TRẺ EM KHÔNG NÊN ĂN NHỮNG THỰC VẬT ÍT CHẤT MỠ

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "TRẺ EM KHÔNG NÊN ĂN NHỮNG THỰC VẬT ÍT CHẤT MỠ":

Quả nào nên cho bé ăn mùa hè?

QUẢ NÀO NÊN CHO BÉ ĂN MÙA HÈ?

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Em bé nhà tôi 8 tuổi. Mùa hè muốn cho bé ăn nhiều hoa quả nhưng lại toàn quả nóng: Dưa hấu, xoài, nhãn, hồng xiêm…Mong chuyên mục cho biết, trẻ em ăn nhiều những hoa quả trên có bị mọc mụn không? Nên cho bé ăn quả gì để tốt cho sức khỏe vào mùa hè? Khánh My (Hà Nội) Rất nhiều người lầm tưởng dưa hấu, xoài…là quả nóng sẽ khiến người ăn phát mụn nhọt. Tuy nhiên, những loại quả trên lại rất tốt đối với trẻ nhỏ. Hãy xem hàm lượng dinh dưỡng của từng loại quả này nhé. - Xoài:  Là loại quả giàu hàm lượng beta caroten nhất, còn gọi là vitamin A thực vật. Trong 100g xoài có chứa 445mcg beta caroten. Chỉ cần cho bé ăn chừng 1/2 quả xoài đã đáp ứng đủ 30% nhu cầu beta caroten hàng ngày của bé.  Trong số 20 axit amin tồn tại ở tự nhiên thì xoài chứa 19 loại với hàm lượng khá cao. Nếu tích cực ăn xoài, bé sẽ hấp thu được nhiều axit amin loại này. Do đó, hệ miễn dịch của bé sẽ vững chắc hơn và hệ tiêu hóa khỏe mạnh hơn. Trong xoài còn có chứa rất nhiều cholin. Ăn đủ thực phẩm chứa cholin sẽ làm não bộ của bé hoạt hóa hơn. Trong 100g xoài chứa 7,6mg cholin. Nếu bé yêu ăn 1/2 quả xoài, đã thu được chừng 7mg cholin cho hệ thần kinh. - Dưa hấu: Là loại quả dễ ăn nhất và rất tốt với trẻ em. Cứ 100g dưa hấu có chứa 3g đường các loại. Thêm vào đó, đây là loại quả á quân về beta caroten, chỉ thua xoài. Beta caroten là một chất dẫn xuất của vitamin A, vốn rất cần cho đôi mắt trẻ em.   - Chuối: Chuối có nhiều kali. Nếu bé vừa trải qua một trận ốm do tiêu chảy thì chuối là thực phẩm rất phù hợp để bổ sung lượng kali bị mất với số lượng lớn trong những cơn tiêu chảy khiến cơ thể mệt mỏi, nhược cơ. Chuối kích thích sự tăng trưởng của vi khuẩn có lợi trong ruột cũng như sản xuất các enzyme tiêu hóa để hỗ trợ hấp thụ các chất dinh dưỡng. Một trái chuối có khoảng 3g chất xơ có thể giúp điều hòa nhu động ruột, làm dịu đường tiêu hóa. Chuối chứa tryptophan, một axit amin đóng vai trò quan trọng bảo vệ bộ nhớ và cải thiện tâm trạng. Nếu bé vừa trải qua một cơn cáu kỉnh vì bị bạn làm hỏng đồ chơi hay bị buồn bã vì không làm được bài tập thì việc ăn chuối sẽ giúp bé cải thiện tâm trạng nhờ nồng độ cao của tryptophan, được chuyển đổi thành serotonin- một chất giúp người ăn thấy hưng phấn. - Hồng xiêm:  Hồng xiêm là loại quả giàu sắt đứng hàng thứ 2, sau đu đủ chín. Ăn 100g hồng xiêm (tương đương với 2 quả) đã đủ cung cấp 29% nhu cầu sắt trong 1 ngày của trẻ. Với hàm lượng sắt này, hồng xiêm được xếp trong nhóm quả giàu sắt nhất.  Ngoài ra, hồng xiêm là loại quả giàu canxi. Nếu ăn 100g hồng xiêm thì bé yêu sẽ thu được 52mg canxi, tương ứng với 5% nhu cầu trong 1 ngày. Với một thực phẩm quả, lượng canxi như vậy là rất ấn tượng để làm cho bé cao lớn vượt trội.    Chuyên gia tư vấn Kim Mai
Xem thêm

1 Đọc thêm

Đề cương công nghệ lớp 6 hk2

ĐỀ CƯƠNG CÔNG NGHỆ LỚP 6 HK2

Câu 1:Nêu chức năng của chất đạm, chất béo, chất đường bột. Trả lời: Chất đạm giúp cơ thể phát triển tốt: Con người từ lúc mới sinh ra đến khi lớn lên sẽ có sự thay đổi rõ rệt về thể chất( Chiều cao, cân nặng) và trí tuệ. Chất đường bột Chất đường bột là nguồn chủ yếu cung cấp năng lượng cho mọi hoạt động của cơ thể: Để làm việc, vui chơi. Chuyển hóa thành các chất dinh dưỡng khác Chất béo: Chất béo cung cấp năng lượng, tích trữ dưới da 1 lớp mỡ và giúp bảo vệ cơ thể. Chuyển hóa 1 số vitamin cần thiết cho cơ thể. Câu 2: Nêu ý nghĩa của việc phân nhóm thức ăn. Thức ăn được chia thành mấy nhóm? Trả lời: Ý nghĩa của việc phân nhóm thức ăn là: Việc phân chia các nhóm thức ăn giúp cho người tổ chức bữa ăn mua đủ các loại thực phẩm cần thiết và thay đổi món ăn cho đỡ nhàm chán, hợp khẩu vị, thời tiết…mà vẫn đảm bảo cân bằng dinh dưỡng theo yêu cầu bữa ăn. Thức ăn được chia thành 4 nhóm: + Nhóm giàu chất béo. + Nhóm giàu chất đường bột. + Nhóm giàu vitamin và khoáng. + Nhóm giàu chất đạm. Câu 3: Thế nào là nhiễm trùng, nhiễm độc thực phẩm? Nêu biện pháp phòng tránh nhiễm trùng nhiễm độc thực phẩm. Trả lời: Sự xâm nhập của vi khuẩn có hại vào thực phẩm gọi là sự nhiễm trùng thực phẩm. Sự xâm nhập của chất độc vào thực phẩm gọi là sự nhiễm độc thực phẩm. Cách phòng tránh nhiễm trùng là: + Rửa tay trước khi ăn. + Vệ sinh nhà bếp + Rửa kĩ thực phẩm + Nấu chin thực phẩm + Đậy thức ăn cẩn thận +Bảo quản thực phẩm hu đáo Cách phòng tránh nhiễm độc là: + Không dung các thực phẩm có chất độc: cá nóc, khoai tây mọc mầm, nấm lạ…(sử dụng thịt cóc phải bỏ hết da, phủ tạng, nhất là gan và trứng) + Không dùng các thức ăn bị biến chất hoặc bị nhiễm các chất độc hóa học…. + Không dùng những đồ hộp đã quá hạn sử dụng, những đồ hộp đã quá hạn sử dụng, những đồ hộ bị phồng. Câu 4: Tại sao phải bảo quản chất dinh dưỡng trong khi chế biến? Để thực phẩm không bị mất các loại sinh tố nhất là những sinh tố dễ tan trong nước cần chú ý điều gì? Trả lời: Phải bảo quản chất dinh dưỡng trong khi chế biến vì: + Đun nấu lâu sẽ mất nhiều sinh tố, nhất là sinh tố tan trong nước như sinh tố C, sinh tố nhóm B và PP +Rán lâu sẽ mất nhiều sinh tố, nhất là sinh tố tan trong chất béo như sinh tố A, D, E, K Để thực phẩm không bị mất các loại sinh tố nhất là những sinh tố dễ tan trong nước cần chú ý những điều: Cho thực phẩm vào luộc hay nấu khi sôi. Khi nấu tránh khuấy nhiều Không nên hâm lại thức ăn nhiều lần Không nên dùng gạo xát quá trắng và vo kĩ khi nấu cơm. Không nên chắt bỏ nước cơm, vì sẽ mất sinh tố B1 Câu 5: Nêu phương pháp trộn dầu giấm, trộn hỗn hợp? Trả lời: Trộn dầu giấm: Quy trình thực hiện: Sử dụng các thực phẩm thực vật thích hợp, làm sạch. Trộn thực phẩm với hỗn hợp dầu ăn khoảng 510p để làm cho thực phẩm ngấm vị chua, ngọt, béo của dầu, giấm, đường và giảm bớt mùi vị ban đầu. Trình bày đẹp, sang tạo Yêu càu kĩ thuật: Rau lá giũ độ tươi, trơn láng và không bị nát. Vừa ăn, vừa chua dịu, hơi mặn ngọt, béo. Thơm mùi gia vị, không còn mùi hăng ban đầu Trộn hỗn hợp: Quy trình thực hiện: Thực phẩm thực vật được làm sạch, cắt thái phù hợp, ngâm nước muối có độ mặn 25% hoặc ướp muối, sau đó rửa lại cho hết vị mặn, vắt ráo. Trộn chung chung nguyên liệu thực vật + động vật + gia vị Trình bày theo đặc trưng của món ăn, đẹp, sang tạo. Yêu cầu kĩ thuật: Giòn, ráo nước Vừa ăn đủ vị chua, cay, mặn, ngọt Màu sắc của thực phẩm động vật và thực vật trông đẹp, hấp dẫn. Câu 6: Nêu những yếu tố cần thiết để tổ chức 1 bữa ăn hợp lý? Tại sao phải quan tâm đến chế độ ăn của từng đối tượng ăn trong từng gia đình? Trả lời: Những yếu tố cần thiết để tổ chức 1 bữa ăn hợp lý là: + Nhu cầu các thành viên trong gia đình + Điều kiện tài chính + Sự cân bằng chất dinh dưỡng + Thay đổi món ăn Phải quan tâm đến chế độ ăn của từng đối tượng ăn trong từng gia đình vì Trẻ em đang lớn , cần ăn nhiều loại thực phẩm để phát triển cơ thể Người lớn đang làm việc, đặc biệt là lao động chân tay; ần ăn các thực phẩm cung cấp nhiều năng lượng Phụ nữ có thai cần ăn những thực phẩm giàu chất đạm canxi phốt pho và chất sắt. Câu 7: Thực đơn là gì? Nêu các nguyên tắc xây dựng thực đơn? Trả lời: Thực đơn là bảng ghi lại tất cả những món ăn dự định sẽ phục vụ trong bữa tiệc, cỗ, liên hoan hay bữa ăn thường ngày…. Các nguyên tắc xây dựng thực đơn là: + Thực đơn có số lượng và chất lượng món ăn phù hợp với tính chất của bữa ăn + Thực đơn phải đủ các loại món ăn chính theo cơ cấu của bữa ăn + Thực đơn phải đảm bảo yêu cầu về mặt dinh dưỡng của bữa ăn và hiệu quả kinh tế
Xem thêm

4 Đọc thêm

Ăn chay có ngừa được ung thư?

ĂN CHAY CÓ NGỪA ĐƯỢC UNG THƯ?

