CÓ THỂ ĐẶT RA NHỮNG YÊU CẦU KHÁC

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "CÓ THỂ ĐẶT RA NHỮNG YÊU CẦU KHÁC":

Thiết kế MÔ HÌNH HÓA VÀ MÔ PHỎNG HỆ THỐNG Robot được điều khiển từ xa

THIẾT KẾ MÔ HÌNH HÓA VÀ MÔ PHỎNG HỆ THỐNG ROBOT ĐƯỢC ĐIỀU KHIỂN TỪ XA

1.2 Các vấn đề đặt ra Robot được điều khiển từ xa, khả năng mở rộng nhiều. Giá thành vật liệu thấp nhưng vẫn phải đảm bảo chất lượng. Vì robot được điều khiển từ xa(RF) nên khả năng bị nhiễu sóng, phải hạn chế sự nhiễu sóng đó. Tăng tính cơ động cho robot trong nhiều trường hợp có thể cải tiến thêm để tăng sự thích nghi với yêu cầu đặt ra Robot phải cân đối được điều khiển dễ dàng, đòi hỏi thiết kế hệ thống cơ khi phải chính xác, đồng đều.
Xem thêm

29 Đọc thêm

CHUYÊN ĐỀ TÂM LÍ HỌC

CHUYÊN ĐỀ TÂM LÍ HỌC

Câu 6. Cảm giác LỜI MỞ ĐẦU Trong cuộc sống thường ngày con người luôn bị tác động bởi các sự vật, hiện tượng vô cùng đa dạng và phong phú. Các sự vật, hiện tượng bằng các thuộc tính của mình như màu sắc, âm thanh, hình dáng, khối lượng, tính chất….tác động vào nhận thức của con người, từ đó đầu óc của con người có được hình ảnh về các thuộc tính của sự vật, hiện tượng. Mà như chúng ta đã biết nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lí con người (nhận thức, tình cảm và hành động). Nó quan hệ chặt chẻ với các mặt kia, nhưng không ngang hàng về nguyên tắc. Nó cũng có quan hệ mật thiết với các hiện tượng tâm lí khác của con người. Nhận thức là một quá trình. Ở con người quá trình này thường gắn liền với mục đích nhất định nên nhận thức của con người là một hoat động. Đặc trưng nổi bật nhất của hoạt động nhận thức là phản ánh hiện thực khách quan. Hoạt động này bao gồm nhiều quá trình khác nhau, thể hiện những mức độ phản ánh hiện thực khác nhau (cảm giác, tri giác, tư duy, trừu tượng…) và mang lại những sản phẩm khác nhau về hiện tượng khách quan (hình ảnh, hình tượng, biểu tượng, khái niệm). Ở đây chúng ta tìm hiểu quá trình phản ánh một cách riêng lẻ từng thuộc tính, bề ngoài của sự vật ,hiện tượng đang tác động vào các giác quan của con người, như vậy gọi là cảm giác.Vậy chúng ta đặt ra câu hỏi cảm giác là gì? Cảm giác có những đặc điểm và vai trò gì? Chúng ta cùng đi sâu tìm hiểu nhé. I. KHÁI NIỆM CẢM GIÁC Để tồn tại trong cuộc sống này con người phải chịu sự tác động của vô vàn các sự vật, hiện tượng xung quanh. VD: Khi bước ra ngoài đường ta có thể lắng nghe được tiếng xe cộ chạy ồn ào, nhìn thấy mọi vật đang chuyển động và cũng có thể cảm nhận được thế giói xung quanh ta đang ngày càng có những sự thay đổi mới. Vậy nhờ đâu mà chúng ta có thể làm được điều đó?Điều đó đặt ra cho chúng ta một câu hỏi lớn và chúng ta có thể tạm trả lời rằng đó là nhờ cảm giác. Mọi sự vật hiện tượng xung quanh ta tất cả đều được bộ nảo phản ánh lại nhờ vào cảm giác. Nhưng bộ não chúng ta chỉ mới phản ánh được từng thuộc tính bề ngoài của sự vật nhờ vào cảm giác. VD: Ta đặt vào lòng bàn tay xoè ra của người bạn một vật bất kì với yêu cầu trước đó người bạn phải nhắm mắt, bàn tay không được nắm hay sờ bóp thì chắc chắn người bạn không biết đích xác đó là vật gì, mà chỉ có thể biết đươc vậ
Xem thêm

28 Đọc thêm

Đề thi thử THPT Quốc gia môn Văn 2015 THPT chuyên Hoàng Lê Kha

ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA MÔN VĂN 2015 THPT CHUYÊN HOÀNG LÊ KHA

