KHÁCH SẠN Ở BÃI BIỂN LĂNG CÔ

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "KHÁCH SẠN Ở BÃI BIỂN LĂNG CÔ":

Phân tích điểm mạnh điểm yếu cơ hội thách thức và ma trận SWOT ở thị trấn lăng cô, tỉnh thừa thiên huế

PHÂN TÍCH ĐIỂM MẠNH ĐIỂM YẾU CƠ HỘI THÁCH THỨC VÀ MA TRẬN SWOT Ở THỊ TRẤN LĂNG CÔ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

đặc điểm kinh tế xã hội tỉnh thừa thiên huế×tình hình bứu cổ ở hai xã miền núi tỉnh thừa thiên huế×phân tích các vấn đề môi trường đang thách thức sự tồn tại và phát triển bền vững của xã hội loài nguòi×phân tích bước chuyển biến về chất trong nhận thức của đảng về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa×địa lí địa phương tỉnh thừa thiên huế phần ii đặc điểm dân cư lao động×đánh giá tiềm năng và định hướng phát triển bền vững du lịch biển lăng cô tỉnh thừa thiên huế×
Xem thêm

19 Đọc thêm

BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG DU LỊCH BÃI BIỂN THỪA THIÊN HUẾ , NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CÁC BÃI BIỂN THUẬN AN, LĂNG CÔ

BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG DU LỊCH BÃI BIỂN THỪA THIÊN HUẾ , NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CÁC BÃI BIỂN THUẬN AN, LĂNG CÔ

Quảng Ninh. Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm bảo vệ môi trƣờng tự nhiêntrong hoạt động du lịch tại Vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.Đề tài nghiên cứu của Viện nghiên cứu phát triển du lịch “Hiện trạng và một sốgiải pháp bảo vệ môi trƣờng du lịch Việt Nam” đã nhận biết đƣợc tầm quan trọng,10ý nghĩa của việc đánh giá tác động môi trƣờng du lịch; phân tích đƣợc hiện trạngmôi trƣờng du lịch Việt Nam nói chung và hiện trạng môi trƣờng du lịch một sốkhu du lịch điển hình thông qua các chỉ tiêu về chất lƣợng môi trƣờng nƣớc, khôngkhí, cảnh quan, các hệ sinh thái đặc trƣng, chất thải rắn, vấn đề vệ sinh môi trƣờng,các vấn đề xã hội, nhân văn, sức khoẻ cộng đồng... Từ đó, đề tài đƣa ra các giảipháp đƣa ra đã góp phần giải quyết những mâu thuẫn tất yếu xảy ra giữa yêu cầuphát triển du lịch và bảo vệ môi trƣờng, đảm bảo tính bền vững của môi trƣờng vàhoạt động kinh tế du lịch.Dự án “Kế hoạch phân vùng sử dụng tổng hợp đới bờ tỉnh Thừa Thiên Huế đếnnăm 2020, định hƣớng đến 2030” của giao Sở Tài Nguyên và Môi trƣờng tỉnhThừa Thiên Huế đã xây dựng và triển khai phân vùng sử dụng đới bờ đối với vùngbờ biển của Thừa Thiên Huế. Đây là một quá trình phức tạp, đòi hỏi thời gian vàcần đƣợc thực hiện từng bƣớc, cùng với sự hoàn thiện về thể chế và năng lực trongquản lý không gian, tài nguyên và môi trƣờng tại đới bờ của địa phƣơng. Vì vậy,trong kế hoạch này, sơ đồ phân vùng, các quy định sử dụng và cơ chế tổ chức thựchiện mới đƣợc đề xuất bƣớc đầu, mức tổng quát nhƣng cũng đã phần nào giảiquyết đƣợc vấn đề môi trƣờng tại vùng biển của Thừa Thiên Huế.[17]Đối với các bãi biển của Thừa Thiên Huế nói riêng, trƣớc đây vẫn chƣa có đềtài nào nghiên cứu vấn đề môi trƣờng du lịch, chủ yếu chỉ có các bài báo giấy hoặctrên báo điện tử có bàn luận sơ lƣợc, song song với việc giới thiệu về các bãi biểndu lịch của Thừa Thiên Huế.Tuy nhiên, các tài liệu này chƣa đi sâu vào việc nghiên cứu vấn đề bảo vệ môitrƣờng du lịch các bãi biển du lịch của Thừa Thiên Huế, cụ thể là hai bãi biển
Xem thêm

15 Đọc thêm

ĐÁNH GIÁ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ TẠIKHÁCH SẠN BẢO NGỌC LAO BẢO

ĐÁNH GIÁ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ TẠIKHÁCH SẠN BẢO NGỌC LAO BẢO

trong 4 năm học vừa qua. Với vốn kiến thức có được trongquá trình học tập, không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiêncứu đề tài mà còn là hành trang quý báu cho em bước vàođời một cách vững chắc và tự tin.họBên cạnh đó, em xin gửi lời cảm ơn đến ban lãnh đạocông ty TNHH Bảo Phát, khách sạn Bảo Ngọc - Lao Bảo đãtạo điều kiện giúp đỡ, cung cấp số liệu và những kinhnghiệm thực tế để em hoàn thành tốt đề tài này.ngĐạiĐặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâusắc nhất đến Th.s Trần Thị Phước Hà, người đã dành nhiềuthời gian và công sức trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ emhoàn thành tốt đề tài này.TrườCuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình,bạn bè và những người thân luôn theo sát và ủng hộ em vềmặt tinh thần.Mặc dù có nhiều cố gắng những do hạn chế về thời gian
Xem thêm

88 Đọc thêm

ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ NHẬN BIẾT CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI THƯƠNG HIỆU KHÁCH SẠN HƯƠNG GIANG RESORT SPA HUẾ

ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ NHẬN BIẾT CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI THƯƠNG HIỆU KHÁCH SẠN HƯƠNG GIANG RESORT SPA HUẾ

ứng ngay.Tính tổng hợp và phức tạp trong quá trình hoạt động.1.2.5. Ý nghĩa của ngành hoạt động kinh doanh khách sạn Ý nghĩa kinh tế:Kinh doanh khách sạn là một trong những hoạt động chính của ngành du lịchvà thực hiện những nhiệm vụ quan trọng của ngành. Mối liên hệ giữa kinh doanhkhách sạn và ngành du lịch của một quốc gia không phải là quan hệ một chiều màngược lại, kinh doanh khách sạn cũng tác động đến sự phát triển của ngành du lịchvà đến đời sống kinh tế - xã hội nói chung của một quốc gia.Thông qua kinh doanh lưu trú và ăn uống của các khách sạn, một phần trongquỹ tiêu dùng của người dân được sử dụng vào việc tiêu dùng các dịch vụ và hànghóa của các doanh nghiệp khách sạn tại điểm du lịch. Kết quả dẫn đến sự phân phốilại giữa các vùng trong nước quỹ tiêu dùng cá nhân. Một phần trong quỹ tiêu dùngtừ thu nhập của người dân từ khắp các nơi (trong và ngoài nước) được đem đến tiêudùng tại các trung tâm du lịch. Như vậy có sự phân phối lại quỹ tiêu dùng từ vùngnày sang vùng khác, từ đất nước này sang đất nước khác. Theo cách này, kinhdoanh khách sạn góp phần làm tăng GDP cho các vùng và quốc gia phát triển nó.Ngoài ra, kinh doanh khách sạn phát triển góp phần tăng cường thu hút vốnđầu tư trong và ngoài nước, huy động được vốn nhàn rỗi trong nhân dân. Thật vậy,đầu tư vào kinh doanh khách sạn vì đem lại hiệu quả của đồng vốn đầu tư cao chonên chỉ từ sau khi có chính sách mở cửa của Đảng và Nhà nước đến nay đã thu hútđược một lượng lớn vốn đầu tư của nước ngoài vào ngành này ( chiếm khoảng gần70% tổng vốn đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam).Các khách sạn là bạn hàng lớn của nhiều ngành khác trong nền kinh tế, vìhàng ngày các khách sạn tiêu thụ một khối lượng lớn các sản phẩm của nhiều ngànhnhư: các ngành công nghiêp nặng, công nghiệp nhẹ, công nghiệp thực phẩm, ngànhbưu chính viễn thông, ngành ngân hàng và đặc biệt là ngành thủ công mỹ nghệSinh viên: Phạm Thị Phước Hiền – K46 TT & MKT15
Xem thêm

108 Đọc thêm

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH TẠI KHÁCH SẠN HÀNG HẢI – HẢI PHÒNG

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH TẠI KHÁCH SẠN HÀNG HẢI – HẢI PHÒNG

Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh tại khách sạn Hàng HảiThờng xuyên báo cáo với Giám đốc về tình hình nhập, tồn kho của hànghoá nguyên vật liệu và doanh thu thực hiện trong hoạt động kinh doanh của bộphận mình.Ngoài ra, trởng bộ phận nhà hàng còn thực hiện vụ Marketing dới sự chỉđạo trực tiếp từ Giám đốc.2.2.2.4. Bộ phận phục vụ buồng:Nhiệm vụ: thực hiện chức năng làm tốt và đảm bảo duy trì chất lợng dịch vụbuồng ngủ của khách sạn luôn mức cao, nhằm thực hiện mục tiêu thoả mãnnhu cầu của khách về buồng ngủ làm cho khách cảm thấy thoải mái, thuận tiệnvà an toàn.Chịu trách nhiệm và quản lý bao gồm tất cả trang thiết bị trong phòng nghỉcủa khách sạn, kiểm kê và giao nhận hàng hoá vật t trong kho thuộc bộ phậnbuồng.Quản lý bộ phận giặt là cho khách sạn và cho khách.Theo dõi các phiếu báo ngủ của lễ tân chuyển đến để vào sổ chính xác ngàykhách đến và ngày khách trả phòng.Bảo quản tốt các chìa khoá trực tầng, làm tốt công tác giao ca.2.2.2.5. Bộ phận điện nớc:Có chức năng quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật của khách sạn.Cung cấp các điều kiện kỹ thuật cần thiết để khách sạn hoạt động bình thờng và đảm bảo chất lợng phục vụ của khách sạn.Tổ chức thực hiện mọi công tác vận hành, sửa chữa, bảo dỡng định kỳ, cảitạo, thay mới các trang thiết bị điện dân dụng, điện tử, cấp thoát nớc, cơ khí, cácphơng tiện và đồ dùng, dụng cụ gia dụng của toàn khách sạn.Thực hiện sửa chữa, thay thế mới đột xuất khi có thông báo từ các bộ phậnkhác trong khách sạn.2.2.2.6. Bộ phận kế toán:Chịu sự lãnh đạo của Giám đốc khách sạn.Chấp hành nghiêm túc các chính sách pháp luật của Nhà nớc trong việc thựchiện kế hoạch tài chính của khách sạn.
Xem thêm

59 Đọc thêm

Đề thi học kì 2 lớp 4 môn Địa lý năm 2014

ĐỀ THI HỌC KÌ 2 LỚP 4 MÔN ĐỊA LÝ NĂM 2014

Đề thi học kì 2 lớp 4 môn Địa lý năm 2014 - THCS Minh Tiến Câu 1: Kể tên ba đồng bằng lớn của nước ta? Câu 2: Nêu những điều kiện để phát triển du lịch ở duyên hải miền Trung? Câu3 : Nêu những điều kiện để đồng bằng Nam bộ trở thành vự lúa, vựa trái cây lớn nhất cả nước? Câu 4: Quan sát bảng số liệu về diện tích và số dân dưới đây của một số thành phố( năm 2003):        Thành phố       Diện tích(km2)    Số dân ( người) Hà Nội Hải Phòng Đà Nẵng Thành phố Hồ Chí Minh Cần Thơ        921        1503        1247         2090         1389          2800000          1700000          700000          5400000          1112000 a. Năm 2003, thành phố Cần Thơ có diện tích và dân số là bao nhiêu? b.Thành phố Cần Thơ có diện tích và dân số đứng thứ mấy so với các thành phố khác có trong bảng? Đáp án đề thi học kì 2 lớp 4 môn Địa lý năm 2014 - THCS Minh Tiến  Câu 1: (1,5 điểm)       Ba đồng bằng lớn của nước ta:ĐB Bắc Bộ,ĐB duyên hải miền Trung,đồng bằng Nam Bộ.   Câu 2: (1,5 điểm)       Những điều kiện để phát triển du lịch ở duyên hải miền Trung:  + Bãi biển đẹp  + Nước biển trong xanh  + Khách sạn, điểm vui chơi ngày càng nhiều…   Câu 3: (3 điểm)       Những điều kiện để đồng bằng Nam Bộ trở thành vự lúa, vựa trái cây lớn nhất cả nước:  + Đất đai bằng phẳng màu mỡ, người dân tích cực sản xuất, khí hậu nóng quanh năm…   Câu 4: (4 điểm)  Qua bảng số liệu về diện tích và số dân dưới đây của một số thành phố( năm 2003):  a. Năm 2003,thành phố Cần Thơ có diện tích1389km2 và dân số 1112000 người.  b.Thành phố Cần Thơ có diện tích đứng thứ ba và dân số đứng thứ tư so với các thành phố khác có trong bảng.  Tuyensinh247 sẽ tiếp tục cập nhật các phần tiếp theo của đề thi học kì 2 môn Địa lý lớp 4 năm 2014 các em chú ý theo dõi.   Nguồn Dethi.vioelt
Xem thêm

2 Đọc thêm

Thuyết minh về bãi biển Nha Trang.

THUYẾT MINH VỀ BÃI BIỂN NHA TRANG.

Có thể nói, Nha Trang là một trong những thắng cảnh đẹp của đất nước ta, là viên ngọc biếc bên bờ biển đẹp. Tuy gần Đà Lạt, nhưng thành phố lại có cái nắng rực rỡ của miền nhiệt đới nóng ẩm.      Có thể nói, Nha Trang là một trong những thắng cảnh đẹp của đất nước ta, là viên ngọc biếc bên bờ biển đẹp. Tuy gần Đà Lạt, nhưng thành phố lại có cái nắng rực rỡ của miền nhiệt đới nóng ẩm.  Hình ảnh đầu tiên khiến em chú ý là những tòa nhà đồ sộ trong những vườn cây xanh nằm bên những đại lộ lớn. Đây là một thành phố trẻ trung, tươi mát. Nhưng cuốn hút khách dụ lịch đến đây chính là những bãi biển ven thành phố, những khu nghỉ mát hiện đại. Bãi cát trải ra mênh mông, óng ả dưới ánh nắng mặt trời, những rặng thông, phi lao rì rào với gió biển suốt ngày đêm. Từ sáng sớm, bầu trời đã quang mây, xanh ngắt. Trên bãi cát khách du lịch đông đúc, đi lại nhộn nhịp. Những chiếc dù đủ màu sắc rực rỡ dưới ánh nắng mặt trời. Trên mặt biển, nước trong xanh, bập bềnh những chiếc phao bơi. Tiếng reo hò náo nức hòa với tiếng sóng biển ì ầm đập vào bãi cát tung bọt trắng xóa. Những khi mặt trời mọc, tia nắng chiếu xuống vỡ ra thành muôn vàn đồng tiền óng ánh. Buổi trưa những ngày đẹp trời, nước biển trong veo như màu mảnh chai. Mặt trời sau một ngày lao động vất vả từ từ lặn xuống tỏa ánh sáng tím hồng xuống mặt biển. Bờ biển Nha Trang bằng phẳng không nhiều đá ngầm như Đồ Sơn ở Hải Phòng. Từ trên bãi cát em phóng tầm mắt ra xa, có thể nhìn thấy những hòn đảo nhỏ như những chấm xanh, nhô lên trên mặt biển, đó là Hòn Én, Hòn Tre.  Nha Trang thật xứng đáng với niềm yêu mến của khách nước ngoài và trong nước. Em nhớ mãi những ngày đẹp được sống ở Nha Trang. Khi em viết những dòng này nói về Nha Trang, trong lòng em lại ngân nga những câu thơ của nhà thơ Sóng Hồng: "Dừng chân nghỉ lại Nha Trang, Hiu hiu gió thổi trời quang tuyệt vời. Xanh xanh mặt biển da trời, Cảnh sao quyến rũ lòng người khó quên. Đây rồi Hòn Én, Hòn Tre, Xa xa Hòn Khói đi về thuyền ai. Mặt trời vừa mọc ban mai, Mênh mông cát trắng hồng phai mịn màng. Đẹp thay non nước Nha Trang, Người đi hồn vẫn mơ màng đâu đây" (Nguyễn Thanh Hà)  Trích: loigiaihay.com
Xem thêm

2 Đọc thêm

Tả buổi chiều trên bãi biển

TẢ BUỔI CHIỀU TRÊN BÃI BIỂN

Đêm đang xuống. Các tia nắng đỏ rực của mặt trời lặn thắp sáng bầu trời bên trên chân trời phía tây. Tôi nhìn thấy một chiếc tàu dần băng qua mặt biển ngay bên trên đường chân trời Tả buổi chiều trên bãi biển. Bài làm Đêm đang xuống. Các tia nắng đỏ rực của mặt trời lặn thắp sáng bầu trời bên trên chân trời phía tây. Tôi nhìn thấy một chiếc tàu dần băng qua mặt biển ngay bên trên đường chân trời. Một tí sau đó, mặt trời biến dạng phía dưới đường chân trời và bầu trời tối hẳn nhưng tôi cùng hai người bạn vẫn ngồi lại trẽn bãi lặng ngắm nơi mặt trời đã khuất. Cảnh mặt trời lặn thật nhiều ngoạn mục như chúng tôi đã khám phá thấy. Chỉ khi bầy muỗi bắt đầu tiến đến thật đông và chúng tôi mới quay trở về thực tại. Chúng tôi đứng lên và di về một đống củi đã gom sẵn trước đó. Trong màn đêm chúng tôi chỉ là những cái bóng. Francis, bạn tôi, có đem theo một cây đèn bấm. Anh bật lên để soi đường. Những sinh vật đêm đã bắt đầu bận bịu với các công việc của chúng, ở bên trái chúng tôi là khu đất liền, tôi nghe thấy tiếng kêu não ruột của bầy ve sầu cũng các loại côn trùng khác, ở bên phải tiếng sóng đập nhẹ vào bờ bắn tung lên những bụi sóng lấp lánh. Âm thanh và cảnh tượng của thiên nhiên thật là ngoạn mục. Âm thanh của tiếng ve chạy thính thoảng vọng lại trên đường; gần đó chỉ là một vết gợn phá hỏng sự hoàn hảo của khung cảnh thiên nhiên xung quanh. Ba đứa chúng tôi có lẽ cũng là những gợn nhỏ khác duy nhất có mặt. Chúng tôi mở đèn bấm lên và chẳng mấy phút sau đó đốt một ánh lửa trại. loigiaihay.com
Xem thêm

