NGÀNH KỸ THUẬT Y SINH TĂNG TRƯỞNG

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "NGÀNH KỸ THUẬT Y SINH TĂNG TRƯỞNG":

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ DU LỊCH TẠI TP. HÀ NỘI

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ DU LỊCH TẠI TP. HÀ NỘI

Xã hội ngày càng phát triển, chất lượng cuộc sống được cải thiện và nâng cao vì vậy mà nhu cầu giải trí và du lịch cũng tăng lên. Kể từ sáu thập niên trở về đây, ngành du lịch đã phát triển không ngừng, trở thành một trong những khu vực kinh tế tăng trưởng nhanh nhất và lớn nhất thế giới. Nhiều quốc gia đã phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn và ngành du lịch được coi là ngành công nghiệp “không khói” đóng góp quan trọng vào xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an ninh xã hội. Nó còn có vai trò quan trọng đặc biêt đối với các quốc gia đang phát triển giúp tăng trưởng kinh tế nhanh chóng và xóa đi khoảng cách với các quốc gia phát triển. Với Việt Nam, ngành du lịch có vai trò to lớn trong việc thúc đẩy kinh tế, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc... Tuy nhiên, bên cạnh những mặt đạt được ngành du lịch Việt Nam cũng còn những hạn chế nhất định về mặt chất lượng dịch vụ trong đó có Hà Nội. Không chỉ được biết đến là trung tâm văn hóa, chính trị và là Thủ đô của cả nước mà Hà Nội còn được xem là điểm du lịch hấp dẫn cả nước. Tốc độ phát triển của ngành du lịch Hà Nội luôn tăng qua các năm và chất lượng dịch vụ du lịch thì đang được cải thiện và nâng cao. Nhận thấy tính cấp thiết của đề tài mà nhóm em đã chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch tại TP. Hà Nội” dưới góc độ phản ánh của khách du lịch nước ngoài về thực trạng và giải pháp và với giả thiết cung cấp đề tài cho Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch TP. Hà Nội.
Xem thêm

46 Đọc thêm

TIỂU LUẬN KINH TẾ PHÁT TRIỂN NHOM 1

TIỂU LUẬN KINH TẾ PHÁT TRIỂN NHOM 1

các doanh nghiệp trong nước không kịp thời thích ứng với cơ chế mới, tỏ ra lạchậu và khả năng cạnh tranh thấp. Tuy nhiên đây vẫn là nguồn vốn quan trọngtrong nền kinh tế quốc dân, thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hộinhập quốc tế. Đầu tư nước ngoài là khu vực có vốn tăng trưởng mạnh và nhanhnhất. Năm 1992, Việt Nam khôi phục quan hệ bình thường vốn bị gián đoạn từnăm 1976 với Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Ngânhàng Phát triển châu Á (ADB).Điều này góp phần làm tăng các dự án đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.Tổng số vốn đầu tư được cấp phép trong 5 năm là 18,476 triệu USD, chiếm32,3%tổng số vốn ĐTPT xã hội. Từ 1991 đến 1995 số vốn này đã tăng lên 5,5lần.15Để đẩy mạnh quá trình huy động vốn, cổ phần hoá doanh nghiệp nhànước bắt đầu được thực hiện thí điểm từ năm 1992. Tuy nhiên, tới năm 1996mới có 10 doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá. Năm 1988, Nhà nước banhành Nghị định 44/CP quy định rõ đối tượng, hình thức và giá trị doanh nghiệpcổ phần hóa nhằm thúc đẩy tiến trình cổ phần hoá. Từ năm 2000, Nhà nước ápdụng các biện pháp chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước sang các hình thức sỡhữu và kinh doanh khác như: giao, bán, khoán, cho thuê, kể cả sáp nhập và giảithể đối với các doanh nghiệp nhà nước quy mô nhỏ. Tuy nhiên tổng số vốndoanh nghiệp mà nhà nước nắm giữ chỉ giảm rất ít, từ 6-8%. Điều này khiến choviệc quản lý càng thêm khó khăn khi chế độ bao cấp của nhà nước đối với doanhnghiệp trên thực tế không được cắt giảm mà còn được tái lập dưới nhiều hìnhthức. Các doanh nghiệp nhà nước vẫn duy trì tình trạng hoạt động cồng kềnh,chi phí cao kém hiệu quả, gây lãng phí rất lớn.(Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam)Đầu tư trong giai đoạn này tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp vàdịch vụ, lượng vốn đầu tư vào các ngành nông-lâm-ngư nghiệp có tăng nhưng về
Xem thêm

23 Đọc thêm

VẬT LÝ Y SINH VÀ ỨNG DỤNG

VẬT LÝ Y SINH VÀ ỨNG DỤNG

• Tạo ra cácphẩmsinhmới.về y sinh để có thể sử dụng cácCầnsảnphảicó kỹsư họcchuyêncông cụ nàyKỹ sư y sinh• Nghiên cứu – chế tạo vật liệu cho các cơ quan , mô,vật cấy ghép.• Phát triển các công cụ chẩn đoán mới.• Phát triển mô hình tính về các chức năng và hệ thốngsinh lý.• Thiết kế các hệ thống ảnh,cảm biến, cơ quan, vật cấyghép, công cụ.• Thiết kế các hệ thống điều khiển.Mốc thời gian của các tiến bộ về kỹ thuật trong y học• 1895: tia X được phát minh.• 1899: Asirin được giới thiệu sử dụng.• 1903: máy ghi âm điện tim ECG được phát minh.• 1928: Penicilin được phát minh.• 1931: phát minh ra kính hiển vi điện tử.• 1932: G.Wolf (R.wolf) giới thiệu ống soi dạ dày nửa cứng nửa mềm đầu tiên
Xem thêm

63 Đọc thêm

TIỂU LUẬN XU HƯỚNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ GIAI ĐOẠN 2011 2017

TIỂU LUẬN XU HƯỚNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ GIAI ĐOẠN 2011 2017

yếu dựa trên nguồn lao động rẻ và tài nguyên thiên nhiên sẵn có, nhung cũng cầnluu ý là những lợi thế này cũng đang có xu huớng giảm nhanh.8Trong ngành nông nghiệpChuyển đổi nhanh chóng cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn,xây dựng các vùng sản xuất hàng hoá chuyên canh phù hợp với tiềm năng và lợithế khí hậu, đất đai và lao động của từng vùng, từng địa phuơng. Phải áp dụngnhanh khoa học và công nghệ vào sản xuất, nhất là ứng dụng công nghệ sinh học,gắn nông nghiệp với công nghiệp chế biến, gắn sản xuất với thị truờng tiêu thụ,hình thành sự liên kết nông - công - dịch vụ ngay trên địa bàn nông thôn.Phát triển khai thác hải sản xa bờ và điều chỉnh nghề cá ven bờ họp lý. Đầutu phát triển mạnh ngành nuôi, trồng thuỷ hải sản,Phát triển chăn nuôi huớng chính là tổ chức lại sản xuất, khuyến khích pháttriển hộ hoặc nông trại chăn nuôi quy mô lớn; đầu tu cải tạo nguồn giống, tăngcuông công tác thú y, chế biến thức ăn chăn nuôi, phát triển đàn bò thịt, sữa và cáccơ sở chế biến thịt, sữa; tìm kiếm thị truờng xuất khẩu.Bảo vệ và phát triển rừng, tiếp tục thực hiện dự án 5 triệu ha rừng. Tăngnhanh diện tích trồng rừng mới, kết hợp với khoanh chăn nuôi, bảo vệ tái sinhrừng. Trồng mới 1.3 triệu ha rừng tập trung, nâng độ che phủ rừng lên khoảng 3839% vào năm 2005; hoàn thành cơ bản công tác định canh định cu và ổn định đờisống nhân dân vùng núi.về đất đai: Nhà nuớc tạo điều kiện thuận lợi để nông dân thực hiện đầy đủ,đúng pháp luật các quyền về sử dụng đất đai; khuyến khích nông dân thực hiện“dồn điền đổi thửa” trên cơ sở tự nguyện; nông dân đuợc sử dụng giá trị quyền sửdụng đất để góp vốn cổ phần tham gia phát triển sản xuất, kinh doanh, liên doanh,liên kết...Tạo điều kiện cho việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất theo quy địnhcủa pháp luậtvề tài chính, tín dung: Nhà nuớc cân đối các nguồn vốn để uu tiên đầu tuthích đáng cho phát triển nông, lâm, ngu nghiệp và điều chỉnh cơ cấu đầu tu theo
Xem thêm