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Có nhiều lý do giải thích vì sao người ta không chọn ăn thịt. Nhưng liệu không ăn thịt có giúp bạn giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư? Một chế độ ăn uống khá phong phú các loại trái cây, rau củ và ngũ cốc đã được chứng minh là có khả năng chống lại nhiều dạng bệnh ung thư, chứ không phải là giảm ăn tất cả các loại thịt mới làm giảm nguy cơ mắc ung thư. Chế độ ăn không lành mạnh làm tăng nguy cơ ung thư Bà Kathy Chapman, Chủ tịch Ủy ban hoạt động thể chất và dinh dưỡng thuộc Hội đồng Ung thư Australia (CCA) phân tích: “Nói một cách dứt khoát rằng, ăn nhiều loại trái cây và rau củ sẽ là giải pháp mà mọi người nên nhắm tới. Nếu bạn muốn chọn một thực đơn ăn chay, bạn phải chắc chắn rằng nó là thứ lành mạnh, nhưng để làm giảm nguy cơ ung thư thì không phải là hoàn toàn kiêng thịt”. Theo đó, các nhà khoa học đã ước tính rằng những chế độ ăn uống không lành mạnh là nguyên nhân gây nên khoảng 10 căn bệnh ung thư. Bà Kathy Chapman cho rằng, bằng chứng đã khá rõ ràng là trái cây và rau củ đã đóng góp đáng kể trong việc chống lại các bệnh ung thư, chẳng hạn như ung thư miệng, họng, ung thư dạ dày và ung thư ruột. Một nghiên cứu cũng đã chứng minh rằng những người ăn đa dạng các loại trái cây và rau củ sẽ làm giảm 22% rủi ro hình thành bệnh ung thư miệng hơn những ai ăn ít hoặc ăn cách quãng. Ngoài ra, việc ăn nhiều các loại thịt đỏ - đặc biệt là các loại thịt đã qua chế biến như xúc xích, salami (xúc xích Ý) và thịt xông khói - lại là những thực phẩm làm tăng thêm nguy cơ hình thành căn bệnh ung thư ruột.   Bảng các loại thực phẩm giàu chất chống ôxy hóa có khả năng ngừa ung thư Tại sao trái cây, rau củ lại ngừa ung thư? Bằng việc nghiên cứu những mối liên hệ giữa chế độ ăn uống và bệnh ung thư đã cho thấy quả là khá nan giải trong việc phân lập ảnh hưởng của việc ăn uống. Ngoài ra cũng có nhiều bằng chứng về lợi ích của các loại trái cây và rau củ dựa trên kết quả của các cuộc nghiên cứu đã kết luận “chế độ ăn uống chay là chiến lược hữu ích để giảm thiểu ung thư”. Thêm nữa, một cuộc nghiên cứu vào năm 2009 dựa trên hơn 61.000 người Anh, bao gồm 20.000 người ăn chay, đã khám phá rằng một số căn bệnh ung thư phát triển chậm hơn ở những người ăn chay so với những người ăn nhiều thịt. Bên cạnh đó, nhiều người thường xuyên ăn cá cũng cho thấy sự phát triển chậm chạp của bệnh ung thư. Việc tìm kiếm một mối quan hệ nhân quả giữa chế độ ăn uống và bệnh ung thư cũng khá khó khăn vì thực phẩm có chứa nhiều loại dinh dưỡng và các thành phần hóa học khác nhau, do đó đã ảnh hưởng khác nhau đến sự phát triển bệnh ung thư và rất khó để tách biệt những nghiên cứu này ra ngoài. Đơn cử như, một thành phần trái cây và rau củ được cho là bảo vệ chống lại ung thư ruột là chất xơ thực vật, chất xơ khuyến khích sự phát triển của các loại vi khuẩn lành mạnh có trong ruột. Nhưng chất xơ không phải là yếu tố duy nhất và không chắc có các thành phần khác tồn tại trong rau củ, trái cây có thể giảm thiểu nguy cơ ung thư rộng rãi hơn. Nhân tố đặt cược trong vấn đề này là chất chống ôxy hóa. Theo bà Kathy Chapman, các chất chống ôxy hóa đã giúp cho sự hoạt động trơn tru của các tế bào và những rối loạn có thể gây ra ở các tế bào, làm thay đổi cách mà ung thư có thể bị giảm thiểu. Nhưng một chất chống ôxy hóa đơn lẻ không thể hoạt động hiệu quả bằng khi chúng được gộp lại với nhau; có khả năng là nhiều chất chống ôxy hóa khác nhau đã được tìm thấy từ những loại thực phẩm có nguồn gốc từ thực vật. Nó cũng rất đáng chú ý, khi bạn ăn nhiều trái cây và rau củ, bạn sẽ có khuynh hướng ăn ít các loại thực phẩm năng lượng cao, điều này giúp duy trì một thể trạng mạnh khỏe.   Một chế độ ăn uống khá phong phú các loại trái cây, rau củ và ngũ cốc đã được chứng minh là có khả năng chống lại nhiều dạng bệnh ung thư, chứ không phải là giảm ăn tất cả các loại thịt mới làm giảm nguy cơ mắc ung thư. (Ảnh minh họa) Những loại trái cây, rau củ rất tốt cho phòng ngừa ung thư Loại trái cây và rau củ nào là tốt nhất có thể giúp chúng ta phòng ngừa ung thư và những dạng bệnh mạn tính khác? Bà Kathy Chapman khuyên rằng, hành tây và tỏi tây đã được chứng minh là có thể bảo vệ cơ thể chống lại ung thư dạ dày, còn những loại rau họ cải như bắp cải, bông cải và cải Bỉ là những loại rau cực tốt giúp bạn chống ung thư ruột. Tuy nhiên, tất cả các loại trái cây và rau củ đều có một số chất để cung cấp cho bạn và không loại nào là tốt nhất nếu chỉ dùng đơn lẻ. Chẳng hạn như, các chất chống ôxy hóa mà bạn nhận được từ cà chua, cà rốt và các loại rau củ giàu beta-caroten lại khác biệt hoàn toàn với những chất chống ôxy hóa từ những loại quả mọng, hay vitamin C mà bạn nhận được từ các loại cam quýt (những loại trái cây, rau củ có màu sắc khác nhau lại chứa các loại dinh dưỡng khác biệt và việc ăn đa dạng các màu sắc thực vật khác nhau sẽ giúp bạn nâng cao mức độ chống bệnh ung thư). Mặt khác, việc dùng quá nhiều rau củ quả lại phản tác dụng và sẽ gây hại; một vài cuộc nghiên cứu đã chỉ ra rằng, các chất bổ sung beta-carotene đã thật sự làm gia tăng rủi ro của bệnh ung thư phổi ở những người hút thuốc lá. Sách Hướng dẫn chế độ ăn uống Australia (ADG) khuyên rằng, nên ăn các loại thực phẩm có nguồn gốc thực vật vì chúng là nền tảng của chế độ ăn uống lành mạnh. Mỗi ngày, tất cả chúng ta nên ăn 2 suất trái cây và 5 suất rau. Mỗi suất là 1 tách rau trộn hay trái cây xắt lát, hoặc nửa tách rau củ nấu chín. Những chế độ ăn chay đã thực sự có tác dụng bảo vệ và chắc chắn không làm phát sinh rủi ro gây bệnh ung thư.
Xem thêm

2 Đọc thêm

7 KHÔNG khi cho bé ăn trứng gà

7 KHÔNG KHI CHO BÉ ĂN TRỨNG GÀ

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Đối với trẻ nhỏ, từ trước đến nay trứng gà luôn là một món ăn bổ dưỡng mà các mẹ vẫn cho bé ăn hàng ngày, thậm chí trứng gà còn được coi là một món ăn nhất-thiết-phải-có mỗi khi bé ốm sốt hay cảm gió. Tuy nhiên, những nghiên cứu khoa học đã chứng mình điều ngược lại khiến một số mẹ phải giật mình: nếu cho con ăn không đúng lúc và đúng cách, mẹ có thể sẽ vô tình làm hại con. Hãy cùng Eva điểm ra những trường hợp mẹ tuyệt đối không nên cho bé ăn trứng gà sau đây: 1. Bé dưới một tuổi   Mẹ chớ dại cho bé ăn cháo trứng khi chưa đầy một tuổi (hình minh họa) Trong rất nhiều tài liệu hướng dẫn ăn dặm hay ngay cả trong thực tiễn hàng ngày, trứng gà vẫn được liệt kê như là một thực phẩm chứa nhiều dinh dưỡng cho trẻ. Ngay cả phương pháp ăn dặm kiểu Nhật hiện đang thu hút sự chú ý của các mẹ cũng gợi ý món cháo trứng gà cho bé 7 tháng tuổi. Nhưng có một sự thật mẹ không hề hay biết, trứng gà và các sản phẩm làm từ trứng gà có thể gây ra nguy cơ dị ứng cao cho bé. Bé bị dị ứng trứng thường do phản ứng của hệ miễn dịch với các loại protein có trong trứng gà (nhất là lòng đỏ). Có một lượng nhỏ những chất hóa học trong trứng gà cũng khiến bé có cơ địa mẫn cảm xuất hiện dấu hiệu dị ứng. Thậm chí với một số bé quá nhạy cảm, làn da bé cũng nhanh chóng bị dị ứng ngay khi vừa tiếp xúc với mùi vị trứng. Vì những nguy cơ tiềm ẩn này, mẹ chớ dại cho con ăn trứng gà khi bé chưa đầy 1 tuổi. 2. Bé vừa ốm dậy Nếu các mẹ vẫn hay chế biến trứng cho con mỗi khi con bị cảm sốt, hãy suy nghĩ lại bởi có thể mẹ không biết hành động của mẹ có thể gây ra sai lầm tai hại đến thế nào. Thành phần chủ yếu của trứng gà gồm có anbumin và ovoglobumin, là protein hoàn toàn, được cơ thể hấp thu 99,7%, sau khi ăn vào sẽ tạo ra một nhiệt lượng đáng kể. Như vậy khi bé bị sốt mà còn ăn thêm trứng, nhiệt độ cơ thể sẽ càng tăng mạnh khiến bệnh của bé không những cải thiện mà còn trầm trọng thêm. 3. Bé bị cảm, sốt Mẹ cũng nên thật cẩn thận khi nấu thực phẩm này cho con khi bé mới ốm dậy. Trên bề mặt vỏ trứng có chứa rất nhiều lỗ nhỏ li ti nên không khí và vi khuẩn rất dễ xâm nhập, thậm chí có thể nhiễm vi khuẩn salmonella trong lòng đỏ trứng. Khi bé mới khỏi ốm, sức đề kháng còn quá yếu nên mẹ không nên cho bé ăn trứng tươi, luộc chưa chín hay đập vào cháo nóng. 4. Bé bị tiêu chảy Khi bé bị tiêu chảy, việc chuyển hoá các chất mỡ, đạm (có nhiều trong trứng gà) và đường bị rối loạn, trong khi trứng gà không dễ tiêu. Nếu không để đường ruột nghỉ ngơi, không những mẹ làm mất tác dụng bồi bổ mà còn làm cho bệnh của bé nặng thêm. 5. Bé có tiền sử tim mạch Đối với những bé có các bệnh về tim mạch như tim bẩm sinh, hở van tim v.v, mẹ cũng nên hạn chế cho con ăn trứng bởi trong trứng có hàm lượng cholesterol cao dễ ảnh hưởng đến bệnh của trẻ. 6. Bé bị tiểu đường Trẻ em bị đái tháo đường là một khái niệm mới lạ nhưng đã dần trở nên quen thuộc trong thời điểm hiện tại. VÌ chế độ ăn uống của trẻ không lành mạnh và chưa quá nhiều đồ ngọt nên rất nhiều trẻ em tiểu học hiện nay mắc căn bệnh này. Nếu bé của mẹ đang bị tiểu đường, ngoài các đồ ăn ngọt và tinh bột, mẹ cũng nên hạn chế cho con ăn trứng bởi thực phẩm này chứa nhiều chất gây hại cho bệnh tình của bé 7. Bé bị thừa cân, béo phì Vì trong trứng chưa rất nhiều cholesterol và chất béo bão hòa, một trong những thủ phạm của tình trạng thừa cân ở trẻ, nên mẹ có thể hạn chế tối đa việc chế biến trứng đối với những bé đang thừa cân. Thay vào đó, một chế độ ăn hợp lý bao gồm các loại rau xanh và hoa quả chưa nhiều vitamin là những món ăn mẹ cần cung cấp cho bé mỗi ngày.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Những trường hợp mẹ KHÔNG được cho trẻ ăn trứng

