài thơ hay về Bác : Hồ Chí Minh, Sáng tháng Năm (Tố Hữu) ; Ảnh cụ Hồ, Thơ dâng Bác (Xuân Diệu) ; Bộ đội ông Cụ (Nông Quốc Chấn); Ðêm nay Bác không ngủ (Minh Huệ). Tất cả góp phần xây lên hình tượng cao đẹp về lãnh tụ, đó là một con người tài năng kiệt xuất, có lòng nhân ái mênh mông và lối sống giản dị, khiêm tốn.              3) Nghệ thuật biểu hiện của thơ ca 1945-1954 cũng có những vận động, biến chuyển mới – trên cơ sở phát huy thành tựu của thời kỳ trước – để tương ứng với nội dung tư tưởng, tình cảm mới. Dưới ánh sáng của quan niệm nghệ thuật cách mạng, yêu cầu về tính đại chúng, tính dân tộc được đặc biệt chú trọng.             - Thể thơ ngày càng phong phú. Các thể thơ cổ (thất ngôn tứ tuyệt, bát cú, cổ phong) hiện diện bên cạnh những tìm tòi mới mẻ (thơ không vần, phá thể, hợp thể, tự do). Những thể truyền thống như lục bát, ngũ ngôn được sử dụng phổ biến.             - Hình tượng thơ, cảm hứng thơ không còn màu sắc yêng hùng, lãng mạn của những năm đầu kháng chiến ; trở nên gần gũi, bình dị, phù hợp với quan niệm về người anh hùng thời đại mới.             - Ngôn ngữ thơ chuyển dần từ tình trạng hoa mỹ, cầu kỳ, tượng trưng, ước lệ sang đời thường, tự nhiên, phong phú đến vô cùng. Lời ăn tiếng nói của quần chúng hàng ngày được chú ý vận dụng trong quan niệm thẩm mỹ mới mẻ.             ( Thơ ca kháng chiến chống Pháp đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ. Không ít tác phẩm sẽ bất tử với thời gian. Tuy nhiên, xét trên đại thể, vì là thời kỳ mở đầu của nền văn học mới, nên không thể tránh khỏi một số hạn chế nhất định. Cảm xúc rất tinh nhạy, mãnh liệt nhưng đôi khi lại chưa sâu, chưa chín ; thành ra thơ thường có sức vang xa, ít vọng sâu. Mặt khác, nhiệt tình công dân và cảm xúc nghệ thuật ở người nghệ sĩ không phải lúc nào cũng đạt đến độ hài hòa cần thiết.      2. Truyện ký :               1) Hiện thực cách mạng là mảnh đất màu mỡ, vô tận. Mẫu người lý tưởng của thời đại mới dần khẳng định trên khắp các lĩnh vực đời sống. Truyện ký có điều kiện tốt để phát triển, vạm vỡ hẳn lên với hai chặng cụ thể như sau :             - 1946-1948 : thời kỳ nhận đường. Văn nghệ sĩ đang trong quá trình vận động, giải quyết dứt khoát những ám ảnh cũ để đến với nhân dân, với kháng chiến. Sáng tác chủ yếu là ký : Nhật ký (Nguyễn Huy Tưởng) ; Ở rừng (Nam Cao) ; Một đêm vào tề, Tháp Rùa giữa rừng (Nguyễn Tuân). Một số truyện ngắn nổi bật : Làng (Kim Lân) ; Ðôi mắt (Nam Cao).             - 1949-1954 : thời kỳ được mùa, đánh dấu bằng nhiều tác phẩm đặc sắc, ở nhiều thể loại. Ký : Trận phố Ràng (Trần Ðăng) ; Voi đi (Siêu Hải) ; Ðường vui, Tình chiến dịch (Nguyễn Tuân) ; Ngược sông Thao (Tô Hoài) ; Ký sự Cao lạng (Nguyễn Huy Tưởng); Truyện ngắn : Thư nhà (Hồ Phương); Truyện Tây Bắc (Tô Hoài); Xây dựng (Nguyễn Khải) ;… Tiểu thuyết Xung kích (Nguyễn Ðình Thi) ;Vùng mỏ (Võ Huy Tâm) ; Con trâu (Nguyễn Văn Bổng);….              2) Truyện, ký thời kỳ này thể hiện một khuynh hướng tiếp cận, khám phá đời sống mới mẻ, cả ở bề rộng lẫn bề sâu.             - Những năm đầu sau cách mạng, nhiều vấn đề có tính thời sự được đặt ra:  sự đổi thay về quan niệm sống và sáng tác (Ngày đầy tuổi tôi cách mạng, Lột xác – Nguyễn Tuân) ; cuộc đấu tranh giằng co giữa hai khuynh hướng cũ – mới trong việc nhận đường (Ðôi mắt – Nam Cao). Một số tác phẩm trở lại với đề tài xã hội tăm tối trước 1945, nhằm đánh tan ảo tưởng vào trật tự cuộc sống cũ và giáo dục lòng yêu mến chế độ mới (Lò lửa và địa ngục – Nguyên Hồng ; Mò sâm banh – Nam Cao; Vợ nhặt – Kim Lân ; Truyện Tây Bắc – Tô Hoài). Càng về sau, đề tài của văn xuôi càng phong phú hơn, bao quát hầu hết các vấn đề nổi cộm của đời sống : chiến đấu và sản xuất, phản đế và phản phong, tiền tuyến và hậu phương, nỗi đau mất mát và niềm vui chiến thắng,…             - Cuộc sống chiến đấu, nổi bật lên hình tượng người lính cụ Hồ là mảng đề tài tập trung nhiều tâm huyết của các nhà văn. Vẻ đẹp chân chính toát ra từ hình tượng là chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng. (Một lần tới thủ đô, Trận phố Ràng, Một cuộc chuẩn bị – Trần Ðăng; Ðường vui, Tình chiến dịch - Nguyễn Tuân; Ký sự Cao Lạng – Nguyễn Huy Tưởng ; Xung kích – Nguyễn Ðình Thi ; Thư nhà – Hồ Phương).             - Nông thôn và người nông dân kháng chiến được phản ánh trong tầm tư tưởng mới, vừa truyền thống vừa hiện đại. Con người mới trong sản xuất, xây dựng được chú ý phát hiện và đề cao (Làng – Kim Lân ; Con trâu – Nguyễn Văn Bổng).             - Hình tượng con người mới trong văn xuôi 1945-1954 có những đặc điểm khá nổi bật. Lần đầu tiên trong văn học, lớp lớp con người bình thường, chân chất xuất thân từ nhiều tầng lớp khác nhau (trí thức, nông dân, công nhân) được xây dựng thành nhân vật trung tâm. Họ tượng trưng cho sự quật khởi đầy ý thức của giai cấp và tiêu biểu cho sức mạnh, vẻ đẹp của dân tộc, thời đại. Thông qua hình tượng đám đông, văn học làm rõ những nét tính cách, tâm lý chung rất dân tộc và cách mạng : thủy chung tình nghĩa không chỉ với gia đình, người thân, làng xóm mà cả với đất nước, quê hương ; không chỉ yêu nước, căm thù giặc trên cơ sở tình dân tộc, nghĩa đồng bào mà còn mở rộng đến ý thức vô sản ở tầm quốc tế.             Mối quan hệ giữa con người và hoàn cảnh đã khác trước. Con người không còn là nạn nhân đáng thương hoặc phản kháng tự phát trước hoàn cảnh mà đã xuất hiện trong tư thế chủ nhân chân chính, giác ngộ ngày càng sâu sắc, tự giải phóng mình và góp phần giải phóng dân tộc, giai cấp (Xung kích, Vùng mỏ, Con trâu, Truyện Tây Bắc).             3) Thể loại của văn xuôi cũng có những phát triển đáng ghi nhận. Nếu trong mấy năm đầu, ký và truyện ngắn chiếm ưu thế, thì dần về sau, xuất hiện những thể loại dài hơi hơn như truyện vừa, tiểu thuyết. Theo đó, khả năng bao quát hiện thực – biểu hiện sự trưởng thành của văn xuôi kháng chiến – được khẳng định.  IV. PHẦN KẾT LUẬN :             Văn học Việt Nam 1945-1954 đã phát triển mạnh mẽ và độc đáo theo cách riêng, với phẩm chất mới về nội dung và hình thức. Văn học thực sự trở thành món ăn tinh thần, vừa thể hiện khát vọng độc lập, tự do cháy bỏng vừa bồi đắp thêm niềm tin cho quần chúng cách mạng.             Trong quá trình phát triển, văn học có sự kết hợp hài hòa giữa phổ cập và nâng cao, giữa truyền thống và sáng tạo. Hình tượng nghệ thuật ngày càng phù hợp với cuộc sống chứng tỏ tính ưu việt của phương pháp sáng tác mới. Văn học vận động theo hướng dân tộc hóa, đại chúng hóa.             Năm tháng qua đi với nhiều biến động lịch sử ảnh hưởng tới đời sống văn học nhưng, cho đến nay và chắc chắn nhiều năm nữa về sau, thơ văn kháng chiến chống Pháp vẫn còn vang vọng sâu xa trong tâm hồn chúng ta. Bằng những hình tượng nghệ thuật sinh động, văn học đã góp phần đắc lực vào sự nghiệp chung ; giáo dục tinh thần yêu nước và động viên ý chí chiến đấu, bảo vệ tổ quốc. Trong ý nghĩa của bước khởi đầu, giai đoạn 1945-1954  đặt  được nền móng vững chắc, đảm bảo sự phát triển rực rỡ của văn học cách mạng những năm về sau. loigiaihay.com   Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học. Môn Toán Môn Vật Lý Môn Hoá Học Click Học thử Click Học thử CLick Học thử Môn Văn Môn Sinh Môn Anh Click Học thử Click Học thử Click Học thử
Xem thêm

