QUY ĐỊNH VỀ TƯ VẤN VIÊN PHÁP LUẬT

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "QUY ĐỊNH VỀ TƯ VẤN VIÊN PHÁP LUẬT":

Hợp đồng làm đại lý thuế của HA VA CONG SU với Công Ty Cổ Phần Tư Vấn Trí Luật

HỢP ĐỒNG LÀM ĐẠI LÝ THUẾ CỦA HA VA CONG SU VỚI CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN TRÍ LUẬT

Hợp đồng làm đại lý thuế của Công Ty Cổ Phần Tư Vấn Trí Luật với Hà và Cộng Sự . Cam kết về quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia khai thuế. bảng giá khai thuế,Lập báo cáo thuế hàng tháng và hàng quý bằng phần mềm trên máy vi tính.Thực hiện những sổ sách về thuế hàng tháng bằng phần mềm trên máy vi tính. Thiết lập một hệ thống hoàn chỉnh, in báo cáo thuế, sổ sách về thuế hàng tháng. Trực tiếp nộp báo cáo thuế hàng tháng và làm việc với cơ quan thuế.Thực hiện quyết toán thuế cuối năm theo quy định pháp luật Lập hồ sơ thuế cần thiết cho cơ quan thuế.
Xem thêm

6 Đọc thêm

CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ ỦY BAN KIỂM SÁT

CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ ỦY BAN KIỂM SÁT

a) Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao;b) Các Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao;c) Một số Kiểm sát viên.”“Điều 47. Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh1. Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh gồm có:a) Viện trưởng;b) Các Phó Viện trưởng;c) Một số Kiểm sát viên.”Theo đó, Viện trưởng và các Phó Viện trưởng VKSND là thành phần đươngnhiên của Ủy ban kiểm sát. Ngoài ra, còn có một số Kiểm sát viên khác, các kiểmsát viên này ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Ủy ban thường vụ Quốc hội quyếtđịnh theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; còn nếu ở Việnkiểm sát nhân dân cấp cao và cấp tỉnh thì do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dântối cao quyết định theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao vàcấp tỉnh.3. Vai trò, nhiệm vụ, chức năng của Ủy ban kiểm sát trong Viện kiểm sát nhân dânGiống như luật tổ chức VKSND 2002, luật tổ chức VKSND năm 2014 tiếptục quy định Ủy ban kiểm sát có quyền quyết định những vấn đề quan trọng về tổchức và hoạt động của VKSND. Riêng đối với các vụ án hình sự, vụ án hànhchính, vụ việc dân sự,… quan trọng thì Luật không giao cho Ủy ban kiểm sátquyền quyết định như trước mà chỉ có vai trò tư vấn cho Viện trưởng khi Việntrưởng thấy cần thiết, bảo đảm phù hợp với quy định của các luật tố tụng về tưcách tiến hành tố tụng và nguyên tắc chịu trách nhiệm trong hoạt động tư pháp củaViện trưởng VKSND.Điều 43. Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao2. Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao họp do Viện trưởng chủ trì để
Xem thêm

9 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG MÔN HỌC KĨ NĂNG TƯ VẤN HỢP ĐỒNG TRONG LAO ĐỘNG

ĐỀ CƯƠNG MÔN HỌC KĨ NĂNG TƯ VẤN HỢP ĐỒNG TRONG LAO ĐỘNG

của Chính phủ số 44/2013/NĐ-CP về hợp đồng lao động.24. Thông tư của Bộ lao động-thương binh và xã hội số 01/2014/TTBLĐTBXH quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện một số điềucủa Nghị định của Chính phủ số 55/2013/NĐ-CP ngày 22/5/2013quy định chi tiết thi hành khoản 3 Điều 54 BLLĐ về việc cấpphép hoạt động cho thuê lại lao động, việc kí quỹ và Danh mụccông việc được thực hiện cho thuê lại lao động;25. Thông tư của Ngân hàng Nhà nước số 40/2014/TT-NHNN hướngdẫn việc kí quỹ và quản lí tiền kí quỹ của doanh nghiệp cho thuêlại lao động;26. Nghị định của Chính phủ số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của BLLĐ.C. TÀI LIỆU THAM KHẢO TỰ CHỌN* Sách1. Học viện tư pháp, Giáo trình kĩ năng giải quyết vụ việc dân sự,Nxb. CAND, Hà Nội, 2012.2. Học viện tư pháp, TS. Phan Hữu Thư (chủ biên), Kĩ năng hànhnghề luật sư, tập III, Nxb. CAND, Hà Nội, 2002.3. Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Cẩm nang nghiệp vụ tư vấnpháp luật của công đoàn, Nxb. Lao động, Hà Nội, 2008.* Đề tài khoa học1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Nguyễn Thị Kim Phụng (chủnhiệm), Pháp luật về dạy nghề trong điều kiện phát triển và hộinhập ở Việt Nam hiện nay, Đề tài khoa học cấp trường, 2008.2. Trường Đại học Luật Hà Nội, Bình luận khoa học một số quy13định của BLLĐ 2012, TS. Trần Thị Thúy Lâm (chủ nhiệm), tháng02/2015.* Bài tạp chí
Xem thêm

