MỤC ĐÍCH Ý NGHĨA VÀ NHIỆM VỤ CỦA TỔ CHỨC LAO ĐỘNG KHOA HỌC

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "MỤC ĐÍCH Ý NGHĨA VÀ NHIỆM VỤ CỦA TỔ CHỨC LAO ĐỘNG KHOA HỌC":

Hoàn thiện công tác tổ chức lao động khoa học ở công ty LADECO

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC TỔ CHỨC LAO ĐỘNG KHOA HỌC Ở CÔNG TY LADECO

Bài tiểu luận môn tổ chức lao động khoa học. Đề tài là hoàn thiên công tác tổ chức lao động tại một đơn vị cụ thể, phần lý thuyết nêu các khái niệm của tổ chức lao động khoa học sau đó đi vào phần thực tế, bài nêu công tác tổ chức lao động khoa học ở công ty LADECO là doanh nghiệp cổ phần và lĩnh vực hoạt động chủ yếu là dịch vụ.

12 Đọc thêm

Báo cáo tổ chức lao động khoa học

BÁO CÁO TỔ CHỨC LAO ĐỘNG KHOA HỌC

Tổ chức lao động khoa học và trang thiết bị văn phòng Tổ chức lao động khoa học trong văn phòng là tổ chức làm việc theo những phương pháp khoa học dựa vào những thành tựu của khoa học và kinh nghiệm thực tiễn được áp dụng có hệ thống trong hoạt động văn phòng. Đó là quá trình kết hợp một cách tốt nhất giuưa kĩ thuật và cong người trong mọi hoạt động nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả lao động đảm bảo sức khỏe cho người lao động.

25 Đọc thêm

LUẬN VĂN KẾ TOÁN ĐH MỎ: TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TIÊU THỤ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN PHÁT TRIỂN KỸ THUẬT XÂY DỰNG

LUẬN VĂN KẾ TOÁN ĐH MỎ: TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TIÊU THỤ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN PHÁT TRIỂN KỸ THUẬT XÂY DỰNG

MỤC LỤC Chương 1 4 TÌNH HÌNH CHUNG VÀ CÁC ĐIỀU KIỆN KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN PHÁT TRIỂN KỸ XÂY DỰNG 4 1.1.Quá trình hình thành và phát triển 5 1.2.Chức năng, nhiệm vụ và ngành nghề kinh doanh của Công ty Cổ phần phát triển Kỹ thuật Xây Dựng 6 1.2.1.Chức năng, nhiệm vụ 6 1.2.2.Các lĩnh vực hoạt động chính của Công ty bao gồm: 7 1.3.Quy trình kinh doanh của Công ty Cổ phần Phát triển Kỹ thuật Xây dựng 8 1.4.Cơ sở vật chất kỹ thuật của Công ty Cổ phần phát triển Kỹ thuật Xây dựng 11 1.5.Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý cả Công ty 13 1.6.Tình hình tổ chức lao động Công ty Cổ phần Phát triển Kỹ thuật Xây dựng 16 1.6.1. Tổng quan tình hình tổ chức kinh doanh và lao động 16 1.6.2.Tình hình tổ chức lao động trong Công ty 19 KẾT LUẬN CHƯƠNG I 21 Chương II 22 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH VÀ TÌNH HÌNH TIÊUTHỤ HÀNG HÓA TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN PHÁT TRIỂNKỸ THUẬT XÂY DỰNG 22 2.1. Đánh giá chung hoạt động kinh doanh của Công ty năm 2015 23 2.2. Đánh giá tình hình tài chính của Công ty năm 2015 26 2.2.1. Đánh giá khái quát tình hình tài chính qua Bảng cân đối kế toán 27 2.2.2. Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh 29 2.2.3. Phân tích mối quan hệ và tình hình biến động của các chỉ tiêu trong Bảng cân đối kế toán 38 2.2.4. Phân tích mối quan hệ và tình hình biến động của các chỉ tiêu trong Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh 43 2.2.5. Phân tích tình hình và khả năng thanh toán 45 2.2.6. Phân tích hiệu quả kinh doanh và khả năng sinh lợi vốn 56 2.3. Phân tích tình hình tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh của Công ty năm 2015 64 2.3.1. Phân tích tình hình tiêu thụ theo thời gian 64 2.3.2. Phân tích tình hình tiêu thụ theo lĩnh vực kinh doanh 67 2.4. Xác định kết quả kinh doanh tại Công ty 69 KẾT LUẬN CHƯƠNG II 74 CHƯƠNG 3 75 TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TIÊU THỤ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN PHÁT TRIỂN KỸ THUẬT XÂY DỰNG 75 3.1. Tính cấp thiết lựa chọn đề tài công tác tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh 76 3.2. Mục đích, đối tượng, nội dung, phương pháp nghiên cứu chuyên đề 76 3.2.1. Mục đích nghiên cứu 76 3.2.2. Đối tượng nghiên cứu 77 3.2.3. Nội dung nghiên cứu 77 3.2.4. Phương pháp nghiên cứu 77 3.3. Cơ sở lý luận về công tác hạch toán kế toán tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh trong Công ty. 78 3.3.1. Khái niệm, phân loại, ý nghĩa và đặc điểm của các đối tượng hạch toán kế toán 78 3.3.2. Các chuẩn mực kế toán và chế độ chính sách về công tác hạch toán kế toán tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh 86 3.3.3. Yêu cầu, nhiệm vụ đối với công tác hạch toán kế toán tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh 87 3.3.4. Phương pháp hạch toán. 88 3.3.5. Hệ thống chứng từ và sổ sách kế toán 100 3.4. Thực trạng công tác kế toán của doanh nghiệp 101 3.4.1. Tổ chức công tác kế toán của doanh nghiệp 101 3.4.2. Tình hình thực tế công tác hạch toán kế toán tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty Cổ phần Phát triển Kỹ thuật Xây dựng 105 3.4.3. Tình hình công tác tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty Cổ phần phát triển kỹ thuật xây dựng 107 3.5. Nhận xét về thực trạng công tác kế toán tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty Cổ phần Kỹ thuật Xây dựng 156 3.5.1. Ưu điểm 156 3.5.2. Nhược điểm 157 3.5.3. Phương hướng hoàn thiện kế toán tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty Cổ phần phát triển Kỹ thuật Xây dựng 157 3.5.4. Một số ý kiến đề xuất hoàn thiện công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty Cổ phần phát triển Kỹ thuật Xây dựng 158 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 159 TÀI LIỆU THAM KHẢO 160
Xem thêm

127 Đọc thêm

Đề tài nghiên cứu NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI DÂN VỀ VẤN ĐỀ SỬ DỤNG NƯỚC SẠCH TRONG SINH HOẠT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI DÂN VỀ VẤN ĐỀ SỬ DỤNG NƯỚC SẠCH TRONG SINH HOẠT

Mục lụcCHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN1.Tính cấp thiết của đề tài:52.Câu hỏi nghiên cứu : 63.Tổng quan vấn đề nghiên cứu: 74.Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài: 9Ý nghĩa khoa học: 9Ý nghĩa thực tiễn: 95.Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu: 10Mục tiêu nghiên cứu: 10Mục đích nghiên cứu: 10Nhiệm vụ nghiên cứu: 106.Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu: 11Đối tượng nghiên cứu: 11Khách thể nghiên cứu: 11Phạm vi nghiên cứu: 117.Phương pháp nghiên cứu: 11Phương pháp luận: 11phương pháp cụ thể: 127.2.1phương pháp phân tích tài liệu: 127.2.2.Phương pháp quan sát: 127.2.3.Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi:137.2.4.Phương pháp phỏng vấn sâu: 148.Lý thuyết nghiên cứu: 148.1.Thuyết hành động xã hội: 148.2.Thuyết vai trò: 158.3.Thuyết kiểm soát xã hội: 158.4.Thuyết biến đổi xã hội:16 9. Thao tác hóa khái niệm…………………………………………………...16 9.1.Khái niệm môi trường: 169.2.Khái niệm ô nhiễm môi trường : 179.3.Khái niệm nước: 179.4.Khái niệm nước sạch: 179.5.Khái niệm ô nhiễm nguồn nước: 189.6.Khái niệm chất thải: 189.7.Khái niệm nhận thức: 19CHƯƠNG II: NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI DÂN VỀ VIỆC SỬ DỤNG NƯỚC SẠCH TRONG SINH HOẠT1. Khái quát địa bàn thực tập: 202.Thực trạng sử dụng nước sạch trong sinh hoạt của người dân ở địa bàn xã Việt Ngọc, Tân Yên, Bắc Giang……………………223.Những phát hiện thấy được tại địa bàn nghiên cứu: 254.Kết luận: 264.1.Giải pháp: 264.2.Khuyến nghị: 27
Xem thêm

