PHẠM VI ĐIỀU CHỈNH CỦA LUẬT DOANH NGHIỆP

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "PHẠM VI ĐIỀU CHỈNH CỦA LUẬT DOANH NGHIỆP":

CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ NỘI BỘ CỦA CÔNG TYTRÁCH NHIỆM HỮU HẠN THEO LUẬT DOANH NGHIỆP

CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ NỘI BỘ CỦA CÔNG TYTRÁCH NHIỆM HỮU HẠN THEO LUẬT DOANH NGHIỆP

và thực tiễn nêu trên.2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứuVới tên gọi là “Chế độ pháp lý về quản lý nội bộ của công ty tráchnhiệm hữu hạn theo Luật doanh nghiệp”, luận văn có đối tượng nghiên cứulà những quy định của Luật doanh nghiệp và các văn bản pháp luật có liên quanvề quản lý nội bộ công ty trách nhiệm hữu hạn, tập trung vào một số nội dungpháp lý cơ bản sau:- Quyền và nghĩa vụ của thành viên công ty;- Tổ chức bộ máy quản lý nội bộ và sự phân chia quyền lực giữa các cơquan quản lý, điều hành trong công ty;- Nghĩa vụ và trách nhiệm của người quản lý công ty;- Vấn đề kiểm soát các giao dịch tư lợi trong công ty.3. Mục đích nghiên cứuTừ việc phân tích, đánh giá những quy định của pháp luật hiện hành vềquản lý nội bộ công ty trách nhiệm hữu hạn, việc nghiên cứu đề tài luận vănnày không nằm ngoài mục đích là tìm ra những điểm bất cập trong các quy địnhcủa Luật doanh nghiệp về quản lý nội bộ công ty trách nhiệm hữu hạn, từ đó đềxuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chế độ pháp lý về quản lý nội bộ côngty trách nhiệm hữu hạn trong Luật doanh nghiệp nói riêng, góp phần hoàn thiệnhệ thống pháp luật kinh tế của Việt Nam nói chung. Điều này càng có ý nghĩavề mặt thực tiễn khi mà chúng ta đang trong giai đoạn xây dựng Luật doanhnghiệp thống nhất để đáp ứng yêu cầu hội nhập.4. Phƣơng pháp nghiên cứuĐể nghiên cứu đề tài này, tác giả luận văn đã sử dụng phương pháp luậnMác - Lênin, đó là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đứngtrên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để tiếp cận đối tượng10
Xem thêm

14 Đọc thêm

BÁO CÁO RÀ SOÁT PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ VĂN BẢN PHÁP LỆNH DÂN SỐ VÀ KHUYẾN NGHỊ CHO DỰ ÁN LUẬT DÂN SỐ

BÁO CÁO RÀ SOÁT PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ VĂN BẢN PHÁP LỆNH DÂN SỐ VÀ KHUYẾN NGHỊ CHO DỰ ÁN LUẬT DÂN SỐ

Luật ống, luật khung” khó đi vào cuộc sống, chậm đi vào cuộcsống, hiệu lực không cao.Khuyến nghị 1:Xây dựng các điều luật cụ thể, tránh tình trạng “Luật ống,luật khung”4. KHUYẾN NGHỊ XÂY DỰNG LUẬT DÂN SỐ4.2 Về phạm vi điều chỉnh của LuậtĐể đề xuất phạm vi điều chỉnh mới, xuất phát từ những luậncứ sau:(1) Nếu phát triển PLDS lên thành Luật dân số và phạm viđiều chỉnh của LDS vẫn là: Quy mô, cơ cấu, phân bố vàchất lượng dân số,…sẽ phải xử lý mối quan hệ với cácLuật (ban hành sau PLDS) đã đề cập từng nội dung nóitrên. Thí dụ: Về cơ cấu dân số có Luật Bảo vệ, chăm sócvà giáo dục trẻ em (2004); (3) Luật Giáo dục (2005); (4)Luật Thanh niên (2005); Luật Lao động (2012); Luậtngười cao tuổi (2009); Luật Bình đẳng giới (2006); Vềphân bố dân cư có Luật cư trú (2006),…(2) Nghị quyết Trung ương 4, khóa VII về chính sách DSKHHGĐ, Chiến lược DS-KHHGĐ, Chương trình mục tiêuDS-KHHGĐ thành công do chỉ tập trung can thiệp quy môdân số thông qua KHHGĐ(3) Phân tích “khoảng trống luật pháp” và nhu cầu nâng cao cơsở pháp luật cho quá trình sinh sản, cùng với việc xác địnhsinh sản là cái “gốc” tác động đến quy mô, cơ cấu, phân bốvà chất lượng dân số:
Xem thêm

24 Đọc thêm

THÔNG TƯ 86/2017/TT-BTC HƯỚNG DẪN NGHỊ ĐỊNH 88/2016/NĐ-CP VỀ CHƯƠNG TRÌNH HƯU TRÍ BỔ SUNG TỰ NGUYỆN

THÔNG TƯ 86/2017/TT-BTC HƯỚNG DẪN NGHỊ ĐỊNH 88/2016/NĐ-CP VỀ CHƯƠNG TRÌNH HƯU TRÍ BỔ SUNG TỰ NGUYỆN

1. Doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện.2. Ngân hàng giám sát; tổ chức lưu ký.3. Các tổ chức và cá nhân cung cấp các dịch vụ liên quan tới việc thiết lập, hoạt động,quản lý, giám sát quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện.VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phíĐiều 3. Đầu tư quỹ hưu trí1. Hoạt động đầu tư của quỹ hưu trí thực hiện theo quy định tại Điều 20 Nghị định số88/2016/NĐ-CP trên cơ sở tuân thủ quy định pháp luật, tự chịu trách nhiệm về hoạt độngđầu tư, đảm bảo an toàn, hiệu quả, theo đúng mục tiêu, chính sách đầu tư của quỹ hưu tríquy định tại điều lệ quỹ.2. Ngoài việc tuân thủ quy định tại Điều 20 Nghị định số 88/2016/NĐ-CP, quỹ hưu tríđược đầu tư không vượt quá 20% tổng giá trị tài sản của quỹ vào chứng chỉ của một quỹđầu tư chứng khoán.3. Trường hợp đầu tư vào chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán của các quỹ do doanhnghiệp quản lý quỹ hưu trí quản lý, doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí chỉ được thu phíquản lý quỹ một lần.4. Căn cứ tình hình thị trường tài chính và hoạt động đầu tư của quỹ hưu trí, Bộ Tài chínhcó thể điều chỉnh danh mục và hạn mức đầu tư quy định tại Khoản 2 Điều này.Điều 4. Hạch toán kế toán của quỹ hưu tríQuỹ hưu trí được áp dụng chế độ kế toán đối với quỹ mở quy định tại Thông tư số198/2012/TT-BTC ngày 15/11/2012 của Bộ Tài chính về chế độ kế toán áp dụng đối vớiquỹ mở, Thông tư số 181/2015/TT-BTC ngày 13/11/2015 của Bộ Tài chính về chế độ kếtoán áp dụng đối với quỹ hoán đổi danh mục và văn bản sửa đổi, bổ sung (nếu có) đểhạch toán, kế toán các hoạt động nghiệp vụ của quỹ.Điều 5. Xác định giá trị tài sản ròng của quỹ hưu trí1. Hàng tháng, doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí có trách nhiệm xác định giá trị tài sảnròng của quỹ hưu trí, xác định giá trị tài khoản hưu trí cá nhân theo quy định tại Điểm c
Xem thêm

