VÍ DỤ VỀ CHỨC NĂNG TẠO TIỀN

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "VÍ DỤ VỀ CHỨC NĂNG TẠO TIỀN":

ĐỀ CƯƠNG ôn tập KIỂM TRA học kì i môn sinh

ĐỀ CƯƠNG ôn tập KIỂM TRA học kì i môn sinh

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP KIỂM TRA HỌC KÌ I MÔN SINH – LỚP 6 Năm học 2015 2016 Câu 1: Các miền của rễ và chức năng của từng miền. Phân biệt được rễ cọc, rễ chùm. Phân biệt các loại rễ biến dạng Câu 2: Tại sao phải thu hoạch các cây có rễ củ trước khi cây ra hoa? Câu 3: Thiết kế các thí nghiệm chứng minh cây cần nước và muối khoáng Câu 4: Cấu tạo ngoài của thân. Nhận biết các dạng thân. Phân biệt và cho ví dụ về các loại thân chính. Cho ví dụ ? Phân biệt các loại thân biến dạng ? Cho ví dụ ? Ứng dụng về bấm ngọn, tỉa cành để tăng năng suất cây trồng
Xem thêm

Đọc thêm

nhân và hoạt động sinh sản tế bào

NHÂN VÀ HOẠT ĐỘNG SINH SẢN TẾ BÀO

Tế bào là đơn vị cấu trúc và chức năng của đa số sinh vật (trừ những dạng sống tiền tế bào chẳng hạn như virus). Những sinh vật đơn bào như vi khuẩn, cơ thể chỉ gồm một tế bào. Các sinh vật đa bào cấu tạo từ nhiều tế bào; ví dụ con người gồm khoảng 1014 tế bào. Học thuyết tế bào xây dựng từ thế kỷ 19 đã phát biểu rằng: mọi sinh vật được cấu tạo từ một hoặc nhiều tế bào các tế bào chỉ được tạo ra từ những tế bào trước đó mọi chức năng sống của sinh vật được diễn ra trong tế bào các tế bào chứa các thông tin di truyền cần thiết để điều khiển các chức năng của mình có thể truyền vật liệu di truyền này cho các thế hệ tế bào tiếp theo Tế bào nuôi cấy được nhuộm keratin (màu đỏ) và ADN (xanh lục). Thuật ngữ tế bào có nguồn gốc từ tiếng Latin cella, nghĩa là khoang nhỏ. Thuật ngữ này do nhà sinh học Robert Hooke đặt ra khi ông quan sát các tế bào nút bấc.
Xem thêm

36 Đọc thêm

Đề cương ôn tập có lời giải môn CAE

Đề cương ôn tập có lời giải môn CAE

Câu 1: Phân tích chức năng của sản phẩm và các phương pháp đưa ra ý tưởng trong thiết kế sản phẩm? Phân tích chức năng của sản phẩm  Trong thực tế mỗi loại sản phẩm lại có một chức năng riêng  Trên thực tế người ta luôn muốn một sản phẩm đảm nhiệm nhiều chức năng để nó có thể đảm nhiệm nhiều công việc khác nhau  Nhưng chính vì lý do đó mà cũng khiến các nhà thiết kế rất đau đầu họ phải chung hòa các chức năng trong sản phẩm của mình vừa phải tối ưu hóa thiết kế sao cho sản phẩm dù đa năng những vẫn có kích thước nhỏ gọn  VD: chiếc điện thoại thông minh nó tích hợp rất nhiều chức năng nhưng lại rất nhỏ gọn  Việc tạo ra các sản phẩm tích hợp nhiều chức năng là mục đích hàng đầu của bất kỳ người thiết kế nào những sản phẩm như vậy rất được mọi người ưa chuộng vào ngày nay  Chức năng của sản phẩm:  Sản phẩm là trung tâm của mọi thể loại sản xuất. Khi nói đến doanh nghiệp chúng ta nghĩ ngay đến sản phẩm của họ. Ví dụ như: nói đến Microsoft, chúng ta nghĩ ngay đến Windows, Office,……  Hoạt động của doanh nghiệp xoay quanh sản phẩm:Mọi hoạt động của doanh nghiệp đều xoay quanh sản phẩm, bất kể doanh nghiệp thuộc thể loại gì : doanh nghiệp sản xuất hay kinh doanh.  Sản phầm là then chốt: Sản phẩm quyết định đến thành bại của doanh nghiệp. Sản phẩm thành công thì doanh nghiệp phát triển và ngược lại.Ví dụ mới nhất là năm 2013 là các dòng điện thoại chủa BlackBerry đã khiến hãng này đứng trên bờ vực. Phương pháp đưa ra ý tưởng trong thiết kế sản phẩm Trong nội bộ doanh nghiệp: từ các nhân viên, nhà quản lý. Từ bên ngoài: từ nhượng quyền kinh doanh, mua lại tổ chức tạo ra sản phẩm mới, khách hàng, đối thủ cạnh tranh hoặc từ các trường, viện nghiên cứu. Doanh nghiệp có càng nhiều ý tưởng thì khả năng chọn được ý tưởng tốt càng cao. Doanh nghiệp nhỏ nên chủ động khai thác nguồn ý tưởng từ nội bộ do nguồn này dễ tác động, ít tốn kém về tiền và thời gian để khai thác. Vả lại các ý tưởng thường khả thi, sát với thực tế hơn bởi vì các ý tưởng từ nội bộ thường nảy sinh do va chạm với thực tế, tiếp xúc với khách hàng, quan sát đổi thủ cạnh tranh.
Xem thêm

Đọc thêm

HƯỚNG DẪN ÔN TẬP DẪN LUẬN NGÔN NGỮ_ VCU

HƯỚNG DẪN ÔN TẬP DẪN LUẬN NGÔN NGỮ_ VCU

DẪN LUẬN NGÔN NGỮHƯỚNG DẪN ÔN TẬPCâu 1: Trình bày các tính chất của ngữ âm. Phân tích và lấy ví dụ1.Tính chất sinh lý (về phương diện cấu âm)Âm thanh của ngôn ngữ được tạo rado sự hoạt động của bộ máy cấu âmcủa con người. Bộ máy đó gồm:2.Tính chất vật lý của ngữ âm (về phương diện âm học)Cao độCường độÂm sắc3.Tính chất xã hội của ngữ âm (về phương diện chức năng)Mỗi xã hội, mỗi dân tộc có một ngôn ngữ với hệ thống ngữ âm riêng. Mỗi xã hội xử lý âm thanh theo cách riêng của mình. 1.Tính chất sinh lý (về phương diện cấu âm)Âm thanh của ngôn ngữ được tạo rado sự hoạt động của bộ máy cấu âmcủa con người. Bộ máy đó gồm:2.Tính chất vật lý của ngữ âm (về phương diện âm học)Cao độCường độÂm sắc3.Tính chất xã hội của ngữ âm (về phương diện chức năng)Mỗi xã hội, mỗi dân tộc có một ngôn ngữ với hệ thống ngữ âm riêng. Mỗi xã hội xử lý âm thanh theo cách riêng của mình.
Xem thêm

Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG ôn tập môn TIỀN tệ

ĐỀ CƯƠNG ôn tập môn TIỀN tệ

ĐỀ CƯƠNG MÔN TIỀN TỆ Câu 1:Trình bày bản chất và chức năng của tiền tệ? 1.1 Khái niệm: Tiền là 1loại hàng hóa đặc biệt được tách ra làm vật ngang giá chung cho tất cả các loại hàng hóa để đo giá trị hàng hóa . Tiền là 1 loại hàng hóa đặc biệt đóng vai trò là vật ngang giá trung để đo giá trị của các hàng hoá là phương diện cần thiết để thực hiện mọi quan hệ trao đổi do vậy tiền có thể thỏa mãn nhu cầu sở hữu nó tương ứng vs số lượng giá trị mà người đó đã tích lũy được. Tất cả các phương tiện có thể đóng vai trò trung gian trao đổi, được nhiều người thừa nhận thì gọi là tiền. 1.2Bản chất và chức năng của tiền tệ : Bản chất của tiền tệ được thể hiện qua các chức năng của nó . Theo CácMác tiền tệ có 5 chức năng: • Thước đo giá trị.: Tiền tệ dùng để biểu hiện và đo lường giá trị của các hàng hoá. Muốn đo lường giá trị của các hàng hoá, bản thân tiền tệ phải có giá trị. Vì vậy, tiền tệ làm chức năng thước đo giá trị phải là tiền vàng. Để đo lường giá trị hàng hoá không cần thiết phải là tiền mặt mà chỉ cần so sánh với lượng vàng nào đó một cách tưởng tượng. Sở dĩ có thể làm được như vậy, vì giữa giá trị của vàng và giá trị của hàng hoá trong thực tế đã có một tỷ lệ nhất định. Cơ sở của tỷ lệ đó là thời gian lao động xã hội cần thiết hao phí để sản xuất ra hàng hoá đó. Giá trị hàng hoá được biểu hiện bằng tiền gọi là giá cả hàng hoá. Do đó, giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá. Giá cả hàng hoá do các yếu tố sau đây quyết định: + Giá trị hàng hoá. + Giá trị của tiền. + ảnh hưởng của quan hệ cung cầu hàng hoá. Để làm chức năng thước đo giá trị thì bản thân tiền tệ cũng phải được đo lường. Do đó, phải có đơn vị đo lường tiền tệ. Đơn vị đó là một trọng lượng nhất định của kim loại dùng làm tiền tệ. ở mỗi nước, đơn vị tiền tệ này có tên gọi khác nhau. Đơn vị tiền tệ và các phần chia nhỏ của nó là tiêu chuẩn giá cả. Tác dụng của tiền khi dùng làm tiêu chuẩn giá cả không giống với tác dụng của nó khi dùng làm thước đo giá trị. Là thước đo giá trị, tiền tệ đo lường giá trị của các hàng hoá khác; là tiêu chuẩn giá cả, tiền tệ đo lường bản thân kim loại dùng làm tiền tệ. Giá trị của hàng hoá tiền tệ thay đổi theo sự thay đổi của số lượng lao động cần thiết để sản xuất ra hàng hoá đó. Giá trị hàng hoá tiền tệ (vàng) thay đổi không ảnh hưởng gì đến chức năng tiêu chuẩn giá cả của nó, mặc dù giá trị của vàng thay đổi như thế nào. Ví dụ, một USD vẫn bằng 10 xen. Phương tiện lưu thông: Với chức năng làm phương tiện lưu thông, tiền làm môi giới trong quá trình trao đổi hàng hoá. Để làm chức năng lưu thông hàng hoá ta phải có tiền mặt. Trao đổi hàng hoá lấy tiền làm môi giới gọi là lưu thông hàng hoá.
Xem thêm

