KIỂM TRA SỨC KHỎE SINH SẢN GỒM NHỮNG GÌ

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "KIỂM TRA SỨC KHỎE SINH SẢN GỒM NHỮNG GÌ":

Nguyên nhân làm suy yếu khả năng sinh sản của nam giới?

NGUYÊN NHÂN LÀM SUY YẾU KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA NAM GIỚI?

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Khi nhắc đến việc sinh nở, hầu hết mọi người đều cho rằng đây là vấn đề thuộc về phụ nữ. Quan niệm này là hoàn toàn sai lầm vì cả vợ và chồng đều phải có sức khỏe sinh sản tốt mới có thể tạo ra một em bé. Mới đây, tạp chí Women's Healmth đã đưa ra danh sách 9 yếu tố ảnh hưởng xấu đến khả năng sinh sản của đàn ông, được tư vấn bởi Bác sỹ Philip Werthman - Giám đốc Trung tâm nghiên cứu sức khỏe sinh sản nam giới ở Los Angeles (Mỹ). 1. Bệnh lây truyền qua đường tình dục Các bệnh lây truyền qua đường tình dục như chlamydia hay lậu là nguyên nhân đầu bảng dẫn đến tình trạng vô sinh ở nam giới. Đây đều là những căn bệnh có thể phòng tránh nhưng nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời, chúng có thể gây viêm nhiễm và tắc nghẽn ống dẫn tinh.Nếu không chữa trị triệt để các căn bệnh này sẽ gây viêm, tắc nghẽn ống dẫn tinh. Do vậy, lời khuyên là các quý ông nên thường xuyên kiểm tra sức khoẻ định kỳ.   2. Nồng độ nhôm gây ảnh hưởng đến khả năng sinh sản Nghiên cứu mới đây cho thấy nhóm đàn ông có số lượng tinh trùng thấp thường có nồng độ nhôm cao trong tinh dịch so với nhóm đàn ông khác. Do đó, việc sử dụng lon nhôm, nồi, chảo nhôm được khuyến cáo là rất ảnh hưởng tới khả năng sinh sản. 3. Nhiệt độ cao Các chuyên gia khẳng định việc thường xuyên tắm bồn nước nóng hay tắm hơi sẽ làm giảm số lượng tinh trùng trong vòng từ 1-4 tháng. 4. Khả năng sinh sản giảm dần theo tuổi Mặc dù không có con số cụ thể cho độ tuổi bắt đầu giảm khả năng sinh sản ở nam giới, số lượng và chất lượng tinh trùng chắc chắn sẽ giảm dần khi về già. Thực tế là một số người đàn ông vẫn có thể có con ở độ tuổi 80, nhưng trường hợp này xảy ra không nhiều do số lượng tinh trùng của họ đã giảm sút đáng kể. 5. Ăn chay   Mặc dù ăn chay tốt cho sức khỏe nhưng theo nghiên cứu thì những đàn ông không ăn thịt sẽ có nguy cơ giảm số lượng tinh trùng. Có khoảng hơn 30% con giống của những người ăn chay hoạt động hiệu quả, trong khi con số đó ở người ăn thịt bình thường là 60%. 6. Hút thuốc lá   Hút thuốc lá có ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng sinh sản của nam giới. Khi hút thuốc, các chất hóa học trong thuốc lá sẽ xâm nhập vào nơi lưu trữ chất béo trong cơ thể, gây rối loạn nội tiết tố và khiến tinh hoàn sản xuất ra những tinh trùng có hình dạng bất thường. 7. Sử dùng thuốc chống trầm cảm Những người đàn ông thường xuyên sử dụng thuốc chống trầm cảm có nguy cơ cao tạo ra đời con mang dị tật bất thường. Tuy nhiên, khi họ ngừng sử dụng thuốc thì chất lượng hoạt động của tinh trùng sẽ trở lại bình thường. 8. Béo phì   Khi bạn càng khỏe mạnh thì càng tốt cho tinh trùng của bạn. Nếu chỉ số BMI của một người đàn ông cao hơn 35, họ sẽ đối mặt với nguy cơ suy giảm khả năng sinh sản và giảm số lượng tinh trùng. Bạn có thể can thiệp tới điều này bằng cách thay đổi chế độ ăn uống và tập luyện. 9. Máy tính xách tay cũng ảnh hưởng tới khả năng sinh sản của nam giới Lượng nhiệt tỏa ra từ máy tính có mức độ gây hại đến khả năng sinh sản ở nam giới tương đương nhiệt độ từ bồn tắm nước nóng và phòng xông hơi. Nếu để máy tính trên đùi, bạn nên có một lớp đệm để cản nhiệt trực tiếp tỏa ra từ máy tính.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Đề tài Thực trạng và giải pháp nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản của sinh viên tại trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình, tỉnh Thái Bình

ĐỀ TÀI THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA SINH VIÊN TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