TRƯỜNG THPT CHUYÊN HOÀNG LÊ KHA ĐỀ THI THỬ QUỐC GIA NĂM 2015 MÔN: NGỮ VĂN Phần 1. Đọc – hiểu (3.0 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi từ câu 1 đến câu 4 Con đê dài hun hút như cuộc đời. Ngày về thăm ngoại, trời chợt nắng, chợt râm. Mẹ bảo: - Nhà ngoại ở cuối con đê. Trên đê chỉ có mẹ, có con. Lúc nắng mẹ kéo tay con: - Đi nhanh lên kẻo nắng vỡ đầu ra. Con cố. Lúc râm con đi chậm, mẹ mắng: - Đang lúc mát trời, nhanh lên kẻo nắng bây giờ! Con ngỡ ngàng: Sao nắng, sao râm đều phải vội? Trời vẫn nắng vẫn râm… Mộ mẹ cỏ xanh, con mới hiểu: Đời, lúc nào cũng phải nhanh lên.                                                   (Theo vinhvien.edu.vn) Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của văn bản trên? Câu 2. “Trên đê chỉ có mẹ, có con. Lúc nắng mẹ kéo tay con: - Đi nhanh lên kẻo nắng vỡ đầu ra.” Xác định biện pháp tu từ và hiệu quả nghệ thuật của việc sử dụng biện pháp đó? Câu 3. Nêu nội dung chính của văn bản trên? Câu 4. Viết một đoạn văn ngắn (từ 3 đến 5 câu) về bài học mà anh/ chị rút ra từ văn bản trên?  Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi từ câu 5 đến câu 7 Cuối năm nay, Cộng đồng kinh tế ASEAN sẽ chính thức được thành lập, theo đó các quốc gia thành viên phải thực hiện cam kết về tự do luân chuyển lao động. Việc lưu chuyển lao động trong khu vực là một yêu cầu tất yếu để tạo điều kiện thúc đẩy cho quá trình hợp tác và lưu thông thương mại giữa các nước. Như vậy, trong một cộng đồng gồm 660 triệu dân, các nhân sự có chuyên môn cao có thể tự do luân chuyển công việc từ quốc gia này tới bất kỳ quốc gia nào khác trong khối. Đây vừa tạo ra cơ hội lớn nhưng cũng đặt ra không ít thách thức cho lực lượng lao động Việt Nam trong công cuộc cạnh tranh khắc nghiệt với lao động trong khu vực. (Báo Giáo Dục và Thời Đại, số 86, ngày 10/04/2015) Câu 5. Xác định thao tác lập luận chủ yếu? Câu 6. Văn bản nói về vấn đề gì? Câu 7. Theo anh/ chị cơ hội và thách thức đối với lực lượng lao động Việt Nam là gì? Phần 2. Làm văn (7.0 điểm) Câu 1.(3.0 điểm) “Người tinh thần mạnh dù đau khổ vẫn không hề phàn nàn, còn kẻ tinh thần yếu thì phàn nàn dù không hề đau khổ” (Ngạn ngữ Nhật Bản). Anh/chị hãy viết bài văn bày tỏ quan điểm của mình về nội dung của ngạn ngữ trên. Câu 2. (4.0 điểm) Từ “Tuyên ngôn độc lập” (Hồ Chí Minh), anh/chị có suy nghĩ gì về độc lập, tự do trong thời đại ngày nay đối với dân tộc và mỗi cá nhân. -> Xem và tải 50 đề thi thử thpt quốc gia môn Văn của các trường THPT chuyên trên cả nước và các Sở khác (Tải cả đề và lời giải): Xem nhanh    Đáp án đề thi thử THPT Quốc gia môn Văn 2015 THPT chuyên Hoàng Lê Kha Phần 1. Đọc – hiểu (3.0 điểm)  Câu 1. Phương thức biểu đạt chính của văn bản: phương thức biểu cảm/ biểu cảm. - Điểm 0.25: trả lời đúng theo một trong hai cách trên. - Điểm 0: trả lời sai hoặc không trả lời. Câu 2. Xác định biện pháp tu từ: biện pháp nói quá/cường điệu/thậm xưng. - Điểm 0.25: trả lời đúng theo một trong ba cách trên. - Điểm 0: trả lời sai hoặc không trả lời. Hiệu quả nghệ thuật: nắng vỡ đầu ra làm tăng sức gợi hình, gây ấn tượng về cái nắng gay gắt. - Điểm 0.25: diễn đạt được nội dung trên có thể theo nhiều cách khác nhau. - Điểm 0: trả lời sai hoặc không trả lời. Câu 3. Nội dung chính của văn bản: Những khó khăn, thử thách khắc nghiệt trong cuộc đời và những cơ hội, thuận lợi đến với mỗi người trong cuộc sống. - Điểm 0.25: diễn đạt được nội dung trên có thể theo nhiều cách khác nhau. - Điểm 0: trả lời sai hoặc không trả lời. Câu 4. Bài học mà người con rút ra: Cần phải biết vượt qua những khó khăn, thử thách khắc nghiệt trong cuộc đời, đồng thời phải biết nắm bắt và tận dụng cơ hội để đạt đến đích. - Điểm 0.5: diễn đạt được nội dung trên có thể theo nhiều cách khác nhau. - Điểm 0: trả lời sai hoặc không trả lời. Câu 5. Thao tác lập luận chủ yếu: thao tác lập luận phân tích/thao tác phân tích/phân tích - Điểm 0.5: trả lời đúng theo một trong ba cách trên. - Điểm 0: trả lời sai hoặc không trả lời. Câu 6. + Cộng đồng kinh tế ASEAN sẽ chính thức được thành lập vào cuối năm 2015 và việc cam kết thực hiện tự do luân chuyển lao động trong khối. + Đây vừa là cơ hội lớn, cũng vừa là thách thức lớn cho lực lượng lao động Việt Nam. - Điểm 0.5: diễn đạt được hai nội dung trên có thể theo nhiều cách khác nhau. - Điểm 0.25: diễn đạt được một nội dung trên có thể theo nhiều cách khác nhau. - Điểm 0: trả lời sai hoặc không trả lời. Câu 7. + Cơ hội đối với lực lượng lao động Việt Nam: Có cơ hội tự do lao động ở nhiều nước trong khu vực. + Thách thức đối với lực lượng lao động Việt Nam: Trong quá trình hội nhập, đòi hỏi cần phải có trình độ chuyên môn và khả năng ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu công việc. - Điểm 0.5: diễn đạt được hai nội dung trên có thể theo nhiều cách khác nhau. - Điểm 0.25: diễn đạt được một nội dung trên có thể theo nhiều cách khác nhau. - Điểm 0: trả lời sai hoặc không trả lời. Phần 2. Làm văn (7.0 điểm) Câu 1. (3.0 điểm) * Yêu cầu chung: Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng về dạng bài nghị luận xã hội để tạo lập văn bản. Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp. * Yêu cầu cụ thể: a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận (0.5 điểm): - Điểm 0.5: Trình bày đầy đủ các phần Mở bài, Thân bài, Kết luận. Phần Mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết bài khái quát được vấn đề và thể hiện được nhận thức của cá nhân. - Điểm 0.25: Trình bày đầy đủ ba phần Mở bài, Thân bài, Kết luận, nhưng các phần chưa thể hiện được đầy đủ yêu cầu như trên; phần Thân bài chỉ có 1 đoạn văn. - Điểm 0: Thiếu Mở bài hoặc Kết luận, Thân bài chỉ có 1 đoạn văn hoặc cả bài viết chỉ có 1 đoạn văn. b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0.5 điểm): - Điểm 0.5: Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Ý nghĩa của ý chí, nghị lực và khát vọng phấn đấu trong cuộc sống của mỗi con người. - Điểm 0.25: Xác định chưa rõ vấn đề cần nghị luận, nêu chung chung. - Điểm 0: Xác định sai vấn đề cần nghị luận, trình bày lạc sang vấn đề khác. c. Chia vấn đề cần nghị luận thành các luận điểm phù hợp; các luận điểm được triển khai theo trình tự hợp lí, có sự liên kết chặt chẽ; sử dụng tốt các thao tác lập luận để triển khai các luận điểm (trong đó phải có thao tác giải thích, chứng minh, bình luận); biết kết hợp giữa nêu lí lẽ và đưa dẫn chứng; dẫn chứng phải lấy từ thực tiễn đời sống, cụ thể và sinh động (1.0 điểm): Điểm 1.0: Đảm bảo các yêu cầu trên; có thể trình bày theo định hướng sau: + Giải thích: “tinh thần mạnh” là có ý chí, nghị lực và luôn có khát vọng vươn lên; còn “tinh thần yếu” thì ngược lại. + Bình luận và chứng minh tính đúng đắn của vấn đề: “người có tinh thần mạnh” thì dù gặp đau khổ, bất hạnh, thất bại trong cuộc sống vẫn không hề phàn nàn, than thở, bi quan, mà luôn biết tiếp tục nỗ lực phấn đấu; còn “kẻ tinh thần yếu” thì dễ bi quan, chán nản, thậm chí tuyệt vọng mỗi khi gặp bất hạnh, thất bại, đau khổ trong cuộc sống, từ đó nhụt chí phấn đấu, dễ buông xuôi số phận… + Rút ra bài học cho bản thân. - Điểm 0.75: Cơ bản đáp ứng được các yêu cầu trên, song một trong các luận điểm (giải thích, chứng minh, bình luận) còn chưa đầy đủ hoặc liên kết chưa thật chặt chẽ. - Điểm 0.5: Đáp ứng 1/2 đến 2/3 các yêu cầu trên. - Điểm 0.25: Đáp ứng được 1/3 các yêu cầu trên. - Điểm 0: Không đáp ứng được bất kì yêu cầu nào trong các yêu cầu trên. d. Sáng tạo (0.5 điểm) - Điểm 0.5: Có nhiều cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo (viết câu, sử dụng từ ngữ, hình ảnh và các yếu tố biểu cảm); thể hiện được quan điểm và thái độ riêng, sâu sắc nhưng không trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật. - Điểm 0.25: Có một số cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo; thể hiện được một số suy nghĩ riêng sâu sắc nhưng không trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật. - Điểm 0: Không có cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo; không có quan điểm và thái độ riêng hoặc quan điểm, thái độ trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật. e. Chính tả, dùng từ, đặt câu (0.5 điểm): - Điểm 05: Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu. - Điểm 0.25: Mắc một số lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu. - Điểm 0: Mắc nhiều lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu. Câu 2. (4.0 điểm) * Yêu cầu chung: thí sinh biết vận dụng kiến thức và kỹ năng vào bài văn nghị luận văn học để tạo lập văn bản. Bài viết có bố cục đầy đủ, luận điểm rõ ràng, luận cứ- luận chứng chính xác, diễn đạt tốt, đảm bảo tính liên kết- có sức thuyết phục, không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp. * Yêu cầu cụ thể: a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận (0.5 điểm): - Điểm 0.5: Trình bày đầy đủ 3 phần của bài văn nghị luận. Phần mở bài biết dẫn dắc hợp lý và nêu được vấn đề nghị luận; phần thân bài được tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau để làm sáng tỏ vấn đề nghị luận; phần kết bài khái quát được vấn đề và liên hệ sâu sắc… - Điểm 0.25: Trình bày đầy đủ ba phần Mở bài, Thân bài, Kết luận, nhưng các phần chưa thể hiện được đầy đủ yêu cầu trên; phần Thân bài chỉ có 1 đoạn văn. - Điểm 0: Thiếu Mở bài hoặc Kết luận, Thân bài chỉ có 1 đoạn văn hoặc cả bài viết chỉ có 1 đoạn văn. b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0.5 điểm): - Điểm 0.5: Vấn đề cần nghị luận là: Từ Tuyên ngôn độc lập (Hồ Chí Minh), suy nghĩ về độc lập - tự do trong thời đại ngày nay đối với dân tộc và mỗi cá nhân: + Khái quát được những nội dung chính của bản tuyên ngôn trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể. + Trình bày những suy nghĩ về độc lập- tự do trong thời đại ngày nay… - Điểm 0.25: Xác định chưa rõ vấn đề cần nghị luận, chỉ nêu chung chung. - Điểm 0: Xác định sai vấn đề cần nghị luận, trình bày lạc sang vấn đề khác. c. Chia vấn đề nghị luận thành các luận điểm phù hợp; các luận điểm triển khai theo trình tự hợp lý, có sự liên kết chặt chẽ; sử dụng tốt các thao tác lập luận để triển khai luận điểm; biết kết hợp giữa nêu lý lẽ và dẫn chứng (2.0 điểm): - Điểm 2.0: đảm bảo các yêu cầu trên; có thể trình bày theo định hướng sau: + Giới thiệu về tác giả, tác phẩm. + Khái quát những nội dung chính của bản tuyên ngôn (Các luận điểm chính của bản tuyên ngôn) trong hoàn cảnh lịch sử- Cách mạng tháng Tám:  Hoàn cảnh lịch sử: Cách mạng tháng Tám thành công, thực dân Pháp lâm le trở lại Việt Nam…  Các luận điểm chính của bản tuyên ngôn: nêu nguyên tắc về quyền bình đẳng giữa các dân tộc, tố cáo tội ác thực dân trong 80 năm qua - phủ nhận quyền của Pháp đối với Việt Nam, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và thể hiện quyết tâm bảo vệ nền độc lập. + Suy nghĩ về độc lập- tự do trong thời đại ngày nay (Trong mỗi giai đoạn lịch sử, độc lập- tự do có ý nghĩa khác nhau):  Thời đại ngày nay- xu thế hội nhập, toàn cầu hóa (Xu thế không thể đảo ngược).  Độc lập- tự do thể hiện trên nhiều lĩnh vực khác nhau: bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ- biên giới hải đảo; độc lập về kinh tế- không phụ thuộc vào các nước khác trên tinh thần hợp tác; về văn hóa: chúng ta “Hòa nhập” nhưng không “Hòa tan”, khẳng định .vị thế, bản sắc văn hóa dân tộc trên trường quốc tế…  Với mỗi cá nhân: suy nghĩ, hành động luôn trên tinh thần của công dân nước Việt Nam độc lập- tự hào dân tộc. Trong đời sống cá nhân, độc lập - tự do có ý nghĩa hết sức lớn lao khi ta thực sự sống là chính mình. - Điểm 15 - 1.75: Cơ bản đáp ứng được các yêu cầu trên, song một trong các luận điểm còn chưa được trình bày đầy đủ hoặc liên kết chưa thực sự chặt chẽ. - Điểm 1.0 -1.25: Đáp ứng 1/2 đến 2/3 các yêu cầu trên. - Điểm 0.5 - 0.75: Đáp ứng được 1/3 các yêu cầu trên. - Điểm 0.25: Hầu như không đáp ứng được yêu cầu nào trong các yêu cầu trên. - Điểm 0: Không đáp ứng được bất kì yêu cầu nào trong các yêu cầu trên. d. Sáng tạo (0.5 điểm) - Điểm 0.5: Có nhiều cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo (viết câu, sử dụng từ ngữ, hình ảnh và các yếu tố biểu cảm,...) ; văn viết giàu cảm xúc; thể hiện khả năng cảm thụ văn học tốt; có quan điểm và thái độ riêng sâu sắc nhưng không trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật. - Điểm 0.25: Có một số cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo; thể hiện được một số suy nghĩ riêng sâu sắc nhưng không trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật. - Điểm 0: Không có cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo; không có quan điểm và thái độ riêng hoặc quan điểm, thái độ trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật. e. Chính tả, dùng từ, đặt câu (0.5 điểm): - Điểm 0.5: Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu. - Điểm 0.25: Mắc một số lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu. - Điểm 0: Mắc nhiều lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.
Xem thêm