Đọc thêm

KINH TẾ VĨ MÔ - TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

KINH TẾ VĨ MÔ - TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

Để giải thích nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế các nhà kinh tế học dùng các mô hình kinh tế. Mô hình David Ricardo (1772-1823) với luận điểm cơ bản là đất đai sản xuất nông nghiệp (R, Resources) là nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế. Nhưng đất sản xuất lại có giới hạn do đó người sản xuất phải mở rộng diện tích trên đất xấu hơn để sản xuất, lợi nhuận của chủ đất thu được ngày càng giảm dẫn đến chí phí sản xuất lương thực, thực phẩm cao, giá bán hàng hóa nông phẩm tăng, tiền lương danh nghĩa tăng và lợi nhuận của nhà tư bản công nghiệp giảm. Mà lợi nhuận là nguồn tích lũy để mở rộng đầu tư dẫn đến tăng trưởng. Như vậy, do giới hạn đất nông nghiệp dẫn đến xu hướng giảm lợi nhuận của cả người sản xuất nông nghiệp và công nghiệp và ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế. Nhưng thực tế mức tăng trưởng ngày càng tăng cho thấy mô hình này không giải thích được nguồn gốc của tăng trưởng. Mô hình hai khu vực tăng trưởng kinh tế dựa vào sự tăng trưởng hai khu vực nông nghiệp và công nhiệp trong đó chú trọng yếu tố chính là lao động (L labor), yếu tố tăng năng suất do đầu tư và khoa học kỹ thuật tác động lên hai khu vực kinh tế. Tiêu biểu cho mô hình hai khu vực là mô hình Lewis, Tân cổ điển và Harry T. Oshima. Mô hình Harrod-Domar nguồn gốc tăng trưởng kinh tế là do lượng vốn (yếu tố K, capital) đưa vào sản xuất tăng lên. Mô hình Robert Solow (1956) với luận điểm cơ bản là việc tăng vốn sản xuất chỉ ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn mà không ảnh hưởng trong dài hạn, tăng trưởng sẽ đạt trạng thái dừng. Một nền kinh tế có mức tiết kiệm cao hơn sẽ có mức sản lượng cao hơn không ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế trong dài hạn (tăng trưởng kinh tế bằng không (0)). Mô hình Kaldor tăng trưởng kinh tế phụ thuộc phát triển kỹ thuật hoặc trình độ công nghệ. Mô hình Sung Sang Parknguồn gốc tăng trưởng là tăng cường vốn đầu tư quốc gia cho đầu tư con người. Mô hình Tân cổ điển nguồn gốc của tăng trưởng tùy thuộc vào cách thức kết hợp hai yếu tố đầu vào vốn(K) và lao động (L). Trước Keynes, kinh tế học cổ điển và tân cổ điển không phân biệt rành mạch tăng trưởng kinh tế với phát triển kinh tế. Hơn nữa, ngoại trừ Schumpeter, các trường phái trên đều không coi trọng vai trò của tiến bộ kỹ thuật đối với tăng trưởng kinh tế. Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của kinh tế học vĩ mô Keynes tiêu biểu là mô hình Harrod-Domar. Mô hình này dựa trên hai giả thiết căn bản: (1) giá cả cứng nhắc, và (2) nền kinh tế không nhất thiết ở tình trạng toàn dụng lao động. Nguồn gốc tăng trưởng kinh tế là do lượng vốn (yếu tố K, capital) đưa vào sản xuất tăng lên. Từ đó, họ suy luận ra được rằng một khi nền kinh tế đang ở trạng thái tăng trưởng cân bằng mà chuyển sang trạng thái tăng trưởng không cân bằng thì sẽ càng ngày càng không cân bằng (mất ổn định kinh tế). Trong khi đó, lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển xây dựng mô hình của mình dựa trên hệ giả thiết mà hai giả thiết căn bản là: (1) giá cả linh hoạt, và (2) nền kinh tế ở trạng thái toàn dụng lao động. Mô hình tăng trưởng kinh tế của họ cho thấy, khi nền kinh tế đang ở trạng thái tăng trưởng cân bằng mà chuyển sang trạng thái tăng trưởng không cân bằng thì đó chỉ là nhất thời, và nó sẽ mau chóng trở về trạng thái cân bằng.
Xem thêm

20 Đọc thêm

Thiết kế nhà máy sản xuất bánh năng suất 9200 tấn sản phẩmnăm ( full bản vẽ )

THIẾT KẾ NHÀ MÁY SẢN XUẤT BÁNH NĂNG SUẤT 9200 TẤN SẢN PHẨMNĂM ( FULL BẢN VẼ )

Ngành sản xuất bánh kẹo có tốc độ tăng trưởng cao (1012%) so với mức trung bình trong khu vực (3%) và trung bình của thế giới (11,5%) và ổn định tại Việt Nam. Tổng giá trị thị trường ước tính năm 2009 khoảng 7673 tỷ đồng, tăng 5,43% so với năm 2008 – đây là mức tăng thấp nhất kể từ năm 2005 do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Tuy nhiên, sự hồi phục của nền kinh tế sau khủng hoảng đã tác động tích cực đến nhu cầu tiêu dùng bánh kẹo, theo đó doanh số ngành bánh kẹo được dự tính tăng trưởng khoảng 6,12% và 10% trong năm 20102011. Theo báo cáo của BMI về ngành thực phẩm và đồ uống, tốc độ tăng trưởng doanh số của ngành bánh kẹo (bao gồm cả socola) trong giai đoạn 20102014 ước đạt 810% 7. Bên cạnh đó, tình hình trong nước cũng có những lợi thế: Lực lượng lao động dồi dào với chi phí nhân công thấp, người dân có xu hướng tiêu dùng sản phẩm sản xuất trong nước, thị trường tiêu dùng nội địa lớn có tiềm năng tăng trưởng cao, nhiều cơ hội xuất khẩu. Với tiềm năng, vấn đề và hiện trạng nêu trên, việc xây dựng nhà sản xuất bánh kẹo là mục tiêu thiết thực. Do đó, nhiệm vụ của tôi trong đồ án tốt nghiệp này là: “Thiết kế nhà máy sản xuất bánh năng suất 9200 tấn sản phẩmnăm “ với hai dây chuyền: Dây chuyền sản xuất bánh quy dai: 6000 tấn sản phẩmnăm. Dây chuyền sản xuất bánh sampa (champagne): 3200 tấn sản phẩmnăm.
Xem thêm

162 Đọc thêm

phân tích môi trường ngành công ty cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk

PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG NGÀNH CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA VIỆT NAM VINAMILK