Thực trạng và giải pháp nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản của sinh viên tại trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình, tỉnh Thái Bình’’, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động giáo dục SKSS trong học đƣờng nói riêng và cộng đồng nói chung. Hơn nữa, các SV của trƣờng Cao đẳng Sƣ phạm Thái Bình sẽ là những thầy, cô giáo tƣơng lai, đó là cầu nối quan trọng để truyền đạt kiến thức về chăm sóc SKSS đến thanh thiếu niên. 2. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá thực trạng hiểu biết về SKSS của SV trƣờng Cao đẳng Sƣ phạm Thái Bình. - Thiết kế và đánh giá hiệu quả của giải pháp can thiệp giúp nâng cao nhận thức về SKSS cho SV trƣờng Cao đẳng Sƣ phạm Thái Bình. Từ đó, phát triển, hoàn thiện các giải pháp và nhân rộng các mô hình tuyên truyền kiến thức về SKSS trong học đƣờng nói riêng, cộng đồng nói chung. 3. Nhiệm vụ của đề tài Đề tài Thực trạng và giải pháp nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản của sinh viên tại trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình, tỉnh Thái Bình - Điều tra thực trạng hiểu biết về SKSS của SV. - Tiến hành can thiệp bằng biện pháp giảng dạy nội dung về SKSS trên đối tƣợng SV năm I. - Đánh giá hiệu quả của giải pháp can thiệp, trên cơ sở đó phát triển các giải pháp góp phần nâng cao nhận thức về SKSS. Đề tài: Thực trạng và giải pháp nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản của sinh viên tạ i trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình, tỉnh Thái Bình 4 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu - Đối tƣợng nghiên cứu là SV năm I, năm II và năm III, từ 19 đến 21 tuổi, đang học tập tại trƣờng Cao đẳng Sƣ phạm Thái Bình, tỉnh Thái Bình. - Phạm vi nghiên cứu: Đánh giá thực trạng hiểu biết về SKSS, tiến hành giải pháp can thiệp (giảng dạy nội dung về SKSS), đánh giá hiệu quả của giải pháp, từ đó phát triển, hoàn thiện các giải pháp góp phần nâng cao nhận thức về SKSS cho SV trƣờng Cao đẳng Sƣ phạm Thái Bình. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu Các chỉ số đƣợc nghiên cứu bằng các phƣơng pháp: phỏng vấn bằng phiếu, thiết kế bài giảng và hoạt động, kiểm tra đánh giá (các mẫu phiếu sử dụng đƣợc thiết kế sẵn). Đề tài Thực trạng và giải pháp nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản của sinh viên tại trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình, tỉnh Thái Bình Kết quả nghiên cứu đƣợc phân tích và xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel, SPSS 16.0 và Epidata 6.0. 6. Những đóng góp của đề tài Là đề tài đầu tiên thực hiện trên đối tƣợng SV ở địa bàn tỉnh Thái Bình về điều tra nhận thức SKSS và tác động giải pháp can thiệp. Đánh giá hiệu quả của giải pháp can thiệp, trên cơ sở đó phát triển, hoàn thiện các giải pháp góp phần nâng cao nhận thức về SKSS cho SV trƣờng Cao đẳng Sƣ phạm Thái Bình nói riêng và trong trƣờng học nói chung. Các số liệu trong luận văn góp phần bổ sung số liệu cho việc nghiên cứu, đánh giá về sức khỏe sinh sản vị thành niên, thanh niên. Đồng thời có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, giảng dạy ở các trƣờng trung học cơ sở (THCS), THPT và đại học (ĐH). NỘI DUNG CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU Đề tài: Thực trạng và giải pháp nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản của sinh viên tạ i trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình, tỉnh Thái Bình 5 1.1. Cơ sở lý luận chung 1.1.1. Sức khỏe sinh sản 1.1.1.1. Khái niệm sức khỏe sinh sản Theo chƣơng trình hành động của Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển (Hội nghị Cairo – 1994), “SKSS là một tình trạng hài hòa về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không phải đơn thuần là không có bệnh tật hay tàn phế trong tất cả các vấn đề liên quan đến tình dục và hệ thống sinh sản của con ngƣời, những chức năng và quá trình hoạt động của nó” [6, 7, 57, 58, 60]. Qua đó, có thể khẳng định việc chăm sóc SKSS là tổng thể các biện pháp kĩ thuật, dịch vụ góp phần nâng cao sức khỏe, hạnh phúc bằng cách phòng ngừa và giải quyết các vấn đề về SKSS. Nó cũng bao gồm cả sức khỏe tình dục với mục đích là đề cao cuộc sống và các mối quan hệ riêng tƣ, chứ không chỉ là việc tƣ vấn, chăm sóc liên quan đến sinh sản và các bệnh LTQĐTD. SKSS không chỉ là trạng thái không có bệnh tật hoặc các vấn đề sức khỏe khác, mà SKSS phải đƣợc hiểu trong khuôn khổ của các mối quan hệ giữa sự thực hiện và rủi ro; cơ hội có đứa con mong muốn hoặc ngƣợc lại, tránh mang thai ngoài ý muốn và không an toàn. SKSS góp phần rất lớn cho nguồn an ủi về thể chất, về tâm lý xã hội và sự gần gũi, sự trƣởng thành cá nhân và xã hội. SKSS kém đi liền với bệnh tật, lạm dụng, mang thai ngoài ý muốn và tử vong [6, 7]. SKSS bao gồm các nội dung: KHHGĐ (tƣ vấn, thông tin, giáo dục truyền thông, dịch vụ KHHGĐ); sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh; bệnh viêm nhiễm và ung thƣ đƣờng sinh dục; bệnh lây truyền qua đƣờng tình dục và HIV/AIDS; tình dục (thông tin và tƣ vấn về tình dục); SKSS vị thành niên; bình đẳng giới (bạo lực giới và phân biệt đối xử với phụ nữ); trách nhiệm của nam giới; phá thai (những tai biến, hậu quả phá thai không an toàn, ngăn ngừa và quản lý phá thai không an toàn); vô sinh (ngăn chặn và điều trị vô sinh); mãn kinh và tuổi già [57, 58]. Đề tài: Thực trạng và giải pháp nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản của sinh viên tạ i trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình, tỉnh Thái Bình 6 1.1.1.2. Khái niệm chăm sóc sức khỏe sinh sản Chăm sóc SKSS đề cập đến các biện pháp, kĩ thuật, dịch vụ góp phần cải thiện SKSS và phúc lợi bằng cách ngăn ngừa, giải quyết các vấn đề có hại đối với SKSS. Chăm sóc SKSS bao gồm chăm sóc sức khỏe tình dục với mục đích nâng cao chất lƣợng cuộc sống và các mối quan hệ cá nhân liên quan đến SKSS chứ không chỉ đơn thuần là khám, điều trị các bệnh liên quan đến sinh sản và LTQĐTD [15, 40, 57, 58]. 1.1.1.3. Nội dung chăm sóc sức khỏe sinh sản Nội dung chăm sóc SKSS gồm: Thông tin, giáo dục truyền thông về chăm sóc SKSS; thực hiện tốt KHHGĐ; làm mẹ an toàn; phòng tránh thai, phá thai an toàn; phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn đƣờng sinh sản; phòng chống các bệnh LTQĐTD; giáo dục SKSS VTN; phòng chống nguyên nhân gây vô sinh; phòng chống ung thƣ vú và ung thƣ sinh dục; giáo dục về tình dục, sức khỏe ngƣời cao tuổi và bình đẳng giới. Ở Việt Nam, theo chiến lƣợc chăm sóc SKSS giai đoạn 2001 – 2010, Ủy ban dân số quốc gia đã nêu ra bảy nội dung cụ thể đƣợc ƣu tiên gồm: Quyền sinh sản: Là quyền cơ bản của tất cả các cặp vợ chồng, cá nhân trong việc tự do quyết định và có trách nhiệm về sinh, khoảng cách, thời điểm sinh con, quyền có đƣợc thông tin và phƣơng tiện để làm đƣợc điều này, cũng nhƣ quyền có đƣợc những chuẩn mực cao nhất về sức khỏe tình dục và SKSS. Quyền sinh sản còn bao gồm quyền của nam, nữ quyết định vấn đề sinh sản mà không bị phân biệt đối xử, ép buộc hay cƣỡng bức. Khi thực hiện quyền lợi này cả nam và nữ đều phải cân nhắc nhu cầu cuộc sống của bản thân và con cái sau này, cũng nhƣ trách nhiệm của họ đối với cộng đồng, xã hội (Hội nghị Quốc tế và Phát triển tại Cairo, Ai Cập, 1994). Kế hoạch hóa gia đình bao gồm: Sử dụng tốt, rộng rãi và đa dạng các biện pháp tránh thai (BPTT); mỗi gia đình chỉ có từ một đến hai con dù trai hay gái; khoảng cách giữa các lần sinh con từ 3 đến 5 năm; tuổi đẻ lần đầu là Đề tài: Thực trạng và giải pháp nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản của sinh viên tạ i trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình, tỉnh Thái Bình 7 22, lần cuối là dƣới 35; không sinh con đầu lòng trƣớc 20 tuổi và con cuối cùng sau 35 tuổi; vai trò và trách nhiệm của nam giới trong KHHGĐ; lợi ích của việc thực hiện tốt công tác KHHGĐ (Khống chế sự gia tăng dân số, giảm tai biến sản khoa, đảm bảo sức khoẻ phụ nữ, nâng cao chất lƣợng cuộc sống). Làm mẹ an toàn: Là những biện pháp đƣợc áp dụng để đảm bảo sự an toàn cho cả ngƣời mẹ và thai nhi, để làm giảm tỉ lệ tử vong và bệnh tật từ khi ngƣời mẹ mang thai, trong khi sinh và suốt thời kì hậu sản (42 ngày sau đẻ). Phòng tránh thai, phá thai an toàn: Để phòng tránh thai, quan trọng nhất là áp dụng rộng rãi các BPTT. Nếu phá thai, cần phá thai an toàn, đó là thực hiện việc phá thai thật tốt để đảm bảo sức khoẻ cho ngƣời phụ nữ. Chỉ phá thai khi chắc chắn đã có thai bằng xét nghiệm thai sớm hoặc siêu âm, việc này chỉ đƣợc thực hiện ở các cơ sở y tế đƣợc phép phá thai, do những cán bộ đã đƣợc đào tạo chu đáo về các phƣơng pháp phá thai. Phải làm tốt công tác tƣ vấn trƣớc và sau phá thai, không phá thai chui. Thực hiện tốt những lời dặn dò của thầy thuốc sau phá thai về sử dụng thuốc, vệ sinh, sinh hoạt tình dục… Phòng tránh các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản, LTQĐTD và HIV/AIDS: vệ sinh thân thể, vệ sinh kinh nguyệt, vệ sinh thai nghén, vệ sinh sinh hoạt tình dục, vệ sinh sau đẻ, sẩy, phá thai; phòng và điều trị sớm những bệnh viêm nhiễm đƣờng sinh sản cho cả nam và nữ; cung cấp kiến thức chung, đặc biệt là đƣờng lây truyền của các bệnh LTQĐTD, gồm cả HIV/AIDS và hậu quả của các bệnh LTQĐTD; không dùng chung các dụng cụ bị nhiễm dịch cơ thể của ngƣời khác; sống thuỷ chung một vợ một chồng; sử dụng rộng rãi và đúng cách bao cao su (BCS). Chăm sóc SKSS VTN: Giáo dục sinh lý kinh nguyệt; giáo dục sinh lý thụ thai và các BPTT, những điều kiện và các dấu hiệu có thai; giáo dục vệ sinh cho VTN nữ, vệ sinh kinh nguyệt; giáo dục tình bạn, tình yêu lành mạnh, những nguy cơ do thai nghén, nguy cơ có thai ngoài ý muốn; giáo dục về sức khoẻ tình dục và tình dục an toàn.
Xem thêm