1 Đọc thêm

Nâng cao chất lượng dịch vụ bộ phận lễ tân khách sạn brandi

Nâng cao chất lượng dịch vụ bộ phận lễ tân khách sạn brandi

LỜI NÓI ĐẦU1.Tính cấp thiết của đề tàiViệt Nam là nước đang phát triển, nền kinh tế nói chung và ngành du lịch nói riêng vẫn còn rất non trẻ. Nhưng vài năm trở lại đây thì nền kinh tế Việt Nam đã có khá nhiều thay đổi, khởi sắc. Cụ thể là đã có rất nhiều khu công nghiệp mọc lên, các hoạt động kinh doanh đầu tư với người nước ngoài có giá trị lớn... và ngành kinh doanh du lịch cũng không ngoại lệ mặc dù vẫn còn rất mới mẻ và non trẻ thế nhưng đây lại là một ngành kinh doanh khá là triển vọng mang lại doanh thu cho ngân sách quốc gia lớn không thua kém các ngành kinh tế khác.Trong những năm gần đây cùng với cơ chế đổi mới nền kinh tế nước ta đã phát triển mạnh mẽ và cơ sở vật chất kĩ thuật hạ tầng đô thị là nền tảng để ngành du lịch Việt Nam phát triển.Du lịch Việt Nam không chỉ dựa vào cảnh quan thiên nhiên hoang sơ ,độc đáo,những di sản văn hóa quý báu mà còn lòng hiếu khách ,những truyền thống văn hóa tốt đẹp được đúc kết từ hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước .Những điều đó đã gợi nhớ cho du khách và lôi kéo khách trở lại đất nước Việt NamVới đặc thù riêng của ngành du lịch và hoạt động khách sạn. Khách sạn đòi hỏi mỗi nhà lãnh đạo của từng doanh nghiệp phải có chính sách hợp lý để thu hút khách hàng đến tiêu thụ sản phẩm của mình ,đây là vấn đề quan trọng thiết yếu liên quan đế sự tồn tại và phát triển của mỗi khách sạn. Bên cạnh đó trong mấy năm từ 2011 đến nay số lượng khách đến với khách sạn Brandi đã phát triển mạnh. Vì vậy công tác kinh doanh muốn đạt hiệu quả kinh tế cao thì phải đi đôi với việc chất lượng phục vụ tốt và trước tiên phải có đội ngũ nhân viên lê tân có trình độ ngoại ngữ giao tiếp tốt và ngoại hình cũng như tư cách phẩm chất đạo đức tốt. Đó là bước đầu của sự thành công của kinh doanh khách sạn du lịch. Bởi nhân viên lễ tân họ là bộ mặt đại diện cho khách sạn gặp gỡ và làm việc trực tiếp với khách hàng, nhận thấy vai trò quan trọng của ngành lễ tân nói chung và lễ tân khách sạn nói riêng đã khiến em quyết định lựa chọn đề tài:“Nâng cao chất lượng dịch vụ bộ phận Lễ tân Khách sạn Brandi”2.Mục đích của đề tàiMục đích của đề tài là vận dụng là vận dụng những kiến thức đi học vào thực tiễn .Đồng thời qua đó củng cố bổ sung các kiến thức về nghiệp vụ đã được học ở nhà trường và cách xử lý các tình huống thực tếHệ thống hóa cơ sở lý luận về chất lượng dịch vụ của doanh nghiệpTìm hiểu thực trạng chất lượng dịch vụ tại bộ phận lễ tân của khách sạn BrandiĐánh giá chất lượng dịch vụ bộ phận lễ tân thông qua phiếu khảo sát khách hàngĐề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ Bộ phận lễ tân Khách sạn Brandi3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứuĐối tượng nghiên cứu: của đề tài là hoạt động và chất lượng dịch vụ của bộ phận Lễ tân khách sạn Brandi,trong đó là các vấn đề liên quan đến nghiệp vụ,tổ chức hoạt động ,chất lượng của dịch vụ mà bộ phận Lễn tân mang đến cho khách hàng.Bên cạnh đó có chức năng nhiệm vụ và vai trò cũng như mối quan hệ của bộ phận này với các bộ phận khác của khách sạn trong một nhiệm vụ chung là mang đến cho khách hàng chất lượng phục vụ tốt nhấtPhạm vi của đề tài nghiên cứu:Không gian: khách sạn BrandiThời gian: Trong vòng 3 tháng kể từ ngày bắt đầu thực tập tại khách sạn4.Phương pháp nghiên cứuNghiên cứu các khái niệm cơ sở lý thuyết về kinh doanh khách sạn,chất lượng dịch vụ,chức năng nhiệm vụ của bộ phận Lễ tân thông qua sách báo,internet các tài liệu chuyên ngành cũng như tài liệu của các môn đã được học ,đồng thời ghi chép ,thu thập thông tin qua quá trình thực tập và làm việc thực tế ở khách sạn Brandi.Từ đó rút ra những nhận đính đánh giá.Từ các nhận định đánh giá chắt lọc được kết hợp với phiếu điều tra khảo sát ý kiên khách hàng để đề ra các giải pháp để nâng cao chất lượng dịch vụ bộ phận lễ tân khách sạn Brandi5.Bố cục của đề tàiBài luận văn có 3 nội dung chính được chia làm 3 chương:Chương 1:Cơ sở lý luận về chất lượng dịch vụ bộ phận lễ tân khách sạn Chương 2:Thực trạng chất lượng dịch vụ bộ phận lễ tân Chương 3:Một số ý kiến đề xuất nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ bộ phận lễ tân khách sạn Brandi LỜI CẢM ƠNTrên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với những sự hỗ trợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác. Trong suốt thời gian từ khi bắt đầu học tập tại trường đến nay, em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý Thầy Cô, gia đình và bạn bè. Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin gửi đến quý Thầy Cô ở Khoa Quản trị kinh doanh đã cùng với tri thức và tâm huyết của mình để truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho chúng em trong suốt thời gian học tập tại trường. Và đặc biệt, trong học kỳ này. Nếu không có những lời hướng dẫn, dạy bảo của các thầy cô thì em nghĩ bài thu hoạch này của em rất khó có thể hoàn thiện được. Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn thầy.Bài báo cáo thực hiện trong khoảng thời gian gần 8 tuần.Bước đầu đi vào thực tế của em còn hạn chế và còn nhiều bỡ ngỡ. Do vậy,Em rất mong được sự đóng góp ý kiến của thầy cô giáo trong khoa cũng như của các anh chị làm việc tại Khách sạn Brandi để bài chuyên đề của em được hoàn thiện hơnEm xin gởi lời cảm ơn chân thành và sự tri ân sâu sắc đối với các thầy cô của trường Đại học Điện lực, đặc biệt là các thầy cô khoa Quản trị kinh doanh của trường đã tạo điều kiện cho em để em có thể hoàn thành tốt bài báo cáo thực tập này. Và em cũng xin chân thành cám ơn thầy Nguyễn Ngọc Trung cũng như đơn vị thực tập khách sạn Brandi đã nhiệt tình hướng dẫn hướng dẫn em hoàn thành tốt khóa thực tập.Em xin chân thành cảm ơn NHẬN XÉT CỦA CƠ QUAN THỰC TẬP……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………… NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………… NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………… MỤC LỤCCHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ BỘ PHẬN LỄ TÂN KHÁCH SẠN11.1. Khái niệm và đặc điểm kinh doanh khách sạn11.1.1. Khái niệm về kinh doanh khách sạn11.1.2.Đặc điểm kinh doanh khách sạn11.2.Chất lượng dịch vụ21.2.1.Khái niệm chất lượng dịch vụ21.2.3.Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ31.2.4.Ý nghĩa của việc hoàn thiện chất lượng dịch vụ.41.3. Khái niệm và đặc điểm bộ phận lễ tân khách sạn71.3.1 Khái niệm:71.3.2. Đặc điểm:71.3.3. Chức năng nhiệm vụ vai trò của bộ phận lễ tân trong khách sạn7a.Chức năng:7b.Nhiệm vụ của bộ phận LễTân.8c.Vai trò của bộ phận lễ tân.8d.Cơ cấu tổ chức bộ phận lễ tân.9e.Quy trình phục vụ tại bộ phận lễ tân – khách sạn Brandi111.4. Chất lượng dịch vụ ở bộ phận lễ tân trong khách sạn.141.4.1. Khái niệm:141.4.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ của bộ phận lễ tân141.4.3.Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng dịch vụ của bộ phận lễ tân15CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ TẠI BỘ PHẬN LỄ TÂN KHÁCH SẠN BRANDI172.1.Giới thiệu tổng quan về khách sạn Brandi172.1.2.Quá trình hình thành và phát triển của khách sạn Brandi172.1.3.Cơ cấu tổ chức182.1.4.Chức năng từng bộ phận192.1.5. Các sản phẩm dịch vụ chính của Khách sạn202.1.6. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp222.1.8.Tổ chức lao động theo trình độ chuyên môn của khách sạn302.1.9. Cơ cấu khách hàng của khách sạn Brandi302.2. Thực trạng chất lượng dịch vụ bộ phận lễ tân khách sạn Brandi 2.2.1. Cơ sở vật chất kỹ thuật trong quầy lễ tân322.2.2. Cơ cấu tổ chức bộ phận lễ tân322.2.3.Vai trò nhiệm vụ của bộ phận lễ tân trong khách sạn Brandi342.2.4.Quy trình phục vụ tại bộ phận lễ tân – khách sạn Brandi362.2.5.Phương pháp đánh giá chăt lượng dịch vụ bộ phận lễ tân44a. Phương pháp đánh giá căn cứ vào sự thỏa mãn của khách hàng44b. Đánh giá về Cơ sở vật chất tại khu vực lễ tân45c. Đánh giá chung về chất lượng dịch vụ của bộ phận lễ tân tại khách sạn Brandi59CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ BỘ PHẬN LỄ TÂN KHÁCH SẠN BRANDI643.1.Một số giải pháp để nâng cao chất lượng dịch vụ bộ phận lễ tân Khách sạn Brandi643.2.Một số Kiến nghị để nâng cao chất lượng dịch vụ bộ phận lễ tân Khách sạn Brandi68KẾT LUẬN70 DANH MỤC BẢNG BIỂUBảng 2.1.Tình hình tài chính của khách sạn năm 2014 và 201522Bảng 2.2 . Cơ cấu lao động theo trình độ chuyên môn tại Brandi30Bảng 2.3: Tỷ trọng các thị trường khách trong năm 2014 của KS Brandi31Bảng 2.4: Thông tin khách được điểu tra tại Khách sạn Brandi44Bảng 2.5: Đánh giá về mức độ hiện đại của đại sảnh46Biểu đồ 2.1: Đánh giá về mức độ hiện đại của đại sảnh46Bảng 2.6: Bảng đánh giá về mức độ hài hòa của trang thiết bị ở đại sảnh47Biểu đồ 2.2: Đánh giá về mức độ hài hòa của trang thiết bị ở đại sảnh48Bảng 2.7 :Đánh giá về trang phục của lễ tân:50Biểu đồ 2.3: Đánh giá về trang phục của lễ tân50Bảng 2.8 :Đánh giá về tinh thần và thải độ dịch vụ của lễ tân:51Biểu đồ 2.4: Đánh giá về tinh thần và thải độ dịch vụ của lễ tân52Bảng 3.5: Đánh giá về tốc độ giải quyết thủ tục đăng kí cho khách.53Biểu đồ 2.5:Đánh giá về tốc độ giải quyết thủ tục đăng kí cho khách.53Bảng 3.6: Đánh giá việc giải quyết thỏa mãn kiến nghị, phàn nàn của khách54Biểu đồ 2.6: Đánh giá việc giải quyết thỏa mãn kiến nghị, phàn nàn của khách55Bảng 3.7: Đánh giá Việc giải quyếtthanh toán hóa đơn cho khách56 Biểu đồ2.7: Đánh giá Việc giải quyết thanh toán hóa đơn cho khách 56Bảng 3.8 .Đánh giá việc hướng dẫn sử dụng các trang thiết bị trong khách sạn của nhân viên Lễ tân57Biểu đồ2.8: Đánh giá việc hướng dẫn sử dụng các trang thiết bị trong khách sạn của nhân viên Lễ tân57Bảng 3.8: Đánh giá trình độ ngoại ngữ của lễ tân58Biểu đồ 2.9: Đánh giá trình độ ngoại ngữ của lễ tân58 DANH MỤC SƠ ĐỒSơ đồ 1.1 Cơ cấu tổ chức bộ phận Lễ tân khách sạn quy mô nhỏ.9Sơ đồ 1.2 Cơ cấu tổ chức bộ phận Lễ tân khách sạn quy mô vừa10Sơ đồ 1.3 Cơ cấu tổ chức bộ phận Lễ tân khách sạn quy mô lớn.11Sơ đồ1.4. Các giai đoạn phục vụ khách và các công việc liên quan tới bộ phận lễ tân:12Sơ đồ2.1. Bộ máy quản lý trong khách sạn18Sơ đồ 2.2: Cơ cấu tổ chức bộ phận Lễ tân khách sạn Brandi33 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ KHÁCH SẠN1.1. Khái niệm và đặc điểm kinh doanh khách sạn1.1.1.Khái niệm về kinh doanh khách sạnLịch sử ngành khách sạn đánh dấu sự ra đời của khách sạn là những buồng phòng thô sơ mà khách bộ hành lỡ đường kiếm chỗ dừng chân, có trả tiền. Sau đó thì mở thêm dịch vụ ăn uống phục vụ thêm nhu cầu ăn uống của khách hàng. Nền kinh tế ngày càng phát triển, đời sống vật chất của con người ngày càng được cải thiện, con người có điều kiện chăm lo đến đời sống tinh thần hơn, số người đi du lịch ngày càng tăng nhanh. Cùng với sự phát triển của hoạt động du lịch, sự cạnh tranh giữa các khách sạn nhằm thu hút ngày càng nhiều khách và nhất là những khách có khả năng tài chính cao đã làm tăng tính đa dạng trong hoạt động của ngành. Ngoài hai hoạt động chính (nghỉ ngơi và ăn uống), nhu cầu nảy sinh thêm điều kiện cho các cuộc họp, cho các mối quan hệ, cho việc chữa bệnh, vui chơi giải trí v.v…cũng ngày càng tăng nhanh. Các điều kiện ấy đã làm cho trong nội dung của khái niệm kinh doanh khách sạn có thêm hoạt động tổ chức các dịch vụ bổ sung (dịch vụ giải trí, thể thao, y tế, dịch vụ chăm sóc sắc đẹp, dịch vụ giặt làv.v…)Trên phương diện chung nhất,có thể đưa ra định nghĩa về Kinh doanh khách sạn như sau: Kinh doanh khách sạn là hoạt động kinh doanh trên cơ sở cung cấp các dịch vụ lưu trú, ăn uống và các dịch vụ bổ sung cho khách nhằm đáp ứng nhu cầu ăn, nghỉ, giải trí của họ tại các địa điểm du lịch nhằm mục đích lợi nhuận.(Theo định nghĩa của Ts. Nguyễn Văn Mạnh và ThS. Hoàng Thị Lan Hƣơng (2008), trong cuốn Giới thiệu tổng quan về kinh doanh khách sạn, Quản trị kinh doanh khách sạn thuộc Đại học kinh tế Quốc dân1012).1.1.2.Đặc điểm kinh doanh khách sạnViệc tìm hiểu đặc điểm của hoạt động kinh doanh khách sạn giúp ích rất nhiều trong việc quyết định đầu tư vào một khách sạn, và giải quyết các vấn đề liên quan đếnVị trí, quy mô và hình thức kinh doanh khách sạn nào cho phù hợp. Trong đó, loại hoạt động này có những đặc điểm chủ yếu sau:Hoạt động kinh doanh của khách sạn phụ thuộc rất lớn vào đặc điểm tài nguyên du lịch tại nơi tọa lạc: Bởi vì ngành du lịch và khách sạn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau là do tính chất của các khách hàng của ngành này, họ chủ yếu đi du lịch tham quan, nghỉ dưỡng, đi công tác ở những tỉnh thành phố lớn hoặc những thành phố du lịch nổi tiếng. Do đó, tại những vị trí địa lý có tài nguyên du lịch thì nơi đó là nơi tập trung nhiều khách sạn. Ngoài ra quy mô của khách sạn cũng phụ thuộc vào sức hấp dẫn của các tài nguyên này.Vị trí thuận lợi là điểm mấu chốt quyết định thành công của một khách sạn, do đó để có thể lấy được ưu thế thuận lợi về vị trí địa lý trong cạnh tranh thì cần một số tiền đầu tư rất lớn trong việc mua đất, giải phóng mặt bằng….Ngoài ra, một khách sạn đẹp và sang trọng là điều quan trọng giúp gây ấn tượng tốt ban đầu cho các du khách, do đó, ngành này đòi hỏi cơ sở vật chất, kĩ thuật và nội thất khá tốn kém…và cơ sở vật chất này càng nâng cao lên cùng với thứ hạng sao trong ngành khách sạn.Kinh doanh khách sạn đòi hỏi một lượng lao động trực tiếp tương đối lớn: Tính chất hoạt động 2424 của một khách sạn đòi hỏi một lượng nhân viên làm việc theo ca tương đối lớn. Ngành khách sạn là ngành mà diễn ra mối quan hệ trực tiếp giữa các nhân viên với khách hàng, hơn nữa, cũng để có thể cạnh tranh trong chất lượng phục vụ, mà khách sạn phải tuyển dụng những nhân viên được đào tạo quy củ, có trình độ giao tiếp tốt và nhất là có thể giao tiếp tiếng anh tốt nhằm phục vụ khách ngoại quốc. Vì vậy, có thể kết luận, đặc điểm về lao động trong ngành khách sạn là đông và kiến thức nghiệp vụ cao, dễ biến động.Kinh doanh khách sạn mang tính quy luật: Kinh doanh khách sạn chịu sự chi phối của một số nhân tố, mà chúng lại hoạt động theo một số qui luật như: quy luật tự nhiên, qui luật kinh tế xã hội, qui luật tâm lý của con người…(Ts. Nguyễn Văn Mạnh và ThS. Hoàng Thị Lan Hương (2008), “Giới Thiệu Tổng Quan Về Kinh Doanh Khách Sạn”, Quản Trị Kinh Doanh Khách Sạn, Đại Học Kinh Tế Quốc Dân, Hà Nội, 26)1.2.Chất lượng dịch vụ1.2.1.Khái niệm chất lượng dịch vụ Chất lượng dịch vụ là những gì khách hàng cảm nhận được. Chất lượng dịchvụ được xác định dựa vào nhận thức hay cảm nhận của khách hàng liên quan đến nhu cầu cá nhân củahọ. Dựa theo tháp Nhu cầu cá nhân của Maslow (A Theory of Human Motivation), ta có thể thấy : Những nhu cầu cơ bản ở phía đáy tháp phải được thoả mãn trước khi nghĩ đến các nhu cầu cao hơn. Các nhu cầu bậc cao sẽ nảy sinh và mong muốn được thoả mãn ngày càng mãnh liệt khi tất cả các nhu cầu cơ bản ở dưới (phía đáy tháp) đã được đáp ứng đầy đủ. Vì vậy, trong kinh doanh khách sạn, tùy vào đẳng cấp của khách sạn mà chất lượng dịch vụ phải đảm bảo thỏa mãn được các mức nhu cầu tương ứng của đối tượng khách hàng mình đang phục vụ.1.2.3.Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụTheo tài liệu đào tạo đánh giá chất lượng dịch vụ Servqual của chi cục Tiêu Chuẩn – Đo Lường – Chất Lượng Tp. HCM. Có 10 Tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ:•Độ tin cậy (reliability): khả năng cung cấp thông tin chính xác và thực hiện lời hứa dịch vụ đưa ra. Yếu tố này có thể đánh giá qua việc một nhân viên kỹ thuật nói rằng lỗi trên website của bạn đang được xử lý và sẽ xong trong vòng nửa giờ nữa, liệu anh ta có gọi cho bạn như đã hứa không? Chúng ta đánh giá độ tin cậy của một doanh nghiệp dựa trên việc liệu họ có thực hiện những gì đã hứa.•Khả năng đáp ứng (responsiveness): nói lên sự mong muốn và sẵn sàng của nhân viên phục vụ cung cấp các dịch vụ cho kháchhàng•Năng lực phục vụ (competence): Nói lên trình độ chuyên môn để thực hiện dịch vụ. Khả năng phục vụbiểu hiện khi nhân viên tiếp xúc với khách hàng, nhân viên trực tiếp thực hiện dịch vụ, khả năng nghiên cứu để nắm bắt thông tin liên quan cần thiết cho việc phục vụ khách hàng.•Tiếp cận (access): liên quan đến việc tạo mọi điều kiện dễ dàng cho khách hàng trong việc tiếp cận với dịch vụ như rút ngắn thời gian chờ đợi của khách hàng, địa điểm phục vụ và giờ mở cửa thuận lợi cho khách hàng•Lịch sự (courtesy): nói lên tính cách phục vụ niềm nở, tôn trọng và thân thiện với khách hàng của nhânviên.•Thông tin (communication): liên quan đến việc giao tiếp, thông đạt cho khách hàng bằng ngôn ngữ mà họ (khách hàng) hiểu biết dễ dàng và lắng nghe về những vấn đề liên quan đến họ như giải thích dịch vụ, chi phí, giải quyết khiếu nại thắc mắc.•Tín nhiệm (credibility): Là sự sẵn sàng giúp đỡ khách hàng một cách tích cực và cung cấp dịch vụ một cách hăng hái. Trong trường hợp dịch vụsai hỏng. Khả năng phục hồi nhanh chóng có thể tạo ra cảm nhận tích cực về chất lượng.•Độ an toàn ( security): liên quan đến khả năng bảo đảm sự an toàn cho khách hàng, thể hiện qua sự an toàn về vật chất, tài chính, cũng như bảo mật thông tin.•Hiểu biết khách hàng (understanding customer): thể hiện qua khả năng hiểu biết và nắm bắt nhu cầu của khách hàng thông qua việc tìm hiểu những đòi hỏi của khách hàng, quan tâm đến cá nhân họ và nhận dạng được khách hang thường xuyên.•Phương tiện hữu hình (tangibles): thể hiện qua ngoại hình, trang phục của nhân viên phục vụ, các trang thiết bị hỗ trợ cho dịch vụ.(Nguồn: tài liệu của cục Tiêu ChuẩnĐo LườngChất Lượng TP. HCM và trên trang web: vi.wikipedia.orgwikiThang_đo_SERVQUAL)1.2.4.Ý nghĩa của việc hoàn thiện chất lượng dịch vụ.Nâng cao chất lượng dịch vụ giúp gia tăng lợi nhuận, giảm chi phí quảng cáo, chi phí marketing cho khách sạn.Nâng cao chất lượng dịch vụ giúp gia tăng lợi nhuận cho khách sạn. Chất lượng dịch vụ cao sẽ giữ chân được khách hàng, tạo ra nhiều khách hàng chung thành và thu hút thêm nhiều khách mới. Để khách hàng lựa chọn tiêu dùng một sản phẩm nào đó họ thường dựa vào thang căn cứ có độ tin cậy như thông tin truyền miệng, hay kinh nghiệm bản thân. Chất lượng dịch vụ cao sẽ được khách hàng thường xuyên sử dụng, hay nói cách khác là khách sẽ chung thành với khách sạn.Hơn nữa, chất lượng dịch vụ tốt sẽ được khách hàng truyền tin nhau, từ đó sẽ có thêm các khách hàng mới đến với khách sạn mà không phải tốn thêm chi phí quảng cáo.Sản phẩm của khách sạn bao gồm hai thành phần là hàng hoá và dịch vụ, mà dịch vụ mang tính vô hình không cân đong đo đếm được và không trưng bày được. Khách hàng phải mua nó trước khi thấy nó và thấy nó là phải tiêu dùng nó.Không ai đồng ý cho khác h dùng thử sản phẩm rồi mới quyết định mua. Do đó, người tiêu dùng sản phẩm thường dựa vào những căn cứ có độ tin cậy như thong tin từ người quen hoặc kinh nghiệm của bản thân để đi đến quyết định lựa chọn sản phẩm của nhà hàng.Khi khách sạn không quan tâm đến chất lượng dịch vụ hoặc quản lý chất lượng dịch vụ kém sẽ làm khách hàng không hài lòng với việc cung cấp dịch vụ của khách sạn. Họ sẽ chuyển sang tiêu dùng sản phẩm của đối thủ cạnh tranh. Khách hàng sẽ mang những thông tin tiêu cực của khách sạn truyền cho những người chưa biết hoặc chưa tiêu dùng sản phẩm của khách sạn. Kết quả là khách sạn đã mất đi những khách hàng cũ và mất thêm những khách hàng tiềm năng vào tay đối thủ cạnh tranh. Mọi nỗ lực marketing, quảng cáo của khách sạn đều trở thành vô nghĩa. Cho dù chưa từng sử dụng sản phẩm của khách sạn nhưng các khách hàng mới đã có ấn tượng xấu.Đểcólại những khách hàng này khách sạn phải đợi đến khi nào đối thủ cạnh tranh mắc lỗi hoặc không quan tâm đến chất lượng dịch vụ, mà điều này là rất khó xảy ra trong môitrường cạnh tranh hiện nay.Nếu không khách sạn sẽ phải tốn rất nhiều chi phí và nỗ lực cho hoạt động marketing và còn phải mất thời gian rất lâu mới lấy lại được lòng tin của khách hàng.Như vậy, việc nâng cao chất lượng dịch vụ của khách sạn sẽ giúp cho kháchsạn giữ chân những khách hàng đã có và thuyết phục thêm những khách hàng mới.Điều đó mang lại nhiều lợi ích cho nhàhàng:Giảm chi phí marketing, quảng cáo.Từ đó mang lại lợi nhuận cao hơn.Tăng thị phần và duy trì tốc độ tăng trưởng cao về chỉ tiêu khách của khách sạn, tăng doanh thu cho khách sạn.Tăng số lượng khách hàng chung thuỷ với khách sạn, thương hiệu và uy tín của khách sạn ngày càng được nâng cao.Nâng cao chất lượng dịch vụ giúp tăng giá bán một cách hợp lý và tăng khảnăng cạnh tranh trên thị trường.Ngày nay tiêu chí chất lượng là một chỉ tiêu rất quan trọng trong việc lựa chọn sản phẩm, đặc biệt là sản phẩm dịch vụ thì chất lượng luôn luôn là tiêu chí đầu tiên để khách hàng lựa chọn khi quyết định mua sản phẩm.Trong lĩnh vực kinh doanh nhà hàng khách sạn, khách hàng mua sản phẩm là để thoả mãn nhu cầu tâm sinh lý.Khách luôn muốn được cung cấp một dịch vụ tốt nhất.Chất lượng luôn là tiêu chí hàng đầu để khách lựa chọn giữa những nhà hàng, những khách sạn có cùng thứ bậc. Nhà hàng – khách sạn nào cung cấp dịch vụ tốt hơn sẽ thu hút được nhiều khách hàng hơn. Khách sẵn sàng trả giá cao cho những dịch vụ có chất lượng để có được sự thoải mái. Do đó, khách sạn có thể nâng giá sản phẩm của mình cao hơn đối thủ nếu sản phẩm của khách sạn luôn đảm bảo chất lượng, mà khách vẫn sẵn sàng mua. Mặt khác, giá cao cũng là một sự đảm bảo về một sản phẩm dịch vụ có chất lượng cao, khách hàngsẽ tin tưởng chấp nhận trả giá cao với hy vọng về chất lượng dich vụ sẽ nhận được.Tuy vậy, giá cao nhưng phải ở một mức nhất định, phải phù hợp với dịch vụ mà khách sạn cung cấp và phù hợp với khả năng chi trả của khách nếu không khách sạn sẽ thất bại.Nâng cao chất lượng dịch vụ giúp giảm chi phí trung gian, chi phí giám sát, các chi phí khác cho khách sạn.Nâng cao chất lượng dịch vụ là biện pháp hữu hiệu giúp khách sạn tiết kiệmchi phí kinh doanh.Chất lượng dịch vụ được đảm bảo sẽ giảm khả năng mắc lỗi trong quá trình cung cấp dịch vụ của khách sạn. Từ đó sẽ tối thiểu hoá các hao phí về thời gian, và các chi phí cho hoạt động giám sát trong quá trình cung cấp dịch vụ. Giảm các chi phí cho việc sửa chữa các sai sót như: đền bù thiệt hại cho khách, chi phí xử lý phàn nàn của khách.Chất lượng dịch vụ cao sẽ giảm các chi phí bất hợp lý về nhân lực.Chất lượng dịch vụ luôn luôn được đảm bảo sẽ tạo môi trường làm việc tốt, nhân viên được làm trong môi trường chuyên nghiệp sẽ có khuynh hướng gắn bó lâu dài và mức độ trung thành của nhân viên với khách sạn cao hơn. Do đó, hệ số luân chuyển lao động giảm, chi phí cho tuyển mộ tuyển chọn và chi phí sắp xếp lại nhân sự cũng giảm. Nhân viên sẽ cảm thấy tự hào khi được làm việc trong những doanh nghiệp có uy tín, họ sẽ nhận thấy lợi ích của họ gắn với lợi ích của khách sạn.Để khẳng định và giữ vị trí của mình, nhân viên sẽ tự giác và thường xuyên nâng cao trình độ nghiệp vụ, tự hoàn thiệnnhững thiếu sót của bản thân để đáp ứng những yêu cầu thực tế của công việc. Do vậy sẽ giúp khách sạn giảm chi phí đào tạo,chi phí bồi dưỡng,huấn luyện nhân viên.1.3.Khái niệm và đặc điểm bộ phận lễ tân khách sạn1.3.1 Khái niệm:Khách sạn là cơ sở kinh doanh sinh lời bằng việc cung ứng các dịch vụ ăn uống và các dịch vụ cần thiết khác cho khách hàng.Lễ tân có thể hiểu là tổng họp những nghi thức, thủ tục được thực hiện trong quá trình đón tiếp và dịch vụ khách. Trong khách sạn, Lễ tân là hoạt động mở đầu cho cuộc tiếp xúc chính thức với khách hàng bằng việc giới thiệu các dịch vụ của khách sạn cho đến khi đạt được sự thoả thuận thì làm thủ tục tiếp nhận khách.1.3.2.Đặc điểm:Bộ phận Lễ tân cũng là bộ phận đại diện cho khách sạn để giới thiệu, bán và cung cấp các dịch vụ có trong khách sạn mà khách hàng có thế sử dụng. Bên cạnh đó bộ phận này còn gợi mở nhu cầu, thuyết phục khách hàng sử dụng những dịch vụ khác để thoả mãn tối đa nhu cầu của khách hàng.Trong quá trình khách lưu trú, khách hàng có thể phát sinh những thắc mắc, những nhu cầu tiêu dùng những dịch vụ không có trong khách sạn thì bộ phận Lễ tân sẽ là bộ phận trực tiếp giải quyết các vấn đề phát sinh đó một cách nhanh gọn và làm cho khách hài lòng nhất.Chính vì thế, nhân viên Lễ tân cần thực hiện đúng quy trình lao động nghề nghiệp bằng các phương pháp và chuẩn mực quốc tế, chấp hành các quy chế luật lệ, pháp lệnh; phải hiểu biết rộng và tích luỹ kinh nghiệm, phải điều chỉnh mối quan hệ của mình với nhiều đối tượng khách và giải quyết các yêu cầu của khách; phải có cách bán hàng văn minh, hiểu rõ về sản phẩm dịch vụ, có văn hoá giao tiếp thương mại, tôn trọng khách.1.3.3.Chức năng nhiệm vụ vai trò của bộ phận lễ tân trong khách sạna.Chức năng:Bộ phận Lễ tân là một bộ phận quan trọng trong khách sạn, nó có một số chức năng như: nhận yêu cầu đặt bàn và lịch của khách, giải quyết các yêu cầu về dịch vụ trước được nhận bởi điện thoại, Fax, Email...Làm các thủ tục đăng ký khách sạn. Trong quá trình khách lưu trú thì bộ phận Lễ tân còn có chức năng liên hệ các dịch vụ, các hoạt động, các sự kiện với khách, bên cạnh đó bộ phận Lễ tân liên tục theo dõi tài khoản của khách, xác định tình trạng nợ của khách, lập các hoá đơn khi khách trả món và tiếp nhận tiền trả của khách.b.Nhiệm vụ của bộ phận LễTân.Nhiệm vụ của bộ phân Lễ Tân: Liên kết, phối hợp với các bộ phận liên quan để lên kế hoạch bán phòng ngủ trong một giai đoạn nhất định. Chuẩn bị các khâu trong quá trình đón khách,đáp ứng các nhu cầu trong quá trình khách lưu trú của khách tại khách sạn.Khi khách rời đi,đảm bảo chất lượng phục vụ làm hài lòng khách và mong muốn khách quay lại trong lần kế tiếp.Nhiệm vụ của bộ phận Lễ Tân cũng có thể được cụ thể hóa hơn bằng các nghiệp vụ được liệt kêsau:Đón tiếpkhách.Giới thiệu, bán các sản phẩm dịch vụ của khách sạn.Nhận đặt phòng và bố trí phòng cho khách.Làm thủ tục đăng kýkhách sạn cho khách.Theo dõi, cập nhật tình trạng phòng.Cung cấp thông tin về khách sạn cũng như các địa điểm vui chơi giải trí cho khách.Nhận chuyển giao thư điệntử,điệntín,fax,email.Thực hiện mọi thông tin điệnthoại.Tiếp nhận và giải quyết phàn nàn củakhách.Hợp tác chặt chẽ với các bộ phận khác để đáp ứng mọi yêu cầu của khách trong thời gian lưu trú.Theo dõi, cập nhật và tổng hợp các chi phí của kháchThanh toán và tiễn khách.•Tham gia vào công tác quảng cáo tiếp thị của khách sạn.c.Vai trò của bộ phận lễtân.Trong khâu đón tiếp, bộ phận Lễ Tân đóng vai trò quan trọng. Họ là người đầu tiên tiếp xúc với khách hàng, thể hiện bộ mặt của khách sạn, thực hiện nhiệm vụ tạo ấn tượng khi khách vừa đặt chân đến khách sạn. Thái độ niềm nở và tác phong khi làm thủ tục nhận phòng nhanh chóng, chuyên nghiệp chính là điều mà bộ phận này cần phải nâng cao và thể hiện đối với khách. Trong quá trình khách ở tại khách sạn, bộ phận này có nhiệm vụ theo dõi và đáp ứng các thắc mắc hay nhu cầu của khách. Từ đó thông báo cho các bộ phận có liên quan đáp ứng, phục vụ khách hoặc hỗ trợ khách hàng trong các trường hợp, tình huống cụ thể phát sinh. Giai đoạn này, bộ phận Lễ Tân còn đóng vai trò người quảng bá và thu hút khách cho các dịch vụ mà khách sạn cung cấp, có thể nói bộ phận Lễ tân có vai trò quan trọng trong công việc bán hàng, tiếp thị các sản phẩmcủa khách sạn.Khi khách chuẩn bị rời đi, chuẩn bị các thủ tục check out và thanh toán nhanh chóng và chính xác cho khách, đảm bảo khách khi rời đi mang tâm trạng hài lòng và có ý muốn quay lại.Bên cạnh đó bộ phận Lễ Tân đóng vai trò quan trọng trong việc giúp ban giám đốc đề ra các chiến lược, các chính sách sản phẩm và thị trường nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của khách sạn.d.Cơ cấu tổ chức bộ phận lễtân.Tùy vào quy mô của khách sạn mà cơ cấu tổ chức của bộ phận Lễ tân được bố trí sao cho phù hợp.
Xem thêm