1.Đối thủ cạnh tranh hiện tại -Tốc độ tăng trưởng của ngành: Nhu cầu của người tiêu dùng các sản phẩm sữa ngày càng tăng, tốc độ tăng trưởng hàng năm cao và vẫn tiếp tục tăng. -Cơ cấu cạnh tranh ngành sữa: + tính thị phần theo giá trị thì vinamilk và Dutch Lady hiện là 2 công ty sản xuất sữa lớn nhất cả nước, đang chiếm gần 60% thị phần. sữa ngoại nhập từ các hãng Mead Johnson, Abbbott, Nestle… chiếm khoảng 22% thị phần, với các sản phẩm chủ yếu là sữa bột. còn lại 19% thị phần thuộc về khoảng 20 công ty sữa quy mô nhỏ:Nutifood,Ba Vì… + Sữa bột hiện tại đang là phân khúc cạnh tranh khốc liệt nhất giữa các sản phẩm trong nước và nhập khẩu. trên thị trường sữa bột, các loại sữa nập khẩu chiếm khoảng 65% thị phần, Vinamilk và Dutch Lady đang chiếm giữ thị phần lần lượt là 16% và 20%. Hiện nay sản xuất sữa trong nước còn đang chịu sức ép cạnh tranh ngày càng gia tăng do việc giả thuế cho sữa ngoại nhập theo chính sách cắt giảm thuế quan khi thực hiện cm kết CEPT/AFTA của khu vực ASEAN và cam kết vs tổ cức thương mại thế giới +phân khúc thị trường sữa nước và sữa đặc chủ yếu do :Vinamilk,Dutch Lady và TH true milk nắm giữ nên các sản phẩm nhập khảu gần như không cạnh tranh được. Thị trường sữa nước được đánh giá là thị trường nhiều tiềm năng và tăng trưởng trong tương lại, và đây cũng là thị trường có lợi nhuận khá hấp dẫn -Cấu trúc của ngành: Ngành sữa Việt nam là ngành phân tán do nhiều nhà sản xuất như: Vinamilk, Dutch Lady, các công ty có quy mô nhỏ, các công ty sữa nước ngoài:Abbott, Nestle…nhưng các công ty như Vinamilk, Dutch Lady không đủ sức chi phối ngành mà ngày càng chịu sự cạnh tranh mạnh mẽ của các hãng đặc biệt là sữa đến từ nước ngoài -Các rào cản rút lui: + Rào cản về công nghệ, vốn đầu tư: chi phí đầu tư ban đầu của ngành sữa rất cao, do đó,khi 1 công ty muốn rút khỏi thj trường sữa gặp khó khăn trong việc thu hồi vốn đầu tư như: máy móc, thiết bị… + Ràng buộc vs người lao động + Ràng buộc vs các tổ chức liên quan + các ràng buộc chiến lược, kế hoạch 2.Các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn: Áp lực cạnh tranh từ các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn phụ thuộc vào các yếu tố sau: -Sức hấp dẫn của ngành: + Ngành chế biến sữa hiện đang là ngành có tỷ suất sinh lời và tốc độ tăng trưởng cao( giai đoạn 1996- 2006, mức tăng trưởng bình quân mỗi năm của ngành đạt 15,2%, chỉ thấp hơn so với tốc độ tăng trưởng 16,1% /năm so với \trung quốc). + Thị trường sữa nước ta được đánh giá là thị trường có nhiều tiềm năng tăng tăng có biên lợi nhuận hấp dẫn. + Thị trường sữa trong nước ta có thể tiếp tục duy trì được tốc độ tăng trưởng cao trong những năm tới, do mức tiêu thụ sữa bình quân đầu người của Việt Nam hiện tại vẫn đang ở mức hấp. + bên cạnh đó, tiềm năng của Thị trường sữa vẫn còn rất lớn khi mà tiêu dung sản phẩm sữa của VN vẫn còn rất thấp. Mức tiêu thụ sữa bình quân của VN chỉ đạt khoảng 11,2 kg/năm, thấp hơn khá nhiều có với các nước châu á khác. + Về mức tiêu thụ sữa bình quân của VN hiện nay khoảng 7,8kg/ người/năm tức là đã tăng gấp 12 lần so với những năm đầu thập niên 90. Theo dự báo trong thời gian sắp tới mức tiêu thụ sữa sẽ tăng từ 15-20% ( tăng theo thu nhập bình quân). Nhìn chung ngành sản xuất sữa tại VN có mức sinh lời khá cao, tuy nhiên mức sinh lời giữa các nhóm sản phẩm có sự khác biệt khá lớn. sản phẩm sữa bột trung và cao cấp hiện đang là nhóm sản phẩm dẫn đầu về hiệu quả sinh lời , với mức sinh lời đạt khoảng 40%/ giá bán lẻ, sữa nước và sữa chua có mức sinh lời đạt khoảng 30%/ giá bán lẻ. Phân khúc thị trường sữa đặc do nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dung ngày 1 giảm dần, nên có mức sinh lợi thấp nhất và đạt khoảng 12%/giá bán lẻ. -Những rào cản gia nhập ngành: + Kỹ thuật: •Công đoạn quản trị chất lượng nguyên liệu đầu vào và đầu ra là hết sức quan trọng vì nó ảnh hưởng đến chất lượng của người tiêu dùng •Trong khi sản xuất, việc pha chế các sản phẩm từ sữa cũng phức tạp vì các tỉ lệ vitamin, chất dinh dưỡng được pha trộn theo hàm lượng •Khi sữa thành phẩm đã xong , các doanh nghiệp sữa phải sử dụng vỏ hộp đạt tiêu chuẩn để dễ dàng vận chuyển và bảo quản +Vốn Một dây chuyền sản xuất sữa có giá trị trung bình khoảng vài chục tỷ, đó là khoản đầu tư không nhỏ chưa tính đến các chi phí xây dựng nhà máy, chi phí nhân công, chi phí nguyên liệu… +Các yếu tố thương mại: •Nghành công nghiệp chế biến sữa bao gồm nhiều kênh tham gia từ chăn nuôi, chế biến , đóng gói, đến phân phối, tiêu dùng… Tuy nhiên, vẫn chưa có tiêu chuẩn cụ thể, rõ ràng cho từng khâu, đặc biệt là tiếng nói của các bộ ngành vẫn còn riêng rẽ dẫn dến việc quy hoạch nghành sữa chưa được như mong muốn và gây nhiều cho các công ty trong khâu sản xuất và phân phói đặc biệt là các công ty mới thành lập •Ngành sữa có hệ thống khách hàng đa dạng từ trẻ nhỏ đến người lớn tuổi, tiềm năng thị trường lớn nhưng yêu cầu của người tiêu dùng ngày càng tăng nên nghành sữa đang chịu áp lực không nhỏ từ hệ thống khách hàng. •Việc tạo nhập thương hiệu trong nghành sữa rất khó khăn do phải khẳng định được chất lượng sản phẩm cũn như cạnh tranh với các công ty lớn. +Nguyên vật liệu đầu vào: Phần lớn nguyên liệu đầu vào phỉa nhập từ nước ngoài (80%). Tuy nhiên, nhà nước chưa thể kiểm soát gắt gao các nguồn đầu vào nguyên liệu sữa. Do đó, chất lượng đầu vào của các công ty chưa cao, năng lực cạnh tranh với các công ty nước ngoài thấp. +Nguồn nhân lực cho nghành: Hiện tại nguồn nhân lực cho ngành chế biến các sản phảm sữa khá dồi dào từ các nông trại, các trường đại học chuyên ngành chế biến thực phẩm… Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực chưa cao và đó là một rào cản không nhỏ cho các công ty sữa. +Nguồn nhân lực cho ngành: Hiện tại nguồn nhân lực cho ngành chế biến các sản phẩm sữa khá dồi dào từ các nông trại, các trường đại học chuyên ngành chế biến thực phẩm… Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực chưa cao và đó cũng là một rào cản không nhỏ cho các công ty sữa +Chính sách của nhà nước đối với ngành sữa: Nhà nước đã có những chính sách thúc đẩy sự phát triển ngành sữa như khuyến khích ở trang trại nuôi bò sữa, hỗ trợ phát triển ông nghệ chế biến và thay thế dần các nguyên liệu đầu vào nhập từ nước ngoài… Tóm lại, nghành sữa hiện nay có tiềm năng phát triển rất lớn. Tuy nhiên, các rào cản của ngành cũng không nhỏ đối với các công ty đặc biệt về vốn và kĩ thuật chế biến. Trong tương lai công ty Vinamilk sẽ có thể đối mặt với nhiều đối thủ đến từ nước ngoài do nền kinh tế thị trường và sự vượt trội về kĩ thuật, vốn và nguồn nguyên liệu đầu vào. Do đó, áp lực cạnh tranh sẽ tăng từ các đối thủ tiềm năng mới
Xem thêm