120 Đọc thêm

TÍCH HỢP GD SỨC KHỎE SINH SẢN VÀ PHÒNG CHỐNG HIVAIDS CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUA MÔN SINH HỌC LỚP 10

TÍCH HỢP GD SỨC KHỎE SINH SẢN VÀ PHÒNG CHỐNG HIVAIDS CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUA MÔN SINH HỌC LỚP 10

• Đặt vấn đề: Virut không có cấu tạo tế bào nên người ta thường dùng thuật ngữ nhân lênthay cho thuật ngữ sinh sản. Trong nội dung của bài học này, chúng ta sẽ tìm hiểu về chutrình nhân lên của virut trong đó có virut HIV. Cũng qua bài học này, chúng ta sẽ tìm hiểuvề các con đường lây truyền HIV, các hành vi nguy cơ và không nguy cơ để có thể chungsống với HIV, thực hiện các hành vi an toàn.• Hoạt động 1: TÌM HIỂU VỀ SỰ NHÂN LÊN CỦA VIRUT TRONG TẾ BÀO CHỦ(15 phút)-Mục tiêu:* Kiến thức:• Trình bày được các giai đoạn các giai đoạn nhân lên của virut trong tế bào chủ.* Rèn luyện được một số kỹ năng học tập sau đây: Quan sát, phân tích, tổng hợp kiếnthức và kỹ năng hoạt động nhóm.-Hình thức tổ chức: Tổ chức hoạt động nhóm, làm việc với phiếu học tập.-Phương pháp thực hiện: GV: Chia nhóm học tập: Mỗi nhóm gồm 7 học sinh (6 nhóm). GV: Chiếu một đoạn phim minh họa sự nhân lên của virrut trong tế bào chủ: GV: Yêu cầu HS quan sát và cho biết: Quá trình xâm nhiễm của virut trong tế bào chủđược chia thành mấy giai đoạn? Đó là những giai đoạn nào? HS: Quan sát đoạn phim và trả lời. GV: Phát cho mỗi nhóm 1 phiếu bài tập của vòng 1 (Xem phụ lục)
Xem thêm

17 Đọc thêm

GIÁO DỤC GIỚI TÍNH VÀ SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN CHO HỌC SINH KHỐI 10 TRƯỜNG THPT TRIỆU SƠN 6

GIÁO DỤC GIỚI TÍNH VÀ SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN CHO HỌC SINH KHỐI 10 TRƯỜNG THPT TRIỆU SƠN 6

học hành, có khả năng ảnh hưởng đến cả tương lai sự nghiệp của các em, đếnchất lượng dân số của toàn xã hội công tác giáo dục về giới tính và sức khỏesinh sản là hết sức cần thiết, vì rằng thà “Vẽ đường cho hươu chạy đúng” cònhơn để các em tự suy diễn, tìm tòi và có khả năng bị ảnh hưởng bởi nhữngnguồn thông tin không đáng tin cậy. Giáo dục cho trẻ những kiến thức về sựthay đổi về thể chất cũng như tinh thần, cảm xúc, những kiến thức về sự thay đổivề thể chất cũng như tinh thần, cảm xúc, những kiến thức về quá trình sinh sản,nghĩa vụ vợ chồng, vai trò làm bố mẹ … chính là sự chuẩn bị tốt nhất cho tươnglai khi các em thực sự trưởng thành, trong đó cần chú trọng vào công tác tư vấnvề tình yêu - hôn nhân - gia đình để trẻ vị thành niên có được nơi đón tiếp,khuyên nhủ kịp thời.Bản thân tôi là một giáo viên chủ nhiệm lớp kiêm Bí thư Đoàn Thanh niênnhà trường, đồng thời là phó chủ tịch Công Đoàn nhà trường nhiều năm. Đối1tượng học sinh trong độ tuổi vị thành niên, khi tiếp xúc và đặt câu hỏi liên quanđến kiến thức về giới tính, về sức khỏe sinh sản ở lứa tuổi vị thành niên cho họcsinh- đoàn viên thanh niên tôi nhận thấy rằng đa số các em đều hiểu biết, hoặchiểu biết một cách mơ hồ về vấn đề này. Hơn nữa kiến thức tích hợp được quamột số bài dạy chính khóa là quá ít do thời gian có hạn, vì vậy tôi muốn thôngqua các giờ hoạt động tập thể để giáo dục cho các em những kiến thức về giớitính và sức khỏe sinh sản vị thành niên giúp các em có một hành trang vữngchắc từ đó có thể học tập để trở thành những con người có ích cho xã hội. Do đótôi chọn đề tài “Giáo dục giới tính, sức khỏe sinh sản vị thành niên cho họcsinh khối 10 tại trường THPT Triệu Sơn 6” làm đề tài sáng kiến kinh nghiệmnăm học 2016 - 2017.1.2.MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨUSau khi được học nội dung này học sinh phải:-Hiểu được các khái niệm về tuổi vị thành niên, sức khỏe sinh sản vị thành
Xem thêm

23 Đọc thêm

"Nguy to" khi mẹ bầu tăng trên 15kg

"NGUY TO" KHI MẸ BẦU TĂNG TRÊN 15KG

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Nếu bạn bị thừa cân, cách tốt nhất để bảo vệ sức khỏe cho bạn và con mình là phải giảm cân trước khi mang thai. Khi bạn đã có được cân nặng khỏe mạnh thì bạn có thể giảm được một số vấn đề gặp phải khi mang thai do thừa cân như tăng huyết áp, sẩy thai, sinh mổ, khó phát hiện dị tật ở thai. Tuy nhiên, nếu bạn mang thai trước khi giảm được cân nặng thì cũng đừng quá lo lắng, vì có một số bà mẹ sau đấy vẫn có thể có thai và sinh con khỏe mạnh bình thường. Nhưng béo phì có thể gia tăng một số biến chứng đối với cả mẹ và bé, nên các mẹ cần quan tâm đến vấn đề chăm sóc sức khỏe tiền sinh sản để giảm thiểu những vấn đề này. Theo các chuyên gia khoa sản, trong 9 tháng mang thai, chị em chỉ cần tăng 11-14kg là đủ. Những mối nguy hiểm khi béo phì Bị bệnh béo phì có thể làm tăng nguy cơ bị các biến chứng sau đây ở phụ nữ mang thai: - Sẩy thai: Tỉ lệ sẩy thai dưới 12 tuần ở những người này là 20%, nếu mẹ có BMI-chỉ số khối lượng cơ thể(cân nặng /(chiều cao*chiều cao)) trên 30 thì tỉ lệ này là 25%. - Bệnh tiểu đường thai kỳ: nếu mẹ chỉ số BMI trên 30, thì đồng nghĩa với việc tỉ lệ bị tiểu đường của những bà mẹ này cao gấp 3 lần những bà mẹ có BMI dưới 30.   Mẹ bầu tăng cân quá nhiều dễ gặp phải những nguy cơ như tăng huyết áp, sẩy thai, sinh mổ, khó phát hiện dị tật ở thai. (ảnh minh họa) - Huyết áp cao và kinh giật: nếu mẹ có tỉ lệ BMI trên 35 vào thời gian đầu mang thai thì nguy cơ bị chứng kinh giật cao gấp 2 lần so với những mẹ có tỉ lệ này dưới 25. - Máu đông: tất cả những phụ nữ mang thai đều có nguy cơ mắc bệnh này cao hơn những phụ nữ bình thường, và nếu BMI của bạn trên 30 thì nguy cơ này cũng tăng lên. - Đẻ khó: sau khi đầu bé ra thì vai bé lại bị vướng vào sau xương mu của mẹ, gây khó đẻ. - Sinh bé nặng trên 4kg. tỉ lệ này đối với phụ nữ có BMI từ 20-30 là 7%, còn nếu BMI trên 30 thì tỉ lệ này là 14%. - Một số vấn đề khác như: sinh non (trước 37 tuần), chết non, trẻ bị dị tật bẩm sinh, khó phát hiện dị tật ở trẻ. Trong suốt thời kỳ mang thai Nếu mẹ tăng cân quá nhiều khi đang mang thai thì cũng đừng cố giảm cân ngay thời gian này vì rất nguy hiểm. Và cũng chưa có bằng chứng khoa học nào cho thấy rằng giảm cân khi đang mang thai có thể hạn chế được các rủi ro trên. Cách tốt nhất đấy để bảo vệ sức khỏe cho mẹ và bé đó là mẹ hãy thường xuyên lui tới các trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản, gặp gỡ bác sĩ hay chuyên gia sức khỏe để họ có thể kiểm tra cho mẹ và bé tốt nhất. Họ có thể kiểm soát được những mối nguy hiểm mà mẹ và bé có thể gặp phải liên quan đến cân nặng và sớm đưa ra biện pháp để giải quyết vấn đề. Mẹ cũng nên có một chế độ dinh dưỡng hợp lý và hoạt động nhẹ nhàng hằng ngày. Nếu có thể, mẹ nên xin tư vấn của một chuyên gia dinh dưỡng về chế độ ăn uống khỏe mạnh và làm thế nào để luôn thấy vui vẻ tích cực khi đang mang thai. Ăn uống và thể dục Ăn uống khỏe mạnh (gồm cả việc mẹ biết thực phẩm gì nên tránh) và tập thể dục như đi bộ, bơi rất tốt cho sức khỏe bà bầu. Nếu trước khi mang thai, thai phụ không phải là người thích vận động thì nên hỏi bác sĩ trước khi bắt đầu một chế độ tập luyện khi mang thai. Nếu bạn bắt đầu khóa thể dục của mình như bơi, đi bộ, chạy, lớp aerobics, bạn hãy báo cho người hướng dẫn biết rằng bạn đang mang thai và chỉ tập được liên tục 15 phút, 3 lần 1 tuần. dần dần hãy tăng lên thành 30 phút một lần. Đừng tập quá căng thẳng, vì như thế có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của mẹ và bé. Nếu khi nói chuyện bạn thấy khó thở, đó có lẽ là do bạn tập quá nhiều. Hãy nghỉ ngơi một chút.
Xem thêm

