CHÍNH TRỊ GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "CHÍNH TRỊ GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC":

đàm phán song phương và đa phương

đàm phán song phương và đa phương

Mối quan hệ giữa đàm phán song phương và đàm phán đa phương 9 điểm Chuyên mục Bài tập học kỳ, Kỹ năng đàm phán ký kết điều ước quốc tế Bài tập học kỳ Kỹ năng đàm phán ký kết điều ước quốc tế có đáp án. Đề 3: Phân tích và liên hệ với thực tiễn để làm sáng tỏ mối quan hệ giữa đàm phán song phương và đàm phán đa phương. I. Khái niệm đàm phán ĐƯQT: Đàm phán ĐƯQT là hành vi giao tiếp tự nguyện có chủ ý diễn ra trong bối cảnh không gian và thời gian nhất định, được điều chỉnh bởi các quy tắc pháp lý trong đó mỗi bên đàm phán sử dụng ngôn ngữ và các thủ thuật giao tiếp nhằm đạt được mục đích nhất định. Theo đối tượng, đàm phán được chia ra thành hai loại là đàm phán song phương và đàm phán đa phương. II. Mối quan hệ giữa đàm phán song phương và đàm phán đa phương: 1. Sự khác nhau giữa đàm phán song phương và đàm phán đa phương: Sự khác biệt giữa đàm phán song phương và đàm phán đa phương được thể hiện như sau: Đàm phán song phương Có sự tham gia của hai chủ thể Đàm phán trực diện, có sự cọ xát trực tiếp về quan điểm Thỏa thuận phải được cả hai bên chấp nhận Không mở cho các chủ thể khác tham gia trực tiếp vào đàm phán. Tuy nhiên đôi khi lại cần có sự thừa nhận và bảo đảm quốc tế. Đàm phán đa phương Có sự tham gia của từ 3 chủ thể trở lên Đàm phán thường được thực hiện thông qua diễn đàn  các bên tham gia sẽ cố gắng tìm liên minh, tránh bị cô lập một mình đương đầu với các bên còn lại Thỏa thuận thông qua bằng bỏ phiếu theo đa số hoặc đồng thuận Mở cho các thành viên khác tham gia. Nếu hiểu một cách máy móc thì đàm phán song phương là đàm phán chỉ liên quan đến quan hệ và lợi ích của hai chủ thể còn đàm phán đa phương là đàm phán có sự tham gia của nhiều chủ thể. Nhưng trên thực tế, đàm phán song phương có thể gắn với đàm phán đa phương, bởi vì: Trong quan hệ quốc tế, mọi quan hệ song phương đều có tác động khu vực thậm chí quốc tế. Quá trình liên kết khu vực, tính tùy thuộc lẫn nhau, xu thế toàn cầu hóa ngày càng chi phối mạnh mẽ quan hệ quốc tế. Do đó, khó có thể nói đến những vấn đề về an ninh, biên giới, kinh tế thương mại… lại chỉ liên quan đến hai quốc gia mà thôi. 2. Mối quan hệ giữa đàm phán song phương và đàm phán đa phương: Sự gắn kết giữa đàm phán song phương và đàm phán đa phương thể hiện ở những phía cạnh sau: Trước hết, những vấn đề song phương, ngay khi đang đàm phán trong khuôn khổ song phương, cũng có thể được đưa ra diễn đàn đa phương vì cả hai bên đều cho rằng vấn đề quá phức tạp không thể giải quyết ở cấp độ song phương hoặc hai bên muốn tranh thủ sự quan tâm của cộng đồng quốc tế buộc bên kia nghiêm chỉnh đàm phán để giải quyết vấn đề. Ngay sau khi đạt được thỏa thuận, kỹ kết văn bản và tăng giá trị quốc tế của thỏa thuận, các bên có thể triệu tập một hội nghị quốc tế, đặc biệt phải có các cường quốc và các nước láng giềng tham gia, mục đích là nhằm có được sự xác nhận quốc tế và thiết lập sự bảo đảm quốc tế đối với các điều khoản được ký kết. Những vấn đề có tính đa phương trên thực tế nhiều khi được giải quyết thông qua các cuộc đàm phán song phương. Chẳng hạn, đối với các cuộc đàm phán trong khuôn khổ một hội nghị quốc tế hoặc tổ chức quốc tế khu vực và toàn cầu, các bên nếu muốn đàm phán thành công và đem lại lợi ích thiết thực nhất đều phải tiến hành gặp gỡ song phương để thăm dò quan điềm đối tác và tìm kiếm những thỏa thuận song phương về những vấn đề quan trọng trước khi đi đến thỏa thuận đa phương. Đây là nét đặc trưng trong đàm phán ĐƯQT hiện nay và đồng thời nó cũng chứng tỏ rằng tính chất đa phương của đàm phán ĐƯQT ngày càng nổi lên nhưng cấp độ đàm phán song phương không thể thiếu được, đôi khi có tính chất quyết định đối với đàm phán ĐƯQT đa phương. III. Liên hệ thực tế giữa đàm phán song phương và đàm phán đa phương: Trên thực tế, có rất nhiều cuộc đàm phán từ đàm phán song phương đã trở thành đàm phán đa phương. Ví dụ như về vấn đề tranh chấp biển Đông. Năm 2009, Trung Quốc chính thức công bố bản đồ có đường lưỡi bò, và ngang nhiên xâm phạm vào vùng đặc quyền kinh tế tại Việt Nam sau một khoảng thời gian ngắn. Tranh chấp trên Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc năm 2011 là một phần trong tranh chấp chủ quyền Biển Đông, bắt đầu từ vụ tàu Bình Minh 02 bị các tàu tàu hải giám Trung Quốc cắt cáp thăm dò diễn ra vào ngày 26 tháng 5 năm 2011, đánh dấu sự leo thang trong tranh chấp ở Biển Đông, được phía Việt Nam xem là hành động gây hấn, vi phạm chủ quyền thuộc loại nghiêm trọng nhất mà Trung Quốc từng thực hiện tại vùng biển của Việt Nam. Tuy nhiên, Trung Quốc lại cho rằng chính Việt Nam mới là bên đã vi phạm chủ quyền và hoạt động bất hợp pháp trên lãnh hải Trung Quốc. Ngày 28 tháng 5, Bộ Ngoại giao Việt Nam nói Trung Quốc vi phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền của Việt Nam, yêu cầu nước này chấm dứt ngay, không tái diễn những hành động đó, đồng thời đòi bồi thường thiệt hại. Việt Nam cũng cho rằng hành động của Trung Quốc vi phạm Công ước luật biển năm 1982 của Liên Hiệp Quốc, trái với tinh thần và lời văn của tuyền bố năm 2002 giữa ASEAN và Trung Quốc về ứng xử của các bên trên Biển Đông, cũng như nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước. Đường lưỡi bò không chỉ ảnh hưởng đến chủ quyền của Việt Nam mà nó còn đe dọa chủ quyền các quốc gia ven Biển Đông. Để thực hiện việc áp đặt yêu sách đường lưỡi bò” lên gần 80% diện tích Biển Đông, từ lâu Trung Quốc đã không ngần ngại sử dụng phương thức ngoại giao cưỡng ép và cả việc dùng vũ lực để cưỡng chiếm các vùng biển đảo của quốc gia khác. Hậu quả là các hành động này không chỉ gây ra tình trạng căng thẳng trong khu vực mà còn trực tiếp đe dọa an ninh hàng hải quốc tế, xâm phạm chủ quyền và lợi ích của nhiều quốc gia trong khu vực. Dù Việt Nam, Philippines, Malaysia, Indonesia và Brunei đều bị ảnh hưởng trực tiếp bởi yêu sách đường lưỡi bò”, hai nước Việt Nam và Philippines, là những nước gần Trung Quốc nhất, sẽ bị sự bành trướng Trung Quốc đe dọa nhiều nhất. Nếu Trung Quốc không đòi các vùng biển của Việt Nam và Phillippines, thì yêu sách của họ về các vùng biển của Malaysia, Indonesia và Brunei sẽ sụp đổ. Do vậy, cả Việt Nam và Phillippines bất đắc dĩ phải nằm trong tình thế cần phải kiên quyết bảo vệ không gian biển hợp pháp của mình. Không chỉ vấn đề kinh tế bị ảnh hưởng, các nước này còn có lý do để quan ngại an ninh và nền độc lập quốc gia của mình bị đe dọa. Trước tình hình đó, Các nước thành viên ASEAN và Trung Quốc tham gia một cuộc hội đàm không chính thức nhằm giải quyết vấn đề căng thẳng đang leo thang trên Biển Đông. Căng thẳng ở Biển Đông chính là trọng tâm thảo luận của hội nghị lần này, với việc ngoại trưởng Insonesia tuyên bố ông sẽ tiếp tục nỗ lực để cho ra đời một dự thảo hướng dẫn nhằm giải quyết các tranh chấp trên biển, thường được biết đến với tên tắt là COC. Thông cáo chung hôm 1082014 của các ngoại trưởng ASEAN tại hội nghị cuối cùng của mình ở Myanmar đã cho thấy dường như các thành viên ASEAN, dù là bên có tranh chấp hay không, ngày càng trở nên đoàn kết và mạnh mẽ bày tỏ quan điểm của mình trong vấn đề tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông. Động thái gắn kết mới của ASEAN đã nhận được sự ủng hộ của cả nước Chủ tịch Myanmar và nước điều phối Thái Lan. Cả Việt Nam và Philippines, những thành viên ASEAN lớn tiếng nhất do có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc, cũng giảm bớt những chỉ trích của mình, thay vào đó lựa chọn sức mạnh tập thể và khả năng mặc cả của nhóm khi can dự với Bắc Kinh. Việt Nam đã sử dụng khá hiệu quả ASEAN như là một đê chắn sóng với nước láng giềng phương Bắc. Gần đây, các chuyên gia Việt Nam đang sửa soạn tập hợp các chi tiết cho tuyên bố chủ quyền của mình. Trong khi đó, Philippines đã đưa ra tới 4.000 trang tài liệu sau nhiều năm chuẩn bị. Báo Inquirer (Philippines) ngày 18 tháng 10 năm 2014 đưa tin hôm 17 tháng 10, phát biểu tại diễn đàn các phóng viên nước ngoài ở Manila, Tổng thống Philippines Benigno Aquino III tuyên bố ông rất hài lòng với Ngoại trưởng Albert del Rosario trong công việc xử lý tranh chấp lãnh thổ ở biển Đông giữa Philippines và Trung Quốc. Ông xác nhận Philippines đã chấm dứt đàm phán bí mật với Trung Quốc về vấn đề biển Đông và khẳng định đàm phán song phương chỉ là một phần của giải pháp còn đàm phán đa phương mới là cách tiếp cận chính để giải quyết tranh chấp. Ông cho rằng trong ASEAN có bốn nước thành viên có tranh chấp ở biển Đông với Trung Quốc, do vậy đàm phán song phương không thể giải quyết được vấn đề. Vậy ta có thể thấy từ những cuộc đàm phán song phương giữa Việt Nam và Trung Quốc, Việt Nam và Philippines đã được nâng tầm lên thành đàm phán đa phương giữa các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á. IV. Kết luận Đàm phán vừa là một môn khoa học vừa là một môn nghệ thuật. Vì vậy, mặc dù có những khái niệm liên quan nhất định nhưng không tồn tại một khuôn mẫu cố định cho quá trình đàm phán. Kỹ năng đàm phán đòi hỏi một quá trình học tập, áp dụng dài lâu, tích luỹ kinh nghiệm trong cuộc sống. Trên đây là ý kiến cá nhân của em cho phấn bài làm của mình. Bài làm của em còn nhiều thiếu sót mong thầy cô thông cảm.
Xem thêm