16 Đọc thêm

Quảng cáo so sánh bài tập cá nhân luật Thương mại

Quảng cáo so sánh bài tập cá nhân luật Thương mại

Quảng cáo so sánh Bài tập cá nhân Luật Thương mại 2 Người ta thường nói trong kinh doanh nếu không biết biết đến hoạt động xúc tiến thương mại thì không phải là người kinh doanh. Quảng cáo là một nghệ thuật cũng như là một chiến trường giữa các thương nhân. Một vấn đề rất nhạy cảm hiện nay là quảng cáo so sánh. Vậy sau đây tôi xin trình bày vấn đề quảng cáo so sánh theo quy định của pháp luật Việt Nam. 1, Định nghĩa quảng cáo so sánh. Quảng cáo so sánh (comparative advertising) đã xuất hiện ở Mỹ và Tây âu từ lâu. Theo tuyên bố của Ủy ban Thương mại Liên bang Hoa Kỳ thì: “Quảng cáo so sánh được định nghĩa như là quảng cáo mà so sánh những nhãn hiệu hàng hóa khác theo những thuộc tính khách quan có thể kiểm chứng hoặc giá cả và là sự làm nhận ra nhãn hiệu hàng hóa khác bởi tên, minh họa bằng hình ảnh hoặc thông tin riêng biệt khác”. Theo Liên minh Châu âu thì: “Quảng cáo so sánh là mọi quảng cáo làm nhận ra một cách trực tiếp hoặc gián tiếp một doanh nghiệp cạnh tranh hoặc các sản phẩm hoặc các dịch vụ mà một doanh nghiệp cạnh tranh cung ứng”. Còn ở Việt Nam, quảng cáo so sánh được đề cập đến trong Luật Thương mại 1997 tại Đ192. Nhưng cả Luật Thương mại năm 1997 và 2005; Luật Cạnh tranh 2004 hay Pháp lệnh Quảng cáo năm 2001…đều không định nghĩa quảng cáo so sánh. Tuy nhiên, chúng ta có thể hiểu quảng cáo so sánh là“Quảng cáo so sánh là quảng cáo làm nhận ra một hoặc một vài đối thủ cạnh tranh hoặc các sản phẩm hay các dịch vụ cùng loại mà đối thủ cạnh tranh sản xuất, cung ứng hay phân phối và đáp ứng được một số điều kiện khác do pháp luật quy định”. 2. Điều kiện trở thành quảng cáo so sánh: Không phải bất kỳ hành vi quảng cáo nào có thông tin, có sự so sánh với một doanh nghiệp hay hàng hóa, dịch vụ khác cũng đều trở thành quảng cáo so sánh. Sự so sánh này được biểu hiện ở khía cạnh: Một là, sản phẩm được quảng cáo và sản phẩm bị so sánh phải là sản phẩm cùng loại. Lý luận về cạnh tranh đã chỉ rõ rằng các sản phẩm chỉ có thể được coi là cạnh tranh với nhau khi chúng cùng loại và các thông tin trong quảng cáo khi nói đến hai sản phẩm cùng loại của hai doanh nghiệp khác nhau thì mới là so sánh. Hai là, sản phẩm bị so sánh phải là sản phẩm do doanh nghiệp khác sản xuất hoặc kinh doanh. 3, Quy định của pháp luật Việt Nam về quảng cáo so sánh: Thứ nhất, Pháp lệnh Quảng cáo năm 2001 không cấm quảng cáo so sánh nhưng quảng cáo so sánh lại bị cấm theo quy định tại Nghị định 242003NĐ – CP của Chính phủ ban hành ngày 13032003 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh này (khoản 7 Điều 3): “7. Quảng cáo nói xấu, so sánh hoặc gây nhầm lẫn với cơ sở sản xuất, kinh doanh, hàng hóa, dịch vụ của người khác;…” Thứ hai, Luật Cạnh tranh năm 2004 coi quảng cáo so sánh trực tiếp là hành vi cạnh tranh không lành mạnh và cấm thực hiện tại khoản 1 Điều 45: “Cấm doanh nghiệp thực hiện các hoạt động quảng cáo sau đây: 1. So sánh trực tiếp hàng hoá, dịch vụ của mình với hàng hoá, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác…” Thứ ba, quảng cáo so sánh nằm trong danh mục quảng cáo thương mại bị cấm theo quy định tại khoản 6 Điều 109 LDN 2005 theo đó: “Quảng cáo bằng việc sử dụng phương pháp so sánh trực tiếp hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của mình đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cùng loại của thương nhân khác” Thứ tư, Điều 37 Nghị định 372006NĐCP hướng dẫn Luật Thương mại năm 2005 quy định: “Thương nhân có quyền so sánh hàng hóa của mình với hàng giả, hàng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trong sản phẩm quảng cáo thương mại sau khi có xác nhận của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về việc sử dụng hàng giả, hàng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ để so sánh”. Như vậy, ta có thể thấy hiện nay hành vi quảng cáo so sánh ở Việt Nam được điều chỉnh bởi khá nhiều văn bản của pháp luật thương mại và pháp luật cạnh tranh.Tuy nhiên, thì Luật Cạnh tranh năm 2004 vẫn là văn bản điều chỉnh có tính chất chuyên ngành nhất. 4. Nhận xét các quy định của pháp luật hiện hành về quảng cáo so sánh: Thứ nhất, pháp luật Việt Nam chưa xây dựng định nghĩa quảng cáo so sánh. Đây là một thiếu sót cơ bản của Luật Cạnh tranh (2004) về nhóm hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Bất cứ một hiện tượng pháp lý nào cũng cần được định nghĩa để có thể xác định được bản chất pháp lý và các yếu tố cấu thành nên hiện tượng đó nhằm định hướng cho các quy định cụ thể cho hiện tượng đó trong các văn bản pháp luật. Thứ hai, về phạm vi các chủ thể bị cấm tiến hành hoạt động quảng cáo so sánh trực tiếp vẫn còn những quan điểm khác nhau do tính không rõ ràng của Luật Cạnh tranh (2004). Khoản 1 Điều 45 của Luật này có quy định: quảng cáo“so sánh trực tiếp hàng hóa, dịch vụ của mình với hàng hóa, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác” thì bị cấm; Khoản 6 Điều 109 Luật Thương mại (2005) quy định cấm “quảng cáo bằng việc sử dụng phương pháp so sánh trực tiếp hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của mình với hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cùng loại của thương nhân khác”. Có thể nhận thấy cụm từ “của mình” đã dẫn đến các cách giải thích luật khác nhau về vấn đề chủ thể này dẫn đến hình thành nên hai cách hiểu về hàng hóa, dịch vụ “của mình” trong quy định của pháp luật Việt Nam. Có ý kiến cho rằng chỉ có nhà sản xuất, nhà cung ứng mới có hàng hóa, dịch vụ “của mình” nên Luật Cạnh tranh không điều chỉnh mối quan hệ giữa các nhà phân phối, vô hình chung tạo ra lỗ hổng ngoài ý muốn và sự phân biệt đối xử. Thứ ba, quy định về đối tượng so sánh còn có sự chưa thống nhất giữa Luật Doanh nghiệp (2005) (“hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ”) và Luật Cạnh tranh (2004) (“hàng hóa, dịch vụ”). Hơn nữa, quy định cấm so sánh trực tiếp “hàng hóa, dịch vụ” nhưng không nói rõ là chỉ cấm so sánh những tính chất căn bản hay là tất cả tính chất của hàng hóa, dịch vụ đó. Thứ tư, Khoản 1 Điều 45 Luật Cạnh tranh (2004) cấm “so sánh trực tiếp” nhưng cả Luật Cạnh tranh (2004) và các văn bản khác có liên quan như: Nghị định số 1162005NĐCP ngày 15092005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh, Pháp lệnh Quảng cáo năm 2001, Nghị định số 242003NĐCP ngày 13032003 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Pháp lệnh quảng cáo không nêu được đặc điểm để nhận diện như thế nào là “sự so sánh trực tiếp”. Từ đó dẫn đến một vấn đề khó xác định là cấm quảng cáo dùng phương pháp so sánh trực tiếp hay là cấm quảng cáo có nội dung so sánh trực tiếp. Bên cạnh đó, Luật Thương mại (2005) cấm “quảng cáo bằng việc sử dụng phương pháp so sánh trực tiếp” nhưng cũng không hướng dẫn thêm về vấn đề thế nào là dùng phương pháp so sánh trực tiếp. 5, Vai trò và những ảnh hưởng tiêu cực phát sinh từ quảng cáo so sánh Ta có thể thấy, tuy quảng cáo so sánh là một hành vi nhỏ trong hệ thống pháp luật nhưng nó lại mang những điểm đặc biệt trong hoạt động kinh tế. Điều đó được thể hiện qua những vai trò của hành vi quảng cáo so sánh như: Trước hết, quảng cáo so sánh là một trong những phương thức thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các hàng hóa,dịch vụ cùng loại với nhau của các thương nhân để từ đó tạo nên sự phát triển trong cả nền kinh tế, dịch vụ hàng hoá. Thứ hai, quảng cáo so sánh cho phép thương nhân chứng minh một cách khách quan sự xứng đáng của sản phẩm mà họ có; không những vậy, quảng cáo so sánh vừa tạo ra một hệ thống thông tin phong phú và đặc sắc cho người tiêu dùng vừa góp phần làm nên những “nhà tiêu dùng thông thái” trong nền kinh tế thị trường. Thứ ba, quảng cáo so sánh phát huy chức năng của cạnh tranh trong nền kinh tế. Và cũng thông qua sự thúc đẩy cạnh tranh của quảng cáo so sánh, quyền lợi của người tiêu dùng sẽ ngày càng được bảo vệ tốt hơn, nâng cao chất lượng quản lý hoạt động bảo vệ người tiêu dùng hơn nữa. Thứ tư, quảng cáo so sánh góp phần thúc đẩy tốc độ phát triển của thương mại và môi trường kinh doanh. Bên cạnh những vai trò trên thì quảng cáo so sánh cũng gây ra một số ảnh hưởng tiêu cực như sau: Quảng cáo so sánh gây ra những bất lợi cho thương nhân hoặc hàng hoá,dịch vụ của thương nhân được so sánh. Ảnh hưởng này được xem xét dưới góc độ những quảng cáo so sánh trung thực, không vi phạm pháp luật. Các thương nhân lợi dụng quảng cáo so sánh để quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh. Những biểu hiện của hành vi này có thể đề cập đến như: quảng cáo so sánh sai sự thật, gây nhầm lẫn, không khách quan,… Qua đó, ta nhận thấy rằng: Quảng cáo so sánh là vấn đề khá phức tạp bởi tuy nó là một hành vi nhỏ nhưng chứa đựng nhiều nội dung cần điều chỉnh và được xử lý rất khác trong các hệ thống pháp luật khác nhau. Tuy nhiên, cũng phải công nhận rằng quảng cáo so sánh sẽ luôn giữ vững được vai trò vốn có của mình là một phương thức xúc tiến thương mại hữu hiệu, một công cụ đắc lực cho thương nhân trên thương trường. 6, Quảng cáo so sánh theo Luật quảng cáo 2012 có hiệu lực ngày 112013. Như ta đã biết Luật quảng cáo sắp có hiệu lực tại Khoản 10 Điều 8 Luật quảng cáo năm 2012 quy định về hành vi bị cấm trong hoạt động quảng cáo: “10. Quảng cáo bằng việc sử dụng phương pháp so sánh trực tiếp về giá cả, chất lượng, hiệu quả sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của mình với giá cả, chất lượng, hiệu quả sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cùng loại của tổ chức, cá nhân khác.” Như vậy có thể thấy rằng luật quảng cáo cũng đã quy định cấm quảng cáo so sánh trên 2 điều kiện: thứ nhất, trực tiếp trên các phương diện như so sánh về giá cả; so sánh chất lượng tốt hơn hay tốt nhất; hiệu quả sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ và thứ hai, quảng cáo đó phải trực tiếp so sánh với sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cùng loại của tổ chức, cá nhân khác.
Xem thêm

Đọc thêm

Mẫu GIẤY CHỨNG NHẬN ĐIỀU CHỈNH GIẤY PHÉP ĐẦU TƯ

Mẫu GIẤY CHỨNG NHẬN ĐIỀU CHỈNH GIẤY PHÉP ĐẦU TƯ

GIẤY CHỨNG NHẬN ĐIỀU CHỈNH GIẤY PHÉP ĐẦU TƯ (Cấp cho trường hợp doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh được cấp Giấy phép đầu tư trước ngày 01/7/2006 chưa đăng ký lại và không đăng ký lại) CƠ QUAN CẤP CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM GIẤY CHỨNG NHẬN ĐẦU TƯ Độc lập – Tự do – Hạnh phúc GIẤY CHỨNG NHẬN ĐIỀU CHỈNH GIẤY PHÉP ĐẦU TƯ Số: [04] Căn cứ Luật Đầu tư ngày 29 tháng 11 năm 2005; Căn cứ Luật Doanh nghiệp ngày 29 tháng 11 năm 2005; Căn cứ Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư ; Căn cứ Nghị định số 101/2006/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2006 quy định việc đăng ký lại, chuyển đổi và đăng ký đổi Giấy chứng nhận đầu tư của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư Căn cứ... [07] Căn cứ …. quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của ... ; [02] Căn cứ bản đề nghị điều chỉnh Giấy phép đầu tư và hồ sơ kèm theo do.... nộp ngày ..... và hồ sơ bổ sung nộp ngày.... (nếu có) CƠ QUAN CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN ĐẦU TƯ [03] Chứng nhận : [05] Đại diện bởi : Điều chỉnh Giấy phép đầu tư (số, ngày, nơi cấp) với nội dung sau: (Chỉ ghi nội dung đề nghị điều chỉnh (nếu có) liên quan đến tên , mục tiêu và quy mô, địa điểm thực hiện, tổng vốn, thời hạn hoạt động, tiến độ thực hiện và các ưu đãi đối với dự án) [06] Điều 1: Các điều khoản sau đây của Giấy phép đầu tư/hoặc và Giấy phép điều chỉnh (số, ngày, nơi cấp) được điều chỉnh như sau: Điều ..... Điều ..... Điều 2: Mọi điều khoản khác của Giấy phép đầu tư/hoặc và Giấy phép điều chỉnh (số, ngày, nơi cấp) vẫn giữ nguyên giá trị pháp lý. Điều 3: Giấy chứng nhận đầu tư điều chỉnh được lập thành (viết bằng số và chữ) bản gốc; mỗi nhà đầu tư được cấp 01 bản (đối với hợp đồng hợp tác kinh doanh); 01 bản cấp cho doanh nghiệp (đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) và 01 bản lưu tại Cơ quan cấp Giấy chứng nhận đầu tư. THỦ TRƯỞNG CƠ QUAN CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN ĐẦU TƯ [08] Ghi chú: [01]: Tên Cơ quan cấp Giấy chứng nhận đầu tư [02]: Văn bản pháp lý quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan cấp Giấy chứng nhận đầu tư [03]: 1. Đối với Giấy chứng nhận do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh cấp: UỶ BAN NHÂN DÂN 2. Đối với Giấy chứng nhận do Ban quản lý cấp: TRƯỞNG BAN [04]: Số Giấy chứng nhận điều chỉnh Giấy phép đầu tư là dãy ký tự bằng số và chữ theo trình tự sau: a) Số Giấy phép đầu tư đã cấp (Ví dụ: 2222) b) Ký hiệu /GCNĐC (Ví dụ: 2222/GCNĐC) c) Lần điều chỉnh (Ví dụ: 2222/GCNĐC2/) d) Mã cấp tỉnh có 2 ký tự quy định tại Phụ lục III Quyết định này; e) Mã cơ quan cấp Giấy chứng nhận đầu tư có 1 ký tự theo quy định tại mục [02], [03] trên đây Ví dụ: 2222/GCNĐC2/01/1 là Giấy chứng nhận điều chỉnh Giấy phép đầu tư lần thứ 2 do UBND thành phố Hà Nội cấp [05]: a) Đối với nhà đầu tư là cá nhân: Họ tên (họ tên, chức vụ, ngày sinh, dân tộc, quốc tịch) Chứng minh nhân dân/hộ chiếu (số, ngày, nơi cấp) Giấy tờ chứng thực cá nhân khác đối với trường hợp không có CMND/hộ chiếu (tên giấy, số, ngày, nơi cấp) Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Chỗ ở hiện nay: (địa chỉ, điện thoại, Fax, Email) b) Đối với nhà đầu tư là doanh nghiệp/tổ chức kinh tế: Tên doanh nghiệp/tổ chức Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh/Giấy chứng nhận đầu tư/Quyết định thành lập (Số, Ngày cấp, Nơi cấp) [06]: Người đại diện theo pháp luật của tổ chức kinh tế đăng ký đầu tư, gồm: Họ tên (họ tên, chức vụ, ngày sinh, dân tộc, quốc tịch) Chứng minh nhân dân/hộ chiếu (số, ngày, nơi cấp) Giấy tờ chứng thực cá nhân khác đối với trường hợp không có CMND/hộ chiếu (tên giấy, số, ngày, nơi cấp) Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Chỗ ở hiện nay: (địa chỉ, điện thoại, Fax, Email) [07]: Ghi các căn cứ pháp lý khác để xác định các mức ưu đãi và hỗ trợ đầu tư (nếu có) [08] 1. Đối với Giấy chứng nhận do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh cấp: TM.UỶ BAN NHÂN DÂN Chủ tịch (ký tên, đóng dấu) 2. Đối với Giấy chứng nhận do Ban quản lý cấp: TRƯỞNG BAN (ký tên, đóng dấu)
Xem thêm