33 Đọc thêm

NHỮNG NHIỆM VỤ TRƯỚC MẮT CỦA CHÍNH QUYỀN XÔVIẾT

NHỮNG NHIỆM VỤ TRƯỚC MẮT CỦA CHÍNH QUYỀN XÔVIẾT

GIỚI THIỆU TÁC PHẨM “NHỮNG NHIỆM VỤ TRƯỚC MẮT CỦA CHÍNH QUYỀN XÔVIẾT” (V.I.Lênin Toàn tập, Tập.36, Nxb. TB, Mátxcơva, 1977, tr.201256) PGS, TS. Nguyễn Văn Oánh Trần Chí Lý Những nhiệm vụ trước mắt của Chính quyền Xô viết là tác phẩm lớn của Lênin, và là tác phẩm chủ yếu của chủ nghĩa Mác Lênin. Trong đó đề cập đến nhiều vấn đề quan trọng như: Kinh tế, chính trị, triết học, chủ nghĩa xã hội khoa học, về Đảng Cộng sản v.v.. Với phạm vi bài viết này, chỉ xem xét dưới góc độ chính trị, đây cũng là nội dung bao quát toàn bộ tác phẩm, và là Cương lĩnh chính trị của Đảng Bônsêvích (b) ở nước Nga trong những năm 19181923, thời kỳ nước Nga xẩy ra nội chiến. Tuy nhiên, những tư tưởng được Lênin đề cập trong giai đoạn này không chỉ giải quyết những vấn đề trước mắt mà nó có ảnh hưởng trực tiếp tới việc thực hiện Chính sách kinh tế mới “NEP”, và là tư tưởng xuyên suốt của Lênin trong quá trình lãnh đạo đất nước xây dựng chủ nghĩa xã hội.I. Hoàn cảnh ra đời của tác phẩmChiến tranh thế giới thứ nhất đã làm cho nước Nga hết sức căng thẳng về chính trị và nặng nề về kinh tế. Cách mạng Tháng Mười năm 1917 nổ ra và giành thắng lợi, nước Nga Xôviết phải giải quyết hai nhiệm vụ hết sức to lớn đó là: giành chính quyền; chấm dứt chiến tranh với Đức.Tác phẩm được viết vào đầu năm 1918, sau Cách mạng Tháng Mười Nga khoảng nửa năm. Và thực tế đến đầu 1918, Chính quyền Xôviết mới được thiết lập trên toàn nước Nga. Để có hòa bình phục vụ việc khôi phục và phát triển đất nước trong điều kiện nước Nga bị cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất tàn phá nặng nề. Ngày 331918, Nga buộc phải ký Hiệp ước BrétLitốpxcơ đình chiến với Đức. Theo như lời của Lênin, đây là một hiệp ước “vô cùng đau khổ” và “vô cùng nặng nề”, là một bước lùi tạm thời, một thử thách rất lớn, nhượng bộ bọn tư bản. Nhưng đây cũng là một việc làm táo bạo và quyết đoán, thể hiện rõ chiến lược, sách lược và tầm nhìn sáng suốt của một lãnh tụ thiên tài, bản lĩnh của lãnh tụ cộng sản. Có thể hiểu được rằng, đây là biểu hiện của lý trí thắng tình cảm, của chân lý thắng phiêu lưu mạo hiểm.Sau khi ký hiệp ước với nước Đức, nước Nga có một nền hòa bình, nhưng nền hòa bình đó lại rất mong manh. Vì sau khi đã ký hòa ước, các nước đế quốc âm mưu thành lập một liên minh để chống lại nước Nga, gồm 14 nước. Chúng sợ rằng, để cho nước Nga có hòa bình thì Nga sẽ đẩy mạnh phát triển kinh tế, xây dựng chủ nghĩa xã hội, và nước Nga sẽ trở thành một nước hùng cường, điều đó không có lợi cho các nước đế quốc chủ nghĩa. Do đó, bọn đế quốc tiến hành bao vây kinh tế, phong tỏa quân sự, đe dọa nền hòa bình của nước Nga.Trong bối cảnh đó, nước Nga gặp nhiều khó khăn và phức tạp cả về kinh tế lẫn chính trị: Nền sản xuất bị đình đốn, thấp kém và lạc hậu; cơ sở vật chất bị tàn phá kiệt quệ do chiến tranh; đời sống nhân dân vô cùng khó khăn, họ đã quá mệt mỏi, hoang mang và lo sợ vì chiến tranh Vì vậy, Lênin chủ trương cần tranh thủ thời gian có hòa bình để tập trung giải quyết những nhiệm vụ rất cụ thể, rất cấp bách, xây dựng đất nước, hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế, nâng cao năng suất lao động, củng cố và tăng cường khả năng quốc phòng, chuẩn bị lực lượng đề phòng khi có chiến tranh nổ ra, đảm bảo xã hội ổn định và phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội. Lênin nói: “Chúng ta phải dốc hết sức lực ra để lợi dụng thời gian tạm ngừng chiến mà thời cơ đã đưa lại cho chúng ta để hàn gắn vết thương cực kỳ trầm trọng do chiến tranh gây ra cho toàn thể xã hội nước Nga và để phát triển kinh tế nước nhà nếu không thì không thể nào nói đến tăng cường khả năng quốc phòng” Trong giai đoạn đó, nhiệm vụ đặt ra trước Đảng Cộng sản là phải làm cho mỗi người cán bộ đảng viên và toàn thể nhân dân nước Cộng hòa Xôviết trẻ tuổi thấy rõ được những đặc điểm, nhiệm vụ mới của thời kỳ cách mạng chuyển từ giai đoạn giành chính quyền sang nắm giữ chính quyền, từ nhiệm vụ lật đổ chế độ cũ sang nhiệm vụ xây dựng chế độ mới và quản lý đất nước. Chính ở thời điểm sau khi nắm được chính quyền, Lênin đã nhấn mạnh rằng, giành chính quyền đã khó nhưng giữ được chính quyền còn khó hơn nhiều. Toàn đảng và toàn dân phải hiểu thấu đáo những nhiệm vụ chủ yếu, trước mắt và những nhiệm vụ cơ bản lâu dài của cách mạng xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới. Đó là nhiệm vụ tổ chức xây dựng và quản lý đất nước theo một kiểu mới khác hẳn về chất và cao hơn hẳn kiểu tổ chức và quản lý tư bản chủ nghĩa, đó là Chính quyền Xôviết, một hình thức của chuyên chính vô sản. Thiết lập nền dân chủ vô sản, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Nga. Để thực hiện được những việc đó, yêu cầu phải soạn thảo cho được một bản kế hoạch cụ thể về những nhiệm vụ cơ bản trước mắt của chính quyền mới. Đảng Bôn sê vích Nga đã giao cho Lênin viết tác phẩm “Những nhiệm vụ trước mắt của Chính quyền Xô viết”. Để đi đến hoàn tất tác phẩm này, Lênin đã phải viết đi viết lại ba lần.Lần thứ nhất: “Bản sơ thảo những nhiệm vụ trước mắt của Chính quyền Xô viết”, dài 40 trang, (đọc vào 23 28 3 1918) ở Hội nghị Trung ương. ở Hội nghị này những người “phái tả” cũng đưa ra một bản cương lĩnh khác. Hai bản cương lĩnh này đối lập nhau. Cuối cùng Hội nghị không đi đến một sự thống nhất nào. Lần thứ hai: Lênin tiếp tục viết lại tác phẩm: “Những nhiệm vụ trước mắt của Chính quyền Xôviết” với nội dung ngắn gọn hơn, chặt chẽ hơn và cụ thể hơn. Đến tháng 4 năm 1918 Hội nghị nhất trí lấy tác phẩm này làm Cương lĩnh của Đảng.Sau đó, Trung ương giao cho Lênin viết lại, tóm tắt tác phẩm này dưới dạng đề cương, thành sáu luận đề để phổ biến cho quần chúng hiểu về đường lối của Đảng.Trong tác phẩm của mình, Lênin đã phân tích tỉ mỉ những vấn đề quan trọng nhất của thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản chuyển lên chủ nghĩa xã hội, những cơ sở lý luận của đường lối chung, chính sách kinh tế của Nhà nước Xôviết một hình thức của chuyên chính vô sản, ý nghĩa và nội dung đặc biệt của nhiệm vụ tổ chức và quản lý của chính quyền mới, chính quyền công nông đầu tiên trên thế giới. Và việc tiếp tục cuộc đấu tranh vô cùng phức tạp, nhưng cũng rất quyết liệt, nhằm tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa tư bản và giành thắng lợi hoàn toàn của chủ nghĩa xã hội. II. Tư tưởng chủ đạo của tác phẩm :“Những nhiệm vụ trước mắt của Chính quyền Xôviết” là tác phẩm quan trọng nêu lên Đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Bônsêvích trong điều kịên lịch sử rất cụ thể. Đường lối đó thể hiện những quan điểm rõ ràng, nhất quán của Đảng Cộng sản Nga (b) trong việc giải quyết những nhiệm vụ trước mắt, mà cả hướng tới những nhiệm vụ lâu dài về tổ chức quản lý đất nước, xây dựng và phát triển kinh tế xã hội chủ nghĩa.Sau tác phẩm Những nhiệm vụ trước mắt của Chính quyền Xôviết từ 1818 1923, Lênin viết một loạt tác phẩm khác như: “Tổ chức thi đua như thế nào?”; “Sơ thảo kế hoạch công tác khoa học kỹ thuật”; “Bệnh ấu trĩ tả khuynh và tính tiểu tư sản”; “Sáng kiến vĩ đại”; “Bàn về thuế lương thực”; “Bàn về chế độ hợp tác”; “Thà ít mà tốt”... tiếp tục bổ sung và phát triển những quan điểm tư tưởng, chủ trương và đường lối đã nêu lên trong tác phẩm đó và hợp thành một kế hoạch hoàn chỉnh, có hệ thống nhằm xây dựng xã hội mới, xã hội chủ nghĩa; 5 tác phẩm cuối, Bàn về thuế lương thực; Bàn về chế độ hợp tác; Về cuộc cách mạng của chúng ta; Chúng ta phải cải tổ Bộ Dân ủy thanh tra công nông như thế nào? Thà ít mà tốt được coi là “Di chúc Chính trị của Lênin”.III. Nội dung chính của tác phẩmTrong chuyên đề này, chủ yếu phân tích khía cạnh chính trị của tác phẩm, cụ thể là phân tích kế hoạch tổ chức và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Nga được thể hịên qua những nhiệm vụ cụ thể, nhiệm vụ trước mắt của Chính quyền Xôviết (Cương lĩnh của đảng (b) Nga).1. Về đảng chính trịTrước hết, Lênin đã phân tích rõ sự khác nhau căn bản về tính chất của hai cuộc cách mạng, cách mạng tư sản và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Yêu cầu các nhà lãnh đạo chính trị nhân dân, nghĩa là các đảng viên Đảng Cộng sản (b) Nga và cả những đại biểu giác ngộ của quần chúng lao động phải hiểu thấu triệt sự khác nhau căn bản ấy, để tuyên truyền vận động quần chúng lao động tích cực tham gia xây dựng chính quyền Xôviết. Thực chất và ưu thế lớn của Chính quyền Xôviết, một hình thức của chuyên chính vô sản, sự khác nhau về nguyên tắc và ưu thế của nền dân chủ vô sản so với nền dân chủ tư sản. Theo Lênin, sự khác nhau đó là ở chỗ chuyển trọng tâm vấn đề dân chủ từ chỗ thừa nhận về mặt hình thức những quyền tự do (như dưới chế độ đại nghị tư sản) đến chỗ bảo đảm thực tế (chứ không phải trên giấy tờ) cho những người lao động người đã lật đổ bọn bóc lột được hưởng quyền tự do thực sự. Những nguyên tắc cơ bản của nền dân chủ xôviết được thể hiện về mặt pháp lý trong Hiến pháp Xôviết đầu tiên. Lênin chỉ ra rằng, “Trong các cuộc cách mạng tư sản, nhiệm vụ chủ yếu của quần chúng lao động là làm một việc tiêu cực hoặc có tính chất phá hoại: xóa bỏ chế độ phong kiến, chế độ quân chủ, những quan hệ thời trung cổ. Còn công tác tích cực, hay sáng tạo, tức là công tác tổ chức một xã hội mới thì lại do thiểu số hữu sản, tức thiểu số tư sản trong nhân dân hoàn thành...Trái lại, nhiệm vụ chủ yếu mà giai cấp vô sản và nông dân nghèo do giai cấp vô sản lãnh đạo, phải hoàn thành trong bất cứ cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa nào, do đó phải hoàn thành trong cả cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đã bắt đầu ở Nga ngày 25 tháng Mười 1917, nhiệm vụ chủ yếu đó là một công tác tích cực hay là sáng tạo nhằm thiết lập một mạng lưới các quan hệ tổ chức mới... Một cuộc cách mạng như thế chỉ có thể hoàn thành thắng lợi, nếu đa số nhân dân mà trước hết là những người lao động chủ động tiến hành một hoạt động sáng tạo có ý nghĩa lịch sử. Chỉ khi nào giai cấp vô sản và những người nông dân nghèo tỏ rõ có tinh thần tự giác, trình độ tư tưởng, tinh thần hy sinh và tinh thần bền bỉ thì khi đó thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa mới được đảm bảo” .Nhiệm vụ của đảng viên và toàn Đảng trong lúc này là:Thứ nhất : thuyết phục đa số nhân dân thấy được sự đúng đắn của cương lĩnh và sách lược của mình.Nhiệm vụ đó đã được hoàn thành một cách căn bản trong thực tế. Đương nhiên, nhiệm vụ thuyết phục quần chúng nhân dân bao giờ cũng cần thiết và được đặt lên trong số những nhiệm vụ quan trọng, bởi quần chúng nhân dân là những người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ ấy, là lực lượng to lớn để hoàn thành vẻ vang sự nghiệp cách mạng và chủ nghĩa xã hội. Thứ hai : giành lấy chính quyền, đập tan sự phản kháng và diệt tận gốc giai cấp bóc lột. Nhiệm vụ này là một quá trình thường xuyên, liên tục, không thể lơ là và không thể coi thường. Bởi chưa thể hoàn thành xong xuôi, chừng nào mà bọn quân chủ và dân chủ lập hiến, bọn phụ họa, bọn mensêvích, bọn xã hội chủ nghĩa cách mạng cánh hữu, bọn phản kháng, bóc lột và kẻ cướp... chưa bị đập tan, chưa bị diệt tận gốc, và mọi cơ sở vật chất chưa chuyển hoàn toàn vào tay giai cấp vô sản, thì nhiệm vụ đó vẫn phải tiếp tục, không một phút nào được phép lãng quên. Như vậy, đây là một giai đoạn mới của cuộc đấu tranh giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, giai đoạn tạo ra những điều kiện để tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa tư bản, khiến cho nó không thể phục hồi hoặc tái sinh. Giai đoạn đấu tranh này, về hình thức có vẻ hòa bình, nhưng có nội dung vô cùng khó khăn và phức tạp. Theo cách nói của Lênin, đây là giai đoạn chuyển chiến thuật: từ cách đánh khinh kỵ binh chuyển sang lối đánh bằng trọng pháo, để giành thắng lợi hoàn toàn. Bởi vì giai đoạn này có nhiều hạn chế do đang nội chiến. Thứ ba : nhiệm vụ tổ chức, xây dựng và quản lý đất nước theo chủ nghĩa xã hội. Đó là nhiệm vụ trước mắt, và cũng nói lên đặc điểm của tình hình hiện nay. Nhưng dẫu sao nhiệm vụ tổ chức, xây dựng và quản lý đất nước cũng đã trở thành nhiệm vụ chủ yếu trung tâm và quan trọng bậc nhất. Bây giờ, việc