16 Đọc thêm

Phát triển năng lực tư duy biện chứng cho sinh viên khối ngành kỹ thuật ở Việt Nam hiện nay trong dạy học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin về Triết học

Phát triển năng lực tư duy biện chứng cho sinh viên khối ngành kỹ thuật ở Việt Nam hiện nay trong dạy học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin về Triết học

Phát triển năng lực tư duy biện chứng cho sinh viên khối ngành kỹ thuật ở Việt Nam hiện nay trong dạy học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin về Triết họcPhát triển năng lực tư duy biện chứng cho sinh viên khối ngành kỹ thuật ở Việt Nam hiện nay trong dạy học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin về Triết họcPhát triển năng lực tư duy biện chứng cho sinh viên khối ngành kỹ thuật ở Việt Nam hiện nay trong dạy học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin về Triết họcPhát triển năng lực tư duy biện chứng cho sinh viên khối ngành kỹ thuật ở Việt Nam hiện nay trong dạy học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin về Triết họcPhát triển năng lực tư duy biện chứng cho sinh viên khối ngành kỹ thuật ở Việt Nam hiện nay trong dạy học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin về Triết học
Xem thêm

Đọc thêm

NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH HÀ TÂY

NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH HÀ TÂY

- Tiền lãi tính theo lãi gộp hay lãi giảm dần.- Thời hạn cho vay tương đối dài.- Phục vụ cho nhu cầu đời sống – nhu cầu phát sinh hàng ngày của đại đa sốdân chúng.7- Cho vay tiêu dùng thường có tài sản đảm bảo.- Các khoản cho vay tiêu dùng luôn được đánh giá là đem lại nhiều lợinhuận cho ngân hàng do lãi suất cho vay thường cao hơn so với lãi suất ngân hàngphải huy động từ các nguồn khác nhau để thực hiện cho vay. Do cho vay tiêu dùngcó độ rủi ro cao bởi nguồn trả nợ của người vay có thể biến động lớn, nó phụ thuộcvào quá trình làm việc, kinh nghiệm, tài năng và sức khỏe của người vay… Nếungười vay bị chết, ốm hoặc mất việc làm ngân hàng sẽ rất khó thu lại được nợ.- Lãi suất cho vay tiêu dùng thường không thay đổi dưới những tác động củanhững điều kiện từ môi trường bên ngoài trong suốt thời hạn vay như trong trườnghợp cho vay đối với các doanh nghiệp. Điều này cũng có những bất lợi nếu như lãisuất huy động tăng lên đáng kể. Tuy nhiên, các ngân hàng thường định giá cáckhoản vay tiêu dùng ở một mức cao để có thể phòng tránh rủi ro này.- Các khoản cho vay tiêu dùng có xu hướng nhạy cảm trước các tác độngcủa chu kì kinh tế. Trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế người tiêu dùng thường cócái nhìn lạc quan về tương lai vì vậy họ thường chi tiêu nhiều. Trong giai đoạn kinhtế suy thoái thì các cá nhân và hộ gia đình thường có cái nhìn bi quan về tương laiđặc biệt là khi họ cảm thấy nạn thất nghiệp gia tăng và ngay lập tức cắt giảm nhucầu vay ngân hàng.- Chủ yếu là cho vay trả góp vốn và lãi hàng tháng. Lãi suất cho vay tiêudùng thường ít co giãn so với nhu cầu vay. Người đi vay tiêu dùng chỉ quan tâm tớikhoản thanh toán hàng tháng họ phải trả ngân hàng.- Quy mô các khoản vay nhỏ nhưng số lượng các khoản vay lớn. Các nhân tố
Xem thêm

115 Đọc thêm

ỨNG DỤNG KỸ THUẬT PHÂN TÍCH CỤM CLUSTER TRONG VIỆC PHÂN NHÓM CỔ PHIẾU NGÀNH BẤT ĐỘNG SẢN

ỨNG DỤNG KỸ THUẬT PHÂN TÍCH CỤM CLUSTER TRONG VIỆC PHÂN NHÓM CỔ PHIẾU NGÀNH BẤT ĐỘNG SẢN

Lý thuyết về ỨNG DỤNG KỸ THUẬT PHÂN TÍCH CỤM CLUSTER TRONG VIỆC PHÂN NHÓM CỔ PHIẾU NGÀNH BẤT ĐỘNG SẢN. Thực tế về ỨNG DỤNG KỸ THUẬT PHÂN TÍCH CỤM CLUSTER TRONG VIỆC PHÂN NHÓM CỔ PHIẾU NGÀNH BẤT ĐỘNG SẢN. Các kiến nghị về ỨNG DỤNG KỸ THUẬT PHÂN TÍCH CỤM CLUSTER TRONG VIỆC PHÂN NHÓM CỔ PHIẾU NGÀNH BẤT ĐỘNG SẢN

88 Đọc thêm

CẨM NANG NGÀNH LÂM NGHIỆP CHƯƠNG TĂNG TRƯỞNG RỪNG

CẨM NANG NGÀNH LÂM NGHIỆP CHƯƠNG TĂNG TRƯỞNG RỪNG

Maurand thì đến năm 1943, rừng Việt nam vẫn còn khoảng 14.352.000 ha, che phủ 43,7%diện tích lãnh thổ. Ngoài ra các tài liệu về tăng trưởng rừng không thấy được nghiên cứu đềcập ở giai đoạn này.(2) Giai đoạn 1945-1954Ở Việt Nam chưa tiến hành công tác điều tra hoặc nghiên cứu tăng trưởng rừng.(3) Giai đoạn 1954 – 1975:Các chuyên gia Đức tiến hành giải tích và nghiên cứu sinh trưởng cho một số loài câyrừng tự nhiên phục vụ công tác điều tra và phân loại rừng một số vùng trọng điểm: ThanhHoá, Thái Nguyên, Bắc Giang, Quảng Ninh… từ 1958 – 1960.Từ 1960 – 1965, các chuyên gia Trung Quốc và cán bộ điều tra rừng Việt Nam phốihợp nghiên cứu tăng trưởng và sinh trưởng trên 20 loài cây phổ biến ở vùng sông Hiếu NghệAn bằng phương pháp giải tích thân cây tiêu chuẩn để phục vụ nhiệm vụ quy hoạch vùngtrọng điểm phát triển Lâm nghiệp của miền Bắc.Từ 1965 – 1975, vấn đề điều tra tăng trưởng được chú trọng nhằm phục vụ công tácquy hoạch rừng, luận chứng kinh tế kỹ thuật, phát triển trồng rừng và đào tạo cán bộ ký thuậtlâm nghiệp ở miền Bắc Việt Nam. Bộ môn Điều tra tăng trưởng được thành lập và bước đầuhoạt động nghiên cứu phục vụ sản xuất có hiệu quả (Viện ĐTQH rừng, Viện nghiên cứu lâmnghiệp, Trường ĐHLN). Đặc biệt phải kể đến công trình nghiên cứu tăng trưởng khá toàndiện cho đối tượng rừng mỡ trồng và bồ đề tái sinh sau nương rẫy ở vùng trung tâm miền Bắccủa PGS Vũ Đình Phương (1868 – 1972).(4) Giai đoạn sau năm 1975Giai đoạn này đã bắt đầu có các nghiên cứu tăng trưởng ở các loài cây trồng rừngnguyên liệu giấy, rừng gỗ trụ mỏ như Thông, Mỡ, Bồ đề, Bạch đàn, Keo... và các loài câyrừng tự nhiên. Ngoài tính toán tăng trưởng cây cá lẻ và lâm phần thuần loài theo từng vùngsinh thái, một số nghiên cứu đã cố gắng xác định tăng trưởng lâm phần rừng tự nhiên hỗngiao khác tuổi.Phương pháp thu thập tài liệu vẫn áp dụng các phương pháp truyền thống như lập ômẫu cố định để đo đếm định kỳ nhằm xác định tăng trưởng lâm phần, giải tích cây (cưa thớt,khoan tăng trưởng, đẽo vát...), xác định tuổi và tăng trưởng cây cá lẻ và tính toán tăng trưởngcho toàn bộ lâm phần.
Xem thêm