Đọc thêm

Nâng cao chất lượng phục vụ ở bộ phận lễ tân khách sạn thanh long

Nâng cao chất lượng phục vụ ở bộ phận lễ tân khách sạn thanh long

Lễ tân là một bộ phận trong khách sạn chịu trách nhiệm phối hợp và sắp xếp để cung ứng các dịch vụ khách hàng, kết nối khách hàng và bộ phận quản lý, điều hành giám sát chu trình phục vụ khách. 2. Chức năng của bộ phận lễ tân trong khách sạn a. Đối với khách sạn lớn và khách sạn liên doanh Trong khách sạn lớn mỗi nhân viên lễ tân đảm nhiệm một mảng công việc khác nhau, nhưng vào thời điểm đông khách các nhân viên lễ tân thường hỗ trợ cho nhau. Mỗi khách sạn có một cơ cấu tổ chức lễ tân khác nhau nhưng phổ biến ở một bộ phận lễ tân thường thực hiện 5 chức năng sau đây: + Đặt buồng + Đón tiếp + Thu ngân + Tổng đài điện thoại + Quan hệ với khách b. Đối với khách sạn vừa và nhỏ Số lượng nhân viên lễ tân có hạn chế nên mọi nhân viên phải đảm nhiệm hai hoặc nhiều công việc trong ca. 3. Vai trò và nhiệm vụ của bộ phận lễ tân a. Vai trò Bộ phận lễ tân được ví như: “Trung tâm thần kinh” của khách sạn lễ tân có thể quan sát được luồng khách ra vào khách sạn tại đây khách đến đặt buồng, trao đổi thông tin, trả buồng, thanh toán. Bộ phận lễ tân đại diện cho khách sạn là người bán hàng cung cấp thông tin dịch vụ của khách sạn cho khách, là nơi giới thiệu sản phẩm, dịch vụ của khách sạn. Lễ tân là nơi tiếp nhận giải quyết mọi kêu ca, phàn nàn của khách và là bộ phận nắm rõ thị hiếu của khách hàng. Nút liên hệ: là cầu nối giữa khách và các bộ phận còn lại của khách sạn. Bộ phận này còn đóng vai trò quan trọng trong việc giúp ban giám đốc vạch ra chiến lược để hoàn thiện sản phẩm. b. Nhiệm vụ của bộ phận lễ tân Đón tiếp khách Giới thiệu bán sản phẩm cho khách sạn Nhận đặt buồng và bố trí buồng cho khách Nhận làm thủ tục đăng ký cho khách Luôn luôn theo dõi và cập nhật tình trạng buồng Cung cấp thông tin cho khách Nhận chuyển giao thư từ, điện tín, fax, email,… Thực hiện mọi thông tin điện thoại Tiếp nhận và giải quyết các thắc mắc, phàn nàn của khách Hợp tác chặt chẽ với các bộ phận khác để đáp ứng mọi yêu cầu của khách trong mọi thời gian lưu trú Theo dõi, cập nhật và tổng hợp các chi phí cho khách Thanh toán và tiễn khách Tham gia công tác quảng cáo và tiếp thị của khách sạn Thực hiện nhận ca cụ thể và chính xác Tổng kết tình hình khách đến và đi trong ngày
Xem thêm

Đọc thêm

Tăng cường và bồi dưỡng đào tạo đội ngũ nhân viên lễ tân ở khách sạn Thắng Lợi Hà Nội.

Tăng cường và bồi dưỡng đào tạo đội ngũ nhân viên lễ tân ở khách sạn Thắng Lợi Hà Nội.

Học phần: Nghiên cứu khoa học Đề tài: Tăng cường và bồi dưỡng đào tạo đội ngũ nhân viên lễ tân ở khách sạn Thắng Lợi Hà Nội. I. Xác định vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu. 1.1.Vấn đề nghiên cứu. Chất lượng đội ngũ nhân viên lễ tân tại khách sạn Thắng Lợi và đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ nhân viên lễ tân. 1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Nhằm tăng cường đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ nhân viên lễ tân tại khách sạn Thắng Lợi từ đó nâng cao chất lượng đội ngũ lễ tân; Tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp khách sạn; Tạo ra tính chuyên nghiệp và gắn bó giữa người lao động với doanh nghiệp khách sạn; Cập nhật các kĩ năng, kiến thức mới cho nhân viên giúp họ nâng cao trình độ như trình độ ngoại ngữ, trình độ tay nghề, khả năng giao tiếp ứng xử và sự chuyên môn hóa trong việc giúp khách sạn tạo ra lợi thế cạnh tranh về chất lượng nhân viên. 1.3. Nhiệm vụ Phân tích, nghiên cứu và tìm hiểu thực trạng bộ phận lễ tân khách sạn Thắng Lợi Hà Nội. Khảo sát, thăm dò ý kiến của khách hàng, nhà quản trị khách sạn, nhân viên lễ tân tới sử dụng dịch vụ của khách sạn. Phạm vi nghiên cứu: Bộ phận lễ tân khách sạn Thắng Lợi Hà Nội. II. Tổng quan lí thuyết 2.1. Khái niệm nghiên cứu định tính. Nghiên cứu định tính thường được dùng để xây dựng lý thuyết khoa học dựa vào quy trình quy nạp. Phương pháp nghiên cứu định tính là phương pháp tiếp cận nhằm tìm cách mô tả và phân tích dữ liệu dạng định tính nhằm khám phá quy luật của hiện tượng khoa học từ quan điểm của nhà nghiên cứu. Nghiên cứu định tính thường liên quan đến việc phân tích và diễn giải dữ liệu dạng định tính. Phương pháp nghiên cứu định tính rất có giá trị trong nghiên cứu xã hội vì nó cho phép: Tìm hiểu những vấn đề khó và nhạy cảm. Phát hiện những quần thể cần được chú trọng trước hết. Thăm dò tính khả thi, mức độ chấp nhận và sự phù hợp của chính sách, chương trình mới. Chỉ ra những hạn chế của chính sách can thiệp đang triển khai và đưa ra giải pháp điều chỉnh. Giúp thiết kế các công cụ điều tra chính xác hơn bằng cách phát hiện chủ đề nghiên cứu thích hợp và xác định các câu hỏi thích hợp. 2.2.Phương pháp thu thập dữ liệu định tính. + Phương pháp GT (Grounded theory): Là phương pháp xây dựng lý thuyết khoa học dựa trên dữ liệu thông qua việc thu thập, so sánh dữ liệu để nhận dạng, xây dựng và kết nối những dữ liệu với nhau. + Phương pháp tình huống (Case study method): Là phương pháp xây dựng lý thuyết từ dữ liệu ở dạng tình huống, đơn hoặc đa tình huống. 2.3.Công cụ thu thập dữ liệu định tính. + Quan sát (observation) +Nhóm bàn tròn (focus group) +Phỏng vấn chi tiết (indepth interview). III. Vận dụng phương pháp nghiên cứu định tính vào đề tài nghiên cứu. 3.1. Tổng quan về khách sạn Thắng Lợi Hà Nội.
Xem thêm