quản lý đất nước như thế nào? Đây là đặc điểm của bước chuyển nhiệm vụ vô cùng khó khăn, phức tạp, Lênin nói: “Đặc điểm của tình thế hiện thời, tất cả sự khó khăn là ở chỗ phải hiểu rõ đặc điểm của bước chuyển từ nhiệm vụ chủ yếu là thuyết phục nhân dân và dùng vũ lực quân sự sang nhiệm vụ chủ yếu là quản lý” . Bởi trong lịch sử thế giới, đây là lần đầu tiên một chính quyền công nông bắt tay vào việc quản lý đất nước, muốn hoàn thành được nhiệm vụ, muốn quản lý tốt, cần phải biết tổ chức trong lĩnh vực thực tiễn và phải tổ chức theo phương thức mới, xây dựng, quản lý kinh tế, nghĩa là sản xuất và phân phối một cách kế hoạch các sản phẩm cần thiết cho đời sống của hàng chục triệu con người, đảm bảo nâng cao năng suất lao động trong phạm vi toàn quốc. Lênin kết luận, chính trị chủ yếu của chúng ta là xây dựng nhà nước về mặt kinh tế. Và ngày nay nhiệm vụ quản lý đã trở thành nhiệm vụ chủ yếu và trung tâm.Vì sao đó là nhiệm vụ trung tâm, chủ yếu. Bởi đó là những nhiệm vụ mà thực tiễn đang đòi hỏi từng ngày, từng giờ và yêu cầu cần phải được giải quyết kịp thời, cụ thể như: + Việc hàn gắn vết thương chiến tranh;+ Việc giữ gìn trật tự tối thiểu trong cả nước;+ Việc khôi phục lực lượng sản xuất bị chiến tranh tàn phá;+ Việc đẩy mạnh phát triển kinh tế trong nước...Tất cả những công việc đó đang đặt ra trước mắt đối với Chính quyền Xôviết, theo Lênin đó là những công việc, những nhiệm vụ hết sức sơ thiểu và sơ thiểu nhất, nhằm bảo toàn cơ sở xã hội, khắc phục những khó khăn trong những bước đầu tiến lên chủ nghĩa xã hội. Khẩu hiệu lúc đó là: “Hãy tính toán tiền nong cho cẩn thận và thành thực. Hãy chi tiêu tiết kiệm, đừng lười biếng, đừng tham ô. Hãy triệt để tuân thủ kỷ luật lao động... đó là những khẩu hiệu chủ yếu trước mắt” .Muốn tổ chức, xây dựng cả một hệ thống quan hệ kinh tế xã hội chủ nghĩa, thực hiện xã hội hóa nền sản xuất và nâng cao năng suất lao động, thì phải tiến hành cải tạo toàn bộ nền kinh tế quốc dân, xóa bỏ quyền sở hữu của bọn bóc lột, thực hiện chuyển từ nền kinh tế hàng hóa nhỏ, cá thể sang nền kinh tế tập thể, sản xuất hiện đại; phải xóa bỏ các tổ chức kinh tế cũ của bọn tư sản bóc lột, xây dựng hệ thống tổ chức kinh tế mới, tổ chức lại lao động xã hội theo một trình độ cao, thực hiện sản xuất phân phối một cách có kế hoạch trên cơ sở sản xuất ngày càng hiện đại hóa vì lợi ích trước mắt và lâu dài của người lao động. Phải tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa, bằng cách tiến hành cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, xây dựng và phát triển cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội, tiến hành cách mạng tư tưởng văn hóa để không ngừng nâng cao trình độ, tăng năng suất lao động... Đó là những nhiệm vụ tổ chức và quản lý cơ bản được đặt ra khi giai cấp vô sản đã giành được chính quyền thiết lập chế độ xã hội mới.2 Tổ chức quản lý đất nước trở thành nhiệm vụ chủ yếu, lâu dài của thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong điều kiện vô cùng khó khăn, phức tạp của đất nước, Lênin xác định, đặt vấn đề kinh tế lên hàng đầu. Và để xây dựng kinh tế của chủ nghĩa xã hội, điều quyết định là phải tổ chức cho toàn dân kiểm kê và kiểm soát một cách toàn diện, hết sức chặt chẽ sự sản xuất và phân phối sản phẩm.2.1. Kiểm kê, kiểm soát và phát triển kinh tếXuất phát từ thực tế của đất nước và những yêu cầu của nhiệm vụ chính trị quan trọng đối với Chính quyền Xôviết trong việc tổ chức và quản lý đất nước, Lênin cho rằng, phải tiến hành kiểm kê kiểm soát.Vì sao phải kiểm kê và kiểm soát? Qua phân tích, đánh giá về đặc điểm, tính chất và tình hình của đất nước, Lênin cho rằng: Kiểm kê và kiểm soát là tránh được nạn đói, cải thiện được đời sống cho người dân lao động; quét sạch bọn phản động, sâu mọt đục khoét nhân dân, đánh gục bọn phá hoại ngầm của giai cấp tư sản, là đấu tranh cô lập và “tước đoạt kẻ đi tước đoạt”, tạo ra những điều kiện khiến cho giai cấp tư sản không thể tồn tại được, mà cũng không thể tái sinh được. Giành lại từ giai cấp tư sản các tổ chức kinh tế và tư liệu sản xuất, lúc đó mới gọi là chiến thắng giai cấp tư sản hoàn toàn (diệt tận gốc bọn tư bản). Lênin khẳng định sự cần thiết của kiểm kê và kiểm soát: “Tổ chức cho toàn dân kiểm kê và kiểm soát một cách hết sức chặt chẽ sự sản xuất và phân phối sản phẩm. Thế nhưng chúng ta vẫn chưa tổ chức được việc kiểm kê và kiểm soát trong các xí nghiệp, trong các ngành kinh tế, các lĩnh vực kinh tế mà chúng ta đã giành lại từ tay giai cấp tư sản; mà không làm được việc đó thì không thể nào nói đến điều kiện vật chất thứ hai cũng không kém phần quan trọng để đảm bảo việc thiết lập chủ nghĩa xã hội, tức là: Nâng cao năng suất lao động trong phạm vi cả nước” . Nếu không có kiểm kê, kiểm soát thì giai cấp công nhân không thể tiến hành làm chủ trong sản xuất, không tạo được tiền đề vật chất cho chủ nghĩa xã hội, và mầm mống của chủ nghĩa xã hội cũng bị tiêu diệt. Thực hiện tốt việc kiểm kê, kiểm soát còn tạo ra được sức mạnh kỷ luật to lớn, tính nghiêm minh, tự giác trong sản xuất và phân phối sản phẩm. Nếu “Không có chế độ kế toán và kiểm soát trong sự sản xuất và phân phối sản phẩm, thì những mầm mống của chủ nghĩa xã hội sẽ bị tiêu diệt” .Ai thực hiện việc kiểm kê và kiểm soát? Nắm rõ điều kiện và hoàn cảnh của đất nước lúc đó, Lênin xác định, đây là nhiệm vụ kinh tế hàng đầu, là điều kiện để tiến hành xây dựng kinh tế xã hội chủ nghĩa. Dưới chính quyền Xôviết, việc kiểm kê, kiểm soát được tiến hành bằng hai lực lượng cơ bản: Thứ nhất, tiến hành kiểm kê, kiểm soát toàn dân, toàn diện trong việc sản xuất và phân phối sản phẩm. Hình thức này phải thực sự dân chủ cách mạng của giai cấp vô sản, nghĩa là sự kiểm soát phải được thực hiện “từ dưới lên”, sự kiểm soát của công nhân và nông dân nghèo đối với bọn tư bản, và được thiết lập ở mọi lúc mọi nơi. Lênin chỉ ra rằng: “nếu sau khi nắm được chính quyền, giai cấp vô sản ở nước ta giải quyết được nhanh chóng nhiệm vụ kiểm kê, kiểm soát và tổ chức trong phạm vi toàn dân... thì sau khi đập tan sự phá hoại ngầm, chúng ta sẽ có thể nhờ tiến hành rộng khắp việc kiểm kê, kiểm soát mà hoàn toàn thu phục được các chuyên gia tư sản” . Thứ hai, thực hiện kiểm kê, kiểm soát “từ trên xuống”, bằng nhà nước vô sản, nhà nước vừa là người kiểm soát, vừa là đối tượng chịu sự kiểm soát của các tổ chức xã hội và đội ngũ tiền phong của giai cấp công nhân. Đó là thực hành việc nhà nước kiểm tra, giám sát, điều tiết, phân phối một cách hợp lý trong sản xuất và phân phối sản phẩm, đồng thời bảo vệ sức người sức của cho nhân dân, thực hành tiết kiệm. Thực sự là biện pháp số một để chống đói nghèo và lạc hậu, nâng cao đời sống của toàn dân. Như, việc tổ chức kiểm kê và kiểm soát trong các cơ sở kinh doanh đã tước đoạt được của bọn tư bản, cũng như trong mọi cơ sở kinh doanh khác. Lênin cũng lưu ý rằng: Cẩu thả đối với việc kiểm kê và kiểm soát là trực tiếp giúp sức cho bọn Coóc ni lốp Đức và Nga, là những kẻ chỉ có thể lật đổ chính quyền của những người lao động... những kẻ thù của chúng ta đang rình rập chúng ta, đang chờ thời cơ thuận lợi để lật đổ chính quyền cách mạng. Không có kiểm kê, kiểm soát thì giai cấp công nhân không thể tiến lên làm chủ trong sản xuất và phân phối sản phẩm. “Chừng nào sự kiểm soát của công nhân chưa trở thành sự thật hẳn hoi, chừng nào những công nhân tiên tiến chưa tổ chức và chưa tiến hành một cuộc tấn công thắng lợi không khoan nhượng chống tất cả những kẻ vi phạm sự kiểm soát ấy... thì chừng đó sẽ không thể nào tiến từ bước thứ nhất (thực hiện việc kiểm soát công nhân) lên bước thứ hai trên con đường đi tới chủ nghĩa xã hội, tức là chuyển sang việc công nhân điều tiết sản xuất” . Phải thực hiện việc kiểm kê, kiểm soát chuyển sang việc quản lý và điều tiết sản xuất của giai cấp công nhân, đó mới là thực chất của công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa.Kiểm kê và kiểm soát như thế nào? Lênin khẳng định rằng, bất kỳ nhà nước nào đang vận động lên chủ nghĩa xã hội đều cần phải thực hiện việc kiểm kê, kiểm soát sản xuất, phân phối sản phẩm và nâng cao năng suất lao động. Bởi thực hiện tốt hai nhiệm vụ ấy là tạo ra những điều kiện, những tiền đề cơ bản để phát triển kinh tếxã hội, chỉ có tổ chức một cách chu đáo việc kiểm kê, kiểm soát và tổ chức nghiêm ngặt, chặt chẽ kỷ luật lao động mới tiến lên chủ nghĩa xã hội một cách chắc chắn nhất. Lênin cho rằng, việc kiểm kê, kiểm soát phải được tiến hành trên các lĩnh vực, trong các ngành, nơi các cơ sở sản xuất kinh doanh như: (nhà máy, xí nghiệp, hầm mỏ...); “Bây giờ cái được đề lên hàng đầu, lại là tổ chức việc kiểm kê và kiểm soát trong các cơ sở kinh doanh đã tước đoạt của bọn tư bản, cũng như trong mọi cơ sở kinh doanh khác” . Và phải được tiến hành trong tất cả các địa phương trên cả nước một cách đồng bộ, thống nhất. Thực hiện bằng các công cụ quản lý của nhà nước để thực hiện kiểm kê và kiểm soát: Quốc hữu hóa ngân hàng, và không ngừng cải biến ngân hàng thành những đầu mối kế toán công cộng dưới chế độ xã hội chủ nghĩa. Muốn vậy, phải tăng chi nhánh và chi điếm của ngân hàng nhân dân; củng cố và chỉnh đốn những tổ chức độc quyền của nhà nước đã được thiết lập; nhà nước phải nắm lấy độc quyền ngoại thương; công tác thu thuế; áp dụng chế độ nghĩa vụ lao động... “Chúng ta phải áp dụng ngay lập tức chế độ nghĩa vụ lao động ấy, nhưng phải áp dụng một cách hết sức thận trọng và từng bước một, bằng cách dùng kinh nghiệm thực tiễn để kiểm nghiệm mỗi bước đi, và cố nhiên, là bắt đầu áp dụng chế độ đó trước tiên đối với những kẻ giàu có” . Cấp sổ lao động; cấp sổ thu chi cho từng tên tư sản kể cả tư sản nông thôn. Nếu không thực hiện kiểm kê và kiểm soát thì nhà nước sẽ không biết được hàng triệu và hàng tỷ bạc từ đâu ra, chuyển đến đâu và đi lúc nào? Những nguồn thu nhập và tài sản của người dân cũng bị giấu giếm mà nhà nước chẳng thu được thuế. Thành lập các Uỷ ban kiểm tra nhà nước, Hội đồng kinh tế quốc dân tối cao, các nhóm lưu động để kiểm tra, theo dõi việc thi hành các sắc lệnh, kiểm tra, giám sát khối lượng, chất lượng công việc, có biện pháp xử lý kịp thời, kiên quyết và thật nghiêm minh các đơn vị, tổ chức, cá nhân vi phạm. Nhưng đồng thời cũng phải có cách giải quyết thật linh hoạt, hiệu quả, tránh dập khuôn, máy móc, thực hiện đúng với chế độ tập trung dân chủ xã hội chủ nghĩa. Theo Lênin, chế độ kiểm kê, kiểm soát phải được triển khai trong thực tế, chứ không phải trên giấy tờ, trên lý thuyết; đảm bảo đúng nguyên tắc, công khai, minh bạch, thực hiện thường xuyên chế độ báo cáo; tích cực học hỏi những sáng kiến hay, những kinh nghiệm phong phú trong nhân dân. Có như vậy, thì thắng lợi của chủ nghĩa xã hội mới càng mau chóng và chắc chắn.Về ý nghĩa của kiểm kê và kiểm soát, Lênin cho rằng, đây là hình thức đấu tranh cao của giai đoạn mới để giành toàn bộ thắng lợi trong chiến dịch chống tư bản, để giành quyền sở hữu trong các cơ sở sản xuất, kinh doanh. Đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực, tiêu diệt những tàn dư của chế độ cũ như tham nhũng hối lộ, ăn cắp của công, tệ lãng phí, bệnh quan liêu, nạn đầu cơ trục lợi bất chính, buôn gian bán lận, vi phạm pháp luật v.v..Thực hiện kiểm kê, kiểm soát trong quản lý sản xuất, phân phối sản phẩm là nhằm nâng cao năng suất lao động cao hơn, tạo ra của cải vật chất nhiều hơn, là điều kiện đặc biệt quan trọng để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Việc nhà nước tổ chức nền đại sản xuất công nghiệp là việc chuyển từ hình thức “công nhân kiểm soát” sang “công nhân quản lý” trong các cơ sở sản xuất, công xưởng, nhà máy, xí nghiệp, đường sắt, hầm mỏ... Trên những nét cơ bản và chủ yếu nhất.Chủ nghĩa xã hội muốn giành thắng lợi hoàn toàn, Chính quyền Xôviết muốn giữ vững và không ngừng được củng cố, và đem lại tự do thực sự cho nhân dân lao động, việc kiểm kê, kiểm soát phải được thực hiện tốt; không chỉ thế, việc kiểm kê, kiểm soát cũng là nhằm tạo tiền đề vật chất cho chủ nghĩa xã hội; tạo ra năng suất lao động cao hơn, của cải vật chất nhiều hơn, tốt hơn cho chủ nghĩa xã hội. 2.2. Tăng cường kỷ luật, nâng cao năng suất lao độngChủ nghĩa xã hội thắng chủ nghĩa tư bản ở chỗ là tổ chức lao động theo một trình độ cao hơn (trên tinh thần tự nguyện, tự giác), nâng cao năng suất, chất lượng lao động (trên phạm vi cả nước) và tạo ra hiệu quả trong công việc tốt hơn nhiều (so với chủ nghĩa tư bản).Trong bất cứ cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa nào, khi giai cấp vô sản đã làm xong nhiệm vụ giành được chính quyền rồi, và trong chừng mực mà nhiệm vụ tước đoạt và nhiệm vụ đập tan sự phản kháng của chúng đã được hoàn thành trên những nét chủ yếu và cơ bản thì tất nhiên có một nhiệm vụ khác được đề lên hàng đầu, đó là, thiết lập một chế độ xã hội cao hơn chủ nghĩa tư bản, nghĩa là nâng cao năng suất lao động và do đó (với mục đích đó) phải tổ chức lao động thành một trình độ cao hơn chủ nghĩa tư bản.