62 Đọc thêm

BÀI TẬP NHÓM MÔN ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH

BÀI TẬP NHÓM MÔN ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH

kho và số ngày khoản phải thu trong 9 tháng 2011 đ ng có xu hướng tăng mạnh so vớicác năm trước Điều này cho thấy rủi ro bị chiếm ụng vốn lưu động mà DRC đ ng phảiđối mặtTrong khi đó, vòng quay tổng tài sản lại đ ng giảm ần so với bình quân các nămtrước do DRC đ ng triển khai ự án đầu tư sản xuất lốp Radian. riển khai đầu tư mởrộng trong điều kiện khó khăn như hiện nay thì việc giảm hiệu uả hoạt động là khó tránhkhỏi . ụ thể năm 20 là 96% (tức là đồng tài sản tạo r ,96 đồng Do nh thu) vànăm 20 2 là 36% hỉ số này giảm không phải o hiệu suất sử ụng tài sản củ DRgiảm là o việc đầu tư vào việc sản xuất R i l toàn thép với vốn đầu tư c o Dự báo cácnăm tới khi các việc sản xuất R i l toàn thép đạt năng suất hoàn toàn thì chỉ số này sẽtăng lên rất c o2.7.Kết luậnDựa vào Báo cáo tài chính cuối mỗi năm t thấy được kết quả kinh doanh của DRCkhá ổn định, tình hình tài chính tốt, khả năng sinh lời cao.DRC là doanh nghiệp lớn nhất trong ngành và có chiếm thị phần số 1 về săm lốp ôtô.riển vọng tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận trong tương lai là khá tốt khi ự án nhàmáy mới đi vào hoạt động trong năm 2012.DRC có các chỉ tiêu cơ bản khá tốt, có triển vọng về dài hạn Tuy đ ng phải đối mặtvới nhiều khó khăn hạn chế nhưng triển vọng củ DRC vào năm 2014 là rất lớn khi việcmở rộng được hoàn thành và việc khai thác dây chuyền sản xuất Radial toàn thép là hoàntoàn nên việc đầu tư vào DRC sẽ mang đến nhiều lợi ích trong dài hạn goài ra, thanhkhoản DRC đã được cải thiện đáng kể trong thời gian gần đây Từ những phân tích trên, nhóm chúng em đã uyết định chọn lựa chứng khoánDR để đầu tư
Xem thêm