5 Đọc thêm

Đồ án môn học công nghệ chế tạo máy

ĐỒ ÁN MÔN HỌC CÔNG NGHỆ CHẾ TẠO MÁY

I – PHÂN TÍCH CHỨC NĂNG LÀM VIỆC CỦA CHI TIẾT : Dựa vào bản vẽ chi tiết ta thấy chi tiết thuộc chi tiết dạng càng với kết cấu và chức năng như sau : Chi tiết là : “ Côn đẩy” vì vậy công dụng chủ yếu là truyền mô men quay Chi tiết làm việc trong điều kiện không quá phức tạp với yêu cầu kĩ thuật không cao nên ta có thể gia công chi tiết trên các máy vạn năng thông thường mà vẫn có thể đảm bảo các yêu cầu kĩ thuật đặt ra. Vật liệu để chế tạo chi tiết “ Côn đẩy ” là thép C45 II – PHÂN TÍCH TÍNH CÔNG NGHỆ TRONG KẾT CẤU CỦA CHI TIẾT : Từ bản vẽ ta thấy “Côn đẩy” có đủ độ cứng vững khi gia công không bị biến dạng,có thể đạt năng suất cao khi chế tạo.Côn đẩy có những bề mặt làm việc chính là lỗ ren, lỗ có rãnh then.Các bề mặt làm chuẩn đều có đủ diện tích nhất định cho phép thực hiện nhiều nguyên công và đảm bảo thực hiện quá trình gá đặt nhanh. Các bề mặt cần gia công : Mặt đáy, lỗ ren M22, lỗ Ø28 có rãnh then
Xem thêm

35 Đọc thêm

QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÔ TUYẾN TRONG WCDMA

QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÔ TUYẾN TRONG WCDMA

Các thuật toán quản lý tài nguyên vô tuyến (RRM) chịu trách nhiệm sử dụng 1 cách hiệu quả tài nguyên giao diện vô tuyến. Cần phải có RRM để đảm bảo chất lượng dịch vụ (QoS), duy trì vùng phủ sóng đã được hoạch định và để cung cấp dung lượng cao. Trong các mạng 3G, việc phân bố tài nguyên và định cỡ quá tải của mạng không còn khả thi nữa do các nhu cầu không dự đoán trước và các yêu cầu khác nhau của các dịch vụ khác nhau. Vì thế, quản lý tài nguyên bao gồm 2 phần : Đặt cấu hình và đặt lại cấu hình tài nguyên vô tuyến. Việc đặt cấu hình tài nguyên vô tuyến có nhiệm vụ phân phát nguồn tài nguyên một cách hợp lý cho các yêu cầu mới đang đưa đến hệ thống để cho mạng không bị quá tải và duy trì tính ổn định. Tuy nhiên, nghẽn có thể xuất hiện trong mạng 3G vì sự di chuyển của người sử dụng. Việc đặt lại cấu hình có nhiệm vụ cấp phát lại nguồn tài nguyên trong phạm vi của mạng khi hiện tượng nghẽn bắt đầu xuất hiện. Chức năng này có nhiệm vụ đưa hệ thống bị quá tải trở về lưu lượng tải mục tiêu một cách nhanh chóng và có thể điều khiển được. Các thuật toán RRM có thể được chia thành điều khiển chuyển giao, điều khiển công suất, điều khiển truy nhập, điều khiển tải, và các chức năng lập lịch gói.
Xem thêm

64 Đọc thêm

phương pháp nghiên cứu khoa hoạc

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HOẠC

BẢNG HỎI 1. Khái niệm bảng hỏi Bảng hỏi là hệ thống các câu hỏi được xếp đặt trên cơ sở các nguyên tắc: tâm lý, logic và theo nội dung nhất định nhằm tạo điều kiện cho người được hỏi thể hiện được quan điểm của mình với những vấn đề thuộc về đối tượng nghiên cứu và người nghiên cứu thu nhận được các thông tin cá biệt đầu tiên đáp ứng các yêu cầu của đề tài và mục tiêu nghiên cứu. Thông thường, lập một bảng hỏi phải tính đến 2 yêu cầu sau: Phải đáp ứng được mục tiêu của cuộc điều tra và phải phù hợp với trình độ và tâm lý người được hỏi. 2. Các dạng câu hỏi và cách sử dụng Căn cứ vào hình thức trình bày câu hỏi, có thể phân thành 3 loại (đóng – mở – kết hợp) • Câu hỏi đóng: là câu hỏi đã có sẵn phương án trả lời. Câu hỏi đóng lựa chọn: người được hỏi chỉ được chọn 1 phương án khi trả lời. Câu hỏi đóng tùy chọn: Người được hỏi có thể lựa chọn nhiều phương án khi trả lời. Cách khác: câu hỏi đóng có thể chia thành +Loại 1: Câu hỏi lưỡng cực (Có – Không) +Loại 2: Câu hỏi cường độ (thứ bậc): để tránh thiên lệch, người ta đặt ra nhiều khả năng theo cường độ của hiện tượng hoặc ý kiến, người trả lời được lựa chọn theo những mức độ khác nhau. (Loại câu hỏi này thường đưa ra số khả năng lựa chọn 3 hoặc 5 xoay quanh câu trả lời trung bình)
Xem thêm

5 Đọc thêm

BTL MÔN MẠNG MÁY TÍNH ĐỀ TÀI XÂY DỰNG HỆ THỐNG MẠNG

BTL MÔN MẠNG MÁY TÍNH ĐỀ TÀI XÂY DỰNG HỆ THỐNG MẠNG

bị ở chỗ nào cho hợp lý có thể phân tán tín hiệu mạng đều cho các thiết bị sử dụng. đólà yêu cầu không nhỏ. Ngoài ra việc lắp đặt hệ thống dây cáp, đường đi dây cáp cũnglà một yêu cầu đặt ra cho người thiết kế, lắp đặt cách đi dây mạng, nẹp mạng phải gọngàng không bị vướng víu khi di chuyển, đi lại, dễ thay thế, sửa chữa khi sự cố xảy ra .Trên là bài tập lớn của nhóm 4 chúng em làm về xây dựng hệ thống mạng phòng: 303và 304 nhà A8 của trường Đại học Công Nghiệp Hà Nội. Với kiến thức hiện có củamình, nhóm chúng em đã hoàn thành bài tập này chúng em đã cố gắng thực hiện nhưcác yêu cầu ở trên khi tiến hành thiết kế mô hình mạng. Tuy nhiên, trong quá trình làmsẽ không tránh khỏi những thiết sót, hoặc cũng sẽ có những chỗ còn vướng mắc, chínhvì vậy nhóm em mong được sự góp ý giúp đỡ của thầy giáo và các bạn, để bài tập lớncủa nhóm em được hoàn thiện hơn!Chúng em xin chân thành cảm ơn !Tài liệu tham khảo:http://tailieu.vn/doc/bai-tap-lon-mang-may-tinh-431982.html21Bài Tập Lớn Mạng Máy Tính – Nhóm 04 – ĐH KTPM.CLC-K8http://vi.wikipedia.org/wiki/M%E1%BA%A1ng_m%C3%A1y_t%C3%ADnhGiá thiết bị được tham khảo tại: http://www.hanoicomputer.vn/,http://www.vatgia.com/22
Xem thêm

Đọc thêm

HỆ THỐNG BƠM ĐIỀU ÁP ỔN ĐỊNH ÁP LỰC CHO PHÂN XƯỞNG SẢN XUẤT THỦY SẢN

HỆ THỐNG BƠM ĐIỀU ÁP ỔN ĐỊNH ÁP LỰC CHO PHÂN XƯỞNG SẢN XUẤT THỦY SẢN

Do nhu cầu sử dụng nước cảu các hộ tiêu thụ nước (gia đình, cơ quan, nhà hàng, khách sạn, ….) rất khác nhau trong thời điểm của ngày, (cao điểm và thấp điểm tùy thuộc vào nhu cầu sử dụng nước của hộ tiêu thụ), và đặc biệt là cho những phân xưởng, nhà máy sản xuất thủy sản mà đồ án này hướng tới, yêu cầu đặt ra là phải giải quyết được việc tự động ổn định áp suất trên đường ống nước cấp và tiết kiệm năng lượng cho hệ thống cấp nước. Để đáp ứng được những yêu cầu về cấp nước với áp suất không đổi trong công nghiệp, dân dụng, cũng như các hệ thống tưới tiêu tiết kiệm nước trong nông nghiệp các dòng biến tần đã ra đời tích hợp công nghệ điều khiển tốc độ qua tần số, công nghệ PLC và bộ điều khiển PID để có thể ứng dụng trong các hệ thống điều khiển theo vòng kín.
Xem thêm

132 Đọc thêm

Phân biệt phương pháp lãnh đạo theo tình huống và phương pháp lãnh đạo theo chức năng