NHỮNG TRƯỜNG HỢP MẸ KHÔNG ĐƯỢC CHO TRẺ ĂN TRỨNG

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Trứng gà là thức ăn giàu chất dinh dưỡng như protein, canxi, photpho, sắt, chất khoáng, các men, hormone và nhiều vitamin có lợi cho sự phát triển của trẻ. Với các chế biến đơn giản, mẹ dễ dàng có thể cho con một món ăn ngon từ trứng như trứng rán, trứng sốt cà chua.... Mặc dù trứng gà có nhiều tác dụng với trẻ, nhưng các mẹ nên biết không phải lúc nào cũng thích hợp để cho con ăn trứng. Dưới đây là một số trường hợp các mẹ cần biết và tránh cho con ăn trứng tại những thời điểm này.   Trứng gà có rất nhiều tác dụng với trẻ nhỏ, nhưng các mẹ nên biết không phải lúc nào cũng thích hợp để cho trẻ ăn trứng (Ảnh minh họa) 1. Trẻ dưới một tuổi Trường hợp không nên ăn trứng đầu tiên là khi trẻ dưới 1 tuổi.Để thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của trẻ sơ sinh, một số bà mẹ thường cho con cái của họ ăn trứng mỗi bữa ăn. Điều này có thể làm cho trẻ bị khó tiêu và thậm chí bị tiêu chảy. Bởi vì do chức năng tiêu hóa của trẻ sơ sinh, đường tiêu hóa chưa trưởng thành và sự bài tiết của các enzym tiêu hóa khác nhau là không đủ, vì vậy ăn trứng quá nhiều sẽ làm tăng gánh nặng cho dạ dày và ruột của trẻ sơ sinh. Trẻ sơ sinh dưới 6 tháng tuổi không nên ăn lòng trắng trứng vì trong lòng trắng trứng có lượng protein khá cao có thể khiến bé bị dị ứng trong khi hệ miễn dịch và sức đề kháng của bé còn rất yếu. Khi bé được 9 tháng tuổi, mẹ mới cho bé ăn lòng đỏ trứng và nên cho ăn từng ít một. Tốt nhất mỗi tuần mẹ chỉ nên cho bé ăn 2 lòng đỏ trứng nấu chung với cháo hoặc bột, không nên luộc trứng rồi cho bé ăn lòng đỏ vì rất dễ khiến bé bị mắc nghẹn khi ăn. Khi cho bé ăn trứng, các mẹ nên chú ý các biểu hiện như phát ban da, nổi mề đay, nôn mửa và các hiện tượng dị ứng khác sau khi trẻ ăn lòng đỏ trứng. Bởi vì hệ thống miễn dịch của trẻ sơ sinh là tương đối yếu. Do đó, các phản ứng dị ứng có thể xảy ra sau khi ăn một số loại thức ăn mới.  2. Trẻ bị sốt, cảm Bình thường trứng là một thực phẩm rất bổ dưỡng cho sức khỏe trẻ con. Tuy nhiên, các bác sĩ khuyên rằng khi trẻ bị sốt thì không nên ăn trứng. Bởi trong trứng có rất nhiều protein nên sau khi ăn sẽ tạo ra một nhiệt lượng lớn. Những trẻ đang bị sốt ăn trứng gà sẽ làm cho nhiệt lượng cơ thể tăng lên không phát tán ra ngoài được, do vậy sốt càng cao và rất lâu khỏi.   Trẻ đang bị sốt ăn trứng gà sẽ làm cho nhiệt lượng cơ thể tăng lên không phát tán ra ngoài được, do vậy sốt càng cao và rất lâu khỏi (Ảnh minh họa) Trẻ nhỏ bị cảm cũng là đối tượng không được ăn trứng gà bởi trong trứng gà ẩn chứa rất nhiều vi khuẩn salmonella len lỏi qua những lỗ nhỏ li ti xâm nhập vào lòng đỏ quả trứng. Vi khuẩn này sẽ phá hủy hệ miễn dịch của trẻ nhỏ, kéo dài thời gian nhiễm bệnh cảm. Vì vậy, khi bị sốt, cảm bố mẹ không nên cho ăn trứng gà mà thay vào đó nên uống nhiều nước, rau quả tươi và hạn chế những thứ có chứa nhiều protein. 3. Trẻ vừa bị ốm dậy Trẻ vừa bị ốm dậy cũng là một trong những trường hợp không nên ăn trứng. Khi trẻ vừa mới ốm dậy, nhiều cha mẹ thường nấu cháo nóng và đánh trứng vào cho trẻ ăn để mau khỏi bệnh. Tuy nhiên với những trẻ vừa qua khỏi đợt sốt tuyệt đối không nên ăn trứng gà bởi lượng protein hoàn toàn trong trứng gà như anbumin và ovoglobumin khi hấp thu vào cơ thể còn chưa hồi phục của trẻ nhỏ sẽ làm tăng lượng nhiệt của cơ thể, kiến cơn ốm có thể quay trở lại hoặc bé lâu khỏi bệnh hơn. Tốt nhất nên cho trẻ ăn cháo thịt với hành hoa để phục hồi sức khỏe.  4. Trẻ bị tiêu chảy Rất nhiều mẹ nghĩ rằng khi con bị tiêu chảy sẽ mất nhiều chất dinh dưỡng và cần phải bồi bổ cơ thể bằng cách ăn nhiều trứng gà. Tuy nhiên, suy nghĩ này của phụ huynh là hoàn toàn không đúng. Đối với trẻ bị tiêu chảy, do dịch tiêu hóa tiết ra ít hơn, hoạt tính men tiêu hóa bị giảm, việc chuyển hóa chất mỡ, chất đạm và đường bị rối loạn, chức năng tái hấp thu nước và chất dinh dưỡng ở ruột non gặp trở ngại, phần lớn các chất dinh dưỡng bị thải ra ngoài qua đường tiêu hóa. Cho nên, việc bổ sung trứng gà (thực phẩm giàu đạm và chất béo) cho trẻ trong giai đoạn này không những sẽ làm mất đi tác dụng bổ dưỡng cơ thể, mà ngược lại còn làm cho tình trạng bệnh càng nặng thêm, làm gián đoạn quá trình chuyển hóa các chất dinh dưỡng vào trong cơ thể, ảnh hưởng đến đường ruột. Vì thế, trong thời gian bị tiêu chảy, mẹ không nên cho trẻ ăn trứng gà.  5. Trẻ béo phì, thừa cân Những trẻ nhỏ mắc bệnh béo phì không nên ăn trứng gà bởi trong trứng có chứa rất nhiều cholesterol và chất béo bão hòa khiến thân hình của trẻ ngày càng nặng nề hơn. Tốt nhất cha mẹ cần cho trẻ ăn nhiều rau xanh và hoa quả chưa nhiều vitamin để giảm bớt lượng mỡ trong cơ thể.   Những trẻ nhỏ mắc bệnh béo phì cũng là trường hợp không nên ăn trứng gà bởi trong trứng có chứa rất nhiều cholesterol và chất béo bão hòa khiến thân hình của trẻ ngày càng nặng nề hơn (Ảnh minh họa) 6. Trẻ nhỏ bị tiểu đường Ngày nay, trẻ nhỏ được làm quen nhiều với đồ ăn vặt hay những đồ ăn chiên béo ngậy hay có hàm lượng đường cao. Việc cha mẹ chiều chuộng cho trẻ ăn quá nhiều đồ ngọt sẽ khiến trẻ có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường mãn tính rất cao. Đây là căn bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ hiện nay. Khi trẻ bị bệnh tiểu đường ăn quá nhiều trứng, sẽ khiến bệnh trở nên trầm trọng hơn. Bởi trứng là loại thực phẩm chứa nhiều chất béo omega-3, là nguồn cung cấp vitamin, protein và nhiều dưỡng chất khác có lợi sức khỏe nhưng chúng cũng chứa rất nhiều cholesterol và chất béo bão hòa. Đây là những “thủ phạm” có thể gây ra bệnh tiểu đường loại 2.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Mướp thuốc giải nhiệt hè

MƯỚP THUỐC GIẢI NHIỆT HÈ

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Mướp là loại quả làm thực phẩm thanh nhiệt, giải độc rất tốt trong những ngày hè nóng nực. Quả mướp nấu canh, xào… vừa ngon lại mát; còn vỏ, rễ cây mướp và hạt dùng làm thuốc chữa bệnh với tên ty qua, thiên ty qua, ty lạp... Thành phần hóa học quả mướp chứa chất đắng, saponin, chất nhầy, xylan, mannan, galactan, lignin, mỡ, protein 1,5%. Trong quả tươi có nhiều choline, phytin, các acid amin tự do như lysin, arginin, acid aspartic, glycin, threonin, acid glutamic, alanin, tryptophan. Mướp chứa nhiều dưỡng chất như chất xơ ăn kiêng, vitamin C, riboflavin, đồng, thiamin, sắt và ma nhê. Mướp chứa nhiều nước, là loại quả chứa ít calorie nhất chỉ khoảng 60 mg/100 g khi đã nấu chín. Nhờ ít chất béo bão hòa, lại nhiều chất xơ nên ăn mướp có lợi trong việc làm giảm cân nhanh chóng. Ăn mướp cũng tốt cho dạ dày vì chất cellulose ngừa táo bón và trĩ. Đông y cho rằng mướp có vị ngọt, tính bình, không độc, bổ tỳ lợi thủy, giải độc sát trùng. Trong dân gian, quả mướp rất tốt cho sản phụ, giúp lợi sữa, lưu thông khí huyết.   Mướp là loại quả làm thực phẩm thanh nhiệt, giải độc rất tốt trong những ngày hè nóng nực Dưới đây là vài cách trị bệnh từ mướp: - Giúp khỏe tỳ vị, sáng mắt (dùng thường trong những trường hợp suy giảm thị lực): Dùng 250g mướp xào hoặc nấu với 25 g gan heo để ăn thường xuyên. - Bệnh tiểu đường: Thường xuyên nấu 250 g mướp để uống, ngày uống 2 lần hoặc dùng làm thực phẩm ăn trong ngày. - Trị giun sán: Dùng 40-50 hạt mướp, trẻ em cần giảm liều, bỏ vỏ để lấy nhân ăn lúc đói hoặc giã nát rồi uống chung với nước, mỗi ngày 1 lần, dùng trong ba ngày liên tục. - Chữa chứng vàng da: Dùng nước ép từ hạt mướp để thoa lên da. Hạt và vỏ mướp khô cũng có tác dụng tương tự. - Trị đau khớp: lấy 50 g xơ mướp, 50 g rễ mướp kết hợp với 10 g mộc thông và 8 g tỳ giải, sắc lấy nước uống, mỗi ngày 3 lần. - Chữa bệnh zona: Dùng lá non vò nát, chấm nhẹ vào vùng mẩn nốt, nếu bị bên trong cơ thể thì dùng 10 -15 g xơ mướp sắc uống hằng ngày.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Rau sam thanh nhiệt, trị lỵ

RAU SAM THANH NHIỆT, TRỊ LỴ

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Rau sam là loại rau rất thông dụng ở nước ta, mọc hoang và rất rẻ tiền. Rau sam giàu chất dinh dưỡng, vitamin và khoáng chất. Tuy nhiên ít người biết tác dụng chữa bệnh của nó. Rau sam chứa nước, protein, chất béo, carbohydrate, Ca, P; Fe; vitamin A, B1, C; các sắc tố nhóm betacyanidin... Theo Đông y, rau sam vị chua, tính lạnh, vào đại tràng, can và thận. Có tác dụng thanh nhiệt giải độc, mát máu, tán huyết tiêu thũng. Dùng cho hội chứng lỵ, viêm đường tiết niệu, sỏi đường tiết niệu (đái dắt, đái buốt, đái ra máu và cặn sỏi), mụn nhọt lở ngứa. Một số cách dùng rau sam làm thuốc: Chữa lỵ: Bài 1: rau sam 100g, cỏ sữa nhỏ lá 100g, sắc uống trong ngày; nếu đi ngoài ra máu, thêm cỏ nhọ nồi 20g, rau má 20g. Bài 2: rau sam 20g, cỏ nhọ nồi 20g, lá nhót 20g, búp ổi 20g. Phơi hay sấy khô, tán thành bột mịn, làm viên hoàn. Ngày uống 2 - 3 lần, mỗi lần 15g. Bài 3: rau sam 50g, cỏ sữa nhỏ lá 50g, chỉ xác 20g, binh lang 20g, lá trắc bá 20g, vỏ rụt 20g, hoa hòe 20g. Sấy khô, tán bột. Uống 20g với nước vối. Bài 4: Cháo rau sam: rau sam tươi 100 - 200g, gạo tẻ 90g cho thêm nước nấu cháo thêm chút muối, ăn khi đói. Dùng cho các bệnh nhân có hội chứng lỵ xuất huyết.   Theo Đông y, rau sam có tác dụng thanh nhiệt giải độc, mát máu, tán huyết tiêu thũng (Ảnh: Internet) Bài 5: Rau sam xào: rau sam 250g, chiên với dầu thực vật, thêm chút muối ăn. Dùng cho các bệnh nhân có hội chứng lỵ Chữa đái buốt, đái ra máu: Nước ép rau sam: rau sam 100g, rửa sạch, để ráo, giã vắt ép lấy nước, thêm nước sôi để nguội vào bã vắt lấy 100ml, thêm ít đường trắng khuấy đều. Ngày làm 3 lần. Dùng cho các trường hợp viêm sỏi đường tiết niệu, mụn nhọt, lở ngứa. Nước ép rau sam hòa mật: Nước ép rau sam 60 - 100ml đun vừa sôi, thêm 20ml mật khuấy đều cho uống. Dùng cho sản phụ sau đẻ đau quặn bụng, tiểu dắt, buốt. Chữa xích bạch đới: rau sam 100g, lòng trắng trứng gà 2 quả. Rau sam giã nát vắt lấy nước, thêm lòng trắng trứng vào; hấp chín. Ăn trong ngày, dùng liền 3 - 5 ngày. Chữa chốc đầu trẻ em: Nước ép rau sam cô đặc, thêm ít mỡ lợn, trộn đều. Bôi lên chỗ chốc nhiều lần trong ngày. Kiêng kỵ: Người bị hư hàn tiết tả (tiêu chảy) không dùng. 
Xem thêm