47 Đọc thêm

Bài THẢO LUẬN môn ĐƯỜNG lối cách mạng của Đảng

Bài THẢO LUẬN môn ĐƯỜNG lối cách mạng của Đảng

Câu 1: Chức năng quản lý Nhà nước về kinh tế .Chức năng quản lý Nhà nước về kinh tế: Trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường, được vận hành bằng cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước được xác định là chức năng quản lý kinh tế vĩ mô với các nội dung cơ bản như sau: Thứ nhất, Nhà nước phải tạo được môi trường và điều kiện cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường. Bảo đảm sự ổn định về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội cho sự phát triển của nền kinh tế. Duy trì pháp luật trật tự an toàn xã hội, thi hành nhất quán các chính sách thể chế theo hướng đổi mới, ổn định môi trường kinh tế vĩ mô, khống chế lạm phát, điều tiết các quan hệ thị trường. Tạo môi trường tâm lý, trong quá trình nhận thức của cán bộ đảng viên và nhân dân phải hiểu cơ chế thị trường, nhận thức được tính hai mặt của cơ chế. Thứ hai, phải dẫn dắt hỗ trợ những nổ lực phát triển thông qua chiến lược, kế hoạch, các chính sách kinh tế, sử dụng có trọng điểm các nguồn lực kinh tế quốc doanh, tạo nguồn lực để phát triển kinh tế Nhà nước trong những ngành, những lĩnh vực trọng yếu như: kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, hệ thống tài chính, ngân hàng, BHXH, những cơ sở sản xuất và thương mại dịch vụ quan trọng, một số doanh nghiệp thực hiện những nhiệm vụ có quan hệ đến quốc phòng – an ninh, khai thông các quan hệ kinh tế. Thư ba, Nhà nước phải hoạch định và thực hiện các chính sách xã hội. Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển. Công bằng xã hội phải thể hiện ở khâu phân phối tư liệu sản xuất lẫn ở khâu kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người đều có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình. Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xóa đói, giảm nghèo; thu hẹp khoảng cách và trình độ phát triển về mức sống giữa các vùng, các tầng lớp dân cư, giải quyết việc làm cho người lao động. Phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta “uống nước nhớ nguồn”, “đền ơn, đáp nghĩa”, nhân hậu. vv… Thư tư, Nhà nước phải tăng cường kiểm tra, giám sát các hoạt động trong nền kinh tế trên lĩnh vực sử dụng tài nguyên, tài sản quốc gia, bảo vệ môi trường, trật tự kỹ cương của nền kinh tế. Câu 2: Tăng trưởng và phát triển kinh tế 1. Tăng trưởng kinh tế: a. Khái niệm: Tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên về quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm). Đó là sự gia tăng quy mô sản lượng nhah hay chậm so với thời điểm gốc . Chỉ tiêu chính biểu hiện mức tăng trưởng kinh tế là tỷ lệ tăng GDP hoặc GNP của thời kỳ sau so với thời kỳ trước: (GNP1GNP0)GNP0.100% b.Vai trò của tăng trưởng kinh tế: + Có vai trò quan trọng đối với mỗi quốc gia. Nó là biểu hiện cần thiết đầu tiên để khắc phục tình trạng đói nghèo, lạu hậu; để cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống... + Là điều kiện để tạo thêm việc làm, giảm thất nghiệp và nâng cao mức sống của nhân dân... + Là tiền đề vật chất để củng cố an ninh quốc phòng của mỗi quốc gia. Tuy vai trò của tăng trưởng kinh tế là hết sức quan trọng, nhưng cần phải tăng trưởng hợp lý. Tăng trưởng phù hợp với khả năng của đất nước ở từng thời kỳ nhất định. Tránh tình trạng tăng trưởng kinh tế ở trạng thái quả nóng, quá thấp. Vì vậy, cần tăng trưởng kinh tế hợp lý tức là phù hợp với khả năng của đất nước trong thời kỳ nhất định. c. Các nhân tố tăng trưởng kinh tế : Tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào nhiều yếu tố, song các nhân tố cơ bản là: Vốn: Là toàn bộ của cải vật chất do con người tạo ra được tích luỹ lại cộng với tài nguyên thiên nhiên. Vốn được thể hiện dưới nhiều hình thức: Hiện vật và tiền tệ. Mối quan hệ giữa tăng GDP với tăng vốn đầu tư gọi là hiệu suất sử dụng vốn sản phẩm gia tăng ICOR. Những nền kinh tế thành công thường là: Tằng 3% vốn đầu tư thì tăng 1% GDP. Vai trò của nhân tố vốn đối với tăng trưởng kinh tế không chỉ thể hiện mức vốn đầu tư mà còn ở hiệu suất sử dụng vốn. Con người. Là nhân tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế bền vững. Đó là con người có sức khỏe, có trí tuệ, kỹ năng cao ý chí và nhiệt tình lao động, được tổ chức hợp lý. Con người là nhân tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế bền vững vì: + Tài năng, trí tuệ của con người là vô tận. Đây là yếu tố quyết định trong nền kinh tế trí thức. Còn vốn tài nguyên thiên nhiên là hữu hạn. + Con người sáng tạo ra kỹ thuật công nghệ, và sử dụng chúng để sản xuất. Nếu không có con người các yếu tố này không thể tự phát sinh tác dụng. Vì vậy, phát triển giáo dục đào tạo, y tế... là để phát huy nhân tố con người. Khoa học và công nghệ. Kỹ thuật tiên tiến và công nghệ mới; nhất là công nghệ cao là động lực quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế ....Đây là nhân tố cho phép tăng trưởng kinh tế và tái sản xuất mở rộng theo chiều sâu. Cơ cấu kinh tế. Thể chế chính trị và quản lý nhà nước. Đây là nhân tố quan trọng và có quan hệ với các nhân tố khác. Thể chế chính trị ổn định và tiến bộ cùng với sự quản lý có hiệu quả của nhà nước tạo điều kiện để tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững; khắc phục được những khuyết tật của các kiểu tăng trưởng kinh tế: gây ô nhiễm môi trường; phân hoá giầu nghèo.... =>Muốn tăng trưởng kinh tế tốt phải đảm bảo thực hiện tốt các nhân tố trên. Nhưng trong đó yếu tố con người và thể chế chính trị là hai nhân tố có vai trò to lớn, đặc biệt là nhân tố con người. 3. Phát triển kinh tế: a. Khái niệm và sự biểu hiện của sự phát triển kinh tế. Phát triển kinh tế và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ nhưng không đồng nhất với nhau. + Phát triển kinh tế là sự tăng trưởng kinh tế gắn liền với sự hoàn thiện cơ cấu, thể chế kinh tế và chất lượng cuộc sống. + Muốn phát triển kinh tế phải có sự tăng trưởng kinh tế, nhưng không phải sự tăng trưởng kinh tế nào cũng dẫn tới sự phát triển kinh tế. Muốn phát triển kinh tế đòi hỏi phải thực hiện ba nội dung sau: • Sự tăng lên của GDP, GNP hoặc GDP, GNP tính theo đầu người. Có nghĩa là sự tăng trưởng kinh tế phải lớn hơn mức tăng dân số. • Sự thay đổi cơ cấu theo hướng: tỷ trọng của các ngành dịch vụ và công nghiệp trong GDP tăng lên còn tỷ trọng của nông nghiệp giảm xuống. Nhưng giá trị tuyệt đối của các ngành tăng lên. • Chất lượng cuộc sống của đại bộ phận dân cư phải được cải thiện chính vì vậy phải phối hợp có hiệu quả tăng trưởng kinh tế, ổn định lạm phát. b. Các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế. Những yếu tố thuộc về LLSX. + Các yếu tố thuộc về LLSX tạo thành các yếu tố đầu vào của sản xuất; số lượng và chất lượng của các yếu tố đầu vào quyết định đến số lượng và chất lượng của hàng hoá, dịch vụ và ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế: Ngày nay khi khoa học và công nghệ phát triển thì sự vận dụng vào sản xuất là vô cùng quan trọng để phát triển kinh tế nhanh và bền vững. Nhưng nhân tố hàng đầu của LLSX luôn luôn là con người, Đặc biệt trong điều kiện phát triển khoa học và công nghệ. Vì vậy đầu tư cho các lĩnh vực để phát huy nhân tố con người chính là đầu tư cho phát triển kinh tế. Những nhân tố thuộc về quan hệ sản xuất: Những nhân tố thuộc về kiến trúc thượng tầng
Xem thêm

Đọc thêm

Báo cáo thiết bị y sinh máy xét nghiệm sinh hóa bán tự động A25

BÁO CÁO THIẾT BỊ Y SINH MÁY XÉT NGHIỆM SINH HÓA BÁN TỰ ĐỘNG A25

Báo cáo môn thiết bị y sinh máy xét nghiệm sinh hóa bán tự động A25. Báo cáo mô tả tính năng các tính năng nổi trội của thiết bị xét nghiệm bán tự động A25, các thông số kỹ thuật và cấu hình của thiết bị.

12 Đọc thêm

BÁO CÁO THỰC TẬP TỔNG HỢP TẠI NHÀ MÁY BIA ĐÔNG NAM Á

BÁO CÁO THỰC TẬP TỔNG HỢP TẠI NHÀ MÁY BIA ĐÔNG NAM Á

Trong quá trình hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước tăng trưởng đáng kể. Có được sự tăng trưởng đó là nhờ đường lối đổi mới của Đảng, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho mọi thành phần kinh tế, sự nỗ lực của nhiều cấp, nhiều ngành trong việc tìm kiếm, mở rộng thị trường, sự năng động và sáng tạo của các doanh nghiệp. Ngành rượu bia nước giải khát nước ta là một trong những ngành có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, nó đã góp phần đáng kể vào sự tăng trưởng chung của nền kinh tế đất nước. Nhà máy Bia Đông Nam á là một trong những nha máy có đóng góp tích cực vào sự phát triển của ngành rượu bia nước giải khát nước ta. Hàng năm, nhà máy đã đóng góp hàng tỷ đồng cho ngân sách nhà nước, tạo việc làm cho nhiều lao động, và không ngừng nâng cao mức sống cho cán bộ công nhân viên trong toàn nhà máy.Có sự phát triển mạnh như vậy là nhờ sù nỗ lực rất lớn của tất cả cán bộ công nhân viên trong toàn công ty. Thời gian thực tập tại nhà máy bia Đông Nam á chưa nhiều, nhưng với sự hướng dẫn nhiệt tình của thầy, cô giáo, và các cô, các chú trong nhà máy, tôi đã phần nào hiểu được tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty và hoàn thành được báo cáo tổng hợp về tình hình chung của nhà máy bia Đông Nam á. Kết cấu báo cáo thực tập gồm 3 phần: Phần I: Khái quát về Liên doanh nhà máy bia Đông Nam á Phần II: Chức năng nhiệm vụ và các hoạt động của phòng nhân sự nhà máy. Phần III: Phương hướng và mục tiêu của nhà máy trong các năm tới.
Xem thêm

30 Đọc thêm

QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG NGÀNH BƯU CHÍNH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ĐẾN NĂM 2020

QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG NGÀNH BƯU CHÍNH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ĐẾN NĂM 2020