2 Đọc thêm

DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN ĐỐI VỚI PHỤ NỮ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TỪ THỰC TIỄN HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI

DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN ĐỐI VỚI PHỤ NỮ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TỪ THỰC TIỄN HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI

cơ bản ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt, lao động, học tập của con người, ảnhhưởng tới đời sống hoạt động sản xuất vật chất, tinh thần, sản xuất nòi giống của xãhội. Không có sức khỏe thì không thể lao động có năng suất cao, ngược lại sức khỏephụ thuộc vào nhiều yếu tố. Nó là khái niệm tổng hợp, đòi hỏi sự tham gia, đónggóp của toàn xã hội và sự tham gia của bản thân mỗi cá nhân, của mỗi cộng đồngnhất định. Mỗi cá nhân phải có kiến thức, hiểu biết để hành động và ứng xử hợp lí,tạo ra sức khỏe cho bản thân và gia đình.Tại Hội nghị Alma- Ata năm 1978 của Tổ chức Y tế thế giới đưa ra địnhnghĩa về sức khỏe như sau:“Sức khỏe là một tình trạng hoàn toàn thoải mái về thểchất, tâm thần và xã hội biểu hiện không chỉ qua việc không mắc bệnh hoặc khôngốm yếu”. Khái niệm về sức khỏe sinh sảnHội nghị quốc tế về dân số và phát triển ICPD tại Cairo (Ai Cập) 1994 đãđưa ra định nghĩa về sức khỏe sinh sản như sau: “Sức khỏe sinh sản là một tìnhtrạng thoải mái hoàn toàn về thể chất, tinh thần và xã hội của tất cả những gì liênquan tới hoạt động và chức năng của bộ máy sinh sản chứ không chỉ đơn thuần làkhông có bệnh tật hoặc tàn phế trong bộ máy đó”. Điều này hàm ý là mọi người kểcả nam và nữ đều có quyền nhận được thông tin và tiếp cận các dịch vụ chăm sócsức khỏe, các biện pháp KHHGĐ an toàn, hiệu quả, dễ dàng và thích hợp tùy theosự lựa chọn của họ đảm bảo cho phụ nữ trải qua thai nghén và sinh đẻ an toàn, tạocho các cặp vợ chồng những điều kiện tốt nhất để có những đứa con khỏe mạnh.Cũng trong chương trình hành động của hội nghị đã nêu rõ: “SKSS là trạngthái sung mãn hoàn toàn về thể chất, tinh thần, xã hội và không chỉ là không cóbệnh tật hay không bị tàn phế về tất cả những gì liên quan tới hệ thống, chức phậnvà quá trình sinh sản”. Như thế, SKSS có nghĩa là mọi người có thể có cuộc sống’tình dục an toàn hài lòng, họ có khả năng sinh sản, tự do quyết định sinh con haykhông, sinh con khi nào và sinh bao nhiêu con. Khái niệm chăm sóc sức khỏe sinh sản9
Xem thêm

78 Đọc thêm

BỘ CÂU HỎI THƯỜNG GẶP VỀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN.

BỘ CÂU HỎI THƯỜNG GẶP VỀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN.

Câu hỏi thường gặp về chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên. tuyên truyền kiến thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản.Câu hỏi thường gặp về chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên. tuyên truyền kiến thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản.Câu hỏi thường gặp về chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên. tuyên truyền kiến thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản.Câu hỏi thường gặp về chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên. tuyên truyền kiến thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản.Câu hỏi thường gặp về chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên. tuyên truyền kiến thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản.
Xem thêm

5 Đọc thêm

Quản lý giáo dục sức khỏe sinh sản cho sinh viên trường Cao đẳng Y tế Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)

QUẢN LÝ GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN (LV THẠC SĨ)

Quản lý giáo dục sức khỏe sinh sản cho sinh viên trường Cao đẳng Y tế Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Quản lý giáo dục sức khỏe sinh sản cho sinh viên trường Cao đẳng Y tế Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Quản lý giáo dục sức khỏe sinh sản cho sinh viên trường Cao đẳng Y tế Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Quản lý giáo dục sức khỏe sinh sản cho sinh viên trường Cao đẳng Y tế Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Quản lý giáo dục sức khỏe sinh sản cho sinh viên trường Cao đẳng Y tế Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Quản lý giáo dục sức khỏe sinh sản cho sinh viên trường Cao đẳng Y tế Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Quản lý giáo dục sức khỏe sinh sản cho sinh viên trường Cao đẳng Y tế Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Quản lý giáo dục sức khỏe sinh sản cho sinh viên trường Cao đẳng Y tế Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Quản lý giáo dục sức khỏe sinh sản cho sinh viên trường Cao đẳng Y tế Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Quản lý giáo dục sức khỏe sinh sản cho sinh viên trường Cao đẳng Y tế Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)
Xem thêm

127 Đọc thêm

BÀI 62. THỤ TINH, THỤ THAI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THAI

BÀI 62. THỤ TINH, THỤ THAI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THAI

