QUAN HỆ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "QUAN HỆ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH":

Bán trắc nghiệm ôn tập luật hôn nhân và gia đình

Bán trắc nghiệm ôn tập luật hôn nhân và gia đình

A.Câu hỏi bán trắc nghiệm: 1. Con cái là khách thể trong QHHNGĐ của cha mẹ. Sai vì : Khách thể của QHHNGĐ có thể là lợi ích nhân thân, các hành vi và các vật.Trong đó: Lợi ích nhân thân : Họ tên, ngành nghề, việc làm... Các hành vi: Mọi hoạt động để quản lí tài sản chung giữa vợ và chồng, mọi việc làm thể hiện sự chăm sóc đối với cha mẹ... Vật: Có thể là đồ vật trong khối tài sản chung, hoặc có thể dưới hình thức một số tiền nào đó. Như vậy có thể thấy con cái không thuộc một trong ba trường hợp là khách thể của QHHNGĐ. Hay nói cách khác, con cái không thể là khách thể trong quan hệ hôn nhân và gia đình. Trong mọi trường hợp khi nhìn bề ngoài có thể tưởng rằng con cái là một khách thể của QHHNGĐ.( Ví dụ: Tranh chấp giữa cha và mẹ về việc giáo dục con cái về việc giao con cho ai nuôi..thì thực tế con cái lại là một trong các chủ thể; tranh chấp trong trường hợp đó là viecj sử dụng quyền cha mẹ trong việc giáo dục con).Nhưng thực chất trên thực tế, con cái không thể là khách thể của QHHNGĐ 2.QHNT giữ vai trò quyết định trong QHHNGĐ. Đúng vì: Quan hệ nhân thân là những quan hệ xã hội phát sinh giữa các thành viên trong gia đình về những lợi ích nhân thân. Đó là những quan hệ như: Quan hệ giữa vợ và chồng về sự thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau, về việc xác định chỗ ở chung, quan hệ giữa cha mẹ và các con về chế độ xác định chế độ pháp lí nhân thân của con chưa thành niên... Một trong những đặc điểm mà quan hệ nhân thân trong quan hệ HNGĐ khác với trong Luật dân sự đó là Quan hệ nhân thân là nhóm quan hệ chủ đạo và có ý nghĩa quyết định trong các quan hệ HNGĐ. 3.NLPL hôn nhân gia đình không là năng lực khách quan và có được từ khi cá nhân sinh ra. Sai vì.
Xem thêm

Đọc thêm

CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014

CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014

Trải qua quá trình phát triển, thông qua các hình thái kinh tế xã hội, mối quan hệ hôn nhân gia đình cũng từ đó phát triển. Để làm nên một xã hội văn minh phát triển cần sự đóng góp của mỗi gia đình, gia đình được coi là tế bào của xã hội nếu gia đình phát triển kéo theo đó là nền kinh tế cũng phát triển, đời sống con người ngày càng được nâng cao, chất lượng cuộc sống vì vậy mà cũng được đảm bảo. Nhận định được vai trò và sự đóng góp to lớn của gia đình. Đảng và nhà nước ta luôn quan tâm chú trọng đến việc xây dựng gia đình hòa thuận, ấm lo hạnh phúc. Đồng thời đưa ra những chính sách pháp luật nhằm điều chỉnh mối quan hệ hôn nhân và gia đình một cách phù hợp nhất tương xứng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội. Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi thực hiện các quy định của pháp luật về kết hôn tại cơ quan đăng kí kết hôn nhằm chung sống với nhau và xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc. Khi kết hôn, vợ và chồng luôn mong muốn quan hệ hôn nhân tồn tại lâu dài, bền vững. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, do nhiều nguyên nhân khác nhau, vợ chồng có thể phát sinh mâu thuẫn, tranh chấp. Khi mâu thuẫn trở nên căng thẳng không thể hòa giải được, tồn tại cuộc sống chung là hình thức, pháp luật đã dự liệu khả năng cho họ quyền được giải phóng khỏi quan hệ hôn nhân bằng việc ly hôn. Việc ly hôn sẽ dẫn đến những hậu quả pháp lý nhất định, trong đó có việc vợ chồng phải chia tài sản. Đặc biệt việc chia tài sản chung khi ly hôn rất phức tạp. Trên thực tế, khi hai người ly hôn, tranh chấp về tài sản thường diễn ra phổ biến và gay gắt, thực tiễn cho thấy các vụ án tranh chấp về tài sản khi ly hôn ngày càng tăng và có những hạn chế trong việc giải quyết các tranh chấp.Trong quy định của pháp luật về nguyên tắc chế độ tài sản chung sẽ gắn liền với quan hệ hôn nhân. Khi quan hệ hôn nhân vẫn còn tồn tại thì quan hệ tài sản cũng tồn tại với tính chất là tài sản chung và tài sản chung chỉ được chia khi hai bên ly hôn, quan hệ vợ chồng chấm dứt. Từ những lý do trên em xin chọn đề tài “Chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014”. Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tìm tài liệu và hoàn thành bài tiểu luận không tránh khỏi sai sót, mong thầy cô thông cảm, em xin chân thành cảm ơn.
Xem thêm

18 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 2014 ( ĐỀ CƯƠNG, HƯỚNG DẪN LÀM BÀI THI, NHẬN ĐỊNH ĐÚNG SAI CÓ ĐÁP ÁN, BÀI TẬP TÌNH HUỐNG)

ĐỀ CƯƠNG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 2014 ( ĐỀ CƯƠNG, HƯỚNG DẪN LÀM BÀI THI, NHẬN ĐỊNH ĐÚNG SAI CÓ ĐÁP ÁN, BÀI TẬP TÌNH HUỐNG)

MỤC LỤCLÝ THUYẾT2CHƯƠNG 1: Khái quát về Luật Hôn nhân và Gia đình2Chương 2: Quan hệ pháp luật Hôn nhânGia đình3Chương 3: Kết hôn4Chương 4: Quan hệ giữa vợchồng6Chương 5: Quan hệ giữa cha mẹcon8Chương 6: Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa các thành viên trong gia đình11Chương 7: Chấm dứt hôn nhân13Chương 8: Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài16HƯỚNG DẪN LÀM BÀI KIỂM TRA181. Hình thức đề thi:182. Cách làm bài thi18BÀI TẬP NHẬN ĐỊNH ĐÚNG SAI VÀ ĐÁP ÁN19BÀI TẬP TÌNH HUỐNG25
Xem thêm

25 Đọc thêm

BÀI TẬP HỌC KÌ MÔN LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH: NGUYÊN TẮC HÔN NHÂN TỰ NGUYỆN, TIẾN BỘ QUA CHẾ ĐỊNH KẾT HÔN VÀ LY HÔN

BÀI TẬP HỌC KÌ MÔN LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH: NGUYÊN TẮC HÔN NHÂN TỰ NGUYỆN, TIẾN BỘ QUA CHẾ ĐỊNH KẾT HÔN VÀ LY HÔN

Ở đầu thế kỷ 21 cũng như từ thế kỷ 20 trở về trước, chúng ta không thể không nói đến những cuộc hôn nhân bị ép buộc, những cuộc hôn nhân đã được sắp xếp sẵn “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”, rồi thì những cuộc hôn nhân bị lệ thuộc bởi phong tục tập quán cũng như tôn giáo cổ hủ, lạc hậu ở nhiều vùng miền trên cả nước ta, ví dụ như tục Cướp vợ của người H’Mông, rồi còn rất nhiều nguyên nhân tác động khác khiến cuộc hôn nhân chỉ suất phát từ một phía hoặc chẳng suất phát từ bên nào trong một cặp nam nữ khi kết hôn. Khi xã hội ngày càng phát triển và con người ngày càng tiến bộ, chính vì vậy hôn nhân tự nguyện và tiến bộ cũng dần dần được cũng dần dần được chú trọng hơn. Từ đó, quyền kết hôn, lập gia đình một cách tự nguyện và tiến bộ đã được nhà nước thừa nhận là một nguyên tắc quan trọng trong những ngày đầu lập nước, nó đã được ghi nhận, cụ thể hóa và phát triển trong luật hôn nhân và gia đình trong nhiều thời kỳ là nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ. Nguyên tắc này được thể hiện rất nhiều trong chế định kết hôn cũng như ly hôn trong Luật hôn nhân và gia đình và cả trong Hiếp pháp. Chính vì vậy, với mong muốn được hiểu rõ hơn về vấn đề trên, em xin chọn đề tài “Nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ qua chế định kết hôn và ly hôn” để thực hiện bài tập lớn của mình. NỘI DUNG I. Những nội dung cơ bản về nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ. 1. Một số lý luận chung: Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn. ( Khoản 1, Điều 3 Luật HNGĐ) Hôn nhân tự nguyện là sự tự quyết về mặt ý chí của vợ và chồng trước, trong và sau khi kết hôn, cụ thể là việc một trong hai người vợ hoặc người chồng không bị chi phối bởi bất kỳ điều gì, không ai được ép buộc họ trong các quyết định kết hôn, ly hôn và các quan hệ khác của vợ chồng. Hôn nhân tiến bộ là cuộc hôn nhân phù hợp với đạo đức, lối sống, văn hóa và pháp luật. Hôn nhân tiến bộ còn là hôn nhân xuất phát từ tình yêu nam nữ chân chính, tự nguyện, một vợ, một chồng, cùng có trách nhiệm chăm lo cuộc sống gia đình và được chuẩn bị tốt về tâm lý, kiến thức và những điều kiện cơ bản của cuộc sống gia đình. 2. Hôn nhân tự nguyện , tiến bộ qua chế định kết hôn Trong chế định kết hôn, hôn nhân tự nguyện là việc hai bên nam nữ tự mình quyết định việc kết hôn và thể hiện ý chí là mong muốn trở thành vợ chồng của nhau. Cả hai bên đều không chịu tác động bởi bên kia hay của bất kỳ người nào khác khiến họ phải kết hôn trái với nguyện vọng và ý chí của mình. Hai bên nam nữ mong muốn trở thành vợ chồng xuất phát từ tình yêu thương giữa họ và nhằm mục đích là cùng nhau xây dựng gia đình. Sự tự nguyện của hai bên nam nữ phải thể hiện rõ là họ mong muốn được gắn bó chung sống suốt đời cùng nhau .Để đảm bảo việc kết hôn hoàn toàn tự nguyện, pháp luật không thừa nhận quyền đại diện trong kết hôn, trong lễ đăng ký kết hôn bắt buộc cả hai bên có mặt tại cơ quan đăng ký. Thông thường lễ đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau tại Việt nam được tiến hành tại Ủy ban nhân dân cấp xã. Tuy nhiên, đối với khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa mà điều kiện đi lại quá khó khăn thi theo Điều 8 Nghị định số 322000NĐCP ngày 27032002 của Chính phủ quy định việc áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình đối với dân tộc thiểu số thì lễ đăng ký kết hôn có thể được tổ chức tại thôn, bản, phum, sóc nơi cư trú của một trong hai bên kết hôn. Đối với trường hợp kết hôn có yếu tố nước ngoài, theo Nghị định số 1262014NĐCP ngày 31122014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, nơi đăng ký thường trú của công dân Việt Nam, thực hiện đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa công dân Việt Nam với nhau mà ít nhất một bên định cư ở nước ngoài. Trường hợp công dân Việt Nam không có nơi đăng ký thường trú, nhưng có nơi đăng ký tạm trú theo quy định của pháp luật về cư trú thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, nơi đăng ký tạm trú của công dân Việt Nam thực hiện đăng ký kết hôn.
Xem thêm

10 Đọc thêm

Tài sản riêng và việc hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng theo quy định luật hôn nhân và gia đình năm 2014

TÀI SẢN RIÊNG VÀ VIỆC HẠN CHẾ QUYỀN ĐỊNH ĐOẠT TÀI SẢN RIÊNG THEO QUY ĐỊNH LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014

Tài sản riêng và việc hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng theo quy định luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Tài sản riêng và việc hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng theo quy định luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Tài sản riêng và việc hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng theo quy định luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Tài sản riêng và việc hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng theo quy định luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Tài sản riêng và việc hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng theo quy định luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Tài sản riêng và việc hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng theo quy định luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Tài sản riêng và việc hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng theo quy định luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Tài sản riêng và việc hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng theo quy định luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Tài sản riêng và việc hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng theo quy định luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Tài sản riêng và việc hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng theo quy định luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Tài sản riêng và việc hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng theo quy định luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Tài sản riêng và việc hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng theo quy định luật hôn nhân và gia đình năm 2014
Xem thêm

89 Đọc thêm

Luận văn: Bảo vệ quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng theo luật hôn nhân và gia đình năm 2014

LUẬN VĂN: BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG QUAN HỆ NHÂN THÂN GIỮA VỢ VÀ CHỒNG THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014

Luận văn: Bảo vệ quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng theo luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 được ban hành là cơ sở trong việc xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình tiến bộ, xây dựng chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của các thành viên trong gia đình, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam. Xuất phát từ mục đích của việc xác lập quan hệ vợ chồng là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bên vững, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 khi điều chỉnh các quan hệ giữa vợ và chồng đã dựa trên nguyên tắc tiến bộ, bình đẳng điều đó được thể hiện rõ nét trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng.Bảo vệ quyền của người người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng là một vấn đề rất cơ bản nhưng chưa được nghiên cứu một cách chuyên sâu, thấu đáo đặc biệt trong nền kinh tế thị trường hiện nay đang có những chuyển biến phức tạp, quyền nhân thân của người phụ nữ trong quan hệ giữa vợ và chồng đang ngày càng bị xâm phạm dưới nhiều hình thức và mức độ khác nhau, chẳng hạn như nạn bạo lực thể chất, bạo lực tinh thần…Bảo vệ quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng không chỉ thể hiện ở việc ghi nhận những quyền nhân thân của họ trong pháp luật mà phải đảm đảm cho những quyền đó được trở thành hiện thực trên thực tế, điều đó đòi hỏi một cơ chế đồng bộ từ việc xây dựng pháp luật đến các biện pháp thực hiện ở mọi cấp, mọi nghành. Chỉ khi nào bảo vệ tốt quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng thì việc đảm bảo bình đẳng giới mới trở thành hiện thực.Luật HNGĐ năm 2014 ban hành đã mang nhiều quy định tiến bộ trong việc đảm bảo quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân của vợ và chồng, chẳng hạn quy định nghĩa vụ sống chung của vợ chồng, đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh… góp phần đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng. Tuy nhiên, để đưa ra nhiều biện pháp giải quyết hiệu quả, nhằm thúc đẩy và thực hiện tốt hơn nữa quyền bình đẳng của người phụ nữ thì việc nghiên cứu vấn đề “Bảo vệ quyền của người phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014” có ý nghĩa lí luận và thực tiễn sâu sắc”
Xem thêm

111 Đọc thêm

Bài tập nhóm luật Hôn nhân và gia đình: Quy định của pháp luật hiện hành về mối quan hệ giữa cha dượng, mẹ kế với con riêng của vợ hoặc chồng

