VĂN BẢN HƯỚNG DẪN BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "VĂN BẢN HƯỚNG DẪN BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ":

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC - CHỨNG CỨ VÀ VẤN ĐỀ CHỨNG MINH TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC - CHỨNG CỨ VÀ VẤN ĐỀ CHỨNG MINH TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

bộ luật tố tụng dân sự. tìm hiểu bộ luật tố tụng dân sự một cách chi tiết. Liên hệ thực tiễn những chứng cứ trong quá trình áp dụng bộ luật nào vào trong thực tiễn của cơ quan điều tra, viện kiểm sát nhân dân các cấp và áp dụng trong tranh tụng tại các phiên tòa diễn ra. Số liệu dẫn chứng từ việc thực thi theo luật định.

Đọc thêm

Toàn bộ điểm mới bộ luật tố tụng dân sự 2015

TOÀN BỘ ĐIỂM MỚI BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ 2015

Nếu như nói Bộ luật dân sự 2015 quan trọng về nội dung thì Bộ luật tố tụng dân sự 2015 lại là Bộ luật quan trọng về hình thức. Việc nghiên cứu tất cả các điểm mới của Bộ luật tố tụng dân sự cũng là một điều quan trọng giúp các bạn nắm bắt được các quy định này từ trước khi Bộ luật có hiệu lực thi hành.

178 Đọc thêm

Bộ luật tố tụng hình sự 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành

BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 2003 VÀ CÁC VĂN BẢN HƯỚNG DẪN THI HÀNH

BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 512001QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10; Bộ luật này quy định trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Phần thứ nhất NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG Chương I NHIỆM VỤ VÀ HIỆU LỰC CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ Điều 1. Nhiệm vụ của Bộ luật tố tụng hình sự Bộ luật tố tụng hình sự quy định trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, của các cơ quan, tổ chức và công dân; hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự, nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Bộ luật tố tụng hình sự góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Điều 2. Hiệu lực của Bộ luật tố tụng hình sự Mọi hoạt động tố tụng hình sự trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải được tiến hành theo quy định của Bộ luật này. Hoạt động tố tụng hình sự đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là công dân nước thành viên của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập thì được tiến hành theo quy định của điều ước quốc tế đó. Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng các đặc quyền ngoại giao hoặc quyền ưu đãi, miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập hoặc theo tập quán quốc tế, thì vụ án được giải quyết bằng con đường ngoại giao.
Xem thêm

284 Đọc thêm

THỰC TIỄN THỰC HIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG DÂN SỰ ÁP DỤNG TRONG TRƯỜNG HỢP ĐƯƠNG SỰ VẮNG MẶT Ở TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM, PHÚC THẨM KHI GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ

THỰC TIỄN THỰC HIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG DÂN SỰ ÁP DỤNG TRONG TRƯỜNG HỢP ĐƯƠNG SỰ VẮNG MẶT Ở TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM, PHÚC THẨM KHI GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ

Thực tiễn thực hiện quy định của pháp luật về thủ tục tố tụng dân sự áp dụng trong trường hợp đương sự vắng mặt ở Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm khi giải quyết vụ án dân sự Chuyên mục Bài tập học kỳ, Luật Tố tụng Dân sự Bài tập học kỳ Tố tụng Dân sự Thủ tục tố tụng dân sự áp dụng trong trường hợp đương sự vắng mặt ở Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm khi giải quyết vụ án dân sự và thực tiễn thực hiện. Thực tiễn thực hiện quy định của pháp luật về thủ tục tố tụng dân sự áp dụng trong trường hợp đương sự vắng mặt ở Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm khi giải quyết vụ án dân sự. 1. Một số hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật Thứ nhất, theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 199 BLTTDS năm 2011 thì: Trong trường hợp Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nguyên đơn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của người đó. Tuy nhiên, điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật này lại quy định Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong trường hợp: “Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng”. Quy định này đã không tính đến một trường hợp ngoại lệ là: Nếu trong vụ án này bị đơn có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập mà những người này đều có mặt khi được triệu tập hợp lệ và vẫn giữ nguyên yêu cầu của mình thì trong trường hợp này, Tòa án có tiếp tục xét xử vắng mặt nguyên đơn để xét yêu cầu phản tố của bị đơn hoặc yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hay không? Đây là vấn đề pháp luật tố tụng dân sự chưa có quy định và cũng chưa có văn bản hướng dẫn về vấn đề này. Thứ hai, điểm a khoản 2 Điều 199 BLTTDS năm 2011 đã lường được trường hợp vụ án có yêu cầu độc lập hoặc yêu cầu phản tố nên đã quy định trong trường hợp này Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Nhưng quy định này cũng chưa chính xác ở chỗ: không thể sử dụng thuật ngữ “đình chỉ giải quyết vụ án” được vì đình chỉ giải quyết vụ án là không xem xét, giải quyết bất cứ yêu cầu nào nữa. Trong một vụ án có nhiều yêu cầu thì chỉ được đình chỉ giải quyết yêu cầu đó chứ không thể đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu được. Thứ ba, theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành, Toà án có thể xét xử mà không có sự tham gia của đương sự. Vấn đề đặt ra là khi phiên toà diễn ra mà không có sự tham gia của bất kỳ đương sự nào thì thủ tục tiến hành phiên toà này sẽ được thực hiện như thế nào để bảo đảm đúng thủ tục tố tụng. Giả sử một phiên toà sơ thẩm vụ án dân sự xét xử mà không có sự có mặt của bất kỳ đương sự nào thì diễn biến phiên toà sẽ được xác định như thế nào? Nếu không có đương sự, các thủ tục tiến hành phiên toà như thủ tục hỏi thì Hội đồng xét xử sẽ không thể tiến hành thủ tục hỏi mà chỉ là việc Hội đồng xét xử cho công bố bản tự khai, biên bản lấy lời khai của đương sự đã có trong hồ sơ vụ án, công bố các tài liệu khác có trong hồ sơ, đưa ra xem xét các vật chứng... Đặc biệt, sau khi kết thúc thủ tục hỏi Hội đồng xét xử chuyển sang thủ tục tranh luận thì thủ tục tranh luận không thể tiến hành theo thủ tục chung do BLTTDS quy định khi không có đương sự nào tham gia vì chủ thể tranh luận chủ yếu là đương sự. Do vậy, pháp luật tố tụng dân sự cần có quy định cụ thể về vấn đề này. 2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Thứ nhất, pháp luật tố tụng dân sự nên quy định theo hướng: Trong trường hợp Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nguyên đơn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhưng nếu bị đơn có yêu cầu phản tố hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập thì Tòa án vẫn phải giải quyết yêu cầu của những người này và họ sẽ trở thành nguyên đơn, người có nghĩa vụ đối với yêu cầu sẽ trở thành bị đơn. Thứ hai, BLTTDS nên thay đổi cách sử dụng thuật ngữ. Nếu trong vụ án có nhiều yêu cầu thì không nên sử dụng thuật ngữ “đình chỉ giải quyết vụ án” mà thay vào đó là thuật ngữ “đình chỉ giải quyết yêu cầu”. Thứ ba, pháp luật tố tụng dân sự bên cạnh việc quy định thủ tục tiến hành phiên toà trong trường hợp thông thường với sự có mặt của các đương sự cần quy định những thủ tục riêng và những điều kiện cho một phiên toà xét xử vắng mặt đương sự nhằm bảo đảm việc Toà án xét xử vắng mặt đương sự mà vẫn bảo đảm giải quyết nhanh chóng, chính xác và đúng pháp luật.
Xem thêm

3 Đọc thêm

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG KINH DOANH, THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG KINH DOANH, THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH

diễn ra có trật tự, do đó cần thiết phải thiết kế và xây dựng một hệ thống các văn bảnpháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ, có tính thống nhất cao và một cơ chế hữu hiệu đảm bảoviệc thi hành chúng.1.2.1.1 Cơ sở thực tiễnSau công cuộc đổi mới nền kinh tế đất nước, sự hình thành nền kinh tế thị trườngở nước ta trong những năm đầu của thế kỷ này được diễn ra trong bối cảnh sự pháttriển theo chiều rộng và chiều sâu của các quan hệ kinh tế với tốc độ nhanh chóngchưa từng có để từng bước khẳng định nó là bộ phận không thể thiếu được của thịtrường thế giới. Cũng từ đó mà tranh chấp trong kinh tế nói chung và trong kinh doanhthương mại nói riêng với tính cách là hệ quả tất yếu của quá trình này cũng trở nênphong phú hơn về chủng loại và gay gắt phức tạp hơn về tính chất và quy mô.Tranh chấp kinh doanh thương mại là hiện tượng phát sinh tất yếu trong hoạtđộng kinh doanh thương mại, vấn đề cần quan tâm là phải có biện pháp để giải quyếthợp lý những tranh chấp đó nhằm giúp các chủ thể kinh doanh có được sự tin tưởngtrong cơ chế điều hành, quản lý kinh tế của nhà nước. Vì vậy, việc đổi mới và hoànthiện hệ thống pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại phù hợp với cơ chế thịtrường là yêu cần cần thiết, quan trọng nhằm đảm bảo việc thực hiện chức năng kinh tếcủa nhà nước.Trong những năm gần đây việc giải quyết tranh chấp thương mại tại Tòa án ngàycàng trở nên phổ biến và chiếm tỷ trọng lớn trong các phương thức mà các bên lựachọn giải quyết khi có tranh chấp thương mại phát sinh. Để hoạt động giải quyết cácvụ án tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án có hiệu quả, việc ban hành hệthống pháp luật hoàn chỉnh là điều cần thiết. Nó không chỉ đáp ứng được tình hìnhkinh tế - xã hội mà còn tăng cường tính pháp lý về hoạt động của Tòa án trong giảiquyết án, tạo môi trường bình đẳng đối với các chủ thể tham gia đầu tư, kinh doanh.1.2.1.2 Cơ sở pháp luậtBên cạnh những cơ sở từ thực tiễn kinh tế xã hội đề ra, việc ban hành hệ thốngcác quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh thương mại còn dựa trên hệthống các văn bản pháp luật như : Hiến pháp 2013; bộ luật Tố tụng dân sự 2004, Bộluật dân sự 2005, Luật Thương mại 2005 và các văn bản pháp luật khác.
Xem thêm

44 Đọc thêm

NGUYÊN TẮC ĐẢM BẢO SỰ VÔ TƯ CỦA NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG, NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG VÀ VIỆC ĐẢM BẢO THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC NÀY