LỒNG GHÉP TRONG GIẢNG DẠY BỘ MÔN SINH HỌC 8 - ĐỂ GIÁO DỤC KỸNĂNG SỐNG LIÊN QUAN ĐẾN SỨC KHỎE SINH SẢN CHO HỌC SINHI. Đặt vấn đề:Kỹ năng sống là khả năng ứng xử của mỗi cá nhân trong những tình huống nhất định, đó là khả năng mà mỗi cánhân có được trong việc giải quyết các vấn đề gặp phải và ứng phó một cách tích cực đối với những thử thách củacuộc sống thường ngày. Kỹ năng sống vừa mang tính cá nhân vừa mang tính xã hội. Cá nhân là vì mỗi người tự đặtra cho mình các giá trị, niềm tin để quyết định hành động theo những mục tiêu riêng mà mình đặt ra. Tuy nhiên,những mục tiêu đó phần lớn lại chịu ảnh hưởng của nền văn hóa, phong tục tập quán, của những chuẩn mực đạođức trong cộng đồng nơi người đó sinh sống.Kỹ năng sống rất quan trọng đối với trẻ vị thành niên , đặc biệt trong lĩnh vực sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục.Ở lứa tuổi này thường các em thiếu kinh nghiệm sống, ít được rèn luyện kỹ năng sống, do đó khi cần phải đưa ra cácquyết định quan trọng đối với sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục như: Quan hệ tình dục khi nào, với ai, có sửdụng biện pháp bảo vệ hay không, làm thế nào để nói lên quan điểm của mình về tình dục với bạn tình thì trẻ vịthành niên thường gặp khó khăn, có thể đưa ra những quyết định sai lầm làm ảnh hưởng đến cuộc sống và tương laicủa họ. Đặc biệt đối với xã hội chúng ta ngày nay, để giáo dục học sinh có ý thức tốt trong việc bảo vệ sức khỏe sinhsản thì giáo viên nhất là giáo viên dạy bộ môn sinh học cần phải lồng ghép vấn đề này vào trong chính các bài dạycủa mình. Bởi học sinh là những người chủ nhân tương lai của đất nước, chúng ta phải làm sao cho các thế hệ họcsinh có ý thức và góp sức mình vào công cuộc xây dựng đất nước. Tuy nhiên trong chương trình sinh học 8, kiếnthức ở các bài dạy có liên quan đến sức khỏe, sinh sản chỉ mới cung cấp cho học sinh những thông tin cơ bản về cơquan sinh dục nam - nữ, sự thụ tinh – thụ thai và phát triển của thai, kiến thức về dân số và sức khỏe sinh sản, cácbiện pháp sinh hoạt tình dục an toàn để tránh lây nhiễm HIV, các bệnh lây qua đường tình dục, …. Điều quan trọnggiáo viên nên biết lựa chọn những nội dung cần thiết để lồng vào giáo dục kĩ năng sống cho học sinh.Khi hình thành các kĩ năng sống đòi hỏi giáo viên cần có những kĩ năng riêng thì mới đạt hiệu quả cao. Hầu hết các giáo viêngiảng dạy bộ môn sinh học 8 ở các trường THCS hiện nay chưa được đào tạo kĩ năng này một cách chuyên nghiệp. Điều này dẫntới hậu quả là giáo viên khi giảng dạy đến kiến thức về sức khỏe sinh sản thì thường né tránh hoặc khi giảng dạy không mang lạihứng thú cho học sinh. Đặc biệt các giáo viên trẻ thường bỏ qua khi mà chưa có qui định nào bắt buộc phải dạy giáo dục giớitính, swcs khỏe sinh sản trong từng bài học cụ thể.
Xem thêm

14 Đọc thêm

“sự cần thiết của việc giáo dục giới tính sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh”

“sự cần thiết của việc giáo dục giới tính sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh”

BÀI DỰ THI VẬN DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN ĐỂ GIẢI QUYẾTTÌNH HUỐNG TRONG THỰC TIỄNI. TÌNH HUỐNG : “Sự cần thiết của việc giáo dục giới tính Sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh”. Tình huống cần giải quyết:Trống báo hiệu giờ ra chơi, học sinh lớp 6A đã ùa ra khỏi lớp. Duy nhất chỉ còn một mình bạn Lan vẫn ngồi khúm núm tại bàn, đưa mắt nhìn ngó xung quanh. Được một lúc, Lan bỏ chạy vào nhà vệ sinh nữ đóng cửa và không chịu ra ngoài. Vào tiết học sau, không thấy bạn Lan đâu, cả lớp nhốn nháo đi tìm, thì một học sinh nam cho biết, đã nhìn thấy bạn Lan chạy vào phòng vệ sinh. Linh – Bạn thân của Lan vào xem thì thấy Lan đang ngồi khóc trong nhà vệ sinh với tâm trạng lo lắng, sợ hãi vì chiếc quần dính đầy máu. Linh nói nhỏ với cô giáo chủ nhiệm, cô đã an ủi hai bạn và nói rằng đó là điều bình thường, là biểu hiện của tuổi dậy thì.Từ câu chuyện của bạn Lan lớp 6A và thực tế bản thân en cũng như qua tìm hiểu một số bạn trong cùng lớp, cùng trường. Chúng em nhận thấy khi có những thắc mắc hay những điều khó nói về sức khỏe, tâm sinh lý lứa tuổi thì chúng em lại ngại và không thể tâm sự được với ai kể cả cha, mẹ, thầy, cô hay anh, chị. Muốn tìm hiểu, chúng em phải tự kiếm tìm các thông tin trên mạng Internet, qua bạn bè cùng trang lứa. Vì vậy, các thông tin thường không đầy đủ và nhiều khi thiếu khoa học. Nhiều bạn do không có kiến thức về giáo dục giới tính nên khi đi quá giới hạn đã gây những hậu quả xấu, ảnh hưởng đến cuộc sống cũng như quá trình học tập.Từ thực trạng trên, nhóm chúng em đã tìm hiểu, nghiên cứu về giới tính – sức khỏe sinh sản, để giúp các bạn trong trường có đầy đủ thông tin về giới tính – sức khỏe sinh sản vị thành niên. Chắc chắn đây sẽ là vấn đề được nhiều bạn trẻ, nhiều bậc phụ huynh quan tâm.
Xem thêm

Đọc thêm

TƯ VẤN SỨC KHỎE GIỚI TÍNH

TƯ VẤN SỨC KHỎE GIỚI TÍNH

Nữ: Tại sao thích nhau tuổi này lại cấm đoán trong khi tớ chả làm cái quái gìbậy bạ, đến khi nào tụi tớ đi học GTGT? (nữ khối 7) Tại sao những người lớn không bao giờ hiểu con nít lúc nào cũng nghetừ một phía mà không chịu nghe con nít? (nữ khối 8) Tại sao nước ngoài thanh thiếu niên thường quan hệ tình dục thoải máiđa số vẫn biết cách bảo vệ, còn Việt Nam lại không? Tại sao cấm quan hệtình dục tuổi thanh niên? (nữ khối 8) Tại sao lại không nói thẳng trực tiếp về vấn đề này? (nữ khối 10) Quan hệ trước tuổi thành niên là đúng hay sai, việc mất trinh có cònphải là chuyện quan trọng nữa không? (nữ khối 11)Nam: Mình có bị gay không? (nam khối 7) Nếu trong trận chiến mà không dùng bao cao su thì có hậu quả ra sao?(nam khối 8) Tại sao con gái thường lại "gan" trong chuyện tình dục hơn cả bọn contrai chúng mình? Điều đó tốt hay xấu? (nam khối 9) Ở độ tuổi này làm tình được chưa? (nam khối 9) Làm sao để biết bạn nữ còn trinh hay không? (nam khối 9) Có cần phải quan hệ tình dục để giữ người mình yêu? (nam khối 10) Làm chuyện ấy mà có dùng áo mưa thì được đúng không? (nam khối 10)MỘT SỐ KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ GIỚI,GIỚI TÍNH, SỨC KHỎE SINH SẢN VTN23
Xem thêm

94 Đọc thêm

slide khóa luận tốt nghiệp: Nhận thức của vị thành niên về sức khỏe sinh sản cho học sinh trường THPT Yên Lạc 2 Yên Lạc Vĩnh Phúc

SLIDE KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP: NHẬN THỨC CỦA VỊ THÀNH NIÊN VỀ SỨC KHỎE SINH SẢN CHO HỌC SINH TRƯỜNG THPT YÊN LẠC 2 YÊN LẠC VĨNH PHÚC