8 Đọc thêm

Hoạt động của Nhà văn hóa quận Tây Hồ thực trạng và giải pháp

Hoạt động của Nhà văn hóa quận Tây Hồ thực trạng và giải pháp

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT MỞ ĐẦU 1 1. Lý do chọn đề tài 1 2. Tình hình nghiên cứu 2 3. Mục tiêu và nhiệm vụ 4 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4 5. Phương pháp nghiên cứu 4 6. Cái mới của đề tài 4 7. Nội dung của đề tài 5 Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHÀ VĂN HÓA VÀ NHỮNG KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ VĂN HÓA QUẬN TÂY HỒ 6 1.1. Một số vấn đề lý luận về Nhà văn hoá 6 1.1.1. Khái niệm về thiết chế và thiết chế xã hội 6 1.1.1.1. Thiết chế 6 1.1.1.2. Khái niệm thiết chế xã hội 7 1.1.2. Khái niệm thiết chế văn hóa 7 1.1.3. Nhà văn hóa 8 1.1.3.1. Khái niệm 8 1.1.3.2. Đặc điểm, chức năng và nhiệm vụ hoạt động của Nhà văn hoá 8 1.1.4. Vai trò của thiết chế văn hóa trong đời sống cộng đồng 11 1.2. Khái quát về quận Tây hồ 12 1.2.1. Khái quát chung về truyền thống lịch sử văn hóa quận Tây Hồ 12 1.2.2. Tình hình kinh tế xã hội của Quận Tây Hồ 14 Chương 2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA NHÀ VĂN HÓA QUẬN TÂY HỒ 19 2.1. Khái quát về Nhà văn hóa quận Tây Hồ 19 2.1.1. Sơ lược quá trình hình thành Nhà văn hoá quận Tây Hồ 19 2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn tổ chức của Nhà văn hóa quận Tây Hồ. 20 2.2. Cơ cấu tổ chức và quy chế làm việc của Nhà văn hóa quận Tây Hồ 22 2.2.1. Cơ cấu tổ chức 22 2.2.2. Quy chế làm việc 22 2.2.2.1. Giám đốc 22 2.2.2.2. Phó Giám đốc 23 2.2.2.3. Tổ trưởng, tổ phó 24 2.2.2.4. Cán bộ phụ trách Thông tin cổ động 25 2.2.2.5. Cán bộ phụ trách công tác Văn hóa, văn nghệ quần chúng 25 2.2.2.6. Cán bộ phụ trách công tác Thư viện 25 2.2.2.7. Cán bộ thuộc tổ Hành chính Quản trị Dịch vụ 25 2.2.2.8. Cán bộ phụ trách công tác tuyển sinh 25 2.2.2.9. Nhân viên bảo vệ 26 2.3. Kết quả hoạt động của Nhà văn hóa quận Tây Hồ 26 2.3.1. Hoạt động văn nghệ quần chúng, câu lạc bộ 26 2.3.2. Hoạt động Thể dục thể thao, vui chơi giải trí 28 2.3.3. Hoạt động tuyên truyền cổ động 29 2.3.4. Hoạt động Thư viện 31 2.3.5. Hoạt động mở các lớp năng khiếu 33 2.3.6. Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở 34 2.4. Đánh giá kết quả hoạt động của Nhà văn hoá quận Tây Hồ 37 Chương 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CỦA NHÀ VĂN HÓA QUẬN TÂY HỒ THÀNH PHỐ HÀ NỘI 42 3.1. Phương hướng và nhiệm vụ 42 3.1.1. Phương hướng 42 3.1.2. Nhiệm vụ 49 3.2. Những biện pháp cụ thể 51 3.2.1. Nâng cao nhận thức về vai trò của hoạt động của Nhà văn hóa Quận Tây Hồ 51 3.2.2. Xây dựng, củng cố và hoàn thiện mạng lưới quản lý ngành văn hóa từ quận tới cơ sở 53 3.2.3. Công tác đào tạo và sử dụng cán bộ 54 3.2.5. Đầu tư kinh phí và cơ sở vật chất kỹ thuật cho Nhà văn hóa 56 3.2.6. Đẩy mạnh hoạt động xã hội hóa trên lĩnh vực văn hóa của Quận 58 3.5. Khuyến nghị 60 KẾT LUẬN 63 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 65 PHẦN PHỤ LỤC 69
Xem thêm

Đọc thêm

PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THỦY SẢN KHU VỰC I

PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THỦY SẢN KHU VỰC I

3.1 Định hướng phát triển công ty trong thời gian tới. Trên cơ sở những kết quả đạt được năm 2008, căn cứ vào nhiệm vụ, kế hoạch sản xuất kinh doanh năm 2009 của công ty cổ phần thủy sản khu vực I đã đề ra một số mục tiêu phấn đấu, định hướng phát triển của công ty trong thời gian tới như sau: 1Mục tiêu chung Phát huy hiệu quả đầu tư, khai thác và sử dụng triệt để năng lực sản xuất, đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh với mức tăng trưởng bình quân từ 10% => 20%. 2Chỉ tiêu cụ thể về sản xuất kinh doanh năm 2009 Tổng doanh thu : 25 tỷ đồng Giá vốn hàng bán : 19 tỷ đồng Lợi nhuận sau thuế : 1,2 tỷ đồng Thu nhập bình quân : 3.000.000 đồng người 3 Chăm lo đời sống cán bộ CNV Không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho CBCNV, tổ chức thi nâng bậc cho công nhân, tổ chức khám sức khoẻ định kỳ cho 100% CBCNV, duy trì và nâng cao chất lượng bữa ăn giữa ca đảm bảo đủ định lượng. Tổ chức cho 10% đi thăm quan học tập trong nước và nước ngoài. Tổ chức tốt các đợt thi đua, phong trào luyện tay nghề thành thợ giỏi, phong trào phát huy sáng kiến cải tiến, thực hành tiết kiệm, duy trì và phát huy thành tích trong phong trào văn hoá, văn nghệ thể dục – thể thao. Thực hiện tốt qui chế dân chủ, duy trì lịch tiếp dân hàng tuần, lắng nghe ý kiến của CBCNV, thực hiện đầy đủ nội dung thoả ước lao động tập thể, nội qui, qui chế của công ty, đảm bảo công bằng, công khai và khuyến khích người lao động gắn bó lâu dài với công ty.
Xem thêm

76 Đọc thêm

DỰ THẢO BÁO CÁO THÀNH TÍCH XÃ CAO TRĨ

DỰ THẢO BÁO CÁO THÀNH TÍCH XÃ CAO TRĨ

người cao tuổi; và Thành lập đoàn tham gia hội xuân Ba Bể, kết quả chấm trạixuân đạt giải ba, tham gia các tiết mục văn nghệ, đạt 01 giải A và 01 giải C; thamgia giải chạy việt dã do huyện tổ chức kết quả đạt giải nhì toàn đoàn và 03 giảikhuyến khích cá nhân; Xây dựng kế hoạch tuyên truyền cuộc bầu cử ĐBQH khóaXIV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021…* Công tác Tư pháp - Hộ tịch: Thực hiện các thủ tục Đăng ký khai sinh, khaitử, chứng thực… đúng quy định của pháp luật. Hoạt động của các tổ hòa giải cơ sởđược duy trì, khi có sự thay đổi nhân sự được kiện toàn bổ sung kịp thời, số lượng08 tổ hòa giải gồm 54 hòa giải việc.* Công tác quốc phòng, an ninh:6- Duy trì nghiêm các chế độ trực SSCĐ, đảm bảo an toàn cho cơ quan, đơnvị và nhân dân luôn làm tốt chức năng tham mưu cho cấp ủy Đảng, Chính quyềnxã về công tác lãnh đạo, chỉ đạo trên các mặt công tác QP-QSĐP, tổ chức lễ tiễnđưa thanh niên lên đường nhập ngũ đạt 100% chỉ tiêu huyện giao, tổ chức huấnluyện lực lượng dân quân năm 2016, kết quả đánh giá đơn vị đạt loại khá, tổ chứcthành công cuộc diễn tập phòng cháy chữa cháy rừng năm 2016 kết quả đạt loạikhá, tổ chức rà soát khám tuyển nghĩa vụ quân sự năm 2017 đạt chỉ tiêu huyệngiao, tổ chức mở lớp bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho đối tượng 4b.Tình hình an ninh chính trị trật tự ATXH trên địa bàn luôn được đảm bảo giữvững và ổn định, chưa phát hiện các hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộctrên địa bàn xã, triển khai thực hiện Chỉ thị số 09-CT/TU của Ban Bí thư Trungương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với phong trào toàn dân bảo vệANTQ trong tình hình mới. Người dân luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng,quản lý điều hành của chính quyền.Kết quả bình xét cuối năm 2016:- 100% Cán bộ, công chức hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Xem thêm

Đọc thêm

PHÂN TÍCH VAI TRÒ CỦA ĐOÀN KẾT DÂN TỘC THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH. LIÊN HỆ VỚI TÌNH HÌNH ĐOÀN KẾT HIỆN NAY CỦA DÂN TỘC TA.

PHÂN TÍCH VAI TRÒ CỦA ĐOÀN KẾT DÂN TỘC THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH. LIÊN HỆ VỚI TÌNH HÌNH ĐOÀN KẾT HIỆN NAY CỦA DÂN TỘC TA.