Đọc thêm

CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT, QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT, QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT, QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC. CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 1.1 Khái niệm Doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối được tổ chức dưới hình thức công ti Nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn.Doanh nghiêp nhà nước là doanh nghiệp một chủ trong trường hợp nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ (tức sở hữu 100%). Doanh nghiệp nhà nước nhiều chủ sở hữu trong trường hợp có cổ phần, vốn góp chi phối có tỉ lệ trên 50% và dưới 100%. 1.2Tóm tắt quá trình xây dựng và cải cách DNNN ở Việt Nam Có thể chia quá trình này thành 4 giai đoạn. (1) Giai đoạn 1991 – 1994 Ở nước ta, sau khi giải phóng và thống nhất đất nước, do nhận thức đơn giản và phiến diện nên đã đồng nhất sở hữu nhà nước với sở hữu xã hội chủ nghĩa. Xí nghiệp quốc doanh được thành lập ở mọi lĩnh vực. Để khắc phục hiện tượng này, hai văn bản pháp lý quan trọng để điều chỉnh nhiệm vụ t chức và sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước đã ra đời là: Quyết định số 315HĐBT và Nghị định 388HĐBT. Tiếp đó, với chủ trương cổ phần hoá, giải thể và sát nhập các DNNN nhỏ và hoạt động kém hiệu quả, Chính phủ đã thiết lập cơ sở pháp lý cho việc thành lập các DNNN lớn bằng việc ban hành hai văn bản pháp luật quan trọng vào năm 1994, đó là Quyết định số 90TTg ngày 731994 về việc sắp xếp lại DNNN, tạo căn cứ cho việc thành lập các “Tổng công ty 90” và Quyết định số 91TTg ngày 731994 về thí điểm thành lập tập đoàn kinh doanh, tạo căn cứ cho việc thành lập các “Tổng công ty 91”. (2) Giai đoạn 1995 – 2006 Năm 1995, tại Kỳ họp thứ 7 của Quốc hội IX, Luật Doanh nghiệp nhà nước đầu tiên được thông qua (có hiệu lực vào ngày 3041995), ghi nhận các DNNN là các pháp nhân kinh tế độc lập với địa vị pháp lý đầy đủ để tham gia vào các quan hệ kinh tế một cách bình đẳng trên thị trường với doanh nghiệp thuộc các thành 5 phần kinh tế khác như doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp tư nhân. Tuy nhiên, tới đầu những năm 2000, với sự vận động và phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường, đặc biệt là khu vực đầu tư nước ngoài và kinh tế tư nhân trong nước, Luật DNNN đã bộc lộ các hạn chế từ cả góc độ đổi mới cơ chế quản lý và sở hữu DNNN, lẫn góc độ tương tác của chế định DNNN với các chế định về doanh nghiệp khác trong tổng thể khung pháp luật về kinh tế và doanh nghiệp. Do đó, vào ngày 26112003, tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khoá XI, Luật Doanh nghiệp nhà nước 2003 đã được ban hành. (3)Giai đoạn từ 2006 2015 Nhằm bảo đảm cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh giữa DNNN và các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam chuẩn bị gia nhập WTO, Quốc hội đã ban hành Luật doanh nghiệp năm 2005 ngày 29112005. Luật Doanh nghiệp 2005 ra đời, quy định một thời hạn bốn năm tính từ 172006 để Luật DNNN hoàn toàn chấm dứt hiệu lực và các DNNN chuyển đổi sang các loại hình công ty hoạt động theo luật này. Tuy nhiên, tính đến thời điểm 172010, khi Luật doanh nghiệp nhà nước hết hiệu lực, mục tiêu tổ chức sắp xếp lại DNNN đề ra đã không đạt được, vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế. Để khắc phục những hạn chế đó, một trong những biện pháp trọng điểm được đưa ra đó là thực hiện tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước. Theo đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 929QĐTTg ngày 1772012 phê duyệt Đề án “Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước giai đoạn 2011 – 2015”. (4) Từ năm 2015 đến nay DNNN cũng không có gì thay đổi nhiều, vẫn thực hiện tái cấu trúc doanh nghiệp, nhà nước cũng đưa nhiều những chủ trương và pháp luật để đổi mới . Tuy nhiên thì việc triển khai các thực hiện này còn hết sức chậm chạp thậm chí là còn không phù hợp với quy định của pháp luật. 1.3. Đặc điểm của DNNN ở Việt Nam Chủ đầu tư: là Nhà nước hoặc Nhà nước cùng với các tổ chức, cá nhân khác. Sở hữu vốn: Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ (100%) hoặc sở hữu phần vốn góp chi phối (trên 50% nhưng dưới 100% vốn điều lệ). Hình thức tồn tại: doanh nghiệp nhà nước có nhiều hình thức tồn tại. Nếu doanh nghiệp nhà nước do nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ thì có các loại hình doanh nghiệp như: công ty nhà nước, công ty cổ phần nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước. Nếu doanh nghiệp do nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ thì có thể tồn tại dưới các loại hình doanh nghiệp sau: công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn Trách nhiệm tài sản: doanh nghiệp nhà nước chịu trách nhiệm trong phạm vi tài sản của doanh nghiệp. Nhà nước chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi tài sản góp vốn vào doanh nghiệp. Tư cách pháp lý: doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân. Luật áp dụng: các công ty nhà nước đã thực hiện chuyển đổi thành công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn sẽ tổ chức và hoạt động theo luật doanh nghiệp. Các loại doanh nghiệp nhà nước khác tổ chức và hoạt động theo luật doanh nghiệp. 1.4.Phân loại doanh nghiệp nhà nước Dựa vào hình thức tổ chức doanh nghiệp nhà nước có năm loại, gồm: Thứ nhất, công ty nhà nước: là doanh nghiệp do nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ thành lập, tổ chức quản lý và tồn tại dưới hình thức công ty Nhà nước độc lập và tổng công ty nhà nước. Thứ hai, công ty cổ phần nhà nước: là công ty cổ phần mà toàn bộ cổ đông là các công ty nhà nước hoặc tổ chức được nhà nước ủy quyền góp vốn. Tổ chức và hoạt động theo Luật doanh nghiệp năm 2005. Thứ ba, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên là công ty trách nhiệm hữu hạn do nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ. Tổ chức quản lí và đăng ký theo Luật doanh nghiệp năm 2005. Thứ tư, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước có từ hai thành viên trở lên: là công ty trách nhiệm hữu hạn trong đó có tất cả các thành viên đều là công ty nhà nước hoặc có thành viên là công ty nhà nước, thành viên được ủy quyền góp vốn. Được tổ chức và hoạt động theo luật doanh nghiệp. Thứ năm, doanh nghiệp cổ phần, vốn góp chi phối của nhà nước: là doanh nghiệp mà cổ phần hoặc vốn góp của nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ. Nhà nước giữ quyền chi phối doanh nghiệp. – Dựa theo nguồn vốn: có hai loại Thứ nhất, Doanh nghiệp nhà nước do nhà nước sở hữu 100% vốn, gồm: công ty nhà nước, công ty cổ phần nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên, công ty trá
Xem thêm

Đọc thêm

Đề cương triết học MácLênin

Đề cương triết học MácLênin

Cùng với sự mở rộng phạm vi điều chỉnh, hệ thống pháp luật XHCN từ năm 1991 đến nay đang khắc phục tính thiếu đồng bộ, thu hẹp dần những “khoảng trống”. Nhiều lĩnh vực hoạt động kinh tế trước đây chỉ được điều chỉnh bằng các văn bản của các cơ quan điều hành và chấp hanh của chính phủ(hội đồng bộ trưởng), các bộ, UBND nay đã biến đổi và có những văn bản luật có hiệu lực pháp lý cao hơn do Quốc hội ban hành và dần bớt đi tính thiên lệch giữa các ngành luật với nhau. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật này đang nằm trong thời kì chuyển đổi từ cơ chế kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường nhiều thành phần cái mới bổ sung đang ở dạng tìm tòi thử nghiệm, cái cũ vẫn còn tồn tại và phát huy tác dụng (cả tích cực và tiêu cực ). Do vậy, hệ thống pháp luật vẫn chưa khắc phục được tình trạng mâu thuẫn. Nhìn chung, các ngành pháp luật vẫn chưa có sự phát triển đồng đều....
Xem thêm

Đọc thêm

Trình bày một bản hợp đồng lao động giữa người lao động với người sử dụng lao động là Giám đốc một doanh nghiệp nhà nước vào năm 2002 hoặc 2003

TRÌNH BÀY MỘT BẢN HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG GIỮA NGƯỜI LAO ĐỘNG VỚI NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG LÀ GIÁM ĐỐC MỘT DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀO NĂM 2002 HOẶC 2003

Hợp đồng lao động – chế định pháp lý chủ yếu và quan trọng điều chỉnh mối quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động. Các tiêu chí của nó không chỉ là cơ sở pháp lý để các chủ thể làm căn cứ cho việc thiết lập quan hệ lao động, mà còn là cơ sở căn cứ pháp lý để nhà nước thực hiện công tác quản lý, tổ chức và phân công lao động trên phạm vi khu vực, vùng lãnh thổ. Mặt khác hợp đồng lao động ( HĐLĐ) là một trong những hình thức pháp lý chủ yếu nhất để công dân thực hiện quyền làm việc. Nhận thức dược ý nghĩa của tầm quan trọng của chế định hợp đồng lao động, em đã mạnh dạn chọn đề tài của mình : “ Trình bày một bản hợp đồng lao động giữa người lao động với người ssử dụng lao động là Giám đốc một doanh nghiệp nhà nước vào năm 2002 hoặc 2003”. Do sự hiểu biết còn hạn chế, nên không tránh đựơc sự sai sót. Em mong thầy cô bỏ qua và giúp đỡ em hoàn thành tốt bài tiểu luật này. Em xin trân thành cảm ơn
Xem thêm

15 Đọc thêm

Khi gặp hiện tượng dẫn chiếu ngược và dẫn chiếu đến pháp luật nước thứ ba thì sẽ áp dụng pháp luật như thế nào

Khi gặp hiện tượng dẫn chiếu ngược và dẫn chiếu đến pháp luật nước thứ ba thì sẽ áp dụng pháp luật như thế nào

Khi gặp hiện tượng dẫn chiếu ngược và dẫn chiếu đến pháp luật nước thứ ba thì sẽ áp dụng pháp luật như thế nào Nhắc tới tư pháp quốc tế là nhắc tới vấn đề áp dụng các quy phạm xung đột. Một trong những vấn đề rất phức tạp trong việc áp dụng quy phạm xung đột đó là vấn đề dẫn chiếu ngược và dẫn chiếu đến pháp luật của nước thứ ba. Trong phạm vi bài viết này, em xin làm rõ vấn đề “khi gặp hiện tượng dẫn chiếu ngược và dẫn chiếu đến pháp luật nước thứ ba thì sẽ áp dụng pháp luật như thế nào”. NỘI DUNG. I. Khái quát về hiện tượng dẫn chiếu trong tư pháp quốc tế: 1, Dẫn chiếu: Dẫn chiếu ngược hay dẫn chiếu đến pháp luật của nước thứ ba là hiện tượng khi cơ quan có thẩm quyền của nước A áp dụng quy phạm xung đột dẫn chiếu đến pháp luật nước ngoài (nước B), nhưng pháp luật nước B lại quy định vấn đề phải được giải quyết theo pháp luật nước A hoặc được giải quyết theo pháp luật của một nước thứ ba. Theo BLDS Việt Nam “năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước nơi pháp nhân đó thành lập”. Doanh nghiệp A là doanh nghiệp nước ngoài và thành lập tại Đức. Vậy pháp luật Đức là pháp luật điều chỉnh năng lực pháp luật dân sự của doanh nghiệp A. Nhưng theo pháp luât Đức, vấn đề này được điều chỉnh bởi pháp luật nơi doanh nghiệp có trụ sở thực tiễn và trong thực tế thì doanh nghiệp A có trụ sở tại Bỉ. Do đó, pháp luật Đức dẫn đến pháp luật Bỉ. Vậy hiện tượng dẫn chiếu đến pháp luật nước thừ ba có thể xảy ra ở Việt Nam. 2, Nguyên nhân của hiện tượng dẫn chiếu: Thứ nhất, quy phạm xung đột có hai bộ phận cấu thành: phần phạm vi và phần hệ thuộc. Hiện tượng dẫn chiếu xuất hiện khi một vấn đề pháp lý thuộc phần phạm vi của hai quy phạm xung đột của hai nước có phần hệ thuộc khác nhau hay là do có sự quy định khác nhau trong các quy phạm xung đột của các nước về nguyên tắc chọn luật áp dụng cho cùng một vấn đề pháp lý. Nguyên nhân thứ hai có khả năng làm phát sinh dẫn chiếu là việc giải thích các hệ thuộc luật của các nước có thể rất khác nhau. có thể dẫn đến khả năng một vấn đề pháp lý sẽ được hệ thống pháp luật của hai nước đều cho rằng, sẽ được áp dụng (gọi là xung đột tích cực), hoặc cả hai nước đều từ chối áp dụng, cho ràng pháp luật của nước mình không có thẩm quyền áp dụng (gọi là xung đột tiêu cực). Một số tác giả cho rằng, có sự “ủy quyền” của pháp luật trong nước cho pháp luật nước ngoài trong việc áp dụng giải quyết tình huống pháp lý phát sinh. Và như vậy, có thể coi các quy phạm xung đột nước ngoài dẫn chiếu ngược chở lại pháp luật nước có tòa án thụ lý là một bộ phận cấu thành trong hệ thống pháp luật của nước có tòa án đó. II. Áp dụng pháp luật khi gặp hiện tượng dẫn chiếu ngược và dẫn chiếu đến pháp luật nước thứ ba. 1, Chấp nhận dẫn chiếu: Một số nước không chấp nhận dẫn chiếu như Siry (BLDS 1949), Ai Cập (BLDS 1948)… bởi quan điểm của họ thì khi dẫn chiếu là chỉ dẫn chiếu tới các quy phạm luật thực chất của nước đó chứ không phải toàn bộ hệ thống pháp luật của nước đó như các nước chấp nhận dẫ chiếu như Anh, Nhật Bản (BLDS 1898), Thụy Điển. Ở Việt Nam về nguyên tắc thì dẫn chiếu được chấp nhận. Khoản 3 Điều 759 BLDS 2005: “nếu pháp luật nước đó (pháp luật nước ngoài được quy định hoặc viện dẫn) dẫn chiếu trở lại pháp luật nước CHXHCN VN, thì áp dụng pháp luật CHXHCN VN”. Tương tự theo Điều 5 nghị định số 682002NĐCP ngày 1072002 cũng quy định về vấn đề này. Pháp luật Việt Nam chỉ đề cập đến dẫn chiếu ngược trở lại pháp luật VN và không cho biết dẫn chiếu đến pháp luật nước thứ ba có được chấp nhận hay không. Tuy nhiên theo quy định tại Khoản 3 Điều 4 nghị định số 1382006NĐCP thì dẫn chiếu ngược trở lại và dẫn chiếu đến pháp luật nước thứ ba được chấp nhận ở Việt Nam. Thực tế vấn đề này rất hiếm gặp, do các quy phạm xung đột cũng có giới hạn và nhìn chung các quy phạm xung đột của tư pháp quốc tế là thống nhất. Đa phần phụ thuộc vào cách giải thích và ý chí của tòa án thụ lý vụ việc. 2, Các trường hợp không chấp nhận dẫn chiếu: Thứ nhất là trong lĩnh vực hợp đồng, hầu hết tất cả các quốc gia trên thế giới đều không chấp nhận dẫn chiếu trong lĩnh vực này. Điều 15 Công Ước Rome 1961980 về quy phạm xung đột thống nhất trong lĩnh vực hợp đồng đối với một số nước châu Âu và Điều 2 Công Ước Lahaye 761955 về hợp đồng mua bán quốc tế động sản, dẫn chiếu không được chấp nhận bởi nó sẽ làm đảo lộn những dự tính, đi ngược lại ý chí của các bên khi họ thỏa thuận chọn pháp luật áp dụng (luật nội dung, luật thực chất của hệ thống luật này) cho hợp đồng. Khoản 1 Điều 769 BLDS 2005: “quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước mà các bên đã thỏa thuận chọn”. nhưng không phải sự loại trừ dẫn chiếu là đương nhiên, tự động mà cần dung hòa ý chí các bên và các quy phạm xung đột một cách thống nhất. Thứ hai là khi có Điều ước quốc tế quy định. Theo Điều 39 Hiệp đinh tương trợ tư pháp giữa Nga và Việt Nam, “quan hệ pháp luật về thừa kế động sản do pháp luật của bên ký kết mà người để lại thừa kế là công dân vào thời điểm chết điều chỉnh”. Ví dụ: một công dân Nga sống và làm ăn ở VN nhiều năm, công dân này có vợ người VN và có một số động sản ở VN và Nga. Công dân Nga qua đời đột ngột ở VN do tai nạn không để lại di chúc. Vậy pháp luật Nga điều chỉnh quyền thừa kế vì khi người chết để lại tài sản thừa kế là công dân của Nga dù tại Điều 1224 Khoản 1 BLDS Nga quy định: “thừa kế (động sản) được điều chỉnh bởi pháp luật của nước mà người để lại thừa kế có nơi cư trú cuối cùng”. KẾT LUẬN Qua việc tìm hiểu ở trên, có thể thấy dẫn chiếu là vấn đề rất quan trọng, phổ biến nhưng cũng rất khó, rất phức tạp trong tư pháp quốc tế. Trong thời gian tới, khi các Điều ước quốc tế ngày một gia tăng, việc thiết lập các quy phạm xung đột thống nhất trong các Điều ước này sẽ làm mất đi những điều kiện tồn tại của dẫn chiếu, có thể hiện tượng dẫn chiếu không cần phải đặt ra trong tư pháp quôc tế nữa. Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại, dẫn chiếu vẫn được áp dụng một cách thường xuyên và phổ biến, vì vậy chúng ta cần phải tìm hiểu kỹ về vấn đề này để có thể áp dụng pháp luật hiệu quả nhất.
Xem thêm