BÀI TẬP NHÓM LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CHA DƯỢNG, MẸ KẾ VỚI CON RIÊNG CỦA VỢ HOẶC CHỒNG

Quy định của pháp luật hiện hành về mối quan hệ giữa cha dượng, mẹ kế với con riêng của vợ hoặc chồng Bài tập nhóm Luật Hôn nhân và gia đình Quan hệ giữa các thành viên trong gia đình hình thành từ quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng. Xuất phát từ những quan hệ đó mà các thành viên trong gia đình có sự gắn bó chặt chẽ, sâu sắc về tình cảm và trách nhiệm với nhau. Khi nhà nước và pháp luật xuất hiện, quan hệ giữa các thành viên trong gia đình được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật. Vậy, “mối quan hệ giữa cha dượng, mẹ kế với con riêng của vợ hoặc chồng” được quy định trong pháp luật hiện hành như thế nào? Đó chính là dề tài mà nhóm chúng em đã chọn với bài tập nhóm thứ hai này. NỘI DUNG CHÍNH I.Điều kiện phát sinh, chấm dứt mối quan hệ giữa bố dượng, mẹ kế với con riêng của vợ hoặc chồng. Mối quan hệ này phát sinh trong trường hợp cha hoặc mẹ xây dựng lại gia đình, sống chung với con riêng trong cuộc hôn nhân trước, hoặc con ngoài giá thú. Đây là điều kiện bắt buộc, trong nhiều trường hợp, bố dượng, mẹ kế không sống chung với con riêng thì không phát sinh mối quan hệ này. Trong những năm gần đây, tình trạng ly hôn ở nước ta xảy ra khá nhiều, chiếm 90% trong các án kiện về hôn nhân và gia đình. Hàng năm, các Tòa án trong phạm vi cả nước đã thụ lý và giải quyết trên dưới 50.000 việc về ly hôn. Bên cạnh mặt tích cực của ly hôn là giải phóng cho vợ, chồng thoát khỏi xung đột gia đình, ly hôn còn ảnh hưởng theo chiều hướng tiêu cực tới gia đình và xã hội. Cụ thể, ở những gia đình ly tán, trẻ em thiếu sự chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trực tiếp, thường xuyên hoặc của cha, hoặc của mẹ. HIện nay, không ít những trẻ em do cha mẹ ly hôn, hoặc sớm lâm vài cảnh mất cha, mất mẹ, còn nhỏ tuổi chưa thể tự mình nuôi thân để trưởng thành, cá em phải sống chung với bố dượng, mẹ kế. Đối với xã hội và pháp luật, các em vẫn là đối tượng cần được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục. Vì vậy, để giải quyết mối quan hệ giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế, luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đã quy định dù là con riêng của vợ hoặc chồng nhưng bố dượng, mẹ kế vẫn có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ như người cha, người mẹ đối với con ruột của mình và ngược lại. Quy định này phù hợp với đạo lý truyền thống, thuần phong mỹ tục của người Việt Nam, cho dù không phải là người sinh thành ra mình, nhưng bố dượng, mẹ kế cũng là người thay thế cha mẹ đẻ chăm sóc, nuôi dưỡng con riêng nên người. Quan hệ giữa người con riêng với bố dượng, mẹ kế cũng là quan hệ cha,mẹ con. II.Mối quan hệ giữa bố dượng, mẹ kế và con riêng của vợ hoặc chồng. 1.Quan hệ nhân thân giữa bố dượng, mẹ kế và con 1.1.Quyền và nghĩa vụ của bố dượng, mẹ kế (Điều 38) Xuất phát từ truyền thống gia đình Việt Nam là mọi thành viên trong gia đình đều luôn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau,… luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã quy định về mối quan hệ giữa bố dượng, mẹ kế cùng chung sống với con riêng của vợ hoặc chồng thì họ phải thực hiện các nghĩa vụ và quyền đối với con. Theo khoản 1 Điều 38 thì bố dượng và mẹ kế có nghĩa vụ và quyền trông nom, giáo dục, chăm sóc con riêng cùng chung sống với mình theo quy định tại Điều 34 và Điều 37 của luật Hôn nhân và gia đình. Tại Điều 34 luật này có quy định như sau: “1. Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền thương yêu, trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con; tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập và giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội. 2. Cha mẹ không được phân biệt đối xử giữa các con, ngược đãi, hành hạ, xúc phạm con; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên; không được xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.” Theo đó thì thương yêu, trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc cùng vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của bố dượng, mẹ kế đối với con riêng. Là quyền bởi không ai, trong bất cứ hoàn cảnh nào có thể ngăn cản hoặc tước đi quyền được yêu thương, chăm sóc đói vơn con cái từ phía người cha, người mẹ, ngoại trừ những trường hợp đặc biệt, vì lợi ích của con mà quyền này bị hạn chế theo một quyết định hoặc một bản án của tòa án. Là nghĩa vụ bởi lẽ không một người cha, người mẹ nào – kể cả cha dượng mà mẹ kế có quyền ruồng rẫy, ngược đãi hoặc từ chối trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc con cái. Vì lợi ích, vì sự phát triển bền vững của con trẻ, đạo đức xã hội cũng như pháp luật đặt ra những trách nhiệm, nhiemj vuh tối thiểu của người cha, người mẹ (kể cả bố dượng mà mẹ kế) đối với con cái. Cũng theo quy định này, bố dượng, mẹ kế không được có những hành vi đối xử tồi tệ về ăn, mặc, ở và các sinh hoạt hàng ngày khác, không được mắng chửi, nhục mạ con cái, để cho con cái ăn mặc rách rưới, cho ở nơi khổ cực..trong kho có điều kiện tốt hơn. Bên cạnh đó, bố dượng và mẹ kế có nghĩa vụ giáo dục con. Điều 37 luật Hôn nhân và gia đình có quy định: “1. Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền giáo dục con, chăm lo và tạo điều kiện cho con học tập. Cha mẹ tạo điều kiện cho con được sống trong môi trường gia đình đầm ấm, hoà thuận; làm gương tốt cho con về mọi mặt; phối hợp chặt chẽ với nhà trường và các tổ chức xã hội trong việc giáo dục con. 2. Cha mẹ hướng dẫn con chọn nghề; tôn trọng quyền chọn nghề, quyền tham gia hoạt động xã hội của con. 3. Khi gặp khó khăn không thể tự giải quyết được, cha mẹ có thể đề nghị cơ quan, tổ chức hữu quan giúp đỡ để thực hiện việc giáo dục con.” Theo đó, bố dượng, mẹ kế có nghĩa vụ và quyền giáo dục chăm lo và tạo điều kiện cho con riêng của vợ hoặc chồng vì mục đích để trẻ em phát triển toàn diện, thành một con người có ích cho xã hội. Do mối quan hệ giữa bố dượng, mẹ kế với con riêng rất nhạy cảm nên nhiều khi bố dượng và mẹ kế không quan tâm giáo dục và chăm sóc cho con riêng được phát triển cân đối và lành mạnh, đặc biệt đoi khi trong những gia đình ghép thì vấn đề về môi trường gia đình rất phức tạp. Bởi vậy mà bố dượng, mẹ kế cũng có nghĩa vụ và quyền đối với con tiêng như nghĩa vuh và quyền của cha mẹ đói với con cái được quy định tại khoản 2, 3 Điều 37 luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 Vấn đề đại diện cho con riêng thì cha dượng, mẹ kế cũng có quyền và nghĩa vụ này khi con riêng chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự mà cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ khác của chúng không thực hiện được quyền và nghĩa vụ đại diện theo pháp luật. Trong trường hợp đó, cha dượng, mẹ kế có nghĩa vụ đại diện cho con riêng trong các giao dịch dân sự vì lợi ích của con riêng mà người cha, mẹ đẻ không thể thực hiện được vì một lý do nào đó. Nếu như cha dượng, mẹ kế có nghĩa vị đại diện cho con riêng trong một số trường hợp thì đối với vấn đề giám hộ thì cha dượng, mẹ kế có nghĩa vụ phải làm giám hộ. Pháp luật hiện nay chỉ các định việc giám hộ một chiều: con riêng giám hộ mẹ kế, cha dượng mà không có chiều ngược lại. Có thể nói đây là một thiếu sót của pháp luật, bời vì một mặt chưa đảm bảo sự công bằng trong quan hệ cha dượng, mẹ kế với con riêng của vợ hoặc chồng; mặt khác không phù hợp với truyền thống, đạo lý trong gia đình người Việt Nam. Và cũng giống như cha mẹ đẻ, cha dượng mẹ kế cũng sẽ bị hạn chế quyền của cha dượng, mẹ kế đối với con chưa thành niên khi cha dượng, mẹ kế bị kết án về một trong số các tội cố s xâm phạm sức khỏe, nhân phẩm, danh dự cả con hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; phá tán tài sản của con có lối sống đồi trụy, xui giục, ép buộc con là những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội (Điều 41 luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000) 1.2.Quyền và nghĩa vụ của con riêng đối với bố dượng, mẹ kế. Quyền và nghĩa vụ của con riêng đối với bố dượng, mẹ kế cũng giống như quyền và nghĩa vụ của con đối với cha mẹ đẻ, với điều kiện là con riêng phải sống chung với bố dượng, mẹ kế (Điều 35, khoản 2 Điều 36 luật Hôn nhân và Gia đình 2000) Quan hệ gia đình với tính chất đặc thù của mình luôn thiết lập một tôn ti, trật tự để giao dục con cái. Ngược lại con cái với tư cách là người được hưởng sự yêu thương, nuôi dưỡng và hi sinh của cha mẹ phải có bổn phận kính trọng, biết ơn, hiếu thảo với cha mẹ. Việc cha mẹ và con cái thực hiện quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định đã trở thành một chuẩn mực đạo đức được cả xã hội thừa nhận. Những hành vi bất kính của con đối với cha mẹ, làm tổn thương đến lòng yêu thương và sự hi sinh của cha mẹ tùy thuộc vào mức độ đều bị lên án hoặc bởi dư luận, đạo đức xã hội hoặc bị xử lý theo quy định của pháp luật nếu mức độ nghiêm trọng. Ngoài ra, con cái với tư các là thế hệ tiếp nối và kế thừa lịch sử phải có nghĩa vụ tôn trọng, phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình. Quy định này thể hiện tư tưởng của Đảng và nhà nước ta trong việc đề cao những bản sắc quý báu, truyền thống đạo đức tốt đẹp trong gia đình Việt nam, tránh lối sống thực dụng, cá nhân, phủ nhận lịch sử như cách nhìn nhận của một bộ phận thanh niên nam nữ trong cuộc sống hiện đại ngày nay. Luật còn quy định, con cái có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ. Một sự thật mà ai cũng phải thấu hiểu là những gì mỗi người tạo dựng được trong cuộc sống hôm nay đều di sự hi sinh của cha mẹ mà thành. Vì vậy, cha mẹ già yếu hoặc không có điều kiện lao động, tự lo cho cuộc sống của mình nữa thì con cái đến lượt mình phải có bổn phận và nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ. Đây là một nét đặc thù, một đạo lý tốt đẹp của truyền thống gia đình Á Đông, khác hẳn với chế độ gia đình ở hầu hết các nước phương Tây, việc chăm sóc người già chủ yếu do nhà nước hoặc các tổ chức từ thiện thực hiện, xuất phát từ quan niệm của họ cho rằng người làm cha, làm mẹ đương nhiên có nghĩa vụ nuôi dưỡng chăm sóc con cái, nhưng khi về già, con cái không buộc phải có nghĩa vụ chăm sóc cha mẹ mà trách nhiệm đó thuộc về xã hội. Tuy nhiên trên thực tế xã hội, không ít những trường hợp khi cha mẹ cần sống nương tựa vào con cái đã bị con cái hành hạ, ngược đãi. Hành hạ cha mẹ là hành vi đối xử tác làm cho cha mẹ đau đớn về thể xác hoặc tinh thần. Ngược đãi được hiểu là việc đối xử tồi tệ về ăn, mặc, ở và các mặt sinh hoạt hàng ngày đối với cha mẹ như xỉ vả, mắng chửi, bỏ đói, để mặc rét… Sự tha hóa về mặt đạo đức đã khiến một số người không ý thức được đạo lý xã hội và bổn phận của mình, có rất nhiều hành vi cư xử không đúng và không tốt, có thể gây tổn thương về sức khỏe và danh dự của cha mẹ. Vì vậy, để đề cao đạo lý làm con, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của cha mẹ, nhắc nhở và giáo dục những người không làm tròn đạo hiếu, pháp luật quy định “nghiêm cấm con có hành I ngược đãi, hành hạ, xúc phạm cha mẹ.” Pháp luật đề ta những chế tài nghiêm khắc với những người có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm cha mẹ mình “tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường”, nhằm bảo vệ trật tự và đạo lý xã hội. 2. Quan hệ pháp luật về tài sản giữa cha mẹ và con Hệ thống pháp luật Hôn nhân và Gia đình phân định quan hệ pháp luật về tài sản giữa cha mẹ hoặc con làm 2 nhóm: Quan hệ nuôi dưỡng, cấp dưỡng và quan hệ tài sản khác. 2.1. Quan hệ nuôi dưỡng, cấp dưỡng Quan hệ nuôi dưỡng Theo điều 36 luật Hôn nhân và Gia đình quy định: “1. Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. 2. Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ ốm đau, già yếu, tàn tật; trong trường hợp gia đình có nhiều con thì các con phải cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ. Thứ nhất, thông thường pháp luật chỉ quy định nghãi vụ nuôi dưỡng của cha mẹ đối với con cái là từ khi sinh ra cho tới lúc thành niên. Đến tuổi thành niên con người có đủ năng lực để bằng ý chí và hành vi của mình tự tạo dựng cho mình một cuộc sống độc lập. Tuy nhiên nhiều trường hợp con sinh ra bị bệnh tật bẩm sinh hoặc do tai nạn…kho đã thành niên vẫn không có khả năng lao động, không thể tự chăm lo và nuôi sống bản thân mình thì cha mẹ có trách nhiệm tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ cho con mình. Điều này là phù hợp với thực tế và đạo lý xã hội. Theo quy định tại Điều 22 Bộ luật Dân sự 2005, khi một người bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự dựa trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định có thẩm quyền. Khi đó, mặc dù con đã thành niên nhưng do bị tàn tật (bị khiếm khuyết về thể chất), mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình thì cha mẹ phải là nhữn người chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong trường hợp này, nếu con chưa có vợ, chồng, con hoặc có nhưng người này không đủ điều kiện làm người giám hộ thì cha, mẹ có đủ điều kiện phải là những người giám hộ. Khi đó theo quy định tại điều 67 Bộ luật Dân sự 2005 thì cha mẹ có nghĩa vụ: “chăm sóc, bảo đảm việc điều trị bệnh cho con cái, đại diện cho con cái trong các giao dịch dân sự, quản lý tài sản của con cái, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con cái. Thứ hai, trong quan hệ gia đình, thông thường nghĩa vụ của chru thể này đồng thời là quyền của chủ thể kia. Ví dụ, con cái được hưởng quyền chính là kết quả của việc cha mẹ thực hiện nghĩa vụ và ngược lại. Bảo vệ quyền lợi của cha, mẹ, các con trong gia đình được Nhà nước bảo hộ, phải được xác định là một nguyên tắc cơ bản của pháp luật Hôn nhân và gia đình. Vì vậy, bên cạnh việc quy định nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng của cha mẹ đối với con cái, luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 còn quy định về nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng của con cái đối với cha mẹ. Theo đó, con cái có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt trong trường hợp cha mẹ ốm đau, già yếu, tàn tật. Con từ đủ 15 tuổi trở lên sống chung với cha mẹ, có nghĩa vụ chăm lo đời sống chung của gia đình, nếu có thu nhập thì đóng góp vào các nhu cầu thiết yếu của gia đình (Khoản 2 Điều 44 Luật Hôn nhân và Gia đình 2000) Nghĩa vụ nuôi dưỡng giữa cha mẹ và con là nghĩa vụ có đi có lại nhưng không mang tính chất đồng thời và tuyệt đối như trong dân luật, không mang tính chất đền bù ngang giá. Quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng luôn gắn liền với nhân thân của những người nhất định do pháp luật quy định trước, không thể thay đổi chủ thể, mang tính chất không thay thế, không thể thỏa thuận bằng nghĩa vụ khác được. Quan hệ cấp dưỡng Theo quy định tại khoản 11 Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình thì: “Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, là người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, là người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của Luật này” Như vậy nghĩa vụ cấp dưỡng chỉ phát sinh trong trường hợp người được cấp dưỡng và người cấp dưỡng không sống cùng nhau. Mà theo quy định tại điều 38 luật Hôn nhân và Gia đình thì quyền và nghĩa vụ giữa cha dượng, mẹ kế và con riêng của vợ, chồng chỉ phát sinh khi họ sống cùng nhau. Hơn nữa giữa họ không hề có quan hệ hôn nhân, huyết thống hay quan hệ nuôi dưỡng. Vì vậy, không thể phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng giữa cha dượng, mẹ kế với con riêng của vợ, chồng. 2.2.Các quyền và nghĩa vụ về tài sản khác giữa cha mẹ và con Các quyền và nghĩa vụ về tài sản khác giữa cha mẹ và con trong gia đình: Hệ thống pháp luật của nhà nước ta quy định theo nguyên tắc cha mẹ và con đều có quyền độc lập về tài sản. Luật Hôn nhân gia đình đã quy định: các con còn ở chung với cha mẹ, dù đã thành niên hay chưa thành niên đều có quyền tài sản riêng. Tài sản riêng của con bao gồm tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng, thu nhập do lao động của con, hoa lợi, lợi tức phát sinh tài sản riêng và các thu nhập hợp pháp khác (Điều 44) Đối với tài sản riêng của con, nếu con từ đủ 15 tuổi trở lên có thể tự quản lý tài sản riêng hoặc nhờ cha mẹ quản lý. Tài sản riêng của con dưới 15 tuổi, con mất năng lực hành vi dân sự thì do cha mẹ quản lý. Cha mẹ có thể ủy quyền cho người khác quản lý tài sản riêng của con. Cha mẹ không quản lý tài sản riêng của con trong trường hợp người tặng cho tài sản hoặc để lại tài sản thừa kế theo di chúc cho người con đã chỉ định người khác quản lý tài sản đó, hoặc trong những trường hợp khác theo quy định của pháp luật (Điều 45) Về việc định đoạt tài sản riêng của con mà cha mẹ quản lý. Điều 46 quy định: “1. Trong trường hợp cha mẹ quản lý tài sản riêng của con dưới mười lăm tuổi thì có quyền định đoạt tài sản đó vì lợi ích của con, có tính đến nguyện vọng của con, nếu con từ đủ chín tuổi trở lên. 2. Con từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi có quyền định đoạt tài sản riêng; nếu định đoạt tài sản có giá trị lớn hoặc dùng tài sản để kinh doanh thì phải có sự đồng ý của cha mẹ.” Ngoài ra cha mẹ phải bồi thường thiệt hại do con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự gây ra theo quy định tại điều 606 Bộ luật Dân sự 2005 và bố dượng, mẹ kế và con có quyền thừa kế tài sản của nhau theo điều 679 Bộ luật Dân sự 2005 III.Đánh giá các quy định của pháp luật về quan hệ giữa bố dượng, mẹ kế và con riêng của vợ hoặc chồng. Mối quan hệ con riêng, cha dượng, mẹ kế từ lâu vẫn là một vấn đề phức tạp, tế nhị và nan giản trong đời sống nhiều gia đình. Xuất phát từ nguyên tắc Nhà nước và xã hội không thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa các con, luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đã bổ sung quy định về quyền và nghĩa vụ của bố dượng, mẹ kế và còn riêng của vợ hoặc chồng. Theo quy định của luật này thì các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con quy định tại các điều 34, 36, 37 cũng được áo dụng trong quan hệ giữa bố dượng, mẹ kế với con riêng của vợ hoặc chồng, nếu họ chung sống với nhau. Xuất phát từ bản chất mối quan hệ này vốn mang tính nhạy cảm và các chủ thể trong mối quan hệ do tác động về mặt tâm lý, tình cảm, lợi ích trên thực tế, pháp luật nghiêm cấm bố dượng, mẹ kế có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm con riêng của vợ hoặc chồng và ngược lại. Đây là quy định thể hiện sự quan tâm và bảo vệ của pháp luật đối với trẻ em, nhắm tránh tình trạng ở một số gia đình có sự phân biệt đối xử giữa con chung và con riêng. Đây là nhiệm vụ của luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, nhằm xây dựng chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của các thành viên trong gia đình, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam, xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững. IV.Liên hệ thực tế Trên thực tế hiện nay, mối quan hệ cha dượng, mẹ kế với con riêng của vợ hoặc chồng đã không còn hiếm gặp trong xã hội. Một điều có thể dễ dàng nhận thấy là đa số những mối quan hệ này tương đối ổn định, không những xuất phát từ việc mọi người tuân thủ đúng pháp luật mà còn do những quy phạm đạo đức đã điều chỉnh hành vi của con người. Tuy nhiên cũng còn không ít trường hợp cha dượng, mẹ kế và con riêng của vợ hoặc chồng còn những mâu thuẫn và hành vi ngược đãi, xâm hại đến thân thể, nhân phẩm và danh dự của nhau. Có thể kể đến một vụ việc mới chỉ diễn ra gần đây, vào ngày 112010, cả mẹ đẻ bà bố dượng đã dùng dây vải buộc cánh tay và lấy dây nilon vòng qua cổ be KẾT LUẬN Từ việc phân tích mối quan hệ giữa cha dượng, mẹ kế với con riêng của vợ hoặc chồng theo quy định của pháp luật hiện hành đã làm sáng tỏ thêm quyền lợi, nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình. Đồng thời quy định trên chính là một trong những quy định mới của luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 so với những vănề bản pháp luật về hôn nhân và gia đình trước đây của nhà nước ta dựa trên nền tảng đạo đức và xã hội mang tính truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam .
Xem thêm