Slide NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH TRƯỜNG THPT YÊN LẠC 2 – XÃ LIÊN CHÂU – HUYỆN YÊN LẠC – TỈNH VĨNH PHÚC VỀ SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊNTrong xu thế đổi mới, con người Việt Nam vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Vấn đề con người là một trong những vấn đề luôn được xã hội coi trọng và quan tâm ở mọi thời đại. Xã hội phát triển kéo theo các mặt khác của xã hội cũng phát triển, đặc biệt là nền văn hóa, nhất là đang trong quá trình hội nhập. Nền văn hóa tác động nhiều mặt tới sự phát triển của con người nói chung và học sinh nói riêng. Bên cạnh những mặt tích cực cũng có những ảnh hưởng tiêu cực, vấn đề đang được xã hội quan tâm đó là sự du nhập của văn hóa Phương Tây đã có ảnh hưởng mạnh mẽ tới lứa tuổi VTN đang có sự thay đổi mạnh mẽ về thể chất cũng như giới tính. Vì vậy vấn đề giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh đang được ngành giáo dục quan tâm.Thực trạng này đã và đang trở thành mối quan tâm của gia đình, nhà trường và toàn thể xã hội.Xã hội càng phát triển, con người càng trở nên lạnh lùng với sự sống. Việc giới trẻ sống thử, quan hệ tình dục trước hôn nhân, có thai, phá thai trở thành một vòng tròn khép kín giống nhau ở khá nhiều người.(Theo Khampha.vn tình yêu giới tính. Việt Nam: Phá thai tốp đầu thế giới)Hiện nay, tình trạng quan hệ tình dục sớm dẫn đến tình trạng có thai ngoài ý muốn ngày càng gia tăng. Điều này không những ảnh hưởng xấu cho sức khỏe và tinh thần của người mang thai, cho gia đình, xã hội mà còn có thể dẫn tới nguy cơ tử vong cho chính người mang thai. Đặc biệt là lứa tuổi vị thành niên học sinh.Các vấn đề mang thai và nạo phá thai ở tuổi vị thành niên gắn liền với nhận thức sai lệch hoặc chưa được trang bị những kiến thức cơ bản về sức khỏe sinh sản Ở nước ta trẻ VTN (dưới 18 tuổi) chiếm khoảng 23,8% triệu người, tức là khoảng 31% dân số. Tuy nhiên thanh thiếu niên Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức: mang thai ngoài ý muốn, các bệnh lây lan qua đường tình dục, nhiễm HIV, ma túy, cờ bạc, rượu chè… Theo thống kê của Hội kế hoạch hóa gia đình năm 2014 thì Việt Nam là nước có tỷ lệ nạo phá thai cao thứ 5 trên thế giới, và là nước có tỷ lệ phá thai cao nhất khu vực Đông Nam Á trong đó 20% thuộc lứa tuổi VTN. Chính vì vậy, các em cần có hiểu biết và nhận thức về SKSS để tạo nền tảng vững chắc về mọi mặt để các em có đủ hành trang bước vào cuộc sống tương lai của mình.Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã chọn thực hiện đề tài “ Nhận thức của học sinh trường THPT Yên Lạc 2 – xã Liên Châu Huyện Yên Lạc – Tỉnh Vĩnh Phúc về Sức khỏe sinh sản Vị thành niên” làm đề tài cho bài khóa luận của mình.
Xem thêm

19 Đọc thêm

THIẾT KẾ CÂU HỎI, BÀI TẬP ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC CHƯƠNG SINH SẢN SINH HỌC 11 THPT

THIẾT KẾ CÂU HỎI, BÀI TẬP ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC CHƯƠNG SINH SẢN SINH HỌC 11 THPT

PHẦN 1. MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Chúng ta đang sống trong thế kỉ 21thế kỉ của sự bùng nổ về công nghệ thông tin và khoa học kĩ thuật. Các thông tin khoa học ấy đã can thiệp vào mọi mặt của đời sống xã hội. Để làm chủ được thiên nhiên, xã hội và bản thân con người phải nắm bắt được những thông tin khoa học ấy. Trong khi đó chúng ta không thể kéo dài thời gian học tập trong ngày, không thể kéo dài thời gian học tập của người học. Do đó yêu cầu đặt ra là chúng ta phải thay đổi phương pháp dạy học để sao cho trong một thời gian ngắn nhất người học có thể tiếp nhận được những thông tin cơ bản nhất, thiết thực nhất đáp ứng được nhu cầu của xã hội và thời đại. Hiện nay giáo dục và đào tạo ở Việt Nam vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu nhân lực cho xã hội học sinh sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông, thậm chí trường nghề, cao đẳng, đại học vẫn không thể lao động ngay mà phải mất vài năm làm quen hoặc đào tạo lại. Thực tế này đã được chỉ ra từ nhiều năm nay và đòi hỏi cần phải thay đổi nội dung và đặc biệt là cách học ở nhà trường để học sinh sớm tiếp cận với các bài toán thực tiễn, tăng cường khả năng thực hành giải quyết vấn đề, qua đó học sinh(HS) phát triển các năng lực (NL) cần thiết trong cuộc sống và làm quen dần với môi trường lao động sau khi ra trường. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học đã được khẳng định trong luật giáo dục nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm 2005 “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tự giác, chủ động tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” (chương I, điều 5). Để nâng cao chất lượng dạy và học thì việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hình thành và phát triển (NL) cho HS trong dạy học ở trường phổ thông đã và đang phát huy vai trò một cách tích cực. Sự đổi mới phương pháp phải theo định hướng coi trọng việc bồi dưỡng NL cho HS một số NL cơ bản như sau: NL tự học, NL giải quyết vấn đề, NL hợp tác, NL thu nhận và xử lí thông tin, NL tự kiểm tra đánh giá…. Đây là một công việc to lớn, khó khăn, phức tạp, tác động đến tất cả các khâu giáo dục nhưng nếu làm được sẽ tạo điều kiện cho người học phát huy tính tư duy sáng tạo, rèn kỹ năng thực hành, tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng, tạo ra những sản phẩm có giá trị cho đất nước và thế giới. Việc hình thành và phát triển năng lực cho người học là một nhiệm vụ quan trọng đối với GV ở các trường phổ thông. Bên cạnh đó, làm thế nào để đánh giá được năng lực đã được hình thành và phát triển cũng không kém phần quan trọng mà hầu hết các GV ở các môn học nói chung và môn Sinh học nói riêng đang vấp phải những khó khăn nhất định. đặc biệt là quy trình và cách thiết kế các công cụ đánh giá năng lực. Nhằm giúp cho GV trong việc định hướng để xây dựng bộ công cụ đánh giá năng lực người học, chúng tôi đã lựa chọn và nghiên cứu đề tài “Thiết kế câu hỏi, bài tập đánh giá năng lực người học chương Sinh sản Sinh học 11 THPT ” 2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Xây dựng quy trình để thiết kế một số dạng câu hỏi, bài tập theo hướng đánh giá năng lực người học trong chương Sinh Sản Sinh học 11 THPT và sử dụng chúng để kiểm tra, đánh giá năng lực HS. 3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài. Phân tích cấu trúc nội dung chương trình Sinh học 11 và thành phần kiến thức chương Sinh sản, Sinh học 11 THPT làm cơ sở xây dựng các chuyên đề dạy học. Điều tra thực trạng dạy học và kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển NL cho HS THPT. Thiết kế quy trình xây dựng câu hỏi, bài tập đánh giá NL cho HS và vận dụng quy trình để xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập để đánh giá năng lực HS trong dạy học chương Sinh sản, Sinh học 11 THPT. Thiết kế các tiêu chí đánh giá năng lực trong quá trình dạy học chương Sinh sản,Sinh học 11 THPT. Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng giả thuyết đề ra. 4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU Các dạng câu hỏibài tập kiểm tra đánh giá năng lực người học Năng lực GQVĐ, năng lực hợp tác, năng lực tự học. Chương Sinh sản, Sinh học 11 THPT. 5. ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 5.1. Đối tượng Các dạng câu hỏi, bài tập kiểm tra đánh giá năng lực cho người học Quy trình thiết kế công cụ đánh giá năng lực cho HS trongdạy học Chương Sinh sản, Sinh học 11 THPT. Nội dung dạy học chương Sinh Sản Sinh học 11 THPT ban cơ bản. 5.2. Khách thể nghiên cứu Quá trình dạy học Sinh học 11 THPT. 6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến nội dung kiến thức chương Sinh sản, Sinh học 11 THPT, các tài liệu về năng lực, đánh giá năng lực GQVĐ, năng lực hợp tác, năng lực tự học. 6.2. Phương pháp điều tra cơ bản Điều tra thực trạng việc dạy học và kiểm tra đánh giá HS trong môn Sinh học theo hướng phát triển năng lực tại một số trường trường THPT thông qua Phiếu thăm dò ý kiến, trao đổi, phỏng vấn GV, HS cùng với tham khảo vở ghi của HS. 6.3. Phương pháp tham vấn chuyên gia Sau khi thiết kế và xây dựng câu hỏi, bài tập đánh giá năng lực của học sinh, chúng tôi sẽ tham khảo ý kiến của một số giảng viên, giáo viên có kinh nghiệm. 6.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm Sau khi xây dựng câu hỏi, bài tập đánh giá năng lực học sinh, chúng tôi tiến hành thực nghiệm ở trường THPT để kiểm tra tính đúng đắn của giả thuyết nghiên cứu. Kết quả thực nghiệm được đánh giá qua phiếu quan sát và bài kiểm tra. 6.5. Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học Căn cứ vào kết quả thu được sau thực nghiệm, các số liệu sẽ được sắp xếp và xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel 2007. 7. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC Có thể thiết kế và sử dụng được các câu hỏi, bài tập trong chương Sinh Sản – Sinh học 11 THPT để kiểm tra, đánh giá năng lực cho người học. 8. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về xây dựng câu hỏi, bài tập đánh giá NL cho người học trong dạy học Sinh học ở trường THPT. Thiết kế được quy trình xây dựng câu hỏi, bài tập để đánh giá năng lực cho người học trong dạy học chương Sinh Sản – Sinh học 11 THPT. Vận dụng quy trình để thiết kế và xây dựng một số dạng câu hỏi, bài tập để đánh giá năng lực HS trong dạy học chương Sinh Sản – Sinh học 11 THPT Thiết kế các tiêu chí đánh giá năng lực người học (NL GQVĐ, NL hợp tác, NL tự học) . 9. CẤU TRÚC ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương: Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài. Chương 2. Thiết kế câu hỏi, bài tập đánh giá năng lực người học chương Sinh Sản Sinh học 11 THPT Chương 3. Thực nghiệm sư phạm. Tài liệu tham khảo. Phụ lục.
Xem thêm