Đọc thêm

Báo cáo lí luận đề tài tính phù hợp của hệ thống pháp luật việt nam

Báo cáo lí luận đề tài tính phù hợp của hệ thống pháp luật việt nam

I.Khái niệm của “ Tính phù hợp với các điều kiện xã hội”:Hiệu quả của hệ thống pháp luật không thể đánh giá thông qua việc nó ghi nhận “càng nhiều càng tốt” những ước muốn hướng thiện của nhà lập pháp. Một hệ thống pháp luật hoàn thiện là hệ thống pháp luật phù hợp với đời sống xã hội trong phạm vi điều chỉnh của nó. Một mặt, nó phản ánh đúng trình độ phát triển kinh tế xã hội theo đường lối chính trị. Mặt khác nó phải phù hợp với các yếu tố khác như lịch sử, đạo đức, tập quán, phong tục, tâm lý dân tộc, trình độ dân trí của quốc gia, đồng thời phải có tính khả thi.Ví dụ: Trong phần thừa kế của Bộ Luật Dân Sự có quy định về việc thừa kế theo di chúc mà những chủ thể pháp luật quy định mà nội dung di chúc để lại không phù hợp thì lúc này luật sẽ điều chỉnh lại sau cho có sự phù hợp hài hòa giữa các chủ thể trong quan hệ pháp luật này ( Điều 669_ Bộ Luật Dân Sự 2005 ).
Xem thêm

Đọc thêm

trac nghiem thue TNCN (giai dap)

trac nghiem thue TNCN (giai dap)

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Luật này quy định về đối tượng nộp thuế, thu nhập chịu thuế, thu nhập được miễn thuế, giảm thuế và căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân. Điều 2. Đối tượng nộp thuế 1. Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân là cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế quy định tại Điều 3 của Luật này phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế quy định tại Điều 3 của Luật này phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam. 2. Cá nhân cư trú là người đáp ứng một trong các điều kiện sau đây: a) Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam; b) Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng ký thường trú hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn. 3. Cá nhân không cư trú là người không đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này.
Xem thêm