1.Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc:1.1.Truyền thống yêu nước, nhân ái, tinh thần cố kết cộng đồng của dân tộc Việt Nam:1.2.Quan điểm của chủ nghĩa MácLênin coi cách mạng là sự nghiệp của quần chúng:1.3.Tổng kết những kinh nghiệm thành công và thất bại của các phong trào cách mạng Việt Nam và thế giới:

19 Đọc thêm

SKKN TỔNG HỢP MỘT SỐ KIẾN THỨC CƠ BẢN THEO VẤN ĐỀ TRONG BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1930 1945

SKKN TỔNG HỢP MỘT SỐ KIẾN THỨC CƠ BẢN THEO VẤN ĐỀ TRONG BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1930 1945

Dương, làm cho nhân dân Đông Dương phải chịu hai tầng áp bức. Mâu thuẫn giữatoàn thể dân tộc Việt Nam với đế quốc xâm lược và tay sai phát triển vô cùng gaygắt. Nhiệm vụ giải phóng dân tộc được đặt ra cấp thiết. Trước tình hình đó, Hộinghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 11/1939 vàHội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 5/1941) đã có nhữngchủ trương chuyển hướng quan trọng, giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc,chuẩn bị về lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, căn cứ địa cách mạng, tập dượtcho quần chúng đấu tranh thông qua cao trào kháng Nhật cứu nước để rồi đếntháng Tám năm 1945, khi thời cơ xuất hiện Đảng đã kịp thời chớp lấy thời cơ phátđộng nhân dân tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Cách mạng thángTám thành công có một ý nghĩa lịch sử to lớn: Mở ra bước ngoặt lớn trong lịchsử dân tộc, phá tan xiềng xích nô lệ của Pháp hơn 80 năm và Nhật gần 5 năm,chấm dứt chế độ phong kiến, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.Mở đầu kỉ nguyên mới của dân tộc: kỉ nguyên độc lập, tự do, kỉ nguyên nhân dânnắm chính quyền, làm chủ đất nước. Đảng Cộng sản Đông Dương từ chỗ phải5Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2015-2016Giáo viên: Hoàng Văn TâmTổng hợp một số kiến thức cơ bản theo vấn đề trong bồi dưỡng học sinh giỏiphần Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930-1945hoạt động bí mật, bất hợp pháp, trở thành một Đảng cầm quyền và hoạt động côngkhai. Nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ, bước lên địa vị người làm chủ đấtnước. Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã góp phần vào thắnglợi của cuộc chiến tranh chống chủ nghĩa phát xít; chọc thủng hệ thống thuộc địacủa chủ nghĩa đế quốc. Cổ vũ các dân tộc thuộc địa trong cuộc đấu tranhtự giải phóng; có ảnh hưởng trực tiếp đến cách mạng Lào và Campuchia. Cách
Xem thêm