2 Đọc thêm

Những thực phẩm tối kỵ với người gan nhiễm mỡ

NHỮNG THỰC PHẨM TỐI KỴ VỚI NGƯỜI GAN NHIỄM MỠ

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Gan nhiễm mỡ hay còn gọi là bệnh thoái hóa mỡ gan. Đó là tình trạng lượng mỡ tích tụ trong gan > 5% trọng lượng gan. Triệu chứng thường thấy là chứng gan to kín đáo, gia tăng vừa phải các men chuyển hóa và phosphatase kiềm. Một số bệnh nhân cảm thấy hơi mệt mỏi và suy nhược, hoặc có cảm giác hơi tưng tức ở vùng dưới sườn bên phải. Gan nhiễm mỡ là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây ra bệnh gan mãn tính. Nếu không được điều trị và chế độ dinh dưỡng phù hợp, bệnh sẽ nặng hơn và có thể dẫn đến ung thư gan. Người bị gan nhiễm mỡ nên kiêng ăn gì? Để giảm lượng mỡ trong gan thì trước tiên, người bệnh cần giảm bớt lượng mỡ trong các món ăn mỗi ngày nhằm giảm bớt lượng mỡ máu và lượng mỡ được chuyển hóa qua gan. Bệnh nhân có thể sử dụng các loại dầu thực vật bao gồm dầu mè, dầu olive và dầu đậu nành… để thay cho các loại dầu mỡ động vật. Ngoài ra, người bị gan nhiễm mỡ cũng cần kiêng những loại nội tạng và da động vật do chúng chứa nhiều cholesterol; không nên ăn quá nhiều thịt. Người bệnh cũng nên hạn chế các loại gia vị có tính cay, nóng bao gồm tỏi, tiêu, ớt, gừng, riềng,…những loại trái cây có chứa nhiều năng lượng và khó tiêu như sầu riêng, mít,… Đặc biệt, người bệnh cần phải kiêng rượu, bia. Khi bị bệnh gan nhiễm mỡ mà người bệnh vẫn tiếp tục uống rượu bia sẽ làm quá trình chuyển đến xơ gan và ung thư gan nhanh hơn nhiều. Thực phẩm nào tốt cho người gan nhiễm mỡ? Người bị gan nhiễm mỡ được khuyến cáo là nên sử dụng các loại rau, củ, trái cây thường xuyên và đều đặn. Các loại quả như bưởi, cam, nho, chanh, táo cũng có thể có ích trong việc điều trị bệnh gan nhiễm mỡ. Theo thông tin trên Ykhoa.net, dưới đây là những thực phẩm tốt cho người bị gan nhiễm mỡ và công dụng của chúng:   Những thực phẩm tối kỵ với người gan nhiễm mỡ  (Ảnh minh họa) Ngô: Chứa nhiều các acid béo không no, có khả năng thúc đẩy quá trình chuyển hóa của chất béo nói chung và cholesterol nói riêng. Theo dinh dưỡng học cổ truyền, ngô có vị ngọt tính bình, công dụng điều trung kiện vị lợi niệu, thường được dùng cho những trường hợp tì vị hư yếu, chán ăn, thủy thấp đình trệ, tiểu tiện bất lợi, phù thũng, rối loạn lipid máu, thiểu năng mạch vành. Nhộng tằm: Vị ngọt mặn, tính bình, giúp ích tì bổ hư, trừ phiền giải phát. Nhộng còn có tác dụng làm giảm cholesterol huyết thanh và cải thiện chức năng gan. Nhộng thường dùng dưới dạng các món ăn hoặc tán thành bột để uống. Kỷ tử: Có tác dụng ức chế quá trình tích tụ chất mỡ trong tế bào gan, thúc đẩy sự tăng sinh tế bào gan và cải thiện chu trình chuyển hóa chất béo. Nấm hương: Chứa những chất có tác dụng làm giảm cholesterol trong máu và tế bào gan. Thường dùng dưới dạng thực phẩm để chế biến các món ăn. Lá trà: Có khả năng giảm trừ các chất bổ béo. Trà có khả năng làm tăng tính đàn hồi thành mạch, giảm cholesterol máu và phòng chống sự tích tụ mỡ trong gan. Lá sen: Giảm mỡ máu, giảm béo và phòng chống sự tích tụ mỡ trong tế bào gan. Lá sen được dùng dưới dạng hãm với nước sôi uống thay trà hoặc nấu cháo lá sen. Rau cần: Chứa nhiều vitamin, tác dụng mát gan, hạ cholesterol trong máu, thúc đẩy quá trình bài tiết các chất phế thải và làm sạch huyết dịch. Ngoài ra, người bệnh gan nhiễm mỡ nên bổ sung các loại rau tươi như cải xanh, cải cúc, rau muống... có công dụng giải nhiệt làm mát gan. Cà chua, cà rốt, măng bí đao, mướp, dưa gang, dưa chuột... thanh nhiệt, thông phủ, hành khí, lợi tiểu. Các loại dầu thực vật như dầu lạc, dầu vừng, dầu đậu tương... chứa nhiều acid béo không no có tác dụng làm giảm cholesterol máu; các loại thịt, cá ít mỡ và các thức ăn chế biến từ đậu tương, đậu xanh, đậu đen...
Xem thêm

2 Đọc thêm

Cách cho con ăn rau “sai bét” của mẹ

CÁCH CHO CON ĂN RAU “SAI BÉT” CỦA MẸ

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Rau quả tươi rất giàu nước, tinh bột, protein thực vật nhưng lại chứa rất ít chất béo. Đó là lý do rau không được sử dụng làm thực phẩm chính cung cấp năng lượng cho trẻ nhỏ. Tuy nhiên, rau bổ sung một nguồn khoáng chất vfa vitamin cực kỳ dồi dào cho bé. Càng ngày, các bà mẹ càng quan tâm hơn đến việc cho con ăn rau để có một đời sống khỏe manhh, tránh táo bón. Tuy nhiên, rất nhiều chị em vẫn sai lầm trong cách chế biến rau cho trẻ. Rửa nấm đông cô quá sạch hoặc ngâm nước quá lâu Nấm có chứa Lysergic, một chất mà nếu để dưới ánh sáng mặt trời có thể được chuyển hóa thành vitamin D. Nếu rửa nấm sạch quá mức hoặc ngâm trong nước lâu trước khi ăn có thể gây mất chất dinh dưỡng ở nấm tươi. Khi nấu nấm đông cô cho con, mẹ cũng không nên dùng nồi sắt hoặc đồng để tránh thất thoát dinh dưỡng. Ăn cà chua trước bữa ăn Một số chị em hay cho con ăn khai vị bằng cà chua, salat trước khi ăn. Tuy nhiên, cà chua nếu cho con ăn nguyên quả như cà chua bi, chỉ nên ăn sau bữa ăn. Ăn cà chua trước bữa ăn có thể làm tăng độ chua của axit trong dạ dày, thêm vào đó, dạ dày chưa có thức ăn có thể khiến bé đau bụng, khó chịu hoặc xuất hiện các triệu chứng đau dạ dày khác. Cho con ăn quá nhiều cải bó xôi Cải bó xôi là siêu thực phẩm rất tốt cho sức khỏe. Tuy nhiên cái gì nhiều quá cũng không tốt. Cải bó xôi chứa rất nhiều axit oxalic. Nếu trẻ ăn quá nhiều cải bó xôi, axit oxalic sẽ kết hợp với canxi và kẽm trong cơ thể bé để sản xuất ra canxi oxalate và kẽm oxalate. Hai chất này không dễ dàng hấp thụ cũng không dễ dàng bài tiết ra khỏi cơ thể, dễ gây thiếu hụt canxi và thiếu kẽm cho trẻ. Ăn quá nhiều cà rốt Cà rốt có chứa nhiều carotene rất tốt cho trẻ. Thế nhưng mẹ nên lưu ý cho con ăn điều độ. Trẻ nhỏ uống quá nhiều nước ép từ cà rốt hoặc cà chua có khả năng bị tăng lipit máu, khuôn mặt và da bàn tay biến thành màu da cam, chán ăn, tinh thần bất ổn, hay bồn chồn, thậm chí khó ngủ, hay sợ hãi ban đêm, quấy khóc liên miên.   Cho con ăn cà rốt nhiều quá cũng không tốt cho trẻ (ảnh minh họa) Nấu chung cà rốt và củ cải Món canh cà rốt củ caỉ su hào rất được chị em chuộng nấu vì ngon và rất ngọt nước. Một số mẹ cho con ăn dặm còn xay chung cà rốt và củ cải. Trên thực tế cách nấu này không sinh độc, sinh hại nhưng lại không tốt nếu tính về mặt dinh dưỡng. Trong cà rốt có chứa enzyme có thể phá hủy vitamin C. Do đó, lượng vitamin C trong củ cải cũng sẽ bị phá hủy hoàn toàn khi ăn kèm với cà rốt. Rau quả đông lạnh nấu chín quá lâu Các loại rau quả đông lạnh đã chủ yếu được rửa sạch rồi mới cấp dông. Nếu nấu quá lâu có thể dẫn đến mục nát, mất chất Ăn giá đỗ sống Giá đỗ ngon, dinh dưỡng phong phú nhưng nếu để con ăn, cần thiết phải nấu chín. Nếu không có thể khiến bé cảm thấy buồn nôn, nôn, tiêu chảy, chóng mặt và các phản ứng khó chịu khác. Đun hầm quá lâu các loại rau lá xanh thẫm Các loại rau lá xanh thẫm có chứa nhiểu nitrat, nếu đun lâu có thể chuyển thành nitrite, dễ dẫn đến ngộ độc thức ăn trẻ em. Nấu tỏi đã để quá lâu Hẹ và tỏi nếu muốn cho con ăn nên cho bé ăn đồ mới. Các bà nội trợ hay tích nhiều tỏi trong bếp để dùng dần nhưng nếu để trong một thời gian dài, tỏi cũng hay mọc mầm và nitrat sẽ chuyển thành nitrit gây ngộ độc.
Xem thêm

2 Đọc thêm

TRẺ THIẾU NGỦ DỄ BÉO PHÌ

TRẺ THIẾU NGỦ DỄ BÉO PHÌ

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Khảo sát của các nhà khoa học tại Bệnh viện Nhi Massachusetts ở TP Boston - Mỹ mới được công bố trên tạp chí Pediatrics nêu thêm bằng chứng cho thấy trẻ thiếu ngủ dễ bị béo phì hơn nhóm trẻ được ngủ đầy đủ. TS Elsie Taveras và cộng sự đã khảo sát trên 1.000 trẻ em. Mức độ thiếu ngủ được ghi nhận là ít hơn 12 giờ/ngày ở trẻ từ 6 tháng đến 2 tuổi; ít hơn 10 giờ/ngày ở trẻ 3-4 tuổi và ít hơn 9 giờ/ngày ở trẻ 5-7 tuổi. Kết quả cho thấy trẻ thiếu ngủ có khả năng bị béo phì cao hơn 2,5 lần so với trẻ ngủ đầy đủ. Tương tự, tổng số lượng mỡ, lượng mỡ bụng, số đo vòng eo và hông của trẻ thiếu ngủ cao hơn trẻ ngủ đầy đủ.   Trẻ thiếu ngủ có thể bị béo phì cao hơn 2,5 lần so với trẻ được ngủ đầy đủ (Ảnh minh họa) TS Taveras nêu một số giải thích về mối liên quan này, theo đó, việc ngủ ít làm các hormone điều chỉnh cảm giác đói và no bị rối loạn, khiến trẻ ăn nhiều hơn. Trẻ ít ngủ thường xem tivi nhiều hơn, ít vận động và bị quyến rũ bởi các quảng cáo thức ăn trên đó nên càng ăn nhiều. Một chuyên gia không liên quan đến nghiên cứu nói trên là Giám đốc chương trình quản lý thể trọng trẻ em tại Bệnh viện Nhi Miami, TS William Muinos, đánh giá đây là khảo sát có ý nghĩa quan trọng.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Mùa đông ăn gì thì con không ốm?

MÙA ĐÔNG ĂN GÌ THÌ CON KHÔNG ỐM?