11 Đọc thêm

HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

quy định này của Luật và đặt ra câu hỏi rằng tại sao luật cũng khuyến khích đểngười than nhận nuôi để tạo tâm lí tốt cho trẻ nhưng lại không cho ông bà nhậncháu làm con nuôi… Vì nếu quy định như vậy sẽ nhạn được luồng ý kiến tráichiều đó là sẽ thay dổi thứ bậc, vai vế của những người trong gia đình.Hiện nay, luật dành cho cha dượng, mẹ kế một thứ tự ưu tiên trong việcnhận con nuôi, điều đó chứa đựng giá trị nhân văn và điều chỉnh những quan hệmới nảy sinh trong cuộc sống.7II. Quy định của pháp luật về hệ quả pháp lý của trường hợp nuôi con nuôigiữa cha dượng, mẹ kế với con riêng của một bên vợ chồng1. Quan hệ với gia đình của người nhận nuôi1.1. Quan hệ giữa người nuôi và con nuôi1.1.1. Quan hệ nhân thânMối quan hệ giữa cha dượng, me kế với con riêng được ghi nhận tại Điều79 Luật hôn nhân gia đình năm 2014: “Cha dượng, mẹ kế có quyền và nghĩa vụtrông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con riêng của bên kia cùng sốngchung với mình theo quy định tại các điều 69, 71 và 72 của Luật nàyCon riêng có quyền và nghĩa vụ chăm sóc, phụng dưỡng cha dượng, mẹ kếcùng sống chung với mình theo quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Luật này”.Ngoài ra, “con có bổn phận yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo, phụngdưỡng cha mẹ, giữ gìn danh dự, truyền thống tốt đẹp của gia đình”.Theo quy định của pháp luật Việt Nam, quan hệ cha mẹ nuôi – con nuôihay quan hệ nuôi con nuôi giữa cha dượng, me kế - con riêng củ một bên vợ,chồng là một quan hệ pháp lý đặc biệt. vì vậy quan hệ này được thừa nhận vềmặt pháp luật sẽ làm phát sinh những hệ quả mang tính chất rang buộc. Có thểnói đây như là một sự công nhận và bảo hộ của Nhà nước khi mối quan hệ phápluật phát sinh do sự thỏa thuận của các đối tượng có liên quan trong khuôn khổ
Xem thêm

18 Đọc thêm

TÀI SẢN RIÊNG VÀ VIỆC HẠN CHẾ QUYỀN ĐỊNH ĐOẠT TÀI SẢN RIÊNG THEO QUY ĐỊNH LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

TÀI SẢN RIÊNG VÀ VIỆC HẠN CHẾ QUYỀN ĐỊNH ĐOẠT TÀI SẢN RIÊNG THEO QUY ĐỊNH LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

TÀI SẢN RIÊNG VÀ VIỆC HẠN CHẾ QUYỀN ĐỊNH ĐOẠT TÀI SẢN RIÊNG THEO QUY ĐỊNH LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014TÀI SẢN RIÊNG VÀ VIỆC HẠN CHẾ QUYỀN ĐỊNH ĐOẠT TÀI SẢN RIÊNG THEO QUY ĐỊNH LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014TÀI SẢN RIÊNG VÀ VIỆC HẠN CHẾ QUYỀN ĐỊNH ĐOẠT TÀI SẢN RIÊNG THEO QUY ĐỊNH LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014TÀI SẢN RIÊNG VÀ VIỆC HẠN CHẾ QUYỀN ĐỊNH ĐOẠT TÀI SẢN RIÊNG THEO QUY ĐỊNH LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014TÀI SẢN RIÊNG VÀ VIỆC HẠN CHẾ QUYỀN ĐỊNH ĐOẠT TÀI SẢN RIÊNG THEO QUY ĐỊNH LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014TÀI SẢN RIÊNG VÀ VIỆC HẠN CHẾ QUYỀN ĐỊNH ĐOẠT TÀI SẢN RIÊNG THEO QUY ĐỊNH LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014TÀI SẢN RIÊNG VÀ VIỆC HẠN CHẾ QUYỀN ĐỊNH ĐOẠT TÀI SẢN RIÊNG THEO QUY ĐỊNH LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014TÀI SẢN RIÊNG VÀ VIỆC HẠN CHẾ QUYỀN ĐỊNH ĐOẠT TÀI SẢN RIÊNG THEO QUY ĐỊNH LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014TÀI SẢN RIÊNG VÀ VIỆC HẠN CHẾ QUYỀN ĐỊNH ĐOẠT TÀI SẢN RIÊNG THEO QUY ĐỊNH LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014TÀI SẢN RIÊNG VÀ VIỆC HẠN CHẾ QUYỀN ĐỊNH ĐOẠT TÀI SẢN RIÊNG THEO QUY ĐỊNH LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014TÀI SẢN RIÊNG VÀ VIỆC HẠN CHẾ QUYỀN ĐỊNH ĐOẠT TÀI SẢN RIÊNG THEO QUY ĐỊNH LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014TÀI SẢN RIÊNG VÀ VIỆC HẠN CHẾ QUYỀN ĐỊNH ĐOẠT TÀI SẢN RIÊNG THEO QUY ĐỊNH LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014
Xem thêm

93 Đọc thêm

Phân tích và đánh giá các căn cứ ly hôn theo các trường hợp ly hôn trong luật hôn nhân và gia đình năm 2014

Phân tích và đánh giá các căn cứ ly hôn theo các trường hợp ly hôn trong luật hôn nhân và gia đình năm 2014

III. Đánh giá ưu nhược điểm và đưa ra kiến nghị để hoàn thiện các căn cứ ly hôn trong Luật Hôn nhân và gia đình 2014. 1. Ưu điểm Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã bổ sung điểm mới khi cho ly hôn khi có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng. Như vậy, luật hiện hành quy định rất rõ “bạo lực gia đình” là căn cứ để giải quyết cho ly hôn. ... 2. Nhược điểm Thứ nhất, bất cập trong việc đánh giá tình trạng trầm trọng của hôn nhân trong trường hợp ly hôn theo yêu cầu của vợ hoặc chồng Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được”. Việc quy định về căn cứ ly hôn thể hiện yếu tố tình cảm vẫn còn chung chung. Khi giải quyết các trường hợp cụ thể, với sự đa dạng của cuộc sống, thì mỗi cặp vợ chồng, mỗi vụ án ly hôn thường có mâu thuẫn cũng như hoàn cảnh không giống nhau. ... Chính vì vậy, thực tiễn có những trường hợp cùng một vụ việc nhưng có nhiều cách lý giải khác nhau khi áp dụng pháp luật. Ví dụ:.... 3. Kiến nghị hoàn thiện Thứ nhất, cần lượng hóa nội dung tiêu chí về căn cứ ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Ngoại tình là một trong những hành vi vi phạm nghĩa vụ chung thủy giữa vợ chồng, là hành vi trái với đạo đức xã hội. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Cấm người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ. Do đó, ...
Xem thêm

Đọc thêm

TIỂU LUẬN: Điều kiện kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

TIỂU LUẬN: Điều kiện kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Mỗi con người trên thế giới này ai sinh ra và lớn lên cũng phải trải qua sinh, lão, bệnh, tử thì mới có thể được trải nghiệm được trọn vẹn một cuộc đời. Nếu thiếu đi một thứ thì cuộc sống chưa được trọn vẹn và cũng chưa nếm được hương vị đầy đủ của cuộc sống. Trong cuộc sống đó, không bao giờ chúng ta có thể tồn tại một cách độc lập và không có sự gắn kết với một ai cả hay nói cách khác là chúng ta không sống một mình. Lúc nhỏ chúng ta sống với cha mẹ, ông bà, chúng ta có bạn bè chơi chung chúng ta gắn kết với bạn bè. Những mối quan hệ mà chúng ta thiết lập luôn tỉ lệ thuận với thời gian, thời gian trôi qua càng nhiều thì các mối quan hệ đó được xác lập ngày càng nhiều. Và sự gắn kết giữa chúng ta và các chủ thể khác trong mối quan hệ đó tùy theo những mối quan hệ đó là gì mà chúng mang một tính chất khác nhau. Nhưng có một điều đặc biệt rằng đa số chúng ta khi đến độ tuổi trưởng thành sẽ xác lập một mối quan hệ có tính chất đặc biệt được gọi là hôn nhân.Khi quan hệ hôn nhân được xác lập sẽ làm nảy sinh rất nhiều điều ý nghĩa, bởi vì hôn nhân chính là nền tảng của việc hình thành nên gia đình. Mà bản chất cấu tạo của xã hội chính là gia đình, gia đình là một xã hội thu nhỏ và gia đình chính là tế bào để hình thành nên xã hội. Gia đình được hình thành nên từ nền tảng hôn nhân và hôn nhân phát sinh sau khi có mội sự kiện được gọi là “kết hôn”. Kết hôn là việc thường tình của nam nữ khi đến độ tuổi nhất định từ thời xa xưa đến giờ. Minh chứng là ngay từ xa xưa ông bà ta đã có câu tục ngữ: “trai lớn dựng vợ, gái lớn gả chồng”. Và ngày nay, kết hôn được xem là quyền thiêng liêng của mỗi cá nhân và được quy định tại điều 36 Hiến pháp năm 2013. Nhưng quan niệm kết hôn mỗi thời kỳ lại mỗi khác. Trước khi có sự xuất hiện của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, nam nữ chỉ cần chung sống như vợ chồng thì đã được công nhận là vợ chồng và mối quan hệ giữa họ được gọi là “hôn nhân thực tế”. Trong thời kỳ này nam nữ chỉ cần tổ chức lễ cưới theo phong tục hoặc theo nghi thức tôn giáo thì họ được xem như là đã kết hôn. Nhưng từ khi có sự xuất hiện của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và sau đó là Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì việc kết hôn của nam nữ phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì mới được nhà nước công nhận và bảo vệ. Nhưng để được đăng ký kết hôn thì người đăng ký đó phải đảm bảo được những điều kiện nhất định mà pháp luật đã quy định. Để việc đăng ký kết hôn là hợp pháp thì người đăng ký kết hôn phải đảm bảo những điều kiện nhất định đã được luật định. Nhưng không phải ai cũng nắm rõ và hiểu rõ về những điều kiện này. Chính vì lý do đó mà tôi đã chọn đề tài “Điều kiện kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014” để là đề tài nghiên cứu cho tiểu luận kết thúc môn học của mình, để giúp mọi người hiểu rõ hơn và nắm bắt được những quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn. Trong quá trình nghiên cứu khó tránh mắc phải sai sót, kính mong thầy cô và các bạn góp ý để tôi có thể sửa chữa và hoàn chỉnh đề tài. Xin chân thành cảm ơn 
Xem thêm