Đây là một việc làm lâu dài, phải mất nhiều thời gian, công sức mới giải quyết được. Lênin cũng chỉ rõ tính chất và sự cần thiết của việc nâng cao năng suất lao động. Nếu như giành chính quyền chỉ mất vài ba ngày, hoặc vài tuần cũng có thể dẹp tan được sự phản kháng quân sự của bọn bóc lột, thì nhiệm vụ nâng cao năng suất lao động phải mất nhiều năm mới giải quyết được một cách vững chắc. Điều này thể hiện rõ tính chất lâu dài và hoàn cảnh khách quan của công tác này đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều kiện để nâng cao năng suất lao động. Trước hết phải có cơ sở vật chất của nền đại công nghiệp phát triển. Bởi, chủ nghĩa xã hội là Chính quyền Xôviết cộng với điện khí hóa toàn quốc. (Sau này, trải qua thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội, Lênin phát triển luận điểm này lên thêm một bước đầy đủ hơn và hoàn chỉnh hơn: Chủ nghĩa xã hội là Chính quyền Xôviết + điện khí hóa toàn quốc + kỷ luật đường sắt Phổ + kinh nghiệm quản lý của các Trớt Mỹ + nền giáo dục quốc dân Hoa Kỳ). Có thể nói, việc nâng cao năng suất lao động trước hết đòi hỏi phải có cơ sở vật chất của nền đại công nghiệp, phải phát triển ngành sản xuất nhiên liệu, máy móc, công nghiệp hóa chất, phải có những điều kiện cần và đủ, chủ nghĩa xã hội mới chiến thắng chủ nghĩa tư bản và giành thắng lợi hoàn toàn.Lênin nói: Nước Nga có những điều kiện thuận lợi để phát triển công nghiệp, có tiềm năng lớn về quặng ở U ran, nhiên liệu ở miền Tây Xibiri (than đá) dầu lửa ở vùng Cáp ca dơ, ở miền trung tâm (than bùn), bao nhiêu của cải to lớn về rừng, về sức nước, về nguyên liệu, về hóa chất... Việc khai thác của cải tự nhiên ấy bằng các phương pháp kỹ thuật hiện đại sẽ tạo cơ sở cho lực lượng sản xuất phát triển không ngừng.Điều kiện thứ hai là nâng cao trình độ học vấn và văn hóa cho quần chúng nhân dân. “Một điều kiện để nâng cao năng suất lao động, trước hết là nâng cao trình độ học vấn và văn hóa của quần chúng nhân dân” .Phải nâng cao tinh thần kỷ luật của người lao động. Để đẩy mạnh phát triển kinh tế, cần phải nâng cao tinh thần kỷ luật lao động, kỹ năng, thao tác lao động của họ, tính khéo léo của họ, phải tăng thêm cường độ lao động và tổ chức lao động cho tốt hơn. Lênin cho rằng, muốn nâng cao được tinh thần và kỷ luật lao động, cần phải có những biện pháp cụ thể, thích hợp. Như biện pháp giáo dục chính trị tư tưởng phải được đặt lên hàng đầu, phải có kế hoạch và được thực hiện thường xuyên. Ngoài ra theo Lênin, phải rất coi trọng biện pháp khuyến khích bằng lợi ích vật chất bằng trả lương theo sản phẩm. Đây là những cách làm mới theo phương pháp Cộng hòa Xôviết, trên tinh thần tiên phong của giai cấp vô sản.Khuyến khích lợi ích vật chất, Lênin chủ trương phải thực hiện gấp rút và áp dụng cho được trên thực tế thí nghiệm trả lương theo sản phẩm nhằm thu hút đội ngũ chuyên gia, lao động giỏi vào làm việc trong tổ chức nhà nước Xôviết.Phải áp dụng rất nhiều yếu tố khoa học và tiến bộ trong phương pháp Taylo, Lênin nhấn mạnh rằng: Học cách làm việc, đó là nhiệm vụ mà chính quyền xôviết phải đặt ra trước nhân dân với tất cả tầm vóc của nó.Lênin viết : “Nước cộng hòa xôviết phải tiếp thu cho bằng được tất cả những gì quý giá nhất trong những thành quả của khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực đó. Chúng ta chỉ có thể thực hiện được chủ nghĩa xã hội hay không, điều đó chính là tùy ở những kết quả của chúng ta trong việc kết hợp chính quyền xôviết và chế độ quản lý xôviết với những tiến bộ mới nhất của chủ nghĩa tư bản” .Lênin cho rằng: Phải tổ chức ở Nga việc nghiên cứu và giảng dạy phương pháp Taylo. Phải thí nghiệm và ứng dụng phương pháp đó một cách có hệ thống, nhằm đem lại hiệu quả cao trong quản lý và sản xuất. Cần phát động một phong trào thi đua xã hội chủ nghĩa một cách rộng khắp, trên mọi lĩnh vực của đời sống.Phải dùng biện pháp cưỡng bức lao động với những đối tượng cố tình chống đối, chây lười, trốn tránh và tính tiểu tư sản. Thưc hiện chế độ nghĩa vụ lao động để bao vây tư bản, bắt tư bản phải đầu hàng bằng kinh nghiệm thực tiễn của chúng ta, và sử dụng biện pháp cấp sổ lao động và sổ tiêu dùng để tiện việc theo dõi và quản lý. Trong điều kiện nhà nước Xôviết mới giành được chính quyền, lực lượng lao động đông đảo trình độ tay nghề còn thấp, chưa am hiểu nhiều về kiến thức khoa học kỹ thuật, trình độ chuyên môn, đội ngũ trí thức xuất thân từ công nông còn hạn hẹp, chưa có nhiều khả năng để nâng cao năng suất lao động. Thấy được vai trò to lớn của đội ngũ các chuyên gia tư sản trong khả năng tổ chức, quản lý, sản xuất nâng cao năng suất lao động (họ là những trí thức do nhân loại tao ra). Lênin cho rằng, nếu “Không có sự chỉ đạo của các chuyên gia am hiểu các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và có kinh nghiệm thì không thể nào chuyển lên chủ nghĩa xã hội được, vì chủ nghĩa xã hội đòi hỏi một bước tiến có ý thức và có tính chất quần chúng để đi tới năng suất lao động cao hơn năng suất của chủ nghĩa tư bản dựa trên cơ sở những kết quả mà chủ nghĩa tư bản đã đạt được” . Phương pháp sử dụng chuyên gia tư sản theo Lênin, “Nhà nước có thể sử dụng những người có tài tổ chức nhất và những chuyên gia giỏi bằng cách: hoặc là theo phương pháp cũ, phương thức tư sản (nghĩa là trả lương cao) hoặc theo phương thức mới, phương thức vô sản (nghĩa là thành lập những điều kịên kiểm kê, kiểm soát do toàn dân thực hiện từ dưới lên, những điều kiện này tự nó nhất định sẽ giúp chúng ta thu phục được các chuyên gia, lôi kéo về với chúng ta” .Trong điều kịên nước Nga lúc bấy giờ, Lênin cho rằng, buộc chúng ta phải dùng đến phương pháp cũ phương pháp tư sản để tận dụng nhanh nhất đội ngũ chuyên gia tư sản phục vụ cho Chính quyền Xôviết. “Giờ đây chúng ta buộc phải dùng phương pháp cũ, phương pháp tư sản và bằng lòng trả một giá rất cao về “công phục vụ” của những chuyên gia tư sản nhiều kinh nghiệm nhất” .Lênin cho rằng: Dùng biện pháp đó là một sự thỏa hiệp, một sự xa rời những nguyên tắc của Công xã Pari, của mọi chính quyền vô sản, tức là những nguyên tắc đòi hỏi phải rút tiền lương xuống ngang mức tiền lương của công nhân đòi hỏi phải phá bằng hành động tư tưởng thăng quan phát tài chứ không phải bằng lời nói.Lênin cũng khẳng định rằng, dùng biện pháp đó không phải chỉ là một sự tạm ngừng trong lĩnh vực nào đó, cuộc tấn công vào giai cấp tư sản... Mà còn là một bước lùi của chính quyền xã hội chủ nghĩa Xô viết của chúng ta nữa: Đây là sự thỏa hiệp, một bước lùi tạm thời để giành chiến thắng, là một bước đi mềm dẻo mà linh hoạt, nhưng đem lại hiệu quả trong nghệ thuật dùng người của Lênin; biết hy sinh cái cục bộ để chiến thắng trong toàn cục; bỏ cái lợi nhỏ để giành cái lợi lớn. Nó thể hiện tầm nhìn xa trông rộng của Lênin, vì mục tiêu chung chiến thắng tư bản, nâng cao năng suất lao động, nhằm xây dựng chủ nghĩa xã hội.Lênin cũng nhận thấy rằng, “Dĩ nhiên thừa nhận đã lùi một bước như vậy đã làm cho bọn đầy tớ của giai cấp tư sản, nhất là bọn tiểu nhân: Bọn Mensêvích, phái “Đời sống mới, bọn xã hội chủ nghĩa cách mạng cánh hữu cười nhạo chúng ta” . Và Lênin khẳng định: Chúng ta cần nghiên cứu những đặc điểm của đoạn đường mới vô cùng gay go đang dẫn tới chủ nghĩa xã hội, không nên giấu giếm những sai lầm, những nhược điểm của chúng ta. mà phải cố gắng kịp thời làm nốt những cái chúng ta chưa làm xong .Trong khi sử dụng chuyên gia tư sản, Lênin cũng đã giải thích cho quần chúng hiểu thấu đáo về sự cần thiết, ý nghĩa của việc làm đó, không che giấu trước quần chúng rằng tại sao chúng ta phải sử dụng chuyên gia tư sản. Làm như thế là để giáo dục quần chúng và cùng với quần chúng học tập kinh nghiệm để cùng nhau xây dựng chủ nghĩa xã hội.Lênin nói: “Giả sử nước Cộng hòa xô viết Nga cần 1000 nhà hóa học và chuyên gia hạng nhất trong các lĩnh vực khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm thực tiễn để chỉ đạo lao động của nhân dân nhằm đẩy mạnh hết sức nhanh nền kinh tế trong nước. Giả sử rằng phải trả cho mỗi “ngôi sao bậc nhất” ấy... một năm là 25.000 rúp. Giả sử như phải tăng số tiền đó (25 triệu rúp) lên gấp đôi...thậm chí gấp 4 lần. Thử hỏi một món tiền chi hàng năm là năm chục hoặc một trăm triệu rúp vào cải tổ lao động của nhân dân theo thành tựu mới nhất của khoa học kỹ thuật, như vậy liệu có thể coi là quá đáng hoặc quá sức đối với một nước Cộng hòa Xôviết không? Cố nhiên là không” . Và Lênin nói tiếp: “Nếu trong khoảng một năm, những người tiên tiến giác ngộ trong công nhân và nông dân nghèo, với sự giúp đỡ của cơ quan xôviết, mà thành công trong việc tổ chức nhau lại, tự đặt mình vào kỷ luật và nỗ lực tạo nên một kỷ luật lao động chặt chẽ, thì sau một năm, chúng ta sẽ trút bỏ được “cống vật” ấy, khoản tiền công mà chúng ta sẽ có thể giảm bớt được thậm chí sớm hơn nữa” .Trong điều kiện mới giành được chính quyền, trình độ lao động của người Nga còn thấp kém so với các nước tiên tiến, kỷ luật lao động chưa cao, còn tồn tại những tàn tích của chế độ nông nô, muốn giành được thắng lợi hoàn toàn trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhà nước Cộng hòa Xôviết phải học những cách làm đặc biệt đó, những phương pháp hợp lý nhất như kiểm kê, kiểm soát, tiếp thu những thành quả quý giá nhất trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật mà chủ nghĩa tư bản để lại (chứ không phải là tiếp thu mọi cái). Thực hiện triệt để về các nguyên tắc quản lý của Chính quyền Xôviết, chú ý đến đặc điểm của thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản đi lên chủ nghĩa xã hội. Tổ chức thi đua xã hội chủ nghĩa để nâng cao năng suất lao động, khi cần thiết phải dùng cả những biện pháp cưỡng bức đối với các phần tử tư sản, với mục đích đem lại hiệu quả cao nhất trong sản xuất, phân phối và trao đổi sản phẩm xã hội chủ nghĩa. 2.3. Tổ chức thi đuaViệc tổ chức thi đua chiếm một vị trí quan trọng trong xây dựng và phát triển của nhà nước chuyên chính vô sản. Thi đua là một công cụ, một biện pháp để tăng cường kỷ luật lao động, nâng cao năng suất lao động là một trong những đòn bẩy để phát triển kinh tế, xây dựng chủ nghĩa xã hội.Trong tác phẩm này, Lênin vạch rõ sự khác nhau căn bản về tính chất của hai phương pháp thi đua. Dưới chủ nghĩa xã hội thì thi đua là thực chất, công khai, là động lực để phát triển kinh tế xã hội; ngược lại, dưới chủ nghĩa tư bản thì thi đua là hình thức, giả tạo, giấu giếm, để che đậy những điều bí ẩn, triệt tiêu mất động lực của sự phát triển. Nhưng đây lại là điều mà giai cấp tư sản thích tung ra để vu khống, chế nhạo chủ nghĩa xã hội. Chúng cho rằng, chủ nghĩa xã hội phủ nhận thi đua. Nhưng thực ra chỉ có chủ nghĩa xã hội mới thực sự có thi đua, bởi thi đua có tính chất quần chúng thực sự và là động lực phát triển xã hội.Phê phán những người trong “phái tả” cho rằng: Trong chủ nghĩa xã hội không cần phải thi đua, vì đã có kỷ luật lao động rồi, Lênin cho rằng: Chỉ có trong chủ nghĩa xã hội lần đầu tiên mở đường (nhờ đã xóa bỏ được các giai cấp và do đó xóa bỏ được sự nô dịch quần chúng) cho một cuộc thi đua thực sự có tính chất quần chúng. Và chính tổ chức xôviết trong khi chuyển từ nền dân chủ hình thức của chính thể cộng hòa tư sản sang việc quần chúng lao động thực sự tham gia công tác quản lý. Lần đầu tiên đã tổ chức phong trào thi đua một cách rộng rãi.Để thực hiện công tác thi đua một cách thiết thực, hiệu quả, Lênin cho rằng cần phải có những nguyên tắc của thi đua, những phương pháp thi đua cụ thể, rõ ràng
Xem thêm