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Tôi thức dậy sáng nay trong cơn rùng mình vì cảm giác lạnh sớn gai ốc đến từ không khí. Không còn bàn cãi gì nữa, đúng là mùa đông đã đến. Và kèm theo đó, luôn là những món quà “khuyến mại” tặng kèm cho con gái tôi như ho, sổ mũi hay cảm lạnh. Đắp lại cái chăn cho Cún, tôi bật dậy và chuẩn bị đi chợ. Lên danh sách những thứ cần mua cho Cún ăn uống trong mùa đông này, đối với một bà mẹ có con sinh non thiếu tháng như tôi, ít nhiều cũng có một chút kinh nghiệm. Mùa đông, sức đề kháng của trẻ giảm sút rõ rệt. Chúng ta chỉ cần ho mà lấy tay che miệng, rivus cùng truyền sang tay mẹ. Nếu không rửa tay cẩn thận mà cứ thế bế con thì “lãnh đủ”. Chính vì vậy, để tăng sức đề kháng cho trẻ, không cách nào tốt hơn là đảm bảo dinh dưỡng đầy đủ. Với trẻ dưới 6 tháng thì đơn giản rồi, mẹ hãy cứ cho con bú sữa mẹ, càng nhiều càng tốt. Vậy nhưng với trẻ ăn dặm, trẻ mẫu giáo thì lại cần một chế độ dinh dưỡng cẩn thận hơn. Như chúng ta đã biết, chính những thứ con ăn vào hàng ngày, những vitamin và khoáng chất đó, sẽ là những viên gạch củng cố cho “bức tường” miễn dịch của trẻ. Những đứa trẻ ăn uống thiếu thốn, lười ăn, biếng ăn sẽ là những đứa trẻ hay bị ốm đau nhất. Và nếu có ốm, cũng sẽ ốm lâu hơn những đứa trẻ khác. Các chất dinh dưỡng mà hệ thống miễn dịch cần nhất là vitamin C, kẽm, sắt, vitamin A, vitamin E, canxi, selenium và nhiều chất phytochemical (chất hóa học thực vật) khác. Và bây giờ, tôi sẽ mách chị em danh sách những thứ cần mua đi đi chợ để tăng sức đề kháng cho trẻ Cà rốt Thực phẩm số một cho mùa đông của bé: Cà rốt. Cà rốt rất giàu beta – caroten, một loại chất chống oxi hóa và có thể được chuyển đổi thành vitamin A trong cơ thể. Cà rốt mọc dưới đất nên lại thuộc loại thực phẩm lành và ít chất hóa học nhất. Mẹ có thể làm cà rốt hầm hay cháo cà rốt thịt nạc cho con.   Một nồi súp gà, cà rốt, củ cải sẽ vừa ấm nóng lại tốt cho sức đề kháng ngày đông của bé (ảnh minh họa) Canh súp gà Một miếng gà ta thơm ngon hầm lên thành súp sẽ rất tốt trong việc giải cảm và trị những triệu chứng cúm mùa đông do có chứa các thành phần chống viêm – một nghiên cứu tôi đã đọc được trên trang CNN của Mỹ. Hành và tỏi Hành và tỏi từ lâu đã được biết đến là chứa rất nhiều chất chống oxi hóa quercetin - một loại kháng sinh có tác dụng chống virus. Quercetin không bị phá hủy trong quá trình nấu nướng, do đó, mẹ có thể thoải mái xào chunh hành tỏi với thịt, tôm hau rau trước khi cho vào cháo cho con mà không cần bắt trẻ ăn sống.   Xào thêm một ít hành tỏi vào cháo cho con là một gợi ý tuyệt vời (ảnh minh họa) Quả bơ Vitamin E rất quan trọng trong việc giúp tăng cường các cơ chế bảo vệ chống virus của cơ thể. Và quả bơ thì là một nguồn vitamin E tuyệt vời. Trẻ nhỏ cũng rất thích ăn bơ. Mẹ có thể cho bé ăn bơ dầm hòa thêm một chút sữa bột cho bé. Rau lá thẫm Các loại rau là màu xanh thẫm như cải bó xôi, cải xoong hay cải bắp nổi tiếng trong việc chứa rất nhiều glutamine, một loại axit amin cần thiết trong việc duy trì đường ruột khỏe mạnh cho con. Sữa chua Khi qua tiệm tạp hóa thì mẹ nhớ đừng quên mua sữa chua cho bé. Khoa học đã chứng minh, những trẻ được bổ sung probiotic đầy đủ là những bé không bao giờ bị ốm. Và sữa chua vốn từ lâu đã nổi tiếng trong việc tăng cường sức đề kháng và hệ miễn dịch cho bé nhờ thành phần probiotic.   Sữa chua chưa bao giờ hết "hot" trong danh sách thực phẩm giúp tăng cường miễn dịch (ảnh minh họa) Súp lơ Súp lơ có chứa một nhóm các hóa chất thực vật được gọi là glucosinolate, cũng như các vitamin nhóm B và nhóm chất xơ, hết sức quan trọng đối với chức năng miễn dịch. Mẹ hãy chú ý bổ sung cho bé món súp lơ xào tỏi hoặc canh gà súp lơ sẽ rất tốt cho bé mùa đông. Đậu trắng, đậu đỏ 70% hệ miễn dịch nằm trong ruột và sức khỏe đường ruột tốt là cốt lõi của một hệ miễn dịch mạnh mẽ.Các loại đậu rất giàu chất xơ hòa tan và tinh bột kháng, cả hai đều cung cấp các vi khuẩn có lợi cho đường ruột và làm tăng chức năng miễn dịch.Đậu trắng và đậu đỏ cũng cung cấp protein thực vật và một loạt các chất dinh dưỡng khác. Mẹ có thể cho bé ăn canh đậu đỏ sườn heo vào mùa đông lạnh giá này.
Xem thêm

2 Đọc thêm

CỦ HÀNH - “DŨNG SĨ” DIỆT KHUẨN

CỦ HÀNH - “DŨNG SĨ” DIỆT KHUẨN

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Hoạt chất có khả năng ngăn chặn vi khuẩn, ký sinh, nấm mốc... trong dược liệu thiên nhiên, trong thực phẩm đúng là không thiếu nhưng nếu so sánh một cách khách quan, các nhà nghiên cứu trước sau vẫn xếp loại củ hành vào nhóm đứng đầu về tính kháng sinh trên cơ chế sinh học, nghĩa là ít gây phản ứng phụ bất lợi cho cơ thể. Ở Nga, sau khi so sánh tác dụng của hàng trăm loại dược liệu theo tiêu chí dược lý thực nghiệm, chuyên gia trên quê hương của Tolstoi đã không ngần ngại đánh giá củ hành như món ăn có tính diệt khuẩn không thua bất kỳ loại thuốc kháng sinh nào đang lưu hành. Thầy thuốc ở vùng Bắc Âu đã từ bao đời dùng củ hành như thực phẩm hỗ trợ cho người bị lao phổi. Tác dụng kháng sinh của củ hành trở nên tối ưu nếu dùng dưới dạng ăn sống hay trộn dầu giấm. Điểm đáng tiếc là củ hành xào nấu quá chín không còn giữ được tác dụng nguyên thủy. Đây chính là điểm yếu của củ hành khi áp dụng trên trong thực tế vì nhiều người không quen ăn củ hành sống. Nhưng nếu chưa quen vẫn nên tập vì quả thật đáng tiếc nếu không tận dụng được tác dụng kháng sinh của củ hành để diệt khuẩn trong vùng hầu họng và qua đó ngăn ngừa nhiều loại bệnh bào mòn sức đề kháng như viêm xoang, viêm họng, viêm tai giữa. Điều này càng quan trọng hơn nữa trong môi trường ô nhiễm nặng nề, như bầu không khí ám khói trên đường phố TP HCM!   Nhai củ hành sống, tuy không ngọt lịm như ly nước mía trong buổi trưa hè, song chính là quán triệt cách mượn tinh dầu trong củ hành để vừa thanh trùng vùng cổ họng và ống hô hấp trên vừa mượn cơ chế chảy nước mũi, trào nước mắt để đào thải tạp chất bám chặt trên niêm mạc sau một ngày dài làm bạn với đủ loại độc chất trong môi trường. Nhiều kết quả nghiên cứu vào cuối thế kỷ XX cho thấy củ hành ăn thua đủ với chất mỡ trong máu. Khác với cơ chế thông thường của nhiều loại thuốc chống mỡ trong máu theo kiểu tìm cách giảm lượng cholesterol một cách thụ động, nghĩa là đợi đến lúc cholesterol đã thao túng “thị trường” thì mới bắt đầu có biện pháp chế tài, củ hành có tác dụng rốt ráo hơn nhiều thông qua ảnh hưởng trực tiếp trên chức năng biến dưỡng chất béo của lá gan. Thay vì chạy theo chất mỡ trong máu, củ hành phản công bằng cách thúc đẩy phản ứng tổng hợp loại chất béo hữu ích cho cơ thể (HDL). Chất này càng cao thì chất béo loại gây xơ vữa mạch máu, viêm gan, suy thận... phải chịu phần lép vế. Điểm khó xưa nay cho nhà điều trị chính là vì không thiếu thuốc để giảm chất béo độc hại nhưng phải đánh đổi với nhiều phản ứng phụ, trong khi thuốc tăng loại chất béo hữu ích thì vẫn thiếu. Củ hành chính là đáp án! Củ hành không nên thiếu trong khẩu phần của người bị bệnh tim mạch hay toàn diện hơn, trong chế độ dinh dưỡng của bất cứ ai muốn chủ động kiểm soát lượng chất mỡ trong máu mà không muốn phó thác một cách may rủi vào viên thuốc vô tình.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Những món không nên dùng chung với cà phê

NHỮNG MÓN KHÔNG NÊN DÙNG CHUNG VỚI CÀ PHÊ

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Những món sau đây bạn không nên dùng chung với cà phê mà có thể lựa chọn một thay thế lành mạnh hơn: 1. Kem không được làm từ sữa Đây có thể là món tồi tệ nhất khi dùng chung với cà phê. Những thành phần hàng đầu của các loại kem này thường là sirô ngô cứng và dầu thực vật được hydro hóa một phần, chúng bắt chước kem nhưng bở hơn. Sirô ngô cơ bản cũng tương tự như đường chứa calo rỗng, dầu thực vật hydro hóa là chất béo chuyển đổi nhân tạo – chúng khiến động mạch bị tắc, tăng nguy cơ bệnh tim và tiểu đường. Nếu bạn dùng kem không làm từ sữa hàng ngày vì không thể uống sữa, nên dùng một loại kem tương tự như kem sữa dừa có thành phần là sữa dừa tự nhiên.   2. Mùi vị bổ sung Chúng thường được cho thêm vào cà phê để bổ sung mùi vị và làm bắt mắt hơn, ví dụ như những loại vani, hạt dẻ, caramen, bột bí ngô... Những thứ này chứa nhiều đường, màu nhân tạo. Mỗi 30gram sirô hương liệu bổ sung chứa khoảng 19g đường, làm tăng nguy cơ đường huyết. Bạn nên lựa chọn các sản phẩm có chứa thành phần tự nhiên như vani, bạc hà, chiết xuất từ hạt, đậu không chứa đường. 3. Các chất làm ngọt Các loại chất làm ngọt không lập tức làm tăng giảm đường trong máu như đường, nhưng ngày càng có nhiều nghiên cứu cho thấy các chất làm ngọt nhân tạo này làm rối loạn chuyển hóa glucose, làm tăng cảm giác đói và tăng nguy cơ tiểu đường. Chúng cũng có thể làm rối loạn vi khuẩn đường ruột có ảnh hưởng tới toàn bộ chức năng cơ thể. Vài chuyên gia khuyên bạn nên dùng chiết xuất từ lá stevia để thay thế chất làm ngọt an toàn hơn. 4. Đường Chút ít đường không làm tổn hại bạn, nhưng nếu bạn uống vài ly cà phê mỗi ngày, những calo rỗng ấy sẽ tích tụ rất nhanh. 2 muỗng đường tương ứng với 48g, nhiều hơn đường trong 1 lon Coca. Để thay thế đường, bạn có thể dùng chút ít quế. Quế có thể giúp giảm tăng đường huyết, kiểm soát cơn đói của bạn. Ngoài ra, bạn có thể thử thêm thảo quả, món này được uống chung với cà phê ở Trung Đông. 5. Sữa ít béo Sữa ít béo không có hại, nhưng các nghiên cứu cho thấy rằng sữa đầy đủ nguyên chất vẫn có lợi hơn. Một nghiên cứu phát hiện rằng người thường xuyên uống sữa nguyên chất có đầy đủ chất béo ăn ít tinh bột hơn trong 4 năm, trong khi người dùng sữa ít béo ăn nhiều tinh bột hơn đáng kể. Nếu các loại tinh bột ấy có nguồn không tốt, ví dụ như bánh chứa đường, chúng có thể dẫn đến tăng cân. Trong một nghiên cứu khác, người dùng sữa đủ chất béo giảm 23% nguy cơ tiểu đường type 2, trong khi người uống sữa ít béo không có chuyển biến. Những axít béo đặc biệt trong sữa đã giúp phòng chống căn bệnh này.
Xem thêm