Đọc thêm

HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách. Đề cao vai trò gia đình trong đời sống xã hội Nhà nước đã ban hành Luật Hôn nhân và gia đình. Qua nhiều thời kỳ khác nhau Luật Hôn nhân và gia đình được bổ sung, sửa đổi cho phù hợp. Nếu như việc kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng thì ly hôn là việc chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng. Để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề bình đẳng giới qua chế định ly hôn, em xin chọn đề tài “Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng qua chế định ly hôn”.
Xem thêm

20 Đọc thêm

GIA ĐÌNH THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM

GIA ĐÌNH THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM

quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ con nuôi,bởi tính cộng đồngvề sinh hoạt, trách nhiệm đạo đức với nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu riêngcủa các thành viên cũng như để thực hiện tính tất yếu của xã hội về tái sản xuấtcon người[15; tr310]. Khái niệm do nhóm tác giả đƣa cũng chƣa phản ánh đầy đủvề gia đình bởi hình thức gia đình rất đa dạng. Khái niệm này khá tƣơng đồng vớiquy định tại khoản 2 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014.Mặc dù chƣa có một khái niệm chung về gia đình nhƣng các nhà xã hội họcđều ghi nhận gia đình là một nhóm xã hội nhỏ, trong đó các thành viên có quan hệquan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hay quan hệ nuôi dƣỡng, cùng chung sống.Bởi tính đa dạng của gia đình mà làm cho bất cứ một khái niệm nào về gia đìnhcũng trở nên lỏng lẻo, điều này đã tạo nên nhiều tranh luận giữa các nhà khoa học,nó đã và đang thách thức các nhà xã hội học đƣa ra một khái niệm về gia đình.Xã hội học coi gia đình là một thể chế xã hội luôn vận động và phát triển. Vìgia đình là một thể chế nên mỗi con ngƣời từ khi sinh ra đã đặt vào những quan hệnhất định. Gia đình là một cơ thể sống, nằm trong quá trình phát triển khôngngừng, gắn với sự phát triển chung của xã hội. Khi xã hội phát triển, sự phân chialao động càng đƣợc đẩy mạnh, gắn liền với quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóasẽ dẫn đến sự xé nhỏ gia đình, từ gia đình lớn trong đó có nhiều thế hệ chuyển sanggia đình nhỏ chỉ có bố mẹ và con cái. Sự phát triển từ gia đình gia trƣởng sang giađình hạt nhân trở thành một quá trình có tính quy luật.Nhìn chung thì các nhà xã hội học vẫn nhìn nhận gia đình là một thiết chế xãhội gồm những ngƣời dựa trên ba mối quan hệ truyền thống là quan hệ hôn nhân,15quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dƣỡng mà chƣa có nhà xã hội học nào mởrộng ba mối quan hệ trên khi nghiên cứu về gia đình.1.1.3. Gia đình theo quan điểm luật họcLuật học nhìn nhận gia đình là sự liên kết của nhiều ngƣời có quan hệ vớinhau do có quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dƣỡng.
Xem thêm

Đọc thêm

TIỂU LUẬN: Luật hôn nhân và gia đình

TIỂU LUẬN: LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Môn Pháp luật đại cương: Tiểu luận về đề tài luật hôn nhân vè gia đình 1. Lý luận về hôn nhâ n và gia đình 2. Kết hôn và việc hủy kết hôn 3. Quan hệ giữa vợ và chồng 4. Quan hệ pháp luật giữa cha mẹ và các con và giữa các thành viên trong gai đình 5. Chấm dứt ly hôn 6. Cấp dưỡng 7. Quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài

17 Đọc thêm

Đánh giá chế định xác định cha, mẹ, con theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

Đánh giá chế định xác định cha, mẹ, con theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

Hiện nay, việc quan tâm, chăm sóc và bảo vệ trẻ em được coi là nhiệm vụ trọng tâm trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và Nhà nước ta. Trẻ em sẽ được phát triển một cách tốt nhất cả về mặt vật chất và tinh thần trong một môi trường gia đình tốt, có đầy đủ cha, mẹ. Quyền làm cha, làm mẹ và quyền làm con là những quyền thiêng liêng, vì vậy mà việc xác định cha, mẹ, con nhằm xác định thân phận và quan hệ huyết thống giữa các chủ thể là việc làm hết sức quan trọng, góp phần ổn định các mối quan hệ trong gia đình và ngoài xã hội. Tuy nhiên, trong đời sống xã hội hiện nay, do sự hội nhập kinh tế và văn hóa toàn cầu, nên đã nảy sinh nhiều mặt trái của xã hội, trong đó có hiện tượng nam nữ quan hệ tình dục trước hôn nhân, nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng hay “sống thử” , dẫn đến các trường hợp trẻ em được sinh ra nhưng không biết cha, mẹ đẻ là ai, hoặc bị chính cha, mẹ đẻ chối bỏ, không công nhận. Do vậy nhóm em xin được chọn đề tài “Đánh giá chế định xác định cha, mẹ, con theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014” cho bài tập nhóm.
Xem thêm

Đọc thêm

GDCD 10 ( Công dân với tình yêu , hôn nhân và gia đình )

GDCD 10 ( CÔNG DÂN VỚI TÌNH YÊU , HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH )

Với chủ đề Công dân với tình yêu , hôn nhân và gia đình đưa chúng ta đến với một tình yêu chân chính , hạnh phúc . Và biết được những luật hôn nhân của nước ta quy định .1. Về kiến thức : Hiểu được thế nào là tình yêu ? thế nào là tình yêu chân chính , hôn nhân và gia đình . Biết về đặt trưng tốt đẹp của chế độ hôn nhân nước ta hiện nay Nêu chức năng cơ bản của gia đình2. Về kĩ năng : Biết nhận xét , đánh giá những quan niệm sai lầm về tình yêu Thực hiện tốt trách nhiệm của bản thân trong gia đình3 . Về thái độ : Yêu quý gia đình Ủng hộ về quan niệm đúng đắn về tình yêu , hôn nhân và gia đình. :( :) <3
Xem thêm