35 Đọc thêm

4 SỰ LÃNH đạo, CỦA TRUNG ƯƠNG đối VỚI PHONG TRÀO đấu TRANH ở CÁC TỈNH TRUNG KỲ TRONG CAO TRÀO CÁCH MẠNG 1930 1931

4 SỰ LÃNH đạo, CỦA TRUNG ƯƠNG đối VỚI PHONG TRÀO đấu TRANH ở CÁC TỈNH TRUNG KỲ TRONG CAO TRÀO CÁCH MẠNG 1930 1931

SỰ LÃNH ĐẠO, CHỈ ĐẠO CỦA TRUNG ƯƠNG ĐẢNG ĐỐI VỚI PHONG TRÀO ĐẤU TRANH Ở CÁC TỈNH TRUNG KỲ TRONG CAO TRÀO CÁCH MẠNG 1930 1931 PGS. TS Nguyễn Trọng Phúc Trung Kỳ là địa bàn có truyền thống yêu nước và cách mạng nổi bật. Khi thực dân Pháp đánh Đà Nẵng 191858 nhân dân đã anh dũng chiến đấu mở đầu quá trình chống sự xâm lược của thực dân Phương Tây vô cùng oanh liệt. Những năm cuối thế kỷ XIX phong trào Cần Vương chống Pháp do Vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết lãnh đạo phát triển mạnh mẽ ở Trung Kỳ và lan ra cả nước. Phong trào yêu nước chống Pháp diễn ra ở Trung Kỳ sôi nổi ở Trung Kỳ những năm đầu thế kỷ XX từ phong trào Đông Du của Phan Bội Châu đến phong trào cải cách của Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, phong trào chống thuế, khởi nghĩa Duy Tân 1916... Đó không chỉ là sự biểu thị tinh thần yêu nước, khí phách của nhân dân Trung Kỳ mà còn tạo tiền đề, cơ sở xã hội và chính trị vô cùng quan trọng để phong trào yêu nước và cách mạng ở Trung Kỳ phát triển theo một hướng đi mới. Từ đầu những năm 20 của thế kỷ XX, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc người đảng viên cộng sản đầu tiên (121920) đã truyền bá chủ nghĩa Mác Lênin và phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, chuẩn bị những điều kiện cần thiết về tư tưởng, lý luận, về cương lĩnh, đường lối chính trị và về tổ chức, cán bộ cho việc thành lập một Đảng cách mạng chân chính Đảng Cộng sản, đủ sức lãnh đạo phong trào yêu nước và cách mạng đấu tranh giành độc lập thật sự và phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Các tỉnh thuộc địa bàn Trung Kỳ đã nhanh chóng tiếp nhận tư tưởng cách mạng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Đầu những năm 20 ở Trung Kỳ đã có nhiều thanh niên đón nhận hướng đi mới của phong trào yêu nước, cách mạng. Tháng 111924 lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu (Trung Quốc) vừa thực hiện trách nhiệm quốc tế, vừa thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo phong trào yêu nước và cách mạng của dân tộc Việt Nam. Tại đây, Nguyễn Ái Quốc đã gặp gỡ và giác ngộ nhiều thanh niên yêu nước từ trong nước sang trong đó có nhiều người ở Trung Kỳ. Tháng 61925 Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sau đó, kỳ bộ Trung Kỳ của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên được thành lập gồm các đồng chí: Nguyễn Sĩ Sách, Nguyễn Thiệu, Trương Quang Trung, Võ Mai. Tỉnh bộ Hội Việt Nam cách mạng thanh niên cũng lần lượt ra đời ở các tỉnh Trung Kỳ và chỉ đạo tới các chi bộ của Hội. Đó là nền tảng tổ chức rất vững chắc để phong trào yêu nước và cách mạng ở các tỉnh Trung Kỳ phát triển mạnh mẽ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Cùng với sự phát triển của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, ở Trung Kỳ còn sớm ra đời một tổ chức yêu nước và cách mạng và cũng trở thành một tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội Phục Việt được thành lập tháng 71925 với những người khởi xướng là Tôn Quang Phiệt, Trần Mộng Bạch, Nguyễn Sĩ Sách, Lê Văn Huân... Đầu năm 1926 Hội Phục Việt đổi tên thành Hội Hưng Nam. Tháng 61926 đổi thành Việt Nam tiến bộ dân hội rồi Việt Nam cách mạng Đảng. Đầu năm 1927 đổi thành Việt Nam cách mạng đồng chí hội. Ngày 1471928 đổi thành Tân Việt cách mạng Đảng. Tháng 91929 Tân Việt cách mạng Đảng ra tuyên đạt về việc thành lập Đông Dương cộng sản Liên đoàn. Và Đông Đương cộng sản Liên đoàn đã chính thức thành lập ngày 111930. Cần nhấn mạnh rằng, Tân Việt cách mạng Đảng đã sớm mong muốn hợp nhất với Hội Việt Nam cách mạng thanh niên do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập. Xu hướng tư tưởng, lý luận và đường lối, chính trị căn bản theo tư tưởng, quan điểm của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Nhiều thành viên của Tân Việt Cách mạng Đảng đã chuyển hẳn sang lập trường cộng sản trong đó có Trần Phú, Nguyễn Khoa Văn (Hải Triều), Phan Đăng Lưu, Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Nguyên Giáp... Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (321930), hệ thống tổ chức đảng ở Trung Kỳ tiếp tục được củng cố và phát triển. Nó tiếp tục được củng cố và phát triển vì trước đó, các tổ chức của Đông Dương cộng sản Đảng, của Đông Dương Cộng sản Liên đoàn đã được xây dựng. Tháng 31930 đồng chí Nguyễn Phong Sắc được phân công trực tiếp xây dựng tổ chức Đảng và lãnh đạo phong trào cách mạng ở Trung Kỳ. Đảng Cộng sản Việt Nam vừa mới ra đời đã phát động và lãnh đạo một cao trào cách mạng rộng lớn những năm 19301931 trên phạm vi cả nước. Phong trào nông dân diễn ra sôi nổi khắp ở Nam Kỳ, Trung Kỳ và một phần ở Bắc Kỳ. Phong trào công nhân cũng phát triển mạnh mẽ, nhất là ở Trung Kỳ (Vinh Bến Thủy). Phong trào cách mạng ở các tỉnh Trung Kỳ phát triển với những khu vực trọng điểm như: Nghệ An, Hà Tĩnh; Thừa Thiên Huế, Quảng Trị và Quảng Nam, Quảng Ngãi. Nếu ở Nghệ An, Hà Tĩnh phong trào phát triển tới đỉnh cao thành lập chính quyền cách mạng ở địa phương, cơ sở (Xô viết Nghệ Tĩnh) thì ở Quảng Ngãi có cuộc đấu tranh của nhân dân chiếm huyện đường huyện Đức Phổ ngày 8101930. Phong trào cách mạng những năm 19301931 ở các tỉnh Trung Kỳ phát triển mạnh, trước hết vì ở đó sớm có tổ chức đảng. Tháng 21930 đã thành lập Tỉnh ủy lâm thời tỉnh Khánh Hòa. Cuối tháng 31930 đã lập được Tỉnh ủy lâm thời tỉnh Hà Tĩnh. Tháng 41930 đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Thừa Thiên được thành lập. Tháng 31930, Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi thành lập, do đồng chí Nguyễn Nghiêm là Bí thư tỉnh ủy. Ngày 2831930 thành lập Tỉnh ủy Quảng Nam. Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa được thành lập tháng 71930. Ngày 5101930, Chi bộ Cộng sản đầu tiên ra đời ở Phú Yên. Tổ chức Đảng và vai trò của đảng viên ở địa phương và cơ sở hết sức quan trọng để lãnh đạo và chỉ đạo, tổ chức phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân. Sự lãnh đạo của Trung ương Đảng đối với phong trào đấu tranh ở các tỉnh Trung Kỳ trước hết thông qua việc đưa Cương lĩnh, đường lối của Đảng vào thực tiễn phong trào. Cương lĩnh của Đảng được Hội nghị thành lập Đảng thông qua đã xác định rõ mục tiêu làm cho nước Nam hoàn toàn độc lập, tiến tới xã hội cộng sản. Thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và tiến hành thổ địa cách mạng giành ruộng đất cho dân cày. Phải tập hợp đoàn kết lực lượng toàn dân tộc với mọi tầng lớp, giai cấp, mà lực lượng cơ bản là công nhân và nông dân. Phong trào cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo nhằm đánh đổ ách thống trị của đế quốc, phong kiến tay sai, thành lập chính quyền cách mạng kiểu Xô viết công nông binh. Chính quyền cách mạng thực hiện các quyền tự do dân chủ. Những vấn đề cơ bản trong Cương lĩnh, đường lối của Đảng đã định hướng, thúc đẩy phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân nhằm vào thực hiện những mục tiêu cơ bản, lâu dài, đồng thời mang lại những nhu cầu cụ thể, thiết thực. Vì vậy, với Cương lĩnh, đường lối đúng đắn, phù hợp với lợi ích của toàn dân tộc, của mọi tầng lớp nhân dân Đảng đã nhanh chóng tập hợp được lực lượng và với phương pháp đấu tranh thích hợp đã tạo nên phong trào rộng lớn chưa từng có với quy mô và sức mạnh hơn hẳn các phong trào yêu nước trước đó. Ở các tỉnh Trung Kỳ, nhân dân phải sống trong điều kiện khó khăn về mọi mặt, lại chịu sự thống trị, áp bức nặng nề của chính quyền thuộc địa tàn bạo và chính quyền phong kiến tay sai phản động. Vì vậy, phong trào cách mạng do Đảng lãnh đạo ngay từ đầu đã diễn ra mạnh mẽ, quyết liệt. Phong trào quần chúng quyết tâm thực hiện Cương lĩnh, đường lối của Đảng để mang lại những lợi ích thiết thực cho chính mình. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và các nhà lãnh đạo tiền bối đã sớm phân tích đánh giá vị trí và tinh thần cách mạng của nhân dân các tỉnh Trung Kỳ và chú trọng gây dựng phong trào và đào tạo cán bộ cho phong trào cách mạng ở Trung Kỳ. Ngay sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, Trung ương đã chỉ đạo thành lập Địa bộ phận Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ở Trung Kỳ. Tháng 31930, đồng chí Nguyễn Phong Sắc với tư cách ủy viên Trung ương Đảng đã triệu tập kỳ bộ Đông Dương cộng sản Đảng ở Trung Kỳ và đại biểu Đông Dương Cộng sản Liên đoàn họp ở Vinh (Nghệ An) để thành lập phân cục Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ở Trung Kỳ để thống nhất về tổ chức và chỉ đạo thực hiện Cương lĩnh, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam. Phân cục Trung ương Trung Kỳ gồm đồng chí Nguyễn Phong Sắc, Lê Mao, Lê Viết Thuật do Nguyễn Phong Sắc làm Bí thư. Từ sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất đó, mà hệ thống tổ chức đảng ở Trung Kỳ ngày càng phát triển, lãnh đạo thúc đẩy phong trào cách mạng. Những tháng cuối năm 1930, ở Trung Kỳ liên tiếp nổ ra các cuộc biểu tình lớn. Đó là các cuộc mít tinh có quy môi lớn của nông dân Nam Đàn (Nghệ An) ngày 308, cuộc đấu tranh của nông dân Thanh Chương (Nghệ An) 19, biểu tình của nông dân Hưng Nguyên (Nghệ An) 129, biểu tình của nông dân Đức Phổ (Quảng Ngãi) 8101930. Các cuộc biểu tình, đấu tranh đó đã làm tan rã chính quyền địch ở huyện và cơ sở và hình thành chính quyền cách mạng. Chính quyền cách mạng do chính nhân dân tự tổ chức và xây dựng, thực hiện lợi ích của nhân dân. Lần đầu tiên xuất hiện chính quyền của dân, do dân và vì dân. Phong trào cách mạng ở các tỉnh Trung Kỳ phát triển mạnh đặt ra những vấn đề mới trong lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn của Đảng. Tháng 91930 Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã có chỉ đạo gửi Chấp ủy Trung Kỳ. Chỉ thị nêu rõ: Ở Thanh Chương, Nam Đàn bây giờ, chấp ủy thế là đã chủ trương bạo động rồi (lập Xô viết, chia đất...) chủ động như thế thì chưa đúng hoàn cảnh vì trình độ dự bị của Đảng và quần chúng trong nước chưa đủ, vũ trang bạo động cũng chưa có bạo động riêng lẻ trong vài địa phương trong lúc bây giờ là quá sớm, là manh động (putschisme) . Rõ ràng là chủ trương bạo động, lập chính quyền là chưa đủ điều kiện, chưa đúng thời cơ. Nhưng, Trung ương Đảng đã hết sức cổ vũ và có sự chỉ đạo cụ thể đối với Chấp ủy Trung Kỳ. Song việc đã như vậy rồi, thì bây giờ là phải làm cách thế nào mà duy trì kiên cố ảnh hưởng của Đảng, của Xô Viết trong quần chúng để đến khi thất bại thì ý nghĩa Xô Viết ăn sâu vào trong óc quần chúng và lực lượng của Đảng và nông hội vẫn duy trì . Trung ương đã có ý kiến chỉ đạo cụ thể cho Chấp ủy Trung Kỳ về kế hoạch và cách thức tổ chức biểu tình của quần chúng, vấn đề tịch thu ruộng đất của địa chủ chia cho nông dân nghèo, vấn đề củng cố chính quyền Xô Viết, nêu cao danh nghĩa Xô viết, vấn đề huấn luyện quân sự cho quần chúng, và vấn đề xây dựng, củng cố tổ chức đảng ở cấp huyện và cơ sở, chú trọng tổ chức đảng hoạt động bí mật. Sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng đối với Trung Kỳ là rất kịp thời, vừa quán triệt những vấn đề cơ bản, trọng yếu của cách mạng, vừa cụ thể về hình thức tổ chức và cách thức đấu tranh, khắc phục những biểu hiện chủ quan không sát với hoàn cảnh lịch sử. Trung ương Đảng, cũng đã ra Tuyên bố về việc bảo vệ Nghệ An đỏ chống khủng bố trắng, kêu gọi toàn Đảng và cả nước noi gương đấu tranh anh dũng ở Nghệ An, Hà Tĩnh và các tỉnh Trung Kỳ đồng thời có hành động thiết thực ủng hộ, bảo vệ phong trào cách mạng ở Nghệ Tĩnh và Trung Kỳ, giữ gìn quê hương, chống địch khủng bố. Trong báo cáo của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc gửi Quốc tế Cộng sản ngày 2091930 về phong trào cách mạng ở Đông Dương đã nêu rõ từ ngày 0151930 đến tháng 81930 ở Trung Kỳ có 7 cuộc bãi công của công nhân và 20 cuộc biểu tình của nông dân. Trung ương Đảng luôn luôn theo sát và chỉ đạo phong trào cách mạng ở Trung Kỳ. Trong chỉ thị của chính quyền Thường vụ Về vấn đề thành lập Hội Phản đế đồng minh ngày 18111930 đã đánh giá: Ở Trung Kỳ thì Nghệ Tĩnh đã thành một cao trào cách mạng đỏ, mà trong các tầng lớp trên đã phân hóa, có một tụi đã ôm chân đế quốc chặt chẽ phản lại dân tộc, ra làm bang tá, đoàn dũng để giết hại phong trào. Tuy vậy không nhiều, mà ngược lại các tầng lớp trí thức và một số sĩ phu, một số trung tiểu địa chủ lại có xu hướng cách mạng rõ ràng. Qua khủng bố trắng dữ dội, họ vẫn cố gắng bám lấy cách mạng và âm thầm ủng hộ cách mạng nhất là tiểu địa chủ và phú nông, trung nông hạng trên. Một số nhà nhà nho bần hàn cũng cảm tỉnh với cách mạng. Rồi tới Quảng Ngãi, tuy phong trào chưa bằng Nghệ Tĩnh, nhưng nó vẫn là mạnh nhất trong phía Nam Trung Kỳ . Như vậy, cho đến tháng 111930, với sự nỗ lực của các tổ chức Đảng, và nhân dân các địa phương, được sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, phong trào cách mạng Nghệ Tĩnh mạnh nhất ở Bắc Trung Kỳ còn phong trào cách mạng ở Quảng Ngãi mạnh nhất ở phía Nam Trung Kỳ. Cuộc biểu tình của nông dân huyện Đức Phổ (810) và của nông dân huyện Sơn Tịnh (Quảng Ngãi) ngày 31101930 đã là cơ sở cho sự đánh giá của Trung ương Đảng đối với phong trào cách mạng ở Quảng Ngãi. Hội nghị cán bộ Xứ ủy Trung Kỳ họp từ ngày 22 đến ngày 27121930 đã đánh giá những mặt mạnh và những nhược điểm của phong trào cách mạng Trung Kỳ, bàn biện pháp chỉ đạo phong trào chống địch khủng bố trắng. Đầu năm 1930 nhất là từ tháng 1 đến tháng 5, phong trào nông dân tỉnh Quảng Ngãi phát triển mạnh mẽ chống đế quốc Pháp và tay sai. Đó là những cuộc đấu tranh của nông dân vùng đông Tư Nghĩa (1511931), tây Tư Nghĩa và bắc đông bắc Sơn Tịnh (171), phong trào ở Bình Sơn (281), Trà Bồng (301) và Mộ Đức từ 29 đến 3111931. Phong trào cách mạng ở Trung Kỳ không những đặt ra những vấn đề trong lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng mà còn là sự quan tâm của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từ nước ngoài. Từ tháng 91930 đến tháng 21931 Nguyễn Ái Quốc đã nhiều lần có báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản về phong trào cách mạng Đông Dương và cổ vũ phong trào cách mạng, nhất là phong trào cách mạng của công nhân và nông dân ở các tỉnh Trung Kỳ. Người cũng tố cáo mạnh mẽ sự khủng bố tàn bạo của đế quốc Pháp ở Trung Kỳ, Bắc Kỳ và tranh thủ sự ủng hộ của Quốc tế Cộng sản và cách mạng các nước. Luận cương chính trị của Đảng được thông qua tại Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng (14 đến 31101930) và Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ hai (133 đến 141931), tiếp tục định hướng phát triển phong trào cách mạng cả nước và phong trào cách mạng ở Trung Kỳ. Từ ngày 22 đến 2941931, Xứ ủy Trung Kỳ đã họp mở rộng dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Phong Sắc. Quán triệt đường lối của Trung ương Đảng, Xứ ủy Trung Kỳ chủ trương tiếp tục đoàn kết các lực lượng cách mạng kiên trì lãnh đạo phong trào đấu tranh của quần chúng; tăng cường xây dựng Đảng, củng cố Đảng về tư tưởng và tổ chức. Sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng đối với Trung Kỳ là toàn diện cả về tư tưởng, đường lối chính trị và tổ chức, cán bộ. Điều hết sức quan trọng là sự chỉ đạo của Trung ương về xây dựng hệ thống tổ chức Đảng ở Xứ và các tỉnh, huyện, cơ sở. Ngày 2051931, Trung ương Đảng đã ra chỉ thị gửi Xứ ủy Trung Kỳ về vấn đề thanh đảng ở Trung Kỳ. Chủ trương thanh Đảng của Xứ ủy Trung Kỳ là sai lầm tả khuynh không phù hợp thực tế và Trung ương đã kịp thời uốn nắn. Chỉ thị của Trung ương nêu rõ: Xứ ủy Trung Kỳ, nhất là đồng chí Bí thư, ra chỉ thị thanh Đảng viết rõ từng chữ: Thanh trừ trí phú địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ, như vậy thì gốc đâu mà đào xem rễ ở đâu mà trốc, quả là một ý nghĩ mơ hồ, một chỉ thị, võ đoán và là một lối hành động quàng xiên chi tướng . Vấn đề thanh Đảng ở Trung Kỳ đã được tự chỉ trích nghiêm túc. Mặc dù hoạt động ở nước ngoài, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc vẫn chỉ đạo đối với Trung ương và phong trào cách mạng trong nước trong đó có phong trào ở các tỉnh Trung Kỳ. Ngày 2041931 Nguyễn Ái Quốc có thư gửi Ban chấp hành Trung ương Đảng. Người có ý kiến trên nhiều vấn đề đã được bàn thảo trong các Hội nghị Xứ ủy Trung Kỳ và Bắc Kỳ như về: Cách thảo luận, vấn đề công tác, vấn đề tên Đảng, lực lượng của Đảng. Trong thư, Nguyễn Ái Quốc đề cập chi tiết về lực lượng của Đảng ở Trung Kỳ trong đó đông đảo đảng viên, các chi bộ tập trung ở nhiều huyện ở Nghệ An, tiếp đến là Hà Tĩnh, Quảng Trị, Quảng Ngãi. Đến tháng 41931 đã có 69 đảng viên và 1.200 hội viên nông hội. Từ giữa năm 1931 phong trào cách mạng bị địch khủng bố ác liệt, nhiều đồng chí lãnh đạo Trung ương và Xứ ủy, tỉnh ủy bị địch bắt và hy sinh. Vừa chống địch khủng bố, vừa bảo vệ lực lượng, gây dựng lực lượng, Xứ ủy Trung Kỳ và các đảng bộ tiếp tục lãnh đạo phong trào. Tháng 6 1931 nhân dân Phú Yên đấu tranh kéo dài đến 1771931. Ngày 1381931 Xứ ủy Trung Kỳ gửi thư cho các cấp ủy Đảng ở tỉnh Hà Tĩnh chỉnh đốn cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Ngày 1781931 Xứ ủy Trung Kỳ kêu gọi gây dựng lại hệ thống tổ chức các đoàn thể Thanh niên, Công hội, Nông hội, Quốc tế đỏ. Ngày 3181931 Thường vụ Xứ ủy Trung Kỳ ra Thông cáo gửi Tỉnh ủy Nghệ An về vấn đề liên lạc để sự chỉ đạo được giữ vững và thông suốt. Ngày 22101931 Xứ ủy Trung Kỳ có thư hướng dẫn Tỉnh ủy Nghệ An chuyển vào hoạt động bí mật. Có được cao trào cách mạng những năm 19301931 mà đỉnh cao là sự ra đời chính quyền cách mạng và sự phát triển mạnh mẽ ở nhiều tỉnh Trung Kỳ là sự giác ngộ và vùng dậy của hàng triệu quần chúng nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự lãnh đạo của Trung ương Đảng đối với phong trào cách mạng cả nước và nhất là phong trào ở Trung Kỳ trước hết ở Cương lĩnh, đường lối, chủ trương đúng đắn của Đảng; ở sự tập hợp lực lượng các tầng lớp nhân dân trước hết là công nhân và nông dân tạo thành quân cách mạng hùng mạnh; ở năng lực chỉ đạo thực tiễn của Trung ương đối với các cấp bộ Đảng tạo nên sự thống nhất ý chí, hoạt động trong Đảng đưa phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân phát triển một cách tự giác. Sự lãnh đạo đó, tỏ rõ sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của Đảng được thử thách và trưởng thành ngay từ cao trào cách mạng đầu tiên để lại những kinh nghiệm quý báu cho các thời kỳ cách mạng tiếp theo để luôn luôn là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng.
Xem thêm