116 Đọc thêm

CHUYÊN ĐỀ GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN

CHUYÊN ĐỀ GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN

Tuổi vị thành niên là những người ở sau tuổi thiếu nhi và trước tuổi trưởng thành. Đây là giai đoạn chuyển tiếp nhưng là một giai đoạn khác biệt và quan trọng trong cuộc sống con người. Giai đoạn này có rất nhiều thay đổi về tâm sinh lý, bước đầu hình thành nhân cách và là giai đoạn đánh dấu bước phát triển lớn từ phạm vi gia đình, họ bước đầu gia nhập vào xã hội cộng đồng, vào tập thể cùng nhóm tuổi và phát triển những kỹ năng. Với những đặc điểm sinh lý riêng biệt, họ muốn khẳng định mình nên dễ thay đổi tính cách, hành vi ứng xử. Sự thay đổi và phát triển này phụ thuộc rất nhiều vào các phong tục tập quán dân tộc của các nước mà trong từng nước, từng dân tộc lại có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển. Năm 1998, Tổ chức y tế thế giới (WHO), Quỹ nhi đồng liên hiệp quốc (UNICEF) và Quỹ dân số liên hiệp quốc (UNFPA) đã thống nhất phân loại nam nữ còn trẻ tuổi thành 3 loại: vị thành niên (adolescent) 1019 tuổi, thanh niên (youth) 1524 tuổi, người trẻ (young people) 1024 tuổi. Với định nghĩa này, vị thành niên (VTN) chiếm 20% dân số thế giới. Tuổi vị thành niên được phân định thành 3 giai đoạn (hoặc 3 nhóm): Vị thành niên sớm: từ 1014 tuổi. Vị thành niên trung bình: từ 15 17 tuổi. Vị thành niên muộn: từ 18 19 tuổi. Thay đổi thể chất và tâm sinh lý vị thành niên
Xem thêm

61 Đọc thêm

SỨC KHỎE SINH SẢN: ĐẺ KHÓ

SỨC KHỎE SINH SẢN: ĐẺ KHÓ

Phân tích các nguyên nhân đẻ khĩ TRANG 3 ĐẠI CƯƠNG Đẻ khĩ do một trong những yếu tố cơn co TC, phần mềm, khung chậu, thai và phần phụ của thai khơng được bình thường:  Chuyển dạ kéo dài[r]

58 Đọc thêm

ĐÁNH GIÁ MÔ HÌNH TƯ VẤN VÀ KHÁM SỨC KHỎE TIỀN HÔN NHÂN GIAI ĐOẠN 2011 - 2015

ĐÁNH GIÁ MÔ HÌNH TƯ VẤN VÀ KHÁM SỨC KHỎE TIỀN HÔN NHÂN GIAI ĐOẠN 2011 - 2015

Thông thường, trước hôn nhân các cặp nam nữ chuẩn bị kết hôn và gia đình hai bên, ngoài việc chuẩn bị cơ sở vật chất cho cuộc sống mới của đôi vợ chồng trẻ thì chỉ quan tâm đến việc chuẩn bị tâm lý, còn vấn đề quan trọng khác như: trang bị kiến thức về kỹ năng sống, kiến thức và thực hành chăm sóc sức khỏe sinh sản; khám kiểm tra tình trạng sức khỏe, khả năng sinh con và phát hiện sớm các bệnh tật, điều trị bệnh; thực hiện các biện pháp dự phòng hầu như chưa được quan tâm.
Xem thêm

31 Đọc thêm

KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, HÀNH VI VỀ SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẠI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, HÀNH VI VỀ SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẠI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

+ Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường đạt giải Ba.+ Có phân tích đa biến Hoàn cảnh và mục đích: Sức khỏe sinh sản đang là một vấn đề trở nên cấp thiết đối với xã hội nói chung và sức khỏe con người nói riêng, trong đó một khía cạnh hết sức quan trọng là sức khỏe sinh sản vị thành niên. Trong những năm qua, nhiều chương trình chăm sóc sức khỏe sinh sản cho vị thành niên đã được triển khai nhưng kết quả đạt được vẫn chưa như mong muốn. Qua đó cho thấy đây là một trong những thách thức nghiêm trọng đối với những nhà hoạch định chiến lược phát triển. Từ đó, chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu: “Kiến thức, thái độ, hành vi về sức khoẻ sinh sản vị thành niên của học sinh Trung học phổ thông tại tỉnh Thừa Thiên Huế”. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 1434 học sinh trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế. Bộ công cụ được thiết kế bao gồm các câu hỏi về kiến thức, thái độ, hành vi liên quan đến chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên. Phân tích hồi quy tuyến tính xác định yếu tố liên quan. Kết quả: 13,0% có kiến thức tốt; 67,0% có thái độ tốt và 73,2% có hành vi tốt về về sức khỏe sinh sản vị thành niên. Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa: kiến thức và khu vực,dân tộc, tôn giáo, trình độ học vấn của mẹ; thái độ và giới tính; hành vi và khu vực, giới tính, thái độ. Kết luận: Đa phần các em có kiến thức chưa đầy đủ về sức khỏe sinh sản (87,0%), vì vậy cần tăng cường các chương trình, chính sách và phương tiện truyền thông để giúp cho các em nhận thức đầy đủ hơn.Từ khóa: KAB, sức khỏe sinh sản, vị thành niên, học sinh trung học phổ thông
Xem thêm

9 Đọc thêm

NẠO PHÁ THAI Ở TUỔI VỊ THÀNH NIÊN TẠI HÀ NỘI VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN CHO HỌC SINH THPT HIỆN NAY

NẠO PHÁ THAI Ở TUỔI VỊ THÀNH NIÊN TẠI HÀ NỘI VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN CHO HỌC SINH THPT HIỆN NAY

MỞ ĐẦU11. Tính cấp thiết của đề tài12. Tình hình nghiên cứu33. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu của đề tài53.1 Đối tượng nghiên cứu53.3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài54. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài54.1 Mục đích nghiên cứu54.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài65. Phương pháp nghiên cứu65.1 Phương pháp phỏng vấn sâu65.2 Phương pháp quan sát65.3 Phương pháp khảo cứu tài liệu66. Kết cấu của đề tài6NỘI DUNG8CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ SỨC KHỎE SINH SẢN VÀ GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN81.1 Cơ sở lí luận chung91.1.1 Một số khái niệm liên quan sức khỏe sinh sản vị thành niên91.1.1.1 Sức khỏe sinh sản91.1.1.2 Vị thành niên111.1.2 Một số khái niệm liên quan đến giáo dục sức khỏe sinh sản151.1.2.1 Giáo dục giới tính151.1.2.2 Giáo dục sức khỏe sinh sản16CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NẠO PHÁ THAI TUỔI VỊ THÀNH NIÊN Ở HÀ NỘI HIỆN NAY182.1 Tình hình nạo phá thai ở Việt Nam hiện nay182.2 Tình hình nạo phá thai ở Hà Nội hiện nay212.2.1 Thực trạng nạo phá thai ở Hà Nội hiện nay212.2.2 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng nạo phá thai242.2.3 Hậu quả của việc nạo phá thai lứa tuổi vị thành niên tại Hà Nội hiện nay352.2.3.1 Hậu quả về mặt sinh học352.2.3.2 Hậu quả về tâm lí362.2.3.3 Hậu quả về mặt kinh tế xã hội.37CHƯƠNG 3: ÁP DỤNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN ĐỂ HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG NẠO PHÁ THAI TUỔI VỊ THÀNH NIÊN TẠI HÀ NỘI HIỆN NAY39
Xem thêm