28 Đọc thêm

BÁO CÁO KIẾN TẬP QUẢN TRỊ NHÂN LỰC: THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC Ở TRONG PHÒNG LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI QUẬN TÂY HỒ

BÁO CÁO KIẾN TẬP QUẢN TRỊ NHÂN LỰC: THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC Ở TRONG PHÒNG LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI QUẬN TÂY HỒ

MỤC LỤC DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT LỜI NÓI ĐẦU 1 PHẦN MỞ ĐÂU 3 1. Lý do chọn đề tài 3 2. Lịch sử nghiên cứu 3 3. Mục đích nghiên cứu. 4 4. Phạm vi nghiên cứu 4 5. Vấn đề nghiên cứu. 4 6. Phương pháp nghiên cứu 5 7. Ý nghĩa của đề tài 5 8. Kết cấu báo cáo 6 PHẦN NỘI DUNG 7 CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ UBND QUẬN TÂY HỒ THÀNH PHỐ HÀ NỘI. 7 1. Khái quát về – UBND quận tây hồ. 7 1.2.1: Đặc điểm địa lý: 7 1.2.2: Điều kiện tự nhiên 8 2. Cơ cấu tổ chức của UBND quận tây hồ. 12 2.1. SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC. 13 2.1.1. Hệ thống tổ chức bộ máy phòng lao động thương binh và xã hội quận tây hồ. 13 3. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của UBND quận tây hồ. 16 3.1 Chức năng 16 3.2 Nhiện vụ, quyền hạn của UBND quận tây hồ 16 3.3. cơ sở vật chất , trang thiết bị phòng lao động xã hội cung cấp thực hiện công việc. 18 4. Phòng lao động thương binh và xã hội UBND quận tây hồ. 20 4.1 Vị trí, chức năng của phòng lao động thương binh và xã hội. 20 4.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của phòng lao động thương binh và xã hội quận tây hồChức năng, nhiệm vụ, quyền hạn 20 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC Ở TRONG PHÒNG LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI QUẬN TÂY HỒ. 24 1. Cơ sở lý luận của nguồn nhân lực 24 1.1 Có rất nhiều cách hiểu hay định nghĩa về quản trị nhân lực 24 1.2. Cơ sở lý luận của bộ môn quản trị nhân lực về nguồn nhân lực 25 1.2.1. Các khái niệm 25 1.2.2 Mục tiêu công tác đào tạo 26 1.2.3 Vai trò của công tác đào tạo và phát triển nguồn lực 26 1.2.4 Các phương pháp đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 27 1.3. Cơ sở lý luận của các bộ môn về nguồn nhân lực 30 1.3.1 Lý thuyết của chủ nghĩa Mác – Lênin 30 1.3.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác đào tạo cán bộ. 30 1.3.3 Những quan điểm của đảng ta về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức và công tác cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. 30 2. Thực trạng nguồn lực trong UBND quận tây hồhà nội. 31 2.1 Số lượng. 32 2.2 Chất lượng 33 2.3 Cơ cấu 34 3. Ưu điểm và nhược điểm của nguồn nhân lực trong UBND quận tây hồ. 34 3.1 Ưu điểm 34 4. Nguyên nhân của thực trạng nguồn nhân lực hiện nay 35 CHƯƠNG III : MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KHUYẾN NGHỊ ĐỂ KHẮC PHỤC THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG PHÒNG LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI QUẬN TÂY HỒ 36 1. Một số giải pháp 36 1.1. Giải pháp dành cho nhà quản lý (phòng lao động thương binh và xã hội) 36 1.2 Giải pháp dành cho người lao động 37 2. Một số khuyến nghị. 39 2.1 Khuyến nghị đối với phòng lao động thương binh xã hôi quận Tây Hồ. 39 2.2 Khuyến nghị đối với người lao động. 41 PHẦN KẾT LUẬN 42 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 43
Xem thêm

47 Đọc thêm

CÔNG TÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC TÀI LIỆU PHÔNG LƯU TRỮ BỘ NỘI VỤ

CÔNG TÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC TÀI LIỆU PHÔNG LƯU TRỮ BỘ NỘI VỤ

MỤC LỤC DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT PHẦN MỞ ĐẦU 1 1. Lí do chọn đề tài 1 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3 3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 4 4. Nhiệm vụ nghiên cứu 4 5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. 5 6. Phương pháp nghiên cứu của đề tài 5 7. Kết cấu của khóa luận 6 PHẦN NỘI DUNG 8 Chương 1.CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CÔNG TÁC TỔ CHỨC KHOA HỌCTÀI LIỆU PHÔNG LƯU TRỮ BỘ NỘI VỤ 8 1.1. Cơ sở lý luận của CTTCKHTL 8 1.1.1. Khái niệm TCKHTL 8 1.1.1.1. Khái niệm tổ chức 8 1.1.1.2. Khái niệm khoa học 8 1.1.1.3. Khái niệm tài liệu, TLLT 8 1.1.1.4. Khái niệm TCKHTL 8 1.1.2. Mục đích, ý nghĩa của công tác tổ chức khoa học tài liệu 9 1.1.3. Yêu cầu của CTTCKHTL 9 1.1.4. Nội dung CTTCKHTL 10 1.1.4.1. Thu thập tài liệu vào lưu trữ 10 1.1.4.2. PLTL 11 1.1.4.3. Xác định giá trị tài liệu 13 1.1.4.3. Chỉnh lý khoa học tài liệu 16 1.1.4.4. Xây dựng công cụ tra cứu TLLT 18 1.2. Cơ sở pháp lý của việc TCKHTL 19 1.2.1. Văn bản Luật 19 1.2.2. Văn bản dưới luật 20 1.3. Cơ sở thực tiễn của công tác TCKHTL PLTBNV 20 1.3.1. Lịch sử đơn vị hình thành PLTBNV 20 1.3.2.Lịch sử PLTBNV 25 1.3.2.1. Tên PLT 25 1.3.2.2. Giới hạn PLTBNV 25 1.3.2.3. Thành phần, khối lượng tài liệu PLTBNV 25 1.3.2.4. Nội dung và tình trạng tài liệu PLTBNV 25 1.3.2.5. Ý nghĩa của TL phông LT BNV 27 Chương 2.THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC TÀI LIỆUPHÔNG LƯU TRỮ BỘ NỘI VỤ 30 2.1. Tổ chức bộ phận thực hiện công tác lưu trữ tại BNV 30 2.2. Văn bản quy định về CTTCKHTL PLTBNV 32 2.3. Hoạt động nghiệp vụ 33 2.3.1. Thu thập tài liệu vào lưu trữ 33 2.3.2. Phân loại tài liệu 35 2.3.3. Xác định giá trị tài liệu 37 2.3.4. Chỉnh lý khoa học tài liệu 39 2.3.5. Xây dựng công cụ tra cứu TLLT 40 2.4. Nhận xét chung về CTTCKHTL PLTBNV 42 2.4.1. Ưu điểm 42 2.4.2. Hạn chế 44 2.4.3 Nguyên nhân 47 Chương 3.CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC TÀI LIỆU PHÔNG LƯU TRỮ BỘ NỘI VỤ 50 3.1. Nhóm giải pháp về tổ chức quản lý 50 3.1.1. Kiện toàn tổ chức bộ phận lưu trữ BNV 50 3.1.2. Tổ chức lớp bồi dưỡng nhằm nâng cao nhận thức cho CBCC 51 3.1.3. Xây dựng, hoàn thiện các văn bản hướng dẫn CTTCKHTL PLTBNV 51 3.1.4. Tăng cường kiểm tra, đánh giá về công tác lưu trữ 52 3.2. Nhóm giải pháp về cơ sở vật chất, kinh phí 53 3.3. Nhóm giải pháp về nghiệp vụ 53 3.3.1. Nâng cao chất lượng công tác thu thập tài liệu vào lưu trữ 54 3.3.2. Xây dựng phương án PL, chỉnh lý khoa học tài liệu 54 3.3.3. Nâng cao hiệu quả và tính chính xác của việc XĐGTTL 55 3.3.4. Đẩy mạnh ứng dụng CNTT, đa dạng hóa công cụ tra cứu TLLT 55 PHẦN KẾT LUẬN 59 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 61 PHẦN PHỤ LỤC 64  
Xem thêm