Đọc thêm

Câu hỏi Ôn thi TNTHPT QG môn Lich sử

Câu hỏi Ôn thi TNTHPT QG môn Lich sử

Câu hỏi ôn thi TNPT QG môn Sử ÔN THI THPT QUỐC GIA LỚP 12 Buổi 5 NỘI DUNG I: PHONG TRÀO CÁCH MẠNG 1930 1931 1. Việt Nam trong những năm 19291933 a) Tình hình kinh tế Từ năm 1930, kinh tế Việt Nam bước vào thời kì suy thoái: + Nông nghiệp: Giá lúa, giá nông phẩm hạ, ruộng đất bỏ hoang. + Công nghiệp: Các ngành suy giảm. + Thương nghiệp: Xuất nhập khẩu đình đốn, hàng hoá khan hiếm, giá cả đắt đỏ. b) Tình hình xã hội Công nhân thất nghiệp, những người có việc làm thì đồng lương ít ỏi. Nông dân mất đất, phải chịu cảnh sưu cao, thuế nặng, bị bần cùng hoá cao độ. Tiểu tư sản, tư sản dân tộc gặp nhiều khó khăn. + Mâu thuẫn xã hội ngày càng sâu sắc: mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với đế quốc Pháp và mâu thuẫn giữa nông dân với địa chủ... Mặt khác, thực dân Pháp tiến hành khủng bố dã man những người yêu nước, nhất là sau khi cuộc khởi nghĩa Yên Bái thất bại. Những tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 1933 đến kinh tế, xã hội Việt Nam; là nguyên nhân dẫn đến phong trào cách mạng 1930 1931. 2. Phong trào cách mạng 1930 – 1931 với đỉnh cao Xô viết Nghệ Tĩnh a) Phong trào cách mạng 1930 – 1931 Phong trào cả nước: + Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, kịp thời lãnh đạo phong trào đấu tranh của quần chúng rộng khắp cả nước. + Từ tháng 2 đến tháng 41930, nhiều cuộc đấu tranh của công nhân và nông dân nổ ra. Tháng 5, trên phạm vi cả nước bùng nổ nhiều cuộc đấu tranh nhân ngày Quốc tế Lao động 15. Tháng 6,7,8, phong trào
Xem thêm

Đọc thêm

ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

DỰ THẢO CHƯƠNG TRÌNH LÀM VIỆC CỦA ĐẠI HỘI Kính thưa các vị đại biểu. kính thưa Đại hội Thay mặt Đoàn chủ tịch, tôi xin thông qua dự thảo chương trình làm việc của đại hội. 1. Ổn định tổ chức, văn nghệ chào mừng. 2. Nghi thức, tuyên bố lý do, giới thiệu đại biểu 3. Mời Đoàn chủ tịch, thư ký đại hội lên làm việc 4. Thông qua chương trình đại hội 5. Đọc Báo cáo Tổng kết công tác Đoàn và phong trào thanh niên nhiệm kỳ 2014 2015 và Dự thảo phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ 2015 – 2016 6. Đọc Bản Dự thảo Bản kiểm điểm của Ban Chấp hành Chi đoàn nhiệm kỳ 2014 – 2015 7. Tham luận, thảo luận, đóng góp ý kiến vào phương hướng chỉ tiêu kế hoạch đề ra 8. Giới thiệu và mời Đại biểu phát biểu ý kiến 9. Bầu BCH chi Đoàn nhiệm kỳ mới. + Ban bầu cử thông qua thể lệ bầu cử, danh sách bầu cử + Tiến hành phát phiếu. + Giải lao, văn nghệ. + Kiểm phiếu và công bố kết quả bầu cử 10. Ban chấp hành mới ra mắt ĐH 11. Thư ký đọc nghị quyết Đại hội và biểu quyết chỉ tiêu đề ra. 12. Tổng kết đại hội 13. Chào cờ bế mạc.
Xem thêm

22 Đọc thêm

tiểu luận cao học Công tác xây dựng lực lượng bảo vệ dân phố ở phường mỹ thạnh giai đoạn 2013 2015 thực trạng và giải pháp

tiểu luận cao học Công tác xây dựng lực lượng bảo vệ dân phố ở phường mỹ thạnh giai đoạn 2013 2015 thực trạng và giải pháp