Đọc thêm

XÂY DỰNG PHẦN MỀM QUẢN LÝ KHÁCH SẠN

XÂY DỰNG PHẦN MỀM QUẢN LÝ KHÁCH SẠN

Trên thế giới cũng như ở Việt Nam nghành công nghệ thông tin có ảnh hưởng rất lơn đến nền kinh tế. Nó trở thành yếu tố quyết định đến sự thành công hay thất bại của nhiều nghành.CNTT đang phát triển mạnh mẽ và được áp dụng rông rãi trong tất cả các nghành, nó đóng góp một phần rất lớn làm đơn giản hóa cũng như rút ngắn thời gian nâng cao hiệu quả công việc của các nhà quản lý.Trong các yếu tố kinh tế thì ngành du lịch là một ngành kinh doanh có từ rất lâu đời trên thế giới. Tại các nước đang phát triển, ngành du lịch phát triển hết sức mạnh mẽ và có lợi nhuận cao với sự hỗ trợ đắc lực của ngành công nghệ thông tin trong tổ chức và hoạt động.Tại nước ta trong những năm gần đây, ngành du lịch mới thực sự phát triển với quy mô lớn. Đi đôi với sự phát triển của ngành du lịch đó là việc kinh doanh các Khách sạn phục vụ cho khách du lịch cũng ngày càng phát triển. Từ thực tế cho thấy việc kinh doanh Khách Sạn cho ngành du lịch là vô cùng cần thiết.Khách sạn Cầu Giấy là một trong nhưng khách sạn lơn của thành phố Hà Nội. Do đó nhu cầu ứng dụng cơ sở dữ liệu trong quản lý khách sạn là hết sức thiết thực. Vì vậy chúng e đã chọn đề tài xây dựng phần mềm quản lý khách sạn Cầu Giấy làm đề tài thực tập.Trong thời gian tìm hiểu nghiên cứu tại “Khách Sạn Cầu Giấy”, chúng em đã hoàn thành đề tài của mình. Đây là kết quả của một quá trình làm việc nghiêm túc dựa trên kiến thức mà chúng em có được dưới sự truyền dạy của quý thầy cô trong trường.Qua đây chúng em xin chân thành cảm ơn “quý thầy cô trong khoa công nghệ thông tin trường Đại Học Công Nghiệp Hà Nội” và toàn thể “Ban lãnh đạo và các nhân viên của khách sạn Cầu Giấy ” đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng em trong suốt quá trình khảo sát tại khách sạn. Đặc biệt chúng em xin
Xem thêm

49 Đọc thêm

NĂNG LỰC CẠNH TRANH DỊCH VỤ CỦA DOANH NGHIỆP KHÁCH SẠN

NĂNG LỰC CẠNH TRANH DỊCH VỤ CỦA DOANH NGHIỆP KHÁCH SẠN

LỜI CẢM ƠNSau 2 năm học cao học tại trường Đại học Phương Đông, khoa kinh tếquản trị kinh doanh và được sự giúp đỡ của thầy cô giáo, bạn bè, các anh chịtại khách sạn Bảo Sơn, em đã cố găng hoàn thành bài luận văn tốt nghiệp vớiđề tài: “Nâng cao năng lực cạnh tranh dịch vụ của khách sạn Bảo Sơn”Em rất biết ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô và các anh chị trongkhách sạn Bảo Sơn.Đầu tiên em xin chân thành cảm ơn chuyên gia cao cấp- TS.NGUYỄNTHANH THỊNH đã tận tình giúp đỡ em trong suốt quá trình viết luận vănThạc Sĩ Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh.Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô công tác tại trường Đại họcPhương Đông giúp em có những kiến thức bổ ích để phục vụ cho việc viếtluận văn, cũng như ứng dụng vào công tác và cuộc sống sau này. Sau thờigian học em đã tiếp thu được rất nhiều những kiến thức và kinh nghiệm quýbáu từ các thầy cô.Em cũng xin chân thành cảm ơn các anh chị công tác tại khách sạn BảoSơn. Mọi người đã giúp em những kiến thức về khách sạn để em hoàn thànhluận văn này.Trong quá trình làm luận văn, do còn chưa hiểu biết hết nên trong bàiviết không thể không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong được sự góp ýcủa các thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp, đặc biệt là các anh chị đang công tác tạikhách sạn.Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô!MỤC LỤCiDANH MỤC BIỂU ĐỒ iv ii........................................................................viiiMỞ ĐẦU 1 ii......................................................viii1. Tính cấp thiết của đề tài 1 ii....................................................................viii
Xem thêm

148 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ KHÁCH SẠN TẠI KHÁCH SẠN THẮNG LỢI HÀ NỘI

NGHIÊN CỨU QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ KHÁCH SẠN TẠI KHÁCH SẠN THẮNG LỢI HÀ NỘI

Nghiên cứu quản trị chất lượng dịch vụ khách sạn tại khách sạn Thắng Lợi Hà Nội.Việt Nam là một nước có tiềm năng du lịch rất lớn. Ngành du lịch phát triển kéo theo các ngành sản xuất và dịch vụ khác cũng phát triển theo. Trong đó phải nhắc đến là kinh doanh khách sạn. Số lượng khách quốc tế và nội địa ngày càng gia tăng khiến cung về dịch vụ chỉ trong một thời gian ngắn đã phát triển vượt bậc cả về số lượng và chất lượng. Nhu cầu của khách du lịch ngày càng cao, thêm vào đó là số lượng khách sạn mọc lên ngày càng nhiều làm cho cạnh tranh trong ngành khách sạn ngày càng gay gắt. Muốn tồn tại, phát triển và xây dựng hình ảnh đẹp trong mắt khách hàng thì mỗi khách sạn phải tìm cho mình một hướng đi. Một hướng đi riêng để thu hút khách du lịch và nâng cao hiệu quả kinh doanh. Để làm được điều này các khách sạn phải sử dụng rất nhiều công cụ nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh. Một trong những công cụ cạnh tranh hiệu quả và bền vững nhất đó là quản lí chất lượng dịch vụ. Nhận thức được vấn đề này nhóm 6 đã thảo luận và quyết định nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu quản trị chất lượng dịch vụ khách sạn tại khách sạn Thắng Lợi Hà Nội”. Do thời gian và kiến thức còn hạn hẹp nên bài tiểu luận khó tránh khỏi thiếu sót mong cô và các bạn góp ý để chúng em có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề.Chúng em xin chân thành cảm ơn PHẦN I: KHÁI QUÁT VỀ DỊCH VỤ1.1Khái niệm, đặc điểm, quy trình cung ứng dịch vụ khách sạn 1.1.1Khái niệm dịch vụ khách sạnDịch vụ khách sạn là tất cả các sản phẩm dịch vụ mà khách sạn cung cấp nhằm đáp ứng nhu cầu cuả khách hàng kể từ khi họ liên hệ với khách sạn lần đầu để đăng ký buồng cho tới tiêu dùng xong và rời khỏi khách sạn.1.1.2Đặc điểm dịch vụ khách sạn♦ Tính vô hình một cách tương đối của dịch vụĐặc tính này nó phản ánh một thực tế là khi khách hàng đến sử dụng dịch vụ khách sạn thì đó là sự trải nghiệm nhiều hơn là sự sở hữu Tính vô hình của dịch vụ khách sạn làm cho khó có thể đánh giá được các dịch vụ cạnh tranh khi tiêu dùng dễ gặp rủi ro vì vậy khách hàng thường dựa vào thông tin cá nhân và sử dụng giá cả làm cơ sở để đánh giá chất lượng♦ Tính đồng thời của sản xuất và tiêu dùngSản xuất và tiêu dùng đồng thời xảy ra không tách rời nhau được không có khoảng thời gian giữa sản xuất và tiêu dùng sản phẩm hỏng là không thể kiểm tra được. Khi khách sạn cung cấp các dịch vụ đến đâu thì khách hàng sử dụng luôn tới đó. ♦ Sự tham dự của khách hàng trong quá trình tạo ra dịch vụSản xuất và tiêu dùng đồng thời xảy ra nên không thể thiếu khách hàng hoặc là nhà cung cấp để có sản phẩm dịch vụ thì phải có khách hàng khách hàng có tính quyết định trong việc sản xuất dịch vụ♦ Tính không đồng nhấtCũng sử dụng một dịch vụ nhưng ở mỗi người có sự cảm nhận khác nhau và có những nhận xét khác nhau về dịch vụ đó nên rất khó đưa ra các tiêu chuẩn để đánh giá dịch vụ vì vậy nhà cung cấp dịch vụ cần phải đồng cảm mình vào vị trí của khách hàng để có thể hiểu được nhu cầu của họ từ đó cung cấp dịch vụ được tốt nhất♦ Tính để hư hỏng và không cất giữ
Xem thêm

35 Đọc thêm

CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY TRÌNH NGHIỆP VỤ BUỒNG TẠI KHÁCH SẠN INCO 515.9

CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY TRÌNH NGHIỆP VỤ BUỒNG TẠI KHÁCH SẠN INCO 515.9

1.1 Một số lý luận về kinh doanh khách sạn và bộ phận buồng trong khách sạn 1.1.1 Kinh doanh khách sạn Khách sạn là cơ sở cung cấp dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống, dịch vụ vui chơi giải trí và các dịch vụ cần thiết khác cho khách lưu lại qua đêm và thường được xây dựng tại các điểm du lịch. Khách sạn là công trình kiến trúc được xây dựng độc lập, có quy mô từ 10 buồng ngủ trở lên, đảm bảo chất lượng về cơ sở vật chất, trang thiết bị cần thiết phục vụ khách du lịch. Khách sạn là một cơ sở phục vụ nhu cầu chỗ ở của du khách. Tùy theo nội dung và đối tượng sử dụng mà phân loại khách sạn tạm trú, nghỉ dưỡng, hội nghị…Theo mức độ tiện nghi phục vụ, khách sạn được phân loại theo số lượng sao (từ 1 đến 5 sao). Các tiện nghi cơ bản trong một phòng ở khách sạn là một giường, một nhà vệ sinh, một bàn nhỏ. Còn trong các khách sạn sang trọng hơn thì có thể có vài phòng với phòng ngủ và phòng khách riêng và thêm các tiện nghi khác như điều hòa, điện thoại, tivi, wifi, các loại đồ uống và đồ ăn nhẹ. Sản phẩm của khách sạn thực chất là một quá trình tổng hợp các hoạt động từ khi nghe lời yêu cầu của khách cho đến khi khách rời khỏi khách sạn. Sản phẩm khách sạn rất đa dạng tổng hợp bao gồm vật chất và phi vật chất, có thứ do khách quan tạo ra, có thứ do ngành khác tạo ra nhưng khách sạn là khâu phục vụ trực tiếp 1.1.2 Bộ phận buồng trong khách sạn Bộ phận phục vụ buồng chịu trách nhiệm làm vệ sinh hàng ngày hoặc theo định kì buồng của khách và các khu vực công cộng. Do vậy, bộ phận này chịu trách nhiệm về các đồ vải, lau chùi đồ đạc, làm vệ sinh thảm, trang trí, chuẩn bị giường ngủ và chăn màn. Đôi khi bộ phận này còn phải giặt giũ quần áo cho khách và các phòng ban khác. Trong mọi công việc của mình, mục đích của bộ phận phục vụ buồng là duy trì các tiêu chuẩn phù hợp cùng với phương thức phục vụ buồng hoàn hảo. Trong các hoạt động của khách sạn, việc cung cấp kịp thời các dịch vụ và buồng ở sạch đẹp, thoải mái, được đánh giá cao và các đánh giá này đã gây ảnh hưởng tới các khách hàng khác. Vai trò của bộ phận buồng có thể sánh ngang với bộ phận nhà hàng. Bộ phận buồng có nhiệm vụ: Thông qua việc phục vụ phản ánh được trình độ văn minh, lịch sự của ngành du lịch, từ đó khách hiểu được phong tục, tập quán lòng hiếu khách của người Việt Kiểm tra các trang thiết bị trong phòng, thay thế nếu hỏng hóc. Làm vệ sinh hàng ngày phòng khách nghỉ Chịu trách nhiệm trước ban giám đốc về toàn bộ tài sản trong phòng nghỉ Phản ánh ý kiến của khách hàng tới bộ phận có liên quan để nâng cao chất lượng phục vụ khách. 1.1.3 Tầm quan trọng của kinh doanh lưu trú trong khách sạn Hoạt động kinh doanh lưu trú là mảng hoạt động chính yếu nhất của bất kì khách sạn nào. Hoạt động kinh doanh lưu trú được xem như một trục chính để toàn bộ hoạt động kinh doanh khác của khách sạn xoay quanh nó. Vai trò then chốt của hoạt động kinh doanh lưu trú trong khách sạn xuất phát từ ba lí do chính: lý do về kinh tế, vai trò quan trọng trong việc tham gia phục vụ trực tiếp khách và cung cấp dự báo quan trọng cho khách sạn Hoạt động kinh doanh lưu trú đóng vai trò trụ cột, là hoạt động chính của môt khách sạn vì doanh thu từ hoạt động này chiếm tỉ lệ rất cao. Vì thường các khách sạn nhỏ không có nhà hàng, quầy bar, không có phòng hội thảo và không cung cấp các dịch vụ bổ sung khác, mà nguồn thu chủ yếu của chúng là từ hoạt động kinh doanh lưu trú. Ngược lại, ở những khách sạn lớn, ngoài nguồn thu từ hoạt động kinh doanh buồng ngủ, các khách sạn này còn có thể khai thác kinh doanh các dịch vụ khác như: dịch vụ ăn uống, dịch vụ điện thoại, dịch vụ giặt là, các dịch vụ bổ sung và các dịch vụ giải trí khác…Số lượng của các dịch vụ trong kinh doanh khách sạn tăng lên cùng với thứ hạng và quy mô của khách sạn. Dịch vụ phục vụ trực tiếp khách hàng là khâu quan trọng nhất đối với bộ phận kinh doanh lưu trú cũng như bộ phận kinh doanh ăn uống trong khách sạn Không có bộ phận nào trong khách sạn lại có quan hệ giao tiếp trực tiếp với khách hàng như ở bộ phận kinh doanh lưu trú. Ngoài ra bộ phận kinh doanh lưu trú cũng chính là bộ phận tạo ra những ấn tượng đầu tiên và những ấn tượng cuối cùng quan trọng nhất đối với khách khi đến tiêu dùng sản phẩm của khách sạn. Bộ phận kinh doanh lưu trú trong khách sạn luôn khẳng định vị trí quan trọng không thể thiếu của mình đối với một khách sạn. 1.2 Một số vấn đề lí luận về hoàn thiện quy trình nghiệp vụ buồng trong khách sạn 1.2.1 Đặc điểm nghiệp vụ buồng trong khách sạn. Buồng khách sạn là nơi để khách lưu trú trong thời gian nhất định với mục đích nghỉ ngơi hoặc làm việc.¬ Phục vụ buồng được hiểu là những hành động chăm lo sự nghỉ ngơi của khách bằng việc làm vệ sinh, bảo dưỡng các buồng khách và làm đẹp diện mạo khách sạn, đồng thời phục vụ đầy đủ các dịch vụ bổ sung mà khách yêu cầu. Bộ phận buồng có vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của khách sạn. Bộ phận buồng phối hợp cùng bộ phận lễ tân cung cấp dịch vụ lưu trú tạo doanh thu lớn (5060%) trong tổng doanh thu của khách sạn vì buồng khách là sản phẩm chính của khách sạn. Hơn nữa, việc đẩy mạnh bán dịch vụ buồng sẽ quyết định việc mở rộng quy mô các dịch vụ khách trong khách sạn. Tính chất công việc của bộ phận buồng rất phức tạp chủ yếu là lao động chân tay nên đòi hỏi sự cẩn thận, chu đáo, ý thức tiết kiệm và sự thận trọng trong công việc. Nhân viên phục vụ buồng phải có cách làm việc khoa học, phải có kỹ năng nghề và kỹ năng giao tiếp để tiến hành công việc một cách đồng bộ, đồng thời có thói quen cẩn thận để tiết kiệm thời gian và đảm bảo công việc chuyên môn. Nhân viên của bộ phận buồng ít giao tiếp với khách mà chủ yếu tiếp xúc với tài sản của khách nên đòi hỏi họ phải là những người trung thực, ngay thẳng, thật thà. Hoạt động phục vụ buồng rất đơn điệu nhưng lại vô cùng vất vả đòi hỏi sử dụng rất nhiều lao động. Bộ phận buồng phải phối hợp chặt chẽ với các bộ phận khác trong khách sạn như: lễ tân, bàn, bar, bếp, các bộ phận khác... để kết hợp phục vụ tốt các dịch vụ mà khách yêu cầu. 1.2.2 Quy trình nghiệp vụ buồng trong khách sạn Quy trình làm vệ sinh buồng khách trả và quy trình làm vệ sinh buồng có khách đều có 8 bước cơ bản giống nhau như sau: Sơ đồ 1.1: Quy trình làm vệ sinh buồng khách Cụ thể các bước trong quy trình làm vệ sinh buồng khách như sau: Bước 1: Nhận công việc Đầu ca, các nhân viên buồng nhận phiếu công tác có tên nhân viên, số lượng buồng, tình trạng buồng và nhận các vật dụng cần thiết: máy bộ đàm, chìa khóa buồng. Nhân viên buồng đọc và hiểu rõ các thông tin trên bảng theo dõi buồng khách. Trong quá trình làm việc, các nhân viên buồng cần chú ý ghi phiếu các thông tin: lượng đồ vải sử dụng; đồ vật mất, hỏng, yêu cầu của khách, điều bất thường; giờ vào và ra khỏi buồng, đánh dấu buồng đã dọn. Cuối ca, nhân viên buồng nộp phiếu có chữ ký nhân viên, giám sát cho thư ký buồng tại phòng trực buồng. Bước 2: Chuẩn bị và xác nhận ưu tiên Nhận đồ vải và khăn tắm: Các nhân viên nhận báo cáo tình trạng buồng từ khi nhận công việc qua người giám sát và tính toán yêu cầu hàng ngày về ga giường và khăn tắm theo danh mục kiểm tra và tiêu chuẩn khách sạn. Sau khi đã tính toán lượng đồ vải và khăn tắm cần thiết, nhân viên viết phiếu yêu cầu xuất lượng đồ vải và khăn tắm cần thiết đó. Tiếp theo nhân viên sẽ nhận đồ vải và khăn tắm từ kho đồ vải hoặc kho tầng. Kiểm tra chủng loại, số lượng, chất lượng, tránh đồ vải bị rách, vết bẩn, chưa là phẳng, lưu ý luôn cầm đồ vải bằng tay sạch và khô. Đồ vải và khăn tắm được xếp vào giữa xe đẩy, xếp đường sống ra ngoài, mép khăn vào trong, không vắt ga lên giá đỡ. Kiểm tra đủ số lượng, đảm bảo chất lượng đồ vải để cho ca làm việc, tránh mất thời gian và gây phiền toái cho khách. Nhận các vật dụng cung cấp cho buồng: Nhân viên xác định yêu cầu các loại vật dụng cung cấp cho buồng từ khi nhận báo cáo tình trạng buồng và tính toán lượng tối thiểu hàng ngày theo danh mục kiểm tra và tiêu chuẩn khách sạn, sau đó nhân viên viết phiếu yêu cầu xuất các vật dụng cung cấp cho buồng. Sau đó nhận vật dụng cung cấp cho buồng và sắp xếp trên xe đẩy theo trật tự xếp vào ngăn trên cùng của xe đẩy hoặc hộp riêng, xếp đồ vật gọn gàng trên bề mặt sạch, tem nhãn quay về phía bạn và dễ đọc, và lưu ý không sờ vào bằng tay ướt. Kiểm tra đủ số lượng đảm bảo chất lượng để tránh mất thời gian và gây phiền toái cho khách. Nhận các đồ dùng trong buồng: Các loại đồ dùng trong buồng như: văn phòng phẩm, bút, giấy, phong bì, giấy vệ sinh, danh mục và giỏ đụng đồ giặt là, danh bạ điện thoại, bản đồ, bảng chỉ dẫn sử dụng TV, báo thức, điện thoại, đồ uống, gạt tàn, diêm, hộp khăn giấy, biển báo không làm phiền, sơ đồ thoát hiểm... được các nhân viên tính toán lượng cần thiết (thay thế nếu thiếu, hỏng, bẩn hoặc gần hết) sau đó nhân viên nhận các đồ dùng trong buồng và xếp lên xe đẩy, kiểm tra đủ số lượng đảm bảo chất lượng đồ dùng cho ca làm việc. Xác định ưu tiên dọn buồng theo thứ tự: Trước tiên, nhân viên sẽ dọn buồng có khách đề nghị trước, sau đó dọn buồng trống và buồng khách đã rời khỏi khách sạn để không làm phiền khách và nhanh có buồng để bán. Cuối cùng, nhân viên sẽ dọn những buồng có khách. Bước 3: Vào buồng khách Nhân viên đẩy xe dọc hành lang đến trước cửa buồng khách rồi quan sát. Nếu thấy trước cửa buồng treo biển DND (do not disturb – xin miễn làm phiền) thì đến buồng khác. Nếu không treo biển DND thì gõ cửa 2 lần. Khách không trả lời thì gõ cửa lần nữa, mở cửa vào buồng, quan sát điều bất thường. Khách khóa xích hoặc có trong phòng thì đến buồng khác. Nếu khách trả lời thì chào khách và xin ý kiến khách, đồng ý thì vào dọn buồng. Bước 4: Làm vệ sinh phòng ngủ Khi làm vệ sinh phòng ngủ, nhân viên thực hiện tuần tự theo các bước sau: Sơ đồ 1.2: Quy trình làm vệ sinh phòng ngủ Làm thông thoáng phòng bằng cách nhân viên mở cửa, kéo rèm, bật quạt đồng thời bật các bóng đèn để thay thế những bóng đèn bị cháy. Sau đó, kéo rèm, kiểm tra các móc treo xem có bị hỏng không, tắt hoặc điều chỉnh các thiết bị trong buồng, nhặt và loại bỏ các đồ vật trước khi dọn. Đổ gạt tàn, thu nhặt rác và thay túi đựng rác. Chú ý dập tàn thuốc đang cháy
Xem thêm