1.Tính cấp thiết của đề tàiSo với nhiều ngành trong lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật, dịch vụ thì ngành Bưu chính, Viễn thông có vai trò rất quan trọng trong kết cấu hạ tầng của nền kinh tế quốc dân, bởi sự phát triển của nó đã có những tác động sâu sắc và hỗ trợ đắc lực cho các ngành kinh tế kỹ thuật khác phát triển, ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao mức sống cho nhân dân và làm thay đổi cơ bản cách quản lý, tư duy trong học tập và làm việc của con người.Bưu chính Việt Nam đã gắn liền với Viễn thông hơn 60 năm, giữ vai trò quan trọng bảo đảm mạch máu thông tin liên lạc, góp phần tích cực làm nên thắng lợi vẻ vang của dân tộc qua hai cuộc kháng chiến vệ quốc và thúc đẩy nhanh tiến trình đổi mới xây dựng lại đất nước. Nay chia tách khỏi Viễn thông cũng là lúc ngành Bưu chính phải đối mặt với nhiều khó khăn và áp lực lớn. Đó là sự cạnh tranh gay gắt trong cơ chế thị trường, sự tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới, nhu cầu của khách hàng về các loại hình dịch vụ bưu chính tăng nhanh do kinh tế phát triển. Trong lúc yếu tố độc quyền trong ngành Bưu chính đã không còn tồn tại nữa mà thay vào đó là sự gia tăng liên tục của các nhà khai thác cung cấp dịch vụ mới trong và ngoài nước. Điều này gây ra một sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bưu chính, đặc biệt phải cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài có nhiều kinh nghiệm, trang thiết bị hiện đại, khả năng cung cấp dịch vụ đa dạng, chất lượng và kỹ năng tiếp thị tốt hơn.Tuy chất lượng các loại hình dịch vụ truyền thống đã có sự tiến bộ, giá dịch vụ tuy đã được giảm nhiều lần nhưng vẫn còn cao so với mức thu nhập của người dân, đặc biệt là cư dân nông thôn. Bưu chính của nước ta hiện nay vẫn đang sử dụng đội ngũ lao động thủ công, trang thiết bị còn nghèo nàn và chậm được đổi mới; các dịch vụ truyền thống đã không còn sức hấp dẫn nhiều đối với khách hàng, các dịch vụ mới, phù hợp hơn với nhịp sống hiện đại thì phát triển chậm; sự khan hiếm về các nguồn lực của bưu chính là những khó khăn, bất cập lớn đối với ngành Bưu chính hiện nay.Để hỗ trợ cho ngành Bưu chính phát triển cũng như thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển, đóng góp tích cực cho GDP và cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, năm 2002, Pháp lệnh Bưu chính, Viễn thông đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa X ban hành, tạo ra một hành lang pháp lý cơ bản cho thị trường bưu chính ổn định và phát triển, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau được tham gia kinh doanh dịch vụ bưu chính trong môi trường cạnh tranh công bằng, minh bạch. Đảng và Nhà nước tađã khẳng định, cần phải có những cơ chế quản lý thích hợp để giúp ngành Bưu chính phát triển nhanh, chiếm lĩnh và đứng vững trên thị trường trong nước, đồng thời chủ động vươn ra hoạt động kinh doanh trên thị trường quốc tế. Từ đó, nhiều văn bản pháp lý đã được ban hành như: Luật bưu chính số 492010QH12 ngày 1762010; Chiến lược phát triển Bưu chính, Viễn thông Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 theo Quyết định số 1582001QĐTTg ngày 28102001 của Thủ tướng Chính phủ; Chiến lược phát triển công nghiệp Bưu chính, Viễn thông đến năm 2020 được ban hành kèm theo Quyết định số 6261998QĐTCBĐ ngày 5101998 của Tổng Cục trưởng Tổng Cục Bưu điện.Thành phố Hà Nội là Thủ đô của nước CHXHCN Việt Nam, là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội quan trọng của cả nước. Nơi đây tập trung nhiều cơ quan đầu não của cả nước như các Bộ, ban ngành, các cơ quan trung ương, các trường đại học lớn và các doanh nghiệp kinh tế quan trọng. Vì thế đòi hỏi phải tập trung mọi nguồn lực để đầu tư xây dựng, phát triển Hà Nội thành thủ đô văn minh, hiện đại. Qua tìm hiểu nghiên cứu thực trạng về quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng ngành Bưu chính trên địa bàn Thành phố Hà Nội chúng ta thấy còn nhiều vấn đề phải bàn. Được sự phân công của Khoa Kế hoạch và Phát triển trường Đại học Kinh tế Quốc dân, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng, tôi xin được nghiên cứu đề tài “Quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng ngành Bưu chính trên địa bàn Thành phố Hà Nội đến năm 2020”
Xem thêm

64 Đọc thêm

Đồ án thiết kế máy chiên chân không

ĐỒ ÁN THIẾT KẾ MÁY CHIÊN CHÂN KHÔNG

Nông nghiệp là một ngành trọng điểm của nước ta từ xưa đến nay, mặc dù hiện nay với xu thế công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước nhưng việc phát triển nông nghiệp và đưa khoa học kỹ thuật vào ứng dụng trong nông nghiệp ngày càng được phổ biến. Nhờ áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật về công nghệ sinh học, kỹ thuật canh tác, chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp mà tốc độ tăng trưởng kinh tế trong lĩnh vực nông nghiệp đạt được khá cao. Các sản phẩm nông nghiệp ngoài sử dụng sản phẩm tươi thì bây giờ người ta đưa các công nghệ chế biến vào để tăng chất lượng cũng như bảo quản được lâu hơn. Có nhiều phương pháp chế biến các loại rau, củ, quả như: Phơi, sấy khô, nghiền thành bột, nước hoa quả. Cùng với sự tăng trưởng, phát triển của nền kinh tế mà nhu cầu sử dụng thức ăn nhanh của mọi người ngày càng cao, nó giúp con người tiết kiệm thời gian, và sử dụng được thực phẩm tươi ngon hơn mà không cần bảo quản lâu dài. Một số sản phẩm đồ ăn nhanh được sử dụng hiện nay như: Rau trái chiên, sấy,....... Về nông sản ngô là một loại cây nông nghiệp có sản lượng tương đối lớn trong ngành nông nghiệp của Việt Nam vì nó rất thích hợp với thời tiết ở Việt Nam và cho năng suất rất cao. Vì vậy việc để tiêu thụ và sử dụng ngô cũng cần được thực hiện để nâng cao chất lượng và nâng cao chất lượng. Một số sản phẩm được chế biến ngô ngay sau khi thu hoạch như chế biến ngô để làm sữa ngô, rượu ngô, hay các món ăn nhanh của ngô cần phải chiên rán để tăng chất lượng, giúp sản phẩm thơm, giòn, và tăng giá trị cảm quản của ngô.
Xem thêm

84 Đọc thêm

Nghiên cứu đặc tính hóa lý của màng thụ động Cr(III) trên lớp mạ kẽm và khả năng bảo vệ chống ăn mòn