Đọc thêm

Đề tài: Chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với Trung Quốc trong kháng chiến chống Mỹ

Đề tài: Chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với Trung Quốc trong kháng chiến chống Mỹ

Đề tài: Chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với Trung Quốc trong kháng chiến chống Mỹ Giai đoạn 1954 – 1959 1. Bối cảnh4 2. Chính sách6 3. Triển khai7 4. Đánh giá8 Giai đoạn 1960 – 1975 1. Bối cảnh9 2. Chính sách10 3. Triển khai11 4. Đánh giá13 Kết luận13 Giữa Việt Nam và Trung Quốc hình thành một mối quan hệ đặc biệt mà người ta gọi là “Quan hệ địa chính trị”, không chỉ là quan hệ giữa một quốc gia này với một quốc gia khác mà còn là quan hệ giữa 2 “người hàng xóm”, hai nhà nước cùng theo đuổi con đường xã hội chủ nghĩa, giữa một nước lớn và một nước nhỏ…Bởi vậy, tính ràng buộc trong mối quan hệ này là rất cao, tính phức tạp cũng theo đó mà tăng lên. Quan hệ Việt Nam-Trung Quốc, cũng như nhiều quan hệ địa chính trị khác, có hai mặt: hình thức và thực chất. Hai mặt này không phải bao giờ cũng tương đồng. Trong lịch sử nói chung và lịch sử chống Mỹ nói riêng, quan hệ Việt – Trung biến thiên liên tục về cả hai mặt “hình thức” và “thực chất”, vì vậy đòi hỏi Đảng phải có cái nhìn linh hoạt, thay đổi chính sách đối ngoại với Trung Quốc sao cho phù hợp với tình hình hai nước và thế giới. Như các tài liệu chia thời kì chống Mỹ của Việt Nam ra hai chặng
Xem thêm

Đọc thêm

Đề tài: Pháp luật Trung Quốc về biển đảo nhìn từ góc độ Luật pháp quốc tế và thực tiễn tranh chấp Biển Đông

Đề tài: Pháp luật Trung Quốc về biển đảo nhìn từ góc độ Luật pháp quốc tế và thực tiễn tranh chấp Biển Đông