Đọc thêm

Bài tập nhóm luật Thương mại: Giải quyết tình huống liên quan tới công ty TNHH

Bài tập nhóm luật Thương mại: Giải quyết tình huống liên quan tới công ty TNHH

Giải quyết tình huống liên quan tới công ty trách nhiêm hữu hạn Bài tập nhóm Luật thương mại 1 LỜI NÓI ĐẦU Sự phát triển của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam đòi hỏi một khung pháp luật kinh tế hoàn chỉnh, trong đó pháp luật về doanh nghiệp có vai trò quan trọng. Luật doanh nghiệp ra đời làm tăng số lượng doanh nghiệp được đăng kí và việc chuyển đổi từ các hộ kinh doanh sang doanh nghiệp đăng kí chính thức theo Luật doanh nghiệp hoặc việc lựa chọn loại hình doanh nghiệp phù hợp đã trở thành một nhu cầu thực sự. Tình huống đề bài đưa ra là : “A, B và C thành lập công ty TNHH ABC. Vốn điều lệ của công ty là 2 tỷ đồng, trong đó: A cam kết góp 1 tỷ đồng bằng tiền mặt; B góp một số máy móc, thiết bị với giá trị là 600 triệu đồng; C góp 400 triệu đồng là số tiền cho công ty ABC thuê ngôi nhà tại phố N thành phố H làm trụ sở giao dịch trong thời hạn 5 năm. Theo Điều lệ công ty: A là giám đốc, B là chủ tịch HĐTV, C là kế toán trưởng của công ty. Điều lệ công ty cũng quy định: Mọi thành viên đều là người đại diện theo pháp luật của công ty và có quyền nhân danh công ty để ký kết các hợp đồng. Sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, các thành viên thực hiện việc góp vốn vào vốn điều lệ của công ty. A góp 500 triệu đồng; số vốn còn lại (500 triệu đồng) các thành viên thỏa thuận A phải góp đủ trước ngày 01122011, nhưng trên thực tế đến ngày 31122011 A vẫn chưa góp đầy đủ số vốn như cam kết. Kết thúc năm tài chính 2011, lợi nhuận sau thuế của công ty là 150 triệu VNĐ. HĐTV quyết định chia hết số lợi nhuận này cho các thành viên, nhưng mức chia cụ thể cho các thành viên thì không có sự thống nhất. Với lý do A không thực hiện đúng nghĩa vụ góp vốn, trên cương vị Chủ tịch HĐTV, B ra quyết định chia đều số lợi nhuận cho các thành viên, theo đó mỗi thành viên được nhận 50 triệu. A phản đối phương án phân chia lợi nhuận này, vì cho rằng theo tỷ lệ vốn góp, A được nhận 50% lợi nhuận (75 triệu đồng). Do không được công ty giải quyết, A làm đơn yêu cầu công ty cho mình chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp. Tại cuộc họp hội đồng thành viên, A đề nghị chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho B và C, nhưng B và C không đồng ý mua. A đề nghị chuyển nhượng cho T là người quen của A, B và C nhưng B và C không đồng ý”. Dưới đây là phần giải quyết tình huống liên quan tới Công ty TNHH của nhóm 2 GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG 1. Người đại diện theo pháp luật của công ty ABC Công ty trách nhiệm hữu hạn là loại hình doanh nghiệp có tư cách pháp nhân được pháp luật thừa nhận (Luật Doanh nghiệp) và mỗi một doanh nghiệp cần phải có một người đại diện theo pháp luật của công ty. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là người đứng đầu doanh nghiệp, được doanh nghiệp uỷ quyền, thay mặt doanh nghiệp thực hiện các giao dịch vì lợi ích của doanh nghiệp, với đối tác, khác hàng và với cơ quan Nhà nước. Quyền, nghĩa vụ và chức danh của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp được quy định trong điều lệ doanh nghiệp, các giấy tờ giao dịch phải ghi rõ điều đó. Công ty ABC nêu trong tình huống trên là công ty TNHH hai thành viên trở lên căn cứ theo Điều 38 luật Doanh nghiệp thì công ty ABC đáp ứng đủ yêu cầu để trở thành công ty TNHH hai thành viên trở lên; Công ty ABC hiện tại có 3 thành viên là A, B và C. Vốn điều lệ của công ty thì A cam kết góp1 tỷ và đã góp 500 triệu; B góp một số máy móc, thiết bị với giá trị là 600 triệu đồng; C góp 400 triệu đồng là số tiền cho công ty ABC thuê ngôi nhà tại phố N thành phố H làm trụ sở giao dịch trong thời hạn 5 năm. Người đại diện theo pháp luật trước tiên được quy định trong Bộ luật Dân sự, khoản 4 Điều 141 BLDS năm 2005 quy định Đại diện theo pháp luật bao gồm: “4. Người đứng đầu pháp nhân theo quy định của điều lệ pháp nhân hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”. Mặt khác, Điều 46 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định cơ cấu tổ chức quản lý công ty TNHH hai thành viên trở lên: “ Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty theo quy định của Điều lệ công ty. Người đại diện theo pháp luật của công ty phải thường trú tại Việt Nam; trường hợp vắng mặt ở Việt Nam trên ba mươi ngày thì phải ủy quyền bằng văn bản cho người khác theo quy định tại Điều lệ của công ty để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của công ty”. Như vậy, theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp thì đại diện theo pháp luật của công ty TNHH hai thành viên trở lên được xác định cụ thể và chỉ có thể là một cá nhân. Theo tình huống, trong công ty ABC thì A là Giám đốc, B là Chủ tịch HĐTV, còn C là kế toán trưởng. Như vậy, người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH ABC phải là một trong hai người có chức vụ Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc giám đốc. Tuy nhiên Điều lệ của công ty này quy định: “Mọi thành viên đều là người đại diện theo pháp luật của công ty và có quyền nhân danh công ty để ký kết các hợp đồng”. Đối chiếu Điều lệ của công ty ABC với các quy định của pháp luật về người dại diện theo pháp luật thì quy định trong điều lệ của công ty ABC là không đúng với quy định pháp luật. Điều khoản này của Điều lệ công ty ABC này vô hiệu vì người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH hai thành viên trở lên chỉ có thể là Chủ tịch hội đồng thành viên hoặc giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Theo đó công ty ABC sẽ cần quy định lại về vấn đề người đại diện theo pháp luật cho đúng với quy định của luật doanh nghiệp 2005. Như vậy, A hoặc B có thể trở thành người đại diện theo pháp luật của công ty ABC tùy thuộc vào việc quy định lại người đại diện theo pháp luật trong Điều lệ công ty. 2. Quyết định của B về việc phân chia lợi nhuận. A cam kết góp 1 tỷ đồng tiền mặt vào công ty TNHH ABC nhưng A mới chỉ góp 500 triệu đồng. Số vốn còn lại (500 triệu đồng) các thành viên thoả thuận A phải góp đủ trước ngày 1122011. Đến ngày 31122011, A vẫn chưa góp đầy đủ số vốn như cam kết. Kết thúc năm tài chính 2011, lợi nhuận sau thuế của công ty là 150 triệu VNĐ. Với lý do A không thực hiện đúng nghĩa vụ góp vốn, nên khi chia lợi nhuận, B – với cương vị Chủ tịch HĐTV ra quyết định chia đều số lợi nhuận cho các thành viên, cụ thể là mỗi thành viên được nhận 50 triệu. Theo quy định tại điểm d Khoản 1 Điều 41 Luật doanh nghiệp năm 2005 thì thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có quyền: “d) Được chia lợi nhuận tương ứng với phần vốn góp sau khi công ty đã nộp đủ thuế và hoàn thành các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật;”. Do vậy, mà với lợi nhuận sau thuế mà công ty có được là 150 triệu VNĐ, cả ba thành viên A, B, C đều được chia lợi nhuận. Theo khoản 12 Điều 22 Luật doanh nghiệp năm 2005 thì “nguyên tắc phân chia lợi nhuận sau thuế” sẽ được quy định trong Điều lệ công ty. Khoản 2 Điều 49 Luật doanh nghiệp quy định các quyền và nhiệm vụ của Chủ tịch Hội đồng thành viên, trong đó không nêu việc Chủ tịch Hội đồng thành viên được phép phân chia lợi nhuận công ty. Như vậy, nếu Điều lệ công ty TNHH ABC có quy định về việc Chủ tịch Hội đồng thành viên được phép quyết định mức chia lợi nhuận thì B có thể dùng cương vị này để ra quyết định phân chia lợi nhuận cho các thành viên. Trong trường hợp B được phép ra quyết định phân chia lợi nhuận cho các thành viên thì quyết định chia đều số lợi nhuận cho các thành viên của B là trái pháp luật. Theo điểm d khoản 1 Điều 41 Luật doanh nghiệp năm 2005 thì các thành viên “được chia lợi nhuận tương ứng với phần vốn góp”. Đối với trường hợp A chưa góp đủ số vốn cam kết thì Khoản 3 Điều 18 nghị định 1022010NĐ – CP của Chính phủ ngày 1102010 hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của luật doanh nghiệp có quy định: “Trong thời hạn chưa góp đủ số vốn theo cam kết, thành viên có số phiếu quyết và được chia lợi tức tương ứng với tỷ lệ số vốn thực góp, trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định khác”. Tổng số vốn góp vào công ty tới thởi điểm chia lợi nhuận là: A đã góp 500 triệu, B đã góp 600 triệu, C đã góp tới thời điểm chia lợi nhuận là 400 triệu 5 năm hay C đã góp là 80 triệu. Vậy tổng số vốn góp vào công ty năm 2011 là 1,18 tỷ Như vậy, lợi nhuận sẽ được chia theo phần trăm số vốn góp vào công ty trong năm 2011 ( 1,18 tỷ )như sau: • A: 500 triệu chiếm 42,4% tổng số vốn góp năm 2011. • B: 600 triệu chiếm 50,8% tổng số vốn góp năm 2011. • C: 400 triệu 5 năm chiếm 6,8% tổng số vốn góp năm 2011. Kết thúc năm tài chính 2011, lợi nhuận sau thuế của công ty là 150 triệu VNĐ. Vậy: • A nhận được 42,4% của 150 triệu đồng. • B nhận được 50,8% của 150 triệu đồng. • C nhận được 6,8 % của 150 triệu đồng. 3. Việc chuyển nhượng phần vốn góp của A cho T Loại hình công ty TNHH khác với các loại hình công ty khác, thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn không thể tự do chào bán phần vốn góp của mình trên thị trường, mà chỉ có thể chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình cho người khác theo quy định của pháp luật. Thành viên muốn chuyển nhượng phần vốn góp của mình, trước hết phải chào bán phần vốn đó cho thành viên của công ty theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong công ty với cùng điều kiện. Nếu các thành viên còn lại của công ty không mua hoặc mua không hết thì thành viên muốn chuyển mới được chuyển nhượng cho người ngoài không phải là thành viên. Xét vào tình huống của trên , A cam kết góp 1 tỷ đồng tiền mặt nhưng A chỉ mới góp 500 triệu đồng, số tiền 500 triệu đồng còn lại các thành viên thỏa thuận A phải gốp đủ trước ngày 01122011, tuy nhiên đến ngày 31122011 A vẫn chưa góp đủ số vốn như cam kết. Vì vậy, số tiền 500 triệu đồng chưa góp đủ trở thành nợ của A đối với công ty ABC. Đối với số tiền 500 triệu đồng A đã góp, A trở thành thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn ABC, do đó A hoàn toàn có đầy đủ các quyền với tư cách là một thành viên của công ty, trong đó có quyền định đoạt phần vốn góp của mình bằng cách chuyển nhượng, để thừa kế, tặng cho và cách khác theo quy định của pháp luật và điều lệ của công ty (Điểm h Điều 41 Luật doanh nghiệp năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009). Như vậy, trong trường hợp này, A hoàn toàn có quyền chuyển nhượng phần vốn góp của mình. Theo quy định về mua lại phần vốn góp tại Điều 43 Luật doanh nghiệp 2005 và theo quy định tại Điều 44 Luật doanh nghiệp năm 2005: “Trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 45 của Luật này, thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có quyền chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình cho người khác theo quy định sau đây: 1. Phải chào bán phần vốn đó cho các thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong công ty với cùng điều kiện; 2. Chỉ được chuyển nhượng cho người không phải là thành viên nếu các thành viên còn lại của công ty không mua hoặc không mua hết trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày chào bán.” Khoản 6 Điều 45 quy định: “Trường hợp thành viên sử dụng phần vốn góp để trả nợ thì người nhận thanh toán có quyền sử dụng phần vốn góp đó theo một trong hai cách sau đây: a) Trở thành thành viên của công ty nếu được Hội đồng thành viên chấp thuận; b) Chào bán và chuyển nhượng phần vốn góp đó theo quy định tại Điều 44 của Luật này.” Theo quy định của Điều luật này thì thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên không được tự do chuyển nhượng phần vốn góp của mình mà phải ưu tiên chuyển nhượng cho các thành viên còn lại. Việc chuyển nhượng phần vốn góp cho các thành viên còn lại có mục đích đảm bảo tính “đóng” của công ty trách nhiệm hữu hạn, tức là hạn chế sự tham gia của người ngoài vào công ty. Vấn đề này có thể được giải thích như sau: trong công ty trách nhiệm hữu hạn, ngoài quan hệ về vốn là chủ yếu còn có các quan hệ giữa các thành viên với nhau về bí quyết, bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ… Để hạn chế việc lộ những vấn đề này ra bên ngoài nên việc tham gia của người ngoài vào công ty là rất hạn chế so với công ty cổ phần. Tuy nhiên, trong trường hợp các thành viên còn lại không mua hoặc không mua hết trong thời hạn 30 ngày thì người chuyển nhượng có quyền chuyển nhượng phần vốn góp đó cho người ngoài. Theo tình huống, tại cuộc họp hội đồng thành viên, A đã đề nghị chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho B và C, như vậy, A đã thực hiện việc ưu tiên chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho các thành viên còn lại trong công ty là B và C, nhưng B và C lại không đồng ý. Do đó, trong thời hạn 30 ngày kể từ thời điểm A chào bán phần vốn góp của mình, nếu B và C vẫn không đồng ý mua thì A có quyền chào bán phần vốn góp đó cho T cho dù có được B và C đồng ý hay không. Nếu trong trường hợp vẫn chưa hết thời hạn 30 ngày này thì A không có quyền chuyển nhượng phần vốn góp đó cho T. 4. Nhận xét quy định của Luật Doanh nghiệp và Nghị định 1022010NĐCP về các vấn đề pháp lý có liên quan đến tình huống trên. Trong nền kinh tế thị trường, nhất là với bối cảnh kinh tế – xã hội cụ thể của Việt Nam, việc hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp có thể được coi là một trong những động thái chính, một bước tiên quyết trong việc hoàn thiện pháp luật thương mại. Xuất phát từ vai trò của doanh nghiệp – là những chủ thể kinh doanh thương mại chủ yếu của nền kinh tế, có thể nói, sự ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã đáp ứng một số yêu cầu quan trọng của việc hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp. Kể từ khi có Luật Doanh nghiệp 2005, Chính phủ đã ban hành các nghị định hướng dẫn thi hành trong các lĩnh vực cụ thể như đăng ký kinh doanh, vốn pháp định… Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, ở một số văn bản hướng dẫn vẫn còn một vài vấn đề vướng mắc, gây khó khăn cho các doanh nghiệp và các nhà đầu tư trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, trong đó Nghị định 1022010NĐCP ban hành ngày 01102010 hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp là một trong những ví dụ điển hình. Nghị định 1022010NĐCP đã giải quyết được hầu hết các vấn đề còn chưa rõ và gây nhiều tranh cãi trong Luật Doanh nghiệp 2005, tuy nhiên, khi nghiên cứu nội dung của Nghị định này, chúng tôi nhận thấy vẫn còn một số quy định mâu thuẫn với Luật Doanh nghiệp 2005, gây khó khăn trong việc lựa chọn luật áp dụng và chưa thực sự phù hợp với đặc thù của từng loại hình doanh nghiệp, cần thiết phải được luận bàn cụ thể hơn. Quy định Luật Doanh nghiệp 2005 và Nghị định 1022010NĐCP về các vấn đề pháp lý trong tình huống trên. Vấn đề thực hiện việc góp vốn và các quyền, nghĩa vụ liên quan đến việc góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên: Theo quy định tại Khoản 1b, Điều 38, Luật Doanh nghiệp “Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp”. Khoản 2 điều 39 Luật DN quy định: Trường hợp có thành viên không góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết thì số vốn chưa góp được coi là khoản nợ của thành viên đó đối với công ty, thành viên đó phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh do không góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết. Hai quy định này của Luật Doanh nghiệp 2005 tạo ra một hệ quả pháp lý là: Kể cả trong trường hợp thành viên không góp đủ vốn thì thành viên vẫn phải chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn đã cam kết góp. Ngoài ra giả sử thành viên không góp đủ vốn đúng hạn thì số vốn chưa góp vẫn được coi là nợ của thành viên đối với công ty. Như vậy, trách nhiệm của thành viên không giới hạn trong phạm vi số vốn đã thực góp mà được giới hạn bởi phạm vi số vốn cam kết góp nên về nguyên tắc quyền lợi của thành viên cũng phải được tính toán dựa trên số vốn cam kết góp mới đảm bảo tính công bằng và hợp lý. Do đó, nếu thành viên chưa góp đủ vốn theo cam kết góp mà phần góp thiếu chưa được góp thay thì thành viên được phân chia lợi nhuận và biểu quyết theo số vốn cam kết góp. Chẳng hạn: Ông A cam kết góp 1 tỷ đồng, nhưng sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp ông mới chỉ góp 500 triệu, phần còn lại các thành viên thỏa thuận A phải góp đủ trước ngày 01122011. Như vậy, trong Điều lệ của công ty vẫn ghi nhận ông A góp 1 tỷ đồng, mặc dù thực tế ông A mới góp 500 triệu. Khi Điều lệ đã ghi nhận phần vốn cam kết góp, trách nhiệm của thành viên cam kết góp vốn (ông A) đối với các khoản nợ của doanh nghiệp trong quá trình thực hiện các hoạt động kinh doanh sẽ được giới hạn trong phạm vi vốn đã cam kết góp là 1 tỷ đồng. Song song với trách nhiệm của thành viên như đã nêu ở trên, quyền hưởng lợi nhuận và quyền biểu quyết của thành viên cũng được Luật Doanh nghiệp quy định tại điểm d Khoản 1, Điều 41:“Được chia lợi nhuận tương ứng với phần vốn góp sau khi công ty đã nộp đủ thuế và hoàn thành các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật” và thành viên “có số phiếu biểu quyết tương ứng với phần vốn góp”. Trái ngược với tinh thần của Luật Doanh nghiệp, Điều 18, khoản 3, Nghị định 1022010NĐCP đã quy định: “Trong thời hạn chưa góp đủ số vốn theo cam kết, thành viên có số phiếu biểu quyết và được chia lợi tức tương ứng với tỷ lệ số vốn thực góp, trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định khác”. Như vậy, Nghị định 1022010NĐCP đã khẳng định, nếu thành viên chưa góp đủ phần vốn đã cam kết thì khi chia lợi nhuận chỉ được hưởng phần lợi nhuận và có số phiếu biểu quyết tương ứng với số vốn đã thực góp. Trong khi đó, Nghị định này không đề cập tới trách nhiệm của thành viên góp vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên, vì thế, về vấn đề trách nhiệm của thành viên sẽ được giới hạn trong phạm vi phần vốn cam kết góp theo quy định của Luật Doanh nghiệp. Ngoài ra Nghị định này còn quy định thời hạn góp vốn của công ty, theo đó thời hạn góp vốn được giới hạn trong vòng 36 tháng kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp hoặc giấy chứng nhận đăng kí bổ xung thay đổi thành viên nhằm nâng coa ý thức của thành viên trong vấn đề góp vốn, tuy nhiên vấn đề này cần phải xem xét vì luật doanh nghiệp không hề có quy định khống chế thời hạn góp vốn. Tuy nhiên với vấn đề vốn góp, chúng ta cần chú ý tới khoản 3 điều 39 của Luật DN quy định: Sau thời hạn cam kết lần cuối mà vẫn có thành viên chưa góp đủ số vốn đã cam kết thì số vốn chưa góp được xử lí theo một trong các cách sau đây: a) Một hoặc một số thành viên nhận góp đủ số vốn chưa góp; b) Huy động người khác cùng góp vốn vào công ty c) Các thành viên còn lại góp đủ số vốn chưa góp theo tỉ lệ phần vốn góp của họ trong vốn điều lệ của công ty. Tuy nhiên phần biện pháp chế tài lại ghi: Sau khi số vốn còn lại chưa được góp đủ theo quy định tại khoản này, thành viên chưa góp vốn theo cam kết đương nhiên không còn là thành viên của công ty và công ty phải đăng kí thay đổi nội dung đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật. Việc quy định như trên của luật dn khiến cho nhiều người nhầm tưởng rằng nếu thành viên chưa góp đủ( đã thực góp nhưng chưa đủ)số vốn đã cam kết thì đương nhiên không còn là thành viên của công ty, nhưng trên thực tế thì chỉ có các thành viên chưa góp vốn đã cam kết mới chịu chế tài này. Với cách quy định như trên thực sự đã có sự “khập khiễng” giữa cơ chế xác định quyền và nghĩa vụ của thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên. Cụ thể, trách nhiệm đối với các khoản nợ của công ty giới hạn trong một phạm vi rộng – phạm vi phần vốn đã cam kết góp và vốn Điều lệ, nhưng quyền lợi (bao gồm quyền hưởng lợi nhuận và quyền biểu quyết) thì hạn chế hơn, chỉ được tính trong phạm vi phần vốn mà thành viên đã thực góp. Một cách công bằng, bình đẳng và hợp lý nhất, việc phân chia lợi nhuận, quyền lực và rủi ro trong một loại hình doanh nghiệp phải được xác định trên cùng một tiêu chí. Luật Doanh nghiệp 2005 đã làm được điều này khi quy định về tiêu chí để xác định lợi nhuận, quyền lực và rủi ro chỉ là dựa trên cơ sở phần vốn cam kết. Trong khi đó, Nghị định 1022010NĐCP lại lựa chọn đến hai tiêu chí để phân chia những mục tiêu mà các nhà đầu tư hướng tới, cụ thể là tiêu chí phân chia quyền lực (biểu quyết) và lợi nhuận dựa trên cơ sở phần vốn thực góp; tiêu chí phân chia rủi ro lại trên cơ sở phần vốn cam kết góp. Hậu quả của quy định này trong Nghị định 1022010NĐCP đã tạo ra sự bất hợp lý trong việc xác định quyền lợi và trách nhiệm của nhà đầu tư, từ đó đã gián tiếp triệt tiêu sự tự do trong việc lựa chọn cách thức góp vốn của các nhà đầu tư vào công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên. Một thực tế là, đứng trước quy định này, nhận thấy trách nhiệm quá lớn mà quyền lợi thì hạn hẹp, nhà đầu tư sẽ không tiếp tục lựa chọn việc cam kết góp vốn, mặc dù hành vi cam kết góp vốn, nếu được điều chỉnh theo tinh thần của Luật Doanh nghiệp 2005 thực sự sẽ mang lại những lợi ích nhất định đối với cả nhà đầu tư và đối với doanh nghiệp. Do đó, chúng ta cần phải tiếp tục nghiên cứu để sửa đổi các quy định trong Nghị định 1022010NĐCP mâu thuẫn với Luật Doanh nghiệp, đồng thời cũng phải tính đến vấn đề sửa đổi một số quy định bất hợp lý của Luật Doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam. Nghị định 1022010NĐCP không có quy định cụ thể về vấn đề pháp lí người đại diện theo pháp luật của công ty và vấn đề chuyển nhượng phần vốn góp của các thành viên trong công ty. Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp 2005 đã có quy định về vấn đề này: Về vấn đề người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH ABC, theo Điều lệ của công ty quy định: Mọi thành viên đều là người đại diện theo pháp luật của công ty và có quyền nhân danh công ty để ký kết các hợp đồng. Nhưng theo luật Doanh nghiệp 2005 quy định: Người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH có 2 thành viên trở lên là chủ tịch HĐTV(Chủ tịch HĐTV đương nhiên phải là thành viên công ty) hoặc Giám đốc (tổng giám đốc) (Giám đốc (Tổng GĐ) có thể là thành viên công ty, cũng có thể là người được HĐTV thuê làm Giám đốc, Người đại diện theo Pháp luật). Tuy nhiên, luật Doanh nghiệp 2005 có lẽ cũng cần bổ sung điều khoản quy định rõ về người đại diện theo pháp luật, thay vì chỉ xác định ai là người đại diện và tiêu chuẩn và điều kiện làm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc .v.v. như hiện nay. Theo cách tiếp cận khác, luật công ty tại nhiều nước không có chức danh người đại diện theo pháp luật như của Việt Nam. Quyền hạn và trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật được trao cho một ban giám đốc hoặc ban quản trị, trong đó từng giám đốc có quyền đại diện cho công ty về những vấn đề trong phạm vi quyền hạn của họ. Vì thế khi làm việc với các Công ty nước ngoài, ta thường thấy họ giới thiệu nhiều chức danh Giám đốc (CEO) như Giám đốc Tài chính, Giám đốc nhân sự, Giám đốc Marketing, Giám đốc bán hàng .v.v. Quy định như vậy có vẻ vừa sức hơn, đủ điều kiện để các Giám đốc thi thố tài năng cũng như giám sát họ cũng dễ dàng hơn, không bị lệ thuộc quá nhiều vào một người .v.v.. Về vấn đề chuyển nhượng phần vốn góp, Theo Điều 44. Chuyển nhượng phần vốn góp.Trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 45 của Luật này, thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có quyền chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình cho người khác theo quy định sau đây: 1. Phải chào bán phần vốn đó cho các thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong công ty với cùng điều kiện; 2. Chỉ được chuyển nhượng cho người không phải là thành viên nếu các thành viên còn lại của công ty không mua hoặc không mua hết trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày chào bán” Như vậy, thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn không được quyền tự do chuyển nhượng phần vốn góp của mình mà phải ưu tiên chuyển nhượng cho các thành viên còn lại. Việc chuyển nhượng phần vốn góp cho các thành viên còn lại có mục đích đảm bảo tính “đóng” của công ty trách nhiệm hữu hạn. Ngoài quan hệ về vốn là chủ yếu, công ty trách nhiệm hữu hạn còn có quan hệ giữa các thành viên với nhau về bí quyết, bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ … cho nên việc tham gia của người ngoài công ty bị hạn chế rất nhiều so với công ty cổ phần. Có thể thấy, Luật Doanh nghiệp 2005 và nghị định 1022010NĐCP đã có những quy định khá hợp lí đối với loại hình công ty TNHH 2 thành viên trở lên này, tuy nhiên vẫn gặp phải không ít vướng mắc. Đặc biệt là sự mâu thuẫn giữa luật và nghị định trong vấn đề góp vốn. Do đó, cần có những sửa đổi và bổ sung hợp lí, kịp thời nhằm phát triển loại hình công ty này ở nước ta.
Xem thêm