Đọc thêm

Kỹ thuật dùng tế bào gốc ghép da

Kỹ thuật dùng tế bào gốc ghép da

Tế bào gốc là gì? Cơ thể con người có rất nhiều loại tế bào cần thiết cho sức khoẻ hàng ngày. Những tế bào này giúp cho cơ thể hoạt động bình thường, bao gồm nhịp đập của tim, suy nghĩ của não, thận làm sạch máu, và sự thay đổi tế bào mới cho da…Chức năng đặc biệt cuả tế bào gốc là tạo ra toàn bộ những loại tế bào khác trong cơ thể. Tế bào gốc là nhà cung cấp của tế bào mới. Khi tế bào gốc phân ra, nó có thể làm ra thêm tế bào gốc mới, hoặc làm ra những loại tế bào khác. Ví dụ, tế bào gốc của da có thể làm ra thêm những tế bào gốc mới của da, hoặc tạo ra những tế bào với những chức năng đặc biệt, như là giúp cho sắc tố cuả da. Tại sao tế bào gốc quan trọng cho sức khỏe? Khi chúng ta bị thương hoặc bị bệnh, tế bào trong cơ thể cuả chúng ta cũng sẽ bị thương hoặc chết. Khi như vậy, tế bào gốc bắt đầu hoạt động. Công việc của tế bào gốc gồm sửa chữa những tế bào bị thương và thay tế bào mới vào chỗ những tế bào chết. Đây là cách mà tế bào gốc giữ cơ thể khỏe mạnh và chống thoái hoá không bình thường.
Xem thêm

Đọc thêm

Bài giảng Kinh tế vĩ mô: Chương 5 ThS. Trần Mạnh Kiên

BÀI GIẢNG KINH TẾ VĨ MÔ: CHƯƠNG 5 THS. TRẦN MẠNH KIÊN

Bài giảng Kinh tế vĩ mô Chương 5: Tiền tệ, ngân hàng và chính sách tiền tệ trình bày lịch sử của tiền tệ, định nghĩa và chức năng của tiền, các loại tiền, tiền trong nền kinh tế, ngân hàng và tỷ lệ dự trữ, quá trình tạo tiền của hệ thống ngân hàng, ngân hàng trung ương, công cụ kiểm soát tiền tệ của ngân hàng trung ương,... Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết.

15 Đọc thêm

Chứng minh cơ quan hành chính nhà nước là chủ thế quản lí hành chính nhà nước quan trọng nhất

Chứng minh cơ quan hành chính nhà nước là chủ thế quản lí hành chính nhà nước quan trọng nhất