68 Đọc thêm

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN XÃ VŨ NINH HUYỆN KIẾN XƯƠNG TỈNH THÁI BÌNH

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN XÃ VŨ NINH HUYỆN KIẾN XƯƠNG TỈNH THÁI BÌNH

ngƣời định cƣ và tổ chức các hoạt động kinh tế xã hội, nó không chỉ là đối tƣợnglao động mà còn là tƣ liệu sản xuất không thể thay thế đƣợc, đặc biệt là đối vớingành sản xuất nông nghiệp, đất là yếu tố đầu vào có tác động mạnh và là điều kiệntiên quyết ảnh hƣởng đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp, đồng thời đất cũng là môitrƣờng duy nhất sản xuất ra những lƣơng thực thực phẩm nuôi sống con ngƣời.Trong hoàn cảnh đất nƣớc ta đang từng bƣớc xây dựng sự nghiệp CNH,HĐH thì việc sử dụng tiết kiệm, hiệu quả đất đai không chỉ có ý nghĩa về mặt kinhtế mà còn đảm bảo cho mục tiêu ổn định chính trị - xã hội.Bên cạnh đó, nƣớc ta là một nƣớc nông nghiệp, có dân số đông, việc quản lývà sử dụng đất đai nhƣ thế nào cho có hiệu quả đang trở thành mối quan tâm hàngđầu, là mục tiêu chiến lƣợc của đất nƣớc.Mặt khác, đất đai không chỉ là chỗ tựa, chỗ đứng để lao động mà còn là nguồncung cấp thức ăn cho cây trồng và việc sử dụng đất đai có ảnh hƣởng lớn đến năngsuất và chất lƣợng cây trồng, vật nuôi, mọi tác động của con ngƣời vào cây trồng đềudựa vào đất và thông qua đất đai. Hầu hết các nƣớc trên thế giới hiện nay đều phảixây dựng một nền kinh tế trên cơ sở phát triển nông nghiệp dựa vào khai thác tiềmnăng của đất, lấy đó làm bàn đạp cho việc phát triển các ngành khác. Do đó, nếuchúng ta sử dụng đất không có khoa học, không theo quy hoạch sẽ làm cho đất bị cằncỗi, bạc màu dẫn đến các tác hại xấu đối với đời sống kinh tế - xã hội.Chính vì vậy, việc tổ chức sử dụng nguồn tài nguyên đất đai hợp lý, có hiệuquả là nhiệm vụ quan trọng đảm bảo cho nông nghiệp phát triển bền vững. Chúng tacần có các phƣơng án sử dụng đất đúng mục đích nhằm mang lại hiệu quả cao về2kinh tế cho từng ngành, từng vùng và phù hợp với định hƣớng phát triển kinh tế - xãhội của từng địa phƣơng.Thực chất của mục tiêu này chính là vừa đem lại hiệu quả kinh tế, vừa đemlại hiệu quả xã hội và môi trƣờng. Đây cũng là điều kiện để thực hiện tiến trình hội
Xem thêm

77 Đọc thêm

BÁO CÁO THỰC TẬP: CÔNG TÁC ĐÀO TẠO VÀ BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THANH OAI THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

BÁO CÁO THỰC TẬP: CÔNG TÁC ĐÀO TẠO VÀ BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THANH OAI THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 3 1. Lý do chọn đề tài 3 2. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 5 2.1, Mục đích nghiên cứu 5 2.2, Nhiệm vụ nghiên cứu 5 3, Phạm vi nghiên cứu 5 4, Phương pháp nghiên cứu 5 5, Ý nghĩa của việc nghiên cứu 6 6, Kết cấu báo cáo 6 CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ĐƠN VỊ KIẾN TẬP 7 I, Khái quát chung về UBND huyện Thanh oai 7 1, Lịch sử hình thành và phát triển 7 2, Vị trí, chức năng 8 3. Nhiệm vụ, quyền hạn 9 4. Về cơ cấu tổ chức nhân sự của UBND huyện Thanh Oai 10 II. Cơ cấu tổ chức của phòng Nội vụ 11 1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức Phòng Nội Vụ 11 2, Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn 11 3. Tổ chức và biên chế 12 4, Phân công nhiệm vụ của CBCC, chuyện viên và nhân viên phòng Nội vụ 12 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TẠI UBND HUYỆN THANH OAI 12 I, Cơ sở lý luận đối với cán bộ, công chức trong cơ quan Nhà nước 12 1, Khái niệm 12 2, Vai trò của đào tạo, bồi dưỡng 12 II, Thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC tại UBND Huyện Thanh Oai 12 1, Thực trạng 12 2, Những hạn chế trong quá trình đào tạo, bồi dưỡng 12 CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TẠI UBND HUYỆN THANH OAI 12 I, Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC tại UBND huyện Thanh Oai 12 II, Đề xuất, kiến nghị 12 KẾT LUẬN 12
Xem thêm

43 Đọc thêm

Báo cáo thực tập: Tìm hiểu hoạt động bảo quản lý tài liệu lưu trữ tại UBND xã

BÁO CÁO THỰC TẬP: TÌM HIỂU HOẠT ĐỘNG BẢO QUẢN LÝ TÀI LIỆU LƯU TRỮ TẠI UBND XÃ

Công tác lưu trữ là một lĩnh vực hoạt động quản lý nhà nước bao gồm tất cả những vấn đề lý luận thực tiễn và pháp chế liên quan tới việc tổ chức khoa học, bảo quản và tổ chức khai thác, sử dụng có hiệu quả tài liệu lưu trữ phục vụ công tác quản lý, nghiên cứu khoa học lịch sử và các nhu cầu chính đáng khác của cơ quan tổ chức, cá nhân. Tổ chức khoa học tài liệu lưu trữ là tổng hợp các khâu nghiệp vụ cơ bản của công tác lưu trữ liên quan đến việc phân loại, xác định giá trị, chỉnh lý và sắp xếp tài liệu một cách khoa học phục vụ thuận lợi, nhanh chóng, chính xác cho công tác tra tìm.Lưu trữ là bản chính, bản gốc của tài liệu có giá trị được lựa chọn từ toàn bộ khối tài liệu được hình thành trong quá trình hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân được bảo quản trong các kho lưu trữ để phục vụ cho các mục đích chính trị, KT, VH, XH, nghiên cứu khoa học, phục vụ hoạt động quản lý của lãnh đạo của toàn xã hội.Bảo quản tài liệu lưu trữ là sử dụng một hệ thống các biện pháp khoa kỹ thuật nhằm tạo ra các điều kiện tốt nhất để đảm bảo an toàn và kéo dài thời gian tuổi thọ cho tài liệu, phục vụ tốt các yêu cầu khai thác, sử dụng tài liệu. Công tác bảo quản tài liệu lưu trữ có ý nghĩa rất quan trọng. Muốn giữ gìn tài liệu lâu dài, vĩnh viễn để phục vụ các mục đích phát triển của toàn xã hội thì cần có các biện pháp bảo quản tài liệu khỏi sự phá hoại do tự nhiên hay do con người gây ra. Việc bảo quản tài liệu lưu trữ tốt sẽ góp phần nâng cao nhận thức của cán bộ công chức về ý nghĩa và tầm quan trọng của tài liệu, một nguồn di sản văn hóa của dân tộc từ đó người dân sẽ nhìn nhận và đánh giá xác định về những đóng góp của tài liệu. Do vậy em chọn chuyên đề “ Tìm hiểu hoạt động bảo quản tài liệu lưu trữ tại UBND xã Thanh Nưa” làm chuyên đề báo cáo thực tập.1.2 Mục tiêu của hoạt dộng bảo quản tài liệu trữ Xây dựng quy trình khoa học, đúng quy định của nhà nước trong hoạt động bảo quản tài liệu lưu trữ. Nghiên cứu để xuất và triển khai thực hiện các giải pháp nhằm khắc phục một cách hiệu quả, khả thi các tồn tại, hạn chế trong quá trình tổ chức hoạt đôngk bảo quản tài liệu lưu trữ1.3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu1.3.1 Đối tượng nghiên cứu Quy trình tổ chức hoạt động bảo quản tài liệu lưu trữ Các văn bản, tài liệu được, bảo quản tại UBND xã Thanh Nưa năm 2015.1.3.2 Phạm vi nghiên cứuPhạm vi nghiên cứu là xác định củ thể hóa, đối tượng nghiên cứu của đề tài phạm vị nhiên cứu thể hiện ở các mặt: Về giới hạn không gian: Địa điểm tại UBND xã Thanh Nưa, huyện Điện Biên Về giới hạn thời gian: Nghiên cứu chuyên đề hoạt đọng bảo quản tài liệu từ ngày 01012015 đến 311220151.4 Phương pháp nghiên cứu Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:Phương pháp phân tích:+ Mục đích: Nhằm đánh giá thực tiễn, phân tích hình và đưa ra các giải pháp trong hoạt động bảo quản tài liệu lưu trữ của UBND xã Thanh Nưa – huyện Điện Biên+ Nội dung: Đánh giá phân tích các mặt hoạt động bảo quản tài liệu lưu trữ tại UBND xã Thanh Nưa – huyện Điện Biên.Phương pháp tổng hợp+ Mục đích: Đánh giá tổng hợp các hoạt đọng bảo quản tài liệu lưu trữ tại UBND xã Thanh Nưa.+ Nội dung: Tổng hợp cac kết quả làm được và chưa làm được của hoạt đọng bảo quản tài liệu lưu trữ tại UBND xã Thanh NưaNhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:Phương pháp điều tra, khảo sát:+ Mục đích: Tìm hiểu, đánh giá thực trang, điều tra khảo sát các hoạt động bảo quản tài liệu lưu trữ tại UBND xã t
Xem thêm

41 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP ĐOÁN ĐỌC VÀ ĐIỀU VẼ ẢNH

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP ĐOÁN ĐỌC VÀ ĐIỀU VẼ ẢNH

Bài mở đầu: Khái niệm, nhiệm vụ và ý nghĩa của công tác đoán đọc và điều vẽ ảnh; Khái niệm: Đoán đọc điều vẽ ảnh là việc thu nhận thông tin của đối tượng trên ảnh trên cơ sở khoa học của các quy tắc tạo hình quang học, tạo hình hình học và quy luật phân bổ của các đối tượng. Nhiệm vụ, ý nghĩa của đoán đọc điều vẽ ảnh: Đoán đọc điều vẽ ảnh là một công đoạn quan trọng trong quá trình thành lập cũng như hiện chỉnh các loại bản đồ. Đoán đọc và điều vẽ là hai công việc không thể tách rời nhau với mục đích là thu nhập các thông tin tổng hợp từ bề mặt trái đất qua các biểu hiện của ảnh và xác định đặc tính của các đối tượng riêng biệt như sự phân bố không gian, chất lượng, số lượng, động lực và cấu trúc của hiện tượng. Việc đoán đọc điều vẽ ảnh được ứng dụng trong nhiều ngàng khoa học khác nhau như quân sự, địa chất, địa lý, môi trường, khí tượng, thủy văn, thủy lợi, lâm nghiệp và nhiều ngành khoa học khác. Các dữ liệu đoán đọc từ ảnh hàng không và ảnh viễn thám, trong đó có ảnh vệ tinh đa phổ và siêu phổ, được dùng trong nghiên cứu hiện trạng đất sử dụng và đất phủ, nghiên cứu rừng, thực vật, khí hậu, dự báo thời tiết, nghiên cứu nhiệt độ trên mặt đất và biển, nghiên cứu đặc điểm khí quyển và tầng Ozon. Dữ liệu ảnh radar được sử dụng trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau như quân sự, đo vận tốc gió, đo độ cao bay và độ cao song biển, cấu trúc địa chất, sụt lún đất, nghiên cứu bề mặt của các hành tinh.
Xem thêm