Đọc thêm

LUẬT PHÁ SẢN MỚI BAN HÀNH

LUẬT PHÁ SẢN MỚI BAN HÀNH

Luật Phá sản ________________________________________ Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 512001QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10; Luật này quy định về phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã CHƯƠNG I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Luật này quy định điều kiện và việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản; xác định nghĩa vụ về tài sản và các biện pháp bảo toàn tài sản trong thủ tục phá sản; điều kiện, thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh, thủ tục thanh lý tài sản và tuyên bố phá sản; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, của doanh nghiệp, hợp tác xã bị yêu cầu tuyên bố phá sản và của người tham gia giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản. Điều 2. Đối tượng áp dụng 1. Luật này áp dụng đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã (hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã gọi chung là hợp tác xã) được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật. 2. Chính phủ quy định cụ thể danh mục và việc áp dụng Luật này đối với doanh nghiệp đặc biệt trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh; doanh nghiệp, hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm và trong các lĩnh vực khác thường xuyên, trực tiếp cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu. Điều 3. Doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản Doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản. Điều 4. Hiệu lực của Luật phá sản 1. Luật phá sản và các quy định khác của pháp luật được áp dụng khi giải quyết phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác. 2. Trong trường hợp có sự khác nhau giữa quy định của Luật phá sản và quy định của luật khác về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của Luật phá sản. Điều 5. Thủ tục phá sản 1. Thủ tục phá sản được áp dụng đối với doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản bao gồm: a) Nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản; b) Phục hồi hoạt động kinh doanh; c) Thanh lý tài sản, các khoản nợ; d) Tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản. 2. Sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản, căn cứ vào quy định cụ thể của Luật này, Thẩm phán quyết định áp dụng một trong hai thủ tục quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này hoặc quyết định chuyển từ áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh sang áp dụng thủ tục thanh lý tài sản, các khoản nợ hoặc tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản. Điều 6. Giải thích từ ngữ Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau: 1. Chủ nợ có bảo đảm là chủ nợ có khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc của người thứ ba. 2. Chủ nợ có bảo đảm một phần là chủ nợ có khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc của người thứ ba mà giá trị tài sản bảo đảm ít hơn khoản nợ đó. 3. Chủ nợ không có bảo đảm là chủ nợ có khoản nợ không được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc của người thứ ba. 4. Đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã bao gồm đại diện theo pháp luật và đại diện theo uỷ quyền. 5. Hợp đồng song vụ là hợp đồng trong đó các bên tham gia ký kết đều có quyền và nghĩa vụ; quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại. Điều 7. Thẩm quyền của Toà án 1. Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Toà án nhân dân cấp huyện) có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản đối với hợp tác xã đã đăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện đó. 2. Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Toà án nhân dân cấp tỉnh) có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đã đăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh đó. Trong trường hợp cần thiết Toà án nhân dân cấp tỉnh lấy lên để tiến hành thủ tục phá sản đối với hợp tác xã thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân cấp huyện. 3. Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi đặt trụ sở chính của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đó. Điều 8. Nhiệm vụ và quyền hạn của Thẩm phán tiến hành thủ tục phá sản 1. Việc tiến hành thủ tục phá sản tại Toà án nhân dân cấp huyện do một Thẩm phán phụ trách, tại Toà án nhân dân cấp tỉnh do một Thẩm phán hoặc Tổ Thẩm phán gồm có ba Thẩm phán phụ trách. 2. Trong trường hợp Tổ Thẩm phán phụ trách tiến hành thủ tục phá sản thì một Thẩm phán được giao làm Tổ trưởng. Quy chế làm việc của Tổ Thẩm phán do Chánh án Toà án nhân dân tối cao quy định. 3. Thẩm phán hoặc Tổ Thẩm phán (sau đây gọi chung là Thẩm phán) có nhiệm vụ, quyền hạn giám sát, tiến hành thủ tục phá sản. Trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản nếu phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì Thẩm phán cung cấp tài liệu (bản sao) cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp để xem xét việc khởi tố về hình sự và vẫn tiến hành thủ tục phá sản theo quy định của Luật này. 4. Thẩm phán chịu trách nhiệm trước Chánh án và trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Điều 9. Tổ quản lý, thanh lý tài sản 1. Đồng thời với việc ra quyết định mở thủ tục phá sản, Thẩm phán ra quyết định thành lập Tổ quản lý, thanh lý tài sản để làm nhiệm vụ quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản. 2. Thành phần Tổ quản lý, thanh lý tài sản gồm có: a) Một chấp hành viên của cơ quan thi hành án cùng cấp làm Tổ trưởng;
Xem thêm

Đọc thêm

Tiểu luận luật kinh tế: Đặc điểm của một bản hợp đồng kinh tế

Tiểu luận luật kinh tế: Đặc điểm của một bản hợp đồng kinh tế

Ở bất kỳ nền kinh tế nào dù theo cơ chế hành chính bao cấp hay theo cơ chế thị trường thì pháp luật nói chung và Luật kinh tế nói riêng bao giời cũng giữ vai trò quan trọng không thể thiếu được trong việc điều chỉnh các quan hệ kinh tế hay nói cách khác Nhà nước ta sử dụng Luật kinh tế với tư cách là công cụ, là phương tiện quan trọng để quản lý nền kinh tế quốc dân. việc ký kết hợp đồng kinh tế của các doanh nghiệp ngày càng đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng đến việc kinh doanh của các doanh nghiệp. để nghiên cứu vấn đề này thì ta đi sâu về nghiên cứu đặc điểm của một hợp đồng kinh tế, và chứng minh nó qua một hợp đồng cụ thể
Xem thêm

Đọc thêm

QUY HOẠCH CHUNG THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ĐẾN NĂM 2030 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN 2050

QUY HOẠCH CHUNG THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ĐẾN NĂM 2030 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN 2050

PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................... 1 1 Sự cần thiết phải điều chỉnh quy hoạch chung ......................................... 1 1.1 Đồ án quy hoạch chung thành phố Đà Nẵng đến năm 2020 .................... 1 1.2 Những chủ trương, chính sách tác động đến định hướng chiến lược phát triển thành phố ............................................................................................... 1 1.3 Những động lực mới phát triển Thành phố ............................................. 1 2 Các căn cứ thiết kế điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Đà Nẵng đế n năm 2030 ........................................................................................................... 3 3 Phạm vi nghiên cứu .................................................................................... 3 PHẦN THỨ II .................................................................................................. 4 PHÂN TÍCH TỔNG HỢP HIỆN TRẠNG ..................................................... 4 1 Sự cần thiết phải điều chỉnh quy hoạch chung 1.1 Đồ án quy hoạch chung thành phố Đà Nẵng đến năm 2020 Đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 465QĐTTg ngày 1762002, đến nay đã thực hiện hơn 10 năm, theo Luật xây dựng đã đế n thời điể m cần phải được rà soát, đánh giá, điều chỉnh cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội của thành phố và đất nước. Thời hạn điều chỉnh quy hoạch chung lần này được xác định đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050.
Xem thêm