Chứng minh cơ quan hành chính Nhà nước là chủ thế quản lí hành chính Nhà nước quan trọng nhất Bài tập học kỳ Luật Hành chính Chuyên mục Bài tập học kỳ, Luật Hành chính Các cơ quan hành chính nhà nước là một bộ phận cấu thành của bộ máy Nhà nước. Việc tìm hiểu khái niệm, đặc điểm, chức năng, địa vị pháp lý của các cơ quan hành chính Nhà nước sẽ giúp chúng ta phân biệt chúng với các cơ quan Nhà nước khác và để thấy được vì sao cơ quan hành chính Nhà nước lại là chủ thế quản lí hành chính Nhà nước quan trọng nhất trong bộ máy Nhà nước. Do đó nhóm chúng em đã chọn đề tài: “Phân tích khái niêm, đặc điểm của các cơ quan hành chính Nhà nước. Chứng minh cơ quan hành chính Nhà nước là chủ thế quản lí hành chính Nhà nước quan trọng nhất”. NỘI DUNG I – KHÁI NIỆM CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 1. Định nghĩa Cơ quan hành chính nhà nước là bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước, trực thuộc trực tiếp hoặc gián tiếp cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp, có phương diện hoạt động chủ yếu là hoạt động chấp hành điều hành, có cơ cấu tổchức và phạm vi thẩm quyền do pháp luật quy định. 2. Đặc điểm của cơ quan hành chính nhà nước 2.1. Đặc điểm chung của các cơ quan nhà nước. Cơ quan hành chính nhà nước có quyền nhân danh nhà nước khi tham gia vào các quan hệ pháp luật nhằm thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý với mục đích hướng tới lợi ích công. Cơ quan hành chính nhà nước có quyền nhân danh nhà nước tức là được sử dụng quyền lực nhà nước, các biện pháp cưỡng chế nhà nước và được ban hành các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các chủ thể để thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước với mục đích vì lợi ích tập thể, lợi ích công cộng. Ví dụ: chủ tịch ủy ban nhân dân huyện A kí hợp đồng xây mới trụ sở ủy ban nhân dân với công ty xây dựng Y thì chủ tịch ủy ban nhân dân là người kí kết hợp đồng không phục vụ lợi ích cá nhân mà vì lợi ích tập thể, công cộng. Hệ thống cơ quan hành chính nhà nước có cơ cấu tổ chức phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn do pháp luật quy định. Ví dụ: Luật tổ chức Chính phủ 2001, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân 2003, …. Các cơ quan hành chính nhà nước được thành lập và hoạt động dựa trên những quy định của pháp luật, có chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền riêng và có những mối quan hệ phối hợp trong thực thi công việc được giao. Các cơ quan hành chính nhà nước cũng thực hiện quyền lực theo nguyên tắc: Quyền lực Nhà nước thống nhất, có sự phối hợp giữa quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Giống như cơ quan nhà nước, cơ quan hành chính nhà nước có quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hành chính; có quyền thực hiện các biện pháp mang tính quyền lực nhà nước nhằm đảm bảo thực hiện các quy phạm pháp luật trên thực tế; có quyền xử lý vi phạm hành chính đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm… Nguồn nhân sự chính của cơ quan hành chính nhà nước là đội ngũ cán bộ, công chức, được hình thành từ tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc bầu cử theo quy định của Luật cán bộ, công chức 2008. 2.2. Đặc điểm đặc trưng của cơ quan hành chính nhà nước Cơ quan hành chính nhà nước có chức năng quản lý hành chính nhà nước. (hoạt động chấp hànhđiều hành). Hoạt động chấp hànhđiều hành được hiểu là hoạt động được tiến hành trên cơ sở Luật và áp dụng luật vào thực tế đời sống xã hội nhằm thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước.Đây là phương diện hoạt động chủ yếu của cơ quan hành chính nhà nước, cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa cơ quan hành chính nhà nước và cơ quan nhà nước.Các cơ quan nhà nước khác cũng tiến hành các hoạt động quản lý hành chính nhà nước nhưng không phải là phương diện hoạt động chủ yếu mà chỉ là hoạt động nhằm hoàn thành chức năng cơ bản của mình.Ví dụ: Chủ tịch nước ra quyết định bổ nhiệm ông Trần Quốc Vương vào chức viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao. Hoạt động này nhằm củng cố, kiện toàn tổ chức của hệ thống tư pháp nhằm thực hiện chức năng kiểm sát tốt hơn… Hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước được thành lập từ trung ương đến cơ sở và tạo thành một chỉnh thể thống nhất, được tổ chức theo thứ bậc, có mối quan hệ mật thiết phụ thuộc nhau về tổ chức và hoạt động nhằm thực thi quyền quản lý hành chính nhà nước. Đứng đầu hệ thống này là Chính phủ, sau đó là các bộ, cơ quan ngang bộ và ủy ban nhân dân các cấp.Giữa các cơ quan hành chính các cấp có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, cơ quan hành chính cấp dưới phải phục tùng cơ quan hành chính cấp trên.Ví dụ: Bộ và cơ quan ngang bộ phải chịu sự quản lý của Chính phủ. Chính phủ lãnh đạo công tác của bộ và cơ quan ngang bộ, quy định về cơ cấu tổ chức, cách thức, phương pháp thực hiện của bộ và cơ quan ngang bộ. Thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước được pháp luật quy định trên cơ sở lãnh thổ, ngành hoặc lĩnh vực chuyên môn mang tính tổng hợp. Đó là những quyền và nghĩa vụ pháp lí hành chính chỉ giới hạn trong phạm vi hoạt động chấp hành – điều hành. Chính phủ có thẩm quyền chung đối với tất cả các tỉnh, thành phố trong nước. Ủy ban nhân dân các cấp chỉcó thẩm quyền trong phạm viđịa phương mà mình quản lý. Ví dụ: Quyết định của ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn chỉ có hiệu lực trong phạm vi mà mình quản lý, nếu ra ngoài phạm vi của mình quản lý thì quyết định đó không còn hiệu lực. Các cơ quan hành chính nhà nước đều trực tiếp hay gián tiếp trực thuộc cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp, chịu sự giám sát và báo cáo công tác trước cơ quan quyền lực nhà nước. Trước hết, các cơ quan hành chính nhà nước đều trực tiếp hoặc gián tiếp do cơ quan quyền lực lập ra. Ví dụ: Quốc hội trực tiếp bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thủ tướng chính phủ, phê chuẩn đề nghị của thủ tướng chính phủ về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức phó thủ tướng, bộ trưởng và các thành viên khác của chính phủ; Ủy ban nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra… Mọi hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước đều chịu sự giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước và phải báo cáo công tác trước cơ quan quyền lực. Các cơ quan hành chính nhà nước có hệ thống đơn vị cơ sở trực thuộc. Hầu hết các cơ quan có chức năng quản lý hành chính nhà nước đều có các đơn vị cơ sở trực thuộc. Ví dụ: Các trường đại học trực thuộc Bộ giáo dục và đào tạo, các bệnh viện trực thuộc Bộ y tế; các tổng công ty, công ty, nhà máy trực thuộc Bộ công thương, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ giao thông vận tải…Hệ thống đơn vị cơ sở trực thuộc có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo hiệu quả của hoạt động quản lý hành chính nhà nước cũng như đáp ứng các dịch vụ xã hội, bảo đảm công bằng, vì lợi ích chung của xã hội. II – CHỨNG MINH CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC LÀ CHỦ THỂ QUẢN LÍ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC QUAN TRỌNG NHẤT 1. Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động chủ yếu được coi là chức năng của cơ quan hành chính nhà nước Trong bộ máy nhà nước, mỗi hệ thống cơ quan chức năng khác nhau và cơ quan chức năng của cơ quan hành chính nhà nước được xác định là chức năng quản lý hành chính nhà nước (thực hiện hoạt động chấp hành điều hành).Biểu hiện của tính chất chấp hành là mọi hoạt động quản lý hành chính nhà nước đều được tiến hành trên cơ sở pháp luật và để thực hiện pháp luật.Tính chất điều hành được thể hiện ở hoạt động tổ chức và chỉ đạo trực tiếp đối với các đối tượng quản lý thuộc quyền để đảm bảo các văn bản pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước được thực hiện trên thực tế. Để thực hiện chức năng này, cơ quan hành chính nhà nước tiến hành hoạt động quản lý thường xuyên trên mọi mặt lĩnh vực của đời sống xã hội như quản lý của nhà nước về kinh tế, quản lý nhà nước về văn hóa, quản lý nhà nước về xã hội…. thông qua các hình thức được pháp luật quy định. Mỗi cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền quản lý hành chính khác nhau. Đó có thể là cơ quan có thẩm quyền chung, thực hiện chức năng quản lý hành chính trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội hoặc cũng có thể là các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn có chức năng quản lý hành chính nhà nước về ngành hoặc lĩnh vực công tác trong phạm vi cả nước. Các cơ quan nhà nước khác cũng thực hiện những hoạt động quản lý hành chính nhà nước nhưng chỉ thực hiện trong một phạm vi rất hẹp khi cần thiết, đó không phải là phương diện hoạt động chủ yếu mà chỉ là hoạt động được thực hiện nhằm hướng tới hoàn thành chức năng cơ bản của cơ quan nhà nước đó như: Chức năng lập pháp của Quốc hội, chức năng xét xử của Tòa án nhân dân, chức năng công tố và kiểm sát của viện kiểm sát nhân dân. Chỉ có cơ quan hành chính nhà nước mới thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước trên tất cả các lĩnh vực như kinh tế, văn hóa, xã hội… và việc thực hiện hoạt động đó nhằm hoàn thành chức năng quản lí hành chính nhà nước. Các cán bộ nhà nước có thẩm quyền quản lý hành chính nhà nước cũng thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính nhà nước thường xuyên, liên tục trong nhiệm kì công tác của họ. Nhưng hoạt động của họ phụ thuộc nhiều vào cơ quan mà họ đang công tác, không thể có chuyện cán bộ có quyền độc lập, vượt quá thẩm quyền pháp luật quy định cho cơ quan họ đang công tác. Một số cá nhân và tổ chức cũng được trao quyền thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước nhưng họ chỉ được trao quyền ấy trong một số trường hợp cụ thể, như cơ trưởng máy bay khi đang bay, thuyền trưởng tàu, thuyền đang hoạt động trên biển… 2. Cơ quan hành chính nhà nước là chủ thể quản lý hành chính nhà nước thường xuyên nhất Các quan hệ thuộc phạm vi quản lí hành chính được chia thành 3 nhóm cơ bản sau: + Các quan hệ quản lý phát sinh trong quá trình các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoạt động chấp hành – điều hành trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. + Các quan hệ quản lý hình thành trong quá trình các cơ quan nhà nước xây dựng và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình nhằm ổn định về tổ chức để hoàn thành chức năng nhiệm vụ của mình. + Các quan hệ quản lý hình thành trong quá trình các cá nhân và tổ chức được nhà nước trao quyền thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước trong một số trường hợp cụ thể do pháp luật quy định. Có thể nói nhóm quan hệ cơ bản và quan trọng nhất của hoạt động quản lí hành chính nhà nước là nhóm quan hệ thứ nhất.Bởi lẽ đây là nhóm quan hệ khá phong phú, diễn ra thường xuyên nhất trên nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, trong đó, cơ quan hành chính nhà nước là chủ thể quan trọng nhất so với các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước.Ví dụ: Trong khi Quốc hộicơ quan quyền lực nhà nước cao nhất họp một năm hai kì (Luật tổ chức Quốc hội 2001) để ban hành hoặc sửa đổi hiến pháp, luật và quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước thì Chính phủcơ quan hành chính nhà nước cao nhất họp thường kì mỗi tháng một lần (Luật tổ chức Chỉnh phủ 2001) để giải quyết những vấn đề phát sinh đang xảy ra hàng ngày trong thực tiễn đời sống xã hội. Đó là những hoạt động quản lí của cơ quan hành chính nhà nước cấp trên với cơ quan hành chính nhà nước cấp dưới theo hệ thống dọc (như Chính phủ với Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương); của cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung với cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn cùng cấp (như Chính phủ với Bộ công an) hay với cơ quan chuyên môn trực thuộc của nó; của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương với các đơn vị trực thuộc Trung ương đóng tại địa phương đó (như Ủy ban nhân dân quận Đống Đa với Trường Học Viện hành chính); của cơ quan hành chính nhà nước với các đơn vị trực thuộc (như Bộ Tư pháp với Trường Đại học Luật Hà Nội); của cơ quan hành chính với các tổ chức xã hội, kinh tế; và hoạt động quản lí của cơ quan hành chính với công dân người nước ngoài, người không quốc tịch (như giữa cơ quan có thẩm giải quyết khiếu nại với người khiếu nại)....Các hoạt động quản lí nhà nước nêu trên luôn diễn ra hàng ngày hàng giờ, để đảm bảo sự chấp hành luật, pháp lệnh, nghị quyết của các cơ quan quyền lực nhà nước, nhằm tổ chức và chỉ đạo một cách trực tiếp, thường xuyên để xây dựng đất nước phát triển nhanh chóng và bền vững. Hơn nữa hệ thống cơ quan hành chính nhà nước (chính phủ, bộ cơ quan ngang bộ, ủy ban nhân dân) có sự thống nhất c hặt chẽ với nhau, lại được trao trong tay quyền hành pháp nên đương nhiên là chủ thể quản lí hành chính thường xuyên nhất. Đối với nhóm quan hệ thứ 2, đó không phải là phương diện hoạt động chủ yếu mà chỉ nhằm ổn định về tổ chức để hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của mình ví dụ như kiểm tra nội bộ, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ công chức...Hoạt động này chỉ tạo điều kiện cho các cơ quan thực hiện tốt chức năng cơ bản của mình. Nhóm quan hệ thứ 3 cũng không phải nhóm quan hệ chủ đạo mà chỉ phát sinh trong một số trường hợp do pháp luật quy định. Trong một số trường hợp pháp luật có thể trao quyền thực hiện hoạt động chấp hành điều hành cho các cơ quan nhà nước khác, hay các tổ chức cá nhân...nhưng đây không phải là hoạt động quản lí hành chính nhà nước thường xuyên mà chỉ khi được pháp luật quy định. Ví dụ: chiến sĩ công an nhân dân đang thi hành công vụ có quyền phạt cảnh cáo ( Điều 39 Luật xử lí vi phạm hành chính). 3. Các cơ quan hành chính nhà nước tham gia quản lý hành chính nhà nước với số lượng lớn Trong hệ thống các cơ quan của bộ máy nhà nước thì cơ quan hành chính nhà nước chiếm số lượng lớn nhất. Hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước được thành lập và tổ chức chặt chẽ từ trung ương đến cơ sở, bao gồm Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ là các cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương và Ủy ban nhân dân các cấp là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, trong đó đứng đầu là Chính phủ, tạo thành một chỉnh thể thống nhất nhằm thực thi quyền quản lí hành chính nhà nước. Ở Việt Nam hiện nay gồm có 18 bộ và 4 cơ quan ngang bộ (Thanh tra Chính phủ, Ngân hàng nhà nước Việt Nam, Ủy ban dân tộc, Văn phòng Chính phủ). + Ủy ban nhân dân các cấp: + UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (hiện nay có 58 tỉnh và 5 thành phố trực thuộc trung ương – gọi chung là cấp tỉnh) + UBND huyện, thành phố trực thuộc tỉnh, quận và thị xã (hiện nay có 48 thành phố trực thuộc tỉnh, 47 quận, 46 thị xã và 556 huyện – gọi chung là cấp huyện) + UBND xã, phường, thị trấn (hiện nay có 1366 phường, 625 thị trấn, 9121 xã gọi chung là cấp xã) Bên cạnh đó, để giúp cơ quan hành chính thực hiện tốt chức năng của mình còn có một đội ngũ cán bộ, công chức khá lớn trong khi các chủ thể khác chỉ có một hoặc một số tham gia vào hoạt động quản lí hành chính nhà nước. 4. Chỉ có cơ quan hành chính nhà nước mới có đầy đủ quyền năng để thực hiện tất cả các hình thức quản lý hành chính nhà nước Các hình thức quản lí hành chính nhà nước bao gồm: Hình thức mang tính chất pháp lí: ban hành văn bản quy phạm pháp luật, ban hành văn bản áp dụng quy phạm pháp luật và thực hiện các hoạt động khác mang tính chất pháp lý. Hình thức không mang tính pháp lý: áp dụng những biện pháp tổ chức trực tiếp, thực hiện những tác động về nghiệp vụ kĩ thuật. Chỉ có cơ quan hành chính nhà nước mới có quyền năng thực hiện tất cả các hình thức quản lý trên. Trong số các hình thức trên thì những hình thức mang tính chất pháp lý có vai trò quan trọng, là những hình thức quản lý hành chính nhà nước trực tiếp. Và không phải tất cả các chủ thể quản lý hành chính nhà nước đều có thể thực hiện bởi nó được pháp luật quy định rất cụ thể về chủ thể tiến hành, trình tự, thủ tục cũng như hiệu lực thi hành. Chỉ có cơ quan hành chính nhà nước, với những thẩm quyền được pháp luật quy định cụ thể mới có thể tiến hành tất cả các hình thức quản lý hành chính nhà nước nêu trên đặc biệt là hình thức ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Về hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật: Các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan quyền lực nhà nước ban hành chứa những quy định mang tính khái quát cao. Trong khi hoạt động quản lí hành chính nhà nước bao hàm nhiều lĩnh vực của đời sống, rất rộng lớn và phức tạp, đòi hỏi phải được giải quyết cụ thể và chi tiết. Nhiệm vụ cụ thể hóa thuộc về cơ quan hành chính nhà nước.Ví dụ: Chính phủ được ban hành nghị quyết (như nghị quyết Nghị quyết số 13NQCP của Chính phủ : Về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường), nghị định (Nghị định 1292013NĐCP quy định về xử phạt vi phạm hành chính về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế); bộ trưởng được ban hành thông tư (Thông tư 092013TTBTC của Bộ Tài chính quy định về hoạt động kiểm tra và xử phạt vi phạm hành chính của quản lí thị trường); ủy ban nhân dân được ban hành quyết định, chỉ thị (Quyết định số 212011QĐUBND của UBND tỉnh về việc ban hành đơn giá thuê đất, thuê mặt nước trên địa bàn tỉnh Lào Cai). Về hoạt động ban hành văn bản áp dụng quy phạm pháp luật: chủ tịch ủy ban nhân dân được ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Về hoạt động khác mang tính chất pháp lý: áp dụng các biện pháp ngăn chặn và phòng ngừa vi phạm pháp luật; đăng kí những sự kiện nhất định; lập và cấp một số giấy tờ nhất định. Ví dụ: ủy ban nhân dân xã cấp giấy đăng kí khai sinh, giấy đăng kí kết hôn,... Về áp dụng những biện pháp tổ chức trực tiếp: đảm bảo sự kết hợp đúng đắn giữa tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách trong hoạt động của Chính phủ, ủy ban nhân dân; chuẩn bị và tiến hành các phiên họp của Chính phủ,... Về thực hiện những tác động về nghiệp vụ kĩ thuật: chuẩn bị tài liệu cho việc ban hành nghị định, làm báo cáo, công tác lưu trữ hồ sơ,...Cơ quan quyền lực nhà nước (Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp) không ban hành văn bản áp dụng quy phạm pháp luật, không thực hiện các hoạt động khác mang tính pháp lý. Cơ quan xét xử, cơ quan kiểm sát tuy cũng thực hiện các hình thức trên nhưng không nhiều như cơ quan hành chính nhà nước và chủ yếu để thực hiện chức năng chính của các cơ quan đó (xét xử, kiểm sát). Chẳng hạn, việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật rất hạn chế, chỉ được quy định cho Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, và văn bản do các chủ thể này ban hành cũng rất hạn chế, thường là hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật. KẾT LUẬN Tóm lại, cơ quan hành chính Nhà nước là một bộ phận không thể thiếu trong bộ máy Nhà nước, là chủ thể quan trọng nhất thực hiện chức năng quản lí hành chính Nhà nước. Tuy nhiên, trong thực tế, về cơ cấu tổ chức, xác định mục tiêu, về đội ngũ cán bộ, công chức…, các cơ quan này còn có những bất cập, hạn chế làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động quản lí. Vì vậy, Đảng và Nhà nước cần tích cực đề ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, cải cách cơ cấu tổ chức của các cơ quan này, đồng thời mỗi người dân cũng có ý thức tham gia hoạt động quản lý ở địa phương một nhiệm vụ mang tính chiến lược, lâu dài..
Xem thêm

Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG MÔN CÔNG CỤ PHÁI SINH

ĐỀ CƯƠNG MÔN CÔNG CỤ PHÁI SINH

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH PHÁI SINH 1. Khái niệm thị trường tài chính phái sinh Là nơi diễn ra các hoạt động mua đi bán lại các công cụ tài chính phái sinh, những công cụ mang tính hợp đồng mà thành quả của chúng được xác định trên một hoặc một số công cụ tài chính khác. 2. Các chủ thể tham gia thị trường tài chính phái sinh • Cơ quan tổ chức, quản lý, điều hành, giám sát thị trường Bộ Tài chính và Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước: chịu trách nhiệm xây dựng một hành lang pháp lý hoàn chỉnh nhằm quản lý, giám sát thị trường chứng khoán phái sinh một cách bao quát, hiệu quả nhằm đảm bảo giao dịch được diễn ra công khai, minh bạch, công bằng; tạo tiền đề phát triển thị trường chứng khoán phái sinh bền vững và bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư. Chức năng, nhiệm vụ: + Banhành các văn bản quy phạm pháp luật. + Cấp phép hoạt động cho các tổ chức kinh doanh cung cấp dịch vụ liên quan đến công cụ phái sinh. Ví dụ: công ty chứng khoán, cty tài chính,… + Chấp thuận, niêm yết các sản phẩm phái sinh (phê chuẩn hợp đồng). + Thực hiện chức năng quản lý Nhà nước. Sở giao dịch chứng khoán: với vai trò là cơ quan vận hành thị trường, Sở giao dịch chứng khoán phái sinh thực hiện các chức năng nhiệm vụ như sau: + Xây dựng các quy chế có liên quan. + Xây dựng hệ thống, các chỉ số làm tài sản cơ sở. + Tổ chức vận hành và giám sát thị trường. Tổ chức bù trừ, lưu ký (CCP): việc hình thành CCP nhằm đảm bảo quy trình bù trừ, thanh toán chứng khoán diễn ra thuận lợi, an toàn, công bằng. CCP thực hiện chức năng, nhiệm vụ sau: + Xây dưng các quy chế có liên quan. + Xây dựng hệ thống phục vụ bù trừ đảm bảo cơ chế CCP cho các giao dịch. + Thực hiện chức năng quản trị rủi ro.
Xem thêm

Đọc thêm

TIỂU LUẬN CUỐI KỲ XÃ HỘI HỌC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

TIỂU LUẬN CUỐI KỲ XÃ HỘI HỌC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘIĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂNKHOA XÃ HỘI HỌC----------  ---------TIỂU LUẬN CUỐI KỲMÔN: XÃ HỘI HỌC KHOA HỌCVÀ CÔNG NGHỆGIẢNG VIÊN: TS. ĐÀO THANH TRƯỜNGSinh viên: Nguyễn Việt AnhMã sinh viên: 12031110Hà Nội, tháng 1 - 20161Câu 1: Lấy ví dụ thực tế để làm rõ 5 chuẩn mực của cộng đồng khoa học.Bằng ví dụ thực tế, chỉ rõ vai trò của chuẩn mực “organized skepticism”trong khoa học. Dựa trên quan điểm triết học Marxist, bình luận về sự khácbiệt giữa chức năng xã hội của khoa học với chức năng xã hội của hoạtđộng văn hóa tư tưởng.1.1.Lấy ví dụ thực tế để làm rõ 5 chuẩn mực của cộng đồng khoa học.,ma v xã h,v
Xem thêm