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Nằm ngay trên ngã tƣ hàng hải quốc tế, với vị thế là hành lang hàng hải chiến lƣợc nối liền Ấn Độ Dƣơng và Thái Bình Dƣơng, Biển Đông đƣợc đánh giá là vùng biển trọng yếu nhất trên thế giới. Không một vùng biển nào với diện tích tƣơng đƣơng ¾ Địa Trung Hải lại có tầm quan trọng về phƣơng diện giao thông nhƣ Biển Đông. Biển Đông còn đƣợc biết đến với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng, có giá trị kinh tế cao. Vai trò, vị trí chiến lƣợc của Biển Đông gắn liền với lợi ích thiết thân của không chỉ các quốc gia trong khu vực mà cả các cƣờng quốc lớn nhƣ Mỹ, Nhật Bản... Chính vị trí chiến lƣợc và nguồn lợi lớn từ tài nguyên thiên nhiên đã khiến Biển Đông rơi vào tầm ngắm của các quốc gia trong khu vực và các cƣờng quốc trên thế giới. Các quốc gia đều nhận thức đƣợc rằng: “Ai kiểm soát biển và đất liền thì thống trị châu Âu – châu Á, ai thống trị châu Âu – châu Á sẽ kiểm soát vận mệnh của thế giới” 48. Vùng biển này đƣợc đặt trong bố trí chiến lƣợc của các quốc gia. Nhằm vƣơn tới những lợi ích kinh tế và đạt đƣợc những mục tiêu chính trị, các nƣớc trong khu vực đã đƣa ra tuyên bố chủ quyền đối với một phần hay toàn bộ Biển Đông. Thêm vào đó, vấn đề tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam, Trung Quốc, Philippines và nhiều nƣớc khác tại quần đảo Hoàng Sa, Trƣờng Sa đã làm tăng thêm tính phức tạp, biến Biển Đông trở thành điểm nóng về an ninh, chính trị. Những năm gần đây, chiến lƣợc tiến ra biển cả, mở rộng chủ quyền trên biển và khai thác tài nguyên thiên nhiên biển phục vụ cho phát triển kinh tế đất nƣớc luôn là mối quan tâm hàng đầu của Trung Quốc. Trung Quốc đã cho ban hành một loạt văn bản pháp luật về biển, đảo để tạo cơ sở pháp lý, hợp thức hóa các hoạt động của mình trên các vùng biển tranh chấp. Điều này đã ảnh hƣởng trực tiếp tới chủ quyền và lợi ích quốc gia của Việt Nam. Nghị quyết số 09NQTW ngày 0922007 của Hội nghị lần thứ tƣ Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa 9 về Chiến lƣợc biển Việt Nam đến năm 2020 đã xác định: “Nhiệm vụ cơ bản, lâu dài và xuyên suốt là xác lập chủ quyền đầy đủ, quản lý và bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán vùng biển, thềm lục địa, hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các quần đảo, đảo khác thuộc chủ quyền nước ta. Nhiệm vụ trước mắt là phải bảo vệ toàn vẹn chủ quyền và lợi ích quốc gia trên vùng biển, đảo, duy trì hòa bình, ổn định và hợp tác phát triển”. Một trong những giải pháp đƣợc đƣa ra đó là: “Đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, nắm chắc luật pháp và tập quán quốc tế để giải quyết kịp thời, có hiệu quả các tranh chấp biển, đảo; không để xảy ra các điểm nóng. Xây dựng cơ sở pháp lý và lịch sử để đấu tranh bảo vệ chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”. Từ những quan điểm thể hiện trong các văn kiện của Đảng, Nhà nƣớc và để thực hiện chủ trƣơng của Đảng, Nhà nƣớc ta đối với vấn đề phân định biển, bảo vệ chủ quyền trên biển, việc nghiên cứu pháp luật quốc tế và pháp luật biển của các quốc gia hữu quan trong đó có Trung Quốc là vô cùng cần thiết. Trong thực tiễn, tranh chấp trên Biển Đông, tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam và Trung Quốc tại Hoàng Sa, Trƣờng Sa đã kéo dài nhiều thập kỷ làm ảnh hƣởng đến hòa bình, an ninh trong khu vực nói chung và ảnh hƣởng đến mối quan hệ láng giềng giữa Việt Nam và Trung Quốc nói riêng. Những năm qua, hai nƣớc đã tiến hành nhiều cuộc đàm phán tuy nhiên vẫn chƣa tìm đƣợc tiếng nói chung. Trong bối cảnh đó, Việt Nam cần tiếp tục nghiên cứu pháp luật Trung Quốc về biển, đảo để bảo đảm giữ vững chủ quyền và lợi ích quốc gia khi tiến hành các cuộc đàm phán với Trung Quốc thời gian tới. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu pháp luật quốc tế và pháp luật Trung Quốc về biển, đảo cũng xuất phát từ yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam. Từ khi thành lập nƣớc đến nay, Đảng và Nhà nƣớc ta đã luôn quan tâm tới vấn đề bảo vệ chủ quyền trên biển, xây dựng pháp luật biển quốc gia tuy nhiên pháp luật Việt Nam hiện hành còn bộc lộ một số hạn chế. Trên cơ sở nghiên cứu hệ thống pháp luật Trung Quốc về biển, đảo, Việt Nam có thể tìm đƣợc những phƣơng hƣớng xây dựng và hoàn thiện pháp luật trong nƣớc phù hợp. Có thể thấy, pháp luật Trung Quốc về biển, đảo đã tác động nhất định tới cục diện tranh chấp Biển Đông, gây nên những ảnh hƣởng tiêu cực tới cục diện chung và trực tiếp ảnh hƣởng tới quyền và lợi ích chính đáng của các bên tranh chấp trong đó có Việt Nam. Từ chủ trƣơng của Đảng và Nhà nƣớc, yêu cầu của thực tiễn và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam, việc nghiên cứu, hệ thống hóa các văn bản pháp luật Trung Quốc về biển, đảo, phân tích, chỉ ra những điểm không phù hợp với pháp luật quốc tế trong các văn bản pháp luật Trung Quốc là cần thiết. Do đó, tui đã lựa chọn đề tài “Pháp luật Trung Quốc về biển, đảo nhìn từ góc độ luật pháp quốc tế và thực tiễn tranh chấp Biển Đông” làm đề tài luận văn của mình. 2. Nhiệm vụ của luận văn Luận văn có nhiệm vụ:  Khái quát, hệ thống hoá một số nội dung cơ bản của pháp luật Trung Quốc về biển, đảo.  Nghiên cứu nội dung các văn bản pháp luật Trung Quốc về biển, đảo.  Phân tích, đánh giá các văn bản pháp luật Trung Quốc về biển, đảo trong mối tƣơng quan với pháp luật quốc tế; Chỉ ra những chế định không phù hợp với pháp luật quốc tế trong các văn bản pháp luật của Trung Quốc.  Đánh giá tác động của chính sách pháp luật biển Trung Quốc đối với tranh chấp Biển Đông.  Phân tích những tác động tích cực và tiêu cực của chính sách pháp luật biển Trung Quốc đối với cục diện Biển Đông.  Đƣa ra những đối sách cho Việt Nam nhằm hạn chế, giảm thiểu những tác động tiêu cực của chính sách pháp luật Trung Quốc tới tranh chấp Biển Đông.  Nghiên cứu hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành, trên cơ sở đó đƣa ra những kiến nghị, đề xuất để hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về biển, đảo. 3. Phạm vi nghiên cứu Trong phạm vi đề tài, luận văn nghiên cứu hệ thống pháp luật về biển, đảo của nƣớc Cộng hòa nhân dân Trung Hoa trong giai đoạn từ năm 1949 đến nay và tập trung nghiên cứu những văn bản pháp luật về biển, đảo có liên quan trực tiếp tới tranh chấp Biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa, Trƣờng Sa. 4. Phƣơng pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng những phƣơng pháp nghiên cứu chủ yếu sau: o Phƣơng pháp duy vật biện chứng; o Phƣơng pháp phân tích tổng hợp; o Phƣơng pháp quy nạp và diễn dịch; o Phƣơng pháp thống kê; o Phƣơng pháp so sánh; o Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu truyền thống và hiện đại khác. 5. Những đóng góp của luận văn Luận văn trên cơ sở nghiên cứu những văn bản pháp luật chủ yếu của Trung Quốc về biển, đảo đƣa đến một cái nhìn tổng quan về hệ thống pháp Khái quát, hệ thống hoá một số nội dung cơ bản của pháp luật Trung Quốc về biển, đảo. Nghiên cứu nội dung các văn bản pháp luật Trung Quốc về biển, đảo. Phân tích, đánh giá các văn bản pháp luật Trung Quốc về biển, đảo trong mối tương quan với pháp luật quốc tế; Chỉ ra những chế định không phù hợp với pháp luật quốc tế trong các văn bản pháp luật của Trung Quốc. Đánh giá tác động của chính sách pháp luật biển Trung Quốc đối với tranh chấp Biển Đông. Phân tích những tác động tích cực và tiêu cực của chính sách pháp luật biển Trung Quốc đối với cục diện Biển Đông. Đưa ra những đối sách cho Việt Nam nhằm hạn chế, giảm thiểu những tác động tiêu cực của chính sách pháp luật Trung Quốc tới tranh chấp Biển Đông. Nghiên cứu hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành, trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị, đề xuất để hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về biển, đảo
Xem thêm

Đọc thêm

TIỂU LUẬN CAO HỌC SỰ TÁC ĐỘNG CỦA ĐỔI MỚI VA VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA VIỆT NAM

TIỂU LUẬN CAO HỌC SỰ TÁC ĐỘNG CỦA ĐỔI MỚI VA VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA VIỆT NAM

Theo số liệu thống kê, kể từ sau Hiến pháp 1992 đến nay, Quốc hội đã banhành nhiều luật và pháp lệnh điều chỉnh các quan hệ xã hội trên lĩnh vựckinh tế và các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến sự phát triển kinh tế như laođộng, đất đai. Chỉ xét về số lượng các luật kinh tế đã chiếm khoảng 60%,pháp lệnh chiếm khoảng 30% tổng số luật, pháp lệnh được ban hành trongthời gian qua.20Các văn bản được ban hành, trên diện rộng đã tạo hành lang pháp lý tươngđối toàn diện cho các thành phần kinh tế, giải phóng mọi năng lực sản xuất,thu hút đầu tư nước ngoài, mở rộng hợp tác kinh tế đối ngoại, khuyến khíchđầu tư trong nước, chuyển mạnh sang quản lý nền kinh tế quốc dân bằngpháp luật. Có thể đánh giá một cách khái quát rằng, trong vòng 10 năm qua(từ 1992 - đến nay) chúng ta đã xây dựng được một hệ thống văn bản phápluật về kinh tế tương đối đầy đủ. Mặc dù còn nhiều khiếm khuyết nhưng vềcơ bản đã tích cực cho việc chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, thúc đẩy sảnxuất phát triển, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn nhân lực, tạotích luỹ nguồn vốn cho các hoạt động đầu tư phát triển và nâng cao mứcsốngĐể góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển bền vững, chúng ta phải sớm cóđược một chiến lược lập pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chungvà hệ thống luật kinh tế nói riêng, mà trước mắt là chương trình xây dựngluật, pháp lệnh trong nhiệm kỳ Quốc hội khoá XI nhằm cụ thể hoá nhữngbước đi theo sát mục tiêu ‘‘tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu quả cao và bềnvững; đi đôi với việc giải quyết những vấn đề bức xúc về xã hội… cải thiệnđời sống nhân dân, nâng cao tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế, tạo tiền đề vữngchắc cho bước phát triển cao hơn vào đầu thế kỷ sau’‘Không chỉ thế trong những năm gần đây Chính phủ Việt Nam đã khởixướng hàng loạt các chính sách can thiệp liên quan đến xoá đói giảm nghèo
Xem thêm

Đọc thêm

TIỂU LUẬN CAO HỌC, CHINH TRI HOC PHAT TRIEN HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM

TIỂU LUẬN CAO HỌC, CHINH TRI HOC PHAT TRIEN HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM

+) Cải thiện chất lượng cuộc sống của con người.+) Bảo vệ sức sống và tính đa dạng của Trái đất.+) Quản lý những nguồn tài nguyên không tái tạo được.+) Tôn trọng khả năng chịu đựng được của Trái đất.+) Thay đổi tập tục và thói quen cá nhân.+) Ðể cho các cộng đồng tự quản lý môi trường của mình.+) Tạo ra một khuôn mẫu quốc gia thống nhất, thuận lợi cho việc phát triển vàbảo vệ.+) Xây dựng một khối liên minh toàn cầu.Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững năm 2002 đã xác định"phát triển bền vững" là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hàihoà giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: phát triển kinh tế (nhất là tăng trưởng kinhtế), phát triển xã hội (nhất là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xoá đói giảmnghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trường (nhất là xử lý, khắc phục ônhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và chặt phárừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên.II.Hậu quả của sự phát triển kinh tế đối với phát triển bền vững1. Tăng trưởng kinh tế quá nhanh làm cho lạm phát tăng, bất bình đẳng xãhội tăng-Có sự đánh đổi giữa tăng trưởng và lạm phát, vì để tăng trưởng thì phải tăngđầu tư, mà để tăng đầu tư thì phải tăng cung tiền, tăng tín dụng.Lạm phát ở nước ta đang có xu hướng tăng cao trong những năm gần đây. Lạmphát trung bình năm 2005 là 8,3%, 2006 là 7,5% và 11,3% năm 2007 lạm phát trungbình của Việt Nam cao hơn các nước trong khu vực.-Như đã nói ở trên, tăng trưởng kinh tế nhanh sẽ dẫn đến lạm phát. Khi cólạm phát tức là giá cả sẽ tăng lên.Giá cả tăng sẽ tác động đến mọi người dân nhưngtác động mạnh nhất là công chức nhà nước và người nghèo. Trong nhóm ngườinghèo bị tác động mạnh ở Việt Nam có một phần rất đông là nông dân, sản xuất17
Xem thêm