68 Đọc thêm

Luật vận chuyển hàng không quốc tế là một ngành độc lập

Luật vận chuyển hàng không quốc tế là một ngành độc lập

Luật vận chuyển hàng không quốc tế là một ngành luật độc lập Chuyên mục Bài tập học kỳ, Pháp luật vận chuyển hàng không quốc tế Mỗi ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam có vị trí độc lập, có những nét đặc thù rieeng so với những ngành luật khác. Một trong số đó phải kể đến là luật vận chuyển hàng không quốc tế. Đây là một ngành luật độc lập, điều đó được thể hiện ở việc đối tượng điều chỉnh riêng và phương pháp điều chỉnh riêng. Để làm rõ hơn vấn đề này, sau đây em xin được tìm hiểu và phân tích đề tài: “Chứng minh rằng: Luật vận chuyển hàng không quốc tế là một ngành luật độc lập”. B. NỘI DUNG 1.Khái quát về Luật vận chuyển hàng không quốc tế a. Vận chuyển hàng không quốc tế Trước khi tìm hiểu về định nghĩa “Luật vận chuyển hàng không quốc tế” ta cần phải xem xét khái niệm “vận chuyển hàng không quốc tế”. Theo đó: Vận chuyển hàng không: Khái niệm vận chuyển hàng không (theo nghĩa rộng) đã được định nghĩa như sau: “sự tập hợp các yếu tố kinh tế kỹ thuật, nhằm khai thác việc chuyên chở bằng tàu một cách hiệu quả” hay nó còn là “sự di chuyển của tàu bay trong không trung để vận chuyển hành khách, hành lý, hàng hóa, bưu phẩm, bưu điện, thư từ, địa điểm này đến một địa điểm khác”. Vận chuyển quốc tế: là “bất kỳ việc vận chuyển nào, theo hợp đồng ký kết giữa các bên, trong đó nơi xuất phát và nơi đến, có hoặc không có gián đoạn trong vận chuyển hoặc chuyển tải, nằm trong các lãnh thổ của các bên ký kết hoặc trong lãnh thổ của một bên ký kết,….” (Điều 1 Công ước Vácsava 1929). Như vậy, Vận chuyển hàng không quốc tế là hoạt động chuyên chở bằng tàu bay vượt ra khỏi phạm vi một quốc gia, theo đó điểm xuất phát và điểm đến trong lãnh thổ của hai hay nhiều quốc gia, hoặc trong cùng một quốc gia với điều kiện là một điểm dừng trong lãnh thổ của một quốc gia khác. b. Pháp luật vận chuyển hàng không quốc tế Vận chuyển hàng không quốc tế là một trong số các hoạt động hàng không dân dụng nói chung. Nghiên cứu pháp luật vận chuyển hàng không quốc tế chính là nghiên cứu những quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động vận chuyển hàng không quốc tế . Luật vận chuyển hàng không quốc tế là tổng hợp những quy phạm, những nguyên tắc điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình vận chuyển quốc tế người, hành lý, hàng hóa, bưu phẩm, bưu điện, thư (gọi tắt là hành khách và hàng hóa) bằng tàu bay. 2. Luật vận chuyển hàng không quốc tế là một ngành luật có đối tượng điều chỉnh riêng Mỗi ngành luật đều có loại quan hệ xã hội đặc thù thuộc đối tượng điều chỉnh của nó. Chẳng hạn, ngành luật hàng không điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức và thực hiện hoạt động chấp hànhđiều chỉnh của Nhà nước trên các lĩnh vực hành chínhchính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; ngành Luật dân sự điều chỉnh các quan hệ tài sản và nhân thân phi tài sản. Đối tượng điều chỉnh của luật hàng không dân dụng là những quan hệ xã hội hình thành trong hoạt động hàng không dân dụng. Vậy hoạt động hàng không dân dụng bao gồm những hoạt động nào? Đó chính là những hoạt động sử dụng tàu bay vào việc vận chuyển hành khách, hành lí, hàng hóa, buwu kiện, buuw phẩm, thư; sử dụng tàu bay vào phục vụ hoạt động nghiên cứu khoa học, tìm kiếm, cứu nạn, y tế, văn hóa, thể thao… Cũng giống như các ngành luật khác, luật vận chuyển hàng không quốc tế có đối tượng điều chỉnh riêng, đó là những quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình vận chuyển quốc tế người, hành lí, hàng hóa, bưu phẩm, bưu kiện, thư (gọi tắt là hàng hóa và hành khách) bằng tàu bay. Nó bao gồm một số quan hệ cơ bản như: Quan hệ giữa chủ tàu bay, người thuê tàu bay, người khai thác tàu bay với chủ hàng, người gửi hàng, người nhận hàng; Quan hệ giữa tàu bay với cảng hàng không; Các quan hệ nội bộ của các đối tượng trên; Các quan hệ phát sinh trong giải quyết tranh chấp trong vận chuyển hàng không. Các lĩnh vực trên đây có thể nói thuộc các quan hệ dân sự, song tàu bay còn phải chịu sự chi phối bắt buộc về mặt hành chính hay nói cách khác là quản lí hành chính đối với tàu bay như: đăng ký, đăng kiểm, an toàn, an ninh hàng không, các vấn đề liên quan…. đây là một trong những đặc thù quan trọng trong đối tượng điều chỉnh của luật hàng không quốc tế. Đối tượng điều chỉnh của luật hàng không quốc tế là riêng biệt và độc lập với những ngành luật khác. Ví dụ: Luật vận chuyển hàng hải quốc tế có đối tượng điểu chỉnh là các quan hệ xã hội phát sinh từ hoạt động hàng hải quốc tế trong việc sử dụng tàu biển vào việc vận chuyển hàng hóa và hành khách từ cảng biển nước này sang cảng biển nước khác. Tuy cùng là ngành luật liên quan đến vận chuyển quốc tế nhưng có sự khác nhau giữa phương tiện vận chuyển (tàu bay, tàu biển) và môi trường hoạt động (vùng trời, vùng biển) với những quy chế pháp lý khác nhau nên luật pháp điều chỉnh cũng khác nhau. 3. Luật vận chuyển hàng không quốc tế là một ngành luật có phương pháp điều chỉnh riêng Một ngành luật độc lập không chỉ có đối tượng điều chỉnh riêng mà còn bao gồm có phương pháp điều chỉnh riêng. Luật vận chuyển hàng không quốc tế có phương pháp điều chỉnh sau đây: Phương pháp mệnh lệnh phục tùng: Phương pháp mệnh lệnh phục tùng là một trong những phương pháp điều chỉnh chính. Đặc trưng của phương pháp này là nó xác nhận sự bất bình đẳng giữa các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật trong đó một bên có quyền nhân danh nhà nước đặt ra các quy định, mệnh lệnh có giá trị bắt buộc phải thực hiện đối với bên kia, có quyền kiểm tra, giám sát việc thực hiện những quy định, mệnh lệnh đó của bên kia, có quyền xem xét chấp thuận hay không chấp thuận đề nghị của phía bên kia. Phương pháp này được sử dụng để điều chỉnh chủ yếu quan hệ quản lý nhà nước về hàng không dân dụng. Ví dụ: Khoản 2 Điầu 23 Luật hàng không dân dụng 2006 quy định: “Tổ chức được cấp Giấy chứng nhận người khai thác tàu bay khi đáp ứng các điều kiện sau đây: a) Có tổ chức bộ máy khai thác; phương thức điều hành và giám sát khai thác tàu bay phù hợp; b) Có đội ngũ nhân viên được đào tạo và có giấy phép, chứng chỉ phù hợp; c) Có chương trình huấn luyện nghiệp vụ, chương trình bảo dưỡng tàu bay phù hợp với tính chất và quy mô khai thác; d) Có tàu bay, trang bị, thiết bị bảo đảm khai thác an toàn; đ) Có đầy đủ tài liệu hướng dẫn khai thác”. Như vậy, tổ chức muốn được cấp giấy chứng nhận người khai thác tàu bay phải đáp ứng cả 5 điều kiện trên (trừ các trường hợp ngoại lệ do pháp luật quy định), nếu thiếu 1 trong 5 điều kiện trên, cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ không chấp nhận cấp giấy chứng nhận. Tổ chức muốn được cấp giấy chứng nhận người khai thác tàu bay không thể thỏa thuận để được cấp giấy chứng nhận với cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà bắt buộc phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của Nhà nước. Phần lớn các quy định của Luật hàng không dân dụng Việt Nam hiện hành đều áp dụng phương pháp điều chỉnh này. Phương pháp bình đẳng – thỏa thuận: Phương pháp này có đặc trưng là xác nhận sự độc lập và bình đẳng giữa các bên chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật, các bên có quyền tự định đoạt việc tham gia hay không tham gia vào quan hệ, có quyền thỏa thuận một cách bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên cũng như cách thức thực hiện và các biện pháp bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụ ấy. Phương pháp này được dùng chủ yếu để điều chỉnh các quan hệ về hợp đồng vận chuyển hành khách và hàng hóa bằng đường hàng không. Ví dụ: Điều 143 Luật hàng không dân dụng Việt Nam hiện hành quy định về Hợp đồng vận chuyển hành khách, hành lý: 1. Hợp đồng vận chuyển hành khách, hành lý bằng đường hàng không là sự thoả thuận giữa người vận chuyển và hành khách, theo đó người vận chuyển chuyên chở hành khách, hành lý đến địa điểm đến và hành khách phải thanh toán cước phí vận chuyển... Phương pháp bình đẳng thỏa thuận theo Điều 143 Luật hàng không dân dụng Việt Nam nêu ở ví dụ trên thể hiện sự điều chỉnh bằng phương pháp bình đẳng, thỏa thuận đó là sự bình đẳng thỏa thuận giữa người vận chuyển hành khách và hành khách, hành khách có quyền thỏa thuận có tham gia giao kết hợp đồng vận chuyển hành khách, chấp nhận sự thỏa thuận về các điều khoản hợp đồng. Ngoài hai phương pháp điều chỉnh chủ yếu nêu trên, luật vận chuyển hàng không quốc tế còn sử dụng các phương pháp điều chỉnh khác như: phương pháp cấm đoán, phương pháp bắt buộc, phương pháp cho phép,... C. KẾT LUẬN Tóm lại, luật vận chuyển hàng không quốc tế là một ngành luật độc lập, nó góp phần làm phong phú thêm hệ thống pháp luật Việt Nam ở chính đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh độc đáo, đặc thù của mình.
Xem thêm

Đọc thêm

QUAN HỆ LAO ĐỘNG ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU CHỈNHCỦA LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM

QUAN HỆ LAO ĐỘNG ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU CHỈNHCỦA LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM

nhiều sức lao động còn người lao động muốn làm ít mà hưởng lương nhiều.Quan hệ làm công ăn lương là quan hệ phổ biến và cơ bản trong điều kiện của nềnkinh tế. Quan hệ lao động này có mặt ở khắp mọi nơi và là hình thức huy động laođộng lớn nhất, do đó nó thường có mặt ở khu vực doanh nghiệp nhiều nhất.Về mặt hình thức, các quan hệ lao động này phát sinh trên cơ sở hợp đồng lao động.Cụ thể đối tượng điều chỉnh của luật lao động bao gồm quan hệ lao động theo hợpđồng lao động giữa người lao động với cơ quan, doanh nghiệp nhà nước, các tổchức chính trị, tỏ chức xã hội-nghề nghiệp, các hợp tác xã; các doanh nghiệp có vốnđầu tư nước ngoài; các cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức phi chính phủ hoặc tổchức quốc tế tại Việt Nam; các gia đình, cá nhân sử dụng lao động ở Việt Nam.Trong đó, các quan hệ lao động có yếu tố nước ngoài (bao gồm cả quan hệ lao độngcủa người nước ngoài làm việc cho các tổ chức, cá nhân được phép sử dụng laođộng nước ngoài tại Việt Nam) còn có thể là đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốctế. Song, nếu không thuộc trường hợp mà các điều ước quốc tế Việt Nam là một bênkí kết hoặc tham gia có qui định khác thì quan hệ lao động này sẽ do Điều 3 Bộ luậtlao động Việt Nam điều chỉnh.Đối với các quan hệ lao động nêu trên, các chủ thể phải tuân theo các quy định củaluật lao động trong tất cả các khâu, các giai đoạn của quan hệ đó như: thiết lập quanhệ (giao kết hợp đồng lao động), thực hiện quan hệ, chấm dứt quan hệ và giải quyếttranh chấp phát sinh. Các quan hệ như quan hệ giữa các xã viên với hợp tác xã,quan hệ gia công, quan hệ lao động của công chức, viên chức với Nhà nước… đềukhông thuộc diện điều chỉnh của Luật lao động vì thực tế chúng không phải quan hệlao động, không có yếu tố sử dụng lao động (không có sự thỏa thuận về mức lươnggiữa các bên chủ thể). Tuy nhiên, trên thực tế có những quan hệ thuê mướn thựchiện công việc nhưng không dễ kết luận ngay rằng ở đó có sự sử dụng sức lao độngnhư quan hệ lao động hay đó chỉ là quan hệ dịch vụ theo hình thức thuê khoán dânsự. Chẳng hạn, công ty nhà nước A vì tạm thời thiếu nhân viên kế toán đã kí hợpđồng lao động với chị B trong thời gian 5 ngày, thỏa thuận mức lương là 1.5 triệu 1
Xem thêm