18 Đọc thêm

Soạn bài: Tình thái từ

SOẠN BÀI: TÌNH THÁI TỪ

Hướng dẫn soạn văn, soạn bài, học tốt bài TÌNH THÁI TỪ I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Tình thái từ là gì? a. Tình thái từ là gì? Tình thái từ là những từ được thêm vào câu để cấu tạo câu theo mục đích nói (nghi vấn, cầu khiến, cảm thán) và để biểu thị các sắc thái tình cảm của người đó. b. Ví dụ:   - Cháu chào cô ạ! - Con đi học rồi à? - U bán con thật đấy ư?                                       (Ngô Tất Tố) - Thương thay thân phận con rùa Lên đình đội hạc, xuống chùa đội bia (Ca dao) 2. Chức năng của tình thái từ a. Tình thái từ có chức năng chính là cấu tạo câu theo mục đích nói - Để tạo dạng câu nghi vấn, người ta thường dùng các tình thái từ: à, ư, hở, hả, chứ, phỏng, chăng. Ví dụ:       + Ô tô đến rồi à? + Nó làm sao thế hả chị? + Uống nước ư? + U nhất định bán con đầy à?                              (Ngô Tất Tố) - Để tạo câu cảm thán, người ta thường dùng các tình thái từ: thay, thật Ví dụ:       + Sướng thay miền Bắc của ta!                           (Tố Hữu) + ồ, tất cả của ta đây sướng thật              (Tố Hữu) b. Tình thái từ còn có chức năng biểu thị sắc thái tình cảm - Biểu thị thái độ hoài nghi: à, chăng, hử, hả. Ví dụ :      + Nó  làm sao thế hả chị? + Lan đi học về rồi à? - Biểu thị thái độ ngạc nhiên: nhỉ, ư, a… Ví dụ:       + Có tiền việc ấy mà xong nhỉ Đời trước làm quan cũng thế a? (Nguyễn Khuyến) - Biểu thị thái độ cầu mong: đi, nào, thôi, với, chứ… Ví dụ :      + Ông đến ngay nhé                     (Nguyễn Công Hoan) + Anh cho em đi cùng với! - Biểu thị thái độ, cảm xúc gần gũi, thân mật: mà, nhé, nhỉ… Ví dụ:       + Em đi học nhé! 3. Sử dụng tình thái từ - Trong giao tiếp hàng ngày, người giao tiếp cần dựa vào hoàn cảnh giao tiếp, nhân vật giao tiếp… để sử dụng hình thái từ sao cho phù hợp. + Khi biểu thị sự lễ phép, kính trọng, thường sử dụng từ "ạ" ở cuối câu. Ví dụ: + Cháu ăn cơm rồi ạ! + Em chào cô ạ! + Khi biểu thị sự miễn cưỡng, thường dùng từ "vậy" Ví dụ: + Đến giờ rồi, cháu phải đi vậy + Thôi thì anh cứ chia ra vậy                   (Khoánh Hoài) + Khi bày tỏ sự phân trần, giải thích, thường dùng từ "mà" Ví dụ:       + Ông đã bảo rồi mà + Tôi đã giúp bạn ấy nhiều rồi mà II. RÈN LUYỆN KỸ NĂNG 1. Xác định các tình thái từ có trong những đoạn sau.  Phân loại chúng: a. Nào đi tới! Bác Hồ đã nói Phút giao thừa, tiếng hát đêm xuân? (Tố Hữu) b. Cứu tôi với! Bà con ơi! c. Cô tặng em. Về trường mới, em cố gắng học tập nhé! (Khánh Hoài) d. Bà lão láng giềng lại lật đật chạy sang! - Bác trai đã khá rồi chứ? (Ngô Tất Tố) e. Thủy lấy con Vệ sĩ ra đặt lên giường tôi, rỗi bỗng ôm ghì lấy con búp bê hôn gấp gáp lên mặt nó rồi thì thào: - Vệ sĩ thân yêu ở lại nhé! Ở lại gác cho anh tao ngủ nhé! Xa mày con Em nhỏ sẽ buồn lắm đấy, nhưng biết làm thế nào… (Khánh Hoài) Gợi ý: - Cầu khiến: nào, với, chứ. - Cảm xúc thân mật, gần gũi: nhé 2. Trong giao tiếp, trường hợp sau đã đúng chuẩn mực giao tiếp của người Việt chưa? Vì sao? - Cháu ăn rồi - Con đi học đây - Cảm ơn bác! - Chào bác! Gợi ý: Đó là những câu chào, cảm ơn, trả lời, xin phép của bậc dưới đối với  bậc trên. Do vậy phải thể hiện thái độ lễ phép, kính trọng. Đây là những  câu thiếu các tình thái từ cần thiết. Theo đó, em cần thêm các tình thái từ thích hợp vào mỗi câu cho đúng. Mẫu: Cháu ăn cơm rồi ® cháu ăn cơm rồi ạ! 3. Đặt câu có sử dụng tình thái từ biểu thị các ý sau đây: kính trọng, cầu mong, thân mật. Gợi ý: Đặt câu có sử dụng tình thái từ Mẫu: Các bạn ơi, chờ tớ với                    (Thân mật)
Xem thêm

2 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP TIẾNG VIỆT 8 HỌC KÌ II

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP TIẾNG VIỆT 8 HỌC KÌ II

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP TIẾNG VIỆT 8 HỌC KÌ IICâu 1: Câu nghi vấn, câu cầu khiến, câu cảm thán, câu trần thuật khác nhaunhư thế nào? (Hình thức, chức năng). Cho mỗi kiểu câu một ví dụ?Câu 2: Căn cứ vào mục đích nói, hãy xác định kiểu câu trong những ví dụdưới đây và cho biết chức năng chính của các câu đó.- Con gái tôi vẽ đây ư? Chả lẽ lại đúng là nó, cái con mèo hay lục lọi ấy!Và ông không kìm được, ôm thốc mèo lên:- Ôi, con đã cho bố một bất ngờ quá lớn.Mẹ tôi vừa về, kịp nghe và kịp chứng kiến tất cả, cũng không kìm đượcxúc động. Theo chú Tiến Lê thì những bức tranh của Mèo rất độc đáo, có thểđem đóng khung treo ở bất cứ phòng tranh nào. Bố mẹ tôi rất tin vào thẩmđịnh của chú Tiến Lê. Chú còn hứa sẽ giúp em gái tôi để nó phát huy tàinăng.(Tạ Duy Anh - Bức tranh của em gái tôi)Câu 3: Nêu đặc điểm hình thức và chức năng của câu phủ định.Câu 4: Đặt hai câu phủ định miêu tả, hai câu phủ định bác bỏ.Câu 5: Hành động nói là gì? Nêu một số kiểu hành động nói thường gặp?Cách thực hiện hành động nói?Câu 6: Xác định kiểu câu, hành động nói, cách dùng của các câu đã cho theobảng sau đây:TCâu đã choKiểu câu Hành độngCáchTnóidùng1 Hôm sau lão Hạc sang nhà tôi.Vừa thấy tôi lão báo ngay:2 - Cậu vàng đi đời rồi ông giáo ạ!
Xem thêm

3 Đọc thêm

Tăng cường công tác huy động vốn tại ngân hàng TMCP công thương việt nam – chi nhánh thái bình”

Tăng cường công tác huy động vốn tại ngân hàng TMCP công thương việt nam – chi nhánh thái bình”