Đọc thêm

LSNN PL a Phân tích cơ sở tư tưởng cho sự ra đời và phát triển của nhà nước phong kiến Trung Quốc

LSNN PL a Phân tích cơ sở tư tưởng cho sự ra đời và phát triển của nhà nước phong kiến Trung Quốc

a 1. Khái quát về nhà nước phong kiến Trung Quốc Trên cơ sở mô hình các quốc gia cổ đại phương Đông, Trung Quốc vào thế kỉ cuối công nguyên do sự phát triển của sản xuất, xã hội phân hóa giai cấp nên chế độ phong kiến ở đây đã hình thành sớm. Nhà Tần đã khởi đầu xây dựng chính quyền phong kiến, hoàng đế có quyền quyệt đối. Kinh tế phong kiến Trung Quốc chủ yếu là nông nghiệp phát triển thăng trầm theo sự hưng thịnh của các vương triều. Cuối thời Minh – Thanh đã xuất hiện mầm mống quan hệ sản xuất TBCN nhưng nó không phát triển được. Trên cơ sở những điều kiện kinh tế xã hội mới, kế thừa truyền thống của nền văn hóa cổ đại, nhân dân Trung Quốc đã đạt được nhiều thành tựu văn hóa rực rỡ. Nhà nước và pháp luật hình thành phát triển với quy mô lớn. Trải qua các triều đại Tần, Hán, Tùy, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh. Trong mỗi triều đại, tuy có sự khác nhau về cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước song ngay từ đầu và trong suốt quá trình tồn tại luôn là chính thể quân chủ chuyên chế và qua mỗi triều đại lại ngày được hoàn thiện. Cùng với đó là sự phát triển của tư tưởng nho giáo luôn được các giai cấp thống trị Trung Quốc sử dụng như một tư tưởng để xây dựng nhà nước và pháp luật. Nho giáo (儒教), còn gọi là đạo Nho hay đạo Khổng là một hệ thống đạo đức, triết lý và học thuyết chính trị do Đức Khổng Tử đề xướng và được các môn đồ của ông phát triển để xây dựng một xã hội thịnh trị. Nho giáo rất có ảnh hưởng tại ở các nước châu Á là Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Triều Tiên, Hàn Quốc và Việt Nam. Những người thực hành theo các tín điều của Nho giáo được gọi là các nhà Nho hay Nho sĩ hay nho sinh.
Xem thêm

Đọc thêm

Chính sách đối ngoại của việt nam đối với trung quốc về vấn đề biển đông giai đoạn 2007 – 2012

Chính sách đối ngoại của việt nam đối với trung quốc về vấn đề biển đông giai đoạn 2007 – 2012

1. Lý do chọn đề tài Biển Đông là một vùng biển nửa kín, đây là một trong những khu vực chiến lược quan trọng bậc nhất trên thế giới. Vùng biển này án ngữ nhiều tuyến đường hàng hải quan trọng nối liền Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Biển Đông có môi trường biển đa dạng và nguồn tài nguyên phong phú, đặc biệt là dầu khí và thủy sản. Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được ví như hai pháo đài nổi trên biển Đông, có vị trí đặc biệt quan trọng trong chiến lược an ninh quốc phòng của các quốc gia và vùng lãnh thổ ven bờ như Trung Quốc, Đài Loan và bốn thành viên của ASEAN là Việt Nam, Indonesia, Malaysia và Brunei. Có lẽ vì lý do đó, vùng biển đảo này trở thành đối tượng tranh chấp giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ hơn nửa thập kỉ nay – có thể nói đây là một “ điểm nóng” tiềm tàng về an ninh và ổn định của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Kể từ khu Hiệp ước về Quy tắc ứng xử chung trên biển Đông (2002) được kí kết đến trước 2007, chưa có xung đột vũ trang nào xảy ra giữa lực lượng hải quân của các nước liên quan. Rõ rang, tuyên bố này bước đầu góp phần biến biển Đông thành một vùng biển hòa bình và ổn định hơn. Tuy nhiên, căng thẳng va chạm trên biển, đặc biệt liên quan đến vấn đề nghề cá và khai thác dầu khí giữa Trung Quốc và các nước ASEAN, trong đó có Việt Nam, vẫn tồn tại và gần đây có phần căng thẳng hơn. Năm 2007, căng thẳng bùng phát khi Trung Quốc thành lập thành phố Tam Sa, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền. Hành động từ phía Trung Quốc gây ra phản ứng dữ dội từ Việt Nam, đặc biệt xảy ra nhiều cuộc biểu tình quy mô phản đối quyết định của nhà cầm quyền Trung Quốc. Bên cạnh đó, Trung Quốc liên tục bắt giữ hoặc tấn công các tàu đánh cá và ngư dân, hay gây sức ép buộc các công ty dầu khí nước ngoài phải từ bỏ dự án đối với các đối tác Việt Nam trên vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Trước tình hình đó, chính phủ Việt Nam đã có những điều chỉnh nhất định trong cách tiếp cận của họ đối với vấn đề tranh chấp Biển Đông theo hướng công khai hóa và quốc tế hóa. Một số cuộc tọa đàm, hội thảo quốc gia và quốc tế về vấn đề Biển Đông đã được tổ chức. Các phương tiện truyền thông Việt Nam cũng công khai bình luận các khía cạnh an ninh – quân sự, kinh tế, luật pháp của vấn đề tranh chấp biển, đồng thời đưa tin về hành động bắt bớ, ngăn cản tàu thuyền Việt Nam của các lực lượng Trung Quốc. Ngày 652009, Việt Nam và Malaysia nộp báo cáo chung về Ranh giới ngoài của thềm lục địa khu vực phía Nam Biển Đông, và một ngày sau, Việt Nam nộp báo cáo riêng lên Ủy ban Thềm lục địa của Liên Hợp Quốc. Trong một nỗ lực củng cổ quốc phòng, Việt Nam đặt mua một số tàu ngầm và vũ khí tối tân của Nga với số tiền bằng phân nửa ngân sách quốc phòng của Việt Nam. Tranh chấp ở Biển Đông từ lâu đã trở thành một đề tài tranh cãi sôi nổi trong giới học giả nghiên cứu về an ninh trong nước và quốc tế. Đây cũng là vấn đề đau đầu cho các chính phủ của các quốc gia liên quan đến tranh chấp. Và cho đến nay, có lẽ chưa có một hướng giải pháp nào sáng suốt nhất để giải quyết những mâu thuẫn trên. Hiện nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau trong tranh chấp chủ quyền, lãnh thổ ở Biển Đông.Tuy nhiên, chưa có nhiều đề tài nghiên cứu một cách hệ thống và đầy đủ những diễn biến mới ở Biển Đông và những điều chỉnh trong cách tiếp cận của Việt Nam đối với các tranh chấp ở khu vực này.Thêm vào đó, ở một góc độ hoạch định chính sách, cần có thêm những phân tích kĩ lưỡng về tính hiệu quả và dự báo ảnh hưởng ngắn và dài hạn của những điều chỉnh chính sách trên.Đó là những cơ sở khoa học và thực tiễn để tôi chọn lựa đề tài “ Chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với Trung Quốc về vấn đề Biển Đông giai đoạn 2007 – 2012”.
Xem thêm

Đọc thêm

Phận tích cấu trúc hệ thống chính trị nước ta hiện nay trình bày suy nghĩ của nhóm về văn hóa chính trị của giới trẻ hiện nay

Phận tích cấu trúc hệ thống chính trị nước ta hiện nay trình bày suy nghĩ của nhóm về văn hóa chính trị của giới trẻ hiện nay