PHÂN BIỆT PHƯƠNG PHÁP LÃNH ĐẠO THEO TÌNH HUỐNG VÀ PHƯƠNG PHÁP LÃNH ĐẠO THEO CHỨC NĂNG

Phân biệt phương pháp lãnh đạo theo tình huống và phương pháp lãnh đạo theo chức năng Bài tập học kỳ Kỹ năng tổ chức công sở Chuyên mục Bài tập học kỳ, Kỹ năng tổ chức công sở A. Mở bài Quản lý nhà nước công sở có năm chức năng cơ bản, bao gồm: kế hoạch, tổ chức, nhân sự, lãnh đạo và kiểm tra. Trong đó chức năng lãnh đạo, quản lý là hết sức quan trọng, cơ bản của quản lý hành chính nhà nước, làm nền cho hành chính nhà nước ngày càng phát triển. Chức năng lãnh đạo là việc hướng dẫn, điều chỉnh, chỉ huy người khác cùng mình hoặc tự họ làm một công việc cụ thể nào đó nhằm đạt mục tiêu của tổ chức đã đề ra. Xét theo khía cạnh quản lý hành chính nhà nước với quan điểm về công sở thì có ba phương pháp lãnh đạo quản lý, đó là: phương pháp lãnh đạo quản lý theo tình huống, phương pháp lãnh quản lý theo chức năng và phương pháp lãnh quản lý theo hệ thống. Trong bài tập học kì lần này, em xin trình bày vấn đề: “Phân biệt phương pháp lãnh đạo theo tình huống và phương pháp lãnh đạo theo chức năng” B. Thân bài I. Phương pháp lãnh đạo theo tình huống: Phương pháp lãnh đạo theo tình huống là một trong những phương pháp quản lý công sở phổ biến hiện nay. Cơ sở thực hiện: Đây chính là sự hợp lý các hành động của nhà lãnh đạo quản lý trong quá trình hoạt động điều hành. Các tình huống cụ thể do thực tiễn yêu cầu đặt ra đòi hỏi các nhà quản lý phải giải quyết. Đó là sự phù hợp giữa hành vi của một người lãnh đạo với cấp dưới của mình, đối với từng tình huống cụ thể cần xem xét. Định hướng được hành vi của tình huống đặt ra và phải xác định được các yếu tố có ảnh hưởng tới các hành vi quản lý cùa mình. Phải tạo ra một môi trường làm việc có hiệu quả thiết lập được kỹ luật và trật tự cần thiết trong tổ chức. Khái niệm: Phương pháp lãnh đạo theo tình huống là việc các nhà lãnh đạo, quản lý căn cứ vào tình huống cụ thể do thực tiễn đặt ra, định hướng cho hành vi của mình, thực hiện quản lý có hiệu quả. Các yếu tố ảnh hưởng đến phương pháp quản lý, lãnh đạo theo tình huống: trình độ của cán bộ công chức, nhu cầu riêng của cán bộ công chức, phương thức ra quyết định, các quan hệ nội bộ, tính cách và năng lực của nhà lãnh đạo, nhiệm vụ được giao và cấu trúc của nó, nguồn gốc quyền lực của người lãnh đạo. Qua đó ta thấy được mỗi yếu tố có một ảnh hưởng khác nhau đến hoạt động quản lý, lãnh đạo theo tình huống. Tuỳ theo trình độ của từng nhân viên, cán bộ trong tổ chức mà nhà lãnh đạo có cách phân công các công việc phù hợp với họ, từ đó tạo ra năng suất công việc cao hơn. Hiểu được nhu cầu nguyện vọng của từng nhân viên hoặc từng nhóm nhân viên trong tổ chức, từ đó giúp nhà lãnh đạo có thể đưa ra được những quyết định phù hợp, đúng với yêu cầu của công việc được giao đồng thời giải quyết tốt được mối quan hệ trong tổ chức. Phân loại: Có ba cách phân loại như sau. a) Trên cơ sở của phương pháp lãnh đạo theo tình huống, có thể phân loại thành phong cách hướng vào công việc hay phong cách hướng vào quan hệ. Hai phong cách này phụ thuộc vào ba yếu tố: quan hệ giữa nhà lãnh đạo với cấp dưới, các nhiệm vụ được giao và cấu trúc của nó và quyền hạn chính thức giữa người lãnh đạo. Trong đó quan hệ giữa người lãnh đạo với cấp dưới là quan trọng nhất, thể hiện năng lực, ý chí, sự phối hợp hoạt động của người lãnh đạo. b) Một mô hình khác của phong cách lãnh đạo theo tình huống được xây dựng trên cơ sở hai khái niệm là hành vi chỉ đạo và hành vi hỗ trợ trong quan hệ với mức độ trưởng thành của cán bộ cấp dưới. Hành vi chỉ đạo: chỉ đạo, giao nhiệm vụ và hướng dẫn cấp dưới hoàn thành nhiệm vụ. Hành vi hỗ trợ: Một lãnh đạo trong quá trình giải quyết công việc, tiến hành các biện pháp phù hợp theo ý kiến của cấp dưới, lôi cuốn nhân viên vào quá trình ra quyết định. Sự trưởng thành của nhân viên sẽ ảnh hưởng đến khả năng ra mục tiêu cao hay thấp cho quá trình quyết định. Người nào có kinh ngiệm, trưởng thành thì giao những công việc có mức độ khó hơn và ngược lại. c) Phương pháp lãnh đạo theo tình huống còn được diễn tả bằng một mô hình khác, được gọi là mô hình để dẫn đến mục tiêu. Trong mô hình này, người lãnh đạo xác định rõ nhiệm vụ đặt ra, loại bỏ những hoạt động không cần thiết, chỉ ra các nhiệm vụ cần thiết, cụ thể cho cán bộ công chức để dễ dàng thực hiện công việc theo yêu cầu của mình, để đạt hiệu quả cao nhất trong công việc. Mô hình để dẫn đến mục tiêu phụ thuộc vào các yếu tố: đặc điểm của cán bộ cấp dưới, đặc trưng công việc, phong cách lãnh đạo, hiệu quả lãnh đạo. Tóm lại: Phương pháp lãnh đạo theo tình huống sẽ đạt được hiệu quả cao nếu người lãnh đạo có khả năng nắm bắt được tình huống công việc cùng năng lực lãnh đạo với công việc tốt. II. Phương pháp lãnh đạo theo chức năng: Khái niệm: Phương pháp lãnh đạo, quản lý theo chức năng là việc người lãnh đạo căn cứ vào các yêu cầu của công việc, cá nhân, tập thể xây dựng các mối quan hệ hài hòa và dựa vào năng lực, chức năng của từng nhóm yêu cầu công việc để giao nhiệm vụ cụ thể nhằm đạt được năng suất cao và thực hiện phong cách lãnh đạo có hiệu quả. Yêu cầu và đặc điểm của phương pháp lãnh đạo, quản lý theo chức năng: Phương pháp này được thực hiện do sự tác động của mối quan hệ chặt chẽ của ba nhóm yêu cầu cơ bản, đó là: yêu cầu của các nhân, yêu cầu của tập thể, yêu cầu của nhiệm vụ. Do đó người lãnh đạo trong quá trình điều hành công sở khi áp dụng phương pháp này phải có sự nhận biết các khía cạnh khác của vấn đề đặt ra và xử lý thích hợp, hiệu quả một yêu cầu nào đó. Ba nhóm yêu cầu : 1 Của cá nhân ( yêu cầu đào tạo, tư vấn hỗ trợ, thúc đẩy công việc, trưởng thành và phát triển) 2 Của tập thể ( xây dựng đội ngũ, thông tin liên alc5, thúc đẩy công việc, kỹ thuật, nguyên tắc làm việc) 3 Của nhiệm vụ ( mục tiêu rõ ràng, phân công trách nhiệm cụ thể, đáng giá kết quả hòan thánh công việc, thực hiện công việc) Chúng có mối quan hệ mật thiết chặt chẽ, vừa phải có sự phối hợp giao thoa, điều hòa một cách hợp lý, vừa phải hoàn thiện. Chúng đồng thời thực hiện lần lượt từng nhóm yêu cầu để đạt được hiệu quả cao. Các tình huống, nhiệm vụ đặt ra phải được xem xét trong mối tương quan với chức năng của người lãnh đạo. Các nhà lãnh đạo cần xác định rõ yêu cầu của từng yếu tố, từ đó thực hiện phương pháp này sẽ đạt hiệu quả tốt hơn. Những thuận lợi và khó khăn khi sử dụng phương pháp lãnh đạo, quản lý theo chức năng: Thuận lợi: Hiểu biết nhu cầu, mong muốn của từng nhân viên, nhóm, nhiệm vụ công việc đặt ra. Do đó nhà lãnh đạo có cách thức điều hòa, phối hợp, hòan thiện phương pháp quản lý này và từng loại yêu cầu khác nhau đặt ra trong công việc giúp nhà lãnh đạo nâng cao phẩm chất, năng lực, trình độ. Bên cạnh đó, phương pháp này còn tạo sự đòan kết, phối hợp hoạt động của các thành viên trong công sở. Khó khăn: Đòi hỏi nhà lãnh đạo phải có trình độ cao, vững nghiệp vụ, xác định được yêu cầu nào là quan trọng, ưu tiên xử lý vấn đề trước sau một cách hợp lý. Nhà lãnh đạo cần phải định hướng được đòi hỏi của các yêu cầu nếu không khi thỏa mãn yêu cầu này thì chưa đáp ứng yêu cầu kia và ngược lại. Ngoài ra, nhà lãnh đạo phải xác định yêu cầu, chức năng của từng công việc từ đó giải quyết công việc sẽ đạt được hiệu quả. III. Phân biệt phương pháp lãnh đạo theo tình huống và phương pháp lãnh đạo theo chức năng: 1. Giống nhau: Cả hai phương pháp lãnh đạo theo tình huống và phương pháp lãnh đạo theo chức năng đều hướng tới một mục tiêu là giúp nhà lãnh đạo hướng dẫn, điều chỉnh, chỉ huy người khác cùng mình hoặc tự họ làm một công việc cụ thể nào đó nhằm đạt mục tiêu của tổ chức đã đề ra một cách hiệu quả. 2. Khác nhau: Khái niệm: Phương pháp lãnh đạo theo tình huống: Nhà lãnh đạo căn cứ vào tình huống do thực tiễn đặt ra, định hướng hành vi của mình để tổ chức quản lý lãnh đạo cán bộ, công chức. Phương pháp lãnh đạo theo chức năng: Nhà lãnh đạo căn cứ theo công việc cá nhân, tập thể để xây dựng mối quan hệ hài hòa và căn cứ yêu cầu từng nhóm, yêu cầu công việc để có phương pháp lãnh đạo hiệu quả. Cơ sở yêu cầu: Phương pháp lãnh đạo theo tình huống: hợp lý các hành động của lãnh đạo, tình huống do thực tế yêu cầu công việc. Xác định được các yếu tố ảnh hưởng tâm lý của mình và các nhân viên dưới quyền. Xây dựng môi trường làm việc có kỹ thuật, có kỉ luật. Phương pháp lãnh đạo theo chức năng: sử dụng chặt chẽ mật thiết 3 yêu cầu trong công việc: yêu cầu của cá nhân, của tập thể, yêu cầu của mục tiêu của công việc. Xác định hợp lý giao thoa của 3 yêu cầu nhưng phải xác định yêu cầu trọng tâm cần được ưu tiên. Phân loại: Phương pháp lãnh đạo theo tình huống: phương pháp hướng vào công việc hay vào quan hệ với sự trưởng thành của cán bộ cấp dưới, phương pháp mô hình dẫn đến mục tiêu của tổ chức. Phương pháp lãnh đạo theo chức năng: người lãnh đạo phải thể hiện được chức năng của mình để đáp ứng nhu cầu của các đối tượng quản lý nhưng phải đạt được mục tiêu của tổ chức. C. Kết bài Chức năng lãnh đạo của nhà quản lí trong công sở là một chức năng quan trọng. Nếu nhà quản lí không có những phương pháp lãnh đạo đúng đắn thì nhân viên sẽ không đi vào khuôn phép và năng suất công việc sẽ không cao. Hai phương pháp lãnh đạo theo tình huống và lãnh đạo theo chức năng giúp cho các nhà quản lí hoạt động tốt hơn, thúc đẩy công việc ở công sở có hiệu quả. Thông qua việc phân biệt hai chức năng trên, em đã hiểu trở thành nhà quản lí cần phải làm những điều gì để lãnh đạo cho đúng.
Xem thêm