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HUY ĐỘNG VỐN TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1. Cơ sở lý luận về huy động vốn trong NHTM. 1.1.1. Hoạt động kinh doanh của NHTM trong nền kinh tế hiện nay 1.1.1.1. Khái niệm về NHTM Thuật ngữ ngân hàng xuất hiện từ rất lâu đời, bắt nguồn từ yêu cầu giữ hộ tiền của những nhà tư bản phương Tây. Cho đến nay, ngân hàng ngày càng phát triển lớn mạnh với rất nhiều loại hình khác nhau cùng những chức năng riêng biệt để phục vụ cho sự phát triển không ngừng của nền kinh tế. Nhận biết được tầm quan trọng của hoạt động ngân hàng, các quốc gia phát triển trên thế giới đã đưa ra những khái niệm cũng như quy định về hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng. Cụ thể: Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”. Theo định nghĩa của Peter S.Rose thì “Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”. Ở Việt Nam, hệ thống ngân hàng hình thành và phát triển trên 20 năm, trên cơ sở nền tảng pháp lý ban đầu gồm 2 Pháp lệnh: Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính (có hiệu lực từ 1101990) và từ 1997 đến nay là các bộ Luật về Ngân hàng. Theo luật các tổ chức tín dụng Việt Nam số 472010QH12 ngày 1662010, có hiệu lực từ ngày 01012011: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận. Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi; cấp tín dụng; cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. 1.1.1.2. Chức năng của NHTM Chức năng trung gian tín dụng: đây là chức năng được xem là quan trọng nhất của NHTM. Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn. Với chức năng này, NHTM vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người cho vay. Chức năng thanh toán: NHTM thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản của họ để thanh toán tiền hàng, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng…Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp. Chức năng này vô hình chung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế. Chức năng “tạo tiền” cho nền kinh tế: tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của NHTM. Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã vô hình chung thực hiện được chức năng tạo tiền cho nền kinh tế. Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán. 1.1.1.3. Hoạt động chủ yếu của NHTM a. Hoạt động huy động vốn NHTM được huy động vốn dưới các hình thức sau: Nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân và các TCTD khác dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại hình tiền gửi khác. Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Vay vốn của các TCTD khác hoạt động tại Việt Nam, các TCTD nước ngoài. Vay vốn ngắn hạn của NHNN. Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của NHNN. b. Hoạt động cấp tín dụng Cho vay: NHTM được cho các tổ chức, cá nhân vay vốn dưới các hình thức: + Cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống. + Cho vay trung hạn, dài hạn để thực hiện dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống. + Cho vay thấu chi: mỗi khách hàng được cấp một hạn mức thấu chi khi khách hàng tạm thời thiếu hụt trong thanh toán, khách hàng không cần phải thế chấp. + Cho vay theo hạn mức tín dụng: ngân hàng cấp một hạn mức tín dụng là mức dư nợ vay tối đa được duy trì trong khoảng thời gian nhất định mà khách hàng và ngân hàng đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. + Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: ngoài hạn mức tín dụng cấp ban đầu, ngân hàng áp dụng hạn mức tín dụng dự phòng khi khách hàng không có đủ vốn vì mức vốn đầu tư cho dự án, nhu cầu tiêu dùng, kinh doanh tăng thêm… Bảo lãnh: NHTM được bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh đấu thầu … bằng uy tín và khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh. Chiết khấu: NHTM được chiết khấu thương phiếu và GTCG ngắn hạn khác đối với tổ chức, cá nhân và có thể chiết khấu các thương phiếu và GTCG ngắn hạn khác đối với các TCTD khác. Cho thuê tài chính: NHTM được hoạt động cho thuê tài chính nhưng phải thành lập công ty cho thuê tài chính riêng theo Nghị định của Chính phủ. Bao thanh toán: NHTM thực hiện bao thanh toán như một hình thức cấp tín dụng cho khách hàng doanh nghiệp như: Bao thanh toán truy đòi, miễn truy đòi, ứng trước hay bao thanh toán chiết khấu, bao thanh toán khi đáo hạn trong phạm vi buôn bán nội địa lẫn quốc tế. Tài trợ xuất nhập khẩu: Mở LC thanh toán hàng nhập khẩu; Cho vay ứng trước một phần để thanh toán cho người bán hay ứng trước tiền thuế xuất nhập khẩu; Cho vay thu mua hàng xuất khẩu, nguyên vật liệu, cho vay đầu tư, bảo trì máy móc thiết bị, nhà xưởng ở nước ngoài; Bảo lãnh và tái bảo lãnh việc thanh toán hối phiếu khi đến hạn; Chấp nhận hối phiếu, chiết khấu hối phiếu, chứng từ thanh toán LC. c. Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ của NHTM gồm: Cung cấp phương tiện thanh toán; Thực hiện dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng; Thu hộ, chi hộ; Các dịch vụ thanh toán khác theo qui định của NHNN; Tham gia, thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế khi được NHNN cho phép; Thu và phát tiền mặt cho khách hàng; Tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh toán liên ngân hàng. d. Các hoạt động khác Góp vốn và mua cổ phần: NHTM được dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp và các TCTD khác trong nước; góp vốn, mua cổ phần và liên doanh với ngân hàng nước ngoài để thành lập ngân hàng liên doanh. Tham gia thị trường tiền tệ: NHTM được tham gia thị trường tiền tệ theo quy định của NHNN, thông qua hình thức mua bán các công cụ thị trường tiền tệ. Kinh doanh ngoại hối: NHTM được phép trực tiếp kinh doanh hoặc thành lập công ty trực thuộc để kinh doanh ngoại hối và vàng trên thị trường trong nước, quốc tế. Ủy thác và nhận ủy thác: NHTM được ủy thác và nhận ủy thác làm đại lý trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kể cả việc quản lý tài sản, vốn đầu tư của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo hợp đồng ủy thác, đại lý. Cung ứng dịch vụ bảo hiểm: NHTM được cung ứng dịch vụ bảo hiểm, được thành lập công ty trực thuộc hoặc liên doanh để kinh doanh bảo hiểm. Tư vấn tài chính: NHTM được cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính, tiền tệ dưới hình thức tư vấn trực tiếp hoặc thành lập công ty tư vấn trực thuộc ngân hàng. Bảo quản vật quý giá: NHTM được thực hiện các dịch vụ bảo quản vật quý, GTCG, cho thuê tủ két sắt, cầm đồ và các dịch vụ có liên quan. 1.1.2. Vốn huy động và công tác huy động vốn trong hoạt động kinh doanh của các NHTM. 1.1.2.1. Khái niệm về vốn huy động. Vốn huy động là tài sản bằng tiền của các tổ chức và cá nhân mà ngân hàng đang tạm thời quản lý và sử dụng với trách nhiệm hoàn trả, vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu, nguồn tài nguyên to lớn nhất và quan trọng nhất của NHTM. Huy động vốn được coi là hoạt động cơ bản, có tính chất sống còn đối với bất kỳ một NHTM nào, vì hoạt động này tạo ra nguồn vốn chủ yếu của các NHTM. Chỉ có các NHTM mới được quyền huy động vốn dưới nhiều hình thức khác nhau. Theo luật các tổ chức tín dụng Việt Nam số 472010QH12 ngày 1662010, có hiệu lực từ ngày 01012011, NHTM được huy động vốn dưới các hình thức sau đây: Nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân và các TCTD khác dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác. Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn trong nước và nước ngoài. Vay vốn của Ngân hàng Nhà nước dưới hình thức tái cấp vốn theo quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Vay vốn của tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính trong nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật. 1.1.2.2. Vai trò của huy động vốn a. Đối với nền kinh tế Hệ thống NHTM đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế. Trong suốt quá trình vận hành của mình, nền kinh tế luôn xảy ra tình trạng có nơi thừa vốn và cũng có nơi thiếu vốn. Thông qua hoạt động huy động vốn, hệ thống ngân hàng tập trung các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của xã hội, biến tiền nhàn rỗi từ chỗ là phương tiện tích lũy trở thành nguồn vốn lớn của nền kinh tế. Nguồn vốn huy động giúp cho các doanh nghiệp đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn, đẩy nhanh hoạt động sản xuất kinh doanh, tiêu thụ và thu hồi vốn giúp gia tăng tốc độ quay vòng vốn, tăng số vòng quay, mang lại nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp và từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển hơn. Không những vậy, huy động vốn còn là kênh thông thương giữa nền kinh tế trong nước và nền kinh tế thế giới: thông qua hoạt động huy động vốn của các NHTM, thu hút nhà đầu tư từ khắp nơi trên thế giới sẽ tham gia vào nền kinh tế trong nước, thúc đẩy mối quan hệ hợp tác kinh tế giữa các nước trên cơ sở các bên cùng có lợi. Ngoài việc thu hút tiền nhàn rỗi trong xã hội để đầu tư phát triển bên cạnh đó hoạt động huy động vốn còn là công cụ giúp NHNN kiểm soát khối lượng tiền tệ trong lưu thông qua việc sử dụng chính sách tiền tệ (tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, …). Như vậy, có thể thấy được tầm quan trọng của nguồn vốn huy động đối với nền kinh tế, tác động trực tiếp lên mối quan hệ tích lũy và tiêu dùng. Việc đẩy mạnh hoạt động huy động vốn cho đầu tư phát triển và điều hành chính sách tiền tệ có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong điều kiện của nước ta hiện nay. b. Đối với Ngân hàng thương mại Huy động vốn là hoạt động nền tảng và quan trọng trong hoạt động của NHTM. Mặc dù không mang lại lợi nhuận trực tiếp cho ngân hàng nhưng nó là yếu tố chính giúp NHTM thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh khác. NHTM khi được cấp phép thành lập phải có vốn điều lệ theo quy định, tuy nhiên vốn điều lệ chỉ đủ tài trợ cho tài sản cố định, cơ sở vật chất… cần thiết cho hoạt động chứ chưa đủ vốn để ngân hàng có thể thực hiện các hoạt động kinh doanh như cấp tín dụng và các dịch vụ ngân hàng khác. Nghiệp vụ huy động vốn, do vậy, có ý nghĩa rất quan trọng đối với ngân hàng. Mặt khác, thông qua hoạt động huy động vốn, NHTM có thể đo lường được uy tín, sự tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng, từ đó gia tăng thị phần, quy mô hoạt động cũng như nâng cao vị thế của ngân hàng trên thị trường. Do đó, NHTM không ngừng hoàn thiện và phát triển hoạt động huy động vốn để giữ vững và mở rộng quan hệ với khách hàng. c. Đối với khách hàng Huy động vốn cung cấp cho khách hàng một kênh tiết kiệm và đầu tư nhằm làm cho tiền của họ sinh lời, có thể gia tăng tiêu dùng trong tương lai mà không tốn nhiều thời gian, công sức; Là nơi an toàn để cất giữ và tích lũy vốn tạm thời nhàn rỗi. Có thể nói gửi tiền qua ngân hàng là kênh đầu tư có rất ít rủi ro. Ngoài ra, hoạt động huy động vốn giúp cho khách hàng tiếp cận với các dịch vụ khác của ngân hàng, đặc biệt là dịch vụ thanh toán qua ngân hàng với các giá trị gia tăng kèm theo và dịch vụ cấp tín dụng cho sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng. Thông qua huy động vốn, NHTM là trung gian giúp khách hàng chuyển vốn từ nơi thặng dư sang nơi thiếu hụt vốn một cách kịp thời với chi phí tương đối thấp so với việc sử dụng các nguồn vốn khác như phát hành cổ phiếu, trái phiếu hoặc vay từ các tổ chức khác.
Xem thêm

Đọc thêm

TOÁN TÀI NĂNG 1B SÁCH TOÁN SINGAPORE ĐÁNH THỨC TIỀM NĂNG TOÁN HỌC CHO BÉ

TOÁN TÀI NĂNG 1B SÁCH TOÁN SINGAPORE ĐÁNH THỨC TIỀM NĂNG TOÁN HỌC CHO BÉ

Ta có thể tính được giờ trước hay saumột thời điểm xác định nào đó nếu biếtđộ dài của khoảng thời gian đó.Ví dụ: 1 tiếng trước 11 giờ sáng là10 giờ sáng1 tiếng sau 6 giờ tối là 7 giờ tối. 30 phút trước 10 giờ sáng là 9 giờ30 phút sáng.Adding and subtracting fractions• Make sure denominators of allfractions are the same.• Add and subtract the numeratorsaccordingly.When one of the subtraheads is awhole, convert the whole into fractionbefore subtraction.9.30 am is 30 min before 10.00 am.5.30 pm is 30 min after 5.00 pm.Unit 16 Picture GraphsWe use symbols to represent the itemsin picture graphs.Note the scales used in picture graphs.The symbol can stand for 1 item, 2items or even more.Picture graphs are useful as theyhelp to organise information for easyinterpretation and problem solving.
Xem thêm