1.1.1. Khái niệm Hệ thống chính trị là một bộ phận kiến trúc thượng tầng xã hội, bao gồm các tổ chức, các thiết chế có quan hệ với nhau về mặt mục đích, chức năng trong việc thực hiện, tham gia thực hiện quyền lực chính trị hoặc đưa ra quyết định chính trị. Hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay bao gồm Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị xã hội, và các mối quan hệ giữa các thành tố trong hệ thống. 1.1.2. Bản chất. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, nhân dân ta đã đứng lên làm cách mạng giành lấy quyền lực và tổ chức ra hệ thống chính trị của mình. Hệ thống chính trị nước ta có những bản chất sau: Hệ thống chính trị ở nước ta mang bản chất của giai cấp công nhân. Quyền lực thuộc về nhân dân với việc nhà nước của dân do dân và vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng độ tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành lơi ích của giai caaso công nhân và nhân dân lao động và của cả dân tộc, thiết lập sự thống trị của đạ số nhân dân với thiểu số bóc lột. Bản chất thống nhất không đối kháng của hệ thống chính trị ở nước ta. Bản chất đó dựa trên cơ sở chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu về sự thống nhất giữ những lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc. 1.1.3. Đặc điểm của hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay: Các tổ chức trong hệ thống chính trị ở nước ta đều lấy chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động, Các quan điểm và nguyên tắc của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đề
Xem thêm

Đọc thêm

VAN HOA CAC NUOC DONG NAM a

VAN HOA CAC NUOC DONG NAM a

ASEAN (Gọi tắt là ASA) là một liên minh chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á bao gồm 11 quốc gia: Brunei, Campuchia, Đông Timor, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanma, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam. Diện tích khu vực: 4.494.047 km² Dân số cả khu vực ASEAN : 0,6 tỷ người.Nằm ở phía Nam Trung Quốc, phía Đông ấn Độ, phía Bắc nước Úc và chịu ảnh hưởng chủ yếu của gió mùa, tạo nên hai mùa tương đối rõ rệt: mùa khô lạnh, mát và mùa mưa tương đối nóng và ẩm.Hầu hết các nước Đông Nam Á đều có dòng sông Đông Mê Kông uốn khúc chảy qua (ngoại trừ Brunei, Đông Timor, Malaysia và Singapore).Từ sau Thế chiến thứ hai, Đông Nam Á xuất hiện trên bản đồ chính trị thế giới như một khu vực riêng biệt và có tầm quan trọng đặc biệt.
Xem thêm

Đọc thêm

ĐỔI MỚI CƠ CẤU HÀNG XUẤT NHẬP KHẨU TRONG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VỚI TRUNG QUỐC NHẰM HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG NHẬP SIÊU

ĐỔI MỚI CƠ CẤU HÀNG XUẤT NHẬP KHẨU TRONG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VỚI TRUNG QUỐC NHẰM HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG NHẬP SIÊU

phủ, Yếu tố sản xuất, Doanh nghiệp, Nhu cầu, Các ngành phụ trợ và Cơ hội khá đầy đủ vàtoàn diện khi áp dụng để giải thích những nguyên nhân chung cho sự bất hợp lý trong cơcấu thương mại hàng hóa cũng như sự mất cân bằng cán cân thương mại song phương ViệtTrung trong thời gian qua.2. Đánh giá chung về sự đổi mới trong cơ cấu hàng xuất nhập khẩu Việt Nam-TrungQuốc giai đoạn 2002-2016 theo hai tiêu chí Hiệu quả trong hoạt động thương mại songphương và đa phương và Khả năng đảm bảo phát triển bền vững quốc gia: Về ưu điểm, cơcấu xuất nhập khẩu giai đoạn này đã giúp tăng tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hainước, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế của một số tỉnh biên giới với Trung Quốc. Tuynhiên, cơ cấu xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam-Trung Quốc còn tồn tại nhiều hạn chế, cụthể là chưa phát huy tối đa lợi thế so sánh của Việt Nam, chưa giúp cải thiện cán cân thươngmại song phương, chưa tận dụng triệt để được những ưu đãi về thuế quan giữa hai nước, tácđộng xấu đến tăng trưởng kinh tế và môi trường.3. Cơ cấu xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam-Trung Quốc giai đoạn 2002-2016 đã tácđộng tiêu cực đến cán cân thương mại song phương. Do tỷ trọng hàng nông sản và nguyênliệu thô quá lớn trong cơ cấu hàng xuất khẩu sang Trung Quốc, trong khi hàng hóa trunggian và máy móc thiết bị đầu vào sản xuất, hàng tiêu dùng các loại chiếm tỷ trọng rất caotrong cơ cấu hàng nhập khẩu. Cơ cấu này khiến thu nhập từ xuất khẩu hàng hóa từ Việt Namsang thị trường Trung Quốc thấp hơn rất nhiều cho với chi phí nhập khẩu hàng hóa từ nước20này. Do cơ cấu này đã duy trì trong một thời gian dài nên trong quan hệ thương mại vớiTrung Quốc, Việt Nam luôn nhập siêu rất lớn.4. Việc đổi mới cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu nhằm giảm nhập siêu với Trung Quốcgiai đoạn 2018-2030, đầu tiên cần tuân theo “Các biện pháp quản lý nhập khẩu theo Đề ánquản lý nhập khẩu đến năm 2020 phù hợp với các cam kết quốc tế” của Thủ tướng chínhphủ và “Quan điểm, chiến lược của Chính phủ về xuất nhập khẩu hàng hóa giai đoạn từnay đến năm 2025 định hướng đến năm 2030”. Bên cạnh đó, cần tuân thủ các cam kết liênquan trong các FTA mà Việt Nam đã và đang đàm phán ký kết. Cần đảm bảo cơ cấu hànghóa xuất nhập khẩu khi đổi mới có tác dụng thúc đẩy thương mại hàng hóa Việt-Trung phát
Xem thêm

Đọc thêm

PHẠM TRÙ LỄ TRONG NHO GIÁO SƠ KỲ VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ VỚI VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY

PHẠM TRÙ LỄ TRONG NHO GIÁO SƠ KỲ VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ VỚI VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY

1. Lý do chọn đề tài Nho giáo xuất hiện ở Trung Quốc cách đây khoảng 2500 năm, là hệ tư tưởng thống trị của các triều đại phong kiến Trung Quốc. Với tư cách một học thuyết đạo đức, Nho giáo đặc biệt quan tâm đến việc giải quyết mối quan hệ giữa con người với con người. Những phạm trù đạo đức cơ bản mà Nho giáo xây dựng là: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trung, Hiếu, Tín... Đây được coi là những phạm trù trung tâm để giải quyết các mối quan hệ xã hội. Lễ là một trong những nội dung chủ yếu trong quan niệm về chính trị xã hội, luân lý đạo đức của Nho giáo. Lễ được hiểu theo nhiều khía cạnh khác nhau, có nội dung biến đổi cùng với sự biến đổi, phát triển của Nho giáo. Song, dù được hiểu theo khía cạnh nào thì Lễ cũng có một vị trí và ý nghĩa quan trọng trong hệ thống những phạm trù đạo đức của Nho giáo với mục đích bình ổn xã hội. Trong quá trình du nhập vào Việt Nam, tư tưởng của Nho giáo từ chỗ đi theo gót chân của kẻ xâm lược dần dần đã hòa nhập vào đời sống cộng đồng, biến đổi để thích nghi với văn hóa bản địa. Tư tưởng Nho giáo, trong đó có tư tưởng về Lễ, đã sớm chiếm một vị trí quan trọng trong nền giáo dục phong kiến và đời sống tinh thần của người Việt Nam. Từ Lễ trong nền giáo dục phong kiến đến Lễ trong nền giáo dục hiện đại đã có rất nhiều biến đổi nhưng ở bất kỳ thời đại nào, Lễ cũng có giá trị cần phải được bảo tồn và phát huy. Trong những năm gần đây, cùng với quá trình hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế xã hội của đất nước, nền giáo dục Việt Nam đã có bước chuyển quan trọng và đạt được nhiều thành tựu nhất định. Tuy nhiên, quá trình đó cũng đưa đến một số thay đổi tiêu cực trong các quan hệ xã hội. Là nguồn lực quan trọng đối với sự phát triển của đất nước, sinh viên Việt Nam hiện nay, bên cạnh những mặt tích cực, những giá trị đạt được từ nền giáo dục, từ việc kế thừa truyền thống văn hóa dân tộc thì một bộ phận không nhỏ cũng đang có những biểu hiện tiêu cực về đạo đức, lối sống. Với những giá trị đã được thẩm định, phát triển qua thực tiễn nhiều thế kỷ cùng sự tiếp biến linh hoạt để đưa vào Lễ giá trị mới của thời đại, ngày nay Lễ vẫn có một ý nghĩa quan trọng đối với việc giáo dục đạo đức cho sinh viên Việt Nam hiện nay. Từ những vấn đề có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn nêu trên, tôi lựa chọn vấn đề: “Phạm trù Lễ trong Nho giáo sơ kỳ và ý nghĩa của nó với việc giáo dục đạo đức cho sinh viên ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn cao học.
Xem thêm

Đọc thêm

TIỂU LUẬN CHÍNH TRỊ học NÂNG CAO mối quan hệ giữa đổi mới, kiện toàn hệ thống chính trị với xây dựng, hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa việt nam hiện nay