55 Đọc thêm

Ảnh hưởng của truyền thông đại chúng tới sức khỏe sinh sản học sinh trường THPT Đại Mỗ

ẢNH HƯỞNG CỦA TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG TỚI SỨC KHỎE SINH SẢN HỌC SINH TRƯỜNG THPT ĐẠI MỖ

1. Lý do chọn đề tài Thứ nhất, khi xã hội ngày càng phát triển, phương tiện truyền thông đại chúng ngày càng phát triển và có những ảnh hưởng to lớn hơn tới các mặt trong đời sống và sinh hoạt của con người trong việc cung cấp thông tin về văn hóa, khoa học, chính trị và đặc biệt là thông tin về sức khỏe. Vai trò của truyền thông đại chúng đối với cuộc sống của con người nói chung và sức khỏe sinh sản vị thành niên nói riêng có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc cung cấp cho các em những thông tin về sức khỏe sinh sản để giải đáp những thắc mắc của các em. Để có thể nắm bắt toàn diện những kiến thức về sức khỏe sinh sản đòi hỏi mỗi học sinh phải có kinh nghiệm trong việc tìm kiếm thông tin trên phương tiện truyền thông đại chúng như Internet, truyền hình, đài phát thanh, ấn phẩm... Truyền thông đại chúng đóng vai trò quan trọng trong việc giúp các em tìm kiếm, giải đáp những thắc mắc về sức khỏe sinh sản của chính các em để từ đó có những biện pháp cũng như cách chăm sóc chính bản thân sao cho đúng đắn khoa học nhất. Thứ hai, công tác dân số và sức khỏe sinh sản là một nội dung quan trọng của chiến lược phát triển kinh tế xã hội, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội. Đầu tư cho công tác dân số và sức khỏe sinh sản là đầu tư cho phát triển bền vững, mang lại hiệu quả trực tiếp về kinh tế, xã hội và môi trường. Ngay từ những năm 20 của thế kỉ XX, V.I.Lênin: “Cùng với việc xây dựng chủ nghĩa xã hội, vấn đề quan hệ giới tính, vấn đề hôn nhân gia đình cũng được coi là cấp bách”. Trong xu thế đổi mới, con người Việt Nam vừa là động lực, vừa là mục tiêu thúc đẩy sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội. Vấn đề con người luôn là vấn đề được xã hội quan tâm và coi trọng ở mọi thời đại. Trong giai đoạn đổi mới hiện nay của đất nước ta, việc coi trọng chất lượng cuộc sống của con người Việt Nam đã và đang trở thành mục tiêu, chiến lược của sự phát triển kinh tế xã hội.Xã hội phát triển, kéo theo các mặt khác của xã hội cũng phát triển, đặc biệt là các phương tiện truyền thông địa chúng ngày càng phát triển và mở rộng với những nội dung phong phú và hấp dẫn hơn, ảnh hưởng mạnh mẽ tới tâm lý của các em học sinh nhất là khi các em đang trong độ tuổi vị thành niên nửa người lớn, nửa trẻ con,hình thành về nhân cách và có những thay đổi trong suy nghĩ và hành động.Chính vì lẽ đó sức khỏe sinh sản cũng là một mảng lớn mà truyền thông đại chúng đang hướng đến nhằm mục đích định hướng, cung cấp những thông tin về sức khỏe sinh sản mà các em đã và đang thắc mắc nhưng chưa có câu trả lời. Thứ ba, ở nước ta trẻ vị thành niên dưới 18 tuổi chiếm 23,8% triệu người tức là khoảng 31% dân số. Tuy nhiên, thanh thiếu niên Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức: mang thai ngoài ý muốn, các bệnh lây truyền qua đường tình dục….Theo thống kê của Hội gia đình Việt Nam là quốc gia có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới, trong đó 20% thuộc lứa tuổi vị thành niên chính vì vậy truyền thông đại chúng về sức khỏe sinh sản cho các em học sinh ở lứa tuổi vị thành niên là điều vô cùng cần thiết để cung cấp sâu rộng các kiến thức về sức khỏe sinh sản tới các em.Tuổi vị thành niên nói chung, học sinh phổ thông trung học nói riêng rất cần có nhận thức đúng đắn về giới tính, tình yêu, cần được trang bị kiến thức về giới tính và tình dục cũng như các biện pháp tránh thai. Sức khỏe sinh sản có ý nghĩa rất quan trọng đối với học sinh THPT, nhất là trong thời đại đang có sự phát triển mạnh mẽ về thông tin, và sự giao thoa giữa các nền văn hóa. Như vậy, phương tiện truyền thông đại chúng đã và đang ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống của con người và đặc biệt có ảnh hưởng sâu sắc tới lứa tuổi vị thành niên. Tích cực có mà tiêu cực cũng có. Nhưng lại chưa có một đề tài nào nghiên cứu tới vấn đề này. Trước tình hình đó, đề tài ra đời với nội dung “Ảnh hưởng của truyền thông đại chúng tới sức khỏe sinh sản học sinh trường THPT Đại Mỗ”, sẽ phản ánh và làm rõ những ảnh hưởng của truyền thông đại chúng tới những kiến thức về sức khỏe sinh sản của học sinh THPT Đại Mỗ. Từ đó giúp các em có cái nhìn đúng đắn về truyền thông đại chúng và sử dụng chúng sao cho có hiệu quả và khoa học hơn.
Xem thêm

102 Đọc thêm

 GIÁO DỤC GIỚI TÍNH VÀ SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRUNG HỌCNGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI BỐN TRƯỜNG NỘI THÀNH HÀ NỘI

GIÁO DỤC GIỚI TÍNH VÀ SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRUNG HỌCNGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI BỐN TRƯỜNG NỘI THÀNH HÀ NỘI

Nhu cầu giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản của học sinh trung học phổ thông trung học:Nghiên cứu trường hợp tại bốn trường nội thành Hà NộiNhu cầu giáo dục giới tính vàsức khỏe sinh sản của họcsinh trung học phổ thôngtrung học: Nghiên cứutrường hợp tại bốn trườngnội thành Hà NộiBởi:xhh Đoàn Kim ThắngnguyenthivanphanquocthangTóm tắtTheo số liệu của Tổng cục Thống kê, Việt Nam hiện nay có khoảng 20% dân số dưới20 tuổi. Trong đó xấp xỉ 15 triệu ở lứa tuổi vị thành niên. Do đời sống kinh tế - xã hộivà tinh thần ngày càng được cải thiện và nâng cao, vị thành niên ở nước ta cũng nhưnhiều nước trên thế giới đang bước vào tuổi dậy thì và sinh sản sớm hơn trước kia. Tuổidậy thì và bắt đầu có kinh nguyệt của nữ giới sớm hơn trước, nhưng xu hướng lại kếthôn muộn hơn, chính vì vậy có một khoảng thời gian dài vị thành niên đã có khả năngsinh sản, có nhu cầu hoạt động tình dục nhưng lại chưa kết hôn. Theo chuẩn mực vănhóa truyền thống của nước ta và một số nước khác thì trong giai đoạn này các nam, nữvị thành niên chưa được phép có quan hệ tình dục. Tuy nhiên trong thực tiễn các hoạtđộng tình dục của vị thành niên, quan hệ tình dục trước hôn nhân vẫn diễn ra. Các rủi rothường gặp là có thai ngoài ý muốn và lây nhiễm các bệnh của đường sinh dục là mối longại của không chỉ các vị thành niên mà của cả nhiều bậc cha mẹ.Trong thời gian gần đây, những nội dung của sức khỏe sinh sản đã được nhiều cấp,nhiều ngành quan tâm. Cụ thể vấn đề sức khỏe sinh sản đã từng bước trở thành nội dung1/2
Xem thêm

2 Đọc thêm

Cùng chủ đề