70 Đọc thêm

Marketing dịch vụ Mường Thanh

MARKETING DỊCH VỤ MƯỜNG THANH

CHƯƠNG 1.GIỚI THIỆU VỀ KHÁCH SẠN MƯỜNG THANH:Tập đoàn khách sạn Mường Thanh được công nhận là Chuỗi Khách Sạn Tư Nhân Lớn Nhất Việt Nam với một hệ thống gồm 30 khách sạn và dự án khách sạn đạt tiêu chuẩn 3,4 và 5 sao trải dài trên cả nước. Màu sắc dân tộc, những nét đẹp truyền thống, tinh hoa văn hóa Việt, đặc biệt là tình cảm chân thành mến khách của con người Việt luôn là ấn tượng đáng nhớ với bất cứ du khách nào dù chỉ một lần ghé qua khách sạn Mường Thanh. Mỗi khách sạn Mường Thanh đều mang nét độc đáo riêng của mỗi vùng miền nơi khách sạn tọa lạc.Với hơn 17 năm kinh nghiệm trong ngành dịch vụ khách sạn, Tập đoàn khách sạn Mường Thanh đang ngày càng phát triển và nâng cao phạm vi cũng như chất lượng dịch vụ nhằm phục vụ nhu cầu của hàng triệu lượt khách trong và ngoài nước mỗi năm.1.1.Lịch sử phát triển:Khách sạn đầu tiên mang thương hiệu Mường Thanh được thành lập năm 1977 tại thành phố Điện Biên Phủ lịch sử bởi một người con của xứ Nghệ: ông Lê Thanh Thản. Năm 2003 tập đoàn khách sạn Mường Thanh quyết định mở rộng đầu tư tại Hà Nội và bắt đầu từ đó các khách sạn mang tên Mường Thanh lần lượt mọc lên ở các tỉnh theo dọc theo chiều dài của đất nước. 1997: Mường Thanh Điện Biên Phủ: khách sạn đầu tiên đặt nền móng cho sự xuất hiện của Tập đoàn khách sạn Mường Thanh.572003: Mường Thanh Linh Đàm: bước quyết định mở rộng đầu tư ra nhiều tỉnh thành trên toàn quốc, bắt đầu từ thủ đô Hà Nội, biến khách sạn Mường Thanh từ 1 khách sạn đơn lẻ trên Điện Biên Phủ trở thành một chuỗi khách sạn trải dài khắp Việt Nam.20102005: Mường Thanh Vinh: khách sạn đầu tiên đạt tiêu chuẩn 3 sao được xây dựng tại Nghệ An với vị trí giao thông thuận lợi.27112005: Mường Thanh Lai Châu: lần đầu tiên tại Lai Châu xuất hiện khách sạn cao cấp 3 sao kết hợp với khu sinh thái với tổng diện tích 62.000m2. Khách sạn trở thành trung tâm vui chơi giải trí của tỉnh, không gian văn hóa núi rừng ngay giữa lòng thành phố.6112006: Mường Thanh Niên Vinh: tọa lạc ở trung tâm thành phố Vinh, khách sạn là nơi giao thoa, hội tụ giữa hương sắc của núi rừng Tây Bắc và sự đậm đà của miền Trung10102009: Mường Thanh Hà Nội: khách sạn 4 sao đầu tiên của Tập đoàn, nằm ngay trên trục đường từ sân bay Nội Bài về trung tâm thành phố.2172010: Mường Thanh Diễn Châu: là một trong số ít khách sạn 4 sao tại Nghệ An, nằm ngay trên tuyến đường huyết mạch Bắc Nam và chỉ cách bãi biễn Diễn Châu vài bước chân.1192010: Mường Thanh Hạ Long: mang đậm tích cách hòa sảng của dân vùng biển trong kiến trúc và dịch vụ, hài hòa uyển chuyển với phong vị núi rừng nơi đất Mường Thanh Điện Biên.10102010: Mường Thanh Xa La29112010: Mường Thanh Lạng Sơn30122012: Mường Thanh Quy Nhơn: nằm đối diện bờ biển Quy Nhơn xinh đẹp, cách sân bây Phù Cát 30 phút chạy xe và gần khu du lịch Ghềnh Ráng với bãi tắm Hoàng Hậu.1512013: Mường Thanh Vũng Tàu3042013: Mường Thanh Nha Trang: được đánh giá là khách sạn 4 sao hiện đại bậc nhất Nha Trang.1952013: Mường Thanh Sông Lam182013: Mường Thanh Huế182013: Mường Thanh Quảng Bình292013: Mường Thanh Đà Nẵng30122013: Mường Thanh Quảng Ninh1.2.Tầm nhìn sứ mệnh:Trong tương lai, Tập đoàn Khách sạn Mường Thanh sẽ tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống khách sạn, khu nghỉ dưỡng cao cấp trải dài theo đất nước, nhằm giới thiệu tới du khách những nét văn hóa truyền thống độc đáo của mỗi vùng miền Việt Nam cùng với lòng mến khách chân thành của con người bản địa.Mỗi thành viên của chuỗi Khách sạn Mường Thanh đóng vai trò như một sứ giả quảng bá nét đẹp truyền thống của các vùng miền Việt Nam đến với du khách trong và ngoài nước.“Không gian thanh thản, tình cảm chân thành”Luôn gắn liền với trách nhiệm xã hội, hệ thống khách sạn Mường Thanh đi vào hoạt động góp phần đóng góp vào sự phát triển kinh tế vùng miền thông qua việc tạo môi trường việc làm, nâng cao chất lượng đời sống người lao động địa phương và tham gia các hoạt động trợ giúp cộng đồng. Ngày 292013, Tập đoàn Khách sạn Mường Thanh chính thức vận động thành lập Quỹ nhân đạo Mường Thanh với mong muốn các hoạt động thiện nguyện sẽ được hoạt động sâu rộng, mang lại hiệu quả thiết thực cho xã hội.1.3.Cơ cấu tổ chức CHƯƠNG 2.PHÂN TÍCH CÁC DỊCH VỤ DOANH NGHIỆP CUNG ỨNGNhằm phát triển để nâng cao vị thế và tên tuổi , Mường Thanh từ việc kinh doanh loại hình dịch vụ là khách sạn đã tấn công vào nhiều mảng dịch vụ lớn mạnh khác . Thương hiệu Mường Thanh ngày nay đã được biết đến nhiều hơn qua việc cung cấp các dịch vụ như:Phòng nghỉPhòng hội nghị, hội thảoNhà hàng BarDịch vụ chăm sóc sức khỏeDịch vụ giải tríDịch vụ khác2.1.Phòng nghỉPhòng nghỉ được thiết kế theo lối kiến trúc hiện đại mang lại cảm giác dễ chịu, ấm cúng và sang trọng . Không gian trong phòng thoáng mát, sạch sẽ, mỗi phòng đều có cửa sổ hướng ra ngoài, tất cả các phòng đều được trang thiết bị hiện đại và tiện nghi, phòng khép kín có bồn tắm nằm, đáp ứng nhu cầu của mọi doanh nhân và khách du lịch. Đặc biệt, tại các thành phố biển như Hạ Long, Đà Nẵng…mọi phòng nghỉ đều có tầm nhìn xa và rộng, du khách sẽ không bị bỏ lỡ cơ hội được chiêm ngưỡng cảnh đẹp của thành phố. Phòng nghỉ cũng được chia ra các loại phòng có diện tích và phong cách khác biệt nhằm đem đến sự phong phú cho việc chọn lựa của khách hàng. VD: Mường Thanh SaPa  2.2.Phòng hội nghị, hội thảoPhòng hội thảo được trang bị thiết bị nghe nhìn mới nhất, với sức chứa linh hoạt từ 40 – 800 người. Hệ thống phòng hội thảo này sẽ đáp ứng hoàn hảo cho các hội nghị cấp cao, hội thảo chuyên nghiệp, gala đoàn thể, buổi công bố ra mắt, họp báo…Đội ngũ chuyên viên sáng tạo giàu kinh nghiệm của khách sạn sẽ tư vấn và hỗ trợ khách hàng thực hiện sự kiện chuyên nghiệp và thành công. Giữa không gian sang trọng, các đầu bếp hàng đầu cũng sẽ phục vụ các bữa ăn nhẹ, fingerfoods, tiệc trà ngon miệng và ấn tượng cho các sự kiện, hội thảo diễn ra tại đây.Các phòng hội nghị,hội thảo cũng được chia ra thành các loại khác nhau thường được đặt tên bằng các địa danh nổi tiếng với cách bài trí đa dạng nhằm giúp khách hàng có những lựa chọn phù hợp với nội dung, quy mô của cuộc hội nghị, hội thảo.
Xem thêm

28 Đọc thêm

Luận văn thạc sỹ kinh tế Hoàn thiện marketing mix nhằm phát triển thị trường của khách sạn Moonview Hotel

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ HOÀN THIỆN MARKETING MIX NHẰM PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CỦA KHÁCH SẠN MOONVIEW HOTEL

Đối với Việt Nam, những năm gần đây du lịch được xác định là một ngành kinh tế mang tính tổng hợp và nội dung văn hoá sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hoá cao, góp phần nâng cao dân trí tạo việc làm và phát triển kinh tế xã hội đất nước.Chính vì vậy,trong những năm qua thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và nhà nước,thủ đô Hà Nội đã có những thay đổi lớn về diện mạo. Riêng trong lĩnh vực du lịch đã có những bước chuyển mình đáng kể. Số lượng khách du lịch trong và ngoài nước đến Hà Nội ngày càng tăng.Nắm bắt được tình hình đó, các khách sạn nhà nước, tư nhân, hay liên doanh không ngừng được mọc lên với đủ các tiêu chuẩn từ 1 đến 5. Khách sạn Moonview Hotel tuy là một khách sạn tư nhân còn non trẻ nhưng kể từ khi hoạt động đã từng bước khẳng định vị thế của mình trong hệ thống khách sạn tư nhân 3 trên địa bàn Hà Nội . Xuất phát từ những thực tế trên, qua thời gian học tập ở trường Đại Học Thương Mại và làm việc tại khách sạn Moonview Hotel em đã mạnh dạn chọn đề tài: “ Hoàn thiện marketing mix nhằm phát triển thị trường của khách sạn Moonview Hotel” để làm bài khóa luận tốt nghiệp của mình.Đây là một công trình mang tính chất thực tiễn và tính ứng dụng cao. Tuy nhiên, do khả năng còn hạn chế, nguồn tư liệu còn ít ỏi nên không tránh khỏi những thiếu sót, em mong nhận được những ý kiến đóng góp chân thành của thầy cô giáo và các bạn.
Xem thêm

43 Đọc thêm

Thực trạng sự vận dụng cơ sở khoa học của quá trình phân công và hiệp tác lao động trong Công ty Khách sạn Du lịch Kim Liên

Thực trạng sự vận dụng cơ sở khoa học của quá trình phân công và hiệp tác lao động trong Công ty Khách sạn Du lịch Kim Liên

Thực trạng sự vận dụng cơ sở khoa học của qua trình phân công và hiệp tác lao động trong Công ty Khách sạn Du lịch Kim Liên.1. Giới thiệu chung ( địa điểm, hoạt động kinh doanh)Công ty Cổ phần Du lịch Kim Liên ngày nay được thành lập năm 1961, tiền thân là khách sạn Bạch Mai Toạ lạc trên diện tích 3,5ha tại số 5 + 7 phố Đào Duy Anh, phường Phương Mai, quận Đống Đa, Hà Nội ngay giữa Trung tâm thành phố, với tổng số 9 toà nhà gồm 437 phòng và 5 Nhà hàng. Công ty cổ phần Du lịch Kim Liên có thể phục vụ hàng nghìn lượt khách ăn, ở cùng lúc. . Năm 1993, Công ty trực thuộc Tổng cục Du lịch Việt Nam, làm nhiệm vụ kinh doanh khách sạn, lữ hành quốc tế, ăn uống, vui chơi giải trí, thương mại xuất nhập khẩu, đầu tư ứng dụng công nghệ ... Công ty cổ phần Du lịch Kim Liên đã được Bác Hồ (2 lần), Bác Tôn Đức Thắng, nguyên Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh và nhiều vị lãnh đạo cao cấp của Đảng, nhà nước về thăm1.1. Lịch sử phát triển và thành tích đạt đượcQua 5 lần đổi tên, khách sạn được đổi tên thành Công ty cổ phần du lịch Kim Liên (khách sạn Kim Liên) Hệ thống cơ sở vật chất hiện đại, đạt tiêu chuẩn của khu vực. Đội ngũ nhân viên được đào tạo chuyên nghiệp, nhiệt tình, chu đáo cùng kinh nghiệm 50 năm hoạt động trong lĩnh vực du lịch, khách sạn, nhà hàng. Khách sạn Kim Liên đã dành được nhiều phần thưởng cao quý. Đặc biệt, năm 2006 Khách sạn Kim Liên vinh dự được Nhà nước trao tặng danh hiệu Anh hùng lao độngCác thành tích:Năm 2000: Huân chương Lao động hạng I cho tập thể công ty Năm 2001: Huân chương chiến công hạng III cho tập thể công ty.Năm 2004: Huân chương chiến công hạng II cho tập thể công ty .Năm 2006: Đơn vị Anh hùng Lao động.Cờ đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua ngành Du lịch các năm 1998, 1999, 2000, 2001, 2002,2003, 2004, 2005.Từ năm 1999 đến năm 2005 Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Công ty được Trung ương Đoàn tặng Bằng khen, năm 2004 được Thủ tướng Chính phủ tặng bằng khen.Với những thành tích dáng tự hào mà khách sạn Kim Liên đã đạt được. Tập thể cán bộ nhân viên khách sạn sẽ tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp để giữ vững thương hiệu. Khách sạn Kim Liên luôn là địa chỉ thân thiết, là điểm đến tin cậy của quý khách gần xa
Xem thêm

Đọc thêm

ĐỊNH GIÁ PHI THỊ TRƯỜNG CỦA GIẢI TRÍ BÃI BIỂN BẰNG CÁCH SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP CHI PHÍ DU HÀNH (TCM)

ĐỊNH GIÁ PHI THỊ TRƯỜNG CỦA GIẢI TRÍ BÃI BIỂN BẰNG CÁCH SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP CHI PHÍ DU HÀNH (TCM)