NGUYÊN TẮC ĐẢM BẢO SỰ VÔ TƯ CỦA NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG, NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG VÀ VIỆC ĐẢM BẢO THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC NÀY

Nguyên tắc đảm bảo sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và việc đảm bảo thực hiện nguyên tắc này Bài tập học kì Luật Tố tụng Dân sự Chuyên mục Bài tập học kỳ, Luật Tố tụng Dân sự Nguyên tắc của luật tố tụng dân sự là tư tưởng pháp lý chỉ đạo cho nên việc tuân thủ đúng trong quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật tố tụng dân sự có ý nghĩa rất quan trọng. Nội dung các nguyên tắc này thể hiện về năm vấn đề cơ bản của tố tụng dân sự như tính pháp chế xã hội chủ nghĩa của hoạt động tố tụng dân sự; nguyên tắc tổ chức và hoạt động xét xử các vụ việc dân sự của tòa án; bảo đảm quyền tham gia tố tụng của các đương sự; trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng dân sự đối với việc giải quyết vụ việc dân sự; vai trò, trách nhiệm của cá nhân, tổ chức khác đối với việc giải quyết vụ việc dân sự của tòa án. Một trong những nguyên tắc quan trọng, thể hiện trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng dân sự đó là nguyên tắc đảm bảo sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng. Bài viết dưới đây xin trình bày đề tài: “Nguyên tắc đảm bảo sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và việc đảm bảo thực hiện nguyên tắc này.” Trong quá trình thực hiện bài viết, với lượng kiến thức có hạn và số lượng tài liệu tham khảo hạn chế khiến bài viết không tránh khỏi những sai sót, mong thầy cô xem xét và chỉ bảo. Em xin cảm ơn. Nội dung 1. Căn cứ pháp lý của nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng Những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng giúp tòa án làm rõ các vấn đề của vụ việc dân sự có trách nhiệm thực thi công lý, nếu họ không vô tư trong việc tiến hành tố tụng hoặc tham gia tố tụng thì việc giải quyết vụ việc dân sự sẽ bị thiên lệch. Do vậy, bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng được pháp luật quy định là một nguyên tắc của luật tố tụng dân sự. Các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng dân sự Việt Nam được ghi nhận trong Bộ luật Tố tụng Dân sự thành một chế định riêng biệt tại Chương II. Có thể thấy, so với quy định của pháp luật tố tụng trước đó, chế định các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng dân sự Việt Nam được quy định trong Bộ luật Tố tụng Dân sự rõ ràng hơn, đầy đủ hơn và phù hợp hơn. Kế thừa các Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, kinh tế, lao động trước đây, Bộ luật Tố tụng Dân sự xây dựng mới một số nguyên tắc thể hiện rõ hơn tính dân chủ và pháp chế trong tố tụng dân sự như nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng dân sự, nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự, nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành hoặc tham gia tố tụng dân sự…, đồng thời sửa đổi, bổ sung để làm rõ hơn nội dung một số nguyên tắc cơ bản quy định trong pháp luật tố tụng dân sự hiện hành như nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự, nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự, nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ giữa các đương sự, nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự… Tổng cộng, Bộ luật Tố tụng Dân sự ghi nhận 22 nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng dân sự Việt Nam (từ Điều 3 đến Điều 24). Điều dễ nhận thấy là trong số 22 nguyên tắc cơ bản này, có những nguyên tắc không chỉ được ghi nhận trong pháp luật tố tụng dân sự mà còn được thể hiện trong các văn bản pháp luật tố tụng hình sự và pháp luật về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp như: nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động tố tụng, nguyên tắc Toà án thực hiện chế độ hai cấp xét xử, nguyên tắc Toà án xét xử tập thể, công khai, nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Toà án, nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng… Các vấn đề liên quan đến nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã được quy định trong các văn bản pháp luật tố tụng mà Nhà nước ta đã ban hành như bản hướng dẫn về trình tự xét xử sơ thẩm về dân sự ban hành kèm theo Thông tư số 96NCPL ngày 821977 của Tòa án nhân dân tối cao, Điều 17 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989, Điều 18 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994, Điều 17 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996 … Tuy nhiên, các quy định này còn chưa có tính hệ thống. Hiện nay, nguyên tắc này được quy định tại Điều 16 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật tố tụng dân sự. “Điều 16. Bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành hoặc tham gia tố tụng dân sự Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án, Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, người phiên dịch, người giám định, thành viên Hội đồng định giá không được tiến hành hoặc tham gia tố tụng, nếu có lý do xác đáng để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.” Nội dung của điều luật này đã thể hiện được một phần nội dung cơ bản của nguyên tắc như quy định được những biện pháp bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng. 2. Nội dung nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng Nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người tiến hành tố tungm người tham gia tố tụng có nội dung chủ yếu được xác định là phải tiến hành những biện pháp cần thiết để bảo đảm sự vô tư trong việc tiến hành tố tụng hoặc tham gia tố tụng của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng; trường hợp có căn cứ cho thấy họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ thì phải thay đổi. Nghĩa là, những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng phải giữ được sự vô tư khi làm nhiệm vụ của mình trong mọi trường hợp. Họ phải tôn trọng sự thật, tôn trọng pháp luật, tiến hành công việc của mình với thái độ thật sự công tâm, khách quan, vô tư, không được để những quan hệ, những tình cảm cá nhân chi phối vào công việc, không được có thái độ thiên vị hay định kiến đối với bất kì người tham gia tố tụng nào. Nếu có lí do xác đáng để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi thực hiện nhiệm vụ của mình, họ sẽ không được tiến hành hoặc tham gia tố tụng, bản thân họ sẽ phải từ chối tiến hành tham gia hoặc tiến hành tố tụng hoặc bị đề nghị thay đổi. Theo quy định tại Điều 16 Bộ luật tố tụng dân sự thì những người tiến hành và tham gia tố tụng dân sự gồm có: Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án, Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, người phiên dịch, người giám định, thành viên Hội đồng định giá. Những biện pháp cần thiết để bảo đảm sự vụ tư trong việc tiến hành tố tụng hoặc tham gia tố tụng của những người này được biểu hiện cụ thể thông qua những quyền và nghĩa vụ của họ được quy định rõ trong Bộ luật tố tụng dân sự. Chẳng hạn như quyền và nghĩa vụ của Chánh án tòa án được quy định cụ thể tại các Điều 40, 125, 172, 257, 285, 382, 401 và một số điều luật khắc; quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán được quy định tại Điều 41, 85, 100, 173, 184,…; quyền và nghĩa vụ của người giám định được quy định tại Điều 68, 230 Bộ luật tố tụng dân sự và các Điều 12, 14 Pháp lệnh giám định tư pháp; …. Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng giúp tòa án làm rõ các vấn đề của vụ việc dân sự thông qua nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong quá trình tố tụng. Các hoạt động của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng mục đích là để giúp tòa án giải quyết các vụ việc dân sự, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, bảo đảm công bằng xã hội, vì thế trong quá trình tham gia tố tụng họ phải vô tư trong khi làm nhiệm vụ. Sự vô tư của họ trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn là điều rất quan trọng trong việc giải quyết các vụ việc dân sự. Tuy nhiên, mỗi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng có những nhiệm vụ, quyền hạn riêng nên căn cứ thay đổi những người này khi thấy họ không vô tư trong khi làm nhiệm vụ được pháp luật quy định có những điểm không giống nhau. Họ đồng thời là đương sự, người đại diện, người thân thích của đương sự, đã tham gia với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch trong cùng vụ án dó. Có căn cứ rõ ràng cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ theo quy định tại mục II và III, Nghị Quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao số 012005NQHĐTP ngày 3132005 hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất những quy định chung của Bộ luật tố tụng dân sự 2004; hoặc theo các trường hợp quy định tại khoản 1 và 2 Điều 46 Bộ luật tố tụng dân sự; ngoài ra có thể có căn cứ rõ ràng cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ trong các trường hợp như trong quan hệ thông gia, quan hệ tình cảm, quan hệ kinh tế… chứng minh được rằng quan hệ cuộc sống đó khiến người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng không còn vô tư trong việc thực hiện quyền hạn và nghĩa vụ pháp lý của mình thì phải thay đổi. Việc bảo đảm thực hiện nguyên tắc này là điều kienj cần thiết để thực hiện một số các nguyên tắc cơ bản khác của tố tụng dân sự như các nguyên tắc thể hiện tính pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng dân sự; các nguyên tắc về tổ chức hoạt động xét xử của tòa án… Có thể nói nguyên tắc này là đòi hỏi pháp lí chi phọi mọi hoạt động của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng. 3. Ý nghĩa của nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng Về mặt khách quan, là một trong những nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng dân sự nên nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng cũng bao hàm những ý nghĩa cơ bản rất quan trọng của các nguyên tắc cơ bẩn của luật tố tụng dân sự như: Thứ nhất, cùng với đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh quan hệ tố tụng, các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng dân sự được coi là dấu hiệu “bổ sung” thể hiện tính độc lập của ngành luật tố tụng dân sự với những ngành luật khác; Thứ hai, các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng dân sự là cơ sở cho hoạt động sáng tạo, giải thích, hướng dẫn áp dụng quy phạm pháp luật tố tụng dân sự; Thứ ba, dựa trên các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng dân sự, người ta có thể phân biệt, đối chiếu, so sánh thủ tục tố tụng dân sự của các hệ thống pháp luật khác nhau (chẳng hạn, nhìn vào hệ thống các nguyên tắc cơ bản được quy định trong Bộ luật Tố tụng Dân sự, không khó lắm cũng có thể chỉ ra rằng, mô hình tố tụng dân sự nước ta là hệ tố tụng xét hỏi kết hợp với yếu tố tranh tụng); Thứ tư, việc vi phạm các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng dân sự có thể là căn cứ để huỷ bỏ phán quyết của Toà án, của Trọng tài. Về mặt chủ quan, nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng là một trong những nguyên tắc thể hiện trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Người tiến hành tố tụng là chủ thể thực hiện quyền, nghĩa vụ trong việc giải quyết vụ việc dân sự, thi hành án dân sự hoặc kiểm sát việc thuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, để sự thật của vụ việc được xác định khách quan, chính xác đòi hỏi những người này phải thật sự vô tư, khách quan trong khi làm nhiệm vụ. Đối với người tham gia tố tụng là chủ thể tham gia tố tụng nhằm góp phần vào việc xác định sự thật của vụ án, pháp luật cũng đòi hỏi sự vô tư của họ khi tham gia vào tố tụng dân sự. Do đó, nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng một khi được pháp luật nhà nước công nhận và thể chế nó thành một điều luật đã tạo nên khung pháp lý bắt buộc đối với hai dạng chủ thể này, bắt buộc họ phải tôn trọng và thực thi nguyên tắc một cách triệt để. Theo đó, nguyên tắc đã góp phần thúc đẩy tính khách quan, chân thực, công bằng trong việc giải quyết các vụ việc dân sự của tố tụng dân sự; đồng thời xây dựng và đào tạo được một đội ngũ cán bộ tư pháp, các công chức nhà nước tham gia tố tụng cũng như thay mặt cơ quan nhà nước tiến hành tố tụng liêm minh, công tâm. 4. Việc bảo đảm thực hiện nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng Một số điều kiện thực hiện nguyên tắc: Xây dựng và ban hành những quy định pháp luật để điều chỉnh nguyên tắc này, những quy định pháp luật này phải đầy đủ, rõ ràng, thống nhất làm cơ sở cho việc thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng. Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật không những thể hiện được những tư tưởng pháp lý cơ bản của nguyên tắc, đồng thời còn làm cơ sở để nguyên tắc phát huy ý nghĩa quan trọng, tính tích cực của nó, từ đó thể hiện được sự công bằng, minh bạch và phát triển của pháp luật nhà nước. Những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng phải nhận thức rõ được vai trò, trách nhiệm của mình, phải tự động, tự giác từ chối tiến hành hoặc tham gia tố tụng nếu thuộc những trường hợp luật định. Điều kiện này vừa tác động thúc đẩy đội ngũ cán bộ tư pháp, cán bộ nhà nước tham gia hoạt động tư pháp hoàn thiện tư cách cá nhân, đạo đức nghề nghiệp, vừa là biểu hiện cụ thể nhất, rõ ràng nhất tính đúng đắn của nguyên tắc. Kết luận Nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng có ý nghĩa quan trọng trong tố tụng dân sự. Việc hiểu và nắm rõ nguyên tắc này và việc bảo đảm thực hiện nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng trong quá trình tố tụng dân sự, góp phần giảm bớt những hậu quả vi phạm không cần thiết trong thủ tục tố tụng.
Xem thêm