14 Đọc thêm

NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY TNHH TÂN ĐÔNG PHƯƠNG

NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY TNHH TÂN ĐÔNG PHƯƠNG

1.Tính cấp thiết của đề tài.Ngày nay, trong quá trình đổi mới và phát triển, nguồn nhân lực đều được thừa nhận là một yếu tố quan trọng nhất, là yếu tố có tính quyết định đến sự thành bại, uy thế, địa vị, khả năng phát triển bền vững của tổ chức, của doanh nghiệp. Do đó các quốc gia đều đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển và đề ra các chính sách, chiến lược phát triển con người phục vụ yêu cầu của hiện tại và tương lai.Một công ty, hay một tổ chức nào đó dù có nguồn tài chính dồi dào, nguồn tài nguyên phong phú với hệ thống máy móc thiết bị hiện đại, kèm theo các công thức khoa học kỹ thuật thần kỳ đi chăng nữa cũng sẽ trở nên vô ích nếu không biết quản trị nguồn nhân lực.Trong các nguồn lực có thể khai thác như: nguồn lực tự nhiên, nguồn lực khoa học công nghệ, nguồn vốn, nguồn lực con người thì nguồn lực con người là quan trọng nhất. Con người là quyết định nhất, bởi lẽ các nguồn lực khác chỉ có thể phát huy hiệu quả khi nguồn lực con người được phát huy. Chúng ta biết rằng điều kiện tự nhiên, khí hậu, địa lý, nguồn vốn có vai trò rất lớn trong sự phát triển của một quốc gia, song những yếu tố đó ở dưới dạng tiềm năng, tự chúng là những khách thể bất động. Chúng chỉ trở thành nhân tố khởi động và phát huy tác dụng khi kết hợp với nguồn lực con người. Những nguồn lực khác ngày càng cạn kiệt còn nguồn lực con người thì ngược lại, nó càng ngày càng được nâng cao. Nhưng để có thể khai thác được tiềm năng to lớn này, cần phải có những phương thức quản lý và điều kiện vật chất hỗ trợ phù hợp. Đối với các doanh nghiệp, việc lựa chọn để tìm ra những phương pháp quản lý hữu hiệu, nhằm khai thác được các tiềm năng đang được ẩn dấu trong con người lao động lại càng có ý nghĩa hơn bao giờ hết.Ngày nay, sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật và xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế đã kéo theo biết bao thay đổi trong xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực sử dụng nguồn nhân lực. Khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển thì yếu tố con người càng quan trọng. Lao động chân tay dần nhường chỗ cho lao động trí óc. Nhận thức được vấn đề này, hầu hết các doanh nghiệp có xu hướng đặt con người cho mọi trung tâm chiến lược, tạo ra lợi thế cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong tương lai và đó là con đường duy nhất để tồn tại và phát triển.Việt Nam đang trong tiến trình xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đồng thời Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO và đang đứng trước xu hướng hội nhập toàn cầu. Để hoàn thành được nhiệm vụ đó, cần phải có một đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới, bởi vì con người là nhân tố quyết định sự thành bại trong mọi hoạt động, quyết định phát triển kinh tế xã hội và sản xuất kinh doanh. Quản trị nguồn nhân lực thành công là nền tảng bền vững cho thành công của mọi hoạt động trong tổ chức.Nhận thức được tầm quan trọng của việc quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực trong doanh nghiệp, qua thời gian thực tập tại công ty TNHH Tân Đông Phương, em đã mạnh dạn chọn đề tài: “Nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn nhân lực tại công ty TNHH Tân Đông Phương” làm khóa luận tốt nghiệp.
Xem thêm

99 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN ĐỌC ĐOÁN ẢNH

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN ĐỌC ĐOÁN ẢNH

1. Khái niệm, nhiệm vụ và ý nghĩa của công tác đoán đọc và điều vẽ ảnh, tầm quan trọng của đoán đọc và điều vẽ ảnh; Khái niệm: Đoán đọc điều vẽ ảnh là việc thu nhận thông tin của đối tượng trên ảnh trên cơ sở khoa học của các quy tắc tạo hình quang học, tạo hình hình học và quy luật phân bổ của các đối tượng. Ảnh được đoán đọc điều vẽ là để chiết tách các thông tin về các đối tượng hay các hiện tượng trên ảnh phục vụ cho một mục đích nhất định. Nhiệm vụ, ý nghĩa của đoán đọc điều vẽ ảnh: Đoán đọc điều vẽ ảnh là một công đoạn quan trọng trong quá trình thành lập cũng như hiện chỉnh các loại bản đồ. Đoán đọc và điều vẽ là hai công việc không thể tách rời nhau với mục đích là thu nhập các thông tin tổng hợp từ bề mặt trái đất qua các biểu hiện của ảnh và xác định đặc tính của các đối tượng riêng biệt như sự phân bố không gian, chất lượng, số lượng, động lực và cấu trúc của hiện tượng. Việc đoán đọc điều vẽ ảnh được ứng dụng trong nhiều ngàng khoa học khác nhau như quân sự, địa chất, địa lý, môi trường, khí tượng, thủy văn, thủy lợi, lâm nghiệp và nhiều ngành khoa học khác. Các dữ liệu đoán đọc từ ảnh hàng không và ảnh viễn thám, trong đó có ảnh vệ tinh đa phổ và siêu phổ, được dùng trong nghiên cứu hiện trạng đất sử dụng và đất phủ, nghiên cứu rừng, thực vật, khí hậu, dự báo thời tiết, nghiên cứu nhiệt độ trên mặt đất và biển, nghiên cứu đặc điểm khí quyển và tầng Ozon. Dữ liệu ảnh radar được sử dụng trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau như quân sự, đo vận tốc gió, đo độ cao bay và độ cao song biển, cấu trúc địa chất, sụt lún đất, nghiên cứu bề mặt của các hành tinh.
Xem thêm

27 Đọc thêm

Phân tích tình hình sử dụng tài sản cố định tại công ty xây dựng mỏ hầm lò 2 vinacomin

PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH SỬ DỤNG TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TẠI CÔNG TY XÂY DỰNG MỎ HẦM LÒ 2 VINACOMIN

Công ty Xây dựng mỏ hầm lò 2 – Vinacomin là một thành viên của tập đoàn Công nghiệp Than Khoáng sản Việt Nam – Vinacomin. Là một đơn vị kinh tế Nhà nước, Công ty Xây dựng mỏ hầm lò 2 có nhiệm vụ đẩy mạnh hoạt động xây dựng, mở lò sản xuất kinh doanh để đạt được mục đích là tạo công ăn việc làm cho cán bộ công nhân viên và thực hiện sản xuất kinh doanh có lãi. Để đạt được mục tiêu đó, một yêu cầu khách quan là Công ty phải tổ chức phân công lao động hợp lý, tiết kiệm tối đa chi phí sản xuất, giảm tiêu hao nguyên vật liệu, nâng cao năng xuất lao động, hạ giá thành sản phẩm, trên cơ sở đó nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống công nhân viên.
Xem thêm

123 Đọc thêm

Đề cương ôn tập môn phương pháp nghiên cứu khoa học

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

1. Nghiên cứu khoa học là gì ? Phân tích 1 ví dụ cụ thể. Là một hoạt động xem xét, nghiên cứu, điều tra hoặc thử nghiệm. Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức,…đạt được từ những thí nghiệm nghiên cứu khoa học để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo ra phương pháp, phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn. Con người muốn làm NCKH phải có kiến thức nhất định về vấn đề cần nghiên cứu và cái chính là phải rèn luyện cách làm việc tự lực, có phương pháp từ lúc còn đang ngồi trên ghế nhà trường. Ví dụ: 2. Đề tài nghiên cứu khoa học là gì? Phân tích 1 ví dụ cụ thể Đề tài là một hình thức tổ chức NCKH do một người hoặc một nhóm người thực hiện. Một số hình thức tổ chức nghiên cứu khác không hoàn toàn mang tính chất nghiên cứu khoa hoc, chẳng hạn như: Chương trình, dự án, đề án Đề tài: được thực hiện để trả lời những câu hỏi mang tính học thuật, có thể chưa để ý đến việc ứng dụng trong hoạt động thực tế. Ví dụ: “nghiên cứu hàm lượng sắt có trong nước sinh hoạt tại khu vực phường Thượng Cát, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội và giải pháp” 3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu là gì? Xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu cho 1 đề tài nghiên cứu cụ thể? Đối tượng nghiên cứu: Là bản chất của sự vật hay hiện tượng cần xem xét và làm rõ trong nhiệm vụ nghiên cứu. Phạm vi nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu được khảo sát trong phạm vi nhất định về mặt thời gian, không gian và lĩnh vực nghiên cứu. Ví dụ: đề tài “ Nghiên cứu hàm lượng Sắt có trong nước sinh hoạt khu vực phường Thượng Cát, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội và giải pháp” + Đối tượng nghiên cứu: Hàm lượng sắt trong nước sinh hoạt tại khu vực phường Thượng Cát, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội. + Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu hàm lượng Fe trong các mẫu nước thu thập được trong phạm vi các hộ gia đình tại khu vực phường Thượng Cát, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội. Thời gian nghiên cứu: các số liệu thu thập trong khoảng thời gian từ năm 20102015. 4. Thế nào là mục đích nghiên cứu, xác định mục đích nghiên cứu cho 1 đề tài cụ thể? Mục đích nghiên cứu: là hướng đến một điều gì hay một công việc nào đó trong nghiên cứu mà người nghiên cứu mong muốn để hoàn thành, nhưng thường thì mục đích khó có thể đo lường hay định lượng. Nói cách khác, mục đích là sự sắp đặt công việc hay điều gì đó được đưa ra trong nghiên cứu. Mục đích trả lời câu hỏi “nhằm vào việc gì?”, hoặc “để phục vụ cho điều gì?” và mang ý nghĩa thực tiển của nghiên cứu, nhắm đến đối tượng phục vụ sản xuất, nghiên cứu. Ví dụ: đề tài “ Nghiên cứu hàm lượng Sắt có trong nước sinh hoạt khu vực phường Thượng Cát, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội và giải pháp” + Mục đích nghiên cứu: Để nâng cao chất lượng nước sinh hoạt cho người dân khu vực phường Thượng Cát, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội.
Xem thêm

24 Đọc thêm

Đề cương AN TOÀN LAO ĐỘNG VÀ MÔI TRƯỜNG CÔNG NGHIỆP

ĐỀ CƯƠNG AN TOÀN LAO ĐỘNG VÀ MÔI TRƯỜNG CÔNG NGHIỆP

1. Mục đích, ý nghĩa và tính chất của công tác bảo hộ lao động ?(2) 2. Sự chịu tải và những căng thẳng trong lao động ?(3) 3. Những nội dung chủ yếu của công tác bảo hộ lao động ?(3) 4. Đối tượng và nhiệm vụ của vệ sinh lao động ? Các biện pháp đề phòng tác hại nghề nghiệp ?(4) 5. Ảnh hưởng của vi khí hậu trong sản xuất ? 6. Ảnh hưởng của tiếng ồn và rung động trong sản xuất ? Các biện pháp phòng chống tiếng ồn và rung động ? 7. Tác hại của bụi và các biện pháp phòng chống ? 8. Vấn đề thông gió trong công nghiệp và chiếu sáng trong sản xuất ? Nhiệm vụ, yêu cầu đối với kỹ thuật chiếu sáng trong sản xuất ? 9. Tác hại của tia phóng xạ và các phương pháp phòng ngừa ? 10. Tác động của dòng điện đối với cơ thể người ? Các biện pháp cần thiết để đảm bảo an toàn điện ? 11. Phân loại độc tính và tác hại của hoá chất ? 12. Quá trình xâm nhập, chuyển hoá chất độc trong cơ thể ? 13. Các nguyên tắc và biện pháp cơ bản phòng ngừa tác hại của hoá chất ? 14. Những nguyên nhân gây ra tai nạn lao động khi sử dụng máy móc, thiết bị cơ khí ? 15. Các giải pháp kỹ thuật an toàn trong cơ khí ? 16. Những yếu tố nguy hiểm đặc trưng của thiết bị chịu áp lực ? Những yêu cầu an toàn đối với thiết bị chịu áp lực ? 17. Phân loại thiết bị nâng hạ ? Các thông số cơ bản của thiết bị nâng hạ ? 18. Những sự cố, tai nạn thường xảy ra và các biện pháp an toàn đối với thiết bị nâng hạ ? 19. Những nguyên nhân gây cháy, nổ trực tiếp ? Các biện pháp phòng chống cháy nổ ? 20. Vùng nguy hiểm? Cho 05 ví dụ thực tế về vùng nguy hiểm trong lao động sản xuất thực tế? 21. Phân tích và cho biết ý nghĩa của bảo vệ nối đất, bảo vệ nối dây trung tính trong kỹ thuật an toàn điện?
Xem thêm

33 Đọc thêm

Luận văn tốt nghiệp: Một số giải pháp tiếp tục đổi mới quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động ở nước ta.