9 Đọc thêm

CÁC bài TOÁN cơ bản về TÍNH lãi SUẤT NGÂN HÀNG

CÁC bài TOÁN cơ bản về TÍNH lãi SUẤT NGÂN HÀNG

CÁC BÀI TOÁN CƠ BẢN VỀ TÍNH LÃI SUẤT NGÂN HÀNG I. LÝ THUYẾT 1. Lãi đơn: Lãi được tính theo tỉ lệ phần trăm trong một khoảng thời gian cố định trước. Ví dụ: Khi ta gửi tiết kiệm 50 (triệu đồng) vào một ngân hàng với lãi suất 6,9%năm thì sau một năm ta nhận được số tiền lãi là: (triệu đồng). Số tiền lãi này như nhau được cộng vào hằng năm. Kiểu tính lãi này được gọi là lãi đơn. Sau hai năm số tiền cả gốc lẫn lãi là: (triệu đồng). Sau n năm số tiền cả gốc lẫn lãi là: (triệu đồng). 2. Lãi kép: Sau một đơn vị thời gian (kỳ hạn), tiền lãi được gộp vào vốn và được tính lãi. Loãi lãi này được gọi là lãi kép. Ví dụ: Khi ta gửi tiết kiệm 50 (triệu đồng) vào một ngân hàng với lãi suất 6,9%năm thì sau một năm, ta nhận được số tiền cả gốc lẫn lãi là: (triệu đồng). Toàn bộ số tiền này được gọi là gốc. Tổng số tiền cuối năm thứ hai là: II. CÁC BÀI TOÁN ĐIỂN HÌNH 1. Bài toán 1: (Lãi kép gửi 1 lần) Một người, gửi vào ngân hàng số tiền là a đồng, với lãi suất kép hàng tháng là r% (Kỳ hạn một tháng). Tính cả vốn lẫn lãi Tn sau n tháng? Phương pháp: Gọi Tn là tiền vốn lẫn lãi sau n tháng, ta có: Tháng 1 ( ): Tháng 2 ( ): …………………………………………………….. Tháng n : Vậy: (1)
Xem thêm

Đọc thêm

Slide bài giảng về mệnh đề quan hệ (Relative clause)

Slide bài giảng về mệnh đề quan hệ (Relative clause)

Bài giảng về Mệnh đề quan hệ trong tiếng Anh (Relative Clause), các ví dụ đưa ra trong văn cảnh cụ thể, rất dễ hiểu Phân biệt mệnh đề quan hệ xác định và không xác định Which thay cho cả mệnh đề Một số câu hỏi bài tập ngắn đi kèm minh họa Bài giảng phù hợp trình độ sơ cấp, tiền trung cấp

Đọc thêm

Nghiệp Vụ Bảo Lãnh (Nghiệp Vụ Ngân Hàng Thương Mại 2)

Nghiệp Vụ Bảo Lãnh (Nghiệp Vụ Ngân Hàng Thương Mại 2)

NGHIỆP VỤ BẢO LÃNH Mục tiêu  Hiểu được thế nào là bảo lãnh NH và các bên liên quan trong nghiệp vụ bảo lãnh.  Biết cách sử dụng từng loại bảo lãnh NH trong những tình huống phù hợp.  Nắm được các quy định pháp lý về bảo lãnh và cách thức phát hành một thư bảo lãnh NH. 2Những vấn đề chung về bảo lãnh ngân hàng Khái niệm Chức năng Quyền nghĩa vụ của NH BL và bên được BL Điều kiện bảo lãnh Phạm vi bảo lãnh Các loại hình bảo lãnh Qui trình bảo lãnh ngân hàng NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO LÃNH NGÂN HÀNG 2.1.1. Khái niệm bảo lãnh Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của TCTD (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho TCTD số tiền đã được trả thay. 5Các bên tham gia trong quan hệ bảo lãnh Là các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước có quyền thụ hưởng các cam kết bảo lãnh của các TCTD Bên nhận BL Các TCTD thực hiện nghiệp vụ BL gồm NHTM nhà nước, NHTM cổ phần, NH liên doanh,… các TCTD phi NH thành lập và hoạt động theo luật các TCTD Bên BL Là các khách hàng được TCTD bảo lãnh Bên được BL 6 Trần Thị Ngọc Chức năng của bảo lãnh Là công cụ bảo đảm  chức năng quan trọng nhất của bảo lãnh.  Bằng việc chi trả, bồi thường khi xảy ra sự cố vi phạm hợp đồng của người được bảo lãnh, các NH phát hành bảo lãnh đã tạo ra một sự bảo đảm chắc chắn cho người nhận bảo lãnh. Chính sự bảo đảm này tạo ra sự tin tưởng khiến cho các hợp đồng được ký kết một cách dễ dàng và thuận lợi. Đây cũng là điểm khác biệt của bảo lãnh so với tín dụng chứng từ 10
Xem thêm

Đọc thêm

Nghiên cứu và vận dụng phương pháp trả lương tại công ty May10

Nghiên cứu và vận dụng phương pháp trả lương tại công ty May10

Nghiên cứu và vận dụng phương pháp trả lương tại công ty May10.Nghiên cứu và vận dụng phương pháp trả lương tại công ty May10 Trong thời buổi hiện nay, khi mà hội nhập kinh tế quốc tế đang được đẩy mạnh, các kỹ thuật, công nghệ tiên tiến nhất được áp dụng để phát triển sản xuất thì vai trò của nguồn nhân lực lại càng được coi trọng. Bởi đây là nguồn lực cạnh tranh có yếu tố quyết định mà các máy móc hay các công nghệ dù tiên tiến đến đâu cũng không có khả năng thay thế. Vì vậy mà có rất nhiều câu hỏi liên quan đến lực lượng lao động mà doanh nghiệp rất quan tâm như “Làm sao để tạo động lực mạnh mẽ cho người lao động?” hay “Làm sao để người lao động trung thành hơn với doanh nghiệp?”. Và chính các doanh nghiệp cũng nhận thấy rằng một trong những câu trả lời giúp giải quyết hai câu hỏi này đó chính là trả lương hợp lý cho người lao động. Do tiền lương là yếu tố cơ bản để quyết định thu nhập tăng hay giảm của người lao động, quyết định mức sống vật chất và tinh thần không chỉ của người lao động mà còn cả gia đình của họ. Và để nghiên cứu rõ hơn về tiền lương cũng như các phương pháp trả lương cho người lao động của doanh nghiệp, nhóm đã lựa chọn nghiên cứu đề tài:” Nghiên cứu và vận dụng phương pháp trả lương tại công ty May10”.I, Cơ sở lý thuyết:1.1. Khái niệm chung về tiền lương: 1.1.1.Khái niệm,bản chất:•Khái niệm tiền lương: Tiền lương là giá cả của lao động, được hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động dựa trên năng suất,chất lượng, hiệu quả lao động mà người lao động tạo ra tính đến quan hệ cung cầu về lao động trên thị trường và tuân thủ pháp luật của nhà nước.•Bản chất của tiền lương:Tiền lương chính là biểu hiện bằng tiền của của giá trị lao động mà người lao động được sử dụng để bù đắp hao phí lao động của mình trong quá trình sản xuất nhằm tái sản xuất sức lao động. Như vậy,bản chất của tiền lương chính là giá cả lao động, được xác định dựa trên cơ sở giá trị của sức lao động đã hao phí để sản xuất ra của cải vật chất, được người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận với nhau. Tiền lương còn là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động. Về nguyên tắc, người bán sức lao động (người lao động) phải đưa ra giá trước, sau đó hai bên mặc cả và đi đến sự thỏa thuận, sự thỏa thuận đó phải được thể hiện trong hợp đồng lao động, làm cơ sở pháp lý để trả lương cũng như giải quyết tranh chấp lao động vốn rất dễ xảy ra do sự tách biệt giữa thỏa thuận mua bán với sử dụng, thanh toán. 1.1.2. Chức năng của tiền lương:a. Chức năng thước đo giá trị sức lao động: Tiền lương là giá cả của sức lao động, là sự biểu hiện bằng tiền của sức lao động, được hình thành trên cơ sở giá trị lao động nên phản ánh được giá trị sức lao động có nghĩa là nó là thước đo để xác định giá trị mức tiền công các loại lao động, là căn cứ để thuê mướn lao động, là cơ sở để xác định đơn giá sản phẩm. Đây là chức năng quan trọng của tiền lương. Thực hiện chức năng này đòi hỏi việc xác định tiền lương phải dựa trên cơ sở giá trị sức lao động. Mặt khác, phải xác định được đúng giá trị sức lao động. Khi giá trị sức lao động thay đổi thì tiền lương cũng phải thay đổi theo thì mới phản ánh được giá trị của nó. Do giá trị sức lao động có xu hướng tăng nên tiền lương cũng phải có xu hướng tăng theo các thời kỳ.b. Chức năng tái sản xuất sức lao động: Thu nhập của NLĐ dưới hình thức tiền lương được sử dụng một phần đáng kể vào việc tái sản xuất giản đơn sức lao động mà họ đã bỏ ra trong quá trình lao động nhằm mục đích duy trì năng lực làm việc lâu dài và có hiệu quả trong quá trình sau. Tiền lương của NLĐ không chỉ là nguồn sống chủ yếu của NLĐ mà cón của các thành viên trong gia đình họ. Tiền lương phải duy trì và phát triển được sức lao động cho NLĐc. Chức năng kích thích: Kích thích là hình thức tác động, tạo ra động lực trong lao động. Trong hoạt động kinh tế thì lợi ích kinh tế là động cơ bản, nó biểu hiện trên nhiều dạng, có lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần, lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, lợi ích cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội. Tiền lương là bộ phận thu nhập chính của NLĐ nhằm thỏa mãn phần lớn các nhu cầu về vật chất và tinh thần của NLĐ, nó chính là một động lực quan trọng để NLĐ không ngừng nâng cao kiến thức và tay nghề của mình. Trả lương một cách hợp lý và khoa học sẽ là đòn bấy quan trọng hữu ích nhằm kích thích NLĐ làm việc một cách hiệu quả.d. Chức năng tích lũy: Tiền lương trả cho NLĐ phải đảm bảo duy trì được cuộc sống hàng ngày trong thời gian làm việc và còn dự phòng cho cuộc sống lâu dài khi họ hết khả năng lao động hay gặp rủi ro. Nghĩa là tiền lương
Xem thêm