ĐỊNH GIÁ PHI THỊ TRƯỜNG CỦA GIẢI TRÍ BÃI BIỂN BẰNG CÁCH SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP CHI PHÍ DU HÀNH (TCM) TRONG BỐI CẢNH PHÁT TRIỂN CỦA THẾ GIỚI: MỘT ỨNG DỤNG ĐỂ THĂM QUAN BÃI BIỂN NGÓE Ở KRIBI, CAMEROON TIMAH PAUL NDE   Giám sát viên: Yves Surry, Đại học Khoa học Nông nghiệp Thụy Điển, Khoa Kinh tế Người kiểm tra: Rob Hart, Đại học Khoa học Nông nghiệp Thụy Điển, Khoa Kinh tế Credits:30 hec Cấp độ: Nâng cao E Tên khóa học: Degree Project in Economics Mã môn học: EX0537 Chương trình Giáo dục: Kinh tế Nông nghiệp và Quản lý Chương trình Thạc sĩ Nơi xuất bản: Uppsala Năm xuất bản: 2011 Bìa ảnh: Một trong vô số các bãi biển ở Kribi (Ảnh từ: www.cameroon.be) Tên của Series: Degre Project Số: 704 ISSN: 14014084 Ấn phẩm trực tuyến: http:stud.epsilon.slu.se Từ khóa: xác định giá trị phi thị trường, chi phí đi lại, thặng dư tiêu dùng, giá trị giải trí.   Lời Cảm Ơn Luận án này có thể đã không hoàn thành được mà không có sự nỗ lực kết hợp của các cá nhân. Tôi thực sự biết ơn sự giúp đỡ chân thành của giám sát viên của tôi, Giáo sư Yves surry. Kỹ năng tư vấn và giám sát học tập của ông ấy là một động lực lớn đối với tôi và như vậy đóng góp của ông đối với việc thực hiện luận án này các này là không thể không nhắc đến. Chuyên môn của ông ấy về sử dụng phần mềm TSP 5.0 đã giúp ích tôi rất nhiều trong việc hoàn thành luận án này đạt yêu cầu. Ngoài ra, tôi muốn nói lời cảm ơn đặc biệt đến tất cả các giảng viên khác trong Cục Kinh tế của Đại học Thụy Điển Khoa học Nông nghiệp và Đại học Uppsala cho các kỹ năng mà họ đã truyền đạt cho tôi trong các khóa học của Chương trình thạc sĩ. Rất cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của tất cả các bạn cùng lớp, đặc biệt là Jordan và Berekat. Cảm ơn tất cả các bạn rất nhiều vì sự chăm sóc, hỗ trợ và quan tâm của các bạn.Đặc biệt nhất, tôi cảm ơn Brian Nfornbah, nhóm thanh niên của PCC Ndombe Kribi, Emmanuel Timah, Kevin Achamukong, Ngufor Sylvie Ngelah, Abongwa Mirabel, Achiri Daniel, Albertine Dawa, Manga Timah. Đặc biệt cảm ơn đến Justice NEBA Timah người đã luôn ở đó để truyền cảm hứng, động viên và ủng hộ tôi. Danh sách những người tôi cảm ơn tới ở đây là không đầy đủ, nên nhớ rằng tôi đánh giá cao nỗ lực của các bạn, cuộc sống của tôi ở Uppsala sẽ rất khó khăn nếu không có sự hiện diện và trái tim ấm của các bạn. Hãy tiếp tục đoàn kết   Tóm Tắt Luận án này tập trung vào việc sử dụng phương pháp chi phí du lịch (như một kỹ thuật định giá phi thị trường) để định giá bãi biển vui chơi giải trí ở một đất nước đang phát triển (Cameroon), nơi rất ít hoặc không có các nghiên cứu trước đây của loại hình này đã được tiến hành trước. Các bãi biển Ngoé đã được sử dụng như là một trường hợp nghiên cứu dựa trên số lượng khách du lịch thực tế và khách du lịch tham quan bãi biển và cũng vì Kribi là một thị trấn nghỉ mát nổi tiếng ở Cameroon. Do tính chất của công việc, một cuộc khảo sát tại chỗ là điều bắt buộc. Các câu hỏi sử dụng cho các cuộc điều tra tại chỗ được thiết kế để nắm bắt các biến kinh tế xã hội về khách du lịch (như tuổi tác, thu nhập hàng tháng, trình độ học vấn, tình trạng việc làm, giới tính, quốc tịch), các biến thành phần chi phí đi lại (chẳng hạn như vòng chi phí đi lại chuyến đi, thời gian đi lại , thời gian ở tại chỗ, chi phí chỗ ở, số lượng các chuyến đi thực hiện trong những năm qua, chỉ kể một vài tên) và sẵn lòng chi trả (WTP) của khách du lịch (trong các hình thức tham quan hoặc phí vào cổng). Các dữ liệu số (với cỡ mẫu 242) đã được tạo ra từ các cuộc khảo sát được mô hình hóa với the left truncated Poisson and negative binomial models as well as the zero inflated negative binomial model.. Các ước lượng kinh tế lượng (thực hiện với việc sử dụng các phần mềm TSP 5.0) cho thấy mô hình nhị thức âm zero thổi phồng kết quả tốt hơn và dựa trên những kết quả kinh tế, thặng dư tiêu dùng (CS) ước tính cho mỗi chuyến đi mỗi người tham quan mỗi ngày được tính toán cho những loại du khách khác nhau. Những ước tính CS là tương đương với giá trị giải trí của bãi biển với mỗi chuyến đi của mỗi du khách mỗi ngày và dao động từ 2,56 € cho 41,51 €. Mặc dù các ước tính khác nhau CS đã thu được với các loại du khách khác nhau , CS ước tính cho mỗi chuyến đi mỗi người tham quan mỗi ngày từ 9,86 € cho 37,11 € được coi là thích hợp hơn và phù hợp với các kết quả của các nghiên cứu khác. Ngoài ra, một khoản phí đi đến bãi biển là € 2.0 được đề xuất dựa vào phát biểu của sự sẵn lòng chi trả của du khách. Lý do cho đề nghị này là bãi biển Ngoé là một bãi biển tham quan mở và nó có thể ước tính một khoản phí để thăm quan là có khả năng, nên ai đó (có thể là chính quyền thành phố) có suy nghĩ sẽ thực hiện thu một khoản phí tham quan. Một phát hiện quan trọng là đơn mục đích có xu hướng chi tiêu cao hơn các loại du khách khác. Ngoài ra, thu nhập của du khách cho thấy là có một tác động rất nhỏ trên ước tính CS của du khách trong khi mong muốn nêu chi trả của du khách cho thấy chủ yếu là tương quan với ước tính CS của họ. Từ khóa: xác định giá trị phi thị trường, phương pháp chi phí du hành, thặng dư tiêu dung, giá trị giải trí. MỤC LỤC CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Vấn đề nghiên cứu 1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1.3 Giải trí, thư giãn và du lịch trong điều kiện của Cameroon 1.4 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 1.5 Cở sở của vấn đề nghiên cứu 1.6 Ý nghĩa, phạm vi và giới hạn của nghiên cứu. 1.7 Khái quát về nghiên cứu CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU VÀ KHUNG LÝ THUYẾT 2.1 các phương pháp tiếp cận khác nhau để định giá phi thị trường 2.2 Khái niệm và khung lý thuyết 2.2.1 Khái niệm về thặng dư tiêu dùng (CS) 2.2.2 Phương pháp bộc lộ sở thích và chi phí du hành 2.2.3 Khung nghiên cứu 2.3 Xem xét tài liệu thực nghiệm 2.3.1 Xem xét tài liệu về phương pháp chi phí du hành 2.3.2 Xem xét các nghiên cứu về định giá chi phí du hành CHƯƠNG 3: KHẢO SÁT TẠI CHỖ VÀ MÔ TẢ DỮ LIỆU 3.1 Thiết kế khảo sát 3.2 Thực hiện khảo sát 3.3 Tính toán tổng chi phí du lịch (TTC) 3.4 Dữ liệu khảo sát và thống kê mô tả 3.5 Sự phân tầng của các bộ dữ liệu CHƯƠNG 4: MÔ HÌNH KINH TẾ VÀ CÁC THÔNG SỐ KĨ THUẬT CỦA MÔ HÌNH 4.1 The Possion Model 4.2 Các mẫu nhị thức âm CHƯƠNG 5: KẾT QUẢ KINH TẾ LƯỢNG, PHÂN TÍCH VÀ THẢO LUẬN 5.1 Những kết quả cắt ngắn The Possion Model 5.2 Các kết quả cắt ngắn các mẫu nhị thức âm 5.3 Kết quả ZeroInflated Negative Binomial Model 5.4 Tính toán các ước tính thặng dư tiêu dùng 5.5 ước tính và đề xuất của một tham quan và phí vào cửa 5.6 Các mối quan hệ giữa thu nhập, ước tính CS và ước tính SWTP CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 6.1 Kết luận 6.2 Kiến nghị TÀI KIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC DANH MỤC HÌNH Hình 1: Vị trí của Kribi Campoo vùng ven biển Hình 2: Một phần của bãi biển Ngoé Hình 3: Các kỹ thuật định giá môi trường Hàng hóa phi thị trường và dịch vụ Hình 4: Chức năng yêu cầu chi phí du hành và thặng dư tiêu dùng (CS) Hình 5: Mô hình minh họa của chi phí du hành mẫu Hình 6: Bằng chứng của phân bố rộng trong tập hợp dữ liệu DANH MỤC BẢNG Bảng 1: Tóm tắt Định nghĩa của biến trong các tập dữ liệu Bảng 2: Thống kê mô tả các biến số chính trong các bộ dữ liệu Bảng 3: Thống kê mô tả hình mẫu UNL, ENL và NT Bảng 4: Kết quả của Mô hình hồi quy cắt ngắn Poisson Bảng 5: Kết quả của mô hình hồi quy cắt ngắn mẫu nhị thức âm Bảng 6: Kết quả nhị thức Mô hình hồi quy Zerothổi phồng Bảng 7: Thặng dư tiêu dùng (CS) Ước tính mỗi du khách mỗi chuyến đi Bảng 8: Phát biểu sự sẵn lòng chi trả (SWTP) Bảng 9: Thu nhập của khách du lịch , ước tính CS và SWTP CÁC TỪ VIẾT TẮT CBA Cost Benefit Analysis CD Canadian Dollar CS Consumer Surplus CVM Contingent Valuation Method ENL Employed Non Locals EUR (€) The Euro FCFA Franc of the Cooperation Français en Afriqué (Local currency in Cameroon) FOP Factors of Production GBP (£) Great British Pound ITCM Individual Travel Cost Method Negbin Negative Binomial NT – Non đơn mục đích OLS Ordinary Least Squares PS Producer Surplus RM Malaysian Ringgit RP Revealed Preference RTTC Round Trip Travel Cost RUM Random Utility Model SP Stated Preference TCM Travel Cost Model TTC Total Travel Cost UNESCO United Nation’s Education, Scientific and Cultural Organisation UNL Unemployed NonLocals USD () United States Dollar WTA Willingness to Accept ZIP – Zero Inflated Poisson ZTCM Zonal Travel Cost Method (S)WTP (Stated) Willingness to Pay   CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU Ngày nay, kỹ thuật định giá phi thị trường là những căn cứ ngày càng được xếp vào vị trí hàng đầu của hầu hết các công trình nghiên cứu về kinh tế. Sở dĩ có điều này là bởi vì 1 số loại hàng hóa, dịch vụ mà dễ dàng có 1 số loại giá trị hoặc không có trung 1 mức giá thị trường hay giá cả thị trường của hàng hóa, dịch vụ là không phù hợp với giá trị thực của hàng hóa, dịch vụ đó. Ví dụ về hàng hóa, dịch vụ bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ môi trường như các địa điểm (công viên, bãi biển, sở thú,…). Do đó định giá phi thị trường là việc tìm kiếm tất cả các cách để gán giá trị cho hàng hóa, dịch vụ đó; có hoặc không có giao dịch trên thị trường hay giá không phản ánh đúng giá trị thực của chúng (boardman, 2006). Tầm quan trọng của định giá phi thị trường không thể được nhấn mạnh quá mức. Ước lượng thu được từ định giá phi thị trường có thể được sử dụng bởi các cơ quan nhà nước, ưu tiên cho các dự án của chính phủ cũng như tiến hành các phân tích lợi ích chi phí. Các ước lượng này cũng có thể cung cấp những manh mối có giá trị cho các nhà đầu tư là tư nhân và có thể hỗ trợ họ trong việc đưa ra các quyết định đầu tư. Polasub (2008) thêm 1 nghiên cứu cung cấp các manh mối của định giá phi thị trường mà có thể được dùng để xác định sự thay đổi tiện nghi môi trường hoặc thiệt hại tài nguyên, giới thiệu người dùng phí để kiểm soát số khách cũng như nếu phát triển ở nơi mới. 1.1 Vấn đề nghiên cứu Nhiều nghiên cứu định giá phi thị trường đã được tiến hành rỗng rãi ở các nước phát triển trên thế giới trong suốt 2 thập kỷ qua. Tuy nhiên, có rất ít nghiên cứu dạng này đã được thực hiện tại các nước phát triển. Điều này có thể là do sự khan hiếm các dữ liệu ở các nước phát triển và cũng bởi vì mọi người cũng ít quan tâm đến việc giải trí ở các nước phát triển hoặc do chi phí có liên quan đến việc thực hiện nghiên cứu này là rất cao. Cameroon là 1 trong những quốc qua đang phát triển và do đó nó cũng không ngoại lệ. Là 1 quốc gia có thu nhập trung bình thấp ở phía Tây và Trung Phi. Là nước được ưu đãi với nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên và thường được gọi là Châu Phi thu nhỏ. Tuy nhiên, những nỗ lực nhỏ đã được thực hiện theo hướng của định giá các tài nguyên thiên nhiên (đặc biệt là những người không trực tiếp mua bán trên thị trường). Do nguồn tài nguyên thiên nhiên rất phong phú và cũng là 1 phần giá trị của những nỗ lực không đủ, nó sẽ thú vị hơn khi xem xét làm thế nào để những nguồn tài nguyên có thể được đánh giá cao, đặc biệt là các bãi biển của nước này. Trong khi thị trường hàng hóa và dịch vụ có giá trị về mắt giá cả của chúng, thì hàng hóa và dịch vụ phi thị trường khó có thể định giá cũng như chúng không đòi hỏi 1 mức giá thị trường. Nhiều hàng hóa và dịch vụ bao gồm chất lượng không khí tốt hơn, dịch vụ tài nguyên môi trường,…. Tuy nhiên, các nhà kinh tế đã mất nhiều năm để đưa ra nhiều cách khác nhau cho việc ước lượng các giá trị của hàng hóa và dịch vụ phi thị trường. Trong số các kỹ thuật khác nhau sử dụng cho định giá phi thị trường là phương pháp giá trị ngẫu nhiên (CVM), phương pháp chi phí du hành (TCM), giá cả hưởng thụ, chuyển giao lợi ích, phân tích kết hợp và lựa chọn mô hình. Các địa điểm giải trí như là công viên công cộng và bãi biển là 1 vài ví dụ của hàng hóa và dịch vụ phi thị trường mà không đòi hỏi 1 mức giá hoặc nếu tất cả họ cùng làm (theo mẫu của lối vào hoặc cổng vào tốn phí), giá trị của chúng thường xuyên bị đánh giá thấp hoặc coi là bằng 0. Do đó, nhu cầu cho 1 số loại định giá hoặc giá ảo cho hàng hóa, dịch vụ đó. Khi nói tới các địa điểm giải trí, thì phương pháp chi phí du hành là từ viết tắt của 1 công cụ tốt nhất mà định giá phi thị trường sử dụng. Điều này là bởi vì giá trị của 1 địa điểm giải trí dựa trên sự đánh đổi của con người về thời gian, chi phí vận chuyển và các chi phí khi đi vào các địa điểm giải trí. Những tiền đề cơ bản đằng sau phương pháp này là số lần đi đến hoặc các chuyến đi của du khách sẽ được thực hiện cho 1 địa điểm giải trí giảm khi chi phí du hành tăng (phản ánh bởi khoảng cách đi lại) (Loomis anh Walsh, 1997; Ward and Beal, 2000). Bãi biển Ngóe là bãi biển nằm ở trung tâm của thị trấn miền nam Cameroon của Kribi là 1 địa điểm giải trí không chỉ có rất nhiều người dân địa phương đến đó và cũng là 1 địa điểm thu hút rất lớn khách du lịch. Thương mại đánh bắt xa bờ cũng được thực hiện tại khu vực này. Hơn nữa, bãi biển Ngóe là điểm cuối cùng của đường ống Chad – Cameroon cũng như của tổng thống Lodge. Điều này làm tăng thêm sự hấp dẫn du lịch của bãi biển. Thật không may, nó là 1 bãi biển du lịch mở không có lối vào hoặc du lịch tốn phí. Tuy nhiên, các nhà đầu tư tư nhân đã được phép hoạt động kinh doanh gần các bãi biển ở Kribi. Ví dụ, có rất nhiều khách sạn sở hữu bãi biển tư nhân ở Kribi (khách sạn Framotel). Khoản thuế thu từ các doanh nghiệp đó và nghĩa vụ chi trả của ngư dân có thể là cánh để báo với Ủy ban định giá các bãi biển. Nếu chúng ta đi theo giá trị này, nó là 1 giá trị đánh giá quá thấp giá trị của các bãi biển. Đây có lẽ là bởi vì tổng số thu từ thuế, nghĩa vụ và các chi tiêu của du khách đối với hàng hóa và dịch vụ chiếm 1 phần ít trong tổng số các khoản chi tiêu của du khách đến địa điểm du lịch. Mặc dù bãi biển Ngóe là 1 phần trong việc đánh bắt cá, nó cũng có nhu cầu cao đối với giải trí. Hàng ngàn du khách từ xa gần đến tham quan bãi biển mỗi năm với mục đích du lịch. Các du khách này tốn 1 khoản lớn chi phí đi lại, thời gian bị bỏ qua và các chi phí có liên quan khác mà họ có những lợi ích khác nhau có thể là 1 hoặc nhiều thứ sau đây: tham quan địa điểm, hội họp, bơi lội, dã ngoại hoặc cho các mục đích thể thao như bóng chuyền bãi biển, bóng đá bãi biển, lướt sóng,…Nhờ những hy sinh to lớn mà du khách đến bãi biển này thực hiện, đó là bằng chứng cho thấy rằng bãi biển này có giá trị giải trí đáng kể. Như 1 hệ quả, công việc này để tìm kiếm 1 phương tiện tốt hơn hoặc phương pháp để ước tính giá trị giải trí của bãi biển Ngóe. Lĩnh vực nghiên cứu có vẻ thiếu sự chú ý và công nhận từ các nhà nghiên cứu tại Cameroon. Do đó, cần có nhu cầu để làm cho nó phổ biến rộng rãi và nhận được sự quan tâm nhiều hơn của các nhà nghiên cứu để thực hiện công việc nhiều hơn trong lĩnh vực này. Dựa trên những hy sinh to lớn được thực hiện bởi du khách đến bãi biển Ngóe, nó sẽ có tầm quan trọng sống còn khi tìm 1 cách làm để việc sử dụng các ưu đãi về sự đánh giá của khách hàng đi đến các địa điểm , 1 phương pháp nào sẽ mất chi phí vận chuyển, chi phí cơ hội của thời gian, chi phí tại chỗ và các chi phí khác liên quan đến chuyến đi của du khách được xem xét. Một phương pháp mà bao gồm tất cả các chi phí đi lại là phương pháp (TCM) và nó rõ ràng là ứng cử viên tốt nhất trong trường hợp này. Với sự liên quan và tầm quan trọng của vấn đề thảo luận ở trên, đó là giá trị để thực hiện nghiên cứu. 1.2 Mục tiêu mục đích của nghiên cứu Mục tiêu chính hoặc cơ bản của nghiên cứu này là để ước tính giá trị cho mỗi chuyến đi của mỗi du khách, những chuyến đi đến bãi biển Ngóe ở thị trấn miền nam Kribi, Cameroon. Để làm điều này, chúng ta cần ước lượng hàm cầu giải trí của du khách khi đến bãi biển và sau đó ước lượng thặng dư tiêu dùng (CS) của du khách, đó là đại diện các giá trị giải trí của bãi biển. Các mục tiêu khác của nghiên cứu này bao gồm: Đề nghị có thể đi vào hoặc lối vào tốn phí dựa vào sự sẵn lòng chi trả (SWTP) của du khách đến bãi biển Ngóe và những so sánh này được đề xuất lệ phí đi vào đó được tính tiền tại khách sạn Seme Beachin Limbe, Cameroon. Đánh giá tác động của du lịch đối với nền kinh tế ở Kribi Đề xuất một số giải pháp giúp cải thiện chất lượng bãi biển và do đó làm cho bãi biển hấp dẫn hơn với khách du lịch Kiến nghị các chính sách làm như thế nào để quản lý tốt hơn và hưởng được nhiều lợi ích từ bãi biển Ngóe cho chính quyền thành phố Giải trí, thư giãn và du lịch trong điều kiện của Cameroon Người dân ở Cameroon có 1 loạt các hoạt động thư giãn và giải trí sẵn sàng cho họ. Hầu hết giải trí thì tập trung vào các hoạt động thể thao. Hoạt động thể thao phổ biến bao gồm bóng đá, bóng ném, bóng chuyền, bóng rổ, bóng bàn và quần vợt sân cỏ. Các hoạt động giải trí khác như đua thuyền độc mộc, các cuộc thi nhảy và đua ngựa. Tham quan bãi biển là 1 hình thức giải trí phổ biến ở Cameroon nhưng chỉ có 1 số nhóm người thực hiện hoạt động này. Những nhóm người này gồm chủ yếu là thanh niên, học sinh và người thất nghiệp. Họ thường thực hiện các chuyến đi đến bãi biển để gặp gỡ hoặc vì lý do dã ngoại hay ngắm cảnh thiên nhiên (yêu tự nhiên). Cameroon được xếp vào 1 nước có thu nhập thuộc loại trung bình thấp với khoảng 39,9% dân số sống dưới mức nghèo (dưới 1,25 USDngày) vào năm 2007. Vì vậy nhiều người dân Cameroon đã đấu tranh để đòi các nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống như là 1 hệ quả, một số người Cameroon xem các dịch vụ thư giãn và giải trí là các dịch vụ sa xỉ. Có 1 quan điểm phổ biến rằng ở 1 đất nước mà có nhiều người không có đủ khả năng để lo cho bữa ăn 1 ngày, đó sẽ là điều khó khăn để nhìn thấy họ bỏ tiền ra cho 1 chuyến đi chơi. Nhưng điều này không có nghĩa là người Cameroon không thực hiện các hoạt hoạt động vui chơi và thư giãn. Hầu như các hoạt động nói trên được thực hiện gần như không hoặc không tốn chi phí. Tuy nhiên, khi nói đến việc bỏ tiền ra để giải trí như đi du lịch đến 1 thị trấn để nghỉ ngơi hoặc giải trí, nhiều người sẽ không muốn mạo hiểm. Vì vậy theo truyền thống, việc giải trí tốn kém ở bãi biển được xem là cái gì đó dành cho những người Cameroon giàu có và quyền lực. Điều này đặc biệt đúng khi phí vào cổng được tính hay nếu người du lịch đã đi 1 khoảng cách lớn để đến các địa điểm. Vì vậy chỉ có những người dân đại phương và cá nhân có thể chi trả được các khoản chi phí liên quan thì mới có thể ghé thăm các địa điểm giải trí như bãi biển. Điều này đặc biệt đúng với hầu hết các hộ gia đình ở thành thị khi họ có đủ các nguồn lực tài chính. Tuy nhiên, hầu hết các gia đình ở nông thôn thì nghèo và không có việc làm. Vì vậy, vấn đề vui chơi giải trí có thể không phải là lựa chọn cho các hộ gia đình còn phải vật lộn với cuộc sống để có đủ các nhu cầu cơ bản như chỗ ở, thức ăn và chăm sóc sức khỏe. Quốc gia này cũng có tỷ lệ thất nghiệp cao và thiếu việc làm. Điều này có nghĩa rằng các cá nhân sẽ dành nhiều thời gian của họ cho tìm kiếm công việc thay vì bắt tay vào việc thư giãn hay các chuyến đi chơi. Bên cạnh những bãi biển, quốc gia này còn có nhiều điểm du lịch như công viên Waza ở miền bắc (nơi duy nhất ở Cameroon được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới). Cameroon ở khu vực Tây Nam (có ngọn núi cao nhất trong toàn bộ hệ thống núi của Tây Phi), các khu rừng nhiệt đới cận xích đạo với hệ động thực vật đa dạng ở khu vực phía Đông. Các thảo nguyên và cung điện nguy nga ở phí Tây Bắc và Tây, vùng bán sa mạc ở miền Bắc và một số cái tên khác. Trong thực tế, vì sự đa dạng về dân tộc, văn hóa và địa lý, quốc gia này thường được gọi là “Châu Phi thu nhỏ”. Do đó sự đa dạng của đất nước là những cơ hội bất tận cho du khách và người dân địa phương. Trớ trêu thay, nước này lại không có nhiều khách du lịch vì đó là điều mong đợi của 1 quốc gia có tiềm năng du lịch phong phú như vậy. Theo bộ trưởng Bộ du lịch là Baba Ahmadou, Châu Phi sẽ đón khoảng 42,2 triệu du khách quốc tế với doanh thu ước tính 12.000 tỷ FCFA (18,3 tỷ euro) trong năm 2010 nhưng chỉ có 572.000 du khách quốc tế đến thăm Cameroon. Con số này là khá nhỏ và không phù hợp với 1 quốc gia với rất nhiều tài nguyên và môi trường, tiềm năng du lịch cao và được xem như là “Châu Phi thu nhỏ”. Do đó du lịch và du lịch sinh thái ở Cameroon đã là 1 ngành công nghiệp nhỏ mặc dù nhiều người cho rằng nó có tiềm năng tăng trưởng và phát triển. Bộ du lịch đã được thành lập vào năm 1970 để thúc đẩy ngành công nghiệp này. Tuy nhiên, sau đó hơn 20 năm với những kết quả đạt được của Bộ du lịch ở dưới mức mong đợi và vẫn còn có rất vấn đề. Đây là lý do tại sao tổng cục du lịch quốc gia được thành lập vào tháng 7 năm 2009 để tăng cường hơn nữa các hoạt động của Bộ du lịch. Kể từ đó, Tổng cục đã làm việc chăm chỉ để đưa ngành du lịch và du lịch sinh thái ở Cameroon đi đầu trong việc mở rộng, tăng trưởng và phát triển. Sau phiên họp thường kỳ thứ Bảy của ban tổ chức vào ngày 28 tháng 12 năm 2010, Bộ trưởng Baba Hamadou kết luận rằng “ Cameroon có tiềm năng du lịch đặc biệt và phải làm tất cả để khẳng định vị trí của mình trên thị trường du lịch phát triển, để góp phần tăng trưởng kinh tế và phát triển”. Vẫn tại phiên họp thường kỳ thứ bảy này, nó cũng đã được tiết lộ rằng Cameroon có 2.539 khách sạn (tất cả các loại đều như nhau) trong năm 2010. Tất cả đã chứng minh được rằng Cameroon đang có gắng để khẳng định vị trí của mình trên thị trường du lịch phát triển. 1.4 Tổng quan về khu vực nghiên cứu Hình dưới đây là bản đồ của Kribi biểu diễn bờ biển của Kribi Campo và các thị trấn lân cận. Các bản đồ của Cameroon được trình bày trong phụ lục 1. Kribi là 1 trung tâm ven biển là nơi nổi tiếng với nhiều bãi biển cát trắng, cuộc sống về đêm, con người thân thiện với có số lượng lớn các khách du lịch hay du khách đến từ các thị trấn khác của Cameroon và các nước khác. Kribi nằm ở khu vực phí Bắc của Cameroon và có đường bờ biển dài ở Đại Tây Dương, từ đó cung cấp những bãi biển tự nhiên. Nó có dân số ước tính vào khoảng 60.000 người và là trụ sở chính của của các đại dương. Mặc dù có mạng lưới giao thông kém trong việc kết nối Kribi với các thủ đô trong khu vực (Ebolowa), kế hoạch đang được tiến hành để xây dựng con đường trải nhựa nối liền 2 thị trấn chính ở khu vực phía Nam của Cameroon. Điều này đã được tiết lộ bởi Tổng thống Paul Biya trong bài phát biểu của mình tại lễ khai mạc chương trình Ebolawa Agro – Pastoral vào ngày 1712011. Hình 1: Vị trí bờ biển của Kribi – Campo Nguồn: Lưu trữ của Mission dÉtudes đổ lAMENAGEMENT de lOcéan, Kribi Mặc dù vậy, không có những con đường nhựa tốt để nối liền Kribi đến các thủ đô chính trị và kinh tế (tương ứng là Yaoundé và Douala) của Cameroon. Tính trung bình, phải mất khoảng 3 giờ lái xe từ Yaoundé để đến Kribi và 2 giờ từ Douala để đến Kribi bằng phương tiện giao thông công cộng. Do đó Kribi có rất nhiều khách đến từ 2 thủ đô của thành phố này. Mặc dù tai nạn xe và ùn tắc giao thông đang rình rập dọc theo đường cao tốc Douala Yaoundé, trên quãng đường từ Edea đến Kribi khó có thể chứng kiến các tai nạn và ùn tác như vậy. Tuy nhiên, luôn luôn có một số tắc nghẽn giao thông vào các ngày lễ và cuối tuần, hầu hết các du khách đến với Kribi cũng vào những ngày này. Ngoài ra còn có đường cao tốc Edea – Kribi thì ít tắc nghẽn hơn so với các đường cao tốc liên tỉnh khác ở Cameroon. Các phương tiện vận chuyển chủ yếu từ các thị trấn khác đến Kribi là vận chuyển liên tỉnh. Tuy nhiên, 1 số lượng hạn chế các cá nhân sử dụng phương tiện giao thông (xe cá nhân) để tham quan các thị trấn riêng (một). Transcam và La Kribi Enne là những công ty xe buýt nổi bật chạy trên tuyến đường cao tốc Yaoundé – Kribi. Dọc theo đường cao tốc DoualaKribi, có các công ty xe buýt nổi tiếng như Trung Voyage, Jakoand Transcamare; mặc dù cũng chạy trên đường cao tốc nhưng những công ty xe buýt ít được biết đến. Hầu hết các công ty xe buýt đều hoạt động trong 1 điều kiện tương tự nhau như quan sát thấy trong 1 thị trường cạnh tranh hoàn hảo (tức là họ tính giá vận chuyển giống nhau). Tuy nhiên, một số công ty xe buýt có thể tính giá cao hơn một chút tùy thuộc vào chất lượng của xe và các dịch vụ mà họ làm. Trong phạm vi của Kribi, đó cũng là 1 mạng lưới giao thông tốt với con đường nhựa và đất nối liền các nơi khác nhau. Tuy nhiên, xe máy là phương tiện giao thông chủ yếu ở thị trấn như 1 số con đường đất dẫn vào các khu là không dễ dàng để xe đi lại. Bên cạnh đó, vận chuyển bằng xe máy là khá hợp lý và ít tốn kém hơn so với vận chuyển bằng taxi. Về mặt kinh tế, Kribi là 1 thị trấn đang phát triển nổi tiếng ở Cameroon là nơi có cuộc sống với chi phí cao. Nó thường được xem như là một trung tâm du lịch, giải trí và thư giãn. Nông nghiệp, thương mại, đánh bắt thương mại, xây dựng và du lịch là những ngành chính của người dân ở khu vực này. Đánh cá và du lịch một mình thu hút rất nhiều người ở bên ngoài Kribi. Ví dụ, việc tiếp thị cá tươi mỗi thứ Tư tại bãi biển Ngoé. Douala và Yaoundé là những thị trường chính cho cá đánh bắt tại Kribi mặc dù 1 số lượng đáng kể cá cũng được tiêu thụ tại địa phương. Cách Kribi vài km là thác nước Lobe, đây là 1 địa điểm thu hút rất lớn đối với khách du lịch. Thác nước Lobe thì rất độc đáo bởi vì nó là thác nước duy nhất ở Cameroon đổ trực tiếp vào đại dương. Đây là lý do tại sao có những kế hoạch đang diễn ra để đăng ký nó vào danh sách Di sản thế giới của UNESCO. Nhiều cuộc họp tham vấn và nhạy cảm đã được tổ chức giữa Bộ Văn hóa và Du lịch với người