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC ĐỔI MỚI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG Ở NƯỚC TA.

Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, nước ta bước vào thời kỳ khôi phục và phát triển kinh tế trong điều kiện có xuất phát điểm là nền sản xuất nhỏ tư duy quản lý hành chính, quan liêu, bao cấp nên bước vào công cuộc khôi phục và phát triển đất nước, cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung đã bộc lộ nhiều khiếm khuyết. Nhận thức được những tồn tại trong cơ chế, sai lầm trong chỉ đạo đã giúp cho Đảng và Nhà nước ta đưa ra chủ trương đổi mới nền kinh tế chuyển sang thực hiện cơ chế thị trường với việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đời sống của người dân được cải thiện đất nước đã thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội . Hoạt động xuất khẩu lao động của nước ta những năm qua cũng không nằm ngoài tình hình. Từ cơ chế quản lý tập trung, quan liêu bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong hiệu quả xuất khẩu lao động là một quá trình vừa làm vừa rút kinh nghiệm vừa đúc rút, từ thực tiễn, vừa học hỏi từ các nước khác, không thể tránh khỏi những thiếu sót, sai lầm mặc dù nước ta có nguồn lao động dồi dào, tỉ lệ thất nghiệp cao. Tuy đã đạt được những kết quả bước đầu nhưng so với tiềm năng nguồn lao động của nước ta và nhu cầu của thị trường lao động quốc tế, những kết quả đó còn nhiều hạn chế dẫn đến hiệu quả xuất khẩu lao động thấp, số người phá vỡ hợp đồng ngày càng gia tăng, quyền lợi của người lao động bị xâm hại. Hơn nữa, cơ chế quản lý mới trong xuất khẩu lao động mới hình thành nên còn có ý nghĩa chiến lược lâu dài. Mục đích của luận văn này nhằm góp phần làm rõ những vấn đề lý luận về thị trường lao động xuất khẩu, tính tất yếu khách quan của việc xuất khẩu lao động trong hoạt động kinh tế của nước ta, của quản lý Nhà nước về xuất khẩu lao động nói chung và của nước ta, kinh nghiệm và những thành công trong hoạt động về xuất khẩu lao động, kinh nghiệm và những thành công trong hoạt động xuất khẩu lao động của nước ta trong những năm qua,.. và đưa ra giải pháp tiếp tục đổi mới quản lý Nhà nước về xuất khẩu lao động. Để thực hiện mục đích đó luận văn có các nhiệm vụ chính sau đây Nghiên cứu những vấn đề lý luận thực tiễn và thực tiễn của thị trường lao động, quản lý Nhà nước về xuất khẩu lao động theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Phân tích thực trạng quản lý Nhà nước về xuất khẩu lao động và những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn của công tác xuất khẩu lao động nói cung và của quản lý Nhà nước về xuất khẩu lao động. Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp tiếp tục đổi mới quản lý Nhà nước về xuất khẩu lao động. Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học lao động, quản lý kinh tế như khảo sát, thống kê so sánh kết hợp với phương pháp duy vật biện chứng. Ngoài phần mở đầu, kết luận danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục luận văn gồm 3 chương : Chương I: Một số vấn đề về lý luận và kinh nghiệm xuất khẩu lao động ở các nước Chương II: Thực trạng xuất khẩu lao động ở Việt Nam Chương III: Các giải pháp nâng cao hiệu quả xuất khẩu lao động
Xem thêm

58 Đọc thêm

Tieu luan tot nghiep TC LLCT thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đảng viên ở chi bộ trường tiểu học xi măng 129 anh sơn trong giai đoạn hiện nay

TIEU LUAN TOT NGHIEP TC LLCT THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐẢNG VIÊN Ở CHI BỘ TRƯỜNG TIỂU HỌC XI MĂNG 129 ANH SƠN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, suốt đời phấn đấu hi sinh cho mục đích lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp lên trên lợi ích cá nhân. Chấp hành nghiêm chỉnh cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng và pháp luật của Nhà nước. Có lao động không bóc lột , hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao có đạo đức, lối sống lành mạnh, gắn bó mật thiết với nhân dân , phục tùng tổ chức kỉ luật của Đảng, giữ gìn đoàn kết thống nhất trong Đảng.Đối với Đảng viên là giáo viên còn có nhiệm vụ nặng nề hơn vì mỗi thầy giáo, cô giáo phải là một tấm gương sáng cho học sinh noi theo.Đảng cộng sản là đội tiên phong chính trị có tổ chức và là đội ngũ có tổ chức chặt chẽ nhất , cách mạng nhất và giác ngộ nhất của giai cấp công nhân. Vai trò tiên phong của Đảng được thể hiện trên hoạt động lý luận chính trị . Đòi hỏi đầu tiên về tư cách người Đảng Viên phải giác ngộ lý tưởng cộng sản chủ nghĩa có trình độ lý luận nhất định về chủ nghĩa Mác Lê nin.
Xem thêm

24 Đọc thêm

BÀI THU HOẠCH CẢM TÌNH ĐẢNG ĐIỂM 10

BÀI THU HOẠCH CẢM TÌNH ĐẢNG ĐIỂM 10

Câu 1: Cần làm gì và phấn đấu như thế nào để trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam? Liên hệ bản thân đồng chí. Ngay từ khi ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định là đội tiên phong chiến đấu, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Đảng là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động, lấy nguyên tắc tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, có sứ mệnh lịch sử lãnh đạo nhân dân thực hiện mục đích lý tưởng của Đảng là “Xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản” (trích Điều lệ Đảng). Để trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, người vào Đảng phải có đủ các điều kiện: Động cơ vào Đảng đúng đắn, có giác ngộ chính trị, thừa nhận và tự nguyện thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nhiệm vụ của đảng viên; hoạt động trong một tổ chức cơ sở đảng và phải là người ưu tú, được nhân dân tín nhiệm; mỗi đảng viên phải gắn mình với tổ chức đảng, coi tổ chức đảng là chỗ dựa vững chắc cho mình thực hiện nhiệm vụ đảng viên.
Xem thêm

13 Đọc thêm

BÁO CÁO KIẾN TẬP QUẢN TRỊ NHÂN LỰC: CÔNG TÁC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ PLA VIỆT NAM

BÁO CÁO KIẾN TẬP QUẢN TRỊ NHÂN LỰC: CÔNG TÁC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ PLA VIỆT NAM

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN 1 LỜI MỞ ĐẦU 2 MỞ ĐẦU 3 1. Lý do chọn đề tài : 3 2. Mục đích nghiên cứu: 3 3. Đối tượng nghiên cứu: 3 4. Phạm vi nghiên cứu: 3 5. Phương pháp nghiên cứu: 3 6. Ý nghĩa đóng góp của đề tài : 3 7. Kết cấu đề tài: 4 NỘI DUNG 5 CHƯƠNG 1. CƠ SỎ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 5 1.1 Các khái niệm liên quan 5 1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực 5 1.1.2 Khái niệm chất lượng nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 7 1.1.2.1 Khái niệm chất lượng nguồn nhân lực 7 1.1.2. Khái niệm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 8 1.2 Tiêu chí và phương pháp đánh giá chất lượng nguồn nhân lực 9 1.2.1 Các tiêu chí đánh giá chất lượng nguồn nhân lực 9 1.2.2 Các Phương pháp đánh giá chất lượng nguồn nhân lực 11 1.2.2.1 Phương pháp đánh giá phẩm chất đạo đức 11 1.2.2.2 Phương pháp đánh giá sức khỏe thể chất 11 1.2.2.3 Phương pháp đánh giá năng lực 11 1.2.2.4 Phương pháp đánh giá kết quả thực hiện công việc 11 1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp 12 1.3.1 Các nhân tố đầu vào của nguồn nhân lực 12 1.3.2 Các chính sách phát triển nguồn nhân lực 12 1.3.3 Chính sách thù lao lao động 12 1.3.4 Ý nghĩa của nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp 12 1.3.4.1 Ý nghĩa đối với đất nước 12 1.3.4.2 Ý nghĩa đối với tổ chức 14 1.3.4.3 Ý nghĩa đối với người lao động 14 CHƯƠNG 2 : PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN PLA VIỆT NAM 15 2.1 Tổng quan về Công ty Cổ phần đầu tư PLA Việt Nam 15 2.1.1 Giới thiệu chung về công ty 15 2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ chính của Công ty 15 2.1.2.1 Chức năng 15 2.1.2.2 Nhiệm vụ 16 2.1.3 Các ngành nghề kinh doanh của Công ty 16 2.1.4 Mục tiêu, chiến lược của Công ty 18 2.1.5 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty 18 2.2Quy mô kinh doanh của công ty 19 2.2.1 Tình hình lao động 19 2.2.2 Mô hình tổ chức Công ty 19 2.3 Đặc điểm kinh doanh của Công ty 21 2.3.1 Đặc điểm về sản phẩm 21 2.3.2 Khách hàng 21 2.3.2.1 Nhóm khách hàng công nghiệp 22 2.3.2.2 Nhóm khách hàng là người tiêu thụ cuối cùng 22 2.4 Khu vực kinh doanh 22 2.5 Phân tích số lượng và cơ cấu nguồn nhân lực Công ty cổ phần đầu tư PLA Việt Nam 23 2.5.1 Phân tích số lượng 23 2.5.2 Phân tích cơ cấu lao động 23 2.5.2.1 Cơ cấu lao động theo giới tính 23 2.5.2.2 Cơ cấu lao động theo độ tuổi 24 2.5.2.3 Cơ cấu lao động theo trình độ 25 2.5.2.4 Cơ cấu lao động theo thâm niên công tác tại công ty 26 2.5.3 Đánh giá chất lượng nhân lực của công ty cổ phần đầu tư PLA Việt Nam 26 2.5.4 Đánh giá phẩm chất đạo đức nguồn nhân lực công ty 27 2.5.5 Đánh giá sức khỏe thể chất nguồn nhân lực công ty 28 2.5.6 Đánh giá kết quả thực hiện công việc của CBCNV công ty 28 2.5.7 Phân tích yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng nguồn nhân lực tại công ty 28 2.5.7.1 Các nhân tố đầu vào của nguồn nhân lực 28 2.5.7.2 Các chính sách phát triển nguồn nhân lực 29 2.5.7.3 Thù lao lao động 29 2.6 Đánh giá chung về chất lượng nguồn nhân lực tại công ty 29 2.6.1 Điểm mạnh 29 2.6.2 Những hạn chế và nguyên nhân 30 CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY CỒ PHẦN ĐẦU TƯ PLA VIỆT NAM 32 3.1 Định hướng và mục tiêu phát triển Công ty Cổ phần đầu tư PLA Việt Nam 32 3.1.1 Định hướng, mục tiêu và chiến lược phát triển kinh doanh của Công ty 32 3.1.2 Định hướng, mục tiêu và chiến lược phát triển nguồn nhân lực của Công Ty 32 3.2 Các giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại Công ty Cổ phần PLA Việt Nam 32 3.2.1 Tăng cường chỉ đạo, kiểm tra của lãnh đạo , quản lý 32 3.2.2 Xây dựng, phát triển chương trình tuân thủ đạo đức hiệu quả 33 3.2.3 Hoàn thiện chính sách thù lao lao động 33 3.2.4 Xây dựng chính sách đào tạo 33 3.2.5 Xây dựng đồng bộ văn hóa công ty 33 3.2.6 Đổi mới chính sách thu hút người lao động có trình độ cao: 34 3.2.7 Đánh giá năng lực , thành tích của người lao động và khen thưởng hợp lý 35 3.2.8 Động viên tinh thần người lao động 37 3.2.9 Đổi mới chính sách hỗ trợ đào tạo nâng cao của công ty 37 KẾT LUẬN 40 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 41
Xem thêm

46 Đọc thêm

Cùng chủ đề