14 Đọc thêm

NGUYÊN TẮC HÔN NHÂN MỘT VỢ MỘT CHỒNG VÀ VIỆC THỰC HIỆN TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

NGUYÊN TẮC HÔN NHÂN MỘT VỢ MỘT CHỒNG VÀ VIỆC THỰC HIỆN TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng và việc thực hiện trong đời sống xã hội Chuyên mục Bài tập học kỳ, Luật Hôn nhân và gia đình Bài tập học kỳ Luật Hôn nhân và gia đình. Hiện nay, ở Việt Nam, nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng được xem là nguyên tắc cơ bản của pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam. Hôn nhân một vợ một chồng xuất hiện trong xã hội dân chủ, nam nữ bình quyền, xã hội dân chủ xuất hiện từ thời kỳ cận đại. Vì vậy, em đã tập trung nghiên cứu đề tài “Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng và việc thực hiện trong đời sống xã hội” cho bài tập lớn của mình. I. Những lý luận cơ bản về nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hình thành và phát triển nguyên tắc của luật hôn nhân và gia đình a) Quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin về hôn nhân và gia đình – cơ sở lý luận của việc hình thành và phát triển nguyên tắc của Luật hôn nhân và gia đình VN Chủ nghĩa Mác Lê nin nhìn nhận hôn nhân và gia đình là những hiện tượng xã hội có quá trình phát sinh, phát triển, do các điều kiện kinh tế xã hội quyết định. Trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước”, Mác và Enghen đã phân tích: lịch sử gia đình là lịch sử của quá trình xuất hiện chế độ quần hôn, chuyển sang gia đình đối ngẫu, phát triển lên gia đình một vợ một chồng là quá trình không ngừng hoàn thiện hình thức gia đình, trên cơ sở sự phát triển của các điều kiện sinh hoạt vật chất của con người. Mác và Enghen đã chỉ ra cho chúng ta thấy rằng, hình thức hôn nhân một vợ một chồng ra đời trên cơ sở sự xuất hiện chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và những tài sản khác trong xã hội. Được củng cố bởi chính sách, pháp luật của giai cấp thống trị bóc lột, ngay từ khi mới ra đời, chế độ hôn nhân một vợ một chồng đó đã bộc lộ tính giả dối và tiêu cực đối với số đông những người dân lao động. Chế độ một vợ một chồng ở những thời kỳ này thể hiện công khai quyền gia trưởng của người chồng, người cha trong gia đình. Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng sâu sắc và triệt để nhất. Về vấn đề này, Enghen đã khẳng định: “Chế độ đó chẳng những sẽ không biến đi, mà trái lại, chỉ có bắt đầu từ lúc đó, nó mới được thực hiện trọn vẹn. Thật vậy, các tư liệu sản xuất mà được chuyển thành tài sản xã hội thì chế độ lao động làm thuê, giai cấp vô sản cũng sẽ biến mất, và đồng thời cũng sẽ không còn tình trạng một số phụ nữ con số này có thể thống kê được cần thiết phải bán mình vì đồng tiền nữa. Tệ mại dâm sẽ mất đi và chế độ một vơ một chồng không những suy tàn, mà cuối cùng lại còn trở thành hiện thực, ngay cả đối với đàn ông nữa”. Lúc này, hôn nhân mới có điều kiện thể hiện đúng bản chất của nó là hôn nhân một vợ một chồng đích thực, phát sinh và tồn tại trên cơ sở tình yêu chân chính giữa nam và nữ, bình đẳng nhằm xây dựng gia đình để cùng nhau thỏa mãn nhu cầu về tinh thần và vật chất. b) Quan điểm, đường lối của Đảng về hôn nhân và gia đình – nền tảng của nguyên tắc của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam Ở Việt nam, Xuất phát từ cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về hôn nhân và gia đình tiến bộ, những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình xã hội chủ nghĩa được hình thành trong hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa trước đây và nó trở thành nền tảng của mọi chế độ hôn nhân và gia đình tiến bộ. Ở nước ta, trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, nhiệm vụ, mục tiêu được đặt ra là phải xóa bỏ tận gốc rễ những tàn dư, hủ tục lạc hậu do chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến để lại, chống lại những ảnh hưởng tiêu cực của hôn nhân và gia đình tư sản, đồng thời xây dựng những quan hệ hôn nhân và gia đình mới xã hội chủ nghĩa. Trong những giai đoạn khác nhau, Đảng và nhà nước có những chủ trương, chính sách về hôn nhân và gia đình phù hợp, nhằm tập trung thực hiện những nhiệm vụ và mục tiêu nói trên. 2. Khái quát chung về nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng a) Khát quát chung về gia đình một vợ một chồng Hôn nhân đối ngẫu không phải hôn nhân một vợ một chồng. Hôn nhân một vợ một chồng là hôn nhân mới trong lịch sử đặc trưng cho một chế độ xã hội khác. Chế độ một vợ một chồng “không phải kết quả giữa tình yêu trai gái…Gia đình cá thể là hình thức gia đình đầu tiên không căn cứ vào các điều kiện tự nhiên mà căn cứ vào các điều kiện kinh tế, vào sự thằng lợi của chế độ tư hữu đối với chế độ công hữu lúc ban đầu, được hình thành một cách tự phát”. Hôn nhân và gia đình của chế độ một vợ một chồng mà đầu tiên là gia đình cá thể và các biến thể của nó trong các xã hội có giai cấp đối kháng( chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản) không phải là sự liên kết trên cơ sở tình cảm mà dựa trên cơ sở tài sản. Chỉ có trong các giai cấp bị áp bức, bởi vậy chỉ có trong giai cấp vô sản thì thì tình yêu nam nữ mới trở thành một quy tắc trong cá quan hệ đối với người phụ nữ. b) Bản chất của nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng Cùng với sự phát triển của xã hội, các hình thái gia đình cũng phát triển từ thấp đến cao, từ hình thái gia đình huyết tộc, gia đình Punaluan, sang hôn nhân đối ngẫu và cuối cùng là hôn nhân một vợ một chồng. Trong đó, chế độ hôn nhân một vợ một chồng được coi là hình thái gia đình tiến bộ. Trong xã hội chiếm hữu nô lệ, khi mà chế độ mẫu quyền thay bằng chế độ phụ quyền, người mẹ không còn vai trò như trước thì một vợ một chồng chỉ đặt ra với người vợ chứ không đặt ra với người chồng, chế độ hôn nhân một vợ một chồng hoàn toàn mâu thuẫn và giả tạo. Đến xã hội phong kiến, vị trí gia trưởng của người chồng trong gia đình ngày càng được củng cố một cách vững chắc. Một vợ một chồng có chăng chỉ về phía đàn bà, pháp luật vẫn cho phép người đàn ông được phép lấy nhiều vợ. Điều này thể hiện sự bất bình đẳng giữa vợ và chồng trong quan hệ hôn nhân trong thời kỳ phong kiến và gây nên nhiều đau khổ cho người phụ nữ. Đến Nhà nước tư bản, lần đầu tiên nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng đã được thừa nhận trong các văn bản pháp luật. Chế độ đa thê đã bị bãi bỏ thay vào đó là hình thái hôn nhân một vợ một chồng ở cả hai phía, cả người vợ và người chồng, nhưng xét về bản chất “hôn nhân của giai cấp tư sản thật ra là chế độ cộng thê”, trên thực tế “nguyên tắc đó đã bị phá vỡ do tệ nạn ngoại tình và mại dâm công khai”. Ngay trong xã hội tư bản, hôn nhân một vợ một chồng tồn tại cũng chưa thực sự đúng với bản chất của nó Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, hôn nhân một vợ một chồng không hề mất đi mà trái lại nó thực sự tồn tại một cách đầy đủ nhất, “một vợ một chồng theo nghĩa giữ nguyên, chứ tuyệt nhiên không phải theo nghĩa lịch sử của danh từ”. Chế độ một vợ một chồng được ghi nhận trong pháp luật nước ta có bản chất khác với chế độ một vợ một chồng cổ điển, lúc mà nó vừa ra đời và tồn tại trong các chế độ xã hội có giai cấp đối kháng. Dưới xã hội chủ nghĩa hôn nhân một vợ một chồng được tồn tại như bản chất vốn có của nó, tức là lấy tình yêu chân chính giữa nam và nữ làm cơ sở và mục đích xây dựng gia đình hạnh phúc, dân chủ, hòa thuận, bền vững. Trong gia đình, quyền bình đẳng giữa nam và nữ, giữa vợ và chồng phải được tôn trọng  Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng ở Việt Nam Với quyết tâm của Đảng và Nhà nước ta là xây dựng gia đình hạnh phúc bền vững trên cơ sở tôn trọng quyền bình đẳng giữa nam và nữ, xóa bỏ hoàn toàn chế độ đa thể, nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng đã trở thành nguyên tắc quan trọng được ghi nhận trong các bản Hiến pháp của nước ta và được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật HNGĐ, từ luật HNGĐ năm 1959, luật HNGĐ năm 1986 đến luật HNGĐ năm 2000. Tại khoản 1 – điều 2 luật HNGĐ năm 2015 ghi nhận: “Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng” là nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân gia đình. Về bản chất, nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng có nghĩa trong thời kỳ hôn nhân chỉ tồn tại một quan hệ hôn nhân hợp pháp và là quan hệ hôn nhân duy nhất. Theo nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng thì chỉ những người chưa có vợ, chưa có chồng hoặc tuy đã kết hôn nhưng hôn nhân đó đã chấm dứt (vợ hoặc chồng họ đã chết hoặc vợ chồng đã ly hôn) thì mới có quyền kết hôn với người khác. Việc kết hôn của họ phải với những người đang không có vợ hoặc đang không có chồng, đó là những người thuộc trường hợp nêu tại Mục 1 điểm c.1 Nghị quyết 022000NQHĐTP. Bản chất của hôn nhân tự nguyện trên cơ sở tình yêu nam nữ là hôn nhân một vợ một chồng. Mặt khác, chế độ một vợ một chồngđảm abro tình yêu giữa họ thực sự bền vững, duy trì và củng cố hạnh phúc gia đình. Hôn nhân một vợ một chồng là điều quan trọng làm cho cuộc sống chung vợ chồng lâu dài, bền vững và thực sự hạnh phúc. II. Quá trình hình thành và phát triển của nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng ở Việt Nam qua các thời kỳ 1. Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng trước khi có Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 Để điều chỉnh những quan hệ hôn nhân và gia đình, Nhà nước non trẻ của chúng ta đã dựa vào các quy định trong các văn bản pháp luật của chế độ cũ còn phù hợp với quan điểm, chính sách của Đảng và quy định của Hiến pháp 1946. Đến năm 1950, những nguyên tắc của pháp luật hôn nhân và gai đình được thể hiện rõ ràng trong Sắc lệnh số 97SL ngày 2251950 và Sắc lệnh số 159SL ngày 17111950. Thời kỳ này, pháp luật hôn nhân và gia đình vẫn còn trong giai đoạn sơ khai, với một số ít quy phạm pháp luật. Các văn bản pháp luật hôn nhân và gia đình chưa có sự phân định những quy định chung và những quy định cụ thể, nhưng thông qua những quy định cụ thể này, chúng ta có thể thấy pháp luật đã quán triệt những nguyên tắc: Nguyên tắc hôn nhân tự do, tự nguyện Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người phụ nữ. Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của con cái. Ở đây chưa đề cập đến nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng nhưng đã bao hàm được những tư tưởng dân chủ tiến bộ của chế độ hôn nhân và gia đình mới do Đảng và Nhà nước ta xây dựng. 2. Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng sau khi có Luật hôn nhân và gia đình năm 1959  Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 Năm 1954, Mỹ xâm lược nước ta. Đất nước ta tạm thời bị chia cắt ra làm hai miền với hai chế độ chính trị xã hội khác nhau. Trong khi nhân dân miền Nam tiếp tục đấu tranh chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, quân dân miền Bắc quyết tâm xây dựng chủ nghĩa xã hội làm hậu phương vững chắc cho miền Nam. Ở miền Bắc công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa đã tạo điều kiện cho hôn nhân và gia đình, nhưng ở miền Nam vẫn còn nhiều tư tưởng lạc hậu. Xuất phát từ thực tế đó, Luật hôn nhân và gia đình cần phải thực hiện mục đích là xây dựng những gia đình dân chủ hòa thuận, hạnh phúc, trong đó, mọi người đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, xóa bỏ những tàn tích còn lại của chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến cưỡng ép, trọng nam khinh nữ, coi rẻ quyền lợi của con cái. Luật hôn nhân và gia đình 1959 đã được xây dựng trên cơ sở bốn nguyên tắc cơ bản sau đây: Nguyên tắc hôn nhân tự do và tiến bộ Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng Nguyên tắc nam nữ bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong gia đình Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của con cái. Nhằm thực hiện chế độ hôn nhân và gia đình mới, Luật hôn nhân và gia đình 1959 đã quy định nguyên tắc mới: nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng. Trước đây, mặc dù đã xác định được nhiệm vụ là xóa bỏ những tư tưởng lạc hậu, phản dân chủ của pháp luật hôn nhân và gia đình phong kiến, nhưng Nhà nước ta chưa có quy định về việc thực hiện chế độ hôn nhân một vợ một chồng. Đây là một hạn chế của pháp luật thời kỳ trước đó. Việc Luật hôn nhân và gia đình 1959 quy định nguyên tắc một vợ một chồng bảo đảm cho hạnh phúc gia đình bền vững, đồng thời phù hợp với đạo đức xã hội chủ nghĩa. Nguyên tắc này còn được thể hiện trong quy định về điều kiện kết hôn “cấm người đang có vợ, có chồng kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác…” (Điều 5, Luật Hôn nhân gia đình 2015)  Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 Khi xây dựng Luật hôn nhân và gia đình 1986, nhà lập pháp đã có sự phân định nhóm những quy định chung và nhóm các quy định chuyên biệt. Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng được quy định trong Chương I (những quy định chung) trong Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 đã được kế thừa phát triển nguyên tắc này của Luật hôn nhân và gia đình 1959, Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 đã bổ sung thêm những nội dung của nguyên tắc này cho đầy đủ. Ví dụ: trong nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng, nếu như Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 chủ yếu quy định “cấm người đang có vợ, có chồng kết hôn với người khác” thì Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 quy định đầy đủ hơn “cấm người đang có vợ, có chồng kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác”  Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Kế thừa và phát triển những nguyên tắc của Luật hôn nhân và gia đình 1986, Luật hôn nhân và gia đình 2000 tiếp tục thực hiện những nguyên tắc của Luật cũ còn phù hợp, nhưng có sự sắp xếp lại cho khoa học hơn, đồng thời bổ sung một số nội dung mới làm cơ sở cho việc thực hiện và bảo vệ các quan hệ hôn nhân và gia đình đầy đủ cùng với sự vận động của các quan hệ kinh tế xã hội, pháp luật hôn nhân và gia đình một bộ phận thuộc thượng tầng kiến trúc, không ngừng được hoàn thiện. Đó cũng là quá trình hoàn thiện những nguyên tắc cơ bản của luật hôn nhân và gia đình, trong đó có nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng, với tư cách là hệ tư tưởng chỉ đạo, từ chưa đầy đủ, chưa chuẩn xác đến sự đầy đủ và khoa học hơn, đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ của ngành luật hôn nhân và gia đình trong những giai đoạn mới của đất nước.  Luật Hôn nhân và gia đình 2015 Không có sự khác biệt quá nhiều so với Luật hôn nhân gia đình của những thời kỳ trước. Luật hôn nhân gia đình 2015 kế thừa và phát triển nguyên tắc một vợ một chồng. Quy định tại Điều 2 Luật hôn nhân và gia đình: “ Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng…” III. Thực tiễn áp dụng nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng ở Việt Nam 1. Thực tiễn áp dụng Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng còn bị vi phạm khá nghiêm trọng ở nhiều địa phương, đặc biệt có nhiều trường hợp một người đàn ông chung sống với rất nhiều vợ. Việc vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng đã gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng. Những khó khăn, vướng mặc trong việc đảm bảo tuân thủ những nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân và gia đình: Việc thực hiên nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng trong điều kiện hiện nay là rất khó khăn do việc thừa nhận quan hệ chung sống như vợ chồng của nam nữ có giá trị pháp lý như quan hệ vợ chồng. Theo luật hôn nhân và gia đình năm 2000, “hôn nhân thực tế” không được thừa nhận nữa, chúng ta vẫn phải chấp nhận sự tồn tại của những quan heẹ chung sống như vợ chồng đã xảy ra từ trước ngày 01012001. Theo Nghị quyết số 352000QH10, những trường hợp nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng từ ngày 03011987 đến trước ngày 01012001 mà có đủ điều kiện kết hôn trong thời hạn hai năm (tức là đến 01012003), nếu trước thời điểm này mà họ chưa đăng ký kết hôn thì họ vẫn được coi là vợ chồng của nhau. Vậy nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng cũng được điều chỉnh cả đối với trường hợp này. Nhưng hiện nay chúng ta chưa có được một cơ chế kiểm soát những đối tượng này. Cho nên nhiều Ủy ban nhân dân cấp xã đã tiến hành đăng ký kết hôn cho những người đang có vợ, có chồng (do không thể biết được là họ đang có vợ, có chồng vì việc chung sống như vợ chồng của họ không được ghi vào sổ hộ tịch). Vậy là nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng bị vi phạm do ngay chính cơ chế mà chúng ta tạo ra. Tình hình đó đặt ra yêu cầu phải có những biện pháp phòng ngừa. 2. Giải quyết các trường hợp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng theo luật 2015 a) Người đang có quan hệ hôn nhân hợp pháp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng  Người đang có vợ, đang có chồng mà kết hôn với người khác Việc kết hôn của người đang có vợ, có chồng với người khác mặc dù có đăng ký kết hôn tại cơ quan đăng ký kết hôn nhưng đã vi phạm về điều kiện kết hôn (khoản 3 điều 8) và thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn giữa người đang có vợ, có chồng với người khác là kết hôn trái pháp luật, vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng và phải bị xử hủy. Tòa án là cơ quan có thẩm quyền xem xét và ra quyết định hủy kết hôn trái pháp luật trên cơ sở người có quyền yêu cầu theo quy định của pháp luật. Về nguyên tắc, Tòa án hủy kết hôn trái pháp luật với các trường hợp quy định tại khoản 1 điều 10. Khi Tòa án ra quyết định tuyên bố hủy kết hôn giữa người đang có vợ, có chồng với người khác thì quan hệ giữa hai bên sẽ không có giá trị pháp lý và không được coi là có quan hệ vợ chồng kể từ thời điểm kết hôn cho đến khi có yêu cầu Tòa án hủy theo khoản 1 điều 12. Đối với hôn nhân hợp pháp thì khi cảm thấy đời sống hôn nhân không thể duy trì được thì hai bên có thể yêu cầu tòa án cho ly hôn theo thủ tục chung. Về nguyên tắc, các trường hợp kết hôn vi phạm khoản 1 điều 10 thì Tòa giải quyết theo hướng hủy kết hôn trái pháp luật. Tuy nhiên, cần chú ý tới Nghị quyết 022000NQHĐTP tại mục 2 điểm d3: Khi một người đang có vợ, có chồng nhưng tình trang trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài mà đã kết hôn với người khác thì lần kết hôn sau là kết hôn trái pháp luật, thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 điều 5, vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng. Các giai đoạn về sau có thể tuân theo chế định kết hôn – ly hôn theo luật định. TH cán bộ, bộ đội ở miền Nam đã có vợ, có chồng ở miền Nam tập kết ra Bắc lấy vợ hoặc lấy chồng ở miền Bắc. Theo Thông tu 60DSTAND trường hợp này là ngoại lệ. Sở dĩ quy định như vậy là do thời kỳ chiến tranh khốc liệt, đất nước bị chia cắt làm đôi nên nhu cầu tình cảm trong việc xác lập hôn nhân mới là chính đáng, pháp luật vẫn thừa nhận cả hai quan hệ hôn nhân mà không nhất thiết phải xử hủy hôn nhân sau, nhằm đảm bảo quyền lợi chính đang của các bên trong hoàn cảnh đất nước chiến tranh.  