TIỂU LUẬN CHÍNH TRỊ học NÂNG CAO mối quan hệ giữa đổi mới, kiện toàn hệ thống chính trị với xây dựng, hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa việt nam hiện nay

MỞ ĐẦUTrong mọi xã hội có giai cấp, quyền lực của chủ thể cầm quyền luôn được thể hiện ở một hệ thống thể chế và tổ chức nhất định, đó là hệ thống chính trị. Về cơ bản hệ thống chính trị nước ta cũng được tổ chức theo những mô hình phổ biến của hệ thống chính trị các nước trên thế giới. Hệ thống chính trị nước ta là cơ chế, là công cụ thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, chế độ của dân, do dân và vì dân.Thực tế cho thấy, hệ thống chính trị nước ta trong quá trình đổi mới, kiện toàn đã đạt được nhiều thành tựu trong việc phát huy dân chủ như đã động viên, tạo mọi điều kiện để nhân dân thực hiện quyền làm chủ…Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực của hệ thống chính trị, trong quá trình thực hiện và phát huy nền dân chủ xã hội chủ nghĩa vẫn còn nhiều hạn chế như chưa thật sự phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thậm chí còn có những biểu hiện vi phạm quyền làm chủ của nhân dân. Một trong những nguyên nhân này là do chúng ta chưa làm rõ được mối quan hệ giữa đổi mới, kiện toàn hệ thống chính trị với xây dựng, hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Do đó, với mong muốn góp phần làm rõ hơn mối quan hệ này, là một học viên tôi xin chọn đề tài: “Mối quan hệ giữa đổi mới, kiện toàn hệ thống chính trị với xây dựng, hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu.
Xem thêm

Đọc thêm

NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA TRUNG QUỐC DƯỚI THỜI HỒ CẨM ĐÀO

NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA TRUNG QUỐC DƯỚI THỜI HỒ CẨM ĐÀO

11chủ hay chống khủng bố. Kinh tế toàn cầu mất cân đối nghiêm trọng, hậu quảcủa cuộc khủng hoảng tài chính thế giới 2008 vẫn kéo dài đến tận bây giờ.Mối đe doạ an ninh truyền thống và phi truyền thống đan xen nhau, trong đócác mối đe doạ an ninh phi truyền thống ngày càng lớn, lấn át các vấn đề quốctế nóng bỏng… Ngoài ra, những vấn đề không chủ yếu trước đây như đườnghàng hải, quyền lợi biển, tăng trưởng dân số thế giới, nguồn năng lượng mới,biến đổi khí hậu đang trở thành trọng điểm của quan hệ quốc tế hiện nay.Những vấn đề hoặc đề tài thảo luận này không chỉ dẫn đến biến đổi hình mẫuquan hệ quốc tế, mà còn đòi hỏi các quốc gia phải đổi mới tư duy, cập nhật trithức, điều chỉnh góc nhìn nghiên cứu, thay đổi biện pháp nghiên cứu, nếukhông sẽ không theo kịp nhịp bước của thời đại mới. Bên cạnh đó, nhữngthách thức này cũng đặt ra cơ hội cho Trung Quốc tham gia nhiều hơn vàotiến trình giải quyết các vấn đề toàn cầu, đóng góp tiếng nói và nâng cao vịthế của một nước lớn trên trường quốc tế.1.2.Bối cảnh khu vựcTừ sau Chiến tranh lạnh, Châu Á - Thái Bình Dương là khu vực pháttriển kinh tế năng động nhất thế giới, các nước trong khu vực đều muốn có mộtmôi trường hòa bình để phát triển và trên thực tế đã xây dựng được các cơ chếhợp tác hòa bình từ tiểu khu vực 1. Với diện tích rộng lớn gồm phần lớn Châu Á,các nước nằm trong vành đai Thái Bình Dương trải dài từ tiểu lục địa Ấn Độđến bờ biển phía tây của Mỹ, khu vực rộng lớn chiếm 50% dân số thế giới nàyđang ngày càng có vị trí địa – chiến lược quan trọng trên bản đồ chính trị quốc tế.Sau Chiến tranh lạnh, việc Mỹ và Nga giảm sự có mặt về quân sự tạikhu vực đã làm xuất hiện một khoảng trống quyền lực. Bên cạnh đó, vai trò vị
Xem thêm

76 Đọc thêm

tiểu luận cao học Sự hình thành và phát triển của phật giáo trung quốc từ thời nhà hàn đến thời nhà đường

tiểu luận cao học Sự hình thành và phát triển của phật giáo trung quốc từ thời nhà hàn đến thời nhà đường

Phật giáo được khởi nguồn từ Ấn Độ, sau đó truyền qua Trung Quốc – một đất nước phồn thịnh, đất rộng, người đông với một nền văn minh cổ xưa từ thời nhà Hạ, Ân, Chu tới Tiền Hán. Song phải đến thời Hậu Hán, Phật giáo mới chính thức được du nhập miền đất này. Nhờ nguồn giáo lý cao diệu của mình, Phật giáo đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến nếp sống, tình cảm cũng như tư tưởng của người dân Trung Quốc. Chẳng bao lâu, Phật giáo đó nhanh chóng chiếm được địa vị của Nho giáo và Đạo giáo. Cho tới thời nhà Đường, Phật giáo trở thành tôn giáo trọng yếu nhất của Trung Quốc.Sau khi được du nhập, Phật giáo Trung Quốc không chỉ bó hẹp phạm vi phát triển trong nước mà còn truyền bá ra bên ngoài theo các ngả khác nhau. Phật giáo Việt Nam, Phật giáo Triều Tiên, Phật giáo Nhật Bản ít nhiều đều chịu ảnh hưởng của Phật Giáo Trung Quốc. Theo các nhà nghiên cứu văn hóa phương đông thì “Phật giáo Trung Quốc là một kho tàng phong phú nhất của nền tư tưởng Á Đông. Muốn khảo cứu văn hóa Á Đông, phải tìm hiểu Phật giáo Trung Quốc bởi chính Phật giáo nói chung và Phật giáo Trung Quốc nói riêng là tinh túy của nền văn hóa Á Đông”. Chính vì vậy, việc tìm hiểu, nghiên cứu, học tập chuyên đề Phật giáo Trung Quốc là một việc có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.Thông thường khi nói tới đạo Phật là nói tới giáo chủ, giáo lý và giáo đoàn. Giáo đoàn Phật giáo có thể được chia theo địa lý: hình thành phái Nam truyền và Bắc truyền. Giáo đoàn Phật giáo cũng có thể được chia theo giáo lý đạo Phật: phái Tiểu thừa và phái Đạo thừa. Quá trình phát triển của giáo đoàn Phật giáo được gắn liền với sự phát triển của giáo lý đạo Phật. Các trường phái khai thác tư tưởng của giáo chủ ở mức độ khác nhau sẽ có giáo lý khác nhau. Càng về sau này, giáo đoàn Phật giáo càng phong phú và có ý nghĩa chính trị hơn. Vấn đề đặt ra là vậy giáo đoàn Phật giáo Trung Quốc đó có quá trình hình thành, phát triển như thế nào trong thời cổ trung đại? Đó chính là động lực viết
Xem thêm