9 Đọc thêm

Tòa án có thẩm quyền mà các đương sự có thể nộp đơn yêu cầu thuận tình ly hôn

TÒA ÁN CÓ THẨM QUYỀN MÀ CÁC ĐƯƠNG SỰ CÓ THỂ NỘP ĐƠN YÊU CẦU THUẬN TÌNH LY HÔN

Tòa án có thẩm quyền mà các đương sự có thể nộp đơn yêu cầu thuận tình ly hôn Vấn đề chung: Qua nghiên cứu đề bài cho thấy đây là một việc dân sự liên quan đến lĩnh vực hôn nhân – gia đình (thuận tình ly hôn). Cơ sở để có khẳng định trên là: Anh A và chị B có đơn yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con và thỏa thuận về việc chia tài sản chung vợ chồng. Hành vi của anh A, chị B thỏa mãn khoản 2 Điều 28 Bộ Luật TTDS 2004 “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn”. Chính vì vậy, đây là việc dân sự chứ không phải là vụ án dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. 1. Xác định Tòa án có thẩm quyền mà các đương sự có thể nộp đơn yêu cầu thuận tình ly hôn. Theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 35 về thẩm quyền giải quyết việc dân sự theo lãnh thổ: “Tòa án nơi có một trong các bên thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản ly hôn cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản ly hôn”. Dẫn chiếu theo quy định này có hai hai Tòa án cấp quận, huyện, thành phố giải quyết việc dân sự này: Thứ nhất: Tòa án huyện N tỉnh Q nơi vợ chồng anh A, chị B và cháu C đã từng sinh sống và hiện tại cũng là nơi cư trú thường xuyên của anh A (một trong hai bên thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn). Thứ hai: Tòa án quận C thành phố H nơi có nhà của bố mẹ chị B và cũng là nơi chị B, cháu C sinh sống và đăng kí tạm trú (một trong hai bên yêu cầu thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn). Lý do nằm ở chỗ, theo quy định: Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết những yêu cầu về hôn nhân và gia đình quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều 28 của Bộ luật này (nội dung điểm b khoản 2 Điều 33). Như vậy, anh A, chị B có thể thỏa thuận lựa chọn một trong hai Tòa án này để nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn. Theo quan đểm các nhân và theo những nghiên cứu thực tiễn, em cho rằng: Anh A, chị B nên gửi đơn yêu cầu lên Tòa án huyện N tỉnh Q để giải quyết việc thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn. Bởi: Tài sản là căn nhà có diện tích 100 m2 có được trong thời kỳ hôn nhân của anh chị nằm ở huyện N tỉnh Q. Điều đó sẽ thuận lợi hơn cho việc phân chia tài sản chung vợ chồng khi ly hôn của Tòa án. 2. Xác định việc sau khi thụ lý Tòa án có phải tiến hành hòa giải để các bên đoàn tụ không. Theo cách hiểu của câu hỏi này, thì Tòa án sau khi thụ lý giải quyết việc dân sự này có “bắt buộc” phải tiến hành hòa giải để các bên đoàn tụ không. Về nguyên tắc được quy định tại Điều 10 Bộ Luật TTDS 2004 về hòa giải trong tố tụng dân sự: “Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện để các bên đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này”. Theo quy định tại Điều 88 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000: “Sau khi thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, Tòa án tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự”. Trong trường hợp thuận tình ly hôn được quy định tại Điều 90 luật này, Tòa án vẫn phải tiến hành hòa giải và nếu hòa giải không thành Tòa án mới công nhận thuận tình ly hôn. Và tại Nghị quyết số 022000NQ HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Khoản 7 quy định: “Theo quy định tại Điều 88 thì sau khi đã thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, Tòa án tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự; do đó, Tòa án phải tiến hành hòa giải theo đúng hướng dẫn tại mục II Nghị quyết số 03HĐTP ngày 19101990 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao “Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự””. Từ những quy định của pháp luật trên cho thấy: Hòa giải là một thủ tục có tính bắt buộc trước khi ra quyết định hoặc công nhận (với thuận tình ly hôn) ly hôn của Tòa án, Tòa án phải thực hiện thủ tục này cho dù đó là việc dân sự như trường hợp này.
Xem thêm

3 Đọc thêm

TƯ VẤN THỜI HẠN KHỞI KIỆN TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI

TƯ VẤN THỜI HẠN KHỞI KIỆN TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI

Hỏi về thời hiệu khởi kiện tranh chấp đất đaiĐối với tranh chấp liên quan đến giao dịch về quyền sử dụng đất như: tranh chấphợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng cầm cố, hợp đồng chuyểnđổi, tặng cho quyền sử dụng đất thì có tính thời hiệu khởi kiện hay không? Cách tínhnhư thế nào?Thời hiệu khởi kiện tranh chấp đất đaiTrả lời: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, trường hợpcủa bạn chúng tôi tư vấn như sau:Hợp đồng mà đối tượng là quyền sử dụng đất cũng là một loại hợp đồng và hợp đồng vềquyền sử dụng đất không được quy định riêng về thời hiệu khởi kiện nên cũng phải tuântheo quy định chung về thời hiệu khởi kiện của hợp đồng. Pháp luật quy định về thời hiệukhởi kiện đối với hợp đồng có hiệu lực khác với thời hiệu khởi kiện đối với hợp đồng vôhiệu (thời hiệu yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu), và ở mỗi thời kỳ cũng có quy định khácnhau, cụ thể như sau:* Nếu hợp đồng có hiệu lực thì thời hiệu khởi kiện như sau:- Hợp đồng dược xác lập từ 01-7-1991 đến 30-6-1996 là thời gian thi hành Pháp lệnh Hợpđồng Dân sự nên thời hiệu khởi kiện là 03 năm kể từ ngày vi phạm (Điều 56 Pháp lệnhHợp đồng dân sự).- Hợp đồng được xác lập từ khi Pháp lệnh hợp đồng dân sự hết hiệu lực (01-7-1996) đếntrước khi Bộ luật Tố tụng Dân sự có hiệu lực (31-12-2004) thì pháp luật không có quy địnhthời hiệu khởi kiện đối với hợp đồng có hiệu lực nên thời hiệu khởi kiện không bị hạn chế.- Hợp đồng được xác lập từ thời điểm thi hành Bộ luật Tố tụng Dân sự (01-01-2005) thì thờihiệu khởi kiện đối với hợp đồng có hiệu lực cũng theo quy định về thời hiệu khởi kiệnchung tại Điều 159 Bộ luật Tố tụng Dân sự là 2 năm kể từ ngày quyền và lợi ích hợp phápbị xâm phạm.- Đến thời điểm thi hành Bộ luật Dân sự (01-01-2006) thì đã có quy định về thời hiệu khởikiện riêng về tranh chấp hợp đồng có hiệu lực (Điều 607 Bộ luật Dân sự) nhưng thời hạnvẫn là 2 năm kể từ ngày quyền và lợi ich hợp pháp bị xâm phạm (Điều 427 Bộ luật Dân sự)
Xem thêm

3 Đọc thêm

TIỂU LUẬN LUẬT: THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI

TIỂU LUẬN LUẬT: THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI

pháp cuối cùng để bảo vệ có hiệu quả các quyền và lợi ích của mình khi thất bại trongviệc sử dụng cơ chế thương lượng, hòa giải. Tuy nhiên, việc giải quyết tranh chấp bằngcon đường Tòa án vẫn còn nhiều vấn đề cần quan tâm đó là: vướng mắc từ phía pháp luậtchưa phù hợp, dẫn đến việc áp dụng không đạt được tính thuyết phục; hướng dẫn củangành không thống nhất, quan điểm giải quyết không thống nhất giữa các cấp, điều đólàm cho hoạt động xét xử của Tòa án gặp nhiều khó khăn vướng mắc. Mặc dù năm 2011Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) đã được sửa đổi, bổ sung và hiện nay được thay thếbằng Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 nhưng các quy định của pháp luật về thẩm quyềngiải quyết TCKD,TM của Tòa án vẫn chưa được khắc phục. Hơn nữa, trong nhà nướcpháp quyền cũng đòi hỏi hoạt động xét xử của Tòa án phải đảm bảo công minh, nhanhchóng, chính xác và kịp thời tránh tình trạng tồn đọng án, giải quyết kéo dài, dễ gâyphiền hà, mệt mỏi cho các bên đương sự.Trong giai đoạn hiện nay, cùng với việc tiếp tục đẩy nhanh quá trình cải cách kinhtế và cải cách nền hành chính quốc gia, công cuộc cải cách tư pháp cũng đang được Đảngvà nhà nước triển khai, coi đây như là khâu đột phá quan trọng thúc đẩy quá trình xâydựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Điều này được thể hiện rõràng trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 về “Chiến lược cải cách tư phápđến năm 2020”. Công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta đã và đang đặt ra một loạt vấn đềlý luận và thực tiễn cần được giải quyết một cách hợp lý và thỏa đáng, trong đó có vấn đềxây dựng và hoàn thiện pháp luật kinh tế nói chung cũng như tạo lập khuôn khổ pháp lýđiều chỉnh pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng cho các chủ thể kinhdoanh, kể cả việc giải quyết vấn đề đặt ra về vấn đề tố tụng kinh tế, dân sự nói riêng saocho thích hợp hiện cũng cần được quan tâm thích đáng nhằm tìm ra phương hướng giảiquyết đúng đắn, nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật, đáp ứng yêu cầu mới đặt ratrong giai đoạn hiện nay. Nói một cách khác, vấn đề đặt ra là làm cách nào để nâng caohiệu lực hiệu quả của hoạt động xét xử của Tòa án đối với việc giải quyết các TCKD,TM.1Thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại
Xem thêm