Người đang có vợ, có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác Việc chung sống như vợ chồng với người đang có vợ hoặc có chồng có thể được gia đình chấp thuận hoặc không chấp thuận; có thể tố chức lễ cưới hay không tổ chức. Hai bên chung sống với nhau có thể công khai, được hàng xóm coi như vợ chồng và có con chung, có tài sản chung hoặc không có tính chất công khai mà lén lút, nên những người xung quanh không phát hiện ra. Việc người đang có vợ hoặc đang có chồng chung sống như vợ chồng với người khác là chung sống trái pháp luật, vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng, xâm phạm đến quan hệ hôn nhân hợp pháp được nhà nước bảo hộ theo điều 2,5. Khi giải quyết các trường hợp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng, Tòa án không thể xử hủy quan hệ chung song trái pháp luật vì họ chỉ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, nên quan hệ của họ không phải là kết hôn trái pháp luật. Tòa án có thể ra quyết định không công nhân quan hệ giữa người đang có vợ, có chồng với người thứ ba là quan hệ vợ chồng và yêu cầu hai bên chấm dứt hành vi chung sống như vợ chồng. b) Nam nữ sống chung như vợ chồng được coi là quan hệ vợ chồng nhưng vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng Xem xét ở yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan. Mặt khách quan, họ chung sống với nhau công khai, cùng gánh vác nghĩa vụ và trách nhiệm, quyền đối với nhau, được họ hàng và xã hội thừa nhận. Mặt chủ quan, hai bên chung sống dựa trên cơ sở tình yêu thường. Cơ sở pháp lý: việc chung sống được điều chỉnh theo Nghị quyết 352000NQQH10 và TTLT 012001. Theo khoản 3 Nghị quyết 25 và khoản 2 TTLT 01 thì các trường hợp chung sống được công nhận là có quan hệ vợ chồng được phân biệt bởi hai mốc thời gian:  Nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03011987 ngày luật năm 1986 có hiệu lực, mà chưa đăng ký kết hôn và hiện vẫn đang chung sống với nhau như vợ chồng, chưa đăng ký kết hôn và hiện vẫn đang chung sống với nhau như vợ chồng Trong trường hợp này, việc đăng ký kết hôn được nhà nước khuyến khích,không bắt buộc và không bị hạn chế về mặt thời gian. Cho dù nam, nữ có đăng ký kết hôn hay không thì vẫn được công nhận là quan hệ hôn nhân hợp pháp bởi trên thực tế họ đã vào tuổi ông, bà (điều 1, 2 NĐ 772001NĐCP). Và quan hệ vợ chồng của họ được pháp luật công nhân kể từ ngày xác lập (ngày họ chung sống với nhau như vợ chồng), chứ không phải là chỉ được công nhân kể từ ngày đăng ký kết hôn Tuy nhiên, theo Nghị quyết 35200NQQH10 không quy định rõ về điều kiện kết hôn mà các bên nam nữ sống chung như vợ chông phải tuân thủ. Nếu các bên nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03011987 mà có quan hệ huyết thống trong phạm vi ba đời hoặc đã từng có quan hệ thích thuộc trực hệ thì có được coi là quan hệ hôn nhân hợp pháp không? Mặc dù được pháp luật cho phép nhưng tại thời điểm hiện tại một bên kết hôn với người khác phát sinh tranh chấp thì giải quyết như thế nào? Nếu công nhận quan hệ chung sống như vợ chồng tại thời điểm đó thì người có quan hệ hệ huyết thống hoặc đã từng có quan hệ thích thuộc trực hệ là hợp pháp thì việc kết hôn của một trong hai bên sau là trái pháp luật, vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng. Còn nếu không công nhận quan hệ chung sống như vợ chồng giữa những người trên là hợp pháp thì đương nhiên việc kết hôn sau không vị phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng và được pháp luật công nhận. Như vậy, pháp luật cần có những quy định cụ thể về vấn đề này để giải quyết được thống nhất  Nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03011987 trở đi đến trước ngày 01012001 mà có đủ điều kiện kết hôn nhưng chưa đăng ký kết hôn và đang chung sống với nhau như vợ chồng. Theo TTLT 01 nam nữ chung sống với nhau được coi là có giá trị pháp lý khi họ thỏa mãn các điều kiện: Đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại điều 9 và điều 10 và thuộc các trường hợp: có tổ chức lễ cưới, việc chung sống được gia đình chấp nhận, việc chung sống được người khác tổ chức chứng kiến, họ thực sự chung sống với nhau, giúp đỡ, chăm sóc nhau xây dựng gia đình chung. Thời điểm nam nữ bắt đầu trước ngày 01012001 ngày luật 2000 có hiệu lực và hiện họ vẫn chung sống với nhau như vợ chồng, quy định tại điểm d khoản 2 điều 30 Đăng ký kết hôn trong thời hạn 2 năm kể từ này Luật 1986 có hiệu lực đến ngày 112003 Khác với trường hợp đương nhiên xác lập quan hệ vợ chồng trước ngày 03011987, trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 311987 đến ngày 112003 vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đăng ký kết hôn thì mới được công nhận là có quan hệ vợ chồng. Theo điểm b Mục 3 Nghị quyết 35 hai bên nam nữ phải đăng ký kết hôn trong khoảng thời gian hai năm kể từ ngày 01012001 cho đến ngày 01012003. Ngoài ra, theo Chỉ thị 022003CTBTP trường hợp nam, nữ chung sống như vợ chồng đã được rà soát lập danh sách để đăng ký kết hôn, nhưng không đăng ký kịp trong khoảng thời gian 2 năm từ ngày 01012001 đến trước 01012003 thì sẽ được gia hạn đăng ký kết hôn đến trước ngày 01082004. Như vậy trong thời hạn các ben có nghĩa vụ đăng ký kết hôn, tức là trước ngày 01032003 một số trường hợp trước ngày 182004. Nhà nước vẫn thừa nhận việc nam nữ chung sống như vợ chồng là có quan hệ vợ chồng đối với những trường hợp chưa đăng ký kết hôn. Đây là cách giải quyết linh động nhằm đảm bảo được quyền lợi của hai bên. Nếu hết thời hạn luật định mà nam, nữ chung sống với nhau vẫn không đăng ký kết hôn thì pháp luật sẽ không công nhận họ là vợ chồng. Theo quy định của luật, người đang chung sống như vợ chồng được coi là có quan hệ vợ chồng, vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng khi họ kết hôn hoặc lại chung sống như vợ chồng với người thứ ba. Bởi, mặc dù trong quan hệ đầu tiền, giữa nam và nữ chỉ chung sống như vợ chồng không có đăng ký kết hôn, nhưng nó đã thỏa mãn các yếu tố của một cuộc hôn nhân, được pháp luật công nhận và bảo hộ như các quan hệ vợ chồng pháp luật khác. Vì thế, giữa nam và nữ chung sống như vợ chồng được coi là có quan hệ vợ chồng nên cũng có những quyền và nghĩa vụ của vợ chồng với nhau, nên phải tuân tủ nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng. Do đó, khi một người đang chung sống như vợ chồng được nhà nước thừa nhận có quan hệ vợ chồng, mà kết hôn với người khác thì lần kết hôn đó là vi phạm điều kiện kết hôn, vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng, và bị coi là kết hôn trái pháp luật. Lần kết hôn sau của người đang chung sống như vợ chồng được thừa nhận là có quan hệ vợ chồng sẽ bị tòa án tuyên bố hủy. IV. Thực tiễn giải quyết và một số bất cập 1. Thực tiễn giải quyết Ở nước ta, nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng là một nguyên tắc hiến định và dần trở thành nguyên tắc của cuộc sống gia đình, là nền tảng để xây dựng một xã hội văn minh, phát triển bền vững. Tuy nhiên trong thực tế, tình trạng ngoại tình, nam nữ chung sống như vợ chồng ngày càng phổ biến ở nhiều địa phương, nhất là các thành phố lớn. Việc giải quyết các trường hợp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng trong thực tế có nhiều vấn đề còn tồn tại. Cụ thể: Thứ nhất, các trường hợp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng xảy ra trong thực tế rất nhiều, trong khi các vụ việc được giải quyết trước pháp luật là rât nhỏ, thông thường các bên tự thỏa thuận giải quyết cho hành vi vi phạm, các bên vẫn tiếp tục chung sống với nhau Thứ hai, khi người có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định hủy kết hôn trái pháp luật hoặc không công nhận quan hệ vợ chồng đối với một quan hệ nam nữ. Tòa án không ra quyết định đó ngay mà sẽ tiến hành điều tra xem quan hệ nam nữ đó có dấu hiệu vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng. Do tính chất của quan hệ vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng là quan hệ riêng tư, mang tính tình cảm, cá nhân nên các quan hệ này thường ít bộc lộ ra bên ngoài. Không những thế, các đương sự thường có tâm lý muốn che đậy, giấu diếm phần vì họ ngại dư luận xã hội, muốn giữ cho gia đình yên ấm, con cái hòa thuận, phần vì “xấu chàng hổ ai..” Thứ ba, hiện nay, tình trạng nam nữ chung sống với nhau mà không có đăng ký kết hôn diễn ra ngày càng phổ biến, được coi là bình thường, nhất là ở các thành phố lớn. Đặc biệt ở các vùng núi, vùng dân tộc ít người tình trạng nam nữ chung sống như vợ chồng xuất hiện ngày càng diễn biến phức tạp, khó kiểm soát. Các trường hợp vi phạm không có chiều hướng giảm mà ngày càng tăng xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó một phần là do hoàn cảnh xã hội. Thứ tư, một thực tế cho thấy là hiện nay có quan hệ hôn nhân hợp pháp vẫn ngang nhiên có quan hệ ngoài hôn nhân. Vì thế, làm cho người còn lại trong quan hệ hôn nhân hợp pháp cảm thấy căng thẳng, đời sống vợ chồng không thể tiếp tục, nên chính họ người không vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng lại đâm đơn yêu cầu ly hôn. Chính điều này đã giải thoát cho người vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng tiếp tục được thực hiện hành vi vi phạm, thậm chí hợp lý hóa quan hệ pháp luật của mình theo quy định tại Nghị quyết 022000NQHĐTP 2. Những bất cập trong việc giải quyết các trường hợp vi phạm Mặc dù có nhiều văn bản hướng dẫn khá cụ thể nhưng thực tế vẫn còn bất cập a) Về mặt lý luận Trong quá trình giải quyết các vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng còn nhiều trường hợp các văn bản pháp luật chưa có hướng dẫn cụ thể việc giải quyết tận cùng vấn đề. Cụ thể: Thứ nhất, theo nghị quyết 352000QH10, trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03011987 thì được nhà nước công nhận là có quan hệ vợ chồng, không phụ thuộc vào việc có đăng ký hay không. Như vậy, nghị quyết chỉ căn cứ vào mốc thời gain các bên bắt đầu chung sống như vợ chồng là có quan hệ vợ chồng hay không. Điều này là không chặt chẽ và không đúng trong trường hợp nam nữ chung sống với nhau là người có cùng dòng máu về trực hệ, có họ trong phạm vi ba đời hoặc giữa họ đã từng có quan hệ thích thuộc về trực hệ. Do nghị quyết 35 không quy định rõ vấn đề này, nên việc áp dụng có công nhận hay không việc chung sống này giữa những người có quan hệ huyết thống trong phạm vi ba đời hoặc đã từng có quan hệ thích thuộc về trực hệ là có quan hệ vợ chồng trong thực tế là khác nhau. Nam nữ có quan hệ huyết thống trong phạm vi có họ ba đời là quan hệ giữa cha mẹ với con cái; ông bà với các cháu; anh, chị em cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; bác ruột, chú ruột, cậu ruột với cháu gái; cô ruột, dì ruột với cháu triai; anh, chị em con chú con bác con cô con câu con dì. Theo khoản d điều 7 luật 1986 quy định: “cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ hoặc cung mẹ khác cha; giữa những người khác có họ trong phạm vi ba đời”. Đến luật năm 2000 quy định tại khoản 3 điều 10. Đối với quan hệ thích thuộc về trục hệ, Luật 2000 quy định tại khoản 4 điều 10. Nhận thấy khi pháp luật quy định các trường hợp cấm tức là đã cân nhắc kỹ lưỡng tác hại của hành vi đó đến đời sống xã hội nếu không cấm. Việc cấm kết hôn trong các trường hợp này đảm bảo lợi ích gia đình, làm lành mạnh các mối quan hệ trong gia đình; phòng ngừa các hành vi vi phạm tội hình sự có thể xảy ra; giữ gìn được các trật tự kỷ cương, tiến bộ của xã hội và phù hợp với đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc. Đối với trường hợp giữa những người có cùng dòng máu về trực hệ, có họ trong phạm vi ba đời, chung sống như vợ chồng từ trước ngày 131987 không được chấp nhận là có quan hệ vợ chồng. Bởi vào thời điểm họ bắt đầu chung sống pháp luật đã quy định cấm người có họ quan hệ huyết thống với nhau, họ nhận thức được điều này nhưng vẫn cố tình vi phạm. Việc chung sống này có tính chất loạn luận, ảnh hưởng trực tiếp đến giống nòi sau này. Việc không công nhận ở đây là đảm bảo quá trình áp dụng pháp luật. Nhưng pháp luật cũng cần quy định chặt chẽ hơn vấn đề này để việc áp dụng pháp luật giải quyết các trường hợp này trong thực tế được thống nhất Thứ hai, theo hướng dẫn tại Nghị quyết 022000NQHĐTP mục 2 điểm d3, trường hợp một người đang có vợ, có chồng nhưng tình trạng trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được mà đã kết hôn với người khác. Khi tòa án tiến hành xét xử kết hôn trái pháp luật mà họ đã ly hôn với vợ hoặc chồng của lần trước kết hôn thì Tòa án không hủy kết hôn sau, là hôn nhân hợp pháp. Quy định này hoàn toàn hợp lý khi tính đến thực chất quan hệ tình cảm của hai người kết hôn trái pháp luật. Tuy nhiên trong thực tế, việc xác định thế nào là “đời sống vợ chồng trầm trọng, hôn nhân không thể kéo dài” là việc xác định khoảng thời gian vợ chồng mâu thuẫn là rất khó khăn và tế nhị. Đây là một kẽ hở của pháp luật, cố tình kết hôn trái pháp luật sau đó lại hợp lý hóa quan hệ trái pháp luật đó bằng việc cho rằng quan hệ hôn nhân trước không hạnh phúc. Vì thế pháp luật cần quy định chặt chẽ hơn vấn đề này để việc áp dụng các quy định để giải quyết vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng giữa các tò a được thống nhất. b) Về mặt thực tiễn Thứ nhất, liên quan đến việc xác định tình trạng hôn nhân của UBND cấp cơ sở còn nhiều sai sót, lơ mơ, xác nhận không chính xác đã kéo theo hệ lụy phát sinh các trường hợp kết hôn trái pháp luật, vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng. Căn cứ nghị định 1582005NĐCP khi tiến hành đăng ký kết hôn các bên phải xác nhận tình trạng hôn nhân của mình. Trường hợp một người cư trú ở xã phường thị trấn này nhưng đăng ký kết hôn ở xã, phường thị trấn khác thì phải có xác nhận của UBND này nhưng đăng ký kết hôn ở UBND xã, phường thị trấn khác thì phải có xác nhận của UBND cấp xã nơi cư trú về tình trạng hôn nhân của người đó. Tuy nhiên qua kiểm tra cho thấy, có nhiều hồ sơ một trong các bên không tiến hành xác nhận tình trạng hôn nhân theo luật định, hoặc có xác nhận tình trạng hôn nhân nhưng đã quá hạn 6 tháng. Lẽ ra, trong trường hựp này phải yêu cầu xác nhận lại tình trạng hôn nhân nhưng cán bộ hộ tịch cơ sở đốt cháy giai đoạn vẫn giải quyết cho đương sự đăng ký kết hôn, điều này không đúng. Trong khi đó, nhiều UBND xã xác nhận tình trạng hôn nhân của đương sự không đầy đủ, “lấp lửng”, hiểu sao cũng được, thậm chí là xác nhận không chính xác. Thứ hai, liên quan đến việc xác nhận các bên đăng ký kết hôn có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật, cụ thể là họ có quan hệ huyết thống trong phạm vi ba đời hay đã từng có quan hệ thích thuộc trực hệ hay không. Thông thường khi đăng ký kết hôn, hai bên nam nữ phải nộp tờ khải theo mẫu quy định và xuất trình chứng minh thư, nhưng những thủ tục trên không đủ chứng mình là giữa họ không có họ trong phạm vi ba đời hoặc chưa từng có quan hệ thích thuộc về trực hệ với nhau. Bởi việc xác định các mối quan hệ giữa cá nhân với nhua, đặc biệt là quan hệ giữa bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, con riêng của vợ hoặc chồng vời bố dượng, mẹ kế… trong thực tế là vấn đề mang tính tế nhị và phức tạp. Thứ ba, trong thực tiễn giải quyết các án kiện về hôn nhân ở các tòa án, đã chỉ ra một hiện tượng: việc hiểu và công nhận trường hợp nam nữ sống chung như vợ chồng là có quan hệ vợ chồng ở TAND các cấp là không thống nhất với nhau. Hai vụ việc với những tình tiết phản ánh mức độ chung sống như vợ chồng là giống nhau nhưng có Tòa lại công nhận là có quan hệ vợ chồng, có Tòa án lại không chấp nhận. Từ nhận định có khác nhau nên cách thức giải quyết của hai Tòa án về nội dung vụ việc là khác nhau Thứ tư, khi công cụ pháp lý bị lãng quên, tính khả thi của các hình thức xử lý vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng tỏng HNGĐ thực tế là chưa cao. V. Một số giải pháp khắc phục vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng ở nước ta hiện nay Thứ nhất, về mặt lý luận, tăng cường hoàn thiện các quy định pháp luật về việc giải quyết các trường hợp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng, để giải quyết các trường hợp vi phạm thực sự mang lại hiệu quả cao. Đối với trường hợp ngoại lệ, người đang có vợ, có chồng kết hôn với người khác và lần kết hôn sau được công nhận là hợp pháp theo NQ022000, cần có hướng dẫn cụ thể quan hệ vợ chồng đầu tiên thế nào là “đang trầm trọng, không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được”. Pháp luật cần chỉ rõ: trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng trước ngày 03011987 theo Nghị quyết 35 mà vi phạm một trong các điều kiện kết hôn như: giữa những người có quan hệ cùng dòng máu trực hệ, giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; người đang có vợ, đang có chồng chung sống với người khác… thì không thể công nhận có quan hệ vợ chồng. Để nâng cao hiệu quả của hoạt động xác nhận tình trạng nhân thân của các cá nhân trên địa bàn UBND xã quản lý, cán bộ hộ tịch cần tăng cường tuyên truyền, giải thích rõ cho hai bên nam, nữ hiểu trước khi đăng ký kết hôn rằng họ phải tuân thủ các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn. Đặc biệt, quy định cụ thể việc giải quyết các hậu quả pháp lý về tài sản, quyền nuôi con khi các quan hệ nam nữ chung sống chấm dứt. Tạo cơ sở pháp lý giải quyết các quan hệ tranh chấp liên quan đến việc xử lý các trường hợp vi phạm, tránh để những tranh chấp này kéo dài mà vẫn chưa được giải quyết. Nhà nước cần nghiên cứu và áp dụng chế tài xử lý các trường hợp vi phạm nguyên tắc chặt chẽ và kiên quyết hơn. Có như vậy, việc giải quyết các trường hợp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng mới thực sự thỏa đáng, răn đe và ngăn chặn các hành vi vi phạm trong tương lai. Từ đó nâng cao ý thức của người dân trong việc tôn trọng và tuân thủ. Thứ hai, xác định rõ trách nhiệm, tăng cường công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực HNGĐ, phối hợp với các cơ quan chức năng trong việc phát hiện và giải quyết vi phạm. Đồng thời cần thường xuyên kiểm tra, giám sát kịp thời phát hiện ra nhưng sai phạm trong quản lý hộ tịch, từ đó loại trừ dần các trường hợp kết hôn trái pháp luật do vi phạm nguyên tăc. Thứ ba, tăng cường vai trò của tổ chức, cá nhân trong việc tham gi vào việc khởi kiện, yêu cầu tòa án hủy kết hôn trái pháp luật, không công nhận quan hệ vợ chồng theo điều 15 để các trường hợp vi phạm kịp thời được phát hiện và xử lý đạt hiệu quả cao.. Thứ tư, nhằm đảm bảo tính khả thi trong các quyết định xử lý các trường hợp vi phạm, cần nâng cao ý thực của chính cặp vợ chồng trong hôn nhân hợp pháp, để họ tham gia phối hợp vào việc giám sát, nhắc nhở cá nhân vi phạm, ngăn chăn các trường hợp vi phạm tiếp tục xảy ra. Thứ năm, nhà nước cần chú trọng mở rộng, nâng cao nhận thức của đồng bảo dân tộc thiểu số, đưa các quy định pháp luật đến với đồng bào. KẾT LUẬN Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng vẫn là nguyên tắc cơ bản cho đến thời điểm hiện tại và việc thực hiện trong thực tế cuộc sống ở Việt Nam vẫn còn khá nhiều vướng mắc và bất cập. Vì vậy cần có sự quan tâm tham gia đúng mức của Đảng và Nhà Nước cũng như sự ý thức của người dân trong xã hội để nguyên tắc có thể thực hiện một cách nghiêm túc và thành công.
Xem thêm