PHẦN MỞ ĐẦU Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa hiện nay là một xu thế tất yếu. Việc Việt Nam tham gia vào các diễn đàn kinh tế, các tổ chức thương mại thế giới, khu vực là một minh chứng cho điều đó. Vấn đề mở cửa ra bên ngoài, hội nhập kinh tế quốc tế, tham gia thị trường thế giới dưới nhiều hình thức tất nhiên sẽ có nhiều phức tạp nảy sinh, ảnh hưởng đến an ninh, trật tự. Do đó, vấn đề quan trọng đặt ra là phải lường trước được những mặt tiêu cực xảy ra trong khi thực hiện chính sách mở cửa, đồng thời tích cực, chủ động xây dựng kế hoạch hạn chế và khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của nó. Hiện nay, trật tự an toàn xã hội đang là vấn đề diễn biến rất phức tạp, có ảnh hưởng đến nhiệm vụ quốc phòng an ninh. Để đảm bảo môi trường xã hội lành mạnh, tạo thuận lợi cho xây dựng, phát triển đất nước, phải coi trọng quản lý nhà nước về trật tự an toàn xã hội. Trước tình hình đó, yêu cầu đảm bảo an ninh, trật tự đặt ra ngày càng bức xúc đối với lực lượng Công an nhân dân, để hoàn thành chức năng, nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao cho đã sử dụng nhiều biện pháp khác nhau trong quá trình đấu tranh phòng, chống tội phạm, hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Trong các biện pháp công tác, lực lượng Công an nhân dân luôn đề cao và coi trọng biện pháp vận động quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc và luôn coi đây là biện pháp quan trọng mang lại hiệu quả cao. Để vận động quần chúng tham gia phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm có hiệu quả lực lượng Công an nhân dân luôn coi trọng công tác xây dựng và củng cố các tổ chức nòng cốt bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở mà cụ thể là các tổ chức hội đồng bảo vệ an ninh, trật tự, Đội dân phòng, các tổ an ninh nhân dân, tổ hoà giải. Ngày 17 tháng 4 năm 2006 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 382006NĐCP về Bảo vệ dân phố là lực lượng quần chúng tự nguyện làm nòng cốt trong phong trào bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, được thành lập ở các phường, thị trấn nơi bố trí lực lượng Công an chính quy, do Ủy ban nhân dân phường quyết định thành lập. Bảo vệ dân phố có trách nhiệm làm nòng cốt trong việc thực hiện phong trào quần chúng, bảo vệ an ninh tổ quốc, thực hiện một số biện pháp công tác phòng ngừa đấu tranh chống tội phạm, tệ nạn xã hội và các hành vi vi phạm pháp luật khác theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ Đảng, chính quyền, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trên địa bàn. Từ khi thành lập đến nay, lực lượng Bảo vệ dân phố có những đóng góp rất quan trọng, họ là những người có tinh thần tự nguyện dấn thân, chấp nhận nguy hiểm, luôn kề vai sát cánh với lực lượng Công an nhân dân đương đầu với tội phạm, bảo vệ cuộc sống bình yên cho người dân. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là làm rõ về hoạt động của lực lượng Bảo vệ dân phố, từ đó đề ra các giải pháp khắc phục những khó khăn, thiếu sót, nâng cao chất lượng hoạt động của lực lượng này là hết sức cần thiết. Cùng với tình hình thực tế tại địa phương, sau thời gian tham gia nghiên cứu học tập, thảo luận một số chuyên đề có liên quan đế công tác xây dựng chính quyền ở cơ sở cho nên tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Công tác xây dựng lực lượng Bảo vệ dân phố ở phường Mỹ Thạnh giai đoạn 2013 2015. Thực trạng và giải pháp
Xem thêm

Đọc thêm

So sánh tư tưởng phan bội châu và phan châu trinh

SO SÁNH TƯ TƯỞNG PHAN BỘI CHÂU VÀ PHAN CHÂU TRINH

So sánh tư tưởng Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh?Giống nhau : Xuất phát từ lòng yêu nước để đi tìm con đường giải phóng cho dân tộc. Đều đại diện cho phong trào dân tộc dân chủ của tầng lớp sĩ phu yêu nước tiến bộ đầu thế kỉ XX. Tạo ra những cuộc vận động cách mạng mới theo con đường dân chủ tư sản. Thống nhất về chủ trương chiến lược, thống nhất về mục đích cách mạng là muốn cứu nước, cứu dân, gắn liền dân với nước, gắn cứu nước với duy tân làm đất nước phát triển theo hương cách mạng tưsản đứnglên conđường chủ nghĩa tư bản. Được sự ủng hộ nhiệt tình của đông đảo quần chúng nhân dân. Tuy nhiên cả hai xu hướng cách mạng này đều chưa xây dựng được những cơ sở vững chắc cho xã hội. Do hạn chế về tầm nhìn và tư tưởng nên cả hai xu hướng cách mạng này đều bị thất bại.
Xem thêm

3 Đọc thêm

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa

1 Giai cấp lãnh đạo Sự chuyển biến của chủ nghĩa tư bản và hậu quả của nó Từ cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã chuyển từ tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền. Các nước tư bản đế quốc, bên trong thì tăng cường bóc lột nhân dân lao động, bên ngoài thì xâm lược và áp bức nhân dân các dân tộc thuộc địa. Sự thống trị tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc làm cho đời sống nhân dân lao động các nước trở nên cùng cực. Mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa thực dân ngày càng gay gắt, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc diễn ra mạnh mẽ ở các nước thuộc địa. Ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác Lênin Vào giữa thế kỉ XIX, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân phát triển mạnh, đặt ra yêu cầu bức thiết phải có hệ thống lý luận khoa học với tư cách là vũ khí tư tưởng của giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản. Trong hoàn cảnh đó, chủ nghĩa Mác ra đời, về sau được Lênin phát triển trở thành chủ nghĩa Mác Lê nin. Chủ nghĩa Mác Lê nin chỉ rõ, muốn giành được thắng lợi trong cuộc đấu tranh thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình, giai cấp công nhân phải lập ra đảng cộng sản. Sự ra đời đảng cộng sản là yêu cầu khách quan đáp ứng cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống áp bức, bóc lột. Tuyên ngôn của Đảng cộng sản (1848) xác định: những người cộng sản luôn luôn đại biểu cho lợi ích của toàn bộ phong trào; là bộ phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở các nước; họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả của phong trào vô sản. Những nhiệm vụ chủ yếu có tính quy luật mà chính đảng của giai cấp công nhân để thực hiện mục đích giành lấy chính quyền và xây dựng xã hội mới. Đảng phải luôn đứng trên lập trường của giai cấp công nhân, mọi chiến lược, sách lược của Đảng đều luôn xuất phát từ lợi ích của giai cấp công nhân. Nhưng, Đảng phải đại biểu cho quyền lợi của toàn thể nhân dân lao động. Bởi vì giai cấp công nhân chỉ có thể giải phóng được giai cấp mình nếu đồng thời giải phóng cho các tầng lớp nhân dân lao động khác trong xã hội. Chủ nghĩa Mác Lênin đã lôi cuốn quần chúng nhân dân và cả những phần tử ưu tú, tích cực ở các nước thuộc địa vào phong trào cộng sản. Tác động của Cách mạng Tháng Mười Nga và Quốc tế Cộng sản
Xem thêm

Đọc thêm

LUẬN VĂN: TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG “THEN” CỦA NGƯỜI TÀY Ở CAO BẰNG

LUẬN VĂN: TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG “THEN” CỦA NGƯỜI TÀY Ở CAO BẰNG

Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa đa dạng phong phú, nhưng thống nhất, bởi đó là nền văn hóa được tạo thành từ văn hóa của các dân tộc anh em cùng chung sống xen kẽ trên khắp dải đất hình chữ S. Nền văn hóa ấy lấy nền văn hóa của người Việt làm trung tâm. Do vậy, khi tìm hiểu văn hóa của dân tộc Việt Nam, bên cạnh việc tìm hiểu văn hóa của người Việt thì việc chú trọng tìm hiểu văn hóa của các dân tộc thiểu số cũng đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Hiểu rõ điều này, Đảng ta đã đưa ra nhiều chính sách trong việc nghiên cứu và bảo tồn văn hóa các dân tộc thiểu số ít người, trong đó có nền văn hóa dân gian của dân tộc Tày. Từ sau cách mạng tháng Tám đến nay, văn hóa dân tộc Tày đã từng bước được chú ý sưu tầm, nghiên cứu và phát triển với hát Then là trung tâm. Then là một hình thức sinh hoạt văn hóa - văn nghệ mang đậm tính sinh hoạt quần chúng, nhưng mặt khác nó cũng là một loại hình sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng lâu đời của người Tày miền núi phía Bắc Việt Nam. Với tư cách là loại hình sinh hoạt văn hóa - văn nghệ, tín ngưỡng tiêu biểu, Then thực sự có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống tâm linh của người Tày. Tuy nhiên có một thời gian dài Then đã từng bị xếp vào loại hình hành nghề mê tín, các thầy Then bị cấm đoán hành nghề. Vì thế, để bảo tồn và giữ gìn bản sắc dân tộc Tày, chúng ta cần quan tâm, khai thác và nghiên cứu Then một cách khoa học, có hệ thống nhằm phát huy thế mạnh cũng như hạn chế những mặt bảo thủ của Then trong đời sống hiện đại. Là một tỉnh miền giới nằm ở phía Bắc nước ta, Cao Bằng có nhiều dân tộc anh em cùng chung sống, trong đó dân tộc Tày chiếm tới 43% dân số toàn tỉnh. Đây là tộc người có quá trình cộng cư lâu đời trên mảnh đất này và đã lưu được những nét văn hóa riêng của dân tộc mình, cũng nhưđóng góp vào kho tàng di sản văn hóa Việt Nam.Vì vậy, việc nghiên cứu văn hóa dân gian nói chung và
Xem thêm

84 Đọc thêm

Thuyết minh về một nhà văn đã được tìm hiểu trong chương trình Ngữ văn 8

THUYẾT MINH VỀ MỘT NHÀ VĂN ĐÃ ĐƯỢC TÌM HIỂU TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 8