7 Đọc thêm

PHI đại CHÚNG hóa THÔNG TIN đại CHÚNG – cội rễ của TRUYỀN THÔNG CHUYÊN BIỆT

PHI ĐẠI CHÚNG HÓA THÔNG TIN ĐẠI CHÚNG – CỘI RỄ CỦA TRUYỀN THÔNG CHUYÊN BIỆT

I. ĐẶT VẤN ĐỀ Thời báo Tài chính Việt Nam, trong chức năng nhiệm vụ được giao là cơ quan ngôn luận của ngành Tài chính, diễn đàn về lĩnh vực tài chính của các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế và của toàn xã hội, là cầu nối trong viện tuyên truyền đối với các chính sách của Đảng, Nhà nước về lĩnh vực Tài chính tới mọi tầng lớp xã hội, đồng thời cũng là kênh phản biện quan trọng trong việc giúp hoàn thiện các chính sách của Đảng, Nhà nước trong lĩnh vực tài chính.18 năm qua kể từ ngày thành lập, với vai trò cơ quan ngôn luận của ngành TBTCVN đã cơ bản hoàn thành nhiệm vụ của mình là. Tuy nhiên trước yêu cầu đổi mới mạnh mẽ của nền kinh tế và đặc biệt của lĩnh vực tài chính, với sự phát triển mạnh mẽ của các lĩnh vực tài chính cụ thể như ngân sách, chứng khoán, tiền tệ, bảo hiểm, đầu tư, quản lý tài sản công… kéo theo đó là những nhu cầu thông tin trong lĩnh vực này, đang đặt ra cho TBTCVN những yêu cầu mới.Mặt khác, đặt trong bối cảnh chung của sự phát triển mạnh mẽ của báo chí nói chung và của báo chí kinh tế nói riêng, TBTCVN cũng đang đứng trước những thách thức lớn. Có thể nói trong gần 10 năm trở lại đây hệ thống báo chí kinh tế nói chung và thông tin tài chính nói riêng đã bùng nổ mạnh mẽ. Từ chỗ chỉ có vài ba tờ báo chuyên ngành về kinh tế đến nay đã hình thành hệ thống báo chí kinh tế với hơn 20 đầu báo chính thống (Công thương, Đầu tư, Ngân hàng, Doanh nghiệp…). Hệ thống các tờ báo in không phải là báo kinh tế như Tiền phong, Thanh niên, Tuổi trẻ, Lao động… cũng đều đã cho ra đời các chuyên trang kinh tế; Hệ thống các đài truyền hình, phát thanh, báo mạng… cũng nở rộ. Các chương trình chuyên sâu về kinh tế (mà cốt lõi là thông tin về tài chính như: Chứng khoán, Đầu tư, Ngân sách…) như bản tin Tài chính, Việt Nam và các chỉ số (VTV1), Info TV (VTC)… Tóm lại hệ thống thông tin về kinh tế, đặc biệt là thông tin về lĩnh vực tài chính, đã bùng nổ cả về quy mô, chiều rộng và chiều sâu với hình thức ngày càng đa dạng, phong phú.Trong khi đó TBTCVN với nhiều lý do khác nhau, đang ngày càng trở nên « tụt hậu ». Những tiêu chí để đánh giá về giá trị cho một tờ báo đều ở mức rất kém: Nội dung còn nghèo nàn, hình thức đơn điệu, số lượng phát hành nhỏ lẻ, quảng cáo thưa thớt, nhuật bút thấp, thu nhập của cán bộ, phóng viên… hết sức khiêm nhường.Từ thực trạng và yêu cầu trên đang đặt ra cho TBTCVN phải có những bứt phá mạnh mẽ cả về quy mô, cơ cấu, mô hình tổ chức… thì mới có thể xứng tầm vai trò là người phát ngôn của ngành Tài chính – một ngành đóng vai trò huyết mạch trong nền kinh tế của đất nước
Xem thêm

12 Đọc thêm

ĐỀ ÁN PHÁT TRIỂN THỜI báo tài CHÍNH VIỆT NAM GIAI đoạn 2010 2015 và tầm NHÌN 2020

ĐỀ ÁN PHÁT TRIỂN THỜI BÁO TÀI CHÍNH VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2010 2015 VÀ TẦM NHÌN 2020

I. ĐẶT VẤN ĐỀ Thời báo Tài chính Việt Nam, trong chức năng nhiệm vụ được giao là cơ quan ngôn luận của ngành Tài chính, diễn đàn về lĩnh vực tài chính của các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế và của toàn xã hội, là cầu nối trong viện tuyên truyền đối với các chính sách của Đảng, Nhà nước về lĩnh vực Tài chính tới mọi tầng lớp xã hội, đồng thời cũng là kênh phản biện quan trọng trong việc giúp hoàn thiện các chính sách của Đảng, Nhà nước trong lĩnh vực tài chính. 18 năm qua kể từ ngày thành lập, với vai trò cơ quan ngôn luận của ngành TBTCVN đã cơ bản hoàn thành nhiệm vụ của mình là. Tuy nhiên trước yêu cầu đổi mới mạnh mẽ của nền kinh tế và đặc biệt của lĩnh vực tài chính, với sự phát triển mạnh mẽ của các lĩnh vực tài chính cụ thể như ngân sách, chứng khoán, tiền tệ, bảo hiểm, đầu tư, quản lý tài sản công… kéo theo đó là những nhu cầu thông tin trong lĩnh vực này, đang đặt ra cho TBTCVN những yêu cầu mới. Mặt khác, đặt trong bối cảnh chung của sự phát triển mạnh mẽ của báo chí nói chung và của báo chí kinh tế nói riêng, TBTCVN cũng đang đứng trước những thách thức lớn. Có thể nói trong gần 10 năm trở lại đây hệ thống báo chí kinh tế nói chung và thông tin tài chính nói riêng đã bùng nổ mạnh mẽ. Từ chỗ chỉ có vài ba tờ báo chuyên ngành về kinh tế đến nay đã hình thành hệ thống báo chí kinh tế với hơn 20 đầu báo chính thống (Công thương, Đầu tư, Ngân hàng, Doanh nghiệp…). Hệ thống các tờ báo in không phải là báo kinh tế như Tiền phong, Thanh niên, Tuổi trẻ, Lao động… cũng đều đã cho ra đời các chuyên trang kinh tế; Hệ thống các đài truyền hình, phát thanh, báo mạng… cũng nở rộ. Các chương trình chuyên sâu về kinh tế (mà cốt lõi là thông tin về tài chính như: Chứng khoán, Đầu tư, Ngân sách…) như bản tin Tài chính, Việt Nam và các chỉ số (VTV1), Info TV (VTC)… Tóm lại hệ thống thông tin về kinh tế, đặc biệt là thông tin về lĩnh vực tài chính, đã bùng nổ cả về quy mô, chiều rộng và chiều sâu với hình thức ngày càng đa dạng, phong phú. Trong khi đó TBTCVN với nhiều lý do khác nhau, đang ngày càng trở nên « tụt hậu ». Những tiêu chí để đánh giá về giá trị cho một tờ báo đều ở mức rất kém: Nội dung còn nghèo nàn, hình thức đơn điệu, số lượng phát hành nhỏ lẻ, quảng cáo thưa thớt, nhuật bút thấp, thu nhập của cán bộ, phóng viên… hết sức khiêm nhường. Từ thực trạng và yêu cầu trên đang đặt ra cho TBTCVN phải có những bứt phá mạnh mẽ cả về quy mô, cơ cấu, mô hình tổ chức… thì mới có thể xứng tầm vai trò là người phát ngôn của ngành Tài chính – một ngành đóng vai trò huyết mạch trong nền kinh tế của đất nước.
Xem thêm

19 Đọc thêm

BÁO CÁO TỐT NGHIỆP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC TUYỂN DỤNG TẠI CÔNG TY TNHH GREYSTONE DATA SYSTEM VIETNAM

BÁO CÁO TỐT NGHIỆP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC TUYỂN DỤNG TẠI CÔNG TY TNHH GREYSTONE DATA SYSTEM VIETNAM

Tuyển dụng nhân lực trong doanh nghiệp là quá trình thu hút và tuyển chọn những người có đủ sức khoẻ, trình độ và năng lực vào làm việc cho doanh nghiệp. Quá trình tuyển dụng gồm hai giai đoạn tuyển mộ và tuyển chọn: +Tuyển mộ là quá trình thu hút những người xin việc có trình độ từ lực lượng lao động xã hội và lực lượng lao động bên trong tổ chức.+Tuyển chọn là quá trình đánh giá các ứng cử viên theo nhiều khía cạnh khác nhau dựa vào yêu cầu của công việc để tìm được những người phù hợp với các yêu cầu đặt ra trong số những người đã thu hút được trong quá trình tuyển mộ.
Xem thêm

87 Đọc thêm

Thực trạng và giải pháp nâng cao kĩ năng làm việc nhóm của sinh viên khoa marketing trường đại học kinh tế quốc dân

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO KĨ NĂNG LÀM VIỆC NHÓM CỦA SINH VIÊN KHOA MARKETING TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

Quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay đang đứng trước muôn vàn thời cơ và thách thức, điều này đề ra nhu cầu cấp thiết cho nền giáo dục Việt Nam trong việc nâng cao chất lượng đào tạo và bồi dưỡng nhân tài. Song song với việc nâng cao chất lượng trong việc đào tạo thì sinh viên cũng là đối tượng cần phải năng động và sáng tạo để tiếp thu những kiến thức, phương pháp học tập mới mẻ . Ở bậc đại học thì phương pháp làm việc theo nhóm được biết đến như là một phương pháp học tập khá phổ biến. Ngày nay, kỹ năng làm việc nhóm gần như không thể tách rời với sinh viên, đặc biệt là sinh viên khối ngành luật, nó có thể coi như là hành trang mang theo khi sinh viên ra trường. Nó đã trở thành một trong những tố chất quan trọng đối với những ứng viên muốn thành công. Các doanh nghiệp tuyển nhân viên luôn yêu cầu ứng viên có khả năng làm việc theo nhóm. Đây cũng là lý do mà rất nhiều các công ty hiện nay, đặc biệt là các công ty nước ngoài yêu cầu ứng viên phải có khả năng làm việc theo nhóm. Trên thế giới hiện nay đang diễn ra những chuyển biến trong lĩnh vực giáo dục. Xu hướng giáo dục đang phát triển với mục tiêu: đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp, phát huy tính tích cực, chủ động cũng như khả năng tự học, tự nghiên cứu của người học. Trong xu hướng đó, Giáo dục Việt Nam cũng đã và đang có nhiều thay đổi mau lẹ, mạnh mẽ để hòa nhập với nền giáo dục hiện đại trên thế giới, đặc biệt là vấn đề đổi mới phương pháp dạy và học trong nhà trường.Tại Nghi quyết của hội nghị TW lần thứ 2 BCH TW Đảng khóa VIII (2 1996) có đoạn: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học”. Cũng tại Khoản 2, Điều 5, Luật giáo dục 2005 cũng đã khẳng định: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”.Như vậy, trong thời đại mới, khi khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, làm việc theo nhóm là yêu cầu quan trọng, cần thiết được đặt ra đối với tất cả mọi người. Đặc biệt đối với sinh viên luật, học tập theo nhóm là một trong các phương pháp học tập hiệu quả để qua đó rèn cho sinh viên khả năng hợp tác, chia sẻ, tư duy phản biện... Đó là những điều cần thiết đối với một công dân của thế kỉ 21. Do đó, mỗi sinh viên luật cần được trang bị ngay từ trong nhà trường để khi ra trường có thể sống và làm việc trong các tổ chức một cách tích cực, hiệu quả. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để phương pháp học tập này được thực hiện rộng rãi, thực sự phát huy được hiệu quả trong sinh viên, giúp sinh viên nhanh chóng lĩnh hội, chiếm lĩnh tri thức, có được kết quả học tập tốt nhất. Các sinh viên luật cũng phần nào được tiếp cận với phương pháp học đầy hiệu quả này, tuy nhiên đa phần các sinh viên từ bậc trung học phổ thông lên bậc đại học đều không thích ứng kịp với cách học và làm việc nhóm, bên cạnh đó một số khác, tuy đã tham gia làm việc nhóm nhưng không tìm thấy được sự thích thú trong công việc cũng như không tạo ra được hiệu quả trong công việc của nhóm. Theo Lexicon der Padagogik: “Phương pháp giúp để trình bày có lý lẽ vững vàng một chân lý đã xác định rồi hoặc để vạch ra một con đường tìm tòi một chân lý mới”. Theo Hegel: “Phương pháp là ý thức về hình thức của sự vận động bên trong của nội dung”. Như vậy có thể hiểu: Phương pháp là cách thức, con đường, phương tiện để đạt tới mục đích nhất định trong nhận thức và trong thực tiễn. Theo GS Nguyễn Ngọc Quang, nghiên cứu dạy học theo quan điểm quá trình: “Học là quá trình tự điều khiển tối ưu sự chiếm lĩnh khái niệm khoa học, bằng cách đó hình thành cấu trúc tâm lý mới, phát triển nhân cách toàn diện. Vai trò tự điều khiển của quá trình học thể hiện ở sự tự giác, tích cực, tự lực và sáng tạo dưới sự điều khiển của thầy, nhằm chiếm lĩnh khái niệm khoa học. Học có 2 chức năng kép là lĩnh hội và tự điều khiển”. Theo từ điển Tiếng Việt của Viện khoa học xã hội Việt Nam Viện ngôn ngữ học: “Học tập là học và luyện tập để hiểu biết và có kỹ năng”.Như vậy, học tập là một loại hình hoạt động được thực hiện trong mối quan hệ chặt chẽ với hoạt động dạy, giúp người học lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, những phương thức hành vi nhằm phát triển nhân cách toàn diện. Theo từ điển Tiếng Việt: Nhóm là tập hợp một số ít người hoặc sự vật được hình thành theo những nguyên tắc nhất định.Theo chúng tôi, nhóm là tập hợp những người có tổ chức, hoạt động theo những nguyên tắc nhất định, nhằm đạt tới mục tiêu và lợi ích chung . Trong cuốn “Giáo trình giáo dục thực hành pháp luật” 2104 do PGS.TS Lê Thị Châu chủ biên thì nhóm được hiểu là tập hợp bao gồm nhiều thành viên với những vai trò khác nhau nhưng cùng có chung một mục đích. Mỗi thành Viên trong nhóm có vai trò và trách nhiệm nhất định. Phương pháp học là phương pháp tự điều khiển hoạt động nhận thức và rèn luyện khả năng thu thập thông tin để hình thành hệ thông tri thức và kỹ năng thực hành, hình thành nhân cách của người học và đạt thành mục tiêu học tập.Phương pháp họcthảo luận nhóm là phương pháp tương tác giữa giảng viên và sinh viên, giữa các sinh viên với nhau thông qua quá trình trao đổi và chia sẻ kiến thức. Cũng theo PGS.TS Lê Thị Châu thì làm việc nhóm mang lại cho sinh viên nhiều hiệu quả hơn trong học tập, đặc biệt là sinh viên ngành luật như: Thứ nhất, tăng khả năng quyết định và thực hiện công việc hiệu quả. Khi đứng trước một quyết định, các thành viên cần phân tích rõ vấn đề thông qua những quan điểm, góc nhìn khác nhau của mỗi thành viên. Vì thế, khi làm việc nhóm sẽ tạo cơ hội tổng hợp được nhiều ý kiến của các thành viên và từ đó đưa ra phương án tốt nhất; Thứ hai, thông qua việc giao tiếp và trong quá trình làm việc sẽ tạo sự cởi mở, thân thiện giữa các thành viên và người lãnh đạo. Từ đó giúp mọi người hiểu nhau và làm việc hiệu quả hơn; Thứ ba, tạo sự chuyên nghiệp và nâng cao tinh thần trách nhiệm cho từng thành viên thông qua việc xây dựng và thực hiện tốt nội quy nhóm; Thứ tư, thích ứng tốt với điều kiện công việc trong một xã hội hội nhập: yêu cầu cao khả năng làm việc nhóm để đạt được hiệu quả công việc cao nhất; Thứ năm, là môi trường làm việc lý lưởng để hình thành nên những kỹ năng, tố chất của người lãnh đạo trong vai trò là trưởng nhóm. Thành công nhóm xuất phát từ sự phối hợp các kỹ năng và kinh nghiệm của những thành viên trong suốt quá trình làm việc. Đó là lý do nhiều người thích làm việc theo nhóm, bởi nhóm như một động lực thúc đẩy giúp họ đạt được hiệu suất công việc tổi ưu nhất.Không những thế trong lúc chúng ta học theo phương pháp thảo luận nhóm thì vô hình chung chúng ta đã thực hiện rèn luyện các kỹ năng trong các phương pháp học khác như: phương pháp thuyết trình, phương pháp thực hành... Học tập theo nhóm là một phương pháp học tập trong đó các thành viên cùng phối hợp chặt chẽ với nhau để giải quyết một vấn đề học tập cụ thể nhằm hướng đến một mục tiêu chung; sản phẩm của nhóm là sản phẩm của trí tuệ tập thể.Để hội nhập xu thế phát triển chung của thế giới, của thời đại, yêu cầu cấp bách đang đặt ra đối với nền giáo dục nước ta là: Phải không ngừng đổi mới, hiện đại hóa nội dung và phương pháp giảng dạy. Như vậy, đổi mới phương pháp giảng dạy là nhiệm vụ thường xuyên đối với mỗi cán bộ giảng dạy. Để thực hiện tốt điều này, vấn đề đặt ra là làm sao ngày càng có nhiều phương pháp giảng dạy mới nhằm tích cực hóa người học để tự họ khám phá kiến thức thông qua sự tổ chức của người thầy. Có như thế thì tránh được cách học thụ động mà bấy lâu nay đã tồn tại trong bao thế hệ thầy trò của người Việt Nam.Thay đổi thói quen học tập này không phải dễ dàng nhưng chúng ta hoàn toàn có thể làm được. Chính chúng ta, những người thầy phải là người khởi xướng sự thay đổi đó. Người thầy trong thời đại mới phải luôn tìm ra phương pháp mới, phương pháp giảng dạy tích cực.Phương pháp giảng dạy tích cực là phương pháp giảng dạy phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. Phương pháp tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải của người dạy. Hiện nay, có rất nhiều phương pháp giảng dạy tích cực: Phương pháp nghiên cứu trường hợp; phương pháp dạy học dựa trên vấn đề; Phương pháp đóng vai; phương pháp học tập theo nhóm… Phương pháp giảng dạy tích cực thực chất là tích cực hóa sinh viên trong giờ học. Kết quả tùy thuộc công tác chuẩn bị của giảng viên, trình độ năng lực của giảng viên, mức độ hợp tác của sinh viên, thói quen học tập của sinh viên. Với phương pháp tổ chức cho sinh viên học tập theo nhóm có thể áp dụng trong suốt quá trình học tập hoặc cũng có thể áp dụng một phần trong quá trình học tập theo từng nội dung học tập, chẳng hạn giải quyết nội dung của từng chương hay bài tập của từng chương.Ngay buổi đầu của môn học Giảng viên nên thông báo cho sinh viên biết cách tổ chức nhóm và nội dung hoạt động học tập của nhóm. Việc tổ chức nhóm sao cho Giảng viên có thể bao quát được nhóm. Số lượng thành viên trong nhóm vừa đủ để làm việc được và đồng thời phải phát huy được tính tích cực của mỗi thành viên trong nhóm. Thông thường nhóm khoảng từ 46 sinh viên và nên có nhóm trưởng. Giảng viên có thể phân nhóm ngẫu nhiên hoặc theo sự sắp xếp của mình. Cũng có khi để tự sinh viên lựa chọn và tự kết nhóm (do có thể đã có sẵn nhóm làm việc ăn ý với nhau). Việc phân nhóm có thể có nhiều cách khác nhau nhưng miễn sao đạt được mục đích sinh viên có sự hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau trong học tập, tránh tình trạng trong nhóm chỉ có 1 vài người làm việc còn những người khác không làm gì cả. Một nhóm có hoạt động hiệu quả cần có cơ cấu tổ chức:Nhóm trưởng có trách nhiệm tổ chức, điều hành mọi hoạt động của nhóm, nhóm trưởng có thể do các thành viên trong nhóm bầu hoặc do giảng viên chỉ định.Có thể có Nhóm phó nếu quy mô nhóm lớn để thay thế nhóm trưởng khi nhóm trưởng vắng mặt hoặc hỗ trợ nhóm trưởng trong một số việc.Thư ký để ghi chép các diễn biến công việc, thảo luận của nhóm, thư ký có thể được thay đổi theo từng công việc hoặc cố định từ đầu đến cuối.Phải quy định rõ trách nhiệm cụ thể của từng vị trí của thành viên trong nhóm (sinh viên trong nhóm tự phân công công việc). Trưởng nhóm phải có năng lực, nhiệt tình và có uy tín: Trưởng nhóm sẽ góp phần quyết định thành công của một nhóm học tập. Trong hoạt động của một nhóm, Trưởng nhóm đóng vai trò quan trọng, là người chịu trách nhiệm trước thầy cô, tập thể lớp về hoạt động của nhóm, là người điều hành và tổ chức công việc của nhóm, đảm bảo cho nhóm đi đúng hướng, là người động viên thôi thúc mọi người học tập (làm việc) và tháo gỡ khó khăn khi cần thiết ... Chính vì vậy, Trưởng nhóm có ảnh hưởng nhiều đến chất lượng học tập của cả nhóm.Có thể giao cùng một nội dung công việcđề tài chung cho các nhóm hoặc mỗi nhóm một đề tài khác nhau nhưng mức độ khó khăn tương đương nhau. Đề tài thảo luận phải thuộc nội dung môn học, có thể có nhiều hướng khai thác khác nhau. Phải đặt câu hỏi cụ thể, rõ ràng. Hướng dẫn cụ thể và định hướng cách thức làm việc. Lựa chọn vấn đề thảo luận phải hấp dẫn, có tính chất kích thích tính tích cực chủ động làm việc của sinh viên. Chủ đề nên gắn liền với thực tế để sinh viên tìm hiểu và tìm cách giải quyết vấn đề. Có thể cho các nhóm về nhà chuẩn bị, hoặc cũng có thể thảo luận ngay tại lớp tùy theo chủ đề và yêu cầu. Nếu thảo luận tại chỗ, thời gian thảo luận phải phù hợp với nội dung và yêu cầu của vấn đề thảo luận.Ngoài ra, có thể chấp nhận cho cả nhóm cùng tham gia hỗ trợ thuyết trình và trả lời câu hỏi phản biện. Dù thực hiện bằng cách nào nhưng yêu cầu đặt ra là mỗi thành viên trong nhóm phải hiểu và nắm được nội dung bài thuyết trình của nhóm mình (có thể yêu cầu bất kỳ thành viên nào trong nhóm lên tóm tắt bài thuyết trình trước khi người khác thuyết trình). Giảng viên chỉ định nhóm nhận xét và phản biện cụ thể hoặc mời ngẫu nhiên bất kỳ trong những nhóm khác phản biện hoặc cũng có thể phản biện tự do (cho sinh viên xung phong). Nên để cho các lớp được tự do phản biện trước, nếu không ai nhận xét và phản biện thì giảng viên mới chỉ định. Lúc này giảng viên nên đóng vai trò là người quan sát, qua đó ghi nhận đúng sai và đánh giá các nhóm. Giảng viên cũng có thể đặt câu hỏi cho nhóm thuyết trình và cũng có thể hỗ trợ nhóm trả lời câu hỏi của các nhóm khác khi nhóm thuyết trình không trả lời được hoặc đặt thêm câu hỏi gợi mở để nhóm có thể trả lời. Trong quá trình các nhóm thảo luận, giảng viên đi tới từng nhóm, lắng nghe, gợi ý và thăm dò xem nhóm nào làm việc tích cực, hiệu quả hơn. Trong điều kiện thời gian có hạn, có thể mời nhóm đó trình bày trước lớp.
Xem thêm