dân địa phương trong khu vực thác nước Lobe này cho đến cùng. Kribi cũng là nơi nổi tiếng với cuộc sống về đêm. Sự nổi tiếng Carrefour Kinge ở Kribi là có nhiều quán bar, nhà nghỉ và các hoạt động diễn ra suốt hai mươi bốn giờ. Vì vậy hầu hết các khách du lịch và du khách có thể dễ dàng được phát hiện ra xung quanh các quán bar và nhà nghỉ. Bên cạnh các quán bar và nhà nghỉ, Kribi cũng là nơi có nhiều nhà hàng, câu lạc bộ đêm, nhà trọ và khách sạn. Hầu hết các khách sạn ở đây là khách sạn 2 hoặc 3 sao. Theo số liệu thống kê hằng năm, ở năm 2009 từ Viện thống kê Cameroon, đã có hơn 25 khách sạn ở Kribi (xem phụ lục 2). Lĩnh vực ngân hàng cũng được tổ chức tốt ở Kribi với 1 vài ngân hàng có máy rút tiền. Điều này làm cho việc sử dụng thẻ tín dụng là có thể, do đó làm giảm các nguy hiểm liên quan đến du lịch với khoản tiền lớn. Như đã đề cập phía trước, Kribi là nơi có nhiều bãi biển cát trắng. Bãi biển lớn Batanga, bãi biển Mbuamanga và bãi biển Ngoé là một số trong những bãi biển nổi tiếng nhất của thị trấn. Trong tất cả các bãi biển, Bãi biển Ngóe là có nhiều khách tham quan nhất. Điều này là do có 3 lý do chính. Một là, bãi biển nằm gần trung tâm của thị trấn (cách trung tâm của thị trấn vài trăm mét) và thứ 2 là nó khá rộng rãi với nhiều không gian mở. Cuối cùng là, bãi biển thì gần với điểm cuối của đường ống Chad – Cameroon cũng như nhà ở tổng thống (2 điểm tham quan khác cho du khách). Bãi biển Ngóe trải dài hơn 1,5km và do đó hầu như không có tắc nghẽn xảy ra. Hơn nữa, nước ở bờ biển khá là nông, làm cho việc bơi lội ở bờ biển là khá dễ dàng, an toàn và thú vị. Nó cũng không có các vụ tấn công từ cá mập và những nguy hiểm khác từ đại dươngsinh vật biển. Có rất ít cơ sở hoặc tiện nghi tại bãi biển nhưng Hội đồng đô thị ở Kribi đã đẩy mạnh việc làm sạch tại bãi biển. Một vài chỗ công cộng có thể được tìm thấy tại một số điểm xung quanh các bãi biển. Các đội cứu hộ không ở trong vị trí của họ và có vẻ là không có quản trị viên phụ trách công việc quản lý tại bãi biển. Vì lý do chất lượng hay tình trạng của các bãi biển là đôi khi đáng trách và điều này có thể có 1 số tác động tiêu cực tới các quyết định tiếp theo của du khách. Để có một cái nhìn tổng quan về bãi biển Ngoé, xem hình ảnh của bãi biển Ngoé được trình bày dưới đây. Hình 2: Một phần của bãi biển Ngóe (thông báo của Tổng thống Lodge có ánh sáng nền). Ảnh chụp bởi: Timah paul Nude 1.5 Cở sở của vấn đề nghiên cứu Nghiên cứu này tập trung vào các phương pháp chi phí du hành như là 1 kỹ thuật định giá phi thị trường để ước tính giá trị giải trí của bãi biển Ngoé tại thị trấn du lịch của Kribi ở khu vực phía Nam của Cameroon. Du khách đến bãi biển Ngóe thưởng phỉa bỏ ra khoản chi phí cho việc đi lại, chi phí cơ hội về thời gian và chi phí liên quan khác khi đến tham quan thị trấn. Theo Shaw và Rogers (2005), phương pháp chi phí du hành là 1 phương pháp xác định giá trị phi thị trường cơ bản trong đó ước tính sở thích cho biết bằng cách so sánh các chi phí đi lại của du khách hay người tham gia vào một địa điểm hoặc một sự kiện đặc biệt (giải trí). Họ cũng nói rằng kỹ thuật này là thích hợp khi các địa điểm hay sự kiện với 1 tỷ lệ phần trăm cao du khách hoặc người tham dự là người đến từ những nơi khác nhau với những khoảng cách khác nhau đến các địa điểm hay vị trí của sự kiện. Tuy nhiên, nếu đa số khách đi đến các địa điểm là người dân địa phương, rất có khả năng rằng các ước tính về chi phí du hành thu được sẽ bị sai lệch. Phương pháp chi phí du hành (TCM) có thể xác định từ rất lâu vào năm 1947 khi Harold Hotelling đã viết 1 bức thư cho giám đốc công viên Quốc gia của Hoa Kỳ, đề xuất các biện pháp về kinh tế như thế nào cho các công viên công cộng có thể được ước tính (Arrow và Lehmann, 2005). Theo đó, Clawson (1959) sẽ thực hiện 1 số nghiên cứu nghiêm ngặt bằng cách sử dụng các biến nằm trong thư của Hotelling. Như 1 hệ quả, phương pháp chi phí du hành phải nhiều hơn nữa để được công nhận là của Clawson. Đây là lý do tại sao 1 số tác giả khác gọi nó là phương pháp Clawson (Common, 1973). Kể từ đó, các phương pháp chi phí du lịch đã được sử dụng nhiều cho đến ngày hôm nay, hầu hết các nhà kinh tế đồng ý rằng nó là phương pháp thích hợp nhất trong việc đánh giá các điểm địa thư giãn hoặc giải trí. Điều này dường như đúng với các tài liệu về phương pháp chi phí du hành. Các nhà nghiên cứu và học giả đã ngày càng sử dụng nhiều phương pháp này với các hình thức khác nhau để định giá các loại hoạt động giải trí (sự kiện) hoặc các địa điểm khác nhau. 1.6 Ý nghĩa, phạm vi và giới hạn của nghiên cứu. Các kết quả của nghiên cứu này sẽ đặc biệt hữu ích cho các đô thị và hội đồng ở Kribi cũng như các hội đồng khác trên cả quốc, về việc cung cấp và quản lý các nguồn lực công, sửa chữa khách sạn và dịch vụ ăn uống. Kết quả thu được từ nghiên cứu này có khả năng phục vụ như một hướng dẫn cho việc sử dụng phí tham quan hoặc lối vào cho hầu hết các địa điểm giải trí tại Cameroon. Nghiên cứu cũng có ý nghĩa ở chỗ là nó làm mọi nỗ lực để bộc lộ các tiềm năng về du lịch của đất nước. Ngoài ra, có rất ít hoặc không có công trình nghiên cứu về loại hình này đã được thực hiện trong nước trước đây (dựa trên tất cả các tài liệu được xem xét), đó là điều mong đợi rằng sẽ có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu này trong tương lai. Nghiên cứu này đã có những hạn chế riêng của nó là việc tính toán các giá trị sử dụng để giải trí của bãi biển Ngoé. Các giá trị khác của bãi biển như là giá trị của đánh bắt cá thương mại, giá trị của các đường ống dẫn Chad Cameroon và của các cảng biển nước sâu có ý định không được đưa vào xem xét. Cứ cho rằng các giá trị của bãi biển nằm ngoài tính giải trí, nó đòi hỏi tốn nhiều thời gian và nguồn lực tài chính để thực hiện một nghiên cứu trong đó sẽ mang lại các lợi ích khác của bãi biển. Vấn đề thời gian và nguồn lực tài chính có thể không được đưa vào khuôn khổ của nghiên cứu này. Do đó, một nghiên cứu rộng lớn hơn sẽ là phù hợp để nắm bắt tất cả những giá trị này. Nó cũng đáng chú ý rằng các thông tin thu được từ khách du lịch tại chỗ của nghiên cứu trong tháng 2 và 3 năm 2011. Do đó điều này có nghĩa rằng kết quả có thể khác nếu các thông tin thu được trong những khoảng thời gian khác nhau, như tháng 12 hoặc mùa hè đó là thời gian cao điểm cho du lịch. Hơn nữa, điều này có thể không tránh được đối với khung thời gian cho nghiên cứu này. Khái quát về nghiên cứu Công việc này bao gồm 6 chương. Chương đầu tiên là chương giới thiệu. Nó giới thiệu công việc, xem xét vấn đề thư giãn và du lịch trong điều kiện của Cameroon và cung cấp 1 cơ sở cho khu vực nghiên cứu cũng như lĩnh vực nghiên cứu. Nó cũng trình bày vấn đề nghiên cứu, mục tiêu và tầm quan trọng của nghiên cứu cũng như phạm vi và giới hạn của nghiên cứu. Chương 2 là dành cho việc xem xét các tài liệu có liên quan và chương 3 là tập trung vào khảo sát tại chỗ và mô tả dữ liệu. Chương 4 xem xét các mô hình kinh tế khác nhau được sử dụng trong bài nghiên cứu và các kỹ thuật của chúng. Trọng tâm của chương 5 là các kết quả của ước tính kinh tế lượng. Nó cũng bao hàm các tính toán khác nhau về thặng dư tiêu dùng (CS) và sự sẵn lòng chi trả (SWTP) của du khách cũng như các phân tích được thực hiện dựa trên các kết của của kinh tế lượng. Cuối cùng, chương 6 đưa ra kết luận chung và 1 số kiến nghị dựa trên các kết quả nghiên cứu.   CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU Chương này tập chung xem xét các tài liệu liên quan đến việc định giá, giá trị hàng hóa, dịch vụ phi thị trường nói chung và giải trí nói riêng. Chính xác hơn, một cái nhìn tổng quan về các kỹ thuật định giá khác nhau của hàng hóa phi thị trường sẽ được trình bày. Khái niệm về thặng dư tiêu dùng (CS) được áp dụng trong nghiên cứu định giá phi thị trường sẽ được xem xét lại. Ngoài ra, xem xét kỹ lưỡng của TCM sẽ được thực hiện cũng như các cách khác nhau, trong đó thời gian đi lại và thời gian dành cho chỗ có giá trị trong nghiên cứu TCM. Chương này cũng được dành cho việc xem xét lại các cơ sở lý thuyết mà dựa vào đó TCM được neo cũng như một số công trình thực nghiệm đã được tiến hành bởi các nhà nghiên cứu khác. 2.1. Các phương pháp tiếp cận khác nhau để định giá phi thị trường Kỹ thuật định giá phi thị trường thường rơi vào hai loại lớn ( phương pháp bộc lộ sở thích (RP) và phương pháp phát biểu sở thích (SP)), mặc dù phương pháp chuyển giao lợi ích và phương pháp xác định giá trị hỗn hợp dường như là các công cụ định giá phi thị trường thú vị khác. Phương pháp bộc lộ sở thích thường tập trung vào làm thế nào để định giá hàng hóa và dịch vụ phi thị trường dựa trên hành vi quan sát được từ các cá nhân hoặc người tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ đó. Boardman et al. (2006) nhà nước thêm rằng căn cứ xác định giá trị về hành vi quan sát là quan trọng bởi vì các cá nhân tiết lộ sở thích của họ mà không cần phải hỏi. Do đó điều này có khả năng giảm thiểu thiên vị kết hợp với nghiên cứu của thiên nhiên này. Phương pháp bộc lộ sở thích được sử dụng phổ biến để xác định giá trị phi thị trường bao gồm giá cả hưởng thụ, chi phí đi lại và phương pháp tính giá thị trường. Mặt khác, phương pháp phát biểu sở thích nói rõ sử dụng quan sát để tìm ra thông tin từ các cá nhân liên quan đến chi phí và lợi ích. Phương pháp phát biểu sở thích nói rõ là chủ yếu được sử dụng để định giá một số hàng hóa công cộng mà có rất ít hoặc không có sự tín nhiệm của thị trường. Vì lý do này, các phương pháp phát biểu sở thích nói rõ sử dụng bảng câu hỏi để tìm ra thông tin kể từ khi được hỏi đều không thực sự cần thiết để chi trả cho việc định giá hàng hóa và dịch vụ (Boardman et al., 2006). Hơn nữa, Shaw và Rogers (2005) cho rằng phương pháp phát biểu sở thích nói rõ thường trực tiếp yêu cầu cá nhân để ghi giá trị của họ cho một chuyến thăm đến một hồ nước, bãi biển, một sự thay đổi môi trường ở biển hay hồ, hoặc sự tồn tại của một sự kiện. Thông thường phát biểu sở thích bao gồm đánh giá ngẫu nhiên, mô hình hóa sự lựa chọn đã nêu và các kỹ thuật phân tích kết hợp. Chuyển lợi ích và phương pháp phân tích dựa rất nhiều vào kết quả thu được bằng cách sử dụng phát biểu sở thích nói rõ và phương pháp bộc lộ sở thích kể từ khi họ chỉ đơn giản là sử dụng các kết quả đó cho giá trị hàng hóa và dịch vụ phi thị trường tương tự. Tóm lại, Shaw và Rogers (2005) đặt nó rằng phương pháp truyền tải những lợi ích là một phương pháp thứ hai của định giá phi thị trường mà là dựa vào tài liệu hiện có. Mặt khác phương pháp xác định giá trị liên quan đến một hỗn hợp pha trộn của RP và SP kỹ thuật. Trong các đoạn tiếp theo, các phương pháp bộc lộ sở thích về định giá phi thị trường sẽ được làm sáng tỏ với sự nhấn mạnh vào phương pháp chi phí du hành (TCM), vì nó là phương pháp chính được sử dụng trong công việc này. Hình 3 tóm tắt các kỹ thuật định giá phi thị trường khác nhau đã thảo luận ở trên. Hình 3: Các kỹ thuật định giá của môi trường phi thị trường hàng hóa và dịch vụ. Source: Adapted from www.csc.noaa.govcoastaleconomiesenvvaluation.htm Notes: CV = Contingent Valuation, FOP = Factors of Production, CS = Consumer Surplus, PS = Producer Surplus and TCM = Travel Cost Method. 2.2 Khái niệm và lý thuyết Framework. Như đã đề cập trước đó trong các đoạn trên, kỹ thuật định giá phi thị trường thường được phân loại thành hai loại, cụ thể là phương pháp bộc lộ sở thích và phát biểu sở thích. Trong phần này, làm nổi bật phần nào các kỹ thuật bộc lộ sở thích vì đây là mối bận tâm lớn của công việc này. Vì vậy, xem xét lại các khái niệm và lý thuyết liên quan đến kỹ RP sẽ là cần thiết. 2.2.1 Khái niệm về thặng dư tiêu dùng (CS). Ý tưởng về thặng dư tiêu dùng (CS) là một nguyên lý trung tâm của phương pháp chi phí du hành. Tầm quan trọng của CS trong TCM nằm trong thực tế rằng nó thực sự đại diện cho bao nhiêu khách tham quan, giá trị một chuyến đi hoặc tham quan địa điểm giải trí. Vì vậy không làm thay đổi các CS đại diện cho giá trị sử dụng của giải trí gắn liền với địa điểm giải trí. Sohngen et al. (1999) cho rằng thặng dư của người tiêu dùng là giá trị phụ trên chi phí du lịch cá nhân có được bằng cách tham quan địa điểm giải trí (bãi biển) mỗi mùa (năm). Trong điều kiện kinh tế bình thường, thặng dư tiêu dùng là sự chênh lệch giữa giá trị thực tế bạn phải trả cho một số hàng hóa và giá trị tối đa mà bạn sẽ sẵn sàng chi trả cho nó hơn là không có nó (Ndichia, 2007). Alfred Marshall elucidates làm sáng tỏ điều này bằng cách nói rằng “Giá mà một người phải trả cho một việc có thể chưa bao giờ và rất ít khi đi đến đó mà ông sẽ sẵn sàng trả tiền chứ không cần đi đến đó, vì vậy mà sự hài lòng anh ta nhận được từ nó thường vượt qua việc ông ta từ bỏ việc trả tiền cho giá trị đó; và do đó ông xuất phát từ việc mua một sự hài lòng thặng dư. Việc dư thừa của giá mà anh sẽ sẵn sàng trả tiền chứ không phải đi mà không có điều, qua đó mà ông thực sự trả tiền, là biện pháp kinh tế của sự hài lòng thặng dư này. Nó có thể được gọi là thặng dư của người tiêu dùng (Ndichia, 2007). Sự sáng tỏ của định nghĩa này đã được đề cặp ở trên bởi Ndichia và lời giải thích ngắn gọn bởi Marshall, và trong tình huống của TCM, sau đó có thể được phát biểu một cách chủ quan rằng CS là sự khác biệt giữa tổng chi phí đi lại hoặc chi phí phát sinh bởi một người đến một địa điểm giải trí và số tiền tối đa mà họ đã (hoặc sẽ) sẵn sàng chi tiêu để chuẩn bị cho chuyến thăm hay chuyến đi. Để minh họa cho các khái niệm của CS, hãy xem hình 4. Hình 4: Hàm cầu chi phí đi lại và thặng dư tiêu dùng TTC (price per trip per visitor) 0 N0 Number of trips per visitor per year Source: Adapted from Sohngen et al. (1999:12). Từ các con số trên, chúng ta nhận ra rằng thặng dư của người tiêu dùng là các vùng được đại diện bởi At0t1. Khu vực này có thể dễ dàng tính toán, sử dụng các phép tính đơn giản (tức là hội nhập). Ngoài ra, CS có thể được tính bằng cách sử dụng các công cụ của các phép tính nếu chức năng nhu cầu chi phí du lịch theo thông số thông qua một hình thức chức năng phù hợp. Giả sử chúng ta có một hàm cầu chi phí đi lại của hình thức chức năng: TIJ = f (Pi, Yi, Zj) (1) Ti là số lượng các chuyến đi thực hiện bởi cá nhân i tới địa điểm giải trí trong vòng mười hai tháng qua (năm ngoái), Pi là tổng chi phí du lịch (giá) cho khách viến thăm i, Yi mức thu nhập của khách i và Zj là chất lượng của các địa điểm giải trí. Từ phương trình (1), CS có thể được tính bằng cách lấy giá trị của hàm số nhu cầu i.e. CS = ∫_P1P2▒〖f (Pi,Yi,Zi)dPi〗(2) Phương pháp này tính toán CS được thảo luận ở trên chỉ có thể được áp dụng khi dữ liệu là một trong những phương pháp đó là hồi quy OLS hay bất kỳ biện pháp ước lượng thích hợp khác có thể được áp dụng trực tiếp để có được các chức năng nhu cầu chi phí đi lại. Tuy nhiên, trong một số trường hợp (chẳng hạn như các ứng dụng của Poisson cắt ngắn hoặc không thổi phồng và các mô hình nhị thức âm) mà số lượng các chuyến đi là một hàm mũ của các chi phí đi lại và các biến khác, CS cho mỗi chuyến đi được tính như sau. CS = 1 β (3) β là hệ số của tổng chi phí đi lại (TTC) biến đạt được khi ước lượng khả năng tối đa được áp dụng cho các mô hình TCM sau. Lưu ý rằng các dấu hiệu của β nên tiêu cực vì nó phải phù hợp với mong đợi trong một mô hình theo yêu cầu (Bilgic và Florkowski, 2007). Do đó điều này có nghĩa rằng ước tính cho mỗi chuyến đi CS nên luôn dương. 2.2.2 Phương pháp bộc lộ sở thích và Phương pháp chi phí du hành (TCM) Phương pháp bộc lộ sở thích là phương pháp tiếp cận hàng hóa phi thi trường mà nó có thể được sử dụng để định giá địa điểm giải trí ( như là công viên và bãi biển công cộng) và giải trí hoặc sự kiện văn hóa dựa trên thông tin sở thích của khách du lịch về địa điểm và sự kiện. Kỹ thuật bộc lộ sở thích là ứng dụng tốt trong tình huống mà ở đó hoạt động chắc chắn hoặc sở thích của cá nhân cung cấp thông tin đầy đủ để được định giá hàng hóa hoặc dịch vụ khác. Phương pháp bộc lộ sở thích được chia ra hai loại là phương pháp định giá hưởng thụ và chi phí du hành vùng(TCM). Tuy nhiên, trọng tâm của công tác này là TCM rất nhiều trong những cuộc thảo luận trong công việc này sẽ được dành cho việc TCM. Nhiều năm qua, nhiều nhà kinh tế học có báo trước TCM là công cụ định giá tốt nhất khi nó trở thành giá trị của địa điểm và sự kiện giải trí từ khi cải tiến kỹ thuật bộc lộ sở thích ở trên của du khách (như Bateman, 1993; Day, 2000; Curtis, 2003; Earnhart, 2003; Anderson, 2010 nhưng chỉ đề cặp đến một vài tên). Như một hệ quả, kỹ thuật này đã được sử dụng rộng rãi bởi môi trường, giải trí, vui chơi giải trí, du lịch và các nhà kinh tế văn hóa và các nhà nghiên cứu trong nhiều thập kỷ qua để đánh giá hoạt động giải trí khác nhau. Garrod và Willis (1999) đưa ra ý kiến rằng phương pháp này chủ yếu được sử dụng để ước tính nhu cầu hoặc đường cong xác định giá trị biên cho các địa điểm giải trí.Họ đều nhớ lại rằng mặc dù cổng vào nhiều địa điểm giải trí thường là miễn phí, du khách đến địa điểm đó như là mua hàng hóa tư nhân như vận tải để đạt được quyền đến địa điểm đó.Các chi phí về hàng hóa tư nhân có liên quan sau đó có thể được sử dụng như người thụ hưởng để đánh giá các địa điểm. Kể từ khi TCM trở thành phương pháp nổi bậc, nó đã trải qua những tác động mạnh mẽ và sàng lọc các điều khoản của ứng dụng của nó và các mô hình làm việc. Cụ thể hơn, Sohngen et al. (1999) ủng hộ quan điểm này bằng cách nói rằng trong hai mươi lăm (25) năm qua, các nhà kinh tế đã được áp dụng và cải tiến các kỹ thuật chi phí du hành để đánh giá giá trị kinh tế của một loạt các nguồn tài nguyên công cộng như rừng, chất lượng nước, nước mặn và bãi biển nước ngọt cũng như di sản văn hóa. Đầu tiên, nó là phương pháp chi phí du lịch vùng (ZTCM), trong đó du khách được nhóm thành các loại hoặc khu khác nhau dựa trên một số đặc điểm tương tự như nguồn gốc địa lý.Đây là hình thức lâu đời nhất của phương pháp chi phí du lịch. Nó đã được sử dụng trong nhiều nghiên cứu như là những người Clawson và Knetsch (1966), Hanley(1989), Chen et al. (2003), Becker et al. (2005) nhưng chỉ để đề cập đến một vài. Những người ủng hộ ZTCM lập luận rằng phương pháp này có lợi thế ở chỗ nó bảo đảm thủ tục thu thập dữ liệu chuyên sâu hơn, sở hữu khả năng điều chỉnh tần số của cuộc thăm viếng từ khu có dân số khác nhau và các địa điểm khác thường có ít khách, qua đó đảm bảo việc thực hiện các các mối quan hệ nhu cầu giá lượng nghịch đảo (xem Ward và Loomis, 1986; Bergstrom và Cordell, 1991). Tuy nhiên, phương pháp chi phí du hành vùng đã bị chỉ trích nghiêm trọng gần đây cho sự mơ hồ của nó như là một công cụ định giá phi thị trường (xem Bell và Leeworthy,1990). Vì lý do này, hầu hết các nhà nghiên cứu và các nhà kinh tế hiện nay đã chuyển sang phương pháp chi phí du lịch cá nhân (ITCM) như là một lựa chọn tốt hơn. Giữa cuộc tranh cãi này trong đó hình thức của TCM là thích hợp nhất, Bateman (1993) trình bày một số tài liệu thú vị về việc sử dụng thích hợp của TCM và nó là như vậy, cần phải có sự ủng hộ lý thuyết trong đó hình thức của TCM để sử dụng cho các trường hợp. Theo Vicente và Pablo de Frutos (2010), các ITCM là thuận lợi ở chỗ nó sau biện pháp kinh tế thông thường và cũng dựa trên những gì mọi người thực sự làm. Blackwell (2007) nhắc lại rằng ITCM đã trở nên phổ biến hơn trong hai thập kỷ qua những tiến bộ trong công nghệ thông tin và các lợi thế của việc có thể để bao gồm các đặc điểm kinh tếxã hội như tuổi tác, thu nhập và giáo dục để giúp giải thích cá nhân như trái ngược với sau thăm viếng vùng phổi. Hầu hết các nghiên cứu định giá về các địa điểm giải trí (recreational sites )ngày nay sử dụng phương pháp này. Sarker và Surry (1998), Sohngen et al. (1999), Shrestha et al. (2002) Blackwell (2007) và Anderson (2010) chỉ là một vài trong số những tác phẩm mà tôi đã sử dụng các ITCM. Các ITCM cũng mang hai hình thức, cụ thể là những mô hình địa điểm duy nhất và các mô hình nhiều địa điểm. Trong các mô hình địa điểm duy nhất, các giả định cơ bản là cá nhân thực hiện các chuyến đi chỉ để một điểm đến hoặc nơi duy nhất trong khi đó ở các mô hình nhiều địa điểm, cá nhân thực hiện các chuyến đi đến nhiều hoặc nhiều điểm đến. Các thông số kỹ thuật của các mô hình thậm chí còn đa dạng hơn. Ví dụ, Sarker và Surry (1998) và Bin et al. (2005) sử dụng mô hình dữ liệu số và Song et al. (2010) sử dụng ngẫu nhiên mô hình tối đa hóa tiện ích (RUM). Salanié (2006) hỗ trợ cho tuyên bố này của mô hình thông số kỹ thuật đa dạng bằng cách nói rằng trong mười lăm năm qua, TCM đã được cải thiện rất nhiều, đáng chú ý, liên quan đến các đặc điểm kỹ thuật kinh tế của các mô hình sử dụng. Ông cũng nói rằng mô hình chi phí đi lại thường có ba loại đó là: mô hình lựa chọn rời rạc mà cho phép các người mẫu của sự lựa chọn giải trí, tính mô hình dữ liệu mà ước lượng hàm cầu của viếng thăm và hệ phương trình. Ông cũng cảnh báo rằng việc áp dụng bất kỳ của các mô hình này còn tùy thuộc vào các loại dữ liệu được sử dụng để phân tích. Đối với mô hình đại diện của TCM, xem xét Hình 5.Mô hình này cho thấy tổng chi phí du lịch là tổng các chi phí đi lại quanh chuyến đi, chi phí cơ hội của thời gian đi lại (và hoặc thời gian trên địa điểm) và các chi phí trên địa điểm (phí tham quan, ăn, ở, hình ảnh vv). Hình 5: Một mô hình minh họa của Phương pháp chi phí du lịch. Từ hình 5, rõ ràng là du khách đến bãi biển có thể sử dụng một hoặc nhiều hơn bốn phương tiện vận chuyển khác nhau (đi bộ, xe đạp hoặc xe máy, xe hơi và máy bay). Mặc dù đối với các địa điểm giải trí khác, vận tải biển có thể là một trong những phương tiện cho khách du lịch, nhưng nó không được sử dụng ở bãi biển Ngoé. Đây là lý do tại sao phương tiện vận tải này không xuất hiện trong các mô hình minh họa. Thông thường, du khách địa phương có thể đi bộ đến bãi biển, sử dụng một xe máy hoặc xe hơi. Du khách không thuộc địa phương chủ yếu sử dụng xe ô tô (xe riêng hoặc xe vận tải công cộng) để đi du lịch đến các địa điểm. Tùy thuộc vào mỗi du khách không thuộc địa phương muốn ở bao lâu cho mỗi chuyến đi, anh ta hoặc cô ta có thể sử dụng các phương tiện vận tải khác thường được sử dụng bởi khách tham quan tại địa phương. Máy bay là chủ yếu được sử dụng bởi những du khách đến từ các nước khác.Tuy nhiên, khi họ đến sân bay, họ sẽ còn phải sử dụng các phương tiện vận tải khác. 2.2.3 Khung lý thuyết Các lý thuyết xung quanh TCM và ứng dụng của nó là tương đối đơn giản. Nó được dựa trên lý thuyết kinh tế vi mô của hành vi tiêu dùng trong đó nói rằng một người tiêu dùng cá nhân tăng tối đa tiện ích của mình hoặc của cá nhân bắt nguồn từ việc tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ chịu hạn ngân sách của mình (Gravelle và Rees, 2004). Một giải pháp chung cho vấn đề này tối đa hóa sản lượng hạn chế các chức năng nhu cầu marshallian. Các ứng dụng của lý thuyết kinh tế vi mô này của hành vi tiêu dùng là tương đối đơn giản khi hàng hóa và dịch vụ tư nhân đang được xử lý. Điều này tương tự có thể được mở rộng cho hàng hóa và dịch vụ công cộng như công viên, vui chơi giải trí bãi biển và các dịch vụ giải trí khác. Trong trường hợp đặc biệt này, cá nhân du khách đến một địa điểm giải trí được coi như là một người tiêu dùng của hai hàng hóa, dịch vụ (tức là hàng hóa giải trí và dịch vụ (ký hiệu là ri) và tất cả các hàng hóa, dịch vụ tư nhân hoặc thị trường khác (ký hiệu là xi), người phải đối mặt với ngân sách và thời gian hạn chế (xem Sarker và Surry, 1998). Giả sử xi và ri để đại diện cho một vector hàng hóa riêng và vector của hàng hóa hoặc dịch vụ giải trí tương ứng. Đặt lại giá trị của hai tập hợp các mặt hàng này tương ứng là px và pr. Do đó người tiêu dùng có thể sử dụng chi tiêu hoặc thu nhập của mình (ký hiệu là Yi) cho việc mua hai mặt hàng này. Do đó, các giới hạn ngân sách của cá nhân khách tham quan được đưa ra là: Yi = wTw = px xi + pr ri (4) Yi là mức thu nhập của người tiêu dùng cá nhân i, w là mức lương theo giờ và Tw là tổng số giờ làm việc. Các du khách cá nhân cũng phải đối mặt vấn đề thời gian khi anh ấy hoặc cô ấy phải quyết định bao nhiêu thời gian dành cho công việc và thư giãn (giải trí). Tương tự như phương trình (4) ở trên, sự hạn chế thời gian sau đó có thể được quy định như: T = Tw + Tl (5) T là tổng thời gian bỏ ra của người tiêu dùng và Tl là thời gian dành cho việc thư giãn (giải trí). Lưu ý rằng chất lượng của các địa điểm giải trí là một yếu tố quyết định sự lựa chọn của du khách đến địa điểm du lịch. Nếu chúng ta biểu thị những thước đo chất lượng của một địa điểm giải trí như qj, sau đó các chức năng hữu ích của người tiêu dùng đại diện cho giải trí có thể được viết như: Uij=U (xi, ri, qj) (6) Tối đa hóa hữu dung của phương trình (6) theo phương trình (4) và (5), đường cầu thông thường hoặc marshallian về hàng cá nhân và hàng hóa giải trí có thể đạt được: xi = g (px, pr, Yi, qj) (7) rij = f (px, pr, Yi, qj) (8) Phương trình (7) và (8) đại diện cho các đường cầu thông thường của hàng cá nhân và hàng hóa giải trí tương ứng. Tuy nhiên, trọng tâm của công tác này là dựa trên phương trình thứ hai (8). Lưu ý rằng rất khó để đo lường các hàng hóa, dịch vụ giải trí (Sarker và Surry, 1998) vì vậy kết quả là số lượng các chuyến đi đến các địa điểm giải trí được sử dụng như để thay thế. Như đã thảo luận trong phần trước, phương trình (8) là rất quan trọng trong việc tính toán CS của mỗi chuyến đi có thể thu được từ toán kinh tế. 2.3 Lược khảo tài liệu Trong phần này, một tổng qua
Xem thêm