Nhà văn Nam Cao sinh năm 1915, tên khai sinh là Trần Hữu Tri, quê ở làng Đại Hoàng (nay thuộc xã Hoà Hậu, huyện Lí Nhân, tỉnh Hà Nam). Nhà văn Nam Cao sinh năm 1915, tên khai sinh là Trần Hữu Tri, quê ở làng Đại Hoàng (nay thuộc xã Hoà Hậu, huyện Lí Nhân, tỉnh Hà Nam). Khi còn nhỏ, Nam Cao ở làng và thành phố Nam Định. Từ 1936, bắt đầu viết văn in trên các báo: Tiểu thuyết thử bảy, ích hữu... Năm 1938, dạy học tư ở Hà Nội và biết báo. Năm 1941, ông dạy học tư ở Thái Bình. Năm 1942, ông trở về quê, tiếp tục viết văn. Năm 1943, Nam Cao gia nhập Hội Văn hoá cứu quốc. Cách mạng Tháng Tám 1945, ông tham gia cướp chính quyền ở phủ Lí Nhân và được cử làm chủ tịch xã. Năm 1946, ông ra Hà Nội, hoạt động trong Hội Văn hoá cứu quốc và là thư kí toà soạn tạp chí Tiên phong của Hội. Cùng năm đó, ông tham gia đoàn quân Nam tiến với tư cách phóng viên, hoạt động ở Nam Bộ. Sau đó lại trở về nhận công tác ở Ti Văn hoá Nam Hà. Mùa thu 1947, Nam Cao lên Việt Bắc, làm phóng viên báo Cứu quốc và là thư kí toà soạn báo Cứu quốc Việt Bắc. Nãm 1950, ông nhận công tác ở tạp chí Văn nghệ (thuộc Hội Văn nghệ Việt Nam) và là Uỷ viên Tiểu ban Văn nghệ Trung ương. Năm 1951, ông tham gia đoàn công tác thuế nông nghiệp ở khu III, bị địch phục kích và hi sinh. Những sáng tác của Nam Cao trước cách mạng tập trung vào hai đề tài chính: Cuộc sống của những người tiểu tư sản trí thức nghèo và cuộc sống của người nông dân. Dù viết về đề tài nào thì diều mà Nam Cao quan tâm trước tiên là tình trạng người lao động bị tha hóa biến chất vì bát cơm manh áo. Ở đề tài tiểu tư sản trí thức nghèo, đáng chú ý nhất là các tác phẩm "Trăng sáng", "Đời thừa", "Mua nhà ", "Truyện tình", "Quên điều độ”, "Nước mắt", "Những truyện không muốn viết", ... đặc biệt là tiểu thuyết "Sống mòn" (1944). Trong những tác phẩm này, Nam Cao đã miêu tả hết sức chân thực và cảm động tình trạng nghèo khổ, sống dở, chết dở của người trí thức nghèo. Qua đó, tác giả còn đặc biệt đi sâu vào những tấn bi kịch tâm hồn của họ. Đó là tấn bi kịch dai dẳng, thầm lặng mà đau đớn của những tri thức có ý thức sâu sắc về giá trị sự sống và nhân phẩm, có hoài bão lớn về một sự nghiệp tinh thần cao cả, nhưng lại bị gánh nặng cơm áo, và cuộc sống tàn nhẫn đầy rẫy bất công vô lý đầy vào cảnh "chết mòn" về tinh thần và sống cuộc "Đời thừa". Phê phán cái xã hội phi nhân đạo đã bóp nghẹt sự sống và tàn phá tâm hồn con người, Nam Cao đồng thời cũng thể hiện niềm khao khát tới một cuộc sống đẹp đẽ xứng đáng với con người. Về đề tài người nông dân: là nhà văn sinh ra và lớn lên nơi chốn bùn lầy nước đọng, Nam Cao hiểu biết khá sâu sắc cuộc sống của nhừng con người thấp cổ bé họng này. Ông đã để lại chừng hai chục truyện ngắn có giá trị về tài nông dân, đáng chú ý là "Lão Hạc”, "Chí phèo”, "Trẻ con không được ăn thị chó", "Mua danh", "Tư cách mõ", "Một bữa no", "Một đám cưới", "Dì Hảo", "Điếu văn”, “Lang Rận”, “Nửa đêm", ... Qua những tác phẩm trên, Nam Cao không chỉ mô tả một cách thấm thìa và cảm động những số phận tăm tối, hẩm hiu, bị ức hiếp, bị tha hoá, lăng nhục mà còn phát hiện và khẳng định phẩm chất lương thiện đẹp đẽ của họ ẩn giấu đằng sau những tâm hồn tưởng như tăm tối và cằn cỗi đó. Chiều sâu mới mẻ của ngòi bút hiện thực và nhân đạo của Nam Cao chính là ở đấy. Cũng như các nhà văn tiểu tư sản khác chưa nắm được chân lý cách mạng, Nam Cao đã không thấy được khả năng đổi đời của người nông dân và triển vọng của xã hội. Song trong truyện ngắn "Điếu văn" (1944), Nam Cao đã viết những dòng dự báo đầy hào hứng "Cuộc đời không thể cứ mù mịt mãi thế này đâu. Tương lai phải sáng sủa hơn. Một rạng đông đã báo rồi!". Đó là lời chào đón chân thành tha thiết tia sáng rạng đông đang báo hiệu ở chân trời lúc bấy giờ. Sau cách mạng tháng Tám: Nam Cao là một trong số ít nhà văn đã đến với cách mạng ngay từ đầu. Năm 1948, Ông được kết nạp vào Đảng, ông tham gia Hội văn hoá cứu quốc, tích cực hoạt động cách mạng, kháng chiến, làm Thư ký Tạp chí "Tiền Phong". Năm 1947 làm thư ký toà soạn báo "Cứu quốc Việt Bắc". Năm 1950 nhận công tác ở tạp chí "Văn nghệ". Nam Cao được xem là một trong những cây bút tiêu biểu nhất trong những năm đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. Thời kỳ này, ông viết được nhiều tác phẩm có giá trị như: Nhật ký "Ở rừng" (1948) "Chuyện biên giới" (1950), đặc biệt là truyện ngắn "Đôi mắt" (1948) ra đời giữa lúc giới văn nghệ đang vất vả "nhận đường" là một thành công xuất sắc của văn nghệ kháng chiến lúc đó. Thông qua việc phê phán một nghệ sĩ có "đôi mắt" lệch lạc trong việc nhìn người, nhìn đời, có lối sống trưởng giả, kênh kiệu, nhởn nhơ, lạc lõng giữa cuộc kháng chiến sôi nổi của toàn dân tộc và khẳng định một người nghệ sĩ mới dứt khoát từ bỏ con người cũ, lối sông cũ, và quyết tâm "cách mạng hoá tư tưởng, quần chúng hoá sinh hoạt", trỏ thành người chiến sĩ trên mặt trận văn hoá, "Đôi mắt” xứng đáng là một tuyên ngôn nghệ thuật của tầng lớp văn nghệ tiểu tư sản đi theo kháng chiến. Nam Cao có biệt tài trong việc diễn tả phân tích tâm lý con người. Ngôn ngữ của Nam Cao sống động uyển chuyển, tinh tế rất gần với lời ăn, tiếng nói của quần chúng. Ghi nhận những đóng góp của Nam Cao dối với nền văn học nước nhà, Nhà nước đã tặng thưởng ông giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học - nghệ 1 thuật (đợt I - năm 1996). Nam Cao xứng đáng là lá cờ đầu của truyện ngắn Việt Nam đầu thế kỉ XX. Trích: Loigiaihay.com
Xem thêm

2 Đọc thêm

QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ NỘI DUNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG, VẬN DỤNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG THEO TINH THẦN NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG 4 KHÓA XI HIỆN NAY

QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ NỘI DUNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG, VẬN DỤNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG THEO TINH THẦN NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG 4 KHÓA XI HIỆN NAY

Bài tập lớn môn tư tưởng Hồ chí Minh : QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ NỘI DUNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG, VẬN DỤNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG THEO TINH THẦN NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG 4 KHÓA XI HIỆN NAYA.MỞ ĐẦU1.Lý do chọn đề tàiĐảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân giữ vai trò lãnh đạo toàn dân tộc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đảng là kim chỉ nam đưa đất nước ta lên Chủ nghĩa Cộng sản, vạch ra con đường đi đúng đắn cho tổ quốc ta. Do đó sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam là không thể thiếu đối với toàn dân tộc. Vì vậy nhóm chúng em quyết định chọn đề tài: tư tưởng Hồ chí Minh về công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng nhằm nâng cao hiểu biết về Đảng.2.Khái quát sự ra đời của ĐảngGiữa lúc cách mạng Việt Nam lâm vào cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước vào năm 1911 Người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành (Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh) ra đi tìm đường cứu nước Người đã qua nhiều nơi trên thế giới vừa lao động, vừa học tập, nghiên cứu lý luận và kinh nghiệm các cuộc cách mạng và khi cuộc cách mạng tháng Mười Nga diễn ra đã ảnh hưởng sâu sắc tới tư tưởng của Người với lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin. Từ đó Người đã tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc.Chủ nghĩa Mác Lênin và các tài liệu tuyên truyền của Nguyễn Ái Quốc được giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam đón nhận như người đi đường đang khát mà có nước uống, đang đói mà có cơm ăn. Nó lôi cuốn những người yêu nước Việt Nam đi theo con đường cách mạng vô sản; làm dấy lên cao trào đấu tranh mạnh mẽ, sôi nổi khắp cả nước, trong đó giai cấp công nhân ngày càng trở thành một lực lượng chính trị độc lập. Sự truyền bá chủ nghĩa Mác Lênin vào phong trào quần chúng và phong trào công nhân, làm cho phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân phát triển mạnh mẽ, đòi hỏi phải có tổ chức đảng chính trị lãnh đạo. Vì vậy, các tổ chức cộng sản lần lượt được thành lập: Ngày 1761929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Bắc Kỳ. Mùa Thu năm 1929, An Nam Cộng sản Đảng được thành lập ở Nam Kỳ. Ngày ll1930, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn được thành lập ở Trung Kỳ.Đến ngày 321930, ba đảng đã hợp lại thành một đảng thống nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó là kết quả của sự chuẩn bị đầy đủ về tư tưởng, chính trị và tổ chức; của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin vào điều kiện cụ thể nước ta; là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Sự ra đời của Đảng đáp ứng nhu cầu lịch sử của đất nước ta; phù hợp với xu thế phát triển của thời đại.
Xem thêm