51 Đọc thêm

TÁCH VỤ ÁN DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN

TÁCH VỤ ÁN DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN

Tách vụ án dân sự của tòa án ĐỀ SỐ 13 Công ty UNI Việt Nam có trụ sở tại Huyện X, tỉnh B ký hợp đồng đại lý giao cho công ty T có trụ sở tại quận T thành phố U tiêu thu phân đạm. Khi thanh lý hợp đồng số 0101 công ty T xác nhận còn nợ của công ty UNI một trăm triệu đồng. Khi ký hợp đồng số 02ĐL hai bên thỏa thuận số tiền còn thiếu (một trăm triệu đồng) của hợp đồng số 01 chuyển qua thanh toán cùng hợp đồng số 02. Trong quá trình thực hiện hợp đồng số 02, công ty T vi phạm nghĩa vụ trả tiền nên công ty UNI khởi kiện đòi công ty T trả 100 triệu đồng còn nợ của hợp đồng số 01 và tiền hàng còn thiếu của hợp đồng số 02. Tòa án cấp sơ thẩm tách khoản nợ 100 triệu đồng để giải quyết bằng một vụ án khác. Hỏi: a.Việc tách vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là đúng hay sai và giải thích tại sao? b.Xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc trên và giải thích tại sao? BÀI LÀM a. Việc tách vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là đúng hay sai và giải thích tại sao? Quy định về việc tách vụ án dân sự của Tòa án tại khoản 2 Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004: ...”2. Toà án có thể tách một vụ án có các yêu cầu khác nhau thành hai hoặc nhiều vụ án nếu việc tách và việc giải quyết các vụ án được tách bảo đảm đúng pháp luật.” Về nguyên tắc, việc tách vụ án chỉ thực hiện trong trường hợp vụ án có nhiều quan hệ pháp luật có thể giải quyết một cách độc lập mà không ảnh hưởng tới việc giải quyết các quan hệ pháp luật khác. Việc tách vụ án phải đảm bảo việc giải quyết nhanh chóng và đúng pháp luật các yêu cầu của đương sự. Trong trường hợp các quan hệ pháp luật có tranh chấp độc lập với nhau và việc nhập các quan hệ pháp luật để giải quyết trong cùng một vụ án sẽ gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án thì tòa án nên tách các quan hệ pháp luật để giải quyết trong các vụ án khác nhau. 1, tr.80 – 81. Trong tình huống nêu trên, chúng ta thấy có những vấn đề như sau: Khoản nợ 100 triệu của công ty T đối với công ty UNI Việt Nam đã trở thành một điều khoản thanh toán của hợp đồng số 02ĐL (theo như thỏa thuận của hai bên) Công ty T vi phạm nghĩa vụ trả tiền trong quá trình thực hiện hợp đồng số 02ĐL Công ty UNI khởi kiện đòi công ty T trả 100 triệu đồng còn nợ của hợp đồng số 01 và tiền hàng còn thiếu của hợp đồng số 02. Vì số nợ 100 triệu kia đã trở thành một điều khoản của hợp đồng số 02 theo thỏa thuận của hai bên, cho nên việc giải quyết khoản nợ này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc giải quyết tranh chấp trong hợp đồng số 02 của hai bên. Đồng thời, tranh chấp ở đây đều là tranh chấp liên quan đến hợp đồng thương mại (do bên công ty T vi phạm nghĩa vụ trả tiền đối với công ty UNI Việt Nam). Nên việc tòa án cấp sơ thẩm tách vụ án dân sự trong trường hợp này là không hợp lí. Tòa án hoàn toàn có thể giải quyết tranh chấp giữa hai bên trong cùng một vụ án dân sự. b. Xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc trên và giải thích tại sao? Trước hết, chúng ta xác định rằng tranh chấp giữa công ty UNI Việt Nam và công ty T là tranh chấp về kinh doanh, thương mại, cụ thể là tranh chấp về vấn đề đại lý (quy định tại điểm d khoản 1 Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự). Theo quy định về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện tại điểm b khoản 1 Điều 33 Bộ luật Tố tụng dân sự: “Điều 33. Thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh 1. Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Toà án nhân dân cấp huyện) có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây: ...b) Tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e, g, h và i khoản 1 Điều 29 của Bộ luật này;” Như vậy tranh chấp này sẽ được giải quyết bởi Tòa án nhân dân cấp huyện. Đồng thời, theo quy định tại khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự về thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ: “...1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Toà án theo lãnh thổ được xác định như sau: a) Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này; b) Các đương sự có quyền tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Toà án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này;” Ở trong tình huống này, nguyên đơn là công ty UNI Việt Nam có trụ sở tại Huyện X, tỉnh B; bị đơn là công ty T có trụ sở tại quận T thành phố U. Vậy, Tòa án nhân dân quận T sẽ có thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự này. Song bên cạnh đó, các bên cũng có thể tự thỏa thuận bằng văn bản với nhau yêu cầu Tòa án nhân dân huyện X thụ lí vụ việc trên.
Xem thêm

4 Đọc thêm

TIỂU LUẬN KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TRONG VỤ ÁN LAO ĐỘNG

TIỂU LUẬN KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TRONG VỤ ÁN LAO ĐỘNG

Khoản 2 Điều 31 Bộ luật tố tụng dân sự quy định: _Tranh chấp lao động tập thể giữa tập thể lao động _ _với người sử dụng lao động đã được Hội đồng trọng tài lao _ _động tỉnh, thành phố t[r]

18 Đọc thêm

SỰ THAM GIA TỐ TỤNG DÂN SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT TẠI TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM, PHÚC THẨM

SỰ THAM GIA TỐ TỤNG DÂN SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT TẠI TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM, PHÚC THẨM