79 Đọc thêm

Kinh hoàng khách sạn dùng khăn tắm lau bồn cầu

KINH HOÀNG KHÁCH SẠN DÙNG KHĂN TẮM LAU BỒN CẦU

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Gần đây, công tác dọn dẹp vệ sinh của một khách sạn nổi tiếng Trung Quốc bị “vạch trần” trên các trang mạng xã hội, khiến mọi người không khỏi lo ngại về vấn đề sức khỏe khi ở nhà nghỉ, khách sạn. Khách sạn Như Gia đã bị chỉ trích nặng nề khi bị lộ những hình ảnh không đảm bảo vệ sinh khi dọn dẹp.   Dùng khăn tắm để lau bồn rửa.   Dùng khăn tắm lau gương.   Dùng khăn tắm lau sàn.   Tệ hơn nữa, nhân viên khách sạn còn dùng khăn tắm để lau bồn cầu!   Dùng khăn tắm để lau bồn rửa mặt.   Sau đó là lau bồn cầu! Sau khi xem xong những hình ảnh này, hẳn không ít người ngỡ ngàng trước việc vệ sinh phòng vô cùng tùy tiện của một số nhân viên khách sạn. Khách sạn là một phần của du lịch, thậm chí chiếm hơn một nửa việc du lịch. Khách sạn là nơi ở tạm của chúng ta, điều đó cũng có nghĩa là không hề an toàn và sạch sẽ như ở nhà. Để đảm bảo sức khỏe cho chính mình, có những thứ chúng ta tuyệt đối không thể động vào. 1. Tránh xa bình đun nước   Bạn có biết, thật ra nơi bẩn nhất trong khách sạn không phải là bồn rửa, mà là bình đun nước. Bình đun nước là vật dụng cơ bản cho mỗi phòng, thoáng nhìn thì khá là sạch sẽ nhưng ai mà biết những vị khách trước đó dùng nó làm gì. 2. Đừng dùng cốc thủy tinh   Cốc thủy tinh trong khách sạn tốt nhất không nên dùng, đặc biệt là đừng dùng để uống nước. Rất nhiều nhân viên phục vụ đều dùng khăn lau bàn để lau cốc thủy tinh, dùng nước ở đâu đó xúc xúc mấy cái là xong. Thậm chí họ còn rất ít khi dùng nước nóng khử trùng. 3. Điều khiển tivi từ xa vô cùng bẩn   Thử nghĩ một chút xem, nếu như bạn là nhân viên vệ sinh của khách sạn, bạn sẽ để ý đến chiếc điều khiển tivi sao? Chiếc điều khiển tivi không biết bao nhiêu người cầm qua, dùng qua, nên khi dùng xong tốt nhất nên đi rửa tay. 4. Công tắc đèn đầu giường   Công tắc đèn có tần suất sử dụng nhiều hơn cả điều khiển tivi. Do vậy, rước khi sờ vào nên dùng giấy ướt kháng khuẩn để lau sạch. 5. Đừng tin dòng chữ “đã khử trùng” Dép lê trong phòng khách sạn, đặc biệt là loại dép lê nhựa sử dụng lâu năm; tấm thảm chống trơn trong phòng tắm; bồn cầu; bồn rửa,....những thứ này các nhân viên vệ sinh đều rất ít khi khử trùng. Cho nên bạn tự phải biết bảo vệ mình. Bồn cầu khi dùng nên lấy giấy đệm ở dưới. Bồn rửa cũng không nên dùng, tốt nhất là cứ dùng nước trực tiếp không qua bồn rửa. 6. Khăn trải giường và các loại khăn   Muốn kiểm tra xem khăn trải giường đã được thay chưa, có thể kéo một góc ra xem có sợi tóc nào hay không. Còn nữa tốt nhất vẫn là đem theo khăn mặt, khăn tắm theo, thậm chí là khăn trải giường một lần. Muốn biết tại sao nhiều người ở khách sạn lại mắc bệnh truyền nhiễm, hãy xem lại khăn tắm và khăn trải giường. 7. Hãy dùng “7 vật nhỏ” của mình   7 vật nhỏ là kem đánh răng, bàn chải đánh răng, lược, sữa tắm, dầu gội đầu, khăn tắm, dép lê. Rất nhiều khách sạn đều trang bị đầy đủ cho bạn, nhưng chúng ta cũng nên chuẩn bị trong balo du lịch. Vì sao ư? Bạn có lẽ đã tự hiểu sau khi đọc xong bài này.
Xem thêm

2 Đọc thêm