Đọc thêm

Vấn đề hoàng sa trường sa trong chính sách đối ngoại của việt nam với trung quốc

Vấn đề hoàng sa trường sa trong chính sách đối ngoại của việt nam với trung quốc

LỜI NÓI ĐẦU Nằm trên tuyến đường huyết mạch từ Thái Bình Dương sang Ấn Độ Dương và trong khu vực biển Đông có nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào, hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, vốn thuộc chủ quyền của Việt Nam, từ lâu đã trở thành mục tiêu tranh giành của các nước trong khu vực Biển Đông gây ra tình trạng bất ổn trong khu vực và tình trạng này đang có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây. Trong số các quốc gia khu vực biển Đông, Trung Quốc là quốc gia có ý đồ bành trướng mạnh mẽ nhất và cũng là quốc gia bất chấp dư luận và luật pháp quốc tế nhất thể hiện qua các chính sách và các hành động cụ thể của nước này đối với hai quần đảo nói trên. Những chính sách và hành động của Trung Quốc đã tạo ra không ít khó khăn cho quá trình giải quyết hòa bình các tranh chấp đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như tạo nên sự căng thẳng cho mối quan hệ giữa các nước trong khu vực, đồng thời còn đặt ra một nhiệm vụ vô cùng nặng nề cho chính sách đối ngoại của Việt Nam trong việc đảm bảo chủ quyền quốc gia cũng như giữ gìn mối quan hệ với Trung Quốc. Vấn đề Hoàng Sa – Trường Sa nảy sinh từ khoảng đầu thế kỷ XX song tranh chấp chủ quyền đối với hai quần đảo này chỉ thực sự trở thành điểm nóng trong quan hệ Việt Nam – Trung Quốc khi Trung Quốc dùng vũ lực đẩy mạnh việc xâm chiếm của mình đối với quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974. Chính vì vậy, bài viết sẽ đi sâu vào phân tích vấn đề Hoàng Sa – Trường Sa trong chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với Trung Quốc từ năm 1974 đến nay trên các phương diện sau: một là, lợi ích quốc gia của Việt Nam trong vấn đề Hoàng Sa – Trường Sa; hai là, giải quyết vấn đề trên trong chính sách đối ngoại Việt Nam đối với Trung Quốc từ năm 1974 đến nay; ba là, nhận định về một vài khả năng giải quyết vấn đề của chính sách đối ngoại Việt Nam. NỘI DUNG I. Lợi ích quốc gia của Việt Nam trong vấn đề Hoàng Sa – Trường Sa: 1. An ninh: Với sự thật rằng Trung Quốc đã dùng vũ lực lần lượt xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa và một số đảo trong quần đảo Trường Sa cho thấy mối đe dọa nghiêm trọng cho nền an ninh quốc phòng Việt Nam. Không những vậy, tham vọng của các nhà lãnh đạo Trung Quốc vẫn chưa dừng lại cho đến khi đạt được vùng biển “lưỡi bò” mà họ cho là “của mình” với nhiều chính sách và hành động bất chấp luật pháp quốc tế. Đứng trước đối thủ có tính toán như vậy, nhiệm vụ vô cùng nặng nề và cấp bách đặt ra cho Việt Nam là bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia trước nguy cơ mang tên “Trung Quốc”. Có thể thấy, nếu Việt Nam đánh mất hoàn toàn chủ quyền đối với hai quần đảo này thì Trung Quốc sẽ bao vây chúng ta từ cả phía bắc và phía đông đồng thời chặn con đường từ Thái Bình Dương vào Ấn Độ Dương đi qua lãnh thổ Việt Nam, đẩy nước ta vào khe hẹp với một lối ra duy nhất ở vùng biển phía Nam. Đây là một điều vô cùng bất lợi cho việc bố trí an ninh quốc phòng của đất nước. Vượt qua tất cả, có thể thấy rằng Trung Quốc đã xâm phạm một cách thô bạo chủ quyền của Việt Nam. Và nếu Việt Nam không có chiến lược mạnh mẽ để chống lại sự xâm phạm ấy thì rất có thể sau Hoàng Sa và Trường Sa sẽ lại là các “Hoàng Sa – Trường Sa” khác. Nói cách khác vấn đề Hoàng Sa – Trường Sa, ở một mức độ nhất định, sẽ tạo tiền đề cho chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc hoành hành, đe dọa an ninh và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Do đó, đấu tranh giành lại Hoàng Sa – Trường Sa không chỉ là cuộc chiến mang ý nghĩa bảo vệ hiện tại mà còn có ý nghĩa phòng vệ cho tương lai, là nhiệm vụ vô cùng cấp thiết của toàn dân tộc. 2. Phát triển: Ngoài vị trí chiến lược về an ninh, hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa còn án ngữ trên con đường từ Thái Bình Dương sang Ấn Độ Dương. Với vị trí ấy việc cung cấp dịch vụ cho tàu thuyền qua lại trên vùng biển Đông cũng như phát triển ngành hàng hải sẽ đem lại cho Việt Nam nhiều nguồn lợi vô cùng lớn về kinh tế cũng như đưa đến cho Việt Nam nhiều cơ hội để giao lưu, hợp tác với bạn bè quốc tế. Đồng thời, như đã nhắc đến ở phần mở đầu, vùng biển xung quanh hai quần đảo này có nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng phong phú, với tiềm năng khai thác lớn. Như vậy, việc mất chủ quyền đối với hai quần đảo này sẽ lấy đi của Việt Nam một nguồn thu nhập lớn từ quyền khai thác tài nguyên biển và quyền quản lý con đường thông thương quan trọng trên biển. Do đó, vấn đề Hoàng Sa – Trường Sa còn mang tính kinh tế vô cùng lớn mà khi mất đi, lợi thế phát triển của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng không nhỏ. Bảo vệ vùng biển đảo này là bảo vệ một trong những động lực giúp Việt Nam tiến nhanh, tiến mạnh hơn trên con đường xây dựng đất nước. 3. Ảnh hưởng: Nắm giữ được Hoàng Sa và Trường Sa, Việt Nam sẽ có vai trò là điểm nút giao thông quan trọng trên biển, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế cũng nhờ đó mà được nâng cao. Không những vậy, những tranh chấp hiện nay trong khu vực biển Đông đã và đang gây ra sự căng thẳng và tranh chấp quyết liệt giữa các quốc gia trong khu vực này. Nếu những nỗ lực đấu tranh của Việt Nam có thể giải quyết vấn đề Hoàng Sa – Trường Sa, đảm bảo được chủ quyền của đất nước thì vị thế của đất nước trong khu vực cũng tăng lên rất nhiều. Như vậy, Hoàng Sa – Trường Sa là cửa ngõ cho Việt Nam vươn xa hơn trong quan hệ khu vực cũng như trên phạm vi toàn thế giới. 4. Tiểu kết: Có thể thấy, ba lợi ích an ninh – phát triển – ảnh hưởng luôn song hành nhau, liên hệ chặt chẽ với nhau, tuy nhiên trong vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa lợi ích cao nhất của dân tộc vẫn luôn là lợi ích về an ninh, mà cụ thể ở đây là lợi ích bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Điều này được lý giải bới việc nếu Việt Nam thất bại trong nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền của đất nước trên hai quần đảo này không chỉ là vấn đề mất đi một phần lãnh thổ mà sẽ đe dọa trực tiếp đến an ninh lâu dài của quốc gia và kéo theo đó sự mất đi nền tảng ổn định cho sự phát triển kinh tế của đất nước cũng như làm sụt giảm vị thế của đất nước trong khu vực và trên trường quốc tế. Bởi vậy, thiết nghĩ, đối với vấn đề này chính sách đối ngoại Việt Nam cần dương cao ngọn cờ bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ II. Giải quyết vấn đề Hoàng Sa – Trường Sa trong chính sách đối ngoại Việt Nam đối với Trung Quốc từ năm 1974 đến nay: Năm 1975, Việt Nam hoàn toàn độc lập, thống nhất đất nước, cái tên Cộng hòa miền Nam Việt Nam bị xóa sổ. Những năm sau đấy, mâu thuẫn Việt – Trung lên cao và cũng chính thời gian này tranh chấp chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa bước vào giai đoạn quyết liệt. Đến năm 1991, những thay đổi trong chính sách đối ngoại của hai nước đã đưa đến việc bỉnh thường hóa quan hệ vào năm 1991. Do đó, để đánh giá những nỗ lực giải quyết vấn đề Hoàng Sa – Trường Sa trong chính sách đối ngoại của Việt Nam với Trung Quốc, chúng ta sẽ xem xét trong ba giai đoạn: giai đoạn 1974 1975, giai đoạn 1975 1991 và giai đoạn 1991 đến nay. 1. Giai đoạn 1974 1975: Trong giai đoạn này, Việt Nam vẫn đang bị chia cắt thành hai miền Nam – Bắc và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc quyền quản lý của chính quyền miền Nam Việt Nam. Trước các hành động xâm chiếm của Trung Quốc không ngừng tái diễn thì chính quyền Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã kiên quyết phản đối và yêu cầu Liên hiệp quốc xem xét vấn đề này. Trong khi đó, chính quyền Bắc Việt Nam, do mối quan hệ đặc biệt giữa Bắc Việt Nam và Trung Quốc lúc bấy giờ (vẫn chưa đi vào mâu thuẫn trầm trọng) không có động thái gì để chống lại các hành động ngang nhiên của Trung Quốc. Còn chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam chỉ lên tiếng kêu gọi đối thoại. Những phản ứng nêu trên đã được Chính phủ Trung Quốc sử dụng làm cơ sở để lập luận rằng chính phủ Việt Nam không phản đối việc chính phủ Trung Quốc đưa ra các yêu sách cũng như các hành động lấn chiếm của mình đồng nghĩa với việc Chính phủ Việt Nam đã từ bỏ chủ quyền của mình đối với hai quần đảo trên. Như vậy, sự ngập ngừng của phía Việt Nam đối trong việc bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ là một bài học xương máu mà cái giá cúa nó là quần đảo Hoàng Sa
Xem thêm

Đọc thêm

Một số kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của dịch bệnh và thiên tai

Một số kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của dịch bệnh và thiên tai

Bắt đầu từ cuối năm 2019, dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp Covid 19 đã bùng phát tại Vũ Hán, Trung Quốc về đến nay đã lan ra hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới đời sống của người dân cũng như nền kinh tế toàn cầu. Bài viết sử dụng mô hình đầu vào - đầu ra (Bảng IO) để phân tích ảnh hưởng của dịch Covid 19 đến nền kinh tế giữa Trung Quốc và Việt Nam.