Sự tham gia tố tụng dân sự của Viện kiểm sát tại tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm Khái quát về Viện kiểm sát Viện kiểm sát Viện kiểm sát là cơ quan tiến hành tổ tụng thực hiện kiểm sát các hoạt động tố tụng dân sự theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Viện kiểm sát chỉ kiểm sát tuân theo pháp luật trong việc giải quyết các vụ việc dân sự và thi hành án để đảm bảo cho việc giải quyết các vụ việc dân sự và thi hành án dân sự kịp thời, đúng pháp luật. Hệ thống tổ chức viện kiểm sát gồm có: Viện kiểm sát nhân dân tối cao; các viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh; các viện kiểm sát nhân dân cấp huyện và các viện kiểm sát quân sự (điều 30 Luật Tổ chức viện kiểm sát nhân dân). Trong đó, chỉ có Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và các viện kiểm sát nhân dân cấp huyện có nhiệm vụ, quyền hạn kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết các vụ việc dân sự, thi hành án dân sự. Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức, hoạt động theo nguyên tắc tập trung, thống nhất. Viện kiểm sát do viện trưởng viện kiểm sát lãnh đạo. Viện trưởng viện kiểm sát cấp dưới chịu sự lãnh đạo của viện trưởng viện kiểm sát cấp trên. Viện trưởng viện kiểm sát địa phương, viện trưởng viện kiểm sát quân sự các cấp chịu sự lãnh đạo thống nhất của viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao (điều 8 Luật Tổ chức viện kiểm sát nhân dân). Nguyên tắc tổ chức, hoạt động đó của viện kiểm sát cũng được thực hiện trong tố tụng dân sự. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết vụ việc dân sự của tòa án như kiểm sát việc thụ lý, lập hồ sơ, hòa giải, xét xử, ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc dân sự. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tham gia tố tụng của những người tham gia tố tụng và những người liên quan trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự Yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị các bản án, quyết định của tòa án theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật Tham gia các phiên tòa xét xử vụ án dân sự, phiên họp giải quyết việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án theo quy định của pháp luật Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của đương sự, cơ quan thi hành án, chấp hành viên, cá nhân và tổ chức liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định của tòa án; kháng nghị các quyết định về thi hành án của cơ quan thi hành án Kiểm sát việc giải quyết khiếu nại của tòa án, cơ quan thi hành án và những người có thẩm quyền trong việc giải quyết các khiếu nại phát sinh trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án dân sự, giải quyết các khiếu nại thuộc thẩm quyền. Sự tham gia tố tụng dân sự của Viện kiểm sát tại tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm Sự tham gia tố tụng dân sự của Viện kiểm sát tại tòa án cấp sơ thẩm. Theo quy định tại khoản 2 điều 21 BLTTDS, tại phiên tòa sơ thẩm, Viện kiểm sát phải cử kiểm sát viên tham gia phiên tòa đối với những vụ án do tòa thu nhập chứng cứ mà đương sự có khiếu nại, các việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Kiểm sát viên được viện trưởng viện kiểm sát cùng cấp phân công có nhiệm vụ tham gia phiên tòa. Trong trường hợp Kiểm sát viên bị thay đổi tại phiên tòa hoặc không thể tiếp tục tham gia phiên tòa xét xử, nhưng có Kiểm sát viên dự khuyết thì người này được tham gia phiên tòa xét xử tiếp vụ án nếu họ có mặt tại phiên tòa từ đầu. Trong trường hợp không có Kiểm sát viên dự khuyết để thay thế thì Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa và thông báo cho Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp. Kiểm sát viên có quyền hỏi đương sự sau khi nghe xong lời trình bày của đương sự. Theo yêu cầu của Kiểm sát viên, người tham gia tố tụng hoặc khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử cho nghe băng ghi âm, đĩa ghi âm, xem băng ghi hình, đĩa ghi hình tại phiên tòa, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 điều 227 Khi hỏi người giám định, Kiểm sát viên có quyền nhận xét về kết luận giám định, được hỏi những vấn đề còn chưa rõ, hoặc có mâu thuẫn trong kết luận giám định hoặc có mâu thuẫn với những tình tiết khác của vụ án Trong phần tranh luận, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện Kiểm sát về việc giải quyết vụ án chỉ khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong. Khi nghị án, Hội đồng xét xử chỉ được căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả việc hỏi tại phiên tòa và phải xem xét đầy đủ ý kiến của những người tham gia tố tụng, kiểm sát viên để quyết định giải quyết vụ án. Sau khi tuyên án xong, trong thời hạn 10 ngày, Tòa án phải giao hoặc gửi bản án cho Viện kiểm sát cùng cấp. Sự tham gia tố tụng dân sự của Viện kiểm sát tại tòa án cấp phúc thẩm. Phúc thẩm dân sự là việc tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định của tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị. . Sau khi chấp nhận đơn kháng cáo hợp lệ, Tòa án cấp sơ thẩm phải thông báo ngay bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp và đương sự có liên quan đến kháng cáo biết về kháng cáo. Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Toà án cấp sơ thẩm để yêu cầu Toà án cấp trên trực tiếp giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm. ( kháng nghị bảo đảm cho viện kiểm sát thực hiện có hiệu quả công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật của tòa án trong việc giải quyết vụ án dân sự. Viện trưởng viện kiểm sát kháng nghị bằng quyết định kháng nghị, được lập thành văn bản. Viện kiểm sát phải gửi kèm theo quyết định kháng nghị các tài liệu, chứng cứ bổ sung nếu có để chứng minh cho kháng nghị của viện kiểm sát là có căn cứ và hợp pháp. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, đối với những trường hợp viện kiểm sát tham gia phiên tòa thì sau khi thụ lý vụ án để xét xử phúc thẩm, tòa án cấp phúc thẩm phải chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp để nghiên cứu. Thời hạn nghiên cứu hộ sơ của viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án. Hết thời hạn đó, viện kiểm sát phải trả hồ sơ vụ án cho tòa án. Kiểm sát viên viện kiểm sát cùng cấp phải tham gia phiên tòa phúc thẩm trong trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị hoặc đã tham gia phiên tòa sơ thẩm hoặc đương sự có khiếu nại về việc thu thập chứng cứ của tòa án phúc thẩm.Nếu kiểm sát viên phải tham gia phiên tòa vắng mặt thì hoãn phiên tòa. Trong phần thủ tục hỏi tại phiên tòa, trong trường hợp chỉ có viện kiểm sát kháng nghị thì kiểm sát viên trình bày về nội dung kháng nghị và các căn cứ của việc kháng nghị. Tại phiên tòa phúc thẩm, kiểm sát viên có quyền xuất trình bổ sung chứng cứ. Trong phần tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm, chỉ khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, chủ tọa phiên tòa đề nghị Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện Kiểm sát về việc giải quyết vụ án. Giống với phiên tòa sơ thẩm, Khi nghị án, Hội đồng xét xử chỉ được căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả việc hỏi tại phiên tòa và phải xem xét đầy đủ ý kiến của những người tham gia tố tụng, kiểm sát viên để quyết định giải quyết vụ án. Sau khi tuyên án xong, trong thời hạn 10 ngày, Tòa án phải giao hoặc gửi bản án cho Viện kiểm sát cùng cấp. Trường hợp qua nghiên cứu hồ sơ, tài liệu được Toà án cung cấp và xác minh thấy việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của Toà án, người có thẩm quyền là thiếu căn cứ, không đúng quy định của pháp luật, thì Viện kiểm sát kiến nghị với Toà án cùng cấp và Toà án cấp dưới khắc phục vi phạm pháp luật. Trường hợp Viện kiểm sát có yêu cầu hoặc có kiến nghị khắc phục vi phạm pháp luật đối với Toà án mà Toà án được yêu cầu, kiến nghị không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ yêu cầu, kiến nghị của Viện kiểm sát, thì Viện kiểm sát kiến nghị với Toà án cấp trên. Đánh giá về vai trò của Viện kiểm sát trong việc tham gia hoạt động tố tụng tại tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm và kiến nghị 1 số giải pháp nâng cao vai trò của Viện kiểm sát trong hoạt động tố tụng dân sự Đánh giá: Vai trò của viện kiểm sát trong việc kiểm tra và giám sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết vụ án dân sự, trong tố tụng dân sự là rất quan trọng. Không ít trường hợp Viện kiểm sát đã phát hiện ra các vi phạm trong hoạt động giải quyết và xét xử vụ án dân sự, góp phần đem lại sự công bằng cho các đương sự. Theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004, Viện kiểm sát chỉ giới hạn tham gia phiên tòa đối với những vụ án do Tòa án thu thập chứng cứ mà đương sự có khiếu nại, các việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, các vụ việc dân sự mà Viện kiểm sát kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án. Như vậy, việc tham gia phiên tòa của viện kiểm sát rất hạn chế, bộc lộ những bất cập.Trước hết, nó tạo ra tình trạng khép kín trong quá trình thu thập chứng cứ, hòa giải, xét xử của thẩm phán, nhiều vụ việc dân sự được giải quyết thiếu khách quan nhưng Viện kiểm không kịp thời phát hiện để kháng nghị dù tỉ lệ án bị hủy, sửa do có sai sót hằng năm không giảm. Bên cạnh đó, trong thực tế các vụ việc xảy ra gần đây cho thấy tòa có nhiều thiếu sót trong quá trình xét xử. Thực tế việc xét xử trong thời gian qua cho thấy, nhiều vụ việc giải quyết thiếu khách quan, vi phạm trong tố tụng, Viện kiểm sát không kịp thời kháng nghị theo thẩm quyền do không đủ thông tin. Khi dân biết và khiếu nại đến Viện kiểm sát thì Viện kiểm sát mới rút đơn, hồ sơ xem xét kỹ lại thì có sai. Khi phát hiện sai sót mới kháng nghị làm mất thời gian, công sức và tiền của của công dân. Việc Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 bỏ thẩm quyền khởi tố (khởi kiện) của Viện kiểm sát đã thực sự tạo ra khoảng trống pháp luật vì không một cá nhân nào, không một cơ quan, tổ chức Nhà nước nào được giao nhiệm vụ này có thể thay thế hoặc rất khó có thể thay thế cho hoạt động này của Viện kiểm sát. Ví dụ: trước đây, khi chưa có Bộ luật Tố tụng Dân sự, hàng năm, Viện kiểm sát nhân dân các cấp đã khởi tố hàng trăm vụ án dân sự, bảo vệ có hiệu quả lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của các công dân, của những người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần… Từ khi ban hành Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 đến nay, vẫn chưa có một vụ án dân sự nào nhằm bảo vệ lợi ích chung được cơ quan, tổ chức Nhà nước khởi kiện, mặc dù đã có hàng trăm, hàng ngàn vụ việc dân sự xâm hại lợi ích công đã và đang xảy ra cần phải được xử lý. Đây là một thực tế đáng báo động. Chẳng hạn như trong lĩnh vực tiêu dùng, quyền lợi của hàng triệu người tiêu dùng bị xâm hại hàng ngày với chiều hướng diễn biến phức tạp. Không kể các vụ ngộ độc thực phẩm tại đám cưới, trường học, nhà hàng, các khu công nghiệp khiến hàng chục, thậm chí hàng trăm người phải cấp cứu, năm 2006 và năm 2007 đã xảy ra nhiều vụ xâm phạm quyền lợi của rất, rất nhiều người tiêu dùng mà vẫn thiếu thủ tục khiếu kiện dân sự có hiệu quả để bảo vệ người tiêu dùng như: Vụ xăng pha aceton làm hư hỏng động cơ; vụ sữa bột được ghi thành sữa tươi của một số nhà sản xuất sữa, nguy hại nhất là nước tương có chứa chất 3MPCD có khả năng gây ung thư, nước mắm gây ngộ độc do có chứa chất urê vượt quá nồng độ cho phép. Kiến nghị Với việc thực hiện nhiệm vụ của cơ quan Nhà nước chuyên trách trong lĩnh vực tố tụng, mô hình Viện kiểm sát có điều kiện hơn và có ưu thế hơn các mô hình khác trong việc khởi kiện để bảo vệ lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng. Ở khía cạnh khác, việc Viện kiểm sát cần phải tham gia tố tụng với tư cách bị đơn đại diện cho Nhà nước Việt Nam khi bị kiện là một vấn đề không thể không quan tâm. Hiện nay, cùng với quá trình đổi mới, sự tham gia của Nhà nước Việt Nam vào các quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại trong nước cũng như ngoài nước như quan hệ công trái, vay mượn, mua sắm, thừa kế di sản, đầu tư trong nước và ngoài nước… do Chính phủ đại diện ngày càng thường xuyên và phát triển sâu rộng. Như một hệ quả tất yếu của sự phát triển, việc phát sinh và gia tăng những tranh chấp có tính chất dân sự trong đó Nhà nước Việt Nam là chủ thể bị kiện là điều không thể tránh khỏi. Vấn đề là cơ quan, tổ chức Nhà nước nào có thể thay mặt Nhà nước Việt Nam để tham gia tố tụng với tư cách bị đơn? Suy cho cùng, với những ưu thế sẵn có của cơ quan Nhà nước chuyên trách trong lĩnh vực tố tụng, Viện kiểm sát xứng đáng là một mô hình thích hợp nhất cho việc thực hiện thẩm quyền quan trọng này. Vì vậy, nên để Viện kiểm sát thực hiện thẩm quyền khởi tố vụ án dân sự, lao động là thẩm quyền đã được quy định cho Viện công tố và Viện kiểm sát trong 34 năm từ năm 1950 đến năm 2004…) Mặc dù, dân sự là việc của đôi bên nhưng việc tự định đoạt của đôi bên hoặc khi đôi bên không tự thỏa thuận được mà phải do Tòa án giải quyết đều phải đúng với đường lối, chính sách và pháp luật, phù hợp với phong tục, truyền thống và đạo đức xã hội. Vì thế, việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết các vụ việc dân sự là tất yếu khách quan, nhằm đảm bảo pháp chế thống nhất, nhằm kịp thời phát hiện, xử lý vi phạm trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự để đảm bảo lợi ích của Nhà nước, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên trong quan hệ dân sự. Do đó, cần khôi phục lại quy định Viện kiểm sát nhân dân tham gia tất cả các phiên tòa, phiên họp. Nghị quyết số 49NQTW ngày 0262005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 nêu rõ việc “Nghiên cứu việc chuyển Viện kiểm sát thành Viện công tố…”. Trong định hướng chuyển đổi từ mô hình Viện kiểm sát hiện có sang một mô hình mới là Viện công tố, cần tiếp tục khẳng định vai trò của Viện kiểm sát (cơ quan Công tố) trong tố tụng dân sự và tiếp tục coi đó như là một chức năng thuộc tính của mô hình Viện công tố (Viện kiểm sát) chuyển đổi ở nước ta. Cùng với việc thực hiện chức năng công tố, cơ quan Công tố nhân danh công quyền tham gia trong một số loại vụ việc dân sự liên quan đến trật tự pháp luật, lợi ích Nhà nước, lợi ích xã hội trên cơ sở bảo đảm và tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự là phù hợp với truyền thống pháp lý, đặc điểm kinh tế – xã hội nước ta cũng như xu thế hội nhập quốc tế hiện nay. Dưới góc độ lịch sử và thực tiễn, nghiên cứu cơ quan Công tố Việt Nam từ năm 1945 đến nay cho thấy, tuy mức độ có khác nhau trong từng thời kỳ nhưng vai trò của cơ quan Công tố (Viện kiểm sát) trong việc giải quyết các vụ việc dân sự luôn được khẳng định, phát triển và phát huy hiệu quả trong thực tiễn đời sống xã hội. Để đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế, vị trí, vai trò của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự được đổi mới theo hướng: Viện kiểm sát vừa là cơ quan đại diện và bảo vệ luật pháp, vừa đại diện cho lợi ích Nhà nước và lợi ích công cộng. Từ cách đặt vấn đề như vậy, trong tố tụng dân sự, Viện kiểm sát sẽ đảm nhận vai trò kép và được thực hiện ở chỗ: Thứ nhất, đó là vai trò bảo vệ lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng, lợi ích của những cá nhân không có khả năng tự thực hiện quyền dân sự vàhoặc không thể tự bảo vệ mình. Trong trường hợp này, Viện kiểm sát tham gia tố tụng với tư cách tương tự như một bên đương sự; thứ hai, đó là vai trò đại diện và bảo vệ luật pháp trong việc giải quyết các vụ việc dân sự. Trong trường hợp này, Viện kiểm sát tham gia tố tụng với tư cách là cơ quan tiến hành tố tụng KẾT LUẬN Tóm lại, với qua việc phân tích sự tham gia tố tụng tại tòa án sơ thẩm, phúc thẩm của Viện kiểm sát và trình bày một số kiến nghị nêu trên, em hi vọng đã khái quát được phần vào về vai trò của viện kiểm sát trong hoạt động tố tụng dân sự . Hi vọng Bộ luật Tố tụng dân sự sẽ sớm sửa đổi, mở rộng thêm vai trò của Viện kiểm sát trong hoạt động tố tụng dân sự.
Xem thêm