2 Đọc thêm

PHÒNG NGỪA NHIỄM GIUN ĐƯỜNG RUỘT Ở TRẺ EM

PHÒNG NGỪA NHIỄM GIUN ĐƯỜNG RUỘT Ở TRẺ EM

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Nhiễm giun đường ruột là tình trạng khá phổ biến tại các nước nằm trong vùng nhiệt đới. Ở nước ta có tới 70-80% trẻ em bị nhiễm giun đường ruột. Nguyên nhân do khí hậu nóng ẩm, môi trường ô nhiễm, thói quen ăn uống thiếu vệ sinh. Hậu quả của nhiễm giun đường ruột làm cho trẻ biếng ăn, chậm lớn, suy dinh dưỡng, thiếu vi chất dinh dưỡng và các biến chứng nguy hiểm. Các loại nhiễm giun thường gặp ở trẻ em Giun đũa: cư trú ở ruột non, giun cái đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài gây ô nhiễm nước, đất cát... khi ăn phải trứng giun, trứng vào ruột nở thành ấu trùng rồi di chuyển vào phổi lên khí quản, qua thực quản xuống ruột non trở thành giun trưởng thành. Trẻ bị nhiễm giun đũa thường đau bụng vòng quanh rốn, nôn ra giun, đi cầu ra giun và hay bị rối loạn tiêu hóa. Khi quá nhiều giun ở ruột có thể gây tắc ruột, viêm ruột thừa, viêm phúc mạc do thủng ruột hoặc giun di chuyển vào đường gan mật viêm đường mật, giun chui ống mật, áp-xe gan. Giun kim: cư trú ở ruột già, giun cái đẻ trứng vào ban đêm ở hậu môn. Trứng có ấu trùng vào ruột phát triển thành giun trưởng thành . Đường lây nhiễm từ hậu môn vào miệng qua bàn tay, quần áo, giường chiếu. Nhiễm giun kim hay gặp ở trẻ nhỏ, ban đêm trẻ thường khó ngủ, hay quấy khóc do ngứa hậu môn và thường xuyên bị rối loạn tiêu hóa, phân lỏng đôi khi có lẫn máu và chất nhầy. Do ngứa nên trẻ gãi nhiều sẽ làm hậu môn xây xát dễ nhiễm khuẩn. Có thể phát hiện thấy giun kim ở hậu môn vào buổi tối khi trẻ ngứa hoặc tìm trứng giun kim trong phân. Giun tóc: cư trú ở ruột già. Đường lây nhiễm là sau khi ăn phải trứng có ấu trùng, trứng này theo thức ăn nước uống vào ruột, ấu trùng thoát vỏ rồi trở thành giun trưởng thành sống ở ruột già. Khi nhiễm nhiều giun tóc thì mới có biểu hiện rõ các dấu hiệu như đau bụng, buồn nôn, rối loạn tiêu hóa. Nếu nhiễm nặng sẽ làm tổn thương niêm mạc ruột già gây hội chứng lỵ. Trẻ đau bụng, mót rặn, đi ngoài nhiều lần phân ít có chất nhầy lẫn máu, nặng hơn có thể gây trĩ sa trực tràng.   Ở nước ta có tới 70-80% trẻ em bị nhiễm giun đường ruột. Nguyên nhân do khí hậu nóng ẩm, môi trường ô nhiễm, thói quen ăn uống thiếu vệ sinh (Ảnh minh họa) Giun móc: cư trú ở đoạn trên ruột non, miệng bám vào niêm mạc ruột để hút máu, trung bình một con giun móc có thể hút 0,2ml máu/ngày. Giun cái đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài nở thành ấu trùng. Ấu trùng vào máu lên phổi rồi xuống ruột non trở thành giun trưởng thành. Đường lây nhiễm giun móc do ấu trùng chui qua da hoặc đường miệng do ăn phải ấu trùng từ rau sống, tay bẩn, đất cát... Nhiễm giun móc hay gặp ở trẻ em lớn sống ở vùng nông thôn do tiếp xúc nhiều với đất cát, phân bón… Khi ấu trùng chui qua da thì tại chỗ cơ thể hay thấy nốt hồng ban dị ứng hoặc các mụn nhỏ và ở giai đoạn ấu trùng qua phổi thì xuất hiện ho, ngứa họng, viêm họng. Trẻ nhiễm giun móc thường mệt mỏi, chán ăn, đau bụng, đau vùng thượng vị hoặc quanh rốn đau âm ỉ, đau cả lúc no, lúc đói, táo bón, đi ngoài phân đen, chóng mặt, ù tai, da xanh, thiếu máu. Nếu không điều trị dần dần trẻ bị thiếu máu nặng và có thể tử vong do suy tim. Xử trí khi bị nhiễm giun Khi trẻ có biểu hiện nôn ra giun, đi ngoài ra giun, ngứa hậu môn… hoặc xét nghiệm phân có nhiều trứng giun thì tẩy giun cho trẻ. Sử dụng loại thuốc tẩy giun có tác dụng trên nhiều loại giun, ít độc, ít tác dụng phụ. Không cần bắt trẻ nhịn ăn. Cụ thể: trẻ trên 2 tuổi có thể dùng thuốc mebenzazol (fugacar, vermox…) 500mg. Uống một liều duy nhất. Nếu nhiễm giun móc nặng có thể dùng 500mg x 3 ngày. Không dùng cho phụ nữ có thai. Liều lượng thuốc không phụ thuộc vào tuổi và cân nặng. Hoặc pyrantel pamoat (combantrim, helmin tox...). Trẻ em 11mg/kg có thể nhắc lại sau một tuần albendazol (zen ten) 400mg Dùng cho trẻ trên 2 tuổi, không dùng cho phụ nữ có thai. Uống 1 liều duy nhất 400 mg. Nếu nhiễm giun móc nặng có thể dùng 400mg x 3 ngày. Phòng tránh nhiễm giun Tăng cường vệ sinh cá nhân và môi trường. Đối với trẻ cần rửa tay sạch bằng xà phòng trước khi ăn và sau khi đi đại tiện. Ăn chín, uống nước đun sôi để nguội. Đi đại tiện vào hố xí, trẻ nhỏ đi vào bô. Không đi chân đất hoặc bò lê la dính đất để tránh ấu trùng giun móc chui qua da. Tẩy giun định kỳ cho trẻ trên 2 tuổi 6 tháng/lần, nhất là trẻ em tuổi học đường. Đối với người chăm sóc trẻ điều quan trọng là giữ gìn vệ sinh ăn uống cho trẻ. Sử dụng nguồn nước sạch trong sinh hoạt ăn uống của trẻ. Rửa tay sạch khi chế biến thứ ăn, khi cho trẻ ăn, sau khi đại tiện. Thức ăn đậy kín không để ruồi, nhặng đậu vào, không để rác thải bừa bãi gần trẻ.
Xem thêm

2 Đọc thêm

NHỮNG THÓI QUEN XẤU SẼ KHIẾN BẠN BỊ SỎI THẬN

NHỮNG THÓI QUEN XẤU SẼ KHIẾN BẠN BỊ SỎI THẬN

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Sỏi mật là bệnh đường mật có sỏi, phát sinh ở bất kỳ bộ phận nào ở hệ thống túi mật (túi mật, ống mật). Bệnh nhân thường từ tuổi trung niên trở lên, phụ nữ bị bệnh nhiều hơn nam giới. Sỏi mật thường kèm theo viêm túi mật hoặc ống mật. Triệu chứng lâm sàng chủ yếu là đau ở vùng hạ sườn bên phải. Cơn đau có thể kéo dài 15 phút đến vài giờ. Đôi khi bệnh nhân ói mửa hay đổ mồ hôi. Những cơn đau có thể cách nhau hàng tuần, hàng tháng và đôi khi cả năm. Tùy theo vị trí của sỏi mật mà cường độ đau và biến chứng đến cơ quan liên hệ có thể xảy ra. Dưới đây là một số thói quen xấu gây sỏi ở mật hoặc sỏi thận mà có thể bạn chưa biết: Không ăn sáng Không ăn sáng là một trong những nguyên nhân gây sỏi mật, mật tiết dịch vào buổi sáng và giúp tiêu hóa thực phẩm. Nếu bạn không ăn sáng, mật không có thức ăn tiêu hóa, mật tích lũy lâu trong túi mật. Tình trạng này kéo dài, dịch mật sẽ bị ứ đọng trong mật hoặc trong ống mật và kết tủa thành sỏi. Biện pháp phòng ngừa: Ăn uống sữa đơn giản, ăn những lát bánh mì cũng có thể giúp bạn phòng ngừa sỏi mật.   Không ăn sáng là một trong những nguyên nhân gây sỏi mật, mật tiết dịch vào buổi sáng và giúp tiêu hóa thực phẩm (Ảnh minh họa) Ăn nhiều mỡ Cuộc sống bận rộn hoặc với các lý do khác  nhiều người có xu hướng ra ăn ở ngoài, tiệc tùng. Những bữa tiệc luôn có nhiều thịt cá và thức ăn dầu mỡ…. Ăn quá nhiều chất dầu mỡ chính là nguyên nhân dẫn đến bệnh sỏi. Bởi vì thức ăn giàu protein và chất béo sẽ tăng thêm hàm lượng cholesterol trong dịch mật, hình thành nên sỏi. Ngoài ra, ăn nhiều nội tạng động vật, thịt sẽ tạo ra các chất chuyển hóa acid uric, dẫn đến sỏi. Biện pháp phòng ngừa: Bạn nên hạn chế lượng cholesterol trong chế độ ăn uống, ăn ít hoặc tránh ăn thực phẩm giàu cholesterol, chẳng hạn như chất béo, nội tạng, trứng cá muối, trứng cua... Hãy ăn nhiều trái cây tươi và rau quả, tỏi, hành tây, nấm, nấm đen... có hiệu quả trong việc làm giảm cholesterol. Ăn chay Hầu hết phụ nữ văn phòng đều muốn giảm cân, nhiều người thực hiện chế độ ăn chay. Theo các chuyên gia tư vấn, rau bina, cần tây, cà chua, măng và rau quả khác giàu axit oxalic... nếu ăn quá nhiều có thể gây kết tủa từ nước tiểu và tạo thành sỏi, với các sản phẩm đậu nành hoặc thực phẩm có chứa quá nhiều canxi có xu hướng hình thành sỏi. Biện pháp phòng ngừa: ăn nhiều rau quả có chứa oxalat, trước khi ăn trần hoặc luộc để giảm lượng axit oxalic. Không thích uống nước Do công việc bận rộn hoặc ngại uống nước, hầu hết dân văn phòng không uống đủ lượng nước cung cấp cho cơ thể. Các chuyên gia cho rằng, uống ít nước sẽ khiến hệ tiết niệu ít việc, lượng nước tiểu bị lưu giữ lâu, nồng độ của nước tiểu đậm đặc, chất đọng lại tăng lên, và sẽ hình thành sỏi thận và sỏi đường tiết niệu. Biện pháp phòng ngừa: Uống nhiều nước, mỗi ngày nên có nhiều hơn 2lít nước và nước lọc là sự lựa chọn tốt nhất cho cơ thể bạn. Không thích thể thao Không thích thể thao gây ảnh hưởng đến sự hấp thụ canxi, tăng muối canxi trong thành phần nước tiểu, dẫn đến sỏi thận hoặc sỏi đường tiết niệu. Đồng thời, thành bụng trong cơ thể sẽ lỏng lẻo, gây ra sa nội tạng, chèn ép ống mật, làm cho dịch mật không bài tiết được gây ra tích tụ, từ đó hình thành nên sỏi mật. Biện pháp phòng ngừa: Đối với nhân viên văn phòng, tại nơi làm việc trong khoảng hai giờ, bạn hãy đứng lên và làm một số bài tập thư giãn đơn giản, thời gian tập thể dục ít nhất là 30 phút mỗi ngày.
Xem thêm