10 Đọc thêm

ĐỀ BÀI: THIẾT KẾ QUI TRÌNH CÔNG NGHỆ CHẾ TẠO VÀ ĐỒ GÁ GIA CÔNG CÀNG GẠT C15

ĐỀ BÀI: THIẾT KẾ QUI TRÌNH CÔNG NGHỆ CHẾ TẠO VÀ ĐỒ GÁ GIA CÔNG CÀNG GẠT C15

CHƯƠNG I: PHÂN TÍCH CHI TIẾT GIA CÔNG VÀ XÁC ĐỊNH DẠNG SẢN XUẤT. I.Phân tích chức năng làm việc của chi tiết. Càng gạt là chi tiết dạng càng. Chi tiết dạng càng thường có chức năng biến đổi chuyển động thẳng của chi tiết này ( Piston của động cơ đốt trong ) thành chuyển động quay của chi tiết khác ( trục khuỷu ). Ngoài ra chi tiết dạng càng còn dùng để đẩy bánh răng ( khi cần thay đổi tỉ số truyền trong hộp tốc độ ). Trên chi tiết dạng càng ngoài những lỗ cơ bản cần được gia công chính xác còn có những lỗ dùng để kẹp chặt, các mặt đầu của lỗ và những yếu tố khác cần được gia công. II.Phân tích tính công nghệ trong kết cấu của chi tiết. Vật liệu chế tạo chi tiết càng gạt C15 là gang xám 15-32. Đây là loại vật liệu có tính đúc tốt, ta có thể sử dụng phương pháp đúc để chế tạo phôi. Chiều dầy của càng là 10-15 mm, do vậy tính cứng vững của chi tiết không cao. Vì vậy khi gia công càng cần phải chú ý đến vấn đề kẹp chặt chi tiết. Do các mặt đầu của càng không cùng nằm trên một mặt phẳng, do vậy khi gia công ta phải gá đặt nhiều lần (không gia công được các mặt đầu trong một lần gá), điều này ảnh hưởng đến năng suất gia công. Độ chính xác của các lỗ chính cao, bề mặt lỗ 10, 20 cần gia công đạt độ nhám Ra = 2,5 (6), với dung sai 10 là 0,03( tương ứng với cấp chính xác H7); 20 là 0,035 (tương ứng với cấp chính xác H7). Để đạt được yêu cầu này ta phải gia công qua các bước khoan-khoét-doa. Các bề mặt đầu cần gia công đạt độ nhám Rz = 20 (5), ta có thể gia công đạt được yêu cầu này bằng phương pháp gia công phay, qua các bước phay thô và phay tinh. Độ không song song giữa bề mặt C và B là 0,03; độ không vuông góc giữa bề mặt D và A là không quá 0,03; độ không song song của các tâm lỗ cơ bản không quá 0,03/100mm chiều dài. Các yêu cầu kỹ thuật này ta hoàn toàn có thể đạt được khi gia công trên các máy vạn năng hay các máy chuyên dùng. III.Xác định dạng sản xuất.
Xem thêm

44 Đọc thêm

PHẦN MỞ ĐẦU CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

PHẦN MỞ ĐẦU CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

PHẦN MỞ ĐẦU1. Tính cấp thiết của đề tàiTrong nền kinh tế thị trường, thị trường tài chính đóng vai trò hết sức quantrọng, sự lớn mạnh của thị trường tài chính ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế củamột quốc gia và của cả thế giới. Chủ thể quan trọng của thị trường tài chính là Ngânhàng, nó có mặt trong tất cả các mối quan hệ kinh tế trong nền kinh tế thị trường.Ngân hàng là một trong những mắt xích quan trọng cấu thành nên sự vận động nhịpnhàng của nền kinh tế. Cùng với các ngành kinh tế khác, ngân hàng có nhiệm vụtham gia bình ổn thị trường tiền tệ, kiềm chế và đẩy lùi lạm phát, tạo công ăn việclàm cho người lao động, giúp đỡ các nhà đầu tư, phát triển thị trường vốn, thịtrường ngoại hối, tham gia thanh toán và hỗ trợ thanh toán…Trong hoạt động của ngân hàng thì hoạt động tín dụng là một lĩnh vực quantrọng. Tín dụng là một trong ba nghiệp vụ cơ bản của Ngân hàng thương mại đó là:nhận tiền gửi, hoạt động tín dụng, trung gian thanh toán. Quan hệ tín dụng là quanhệ xương sống, quyết định mọi hoạt động kinh tế trong nền kinh tế quốc dân và nócòn là nguồn sinh lợi chủ yếu, quyết định sự tồn tại, phát triển của ngân hàng.Nhưng hoạt động tín dụng mang lại nhiều rủi ro nhất ngay cả đối với các khoản vaycó tài sản cầm cố, thế chấp . Tín dụng ngân hàng được coi là đòn bẩy quan trọngcho sự phát triển của nền kinh tế. Chính vì vậy, làm thế nào để củng cố và nâng caochất lượng tín dụng là điều mà trước đây, bây giờ và sau này đều được các nhà quảnlý Ngân hàng, các nhà chính sách và các nhà nghiên cứu quan tâm.Cùng với sự đổi mới của toàn bộ hệ thống ngân hàng, Ngân hàng TMCP TiênPhong – Chi nhánh Hoàn Kiếm, trong những năm qua đã rất chú trọng tới hoạtđộng tín dụng và đang từng bước hoàn thiện trong hoạt động kinh doanh của mìnhđể đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước trong lúc sự quản lý kinh tế, sự chuyển đổi cơ chế quản lý trong lĩnh vựcngân hàng đang diễn ra hết sức phong phú và đa dạng. Song sẽ là không phải khimuốn hoàn thiện hơn mà lại không chấp nhận những phần còn thiếu sót còn tồn tạitrong hoạt động tín dụng của mình.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Kiểm soát nội bộ chu trình mua hàng và thanh toán

KIỂM SOÁT NỘI BỘ CHU TRÌNH MUA HÀNG VÀ THANH TOÁN

... thủ tục kiểm soát không phù hợp… Kiểm soát nội chu trình mua hàng toán 2.1 Khái quát chung chu trình mua hàng toán 2.1.1 Định nghĩa chu trình mua hàng toán Chu trình mua hàng toán chu trình bao... cung cấp nguyên liệu nước Kiểm soát nội chu trình mua hàng toán Kiểm soát chu trình mua hàng toán trình kiểm soát chức chu trình sau: - Đặt hàng/ dịch vụ cần thiết - Nhận hàng/ dịch vụ yêu cầu Trang... kiểm soát chu trình mua hàng toán, để hạn chế sai sót liên quan đến chu trình chu trình khác đến mức thấp 2.1.3 Chức chu trình mua hàng toán 2.1.3.1 Chu n bị đơn đặt hàng Khi có yêu cầu mua hàng,
Xem thêm