25 Đọc thêm

QUAN HỆ KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI Ở VIỆT NAMTRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

QUAN HỆ KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI Ở VIỆT NAMTRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

quan hệ xã hội của mỗi nước ngày càng phong phú và đa dạng. Việt Nam chúng tađã và đang hội nhập quốc tế nên các quan hệ xã hội cũng rất phát triển. Một trongnhững quan hệ xã hội khá phát triển phải kể đến quan hệ hôn nhângia đình cóyếu tố nước ngoài, nhất là quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ngày càng đượcmở rộng. Trong quá trình giao lưu, trao đổi giữa các nền văn hóa, kinh tế, xã hội,thông qua các hình thức làm việc, học tập, nghiên cứu và sinh sống công dân củamỗi nước hòa nhập vào cuộc sống của cộng đồng mình đang sinh sống, hiểu vàtiếp nhận phong tục, tập quán của nhau và đã đi đến quan hệ kết hôn.Cùng với sự phát triển của các quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, Đảngvà Nhà nước ta đã đổi mới chính sách, pháp luật góp phần quan trọng vào quá trìnhgiao lưu dân sự quốc tế điều chỉnh các quan hệ xã hội nói chung và quan hệ kếthôn có yếu tố nước ngoài nói riêng. Cụ thể, để điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếutố nước ngoài, Nhà nước đã ban hành các văn bản pháp luật: Luật hôn và gia đình1986; Pháp lệnh hôn nhângia đình giữa công dân Việt Nam với người nướcngoài 1993 và văn bản mới nhất là Luật hôn nhângia đình Việt Nam năm 2000và các văn bản hướng dẫn thi hành: Nghị định số 68/2002/NĐ - CP ngày 10/7/2003của Chính Phủ qui định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhângia đình2000 về quan hệ hôn nhângia đình có yếu tố nước ngoài; Nghị định số 69/NĐ CP ngày 21/7/2006 của Chính Phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số68/2002/NĐ - CP ngày 10/7/2003 của Chính Phủ qui định chi tiết thi hành một sốđiều của Luật hôn nhângia đình 2000 về quan hệ hôn nhângia đình có yếutố nước ngoài;….Bên cạnh đó chúng ta còn ký kết rất nhiều Hiệp định tương trợ tưpháp với các nước để điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài. Mặc dù,trong thời gian vừa qua, các qui định điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nướcngoài đã có những đóng góp nhất định nhưng vẫn còn thiếu sót và bộc lộ một sốnhược điểm nhất là trong xu thế ngày càng phát triển của quan hệ quốc tế.Hơn nữa, quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài là một quan hệ khá nhạycảm liên quan đến chính sách đối ngoại của quốc gia. Theo báo cáo tình hình đăngký kết hôn có yếu tố nước ngoài ở các Sở Tư Pháp tỉnh, thành phố trực thuộc trung
Xem thêm

13 Đọc thêm

BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIA ĐÌNH

BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIA ĐÌNH

LỜI MỞ ĐẦU Như ta đã biết gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. “Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt”. Nhà nước ta hiện nay, mục tiêu, chuẩn mực cơ bản, trực tiếp mà chúng ta hướng tới chính là xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc. Trong gia đình cần chú trọng xây dựng quan hệ dân chủ, bình đẳng giữa các thành viên, bình đẳng giữa con trai và con gái, bình đẳng giữa các thành viên nam và thành viên nữ nhất là dân chủ bình đẳng giữa vợ và chồng; điều này góp phần tạo nên sự nề nếp, hoà thuận, kỷ cương trong mỗi gia đình. Yếu tố này trở thành một trong những nội dung cơ bản và chủ yếu, cấp thiết trong xây dựng gia đình mới ở Việt Nam. Trong những năm qua, Đảng và nhà nước ta đã không ngừng hoàn thiện khung luật pháp, chính sách về quyền bình đẳng trên lĩnh vực bình đẳng giới và được quy định trong một số văn bản pháp luật: Luật dân sự, Luật hôn nhân và gia đình, Luật bình đẳng giới, Luật phòng chống bạo lực gia đình, các công ước quốc tế như công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, công ước Liên hiệp quốc về quyền trẻ em…mà trọng tâm là luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Luật Hôn nhân và gia đình khi điều chỉnh đã dựa trên các nguyên tắc tự nguyện – tiến bộ. Thông qua các điều luật ta có thể thấy rằng hệ thống pháp luật Nhà nước ta đang ngày càng khẳng định quyền bình đẳng giữa các thành viên trong gia đình đặc biệt là khẳng định quyền bình đẳng giữa vợ chồng về mọi mặt trong gia đình. Tuy nhiên, “bình đẳng về mặt pháp luật vẫn chưa phải là bình đẳng trong đời sống”. Vì vậy, để làm rõ thực trạng vấn đề bình đẳng giới trong gia đình, bình đẳng giữa các thành viên, quyền bình đẳng giữa vợ chồng cũng như tìm ra các giải pháp thiệt thực để quyền bình đẳng được thực hiện ngày càng đảm bảo và hiệu quả chúng em đã chọn đề tài “Bình đẳng giới trong gia đình”
Xem thêm