2 Đọc thêm

LỜI ĐỒN THỔI SAI LẦM VỀ PHƯƠNG PHÁP CHO CON ĂN DẶM

LỜI ĐỒN THỔI SAI LẦM VỀ PHƯƠNG PHÁP CHO CON ĂN DẶM

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Khi bắt đầu cho trẻ tiếp xúc với đồ ăn dặm, các mẹ đã phải dày công nghiên cứu và học hỏi từ các bà mẹ khác hay thậm chí là hỏi ý kiến chuyên gia.  Những lời khuyên vàng  của mọi người thường luôn là ‘cứu cánh’ cho các bà mẹ nuôi con nhỏ, đặc biệt là chị em lần đầu làm mẹ. Tuy nhiên, các mẹ cần biết rằng không phải ý kiến nào cũng chính xác, điều đó ảnh hưởng đến sức khỏe và quá trình phát triển của trẻ. Dưới đây là 4 lời đồn thổi sai lầm về phương pháp cho con ăn dặm mà các mẹ nên biết để tránh. 1.  Sữa mẹ cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho trẻ trong một năm đầu đời Có rất nhiều bà mẹ tin tưởng rằng trong năm đầu tiên, ăn dặm chỉ đơn thuần là để bé làm quen với thức ăn và tập ăn thô. Sữa mẹ vẫn cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho trẻ trong một năm đầu đời. Sự thật: Trên thực tế, ngay từ khi 6 tháng tuổi nguồn dự trữ sắt trong cơ thể trẻ đã cạn kiệt, trong khi đó sữa mẹ thì lại không còn chứa đủ lượng sắt cần thiết cho bé. Kẽm cũng là một trong số những vi lượng bị thiếu hụt vào thời điểm 6 tháng này. Theo một nghiên cứu tổng quan của tạp chí khoa học dinh dưỡng lâm sàng Mỹ, thời điểm 9-11 tháng thì đến 90% lượng sắt và kẽm trẻ sơ sinh hấp thụ được là từ việc ăn dặm thức ăn bên ngoài.   Trên thực tế, ngay từ khi 6 tháng tuổi nguồn dự trữ sắt trong cơ thể trẻ đã cạn kiệt, trong khi đó sữa mẹ thì lại không còn chứa đủ lượng sắt cần thiết cho bé (Ảnh minh họa) Ở các nước đang phát triển, việc thiếu sắt ở trẻ sơ sinh có thể dẫn đến các vấn đề liên quan đến tăng trưởng thể lực và trí não. Thiếu kẽm cũng là nguyên nhân khiến trẻ bị chậm lớn, suy dinh dưỡng. Một nghiên cứu ở Mỹ cho thấy, 30% trẻ 9 tháng tuổi bú mẹ hoàn toàn bị thiếu hụt sắt và kẽm so với qui định. 2.  Chỉ nên bắt đầu cho trẻ ăn thịt khi được 9 tháng Sự thật: Không chỉ riêng các bà mẹ mà ngay cả các chuyên gia dinh dưỡng cũng tin tưởng vào điều này. Tuy vậy, theo báo cáo của Viện Hàn lâm Nhi khoa Mỹ, thịt là một trong các thức ăn lý tưởng cho bé ăn dặm và mẹ hoàn toàn có thể bổ sung thịt cho bé ngay từ tháng thứ 6. Bởi trong thịt có chứa rất nhiều sắt và kẽm. Tổ tiên của chúng ta là những người lớn lên từ việc ăn thịt, họ đã nhá thịt rồi đưa bã mềm cho con mình ăn. Vì vậy, các nhà khoa học khuyên mẹ không đừng e dè hay trì hoãn việc cho bé làm quen với thịt ngay từ tháng thứ 6. 3. Thêm ngũ cốc vào bình sữa của bé sẽ giúp bé ngủ suốt đêm Sự thật: Chẳng có bằng chứng nào cho thấy việc thêm ngũ cốc vào bình sữa bú trước khi ngủ sẽ giúp bé ngủ lâu hơn, vì thế bạn không nên làm thế. Trên thực tế, ngũ cốc trong bình sữa làm tăng lượng calo mà bé hấp thụ, và một số nghiên cứu chỉ ra rằng cho bé chưa đến 4 tháng ăn thức ăn đặc có thể góp phần làm bé bị béo phì. Tuy nhiên cũng có một số ngoại lệ, chẳng như nếu bác sĩ khuyến cáo bổ sung ngũ cốc để điều trị chứng trào ngược. Trong những trường hợp ngoại lệ này thì mẹ cần làm theo khuyến cáo của bác sĩ thật cẩn thận. 4. Không cho bé ăn dầu mỡ vì hệ tiêu hóa chưa hấp thụ được Rất nhiều mẹ khi bắt đầu cho bé ăn dặm thường tránh thịt mỡ, dầu ăn vì sợ con bị béo phì hay rối loạn tiêu hóa. Sự thật: Điều này hoàn toàn không có cơ sở khoa học. Trên thực tế, các bé cần khoảng 30-40% lượng calo từ chất béo hàng ngày để cơ thể và bộ não phát triển bởi não bộ có những yêu cầu đặc biệt từ axit béo và các thành phần khác của chất béo.  Lượng chất béo phù hợp cho trẻ ăn dặm dưới 1 tuổi là 3,5g trên 1kg cân nặng mỗi ngày. Tốt nhất là cho trẻ ăn chất béo từ dầu thực vật, mỡ cá, có chứa hàm lượng Omega 3 cao giúp tăng sức đề kháng, giảm thiểu các căn bệnh viêm nhiễm, hỗ trợ hệ tuần hoàn hoạt động tốt hơn. 
Xem thêm

1 Đọc thêm

KẾ HOẠCH CHỦ ĐỀ BẢN THÂN

KẾ HOẠCH CHỦ ĐỀ BẢN THÂN

Ăn chín, uống chín. Không ăn những thức ăn có hại cho sức khỏe. Biết ăn uống đầy đủ chất để cơ thể khỏe mạnh. +Đạm:..Thịtgà,thịtheo, tôm. + Mỡ:đầu, bơ, đậu….gao Bột Đường: bánh mì, gạo, mì tôm... + Vitamin muối khoáng:Rau, trái cây Thực hiện đúng các thao tác lau mặt, chải răng hằng ngày. + Lau mặt bằng khăn: Lau mắt, mũi, miệng, trán và má, cằm và cổ. + Chải răng: Chải mặt ngoài, chải mặt trong, mặt nhai. Lau mặt khi mặt bẩn, chải răng sau khi ăn xong.
Xem thêm

8 Đọc thêm

Lượng cholesterol trong máu là 200 mg

LƯỢNG CHOLESTEROL TRONG MÁU LÀ 200 MG

Mức độ từ 200 tới 239 là sát mí (borderline), và người nào có mức độ mỡ trong máu mà trên 240 thì có rất nhiều nguy cơ bị bệnh về tim mạch. Cao mỡ trong máu sẽ làm đường kính động mạch bị nhỏ hẹp lại do nguyên nhân mỡ tạo thành những mảng (plaque) bám vào vách bên trong động mạch, tình trạng này làm máu bị cản trở không dẫn được đầy đủ vào óc, thận, bộ phận sinh dục, tay chân và tim. Cao mỡ trong máu là một trong những nguyên nhân chính gây nên bệnh tim. Cao mỡ trong máu cũng là nguyên nhân liên quan tới những bệnh khác như sạn mật, liệt dương, tâm trí suy nhược và cao máu. Bị bướu nhỏ trong ruột (colon polyps) và ung thư (cancer), đặc biệt là ung thư nhiếp hộ tuyến và ung thư ngực, cũng được biết là do nguyên nhân liên quan tới tình trạng cao mỡ trong máu. Mặc dầu có quá nhiều cholesterol trong máu thì không tốt cho sức khỏe nhưng thật sự cholesterol cũng cần thiết cho cơ thể để tạo màng tế bào, tạo kích thích tố và giúp cho tiến trình tiêu hóa. Mặc dầu Hiệp Hội về tim ở Hoa Kỳ khuyến cáo thức ăn hàng ngày chúng ta chỉ cần có khoảng 300 mgcholesterol hoặc ít hơn, nhưng thật sự nếu chúng ta ăn những thức ăn hoàn toàn không có cholesterol cũng không sao hết vì cơ thể chúng ta cũng đủ sức sản xuất đủ lượng cholesterol cần thiết cho cơ thể. Vào khoảng 80% cholesterol có trong cơ thể chúng ta được sản xuất từ lá gan, 20% cholesterol còn lại là do nguồn thực phẩm mà chúng ta ăn vào. Cholesterol di chuyển từ gan vào máu đến những cơ quan khác nhau của cơ thể bằng những phương tiện được gọi là phân tử mỡ đạm (lipoproteins). Các loại mỡ đạm Những tế bào của cơ quan sẽ nhận đủ những cholesterol cần thiết, số cholesterol thặng dư sẽ ở lại trong máu chờ cho những phân tử mỡ đạm khác chuyên chở lại về gan. Có 2 loại mỡ đạm : · Mỡ đạm mật độ thấp, lowdensity lipoproteins gọi tắt là LDL là loại cholesterol xấu (bad cholesterol). · Mỡ đạm mật độ cao, highdensity lipoproteins gọi tắt là HDL là loại cholesterol tốt (good cholesterol).
Xem thêm