9 Đọc thêm

BÀI TẬP TÌNH HUỐNG VỀ VỤ VIỆC LY HÔN

BÀI TẬP TÌNH HUỐNG VỀ VỤ VIỆC LY HÔN

Bài tập tình huống về vụ việc ly hônĐỀ BÀIAnh A kết hôn với chị B năm 1990 có đăng ký kết hôn. Anh chị có một con chunglà cháu C và một căn nhà diện tích 100 m2 tại huyện N tỉnh Q. Sau một thời gianchung sống anh chị phát sinh mâu thuẫn. Chị B và cháu C về nhà bố mẹ đẻ chị Bsinh sống từ năm 2002 và đăng ký tạm trú tại quận C thành phố H. Anh A vẫn ở tạinhà cũ tại huyện N tỉnh Q. Nay anh A và chị B có đơn yêu cầu Tòa án công nhậnthuận tình ly hôn, nuôi con và thỏa thuận về việc chia tài sản chung vợ chồng nhưngkhông biết gửi đơn đến Tòa án nào.a) Anh (chị) hãy xác định Tòa án có thẩm quyền mà các đương sự có thể nộp đơnyêu cầu.b) Đối với vụ việc này, sau khi thụ lý Tòa án có phải tiến hành hòa giải để các bênđoàn tụ không? Giải thích rõ tại sao?BÀI LÀMA. MỞ BÀILy hôn xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau và thường đem lại những hậu quảnặng nề cho cặp vợ chồng và con cái của họ. Xung quanh việc ly hôn có nhiều vấnđề như hoà giải, toà án nào giải quyết việc xin ly hôn, việc chăm sóc, cấp dưỡngcho con cái…Qua bài tập cá nhân một này, em xin chọn đề tài số 6 để giải quyết.B. THÂN BÀII. Toà án có thẩm quyền mà các đương sự có thể nộp đơn yêu cầu:Căn cứ quy định tại Điều 27, Điều 33 và Điều 35 của Bộ Luật Tố tụng dân sự năm2005 thì: Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi anh A đangcư trú có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm yêu cầu ly hôn của người vợ.Tuy nhiên, hai vợ chồng có quyền tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Toàán nơi cư trú, làm việc của chị B giải quyết.Theo Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thì tòa án có thẩm quyền giảiquyết vụ án là nơi cư trú hoặc nơi làm việc của bị đơn. Theo quy định của Bộ luậtDân sự thì nơi cư trú của một cá nhân được hiểu là nơi người đó thường xuyên sinh
Xem thêm

3 Đọc thêm

Khóa luận tốt nghiệp Vai trò của Viện Kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự

Khóa luận tốt nghiệp Vai trò của Viện Kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự

Trong tố tụng dân sự, vai trò của Viện kiểm sát đã và đang từng bước được khẳng định là cơ quan tiến hành tố tụng và thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự. Trong đó, có thể nói vai trò của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự là một nội dung hết sức quan trọng về lý luận và thực tiễn, có liên quan và ảnh hưởng đến nhiều nội dung khác của Bộ luật tố tụng dân sự. Vì vậy, việc xác định đúng đắn vai trò của Viện kiểm sát có ý nghĩa quan trọng không chỉ góp phần vào việc xây dựng hệ thống lý luận về hoạt động tư pháp nói chung và tổ chức, hoạt động của Viện kiểm sát nói riêng mà còn góp phần quan trọng vào việc xây dựng các văn bản pháp luật về Viện kiểm sát, về tố tụng dân sự cũng như hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ của ngành Kiểm sát nhân dân.
Xem thêm

Đọc thêm

Thẩmquyền sơ thẩm dân sự của Tòa án theo lãnh thổ và quyền lựa chọn Tòa án của đương sự

THẨMQUYỀN SƠ THẨM DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN THEO LÃNH THỔ VÀ QUYỀN LỰA CHỌN TÒA ÁN CỦA ĐƯƠNG SỰ

A. MỞ ĐẦU Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 là căn cứ pháp lý quan trọng để giải quyết cá vụ việc dân sự. Trong đó, quy định về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án theo lãnh thổ và quyền lựa chọn Tòa án của đương sự không chỉ có ý nghĩa bảo đảm tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự mà còn tạo thuận lợi cho quá trình giải quyết các vụ việc dân sự của Tòa án. Mục đích cuối cùng mà những quy định này hướng tới chính là sự chính xác, công bằng, tính khoa học và hợp lý trong suốt cả quá trình giải quyết các vụ việc dân sự. Việc tìm hiểu về “Thẩmquyền sơ thẩm dân sự của Tòa án theo lãnh thổ và quyền lựa chọn Tòa án của đương sự” mộtcách toàn diện, cụ thể là điều rất cần thiết, giúp chúng ta có cái nhìn đúng đắn hơn về vấn đề này.
Xem thêm

13 Đọc thêm

bài nhóm môn Luật dân sự 2

BÀI NHÓM MÔN LUẬT DÂN SỰ 2

Quyền nhân thân và quyền tài sản của các chủ thể luôn được pháp luật bảo vệ. Khi một chủ thể có hành vi gây thiệt hại tới các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác được pháp luật bảo vệ thì chủ thể gây thiệt hại có thể phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi do mình gây ra. Dưới góc độ pháp luật dân sự, hậu quả pháp lý đó là trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của mình gây ra cho người bị thiệt hại. Khi một người có hành vi trái pháp luật xâm hại tới sức khỏe của chủ thể khác thì phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật. Sức khỏe của con người là vô cùng quý giá, việc xác định tổn hại về sức khỏe rất phức tạp, tuy nhiên cần phải tính toán mức thiệt hại thực tế để đưa ra mức phải bồi thường cho người bị thiệt hại. Bởi lẽ đó, bộ luật dân sự Việt Nam 1995 đã quy định một cách chi tiết về vấn đề này và được hoàn thiện các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong bộ luật dân sự năm 2005. Để hiểu rõ hơn về các quy định của pháp luật dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, cụ thể là vấn đề bồi thường do sức khỏe bị xâm hại, thấy được ưu điểm và những tồn tại trong quy định của pháp luật hiện hành đồng thời đưa ra nhưng quan điểm riêng của nhóm, chúng em xin chọn tình huống số 8 là vụ án dân sự về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm hại của ông Nguyễn Xuân Ngà do gia đình bà Nguyễn Thị Kim gây ra. 1. Quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm. Nêu rõ căn cứ pháp lý đối với từng nhận xét. Ta thấy đây là vụ án yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng điển hình do thiệt hại về sức khỏe, giữa nguyên đơn Nguyễn Xuân Ngà và bị đơn Nguyễn Đức Dũng. Trên cơ sở quy định pháp luật cũng như những hiểu biết của các thành viên, nhóm xin trình bày những nhận định của mình về các quyết định của Tòa án: Tuy trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh do xô sát giữa nguyên đơn và bị đơn từ năm 2002, nhưng đến 10072004 ông Nguyễn Xuân Ngà mới lập đơn khởi kiện và đến năm 2005 mới được thụ lý giải quyết sơ thẩm, năm 2006 lại được sơ thẩm lại do sai thủ tục tố tụng và đến tận năm 2007 lại được phúc thẩm lần hai; nhưng căn cứ vào thời điểm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, khoản 1 Điều 15 BLDS 1995 và Điều 2 Nghị quyết của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật dân sự năm 2005 số 452005QH11 về việc áp dụng hiệu lực hồi tố trong một số trường hợp, cho thấy: vụ án bồi thường thiệt hại này phải xử lý trên cơ sở BLDS 1995 cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành về bồi thường thiệt hại của bộ luật này. Bên cạnh đó, căn cứ vào quy định tại điểm a, Khoản 3 Điều 159 BLTTDS 2004 và hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần “Những quy định chung” của BLTTDS 2004 xác định: trường hợp ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác bị xâm hại trước ngày 01012005 thì thời hiệu khởi kiện là hai năm kể từ ngày 01012005; nên vụ án này được thụ lý trên cơ sở tuân thủ thủ tục tố tụng về thời hiệu khởi kiện. Xét thấy quyết định của Tòa án tại bản án phúc thẩm số 922006DSPT ngày 26042006 về việc bác bỏ bản án sơ thẩm số 142005DSST ngày 27122005 với lý do phiên Tòa này đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng là đúng đắn và có sơ sở pháp lý. Bởi, căn cứ vào Điều 47 BLTTDS 2004 về các trường hợp phải thay đổi Thẩm phám, Hội thẩm nhân dân thì “ông Trần Sáu (Hội thẩm nhân dân) trước đây đã tham gia xét xử tại phiên tòa hình sự đối với vụ án cố ý gây thương tích nay lại tham gia tại phiên tòa dân sự” – tương ứng với trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này. Và vì lý do này nên Tòa phúc thẩm ngày 26042006 đã căn cứ vào khoản 2 Điều 277 BLTTDS 2004 để hủy bản án sơ thẩm.
Xem thêm