Đọc thêm

Tài liệu Văn hóa Trung Hoa

Tài liệu Văn hóa Trung Hoa

Như đã biết,với nhưng ưu thế vốn có của mình, Trung Quốc đã có một nền văn minh vô cùng rực rỡ về nhiều mặt, trong đó nổi bật như chữ viết, văn học, sử học, khoa học – tự nhiên… Đặc biệt Trung Quốc rất coi trọng việc giáo dục thể hiện trong việc mở các trường học và tổ chức các khoa cử trong các triều đại trước. Với một đất nước có bề dày về mặt lịch sử, bề rộng về mặt địa lí, ngay từ thời cổ đại, Trung Quốc đã có những phát minh lớn có tiếng vang và ảnh hưởng đến toàn thế giới,trong đó tiêu biểu nhất là giấy,la bàn,thuốc nổ…Việc phát minh ra giấy là cuộc cách mạng quan trọng trong truyền bá chữ viết, trao đổi tư tưởng và phổ biến kiến thức. Những phát minh đó cho thấy con người Trung Quốc rất năng động, sáng tạo. Hơn nữa, suốt 5000 năm tồn tại và phát triển, văn minh Trung Quốc không chỉ có ảnh hưởng đến các dân tộc Châu Á, mà còn có những đóng góp lớn cho tiến trình phát triển của văn minh loài người. Những phát minh lớn của Trung Quốc trong lịch sử khoa học – kĩ thuật của thế giới. Những phát minh lớn đó đã làm thay đổi bộ mặt thế giới, loại thứ nhất trên bình diện văn học, loại thứ hai trên bình diện chiến tranh, loại thứ ba trên bình diện hàng hải… Từ một nước nghèo nàn lạc hậu, thì Trung Quốc đã phấn đấu lên thành một nước có chỉ số phát triển đầu người cao nhất thế giới. Chính trị từ khủng hoảng đến ổn định. Những đóng góp của văn minh Trung Quốc cho nhân loại là rất lớn, chúng ta không thể phủ nhận nó. Thực tế đã cho thấy điều đó. Ảnh hưởng của nền văn minh Trung Quốc là rất lớn, trong đó không thể ngoại trừ Việt Nam. Việt Nam cần học tập con người Trung Quốc về sự nhạy bén với thời cuộc, sáng tạo hơn nữa trong các lĩnh vực. Với những thành tựu đó, người Trung Quốc hoàn toàn có thể ngẩng cao đầu trên trường quốc tế, người Trung Quốc có thể tự hào về con người và đất nước mình. Trung Quốc xứng đáng để cả thế giới ngưỡng mộ và học tập.
Xem thêm

Đọc thêm

bài hoàn chỉnh đường lối

bài hoàn chỉnh đường lối

Hệ thống chính trị. Hệ thống chính trị là một bộ phận kiến trúc thượng tầng xã hội, bao gồm các tổ chức, các thiết chế có quan hệ với nhau về mục đích, chức năng thực hiện, tham gia thực hiện quyền lực chính trị hoặc đưa ra các quyết định chính trị. Hệ thống chính trị ở nước ta. Hệ thống chính trị của CNXH là hệ thống các tổ chức chính trị xã hội mà nhờ đó nhân dân lao động thực thi quyền lực của mình đối với xã hội. Vị trí. Hệ thống chính trị bao trùm và điều chỉnh mọi quan hệ chính trị giữa các giai cấp, tâng lớp xã hội; giữa các dân tộc trong cộng đồng xã hội; giữa các xã hội, tập thể, cá nhân Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thể hiện bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, theo cơ chế: Đảng lãnh đạo, Nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lí. Đảng Cộng sản, với tư cách là đội tiên phong của giai cấp công nhân và đại biểu cho lợi ích của nhân dân lao động và của toàn dân tộc, có sứ mạng lãnh đạo toàn bộ xã hội thông qua nhà nước và các đoàn thể nhân dân; bộ máy nhà nước có chức năng quản lí mọi mặt đời sống xã hội; các đoàn thể nhân dân có chức năng tập hợp các giai cấp, tầng lớp xã hội tham gia việc quản lí nhà nước, quản lí xã hội. Cấu trúc hệ thống chính trị Cũng giống như các hệ thống chính trị nói chung, hệ thống chính trị nước ta được kết cấu từ các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội khác nhau gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận tổ quốc Việt Nam cùng các đoàn thể quần chúng là thành viên của Mặt trận. Mỗi tổ chức có vị trí, vai trò khác nhau do chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức, nhưng cùng tác động vào các quá trình phát triển kinh tế xã hội nhằm đảm bảo quyền lực của nhân dân: Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành lợi ích giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Đảng là một bộ phận của hệ thống chính trị nhưng lại là hạt nhân lãnh đạo của toàn bộ hệ thống chính trị. Vai trò lãnh đạo của Đảng thể hiện trên những nội dung chủ yếu sau: Đảng đề ra Cương lĩnh chính trị, đường lối, chiến lược, những quan điểm, chủ trương phát triển kinh tếxã hội; đồng thời Đảng là người lãnh đạo và tổ chức thực hiện Cương lĩnh, đường lối của Đảng. Đảng lãnh đạo xã hội chủ yếu thông qua Nhà nước và các đoàn thể quần chúng. Đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng được Nhà nước tiếp nhận, thể chế hoá cụ thể bằng pháp luật và những chủ trương, chính sách, kế hoạch, chương trình cụ thể. Vì vậy, Đảng luôn quan tâm đến việc xây dựng Nhà nước và bộ máy của Nhà nước, đồng thời kiểm tra việc Nhà nước thực hiện các Nghị quyết của Đảng. Đảng lãnh đạo xã hội thông qua hệ thống tổ chức Đảng các cấp và đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng. Đảng lãnh đạo công tác cán bộ bằng việc xác định đường lối, chính sách cán bộ, lựa chọn, bố trí, giới thiệu cán bộ có đủ tiêu chuẩn vào các cơ quan lãnh đạo của Nhà nước và các đoàn thể quần chúng và các tổ chức chính trị xã hội. Ngoài ra, Đảng lãnh đạo bằng phương pháp giáo dục, thuyết phục và nêu gương, làm công tác vận động quần chúng, lãnh đạo thực hiện tốt quy chế dân chủ...
Xem thêm

Đọc thêm

tiểu luận cao học môn quan hệ quốc tế TRANH CHẤP QUẦN đảo HOÀNG SA, TRƯỜNG SA GIỮA

tiểu luận cao học môn quan hệ quốc tế TRANH CHẤP QUẦN đảo HOÀNG SA, TRƯỜNG SA GIỮA

MỞ ĐẦU Hiện nay, Biển Đông là một trong những khu vực hội tụ nhiều mâu thuẫn căng thẳng về kinh tế, chính trị, thu hút sự quan tâm không chỉ ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương mà của hầu hết các nước lớn trên thế giới. Đây là một khu vực có vị trí rất quan trọng cả về tài nguyên biển và đường hàng hải quốc tế. Tuy nhiên, đây cũng là một trong những nơi có nguy cơ xảy ra xung đột, có thể coi là một “điểm nóng” tiềm tàng về an ninh và ổn định của khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Các cuộc tranh chấp lãnh thổ ở biển Đông đã bắt đầu diễn ra từ sau Chiến tranh thế giới II giữa nhiều quốc gia trong khu vực như Trung Quốc, Việt Nam, Philippines… ,điển hình là trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Từ đó đến nay, vấn đề này vẫn không ngừng làm leo thang mâu thuẫn trong quan hệ giữa các quốc gia, có nguy cơ gây chiến tranh và trở thành vấn đề chính trị của toàn thế giới. Đề cập đến vấn đề này, các nhà báo, nhà nghiên cứu chính trị khắp nơi trên thế giới đã tốn không biết bao nhiêu công sức, giấy mực nhưng vẫn chưa tìm ra được giải pháp nào có thể giải quyết triệt để, xóa bỏ được mâu thuẫn đang ngày càng lớn này. Trong hoàn cảnh đó, Việt Nam một quốc gia trong cuộc đã tuyên bố lãnh thổ trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cần phải có một cái nhìn rõ ràng và những nước đi đúng đắn cho chính mình. Vì vậy, mỗi công dân Việt Nam chúng ta cần phải nắm bắt được tình hình hiện tại, hiểu chính xác bản chất vấn đề, tránh các luận điệu xuyên tạc, từ đó gấp rút tìm ra phương pháp xóa bỏ những căng thẳng giữa các quốc gia trong khu vực, bảo toàn được lãnh thổ, tạo điều kiện thuận lợi cho đất nước hội nhập và phát triển.
Xem thêm

Đọc thêm

Những dấu hiệu về mối quan hệ xa giữa Lĩnh Nam (Trung Quốc) và Nam Đông Dương

Những dấu hiệu về mối quan hệ xa giữa Lĩnh Nam (Trung Quốc) và Nam Đông Dương

Những dấu hiệu về mối quan hệ xa giữa Lĩnh Nam (Trung Quốc) và Nam Đông Dương Thông qua các tư liệu khảo cổ học khai quật tại Việt Nam, Trung Quốc, Lào, Campuchia, Thái Lan... Đặc biệt là các di tích thuộc văn hóa Sa Huỳnh ở Việt Nam

Đọc thêm

Cùng chủ đề