4 Đọc thêm

Thuyết minh về một món ngon đất Hà thành chả cá Lã Vọng

THUYẾT MINH VỀ MỘT MÓN NGON ĐẤT HÀ THÀNH CHẢ CÁ LÃ VỌNG

Trong rất nhiều món ngon Hà Nội được gần xa biết đến người ta hay nhắc đến bánh tôm Hồ Tây, bánh cốm Hàng Than, cốm làng Vòng, phố Hà Nội... Bài Làm Trong rất nhiều món ngon Hà Nội được gần xa biết đến người ta hay nhắc đến bánh tôm Hồ Tây, bánh cốm Hàng Than, cốm làng Vòng, phố Hà Nội... Và dĩ nhiên không thể không nhắc đến chả cá Lã Vọng. Chả cá Lã Vọng là tên của một đặc sản Hà Nội. Vốn là một món ăn dân gian của gia đình họ Đoàn chế biến, tại số nhà 14 phố Chả Cá (trước là phố Hàng Sơn) trong khu phố cổ giữ bí quyết kinh doanh và đặt tên cho nó như trên. Đến nay chả cá đã thành món ăn khoái khẩu của thực khách sành ăn Hà Nội. Lâu dần hai tiếng chả cá được gọi thành tên phố và nó đã trở thành một trong 5 địa chỉ văn hoá vật chất nổi tiếng của Hà Nội xưa - nay. Trong nhà hàng bày một ông Lã Vọng ngồi bó gối câu cá bên dòng suối - biểu tưọng của người tài giỏi nghĩa hiệp ưu thời mẫn thế phải thúc thủ đợi thời. Vì thế khách đã quen gọi là chả cá Lã Vọng, ngày nay trở thành tên gọi của nhà hàng. Lịch sử về món ăn này được kể lại như sau: Vào những năm thời kỳ Pháp thuộc, số 14 Hàng Sơn có một gia đình họ Đoàn sinh sống, họ thường lấy nhà mình làm nơi cưu mang nghĩa quân Đề Thám. Chủ nhà hay làm một món chả ngon đãi khách, lâu dần thành quen, những vị khách ấy đã giúp gia đình một quán chuyên bán món ăn ấy, vừa để nuôi sống gia đình, vừa làm nơi họp. Về sau, hai tiếng "Chả Cá" được gọi thành tên phố. Trong nhà hàng bày một ông Lã Vọng - Khương Tử Nha ngồi bó gối câu cá – biểu tượng người tài giỏi nhưng đang phải đợi thời. Vì thế khách ăn quen gọi là Chả Lã Vọng, ngày nay trở thành tên nhà hàng và cũng là của món ăn. Bí quyết chả cá chỉ truyền lại cho người con cả họ Đoàn. Quán nhỏ nằm giữa phố, trông cũ kỹ, đồ dùng hơi xập xệ, ấy vậy mà khách tây, khách ta cứ tầm trưa, chiều  là đông nghịt bởi cái tên quán "Chả cá Lã Vọng" suốt hơn 100 năm nay có tiếng khắp trong Nam ngoài Bắc. Chả cá Lã Vọng "giữ chân" khách được lâu là bởi sự cẩn thận, tỉ mỉ của người làm từ khâu chọn thực phẩm, chế biến cho đến khi khách dùng món. Cá làm chả thường là cá lăng tươi. Đây là loại cá ít xương, ngọt thịt và Đặc biệt nhất và cũng vô cùng hiếm hoi là chả làm từ cá Anh Vũ, bắt ở ngã ba sông Bạch Hạc (Việt Trì - Phú Thọ). Không có cá lăng thì có thể dùng cá nheo, cá quả, nhưng cá nheo thì thịt bở hơn và cá quả thì nhiều xương dăm hơn nên không ngon bằng cá lăng. Thịt cá được lọc theo kiểu lạng từ hai sườn, thái mỏng, ướp với nước riềng, nghệ, mẻ, hạt tiêu, nước mắm theo phương cách bí truyền đặc biệt ít nhất hai giờ đồng hồ, rồi kẹp vào cặp tre (hoặc vỉ nướng chả có quệt một lớp mỡ cho đỡ dính). Người nướng phải quạt lửa, lật giở đều tay sao cho hai mặt đều chín vàng như nhau. Chuẩn bị ăn người ta mới mang những kẹp chả nướng đã chín trút vào chảo mỡ - loại mỡ chó (đây là tuyệt chiêu khiến chá cá Lã Vọng nổi tiếng) sôi đặt trên bếp than hoa đặt trên bàn ăn, cùng với rau thì là và hành hoa cắt khúc. Thường người ta không dùng dầu ăn vì nhiệt độ thấp hơn và cá kém thơm hơn. Nước chấm là mắm tôm hảo hạng, vắt chanh tươi đánh sủi lên, một chút ớt cay, dầm phảng phất cà cuống, thêm vài giọt rượu trắng. Món rau quả thật quan trọng đối với món chả cá, những lát chuối xanh, ruột trắng nõn mang nhựa chát, cùng những lát khếthái mỏng xanh như ngọc, chua nhức lưỡi. Lạc rang thơm. Khay rau sống phong phú những sung, mơ, ngổ, thơm, đinh lăng, cọng hành nõn, miếg gừng vàng. Cạnh khay rau là đĩa bún. Bún lá, bún con. Bún xếp thành vi nhỏ, trắng muốt, mát lành cùng rau, cùng gia vị cay, cùng thịt cá thơm nướng chả. Miếng chả ngon, đạt yêu cầu là khi nướng chín rồi miếng cá không vỡ, không khô quá, màu vàng, thơm mùi cá nướng, vị ngọt, bùi, béo. Chá phải ăn nóng. Khi ăn, gắp từng miếng cá ra bát, rưới rước mỡ đang đun sôi lên trên, ăn kèm với bánh đa nướng hay bún rối, lạc rang, rau mùi, húng Láng, thì là, hành củ tươi chẻ nhỏ chấm với mắm tôm. Mắm tôm phải được pha chế bằng cách vắt chanh tươi, thêm ớt, đánh sủi lên rồi tra thêm chút tình dầu cà cuống, thêm vài giọt rượu trắng, một ít nước mỡ và đường. Một khách nước ngoài không ăn được mắm tôm thì thay bằng nước mắm, nhưng nước mắm ít nhiều khiến món chả cá bị giảm hương vị. Có hai cách ăn phổ biến: Cho cá đã nướng vào chảo mỡ, bỏ hành và rau thì là vào. Khi rau chín tái thì gắp ra ăn với bún, rau thơm, đậu phộng rang và mắm tôm đã pha chế theo cách cho một ít bún vào bát, cho rau và một vài miếng chả cá lên trên, rắc ít lạc rang, rưới chút mắm tôm rồi trộn ăn. Khi ăn mùi mắm tôm quyện với vị ngọt của cá, mùi rau và vị bùi của lạc rang. Do có nhiều mỡ nên khi ăn phải ăn kèm theo cuống hành tươi chẻ nhỏ ngâm qua dấm pha loãng. Hoặc cho chả cá hành và rau vào bát, rưới nước mỡ đang sôi và dùng ngay, có thể ăn kèm với bánh đa nướng. Cách ăn này làm vừa đủ ăn nếu không cá sẽ nguội, mất ngon. Ngoài hai cách trên, một số ngưòi có thể cho cả bún vào chảo và đảo nhanh với cá, thì là, hành hoa sau đó trút ra bát ăn. Ăn cách này rất nóng, ngon nhưng hơi nhiều mỡ. Ăn chả cá, phải từ từ ít một để thường thức vị thơm của cá nướng, vị ngọt đậm đà của cá chiên, cá lăng, vị chát của chuối, vị chua của khế vị thơm các loài rau gia vị, mùi đặc biệt của cà cuống, mắm tôm, chanh và cùng nhâm nhi chén rượu quê nhà. Cuối cùng là món canh chua. Sau khi ăn toàn món khô háo nước, thường thức thêm nước bát bún canh chua sôi sùng sục, càng ngon miệng. Thế là ta đã thưởng thức đầy đủ hương vị của chả chiên, cá lăng thưởng thức món chả cá thú vị nhất là khi gió heo may về, trời Hà Nội thu se lạnh. Người ăn cứ thế nhấm nháp, nhẩn nha đàng hoàng. Tiếng mỡ nóng phi hành hoa kêu lép bép. Màu cá nướng vàng rộm thơm lừng đặt  trên những lớp rau thì là xanh mướt, bên lò nướng than hồng rực, ấm áp. Vị ngọt bùi cùa miếng chả cá vàng đều, với sợi bún trắng mỏng quyện với mắm chanh, vị cay thơm của cà cuống, thì là... vừa ăn vừa nhâm nhi với chút lạnh mới thấy hết cái hương vị đặc trưng có một không hai của món ăn trong miệng , cho ta cái cảm giác như đang được hưởng cái tinh tuý của đất trời, tất cả những điều đó đem lại cho món chả cá Lã Vọng Hà Nội sự hài hoà đến độc đáo, quyến rũ. Chả cá, món ăn vừa sang trọng vừa thi vị mà dân Hà Thành ưa chuộng, các văn, nhà thơ bao thế hệ vừa thưởng thức vừa ca ngợi, đến muốn... thèm. Chả cá Lã Vọng của Hà Nội cũng đã xuất hiện cá ở Thành phố Hồ Chí Minh, nhất là ở các quận 1, quận 8, quận Phú Nhuận. Nhiều khách nước ngoài khi đến Việt Nam, thưởng thức món đặc sản này đã phái trầm trồ, thán phục nghệ thuật ẩm thực đến tinh tế! cầu kỳ của người Việt. Chả cá Lã Vọng Hà Nội đã nổi tiếng. Một hãng truyền thông của Mỹ xếp vào vị trí thứ năm trong 10 món nên ăn trước khi... "về trời". Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Mẹ Việt hại con vì ''''Hội chứng máy xay''''

MẸ VIỆT HẠI CON VÌ ''''HỘI CHỨNG MÁY XAY''''

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Ai cũng mong cho con của mình có được chế độ chăm sóc tốt nhất, tuy nhiên, trong quá trình chăm chút, nuôi dưỡng con cái, nhiều bậc cha mẹ lại hay mắc phải những thói quen rất xấu làm ảnh hưởng đến sự phát triển, cũng như quá trình hấp thu các chất dinh dưỡng của trẻ. Ths, bác sĩ dinh dưỡng Nguyễn Thị Thế Thanh, Trung tâm dinh dưỡng, Bệnh viện Bạch Mai, cho biết: Một trong những thói quen rất xấu phải kể đến đầu tiên của các bậc cha mẹ, đặc biệt là các cha mẹ thành phố, đó là thói quen cho trẻ ăn quá nhiều các thức ăn nhanh, thức ăn chế biến sẵn như gà rán, pizza... Đây là những thức ăn có năng lượng rất lớn nhưng lại thiếu các vi chất dinh dưỡng nên nguy cơ béo phì ở trẻ em các thành phố, đặc biệt là các thành phố lớn, như Hà Nội, TP.HCM tăng rất nhanh. Ngoài ra, một nguyên nhân dẫn đến nguy cơ béo phì ở trẻ thành phố ngày càng tăng đó là do môi trường sống không có nhiều sân chơi cho trẻ, nên khi trẻ ăn nhiều thức ăn nhanh, nhưng lại ít vẫn động thì việc tiêu hao năng lượng ở trẻ là rất ít.   Thức ăn nào cũng cho vào ninh và xay dễ mất chất dinh dưỡng. (Ảnh minh họa). Hay một thói quen xấu khiến trẻ bị béo phì nhưng vẫn thiếu hụt các vi chất dinh dưỡng đó là khi nuôi con, nhiều cha mẹ thường có quan niệm, con mập mới tốt, nên cứ ép cho trẻ ăn nhiều hoặc thấy con thích món ăn nào là cho ăn nhiều món ăn đó mà không chú ý đến việc cân đối các chất dinh dưỡng trong chế độ ăn của trẻ, không cho trẻ ăn nhiều rau xanh, hoa quả. Khâu chế biến thức ăn cho trẻ không đúng cách cũng là nguyên nhân khiến cho trẻ bị thiếu hụt các vi chất dinh dưỡng. “Các bà mẹ thành phố thường có thói quen đó là, thức ăn nào cũng cho ninh và cho xay (hội chứng máy say sinh tố) rất kỹ. Thói quen này, không chỉ làm mất đi rất nhiều các vi chất dinh dưỡng có trong thức ăn mà còn hình thành ở trẻ thói quen, cái gì cũng phải xay, nạo thì trẻ mới ăn. Điều đó cũng giải thích vì sao, nhiều trẻ em thành phố, 2 tuổi vẫn không biết cắn một miếng chuối...”- Ths Thế Thanh nói. Đó là chưa kể đến việc, nhiều bà mẹ thành phố quan niệm, cho trẻ ăn thịt thì chỉ cần ninh thịt thật kỹ để lấy nước là đã đủ chất dinh dưỡng cho trẻ, mà không biết rằng, protein chỉ có từ cái chứ không phải là nước. Ngoài ra, một thói quen tai hại mà rất nhiều các bà mẹ thường mắc phải đó là, khi cho con ăn, các mẹ thường nựng con bằng cách, vừa cho trẻ ăn vừa xem tivi, vừa chơi iPpad... “Cách nựng con như vậy sẽ khiến cho các bà mẹ nhận được cái lợi trước mắt là thấy trẻ ngồi ăn yên, không uốn éo, không nghịch ngợm, lại ăn được nhiều” - Ths Thế Thanh nói. “Tuy nhiên những hậu quả của nó thì không phải bà mẹ nào cũng nhận thức được”. Theo Ths Thế Thanh, về mặt y học, cho trẻ xem tivi khi đang ăn có thể ảnh hưởng đến tiêu hóa của trẻ. Trẻ ăn nhiều hơn nhưng không hề tập trung vào việc ăn, mà chỉ tiếp nhận thức ăn một cách thụ động. Và vì quá tập trung vào màn hình, nên bé không hề cảm hận được mùi, được vị của thức ăn. Cứ như vậy sẽ dần dần hình thành ở trẻ một thói quen ăn thụ động, cứ xem tivi mới ăn, mất cảm giác thèm ăn, không biết ngon miệng là gì. Việc cho trẻ ăn giống như là việc nạp năng lượng cơ học. Trẻ có thể cảm thấy hưng phấn và ăn nhiều hơn nhưng không phải là do trẻ thích ăn, hoặc ăn thấy ngon mà là do những hình trên tivi làm cho trẻ thấy thích mắt. “Bên cạnh đó, việc cho bé xem tivi nhiều cũng là nguyên nhân làm hạn chế sự giao tiếp của trẻ. Bởi xem tivi là thực hiện hình thức giao tiếp không lời, chỉ giao tiếp bằng mắt, không phải giữa người với người mà chỉ có mắt trẻ với tivi. Cho nên, trẻ không học được cách nói, cách thể hiện cảm xúc, cũng không có sự phản hồi”- Ths Thế Thanh nhấn mạnh. Chính vì vậy, Ths Thế Thanh khuyến cáo, các bậc cha mẹ không nên coi việc cho con xem quảng cáo khi ăn là một phương tiện, một công cụ kích thích trẻ ăn. Muốn bé ăn, mẹ nên vừa cho ăn, vừa phải nựng, nói chuyện với trẻ như kiểu, “Con nói A nào”, hay “Miệng cá trê nào”... Như thế sẽ giúp cho sự phát triển ngôn ngữ của con. Hơn nữa lại có thể giúp con cảm nhận được sự yêu thương của mẹ. Có thể sắp xếp cho trẻ một chỗ ngồi ăn cố định, người cho ăn ngồi đối diện với trẻ để trẻ có thể giao tiếp bằng mắt, bằng lời. Còn tiếp...
Xem thêm

2 Đọc thêm