17 Đọc thêm

Bài tập tình huống bài tập giữa kỳ môn Tư pháp quốc tế

BÀI TẬP TÌNH HUỐNG BÀI TẬP GIỮA KỲ MÔN TƯ PHÁP QUỐC TẾ

Bài tập tình huống Bài tập giữa kỳ Tư pháp quốc tế Câu 1: Pháp luật sẽ được tòa án nhân dân Hà Nội áp dụng: a) Để xác định tư cách pháp lý của các bên chủ thể ký hợp đồng : sẽ áp dụng pháp luật của Việt Nam.bởi vì :căn cứ vào điều 762 và điều 765 Bộ luật dân sự 2005 thì : Hợp đồng giữa thương nhân A và thương nhân B được ký kết tại Việt Nam , do đó, năng lực hành vi dân sự của họ sẽ được xác lập theo pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. b) Để xác định tính hợp pháp của hình thức hợp đồng : sẽ áp dụng pháp luật của Việt Nam. Bởi vì: căn cứ vào khoản 1 điều 770 Bộ luật dân sự năm 2005 thì hình thức của hợp đồng phải tuân theo pháp luật của nước nơi giao kết hợp đồng.Trong trường hợp này,giữa thương nhân A và B đã giao kết hợp đồng tại Việt Nam.do đó, sẽ áp dụng pháp luật của Việt Nam để xác định tính hợp pháp của hợp đồng. c) Để xác định nội dung của hợp đồng: sẽ áp dụng pháp luật của Việt Nam. Bởi vì: căn cứ vào điều 769 Bộ luật dân sự năm 2005 thì hợp đồng giữa A và B được giao kết tại Việt Nam và giữa họ không có thỏa thuận khác .Vì vậy, hợp đồng này phải tuân theo pháp luật của Việt Nam, và TAND TP HN sẽ áp dụng luật Việt Nam để xác định nội dung của hợp đồng Câu 2 : Để lựa chọn được Tòa án Hà Nội ( Việt Nam) áp dụng giải quyết tranh chấp trên cần đáp ứng các điều kiện sau: Hợp đồng này được xác lập tại Việt Nam và được thực hiện hoàn toàn tại Việt Nam ( điều 769 bộ luật dân sự năm 2005 ) Vụ việc này thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án VN theo quy định của pháp luật VN và các điều ước quốc tế có liên quan ( Điều 25 và điều 34 bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi ,bổ sung năm 2011 ). Các bên có thỏa thuận rõ trong hợp đồng là nếu có tranh chấp phát sinh sẽ áp dụng pháp luật VN để giải quyết tranh chấp,và chỉ rõ TA HN sẽ là tòa án trực tiếp giải quyết tranh chấp đó
Xem thêm

2 Đọc thêm

Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam

Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Bình đẳng là một trong những quyền tự nhiên cơ bản của con người, gắn bó mật thiết với con người trong hoạt động xã hội. Nhân loại đã trải qua nhiều đấu tranh, hy sinh để bảo vệ quyền bình đẳng. Vì vậy, bảo đảm quyền bình đẳng là một trong những nhiệm vụ quan trọng của các nhà nước văn minh. Trong số các quyền thì bình đẳng trước Tòa án, bình đẳng trước pháp luật là những quyền quan trọng được thế giới ghi nhận: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ, không có bất kỳ sự phân biệt nào”(Điều 7-Tuyên ngôn thế giới về Nhân quyền). “Mọi người đều được hưởng quyền bình đẳng, được xem xét công bằng và công khai bởi một tòa án độc lập và không thiên vị trong việc quyết định các quyền và nghĩa vụ của họ cũng như về bất cứ sự buộc tội nào đối với họ” (Điều 10-Tuyên ngôn thế giới về Nhân quyền). Quyền bình đẳng trước pháp luật được thể hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội và đặc biệt quan trọng là bình đẳng trong lĩnh vực pháp lý, tư pháp, tố tụng. Tiêu chí của một đất nước văn minh hiện nay là luật pháp phải được thượng tôn, bất kể vị thế giữa người vi phạm và người bị xâm phạm. Quyền và nghĩa vụ của công dân không bị phân biệt bởi giới tính, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, giàu nghèo, thành phần xã hội, địa vị xã hội… Trong cùng một điều kiện như nhau, công dân phải được hưởng quyền và nghĩa vụ như nhau, có cùng tư cách pháp lý như nhau. Tuy nhiên, mức độ sử dụng các quyền và nghĩa vụ đó đến đâu thì còn phụ thuộc nhiều vào khả năng, điều kiện và hoàn cảnh của mỗi người. Nhà nước phải có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm cho công dân thực hiện quyền và nghĩa vụ một cách bình đẳng; công dân cần thực hiện tốt các nghĩa vụ được Hiến pháp và các Đạo luật xác định, đó chính là điều kiện để sử dụng quyền của mình một cách tốt nhất. Quyền bình đẳng trước pháp luật cũng là một trong những nguyên tắc pháp lý cơ bản ở nhiều quốc gia. Hiến pháp Việt Nam quy định rằng mọi công dân Việt Nam đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ; công dân, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, có thời hạn cư trú từ đủ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và từ đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật. Hiến pháp Việt Nam còn xác định quyền bình đẳng của phụ nữ và nam giới về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình. Xây dựng và bảo vệ sự bình đẳng của đương sự là một giá trị xã hội và là mục tiêu phấn đấu của xã hội loài người. Bình đẳng không phải là vấn đề có tính chất cá nhân mà nó có mối liên hệ giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với tổ chức, giữa các tổ chức với nhau. Đảm bảo quyền bình đẳng của đương sự trong TTDS là chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong việc tạo ra tính bền vững, sự ổn định và phát triển của hệ thống pháp luật Việt Nam. Điều đó đã được thể hiện qua các văn kiện Đại hội Đảng, các Nghị quyết của Bộ Chính trị nhằm hướng tới “Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và có hiệu lực cao” (Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020). Kế thừa và phát huy những giá trị của các văn bản pháp luật về TTDS được ban hành trước đó, BLTTDS đã thể chế hóa quan điểm của Đảng và Nhà nước về công cuộc cải cách tư pháp, quy định quy trình tố tụng khoa học, đảm bảo đẩy mạnh dân chủ và là công cụ pháp lý quan trọng để các cá nhân, tổ chức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án. Điều 8 của Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011 và Điều 8 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2016) đã quy định về sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự như sau: “1/Trong tố tụng Dân sự mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, địa vị xã hội. Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân đều bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng trước Tòa án. 2/Tòa án có trách nhiệm bảo đảm nguyên tắc bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong tố tụng dân sự”. Bộ luật tố tụng dân sự đầu tiên của Việt Nam ra đời vào năm 2004. Đến năm 2011, BLTTDS năm 2004 được sửa đổi, bổ sung theo luật sửa đổi bổ sung BLTTDS. Năm 2015, BLTTDS mới ra đời, có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2016, là BLTTDS hiện hành. Trải qua 03 BLTTDS, điều khoản quy định về nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự đều được quy định tại Điều 8. Trong quá trình thực hiện, nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự đã bộc lộ nhiều điểm bất cập và hạn chế. Điều này đã làm ảnh hưởng tới hiệu quả giải quyết các vụ việc dân sự của Tòa án và việc bảo về quyền lợi ích hợp pháp của các chủ thể tại Tòa án. Một trong những vấn đề còn tồn tại đó là những quy định về nguyên tắc bình đẳng của đương sự trong TTDS. Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập nêu trên thì có nhiều, trong đó có cả sự nhận thức và áp dụng không thống nhất về nguyên tắc bình đẳng của đương sự trong TTDS.
Xem thêm