NGHIÊN CỨU ĐẶC TÍNH HÓA LÝ CỦA MÀNG THỤ ĐỘNG CR(III) TRÊN LỚP MẠ KẼM VÀ KHẢ NĂNG BẢO VỆ CHỐNG ĂN MÒN

MỞ ĐẦU Công nghệ và vật liệu nano là lĩnh vực còn khá mới mẻ nhưng đã thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học. Nhiều thành tựu ứng dụng trong các ngành vật liệu điện tử, quang điện tử, vật liệu từ, y sinh học đã được nghiên cứu và phát triển thành công [6, 83, 87]. Vật liệu polyme nanocompozit, kết quả của sự kết hợp giữa polyme và vật liệu nano, đã thể hiện được các ưu điểm của các thành phần chất gia cường nano và pha phân tán polyme. Lý thuyết, mô hình chế tạo và ứng dụng của loại vật liệu này cũng đã và đang được quan tâm chú ý. Ngoài các ứng dụng vượt trội của vật liệu polyme nanocompozit trong các lĩnh vực như xây dựng, điện tử, gia dụng…do tính chất cơ lý nổi trội của vật liệu nanocompozit như tăng độ bền, chịu nhiệt, giảm độ thấm khí. Ngày nay, vật liệu nanocompozit đã được quan tâm hơn cho các ứng dụng sinh học dựa vào khả năng tương thích sinh học và phân hủy sinh học của một số loại polyme sinh học kết hợp với các tính năng đặc biệt như tính chất từ, tính chất quang của các chất gia cường nano. Trong số các polyme sinh học, chitosan đã và đang thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu. [5, 9, 70, 86]. Chitosan là sản phẩm đề axetyl hóa chitin, có nguồn gốc từ phế phẩm của ngành chế biến thủy hải sản, là polyme có hàm lượng đứng thứ 2 trong tự nhiên (sau xenlulo) [86]. Chitosan mang đầy đủ đặc trưng ưu việt của chitin như: (i) có tính tương thích sinh học và không độc hại, (ii) có khả năng phân hủy sinh học, (iii) có tính hấp phụ cao. Thêm vào đó, các chất gia cường nano như hạt nano bạc, nano sắt từ cũng đã được chế tạo và ứng dụng thành công trong các ứng dụng trong lĩnh vực y sinh, trong chẩn đoán và điều trị bệnh do mang các tính chất từ và tính chất quang cũng như tính kháng khuẩn thú vị [1, 7, 15, 28, 32, 46, 97]. Vật liệu polyme nanocompozit kết hợp chất gia cường nano bạc, nano sắt từ trên nền polyme chitosan hứa hẹn sẽ tăng cường ứng dụng của loại vật liệu này trong lĩnh vực y sinh. Chính vì vậy mục tiêu của luận án này là chế tạo vật liệu nanocompozit đa chức năng chứa nano bạc, nano sắt từ trên nền chitosan nhằm kết hợp các tính chất quý báu riêng rẽ của các vật liệu thành phần, tạo ra hệ polyme nanocompozit đa chức năng có tiềm năng ứng dụng trong lĩnh vực y sinh. Với các lý do nêu trên, đề tài không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn to lớn.
Xem thêm

118 Đọc thêm

PHÂN TÍCH VÀ ĐỊNH GIÁ CỔ PHIẾU CỦA CÁC CÔNG TY TĂNG TRƯỞNG NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

PHÂN TÍCH VÀ ĐỊNH GIÁ CỔ PHIẾU CỦA CÁC CÔNG TY TĂNG TRƯỞNG NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

15Phân tích và định giá cổ phiếu của các công ty tăng trưởng niêm yết 2010trên thị trường chứng khoán Việt Nam3.2. Về ban lãnh đạoĐể điều hành một doanh nghiệp thành công, ban lãnh đạo doanhnghiệp phải là những người có tâm huyết, gắn bó với doanh nghiệp, nhất lànhững lúc mà doanh nghiệp phải trải qua những giai đoạn phát triển khókhăn. Nếu ban lãnh đạo không tâm huyết với doanh nghiệp thì rất khó cóthể chèo lái doanh nghiệp vượt qua được những khó khăn trở ngại và vìmột động cơ nào đó, có thể đưa ra những quyết định không đảm bảo quyềnlợi cho cổ đông. Thông thường, nếu ban lãnh đạo yêu ngành nghề kinhdoanh của doanh nghiệp, đồng thời là những nhà sáng lập và nắm giữ mộtsố lượng cổ phần đủ lớn thì sẽ tâm huyết với doanh nghiệp hơn là nhữngnhà lãnh đạo chỉ được thuê để làm công việc đó. Vì khi là nhà sáng lập thìban lãnh đạo xem doanh nghiệp như là đứa con tinh thần của mình nên sựphát triển của nó rất quan trọng đối với họ.Kinh nghiệm chuyên môn và kinh nghiệm quản lý cũng đóng vai tròrất quan trọng đối với sự thành công của một nhà lãnh đạo doanh nghiệp.Các nhà đầu tư thường đánh giá cao những người có nhiều năm kinhnghiệm về chuyên môn và quản lý trong ngành.Ngoài các yếu tố về tâm huyết và kinh nghiệm một nhà lãnh đạothành công còn cần phải có tư duy chiến lược, sự sáng tạo và đổi mới, biếtcách thu hút và khai thác nhân tài, và có tham vọng lớn. Tư duy chiến lượcsẽ giúp định hướng doanh nghiệp phát triển đúng hướng trong dài hạn, tậndụng được các cơ hội và khai thác được tối đa thế mạnh của mình. Sự sángtạo và đổi mới sẽ giúp cho doanh nghiệp phát triển năng động hơn, có khảnăng thích nghi cao với sự thay đổi của môi trường kinh doanh, nhạy béntrong việc nhận biết và khai thác cơ hội. Khả năng thu hút và khai thác
Xem thêm

20 Đọc thêm

XỬ LÝ ẢNH SIÊU ÂM GAN KHÔNG GÂY HẠI BẰNG PHÉP BIẾN ĐỔI WAVELET PACKET KẾT HỢP SUPPORT VECTOR MACHINE

XỬ LÝ ẢNH SIÊU ÂM GAN KHÔNG GÂY HẠI BẰNG PHÉP BIẾN ĐỔI WAVELET PACKET KẾT HỢP SUPPORT VECTOR MACHINE

định hướng tôi trong quá trình hoàn thành đề tài.Xin cảm ơn quí Thầy Cô khoa Điện – Điện Tử, Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật,những người đã tận tình chỉ bảo, cung cấp cho chúng tôi những kiến thức kỹ thuậtnền tảng và chuyên sâu, là cơ sở quan trọng để tôi hoàn thành luận văn này và vữngbước chuyên môn trong con đường sự nghiệp.TP.HCM, Ngày 8 tháng 03 năm 2015Học Viên : Trịnh Hoàng DuyivTÓM TẮTMục đích của nghiên cứu này là để áp dụng một tập hợp gồm 3 kỹ thuật phối hợpdùng Wavelet Packets trong phân rã ảnh và nổi bờ biên để phân tích kết cấu nhằmphân biệt gan bình thường và gan xơ trong hình ảnh siêu âm M-mode. Trong phươngpháp này, các hình ảnh được phân tách ra thành ảnh con bởi Wavelets Packets. Cácnét đặc trưng được trích xuất đa tỷ lệ và tăng cường bờ biên thể hiện sự đồng nhấtgan và kết hợp Support Vector Machine (VSM). Một tập hợp các tính năng đa tỷ lệvà phép quay đã được lựa chọn đã mang lại hiệu quả cao nhất trong việc phân loạigan. Trong một phân tích của 400 ảnh gồm 200 gan bình thường và 200 gan xơ sẽtheo phương pháp kết hợp này có hiệu quả có thể phân biệt gan xơ hay gan bìnhthường từ ảnh siêu âm gan không gây hại, và do đó có tiềm năng để tăng độ chínhxác của chẩn đoán các tổn thương gan khu trú trong hình ảnh siêu âm.ABSTRACTThe purpose of this study is to apply a set of three co-operative techniques using WaveletPackets of image decomposition and enhanced boundaries for structural analysis todistinguish normal livers and cirrhosis ones in M- mode ultrasound images. In thismethod, the image is decomposed into sub-images by Wavelet Packets. The features are
Xem thêm

118 Đọc thêm

Cùng chủ đề