Đọc thêm

Đề cương ôn tập môn TIỀN tệ ngân hàng

Đề cương ôn tập môn TIỀN tệ ngân hàng

TIỀN TỆ NGÂN HÀNG Câu 1: phân tích chức năng của tiền tệ. Trong quá trình tổ chức và quản lý nền kinh tế ở việt nam, các chức năng đó đã được nhận thức và vận dụng như thế nào? 1.Khái quát về sự ra đời của tiền tệ Tiền tệ là một loại hàng hóa đặc biệt dùng làm phương tiện trao đổi cho các hàng hóa khác(vật ngang giá chung), là phạm trù kinh tế khách quan, gắn liền với sự ra đời và phát triển của nền kinh tế hàng hóa. trong quá trình trao đổi tiền tệ phát triển qua 4 hinh thái khác nhau là hình thái giá trị giản đơn,hình thái giá trị toàn bộ, hình thái giá trị chung, hình thái tiền tệ Từ hình thái giá trị giản đơn hay ngẫu nhiên đến hình thái tiền tệ là một quá trình lịch sử lâu dài, nhằm giải quyết các mâu thuẫn vốn có trong bản thân hàng hóa. Tiền tệ ra đời đã làm cho việc trao đổi hàng hóa dịch vụ được dễ dàng và nhanh chóng hơn. 2. Các chức năng của tiền tệ theo quan điểm của Karl Marx: tiền tệ gồm 5 chức năng chính chức năng làm thước đo giá trị: nghĩa là nó được dùng để đo lường giá trị hàng hóa, dịch vụ trước khi thực hiện trao đổi đây là 1 chức năng quan trọng vì việc dùng tiền làm đơn vị đánh giá sẽ thuận lợi rất nhiều và giảm được chi phí trong trao đổi. chức năng phương tiện trao đổi: được dùng khi mua bán hàng hóa dịch vụ thanh toán các khoản trong và ngoài nước nếu sử dụng hình thức hàng đổi hàng, người mua và bán phải tìm người trùng hợp với mình về nhu cầu thời gian, k gian sử dụng tiền tệ sẽ khắc phuc được hạn chế đó. Nó khiến nền kinh tế hoạt động có hiệu quả hơn thúc đẩy chuyên môn hóa và phân công lao động. chức năng phương tiện cất trữ về mặt giá trị: nghĩa là tiền tệ là nơi chứa sức mua hàng hóa trong một thời gian nhất định. Nhờ chức năng này cuat tiền tệ mà người ta có thể tách rời thời gian từ lúc có thu nhập đến khi tiêu dùng nó. Chức năng này quan trọng vì mọi người k muốn tiêu dùng hết ngay số tiền minh kiếm được mà muốn tiết kiệm nó khi cần. tiền tệ l phải là vật chứa đựng giá trị duy nhất nhưng nó là tái sản có tính lỏng cao nhất.
Xem thêm

Đọc thêm

CÁC LỢI ÍCH CỦA VIỆC XÂY DỰNG HÌNH ẢNH CỦA CÔNG TYDOANH NGHIỆP LÀM GÌ ĐỂ CÓ MỘT THƯƠNG HIỆU MẠNHCHO VÍ DỤ THỰC TẾ

CÁC LỢI ÍCH CỦA VIỆC XÂY DỰNG HÌNH ẢNH CỦA CÔNG TYDOANH NGHIỆP LÀM GÌ ĐỂ CÓ MỘT THƯƠNG HIỆU MẠNHCHO VÍ DỤ THỰC TẾ

NỘI DUNG CHÍNHI.Lợi ích của việc xây dựng hình ảnh công ty:31.Thuyết phục người tiêu dùng sử dụng sản phẩm32.Thuyết phục người bán hàng phân phối sản phẩm33.Tạo niềm tự hào cho nhân viên công ty44.Tạo lợi thế cạnh tranh45.Tăng hiệu quả của quảng cáo tiếp thị46.Tác động làm tăng giá cổ phiếu57.Dễ dàng phát triển kinh doanh58.Làm tăng giá trị khối tài sản vô hình của doanh nghiệp5II.Xây dựng thương hiệu:71.Hình thành thương hiệu:72.Xây dựng thương hiệu mạnh:8III.KẾT THÚC10 I.Lợi ích của việc xây dựng hình ảnh công ty:1.Thuyết phục người tiêu dùng sử dụng sản phẩm Theo định luật đi theo bầy (mọi người đều sử dụng thương hiệu thì mình cũng nên sử dụng), mọi người sẽ tin tưởng sử dụng loại sản phẩm của thương hiệu đã được nhiều người sử dụng. Thương hiệu mạnh là dấu chứng nhận bảo đảm chất lượng của sản phẩm (dịch vụ). Bên cạnh đó, thương hiệu thể hiện cá tính, địa vị, phong cách sống của người sử dụng , giúp thỏa mãn các nhu cầu về tinh thần của họ, là thứ mà người tiêu dùng sẵn sàng trả thêm một khoản tiền xứng đáng để có được thương hiệu mong muốn.Ví dụ : Dòng điện thoại thông minh iphone của Apple , khi hãng này tung ra dòng điện thoại mới ( gần đây nhất là iphone 6s Plus) mọi người tranh nhau xếp hàng để mua được chiếc điện thoại này. Iphone không chỉ được nhiều người lựa chọn mà iphone còn tăng thêm đẳng cấp cho người sử dụng. 2.Thuyết phục người bán hàng phân phối sản phẩmThương hiệu mạnh chắc chắn sẽ tạo ra mãi lực cao, mang lại nhiều lợi nhuận nhiều, không bị tồn hàng.Thương hiệu mạnh giúp tạo uy tín cho nhà phân phối.Hơn thế nữa, thương hiệu mạnh giúp nhà phân phối dễ bán kèm các loại hàng hóa khác cho các đại lý, điểm bán lẻ.Ví dụ : iphone hiện nay đã tung ra dòng iphone 6s, iphone 6s Plus nhưng khi iphone tung bản bán các dòng điện thoại cũ như iphone 4, iphone 5 vẫn bán chạy giống như các dòng điện thoại mới. Iphone luôn được mọi người săn đón dù dòng điện thoại mới hay cũ chính là do sự nổi tiếng của thương hiệu.3.Tạo niềm tự hào cho nhân viên công tyThương hiệu mạnh giúp nhân viên tự tin vào công ty, tự hào được tham gia tạo nên những sản phẩm đáng giá, giúp khẳng định được uy tín cá nhân.Thương hiệu mạnh còn giúp thỏa mãn được các giá trị tinh thần khácVd:khi là nhân viên sản xuất cho Vinamilk. Bạn sẽ cảm thấy vui và tự hào vì sản phẩm mình tạo ra mang lại sức khỏe và niềm vui cho mọi người. Bởi vì Vinamilk là thương hiệu lơn và được mọi người tin tưởng sử dụng.4.Tạo lợi thế cạnh tranhThương hiệu mạnh dễ dàng tạo nên những đáp ứng của thị trường đối với các chương trình bán hàng hoặc các hoạt động kinh doanh khác.Tạo được các thế mạnh khi thương lượng với nhà cung ứng, nhà phân phối về giá cả, thanh toán, vận tải,..Vd: Apple là thương hiệu mạnh và là sự lựa chon hàng đầu cho những người sử dụng smartphone. Họ không ngại bỏ số tiền lơn để sở hữu nó. Do đó Apple rất được lòng các nhà đầu tư,họ dễ dàng tìm được nhà cung cấp và phân phối.5.Tăng hiệu quả của quảng cáo tiếp thịThương hiệu mạnh với thị phần lớn, mức độ hiện diện lớn sẽ nâng cao hiệu quả của các hoạt động tiếp thị, giúp giảm chi phí tiếp thị trên mỗi sản phẩm.Mặt khác, thương hiệu mạnh dễ dàng được hưởng các ưu đãi từ các kênh truyền thông đại chúng.Ví dụ: quảng cáo của CocaCola xuất hiện liên tục trên truyền hình và vô cùng mạnh mẽ, ấn tượng. Internet cũng là một phương tiện tuyệt vời của CocaCola. Vào thời điểm tháng 112012, CocaCola đã có 54 triệu fan trên Facebook, 600.000 người theo dõi trên Twitter và hơn 100 triệu lượt xem video YouTube trên kênh của CocaCola. Những hoạt động quảng cáo trên mọi phương diện đã góp phần không nhỏ đem lại hình ảnh của CocaCola in đậm trong tâm trí người tiêu dùng.
Xem thêm

Đọc thêm

Cùng chủ đề