Đọc thêm

Tòa án thụ lý giải quyết yêu cầu hủy hợp đồng mua bán nhà có tranh chấp

TÒA ÁN THỤ LÝ GIẢI QUYẾT YÊU CẦU HỦY HỢP ĐỒNG MUA BÁN NHÀ CÓ TRANH CHẤP

Tòa án thụ lý giải quyết yêu cầu hủy hợp đồng mua bán nhà có tranh chấp Anh A, chị K có một căn nhà cấp 4 trên một diện tích đất là 100m2 tại xã P, huyện Q, tỉnh M, được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất năm 2004. Năm 2006, anh A đã viết giấy bán nhà cho anh B với giá 500 triệu đồng nhưng chưa hoàn thất thủ tục sang tên trước bạ. Năm 2007, do giá trị của mảnh đất theo thời giá thị trường là 800 triệu nên anh A đã khởi kiện đến Tòa án yêu cầu hủy hợp đồng mua bán giữa anh A và anh B với lý do chị K không ký vào giấy mua bán và không đồng ý việc mua bán trên. Có quan điểm cho rằng Tòa án chỉ thụ lý giải quyết yêu cầu của anh A sau khi việc tranh chấp đã được Ủy ban nhân dân xã P hòa giải. 1. Anh chị hãy bình luận quan điểm trên? 2. Giả sử vụ việc đã được Tòa án thụ lý, hãy xác định tư cách của đương sự trong vụ án và giải thích tại sao? BÀI LÀM 1. Có quan điểm cho rằng Tòa án chỉ thụ lý giải quyết yêu cầu của anh A sau khi việc tranh chấp đã được Ủy ban nhân dân xã P hòa giải. Anh chị hãy bình luận quan điểm trên? Để xác định quan điểm trên là đúng hay sai, trước hết cần xem xét, vụ án trên có thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án hay không. Nếu thuộc thì là loại tranh chấp nào? Theo đề bài đưa ra: do giá trị của mảnh đất theo thời giá thị trường là 800 triệu nên anh A đã khởi kiện đến Tòa án yêu cầu hủy hợp đồng mua bán giữa anh A và anh B với lý do chị K không ký vào giấy mua bán và không đồng ý việc mua bán trên. Có thể thấy, đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự, cụ thể là hợp đồng mua bán. Căn cứ theo quy định tại Điều 25 BLTTDS: “Những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án: 1. Tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quốc tịch Việt Nam; 2. Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản; 3. Tranh chấp về hợp đồng dân sự…”. Theo Điều luật này, thì tranh chấp trên là một trong những tranh chấp thuộc thẩm quyền của Tòa án. Thứ hai, ta cần xem xét những tranh chấp nào mà Tòa án chỉ xét xử khi đã được các cơ quan hữu quan giải quyết trước đó, nhưng chủ thể khởi kiện không đồng ý với quyết định đó. Theo quy định của pháp luật hiện hành, đó là những tranh chấp: Các tranh chấp về quyền sử dụng đất (Điều 136 Luật đất đai năm 2003 quy định các tranh chấp về quyền sử dụng đất phải được hòa giải ở Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn); Các tranh chấp về bồi thường thiệt hại do những người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra; Tranh chấp lao động trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Như vậy, có thể thấy tranh chấp về hợp đồng dân sự không thuộc các trường hợp bắt buộc phải qua giải quyết của cơ quan hữu quan (hòa giải ở Ủy ban nhân dân).Vậy, ý kiến trên là sai. Có thể thấy, quan điểm trên là xuất phát từ sự nhầm lẫn trong việc xác định đó tranh chấp về quyền sử dụng đất hay là tranh chấp về hợp đồng dân sự. Vì vậy, cần có sự hướng dẫn cụ thể hơn về vấn đề này. 2. Giả sử vụ việc đã được Tòa án thụ lý, hãy xác định tư cách của đương sự trong vụ án và giải thích tại sao? Trong vụ án này, anh A sẽ tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn. Vì căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 56 BLTTDS: “Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được cá nhân, cơ quan, tổ chức khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm”. Trong tình huống trên, anh A cho rằng quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm nên đã khởi kiện ra tòa. Vì vậy anh A sẽ tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn. Anh B sẽ tham gia tố tụng với tư cách là bị đơn. Vì theo quy định tại khoản 3 Điều 56 BLTTDS: “Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm ”. Có thể thấy, anh B là người bị anh A khởi kiện, vì vậy anh B tham gia tố tụng với tư cách là bị đơn. Chị K sẽ tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền và nghĩa vụ liên quan. Vì theo quy định tại khoản 4 Điều 56 BLTTDS thì: “ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Toà án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”. Theo tình huống đề bài đưa ra, thì chị K không phải là người đi kiện, cũng không phải là người bị kiện, nhưng quyền lợi và nghĩa vụ của chị K có liên quan đến việc giải quyết vụ án. Vì vậy chị K tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền và nghĩa vụ liên quan.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Khiếu nại quyết định trưng cầu giám định của tòa án

KHIẾU NẠI QUYẾT ĐỊNH TRƯNG CẦU GIÁM ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Khiếu nại quyết định trưng cầu giám định của Tòa án Đề bài số 2: Trong một lần xô xát, anh A làm anh B bị thiệt hại. Ngày 2352007 anh B kiện anh A ra Tòa án yêu cầu bồi thường thiệt hại. Sauk hi Tòa án thụ lý vụ án mặc dù các đương sự không yêu cầu nhưng để đảm bảo giải quyết đúng đắn vụ án Tòa án đã tiến hành trưng cầu giám định mức độ thiệt hại sức khỏe của B. Anh A đã khiếu nại quyết định trưng cầu giám định của Tòa án vì cho rằng Tòa án không được tự mình ra quyết định trưng cầu giám định. Hỏi: a) Lý do khiếu nại này của A có cơ sở để chấp nhận không? Tại sao? b) Giả sử A có nơi cư trú tại quận 1 thành phố H, B cư trú tại quận K thành phố Đ và tai nạn xảy ra tại thành phố TH thuộc tỉnh T. Hãy xác định những Tòa án có thẩm quyền mà B có thể gửi đơn yêu cầu giải quyết vụ án? GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG a. Lý do khiếu nại của A là có cơ sở để chấp nhận, bởi: Trước hết có thể khẳng định A khiếu nại quyết định trưng cầu giám định mức độ thiệt hại sức khỏe của B là hợp pháp. Khoản 3 điều 85 Bộ Luật Tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung 2011 (BLTTDS) quy định đương sự có quyền khiếu nại quyết định áp dụng biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án. Thứ hai, theo quy định tại Điều 79 BLTTDS, nghĩa vụ đưa ra chứng cứ chứng minh thiệt hại về sức khỏe để bồi thường là thuộc về đương sự. Hơn nữa, trường hợp trên cũng không phải một trong các trường hợp được quy định tại mục 1.2 Phần IV Nghị quyết 042005NQHĐTP ngày 1792005 hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTDS về “chứng minh và chứng cứ”, do vậy Tòa án chỉ có thể tiến hành thu thập chứng cứ thay cho đương sự khi có đủ hai điều kiện sau: + Xét thấy chứng cứ trong hồ sơ vụ việc dân sự chưa đủ cơ sở để giải quyết, Thẩm phán đã yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ; + Đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ và có yêu cầu. Bên cạnh đó, Điều 90 BLTTDS cũng quy định: “theo sự thoả thuận lựa chọn của các bên đương sự hoặc theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự, Thẩm phán ra quyết định trưng cầu giám định” và yêu cầu này phải được thể hiện dưới dạng văn bản. Như vậy, trong trường hợp trên Tòa án không thể tự mình ra quyết định trưng cầu giám định mức độ thiệt hại của B mà không có yêu cầu của A hoặc B. Trong tình huống trên, Tòa án cần giải thích cho đương sự biết về nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của họ, nếu chứng cứ thiếu thì yêu cầu họ bổ sung và nói rõ nếu không chứng minh được thì có thể yêu cầu Tòa án thực hiện. Nếu các đương sự không yêu cầu thì Tòa án vẫn xét xử theo thủ tục chung, căn cứ vào các chứng cứ đã được cung cấp. Các đương sự phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được hoặc chứng minh không đầy đủ (mục 3 Phần I Nghị quyết 042005NQHĐTP). Theo các quy định của Pháp lệnh về thủ tục giải quyết các vụ án dân sự trước đây: không cần đương sự yêu cầu, Tòa án vẫn có thể ra quyết định thu thập chứng cứ, trong đó có trưng cầu giám định nếu thấy cần thiết. Điều này rất có thể dẫn đến sự lạm quyền của tòa án, vi phạm nguyên tắc tự nguyện, tự thỏa thuận giữa các đương sự. Do đó các quy định tại Điều 85 và 90 chính là một điểm tiến bộ của BLTTDS hiện hành. b. Những Tòa án có thẩm quyền mà B có thể gửi đơn yêu cầu giải quyết vụ án. Tranh chấp giữa A và B trong vụ án trên là tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, quy định tại khoản 6 Điều 25 BLTTDS. Vì vậy, nếu B gửi đơn đến Tòa án có thẩm quyền, tư cách tố tụng của các đương sự được xác định như sau: A: bị đơn dân sự; B: nguyên đơn dân sự. Do tranh chấp giữa A và B thuộc loại tranh chấp được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 33, nên thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo thủ tục sơ thẩm thuộc về Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là Tòa án nhân dân cấp huyện). Các Tòa án nhân dân cấp huyện mà B có thể gửi đơn là 1. Tòa án nhân dân (TAND) quận 1 thành phố H TAND quận 1 được xác định theo thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 BLTTDS: “Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc nếu bị đơn là cá nhân … có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp… tại các Điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này”. Quy định này tạo điều kiện thuận lợi để bị đơn, người bị yêu cầu, người đại diện hợp pháp của họ tham gia tố tụng. Bị đơn A trong tình huống vư trú tại quận 1. Vì vậy, Tòa án có thẩm quyền là TAND quận 1 thành phố H. 2. TAND quận K thành phố Đ. Điểm b khoản 1 Điều 35 BLTTDS quy định: “Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân…giải quyết những tranh chấp quy định tại các điều 25, 27, 29, 31 của Bộ luật này. B là cá nhân cư trú tại quận K. Như vậy, B có thể gửi đơn yêu cầu tới TAND quận K nếu A và B đã thỏa thuận với nhau bằng văn bản để B chọn TAND quận K thành phố Đ. Tuy nhiên, nếu A, B không thỏa thuận chọn Tòa án quận K thì B vẫn có thể gửi đơn đến TAND quận K. Bởi đây là tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nên nguyên đơn B có quyền lựa chọn Tòa án nơi mình cư trú giải quyết theo điểm d khoản 1 Điều 36 BLTTDS: “Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu mình cư trú,…” 3. TAND thành phố TH thuộc tỉnh T. Cũng theo điểm d khoản 1 Điều 36 BLTTDS, nếu tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì nguyên đơn còn có thể lựa chọn yêu cầu Tòa án nơi xảy ra việc gây thiệt hại giải quyết. Theo tình huống, nơi xảy ra việc gây thiệt hại là thành phố TH nên Tòa án có thẩm quyền ở đây có thể là TAND thành phố TH thuộc tỉnh T. Tóm lại, nguyên đơn B có rất nhiều cơ hội trong việc lựa chọn Tòa án giải quyết vụ việc dân sự của mình. Tuy nhiên, B chỉ có thể yêu cầu một Tòa duy nhất xử lí, tránh trường hợp một vụ việc được xét xử nhiều lần. Vì vậy, cả B và Tòa án cần tuân thủ hướng dẫn tại mục 5.2 Phần I Nghị quyết 012005NQHĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLTTDS 2004 để vừa đảm bảo sự chủ động, linh hoạt của nguyên đơn, vừa đảm bảo được tính đúng đắn của thủ tục tố tụng.
Xem thêm

4 Đọc thêm

Cùng chủ đề