Đọc thêm

Đề cương Tư tưởng Hồ Chí Minh

ĐỀ CƯƠNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

cau: 5 Anh (chị) hãy làm rõ sự sáng tạo của Hồ Chí Minh trong quan điểm về sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam? Trả lời: ) nêu các quan điểm của HCM về ĐCS VN ? 1. CM trước hết pải có Đảng CM Đây không pải là pát hiện mới của HCM mà Mac – Anghen Lenin đã khẳng định từ trước Tính tất yếu pải có đảng CM, sự cần thiết pải có Đảng CM, nhất thiết pải thành lập ra Đảng CM vì : +) Xuất pát từ xứ mệnh lịch sử của giai cấp CN +) Có ĐCS mới lãnh đạo được CM HCM : đến với quan điểm của Mac – Lenin người khẳng định: CM trước hết pải có đảng CM để trong thì tổ chức vận động quần chúng nhân dân ngoài thì liên lạc với vô sản giai cấp và bị áp bức khắp mọi nơi Vì: +) Xuất pát từ yêu cầu cách mạng là đánh đuổi đế quốc và phong kiến giành độc lập cho dân tộc, ruộng đất cho dân cày. Vì thế pải có ĐCS để đề ra đường lối lãnh đạo nhân dân thực hiện nhiệm vụ CM +) Có ĐCS để giáo dục, giác ngộ nhân dân vì trình độ dân trí thấp và kẻ thù xâm lược thực hiện chính sách ngu dân +) CMVN muốn có được sức mạnh thì pải liên lạc đc với phong trào CMTG để nhận sự giúp đỡ +) Có ĐCS mới gắn kết chặt chẽ được phong trào CN với phong trào yêu nước từ đó đảm bảo cho giai cấp CN có thể lãnh đạo được CM 2.ĐCSVN ra đời là sự kết hợp của CN Mac Lenin(yếu tố vật chất) – phong trào CNTG (yếu tố tinh thần), phong trào yêu nước VN Mac – Anghen – Lenin chỉ ra quy luật chung sự ra đời của ĐCS đó là sự kết hợp CN Mac Lenin(yếu tố vật chất) – phong trào CNTG (yếu tố tinh thần) HCM đi từ quy luật chung Người bổ sung thêm yếu tố phong trào yêu nước ĐCS VN ra đời theo 1 quy luật đặc thù CN MacLenin – pt CN – pt yêu nước HCM đưa thêm pt yêu nước vì: +) Dân tọc VN có truyền thống yêu nước +) Tự thân phong trào yêu nước cũng có khả năng tập hợp sức mạnh dân tộc +) Có thêm phong trào yêu nước mới đảm bảo cho CMVN phát huy đc sức mạnh và đảm bảo cho giai cấp công nhân lãnh đạo đc CM 3.ĐCS VN là đảng của giai cấp CN, của nhân dân lao động và của dân tộc VN ĐCS VN là đảng CM chân chính của giai cấp của nhân dân lao động đồng thời cũng là Đảng của dân tộc VN +) Trước hết ĐCS VN là Đảng mang bản chất của giai cấp CN. Biểu hiện trên 3 vấn đề: 1. Hệ tư tưởng của Đảng mang hệ tư tưởng của giai cấp CN  Giai cấp CN là giai cấp triệt để CM nhất vì họ bị bóc lột tài sản là sức lđ nhưng lại bị bán cho nhà tư bản  Đại diện cho phương thức sản xuất tiến bộ nhất  Có tinh thần quốc tế vô sản  Mang ý thức kỷ luật cao 2. Đường lối lãnh đạo của Đảng pá lập trường của giai cấp CN  Lập trường triệt để CM của giai cấp CN: đấu tranh không khoan nhượng 3. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng  Tuân thủ theo nguyên tắc của CN Mac – Lenin Tập trung dân chủ : khắc phục bệnh cá nhân Tư tưởng phê bình và tự phê bình  ĐCS VN là Đảng của nhân dân lao động và dân tộc : Đảng đại biểu quyền lợi cho nhân dân lao động và dân tộc  nhân dân lao động coi Đảng là của mình : +) tìm mọi cách để bảo vệ đảng +) nhân dân lao động đóng góp tích cực vào qua quá trình xây dựng Đảng +) Nhân dân lao động coi Đảng là của mình. Vì vậy tìm mọi cách để thực hiện thắng lợi đường lối của Đảng Ở HCM vấn đề giai cấp và dân tộc luôn gắn bó mật thiết với nhau tiến trình CM  Đảng vừa mang bản chất của giai cấp CN, tính nhân dân, tính dân tộc là tất yếu
Xem thêm

16 Đọc thêm

Quan điểm sáng tác của Hồ Chí Minh

QUAN ĐIỂM SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH

HCM xem văn nghệ là một hoạt động tinh thần phong phú và phục vụ có hiệu quả cho sự nghiệp CM,là công cụ hỗ trợ chiến đấu:Văn chương trong thời đại CM phải có chất thép “Nay ở trong thơ nên có thép/Nhàthơ cũng phải biết xung phong”. Người luôn yêu cầu tính chân thực và tính dân tộc:Người khuyên các nghệ sĩ phải bớt đi chất mơ mộng,tăng thêm chất hiện thực.Phải miêu tả cho hay,cho chân thật,cho hùng hồn.Phải diễn đạt giản dị,dễ hiểu,giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt. -        Bác luôn quan tâm đến đối tượng thưởng thức từ đó quyết định hình thức và nội dung của tác phẩm văn học: Đối tượng chính là quần chúng nhân dân.Trước khi viết,Người luôn đặt ra và trả lời các câu hỏi: Viết cho ai(đối tượng thưởng thức), Viết cái gì(nội dung), Viết để làm gì(mục đích viết), Viết như thế nào(cách viết) *KL: nhờ có hệ thống quan điểm này,tác phẩm văn chương của Bác vừa có giá trị tư tưởng,tình cảm,nội dung thiết thực mà còn có nghệ thuật sinh động,đa dạng. loigiaihay.com Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

1 Đọc thêm

TIỂU LUẬN CAO HỌC TRIẾT HỌC CỔ ĐIỂN ĐỨC

TIỂU LUẬN CAO HỌC TRIẾT HỌC CỔ ĐIỂN ĐỨC

I.Hoàn cảnh ra đời của triết học cổ điển Đức:1.Bối cảnh châu Âu cận đạiĐến cuối thế kỷ 19, CNTB ra đời và phát triển ở hang loạt các nước châu Âu như: Anh, Pháp, Hà Lan, Italia đem lại một nền sản xuất phát triển chưa từng có cho nhân loại. PTSX TBCN đã tỏ ra ưu việt hơn hẳn PTSX PK bảo thủ, lạc hậu. Nó tạo ra 1 năng suất lao động cao, lượng của cải làm ra = 19 thế kỷ trước cộng lại.Cuộc cách mạng tư sản Pháp 1789 làm rung chuyển cả châu Âu tác động mạnh mẽ đến đời sống, xã hội châu Âu. Mác nói: “triết học của Kant là lý luận của người Đức về cuộc CMTS Pháp”.Cuộc cách mạng công nghiệp Anh đánh dấu sự mở đầu của nền văn minh công nghiệp trong lịch sử nhân loại.Những thành tựu về kinh tế, văn hóa và khoa học do cuộc cách mạng công nghiệp tạo ra càng khẳng định sức mạnh của con người trong nhận thức và cải tạo thế giới.Tóm lại: cuối thế kỷ 18 đầu 19 PTSX TBCN đã trở thành 1 xu thế tất yếu của lịch sử nhân loại2.Hoàn cảnh nước Đứca.Kinh tế:Đên đầu thế kỷ 19 nước Đức vẫn là 1 nước phong kiến lạc hậu. sự cát cứ phong kiến làm nước Đức bị chia thành nhiều tiểu vương quốc tách biệt nhau. Thực trạng này là trở ngại đối với sản xuất hang hóa, trở ngại cho sự phát triển của CNTB ở Đức.+ năm 1822 cả nước Đức mới có 2 đầu máy hơi nước+ Nông nghiệp bị đình đốn.b.Chính trịVua Phổ Phridrich Vinhem trở nên phản động, ngoan cố tăng cường quyền lực, duy trì chế độ quân chủ phong kiến thối nát, cản trở đất nước đi lên con đường TBCN.Không khí chính trị ngột ngạt của xã hội Đức đã tạo sự bất bình cho đông đảo quần chúng.c.Văn hóa – tư tưởngTuy lạc hậu về kinh tế, chính trị nhưng về mặt văn hóa nói chung, nhất là triết học và nghệ thuật ở Đức thời kỳ này rất phát triển, có nhiều nhà thơ nhiều nhà tư tưởng lớn như: Gớt, Héctơ, Sitlơ,..Các nhà tư tưởng Đức đã nhận được sự cổ vũ to lớn của phong trào Khai sáng Pháp. Đặc biệt là cuộc cách mạng dân chủ tư sản Pháp đã thức tỉnh các nhà tư sản Đức đấu tranh vì một trật tự xã hội mới ở Đứcd. cải cách tôn giáoDo những mâu thuẫn giữa quần chúng với giáo hội ở Đức phát triển gay gắt phong trào chống giáo hội ở Đức nổ ra gay gắt. Đầu thế kỷ XVI, sự căm ghét giáo hội của mọi tầng lớp nhân dân Đức đã trở thành phổ biến và rộng lớn. Trong tình hình đó một mục sư có tên là Martin Luther (1483 – 1546) đã tiến hành vận động cải cách tôn giáo.
Xem thêm

35 Đọc thêm

QUAN ĐIỂM SÁNG TÁC CỦA HCM

QUAN ĐIỂM SÁNG TÁC CỦA HCM

Hồ Chí Minh là lãnh tụ kính yêu của dân tộc, Người còn là một nhà văn hóa lớn, danh nhân văn hóa thế giới. Người am hiểu rất sâu sắc quy luật và đặc trưng của hoạt động văn nghệ, điều này được thể hiện trực tiếp trong hệ thống quan điểm sáng tác văn chương của Người. 1. Hồ Chí Minh xem văn nghệ là một hoạt động tinh thần phong phú và phục vụ có hiệu quả cho sự nghiệp cách mạng; nhà văn cũng phải ở giữa cuộc đời, góp phần vào nhiệm vụ đấu tranh và phát triển xã hội. Văn chương trong thời đại cách mạng phải có chất thép. 2. Đối tượng thưởng thức của nền văn chương cách mạng là quảng đại quần chúng. Trước khi viết, Người luôn đặt ra và trả lời các câu hỏi: Viết cho ai (đối tượng thưởng thức), Viết cái gì (nội dung), Viết để làm gì (mục đích viết), Viết như thế nào (cách viết). 3. Hồ Chí Minh luôn đòi hỏi tới tính chân thực của văn nghệ. Người khuyên các nghệ sĩ phải bớt đi chất thơ mộng, tăng thêm chất hiện thực. Phải miêu tả cho hay, cho chân thật cuộc sống mới, con người mới. Người luôn chú ý tới hình thức biểu hiện của văn nghệ: phải diễn đạt giản dị, dễ hiểu, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Ngoài ra, Người luôn chú ý tới mối quan hệ giữa phổ cập và nâng cao
Xem thêm

1 Đọc thêm