14 Đọc thêm

ĐIỀU KIỆN KẾT HÔN VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI QUY ĐỊNH ĐIỀU KIỆN KẾT HÔN

ĐIỀU KIỆN KẾT HÔN VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI QUY ĐỊNH ĐIỀU KIỆN KẾT HÔN

Điều kiện kết hôn và sự cần thiết phải quy định điều kiện kết hôn Bài tập học kỳ Luật Hôn nhân và gia đình Chuyên mục Bài tập học kỳ, Luật Hôn nhân và gia đình LỜI MỞ ĐẦU Xuất phát từ vị trí, vai trò của gia đình, từ quan niệm gia đình là tế bào của xã hội nên trong từng thời kỳ phát triển, Đảng và nhà nước ta luôn dành sự quan tâm lớn tới vấn đề gia đình, đề ra những chủ trương thể chế hóa bằng pháp luật, đường lối, chính sách của Đảng. Khi nhà nước quản lý và điều chỉnh quan hệ hôn nhân thì việc nam nữ tạo lập gia đình trở thành sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ vợ chồng, sự kiện này thể hiện dưới một khái niệm là kết hôn. Kết hôn luôn dựa trên quan điểm bình đẳng, tự nguyện. Tuy nhiên để làm phát sinh quan hệ hôn nhân thì phải đáp ứng được điều kiện kết hôn do luật định. Điều kiện kết hôn được coi là yếu tố quan trọng cần được sửa đổi, bổ sung sao cho phù hợp với biến động xã hội ngày nay. Để hiểu thêm về vấn đề này em xin được lựa chọn phân tích về Điều kiện kết hôn và sự cần thiết phải quy định điều kiện kết hôn. Do hiểu biết còn hạn chế nên trong bài còn thiếu sót, em rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô để cho bài làm cũng như kiến thức của em thêm hoàn thiện. Em xin chân thành cảm ơn thầy cô NỘI DUNG I. Sự cần thiết phải quy định các điều kiện kết hôn. 1. Khái niệm điều kiện kết hôn Chức năng tái sản xuất ra con người là chức năng quan trọng nhất của gia đình để duy trì xã hội loài người. Khởi nguồn của gia đình là sự xác lập quan hệ hôn nhân giữa hai người khác giới, được nhà nước tôn trọng và bảo vệ. Xét về mặt lý luận, nếu xem gia đình là nền tảng của xã hội thì điều kiện kết hôn chính là yếu tố pháp lý cơ sở để xây dựng nền tảng này. Điều kiện kết hôn được quy định trong luật và cũng bị tác động bởi nền kinh tế, khi xã hội có những biến đổi mà quy định về điều kiện kết hôn không còn phù hợp nữa thì phải có sự thay đổi hợp lý. Các quy định về điều kiện kết hôn về tổng thể cũng góp phần hạn chế các tệ nạn như tảo hôn, kết hôn không dựa trên tinh thần tự nguyện hay kết hôn với những người không đủ điều kiện kết hôn; góp phần xây dựng xã hội vững mạnh, nguồn nhân lực dồi dào và chất lượng. Tóm lại, việc quy định điều kiện kết hôn là hoàn toàn cần thiết, phù hợp với xu hướng phát triển , nhu cầu cần thiết của xã hội; phù hợp với chủ trương, chính sách và đường lối của Đảng. II. Điều kiện kết hôn. 1. Điều kiện về độ tuổi kết hôn. Độ tuổi là thước đo cho sự phát triển của con người, đảm bảo khả năng họ có thể thực hiện sứ mạng của mình là xây dựng gia đình và phát triển xã hội. Tuổi kết hôn được hiểu là tuổi mà một người được phép lấy chồngvợ cũng như quyền làm hoặc buộc phải làm cha mẹ hoặc các hình thức khác đồng thuận khác. Độ tuổi và các yêu cầu khác nhau ở mỗi nước, nhìn chung thì độ tuổi kết hôn là 18 tuổi ở nhiều quốc gia, tuy nhiên nhiều nước cho phép độ tuổi kết hôn sớm hơn nếu có sự đồng ý của chamẹ hoặcluật pháp, hoặc trong trường hợp mang thai (nữ). Độ tuổi kết hôn không chỉ căn cứ vào khả năng sinh sản của nam, nữ mà còn đảm bảo cho việc xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững. Đồng thời đảm bảo cho con cái sinh ra được khỏe mạnh cả về thể lực lẫn trí tuệ, có thể phát triển tốt để trở thành công dân có ích cho xã hội. Con người chỉ khi đạt đến độ tuổi nhất định mới có suy nghĩ đúng đắn và nghiêm túc trong việc kết hôn của mình. Hơn nữa, khả năng tham gia vào quá trình lao động tạo ra thu nhập khi mà con người đạt đến độ tuổi nhất định. Điều đó đảm bảo cho họ có cuộc sống độc lập về kinh tế, chín muồi về tâm lý, đầy đủ ý thức xã hội để thực hiện các chức năng của gia đình và duy trì tế bào của xã hội. Quan niệm của người xưa cho rằng nữ thập tam, nam thập lục nghĩa là nữ 13 tuổi, nam 16 tuổi là đủ tuổi kết hôn. Tuy nhiên thì quan niệm ngày nay khi xã hội phát triển đã có sự thay đổi, cụ thể là theo khoản 1 điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình quy định, tuổi kết hôn của nam là từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên. Theo quy định này thì không bắt buộc nam phải đủ từ hai mươi tuổi trở lên, nữ phải đủ mười tám tuổi trở lên mới được kết hôn; do đó nam đã bước sang tuổi hai mươi, nữ bước sang tuổi mười tám mà kết hôn là không vi phạm điều kiện về độ tuổi ( mục 1 điểm a Nghị quyết số 022000NQ HĐTP của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật hôn nhân gia đình năm 2000). Ví dụ như anh A sinh ngày 30081994 thì đến ngày 30082013 là tròn 19 tuổi, bắt đầu từ sau ngày 30082013 là coi như anh A đã bước sang tuổi 20, lúc này nếu như anh A kết hôn thì không bị coi là vi phạm điều kiện kết hôn. Các trường hợp vi phạm về độ tuổi kết hôn sẽ bị xử lý hành chính theo như Nghị định số 1102013NĐCP của Chính phủ ngày 24 tháng 9 năm 2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã; cụ thể là điều 47 Nghị định 1102013NĐCP quy định Hành vi tảo hôn, tổ chức tảo hôn 1. Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi tổ chức lấy vợ, lấy chồng cho người chưa đủ tuổi kết hôn. 2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi cố ý duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đủ tuổi kết hôn mặc dù đã có quyết định của Tòa án nhân dân buộc chấm dứt quan hệ đó. hoặc có thể bị xử lý hình sự theo điều 148 BLHS quy định về tội tổ chức tảo hôn,tội tảo hôn Người nào có một trong các hành vi sau đây, đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm:a) Tổ chức việc kết hôn cho những người chưa đến tuổi kết hôn;b) Cố ý duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đến tuổi kết hôn mặc dù đã có quyết định của Toà án buộc chấm dứt quan hệ đó. 2. Điều kiện về sự tự nguyện của nam, nữ trong kết hôn. Theo từ điển tiếng Việt thì Tự nguyện là tự mình muốn làm, tự mình muốn như thế, không ai bắt buộc. Vậy tự nguyện của nam, nữ trong kết hôn được hiểu là mong muốn xuất phát từ ý chí của cả hai, tự mình quyết định việc kết hôn và thể hiện ý chí muốn trở thành vợ chồng. Kết hôn phải dựa trên ý chí của nam, nữ mà không bị tác động bởi bất cứ người nào khiến họ phải kết hôn trái với nguyện vọng của họ. Hai bên nam nữ mong muốn trở thành vợ chồng xuất phát từ tình yêu thương giữa họ và nhằm mục đích là cùng nhau xây dựng gia đình. Sự tự nguyện của hai bên nam nữ trong việc kết hôn phải thể hiện rõ là họ mong muốn được gắn bó với nhau, cùng nhau chung sống suốt đời nhằm thỏa mãn nhu cầu tình cảm giữa hai người. Sự tự nguyện là yếu tố quan trọng đảm bảo cho hôn nhân có thể tồn tại lâu dài và bền vững. Sự tự nguyện trong kết hôn thường được thể hiện ở việc cùng nhau đi đăng ký kết hôn. Pháp luật quy định việc kết hôn phải có sự tự nguyện của cả hai bên nam nữ là nhằm bảo đảm cho họ được tự do thể hiện ý chí và tình cảm khi kết hôn. Sở dĩ pháp luật quy định vậy là xuất phát từ quyền con người được công nhận trên toàn thế giới trong Bản Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền của Liên hợp quốc ngày 10 tháng 12 năm 1948, cụ thể là điều 16 Ðiều 16: 1. Nam và nữ trong tuổi trưởng thành có quyền kết hôn và lập gia đình, mà không bị hạn chế về lý do chủng tộc, quốc tịch hay tôn giáo. Nam nữ đều có quyền bình đẳng lúc kết hôn, trong đời sống vợ chồng và lúc ly hôn. 2. Hôn nhân chỉ có thể tiến hành khi cả hai đều được tự do quyết định và đồng ý thật sự. Sự tự nguyện này phải được thể hiện bởi ý chí của một người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và đang trong tình trạng hoàn toàn tỉnh táo. Do đó, đối với những người bị mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh lý nào đó mà không có khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình và bị tòa án tuyên bố là mất năng lực hành vi dân sự thì pháp luật cũng cấm kết hôn. Trong trường hợp người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nhưng bị chấn động về thần kinh hoặc đang trong tình trạng say rượu, bia thì họ cũng tạm thời không được đăng ký kết hôn cho đến khi hồi phục khả năng nhận biết và hoàn toàn tỉnh táo. Để đảm bảo việc kết hôn hoàn toàn tự nguyện thì pháp luật cũng có một số quy định như sau: Thứ nhất, những người muốn kết hôn phải cùng có mặt tại cơ quan đăng ký kết hôn nộp tờ khai đăng ký kết hôn. Trong trường hợp đặc biệt, nếu một người vắng mặt do lý do chính đáng thì có thể gửi cho UBND nơi đăng ký kết hôn đơn in nộp hồ sơ vắng mặt, trong đơn nêu rõ lý do vắng mặt, có xác nhận của UBND cấp xã nơi cư trú. Đến ngày UBND tiến hành đăng ký kết hôn và trao giấy chứng nhận kết hôn thì đôi nam nữ phải có mặt để một lần nữa, cả hai trả lời trước cán bộ hộ tịch và đại diện cơ quan đăng ký kết hôn ràng, đến lúc bấy giờ họ vẫn hoàn toàn tự nguyện kết hôn với nhau. Thứ hai, pháp luật không cho phép cử người đại diện trong việc đăng ký kết hôn đồng thời cũng không cho phép những người kết hôn vắng mặt tại lễ đăng ký két hôn. Thông thường, lễ đăng ký kết hôn của công dân Việt Nam với nhau được tiến hành tại UBND cấp xã. Tuy nhiên, đối với khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa mà điều kiện đi lại quá khó khăn thì lễ đăng ký kết hôn được tổ chức tại thôn, bản, phum, sóc nơi cư trú của một trong hai người ( điều 8 Nghị định số 322002NĐCP ngày 2732002 của Chính phủ quy định việc áp dụng Luật hôn nhân và gia đình đối với dân tộc thiểu số). Trong thực tế thì cũng có trường hợp vì lý do khách quan hay chủ quan khi tổ chức đăng kí kết hôn chỉ có một bên nam hoặc nữ thì việc kết hôn vẫn được công nhận là hợp pháp khi trước khi tổ chức đăng ký kết hôn đã thực hiện đúng quy định tại khoản 1 điều 13 và sau khi tổ chức đăng ký kết hôn họ thực sự về chung sống với nhau ( Mục 2 điểm c Nghị quyết số 0220002NĐHĐTP). Thứ ba, pháp luật quy định việc kết hôn phải không có hành vi cưỡng ép kết hôn, lừa dối để kết hôn hoặc cản trở việc kết hôn tự nguyện, tiến bộ. Do đó, những trường hợp kết hôn do cưỡng ép, bị lừa dối đều coi là kết hôn trái pháp luật. Bên cạnh đó, nhà nước cũng đảm bảo sự tự nguyện bằng cách có chế tài hình sự đối với những hành vi vi phạm sự tự nguyện tiến bộ của việc kết hôn mà cụ thể là điều 146 BLHS quy định Tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ như sau: Người nào cưỡng ép người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ, cản trở người khác kết hôn hoặc duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm. 3. Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn quy định tại điều 10 Luật hôn nhân và gia đình. Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình quy định thì việc kết hôn bị cấm trong các trường hợp sau: + Người đang có vợ hoặc chồng ( khoản 1 điều 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000). Hệ thống pháp luật nước ta quy định khi kết hôn nam nữ phải tuân theo nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng. Những người được quyền kết hôn phải là những người chưa có vợ có chồng hoặc đã có vợ chồng nhưng vợchồng chết hay vợ chồng đã ly hôn. Pháp luật cấm những người đang có vợ chồng kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác nhằm xóa bỏ chế độ đa thê dưới thời đại phong kiến. Hôn nhân một vợ một chồng lấy tình yêu giữa nam và nữ làm cơ sở xác lập hôn nhân và lấy tình yêu làm cơ sở duy trì quan hệ hôn nhân. Tuy nhiên đối với những trường hợp nam nữ lấy nhau nhưng không đăng kí kết hôn và chung sống với nhau trong quan hệ vợ chồng trên thực tế trước khi luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực thì vẫn được Nhà nước thừa nhận. Ngoài ra người đang có vợ, có chồng còn bao gồm cả những người đã sống chung với người khác như vợ chồng từ trước ngày 311987 và đang chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn. Hiện nay vẫn còn tồn tại một số trường hợp một chồng hai vợ hoặc một vợ hai chồng. Đó là trường hợp cán bộ, bộ đội miền Nam đã có vợ, có chồng ở miền Nam nhưng khi tập kết ra Bắc lại lấy vợ, lấy chồng khác. Nhà nước đặc biệt quan tâm tới vấn đề này và coi đây là hậu quả chiến tranh, những trường hợp này theo nhà nước là cần được bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các đương sự, đặc biệt là đối với phụ nữ và con. Trên tinh thần đó Tòa án nhân dân tối cao đã ra thông tư số 60DS ngày 2221978 hướng dẫn các tòa án địa phương khi giải quyết các vụ việc liên quan. Do đó, tuy vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng nhưng không bị coi là kết hôn trái pháp luật. Để đảm bảo cho nguyên tắc kết hôn một vợ, một chồng; Nhà nước ta đã có nhiều biện pháp nhằm ngăn chặn, ví dụ như khi đăng kí kết hôn thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký kết hôn phải xác minh tình trạng hôn nhân của các bên nam, nữ và chỉ tiến hành đăng kí kết hôn cho họ khi cả nam và nữ đều đang không có vợ, có chồng. Bên cạnh đó cũng có các biện pháp xử lý đối với những người có hành vi vi phạm như xử phạt hành chính 1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ; b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác; c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ; ( khoản 1 điều 48 Nghị định số 1102013NĐCP ) Hoặc có thể bị xử lý hình sự theo điều 147 BLHS quy định tội vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng 1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm. 2. Phạm tội trong trường hợp đã có quyết định của Toà án tiêu huỷ việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. + Người bị mất năng lực hành vi dân sự ( khoản 2 điều 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000). Người bị mất năng lực là một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định có thẩm quyền. ( khoản 1 điều 24 BLDS năm 2005). Pháp luật cấm không cho họ kết hôn là hoàn toàn hợp lý, bởi vì: Những người bị mất năng lực hành vi dân sự không có khả năng nhận biết, điều khiển hành vi nên họ không thể thực hiện được nghĩa vụ với vợ, chồng và đối với các con; không thể thực hiện trách nhiệm của mình trong gia đình. Khi họ bị mất năng lực hành vi dân sự cũng không thể biết được nguyện vọng thật sự của họ, khó xác định cuộc hôn nhân dựa trên tinh thần tự nguyện. Dựa trên căn cứ khoa học thì bệnh tâm thần là loại bệnh có tính di truyền nên các nhà làm luật cũng cho rằng, cần phải có quy định cấm những người mắc bệnh này kết hôn để đảm bảo cho con cái sinh ra được khỏe mạnh, bảo đảm cho nòi giống được phát triển tốt và bảo đảm cho hạnh phúc gia đình. + Cấm những người cùng dòng máu về trực hệ, những người có họ trong phạm vi ba đời hoặc đã từng có quan hệ thích thuộc kết hôn với nhau.( theo quy định tại khoản 3 và khoản Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình). + Cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính.( khoản 5 điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình). III. Những hạn chế của pháp luật về điều kiện kết hôn và phương hướng giải quyết. 1. Độ tuổi kết hôn. Quy định độ tuổi kết hôn trong thực tiễn áp dụng đã có một số bất cập sau: Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 022000NQHĐTP ngày 23122000 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 thì chỉ cần nam bước sang tuổi hai mươi, nữ bước sang tuổi mười tám là đủ tuổi kết hôn. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 18, 19 của Bộ luật dân sự năm 2005 thì “người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người thành niên…” và “người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ…” nên xảy ra trường hợp mâu thuẫn khi cá nhân đủ tuổi kết hôn theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 nhưng lại chưa là người thành niên, chưa có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và bị hạn chế trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự theo quy định tại Bộ Luật Dân sự năm 2005. Theo quy định tại khoản 3 Điều 57 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 thì cá nhân chỉ có thể tự mình tham gia quan hệ tố tụng khi đã đủ 18 tuổi trở lên. Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì nữ bước sang tuổi 18 mà kết hôn được coi là hợp pháp và họ được quyền tự do ly hôn. Tuy nhiên, quyền tự do ly hôn của họ không thể thực hiện nếu sau khi kết hôn và đến thời điểm có yêu cầu ly hôn họ chưa đủ 18 tuổi. Về sự phù hợp với pháp luật chuyên ngành: Trong khi Điều 9 Luật HNGĐ quy định độ tuổi kết hôn của nam là từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên thì trong thực tiễn, khi thực hiện Luật Phòng, chống bạo lực gia đình và các văn bản liên quan, đặc biệt là Nghị định số 1102009NĐCP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình, việc xác định hành vi vi phạm bạo lực gia đình, đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người vợ là khó khăn vì nếu vi phạm ngay sau khi kết hôn thì người vi phạm chưa đủ 18 tuổi (chưa thành niên). Quy định về tuổi kết hôn cũng chưa đồng bộ với các điều ước quốc tế về giới và bình đẳng giới, ví dụ công ước CEDAW về tuổi trẻ em và bình đẳng nam, nữ trong kết hôn. Tuổi kết hôn so với một số nước và vùng lãnh thổ thấp hơn so với Việt Nam; áp dụng pháp luật nước ngoài đối với quan hệ HNGĐ có yếu tố nước ngoài quy định pháp luật nước ngoài sẽ được áp dụng cho quan hệ HNGĐ có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam nhưng nếu trái với những nguyên tắc liên quan đến quan hệ hôn nhân gia đình nhưng lại được quy định trong các văn bản pháp luật khác thì có được áp dụng hay không Ngoài ra, thực tiễn thi hành quy định về tuổi kết hôn còn rất nhiều bất cập giữa quy định của pháp luật và tập quán về tuổi kết hôn. Ở một số địa phương, cộng đồng, người dân vẫn kết hôn theo độ tuổi trong tập quán dẫn tới tình trạng tảo hôn vẫn còn tồn tại ở các nhóm cộng đồng này. Báo cáo tổng kết của một số địa phương cho thấy, tỷ lệ kết hôn trước tuổi luật định ở vùng cao, nơi đồng bào dân tộc ít người sinh sống còn khá cao. Kiến nghị :Nghiên cứu sửa đổi tuổi kết hôn theo hướng nam, nữ được kết hôn khi từ đủ 18 tuổi để đảm bảo cá nhân khi đăng ký kết hôn có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự. Hơn nữa, cùng với điều kiện kinh tế và cuộc sống ngày càng được nâng cao, sự phát triển về thể chất, nhận thức xã hội của nam, nữ, vấn đề giới tính đã được phổ cập rộng rãi nên việc sửa đổi quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 thành “Nam, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên” là phù hợp, thể hiện quyền bình đẳng giữa nam, nữ trong việc kết hôn, phù hợp với tuổi có năng lực hành vi dân sự đầy đủ quy định trong Bộ luật Dân sự. 2.Điều kiện về sự tự nguyện của nam, nữ. Trong luật Hôn nhân và gia đình cũng như trong nghị quyết số 022000NQ HĐTP cũng đã hướng dẫn về những trường hợp bị coi là một bên lừa dối nhưng là dưới dạng liệt kê hành vi như:lừa dối là nếu kết hôn sẽ xin việc cho, nếu kết hôn thì bảo lãnh ra nước ngoài,... chứ không có những tiêu chí như thế nào là lừa dối, không khái quát được hết các trường hợp lừa dối khiến cho việc xác định hành vi lừa dối trong hôn nhân có nhiều vướng mắc. Trên thực tế sự tự nguyện chỉ có thể được xác định thông qua hành vi thể hiện ý chí của người kết hôn trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc kết hôn. Bản thân yếu tố chủ quan bên trong như tình cảm, mong muốn , nguyện vọng của người kết hôn như thế nào thì lại khó có thể biết. Bên cạnh đó vấn đề thẩm định sự tự nguyện kết hôn có yếu tố nước ngoài còn nhiều hạn chế, nhất là trong cách tiến hành phỏng vấn. Một số cơ quan nhà nước vẫn tiến hành phỏng vấn một cách hời hợt cho qua, chưa làm đúng với tinh thần và tầm quan trọng của thủ tục phỏng vấn, cán bộ biết tiếng nước ngoài cũng không nhiều nên nhiều khi cán bộ phỏng vấn không hiểu được các đương sự nói gì. Kiến nghị: Cần có những biện pháp giáo dục, tuyên truyền hợp lý để nâng cao tinh thần tuân thủ pháp luật của người dân. Bên cạnh đó cũng cần có những biện pháp thích hợp để nâng cao hiệu quả của việc thẩm định sự tự nguyện kết hôn và nâng cao trình độ của các cán bộ trong các cơ quan nhà nước. 3.Những trường hợp cấm kết hôn. Thứ nhất về việc xác định thế nào là người đang có vợ, có chồng. Trên thực tế việc xác định tình trạng hôn nhân của các bên không phải lúc nào cũng đơn giản. Đặc biệt đối với những người chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng kí kết hôn. Theo quy định của pháp luật hiện hành, nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ trước ngày 311987 được pháp luật công nhận là vợ chồng. Tuy nhiên rất khó xác định họ chung sống với nhau từ thời điểm nào, thế nào là chung sống với như vợ chồng, đặc biệt đối với những cặp không sống chung thường xuyên tại một địa phương. Vì vậy dẫn đến tình trạng người đang có vợ hoặc có chồng vẫn được cơ quan có thẩm quyền chấp nhận yêu cầu đăng kí kết hôn. Thứ hai, về quy định cấm người mất năng lực hành vi dân sự theo khoản 2 điều 10 Luật HN GĐ. Người mất năng lực dân sự được hiểu là người bị mắc căn bệnh làm mất khả năng nhận thức, điều khiển hành vi và có quyết định của Tòa án tuyên bố người đó bị mất năng lực hành vi dân sự. Trên thực tế có rất ít người là ông, bà, cha, mẹ, anh, chị,em.... yêu cầu tòa án tuyên bố người thân của mình bị mất năng lực hành vi dân sự nên vẫn có nhiều trường hợp người mất năng lực hành vi dân sự được đăng kí kết hôn. Nhiều cơ quan đăng kí kết hôn còn lúng túng trong việc xác minh người này có thuộc diện cấm kết hôn không. Kiến nghị: Cần sửa đổi khoản 2 điều 10 luật HN GĐ theo hướng giống như điểm b điều 7 Luật HN GĐ năm 1986 chỉ quy định người mất năng lực hành vi dân sự là người không có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, khi có yêu cầu đăng kí kết hôn sẽ được cơ quan giám định tư pháp xác định xem có đủ điều kiện sức khỏe không. Cần có quy định thủ tục rõ ràng xác minh quan hệ nhân thân của các bên kết hôn. Công tác đăng kí và quản lý hộ tịch cần quy định rõ thủ tục xác minh quan hệ nhân thân của người kết hôn, kết quả phải được thể hiện bằng văn bản. Điều này nhằm hạn chế bớt tình trạng người thuộc trường hợp cấm kết hôn vẫn kết hôn.
Xem thêm

15 Đọc thêm

Cùng chủ đề