3 Đọc thêm

Đối tượng điều chỉnh của luật lao động Việt Nam

Đối tượng điều chỉnh của luật lao động Việt Nam

đối tượng điều chỉnh của luật lao động Việt Nam Bài tập cá nhân môn Luật Lao Động Chuyên mục Bài tập cá nhân, Luật Lao động Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội. Lao động có năng suất, chất lượng cao là yếu tố quyết định của đất nước. Do vậy cần có những quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các vấn đề có liên quan trong quá trình sử dụng sức lao động của người lao động. Bài viết của em xin trình bày vấn đề: “ Quan hệ lao động đối tượng điều chỉnh của luật lao động Việt Nam.” NỘI DUNG I. Đối tượng điều chỉnh của luật lao động Việt Nam. Đối tượng điều chỉnh của một ngành luật là những nhóm quan hệ xã hội cùng loại có cùng tính chất cơ bản giống nhau được các quy phạm của ngành luật ấy điều chỉnh. Căn cứ theo Điều 1, Bộ luật lao động có quy định: “ Bộ luật lao động điều chỉnh quan hệ lao động giữa NLĐ làm công ăn lương và NSDLĐ…”. Vì thế, đặc điểm cơ bản có tính quyết định để nhận diện đối tượng điều chỉnh của luật lao động Việt Nam cũng như là tư cách tham gia quan hệ của các chủ thể và sự phụ thuộc của NLĐ trong quan hệ lao động. Đối tượng điều chỉnh của luật lao động là mối quan hệ xã hội phát sinh giữa một bên là người lao động làm công ăn lương với một bên là cá nhân hoặc tổ chức sử dụng, thuê mướn có trả công cho người lao động (gọi là quan hệ lao động) và các quan hệ khác có liên quan phát sinh trong quá trình sử dụng lao động( quan hệ liên quan đến quan hệ lao động). Như vậy, đối tượng điều chỉnh của luật lao động bao gồm hai nhóm quan hệ xã hội: quan hệ lao động và quan hệ liên quan đến quan hệ lao động. Tuy nhiên do đề bài yêu cầu, em xin đi sâu vào phân tích quan hệ lao động – đối tượng điều chỉnh của luật lao động Việt Nam. II. Quan hệ lao động – đối tượng điều chỉnh của luật lao động Việt Nam. 1. Khái niệm quan hệ lao động. Theo nghĩa rộng, QHLĐ được hiểu là quan hệ giữa con người với con người hình thành trong lao động. Trong lao động, giữa con người với con người hình thành quan hệ sở hữu về tư liệu, phương tiện sản xuất, quan hệ tổ chức quản lí sản xuất và tổ chức quản lí lao động cũng như quan hệ phân phối sản phẩm sau quá trình lao động, hiểu theo cách hiểu này thì nhìn chung mỗi một phương thức sản xuất có một loại quan hệ lao động tiêu biểu thích ứng với nó. Trong nền kinh tế thị trường ở thời hiện đại, các quan hệ liên quan đến việc sử dụng lao động rất phong phú như QHLĐ trong các hợp tác xã, trong hợp đồng khoán việc, trong các doanh nghiệp… Mỗi loại QHLĐ này lại có những đặc điểm, thuộc tính riêng. Dù muốn luật lao động điều chỉnh cũng không thể điều chỉnh tất cả các QHLĐ theo nghĩa rộng này được. Vì vậy, theo tinh thần của Luật lao động, chúng ta nên hiểu khái niệm QHLĐ theo nghĩa hẹp. Theo nghĩa hẹp, QHLĐ là quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động trong quá trình lao động. Trong quan hệ này một bên tham gia với tư cách của NLĐ, có nghĩa vụ phải thực hiện theo yêu cầu của bên kia và có quyền nhận thù lao từ công việc đó. Bên thứ hai là NSDLĐ, có quyền sử dụng sức lao động của NLĐ và có nghĩa vụ phải trả thù lao về việc sử dụng sức lao động của NLĐ. NSDLĐ là cá nhân hoặc tổ chức có vốn đầu tư, trang thiết bị kĩ thuật, nhu cầu sử dụng lao động NLĐ là cá nhân, không có vốn, dung sức lao động của mình để nuôi sống bản thân và gia đình. NLĐ có nhu cầu, mong muốn bán được sức lao động với giá cao, có môi trường làm việc tốt để chuyển giao sức lao động cho NSDLĐ một cách thuận lợi. Còn đối tác của NLĐ là NSDLĐ cũng” hướng tới” sức lao động, tức là sử dụng sức lao động của NLĐ vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận. Như vậy, giữa NLĐ và NSDLĐ hình thành nên quan hệ lao động mà mỗi bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với nhau. 2. Đặc điểm của quan hệ lao động. a. Trong quan hệ lao động, người lao động luôn phụ thuộc vào người sử dụng lao động. Sự phụ thuộc này thể hiện ở nhiều mức độ khác nhau trong mỗi hình thái kinh tế xã hội nhưng nó tồn tại trong tất cả các giai đoạn phát triển. Thứ nhất, sự phụ thuộc của NLĐ vào NSDLĐ về mặt pháp lí. NSDLĐ có quyền tổ chức, quản lí quá trình lao động của NLĐ và NLĐ phải tuân thủ. Điều đó xuất phát từ những lí do sau: NSDLĐ có quyền sở hữu tài sản mà các yếu tô cấu thành nên quan hệ sản xuất luôn chịu sự chi phối của quan hệ sở hữu; NSDLĐ bỏ tiền ra mua sức lao động của NLĐ, muốn sư dụng sức lao động đó một cách hiệu quả nhất buộc NSDLĐ phải quản lí cho hợp lí, không để bị lãng phí; Do mục tiêu sinh lợi nhuận, năng suất, hiệu quả, chất lượng trong kinh doanh. Tuy NLĐ phụ thuộc vào NSDLĐ nhưng pháp luật quy định hai bên được tự do thỏa thuận trên cơ sở hợp đồng lao động. Thứ hai, về mặt lợi ích kinh tế, giữa NLĐ và NSDLĐ vừa có mâu thuẫn, vừa có thống nhất phụ thuộc vào nhau. Trong QHLĐ, NSDLĐ có quyền quy định cơ chế phân phối trong đơn vị, có quyền quyết định các mức lương đối với từng vị trí công việc, có nghĩa vụ trả lương cho NLĐ….NSDLĐ luôn muốn giảm tới mức thấp nhất các khoản chi phí. b. Quan hệ lao động chứa đựng đồng bộ các yếu tố kinh tế và xã hội. QHLĐ không chỉ liên quan đến việc làm, giải quyết việc làm, hạn chế thất nghiệp. bảo đảm đời sống NLĐ, an toàn lao động,… mà còn liên quan đến đầu tư nguồn nhân lực, thu nhập, thu hút đầu tư, tăng trưởng và phát triển kinh tế. Trên cơ sở những đặc điểm này nhà nước phải có định hướng điều chỉnh phù hợp, giả quyết đồng bộ các vấn đề kinh tế xã hội đặt ra trong quá trình sử dụng lao động. 3. Các loại quan hệ lao động. a. Quan hệ làm công ăn lương giữa NLĐ và NSDLĐ QHLĐ giữa người làm công ăn lương và NSDLĐ được xác lập trên cơ sở hợp đồng lao động. Xét về bản chất đó là sự thỏa thuận giữa các bên theo quy định của pháp luật. Tóm lại, quan hệ làm công ăn lương giữa NLĐ và NSDLĐ là đối tượng điều chỉnh chủ yếu nhất của luật lao động, bờ vì xuất phát từ yêu cầu của nền kinh tế thị trường, nhu cầu của các bên tham gia QHLĐ b. Các quan hệ lao động khác. Là quan hệ giữa NLĐ và NSDLĐ nhưng không xác lập trên hợp đồng lao động mà xác lập bằng các hình thức khác như: biên chế, bầu cử…. Những quan hệ này luật lao động chỉ điều chỉnh một phần chứ không điều chỉnh toàn bộ. KẾT LUẬN Luật lao động có vai trò quan trọng trong việc thực hiện và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân trong lĩnh vực lao động. Việc xác đinh đối tượng điều chỉnh chủ yếu của các quan hệ lao động làm công ăn lương, luật lao động đã thúc đẩy sự phát triển quan hệ lao động tiêu biểu và phổ biến của nền kinh tế thị trường theo xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Xem thêm

Đọc thêm

Thong tu Số: 302014TTBTNMT Hà Nội, ngày 02 tháng 6 năm 2014 Quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất

Thong tu Số: 302014TTBTNMT Hà Nội, ngày 02 tháng 6 năm 2014 Quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất

THÔNG TƯ Quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất Căn cứ Luật Đất đai ngày 29 tháng 11 năm 2013; Căn cứ Nghị định số 432014NĐCP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai; Căn cứ Nghị định số 212013NĐCP ngày 04 tháng 3 năm 2013 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường; Theo đề nghị của Tổng cục trưởng Tổng cục Quản lý đất đai và Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông tư quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất. Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Thông tư này quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất. Điều 2. Đối tượng áp dụng Thông tư này áp dụng đối với cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan chuyên môn về tài nguyên và môi trường; tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước; cơ sở tôn giáo; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc thực hiện giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử
Xem thêm

Đọc thêm

Hoàn thiện công tác quản lý thuế Giá trị gia tăng đối với Doanh nghiệp tại Cục thuế tỉnh Tiền Giang

Hoàn thiện công tác quản lý thuế Giá trị gia tăng đối với Doanh nghiệp tại Cục thuế tỉnh Tiền Giang

Thuế giá trị gia tăng (GTGT) ra đời nhằm phần thúc đẩy sản xuất, mở rộng lưu thông hàng hoá và dịch vụ, khuyến khích phát triển nền kinh tế quốc dân, động viên một phần thu nhập của người tiêu dùng vào ngân sách Nhà nước, Luật thuế GTGT được Quốc hội khoá IX thông qua tại kỳ họp thứ 11(từ ngày 02 tháng 4 năm 1997 đến ngày 10 tháng 5 năm 1997), có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 1 năm 1999. Sau gần 15 năm thực hiện, Luật thuế GTGT đã đi vào cuộc sống, phát huy tác dụng tích cực trên các mặt của đời sống kinh tế xã hội như: khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh; khuyến khích xuất khẩu và đầu tư; thúc đẩy hạch toán kinh doanh của các Doanh nghiệp; tạo nguồn thu lớn và ổn định cho NSNN; tạo điều kiện cho Việt Nam tham gia hội nhập quốc tế; góp phần tăng cường quản lý hoạt động SXKD của Doanh nghiệp nói chung và quản lý thuế nói riêng.Trong suốt quá trình thực hiện, Luật thuế GTGT đã được UBTVQH, Chính phủ, Bộ tài chính sửa đổi, bổ sung một số quy định nhằm khắc phục những tồn tại, đảm bảo Luật thuế GTGT phù hợp với thực tiễn của Việt Nam, tuy nhiên vẫn còn những vướng mắc cần điều chỉnh. Chính vì vậy, tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khoá XI (từ ngày 03 tháng 5 năm 2003 đến ngày 18 tháng 6 năm 2003) đã thông qua luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 1 năm 2004. Gần đây nhất, ngày 19 tháng 6 năm 2013, Quốc Hội đã thông qua Luật số 312013 QH13 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT. Luật thuế GTGT sửa đổi, bổ sung lần này có một số nội dung sửa đổi, bổ sung đáng chú ý. Luật này có hiệu lực thi hành từ 01012014.Bên cạnh những mặt tích cực đã đạt được, Luật thuế GTGT cũng đã bộc lộ nhiều hạn chế và bất cập như hệ thống thuế chưa đồng bộ và thường xuyên được chỉnh sửa đã tạo nhiều kẽ hở cho các đối tượng chịu thuế có cơ hội luồn lách, trốn lậu thuế, nảy sinh nghi ngờ cho đối tượng chịu thuế về chính sách của Nhà nước, là nguyên nhân gây thất thoát một phần lớn NSNN. Những kẻ hở, bất cấp của thuế GTGT cần phải có những biện pháp khắc phục để thuế GTGT phát huy hết vai trò của nó trong việc tạo lập nguồn thu cho NSNN và thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển cũng như trên các mặt của đời sống kinh tế xã hội.Trong các loại hình Doanh nghiệp theo luật Doanh nghiệp 2005 thì vấn đề quản lý thu thuế GTGT đối với các Doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Tiền Giang luôn là vấn đề nan giải nhất, còn nhiều vấn đề bất cập cần phải khắc phục. Xuất phát từ thực trạng nêu trên đã thôi thúc tác giả chọn đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý thuế Giá trị gia tăng đối với Doanh nghiệp tại Cục thuế tỉnh Tiền Giang” làm luận văn Thạc sỹ kinh tế của mình.
Xem thêm

Đọc thêm

Cùng chủ đề