98 Đọc thêm

Tìm hiểu về công nghệ chế tạo máy điện một chiều

TÌM HIỂU VỀ CÔNG NGHỆ CHẾ TẠO MÁY ĐIỆN MỘT CHIỀU

Phần1 :TÌM HIỂU VỀ ĐỘNG CƠ ĐIỆN MỘT CHIỀU Trong nền sản xuất hiện đại, máy điện một chiều vẫn được coi là một loại máyquan trọng. Nó có thể dùng làm động cơ điện, máy phát điện hay dùng trong nhữngđiều kiện làm việc khác.Động cơ điện một chiều có đặc tính điều chỉnh tốc độ rất tốt, có nhiều ưu việthơn so với loại động cơ khác. Không những nó có khả năng điều chỉnh tốc độ dễdàng mà cấu trúc mạch lực, mạch điều khiển đơn giản hơn đồng thời lại đạt chấtlượng điều chỉnh cao trong dải điều chỉnh tốc độ rộng. Động cơ điện một chiềuđược dùng nhiều trong những ngành công nghiệp có yêu cầu cao vể điều chỉnh tốcđộ như cán thép, hầm mỏ, giao thông vận tải I. CẤU TẠO ĐỘNG CƠ ĐIỆN MỘT CHIỀU Cấu tạo động cơ điện một chiều có thể chia thành hai phần chính là phần tĩnh(stato) và phần quay (rôto) 1. Phần tĩnh hay stato Đây là phần đứng yên của động cơ, bao gồm các bộ phận chính sau: a. Cực từ chính : Cực từ chính là bộ phận sinh ra từ trường gồm có lõi sắt cực từ và dây quấn kíchtừ lồng ngoài lõi sắt cực từ. Lõi sắt cực từ làm bằng những lá thép kỹ thuật điện haythép cácbon dày 0,5 mm đến 1 mm ép lại và tán chặt .Trong động cơ nhỏ có thể cách điệnkỹ thành một khối và tẩm sơn cách điện trước khi đặt trên các cực từ. Các cuộn dây kích từ đặt trên các cực từ này được nối nối tiếp với nhau. b. Cực từ phụ : Cực từ phụ được đặt giữa các cực từ chính và dùng để cải thiện đổi chiều. Lõithép của cực từ phụ thường làm bằng thép khối và trên thân cực từ phụ có đặt dâyquấn mà cấu tạo giống như dây quấn cực từ chính. Cực từ phụ cũng được gắn vàovỏ máy nhờ những bulông. c. Gông từ : Gông từ dùng để làm mạch từ nối liền các cực từ, đồng thời làm vỏ máy. Trongđộng cơ nhỏ và vừa thường dùng thép tấm dày uốn và hàn lại. Trong động cơ điệnlớn thường dùng thép đúc. Có thể dùng gang làm vỏ máy trong động cơ điện nhỏ. d. Các bộ phận khác: Nắp động cơ : Để bảo vệ động cơ khỏi bị những vật ngoài rơi vào làn hư hỏngdây quấn hay an toàn cho người khỏi chạm phải điện. Trong động cơ điện nhỏ vàvừa, nắp động cơ còn có tác dụng làm giá đỡ ổ bi. Trong trường hợp này nắp độngcơ thường làm bằng gang. Cơ cấu chổi than: Để đưa dòng điện từ phần quay ra ngoài. Cơ cấu chổi thangồm có chổi than đặt trong hộp chổi than và nhờ một lò xo tì chặt lên
Xem thêm

22 Đọc thêm

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu KHOA học

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

1. Nghiên cứu khoa học là gì?Đặc điểm của NCKH? NCKH là sự tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết: hoặc là phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới để làm biến đổi sự vật phục vụ cho mục tiêu hoạt động của con người. Đặc điểm: 6 Tính mới Tính thông tin Tính mạnh dạn mạo hiểm trong NCKH Tính khó xác định hiệu quả kinh tế Tính trung thực Tính chuyên sâu của đội ngũ nghiên cứu. 2. Yêu cầu khi đặt tên đề tài (9) Đề tài là một hình thức tổ chức nghiên cứu khoa học, trong đó có một nhóm người hoặc 1 người thực hiện một nhiệm vụ nghiên cứu. Yêu cầu khi đặt tên đề tài: Phản ánh cô đọng nhất nội dung đề tài Phản ánh đối tượng nghiên cứu, thời gian, không gian tồn tại của đối tượng nghiên cứu Các thuật ngữ đặt tên cho đề tài phải khúc triết, đơn nghĩa, phải là ngôn ngữ viết Phải ngắn gọn và không trùng lặp Không trùng lặp với tên chương Tránh dùng những cụm từ bất định để đặt tên đề tài Hạn chế lạm dụng những cụm từ chỉ mục đích để đặt tên đề tài Không nên đặt tên đề tài thể hiện tính quá dễ dãi, không đòi hỏi tư duy sâu sắc Phải được đặt trước khi diễn ra quá trình triển khai đề tài và có thể chỉnh sửa khi cần thiết. 3. Đề cương nghiên cứu là gì?Nội dung và cấu trúc của đề cương nghiên cứu? Đề cương nghiên cứu là một văn bản chỉ ra lý lẽ để thực hiện nghiên cứu và cách thức mà ta sẽ tiến hành tổ chức thực hiện nghiên cứu.Có thể coi đề cương nghiên cương nghiên cứu là một bản kế hoạch chi tiết, tổng hợp tất cả các nội dung mang tính kế hoạch mà ta sẽ thực hiện khi thực thi đề tài nghiên cứu.
Xem thêm

14 Đọc thêm

Nghiên cứu hiệu quả lâu dài của phương pháp đặt thể thủy tinh nhân tạo trên mắt còn thể thủy tinh điều trị cận thị nặng

NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ LÂU DÀI CỦA PHƯƠNG PHÁP ĐẶT THỂ THỦY TINH NHÂN TẠO TRÊN MẮT CÒN THỂ THỦY TINH ĐIỀU TRỊ CẬN THỊ NẶNG

ĐẶT VẤN ĐỀ Cận thị là tật khúc xạ hay gặp nhất, chiếm 1/4 dân số trên thế giới. Theo số liệu của Viện Thị giác Brien Holden, có khoảng 1,45 tỷ ngƣời bị cận thị trong năm 2010 và dự đoán sẽ tăng lên khoảng 2,5 tỷ vào năm 2020 [1]. Tại Mỹ, tỷ lệ cận thị là 25% năm 1983 và tăng lên 45% năm 1990 [2]. Tại châu Á, 80-90% học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học ở các khu vực thành thị ở Singapore, Trung quốc, Đài loan, Hồng kông, Nhật bản và Hàn quốc bị cận thị [3]. Tại Việt nam, theo điều tra một số trƣờng đại học, tỷ lệ tật khúc xạ là 30%, riêng cận thị chiếm 28% [4]. Cận thị gồm cận thị học đƣờng và cận thị tiến triển hay cận thị nặng. Cận thị nặng chiếm khoảng 2,1% dân số thế giới và là nguyên nhân thứ 7 gây mù ở Mỹ [2] và nguy cơ trở thành một trong những nguyên nhân hàng đầu gây mù lòa ở Trung quốc [1]. Cận thị nặng làm gia tăng nguy cơ các vấn đề nghiêm trọng ở mắt nhƣ bong võng mạc, đục thể thủy tinh, tăng nhãn áp, có thể dẫn đến mất thị lực và mù. Vì vậy điều trị cận thị nặng là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các nhà nhãn khoa trên thế giới. Có rất nhiều phƣơng pháp điều trị cận thị nặng, từ các phƣơng pháp không phẫu thuật nhƣ đeo kính gọng, kính tiếp xúc... đến các phƣơng pháp phẫu thuật nhƣ tác động lên giác mạc, lên thể thuỷ tinh. Đeo kính gọng hoặc kính tiếp xúc dù có cải thiện đƣợc thị lực nhƣng vẫn gây nhiều bất tiện cho ngƣời sử dụng. Một số ngƣời không thể đeo đƣợc kính gọng do nghề nghiệp, do lệch khúc xạ ... Một số ngƣời không đeo đƣợc kính tiếp xúc do tác dụng phụ của nó nhƣ viêm nhiễm, khô mắt .... khiến kính tiếp xúc không đƣợc sử dụng rộng rãi. Phẫu thuật điều trị tật khúc xạ cũng đƣợc nghiên cứu từ lâu trên thế giới. Các phƣơng pháp phẫu thuật tác động lên củng mạc, lên giác mạc hay lên thể thuỷ tinh đều tổn hại ít nhiều đến các thành phần của mắt và gây ra một số biến chứng nhất định. Một số phƣơng pháp phổ biến hiện nay nhƣ LASIK, SMILE... có kết quả tốt với mắt cận thị dƣới 10D, tuy nhiên khó triệt tiêu hết độ cận với mắt cận thị nặng trên 10D và chống chỉ định với mắt có giác mạc mỏng, giác mạc hình chóp, khô mắt...Phƣơng pháp lấy thể thủy tinh còn trong đặt thể thủy tinh nhân tạo cũng cho những kết quả rất đáng khích lệ, tuy nhiên không bảo tồn đƣợc khả năng điều tiết của thẻ thủy tinh. Gần đây các tác giả trên thế giới đã nghiên cứu một phƣơng pháp tăng cƣờng lực khúc xạ cho nhãn cầu, đó là phẫu thuật đặt thể thủy tinh nhân tạo (TTTNT) hậu phòng trên mắt còn thể thủy tinh để điều trị cận thị. Phƣơng pháp này xuất hiện từ năm 1997 và đã thực hiện đƣợc hơn 400000 ca trên thế giới (theo thống kê của hãng STAAR). Đến nay, phƣơng pháp này tỏ ra phù hợp sinh lý hơn cả. Ngoài việc đặt một TTTNT xen giữa mặt sau mống mắt và mặt trƣớc thể thuỷ tinh thay cho một kính phân kỳ dùng ngoài, phƣơng pháp này không tác động nặng nề đến bất kỳ thành phần nào của mắt. Đồng thời, theo nhiều kết quả nghiên cứu, đây là phƣơng pháp cho kết quả cải thiện thị lực cao và ít biến chứng [5],[6],[7],[8]. Ở Việt nam, đây là một phẫu thuật mới, chƣa có nhiều báo cáo đi sâu nghiên cứu toàn diện và có hệ thống cũng nhƣ đánh giá kết quả lâu dài. Vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu hiệu quả lâu dài của phương pháp đặt thể thủy tinh nhân tạo trên mắt còn thể thủy tinh điều trị cận thị nặng” nhằm 2 mục tiêu sau: 1. Đánh giá hiệu quả lâu dài của phương pháp phẫu thuật đặt TTTNT trên mắt còn TTT điều trị cận thị nặng. 2. Phân tích một số yếu tố liên quan đến kết quả của phẫu thuật.
Xem thêm

159 Đọc thêm

Sự khác nhau giữa yêu cầu người dùng và yêu cầu hệ thống

SỰ KHÁC NHAU GIỮA YÊU CẦU NGƯỜI DÙNG VÀ YÊU CẦU HỆ THỐNG

YêucầungườidùngUser requirements –Cácphátbiểubằngngônngữtựnhiêncộngvớicácsơđồvềcácdịchvụmàhệthốngcungcấpvàcácràngbuộcvềvậnhành. –Đượcviếtchokháchhàng. •Yêucầuhệthống–System requirements –Mộttàiliệucócấutrúcbaogồmcácmôtảchi tiếtvềcácchứcnăngvàdịchvụcủahệthốngcùngvớicácràngbuộcvềvậnhành. –Địnhnghĩacáigìcầnđượccàiđặt

65 Đọc thêm

Cùng chủ đề