25 Đọc thêm

NGƯỜI ĐẠI DIỆN HỢP PHÁP CỦA DOANH NGHIỆP

NGƯỜI ĐẠI DIỆN HỢP PHÁP CỦA DOANH NGHIỆP

Người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp Hiện nay, việc thành lập doanh nghiệp diễn ra khá phổ biến với rất nhiều hình thức khác nhau. Có rất nhiều yếu tố để một doanh nghiệp được phép hoạt động, một trong số đó là phải có người đại diện hợp pháp. Tuy nhiên, trên thực tế, vẫn còn nhiều vấn đề xung quanh yếu tố bắt buộc này dẫn đến những khó khăn cho doanh nghiệp và đặc biệt là các cấp quản lí. Để tìm hiểu sâu về vấn đề này, em xin chọn đề số 8 “ Phân tích hiểu biết của em về “người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp” để làm bài tiểu luận của mình. NỘI DUNG 1.Khái niệm. Người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp có thể là người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo ủy quyền. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là người đứng đầu doanh nghiệp, được doanh nghiệp uỷ quyền, thay mặt doanh nghiệp thực hiện các giao dịch vì lợi ích của doanh nghiệp, với đối tác, khác hàng và với cơ quan Nhà nước. Quyền, nghĩa vụ và chức danh của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp được quy định trong điều lệ doanh nghiệp, các giấy tờ giao dịch phải ghi rõ điều đó. Người đại diện theo ủy quyền của là người được người đại diện theo pháp luật của pháp nhân ủy quyền theo đúng quy định tại chương VII của Bộ luật dân sự về đại diện. 2. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp: Theo quy định tại Điều 141 của Bộ luật Dân sự (năm 2005), thì người đại diện của doanh nghiệp là người đứng đầu pháp nhân. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp phải được ghi nhận trong Điều lệ, đồng thời phải được ghi nhận trên Giấy chứng nhận Đăng kí kinh doanh của doanh nghiệp.Với từng loại hình doanh nghiệp khác nhau, người đại diện theo pháp luật được quy định cụ thể như sau: Đối với công ty TNHH 1 thành viên, là chủ tịch Hội đồng thành viên, chủ tịch công ty, giám đốc hoặc tổng giám đốc, cụ thể do điều lệ công ty quy định ( khoản 5 điều 67 Luật doanh nghiệp ) Đối với công ty TNHH 2 thành viên trở lên, là Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc theo quy định tại Điều lệ công ty ( điều 46 Luật Doanh nghiệp). Nếu Chủ tịch HĐTV là người đại diện theo pháp luật, thì các giấy tờ giao dịch phải ghi rõ điều đó (khoản 4, điều 49, Luật Doanh nghiệp). Theo khoản 2, điều 12, Nghị định số 1392007NĐCP ngày 0592007 của Chính phủ Hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp thì: Nếu có thành viên là cá nhân làm người đại diện theo pháp luật của công ty bị tạm giữ, tạm giam, trốn khỏi nơi cư trú, bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị Tòa án tước quyền hành nghề vì phạm các tội buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép… Thì thành viên còn lại đương nhiên làm người đại diện theo pháp luật của công ty cho đến khi có quyết định mới của Hội đồng thành viên. Đối với công ty cổ phần, là Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc được quy định theo Điều lệ công ty ( điều 95 và điều 116 Luật doanh nghiệp). Tuy nhiên, riêng với Ngân hàng Thương mại cổ phần, tại khoản 3 điều 9 Quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần, ban hành kèm theo Quyết định số 10872001QĐNHNN ngày 2782001 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước lại quy định khác với luật là: Chủ tịch Hội đồng quản trị là người đại diện theo pháp luật của Ngân hàng Thương mại cổ phần và được ghi trong Điều lệ Ngân hàng Thương mại cổ phần Đối với công ty hợp danh, là tất cả các Thành viên hợp danh (khoản 1 điều 137 Luật doanh nghiệp. Riêng trường hợp được quy định theo mẫu Giấy đề nghị đăng kí công ti hợp danh tại Thông tư số 032006TTBKH ngày 19102006 của Bộ trưởng Bộ KHĐT Hướng dẫn một số nội dung về hồ sơ, trình tự, thủ tục theo quy định tại Nghị định 882006NĐCP, vẫn phải xác định cụ thể người đại diện theo pháp luật của công ty. Đối với công ty nhà nước, nếu không có Hội đồng quản trị, Giám đốc là đại diện theo pháp luật của công ty (khoản 1 điều 23 Luật Doanh nghiệp nhà nước 2003); nếu có Hội đồng quản trị, căn cứ theo khoản 1 điều 38, là Tổng giám đốc. Đối với doanh nghiệp tư nhân, là Chủ doanh nghiệp theo khoản 4 điều 143 Luật doanh nghiệp 3. Người đại diện theo ủy quyền: Mặc dù người đại diện theo pháp luật là người trực tiếp chịu trách nhiệm trước pháp luật, được giao trách nhiệm cá nhân từ việc nhỏ đến việc lớn của doanh nghiệp; tuy nhiên trong một số trường hợp, Luật cũng quy định về những trường hợp người đại diện theo pháp luật ủy quyền cho một người khác để trở thành thành viên hợp pháp của doanh nghiệp, cụ thể: Đối với công ty TNHH 1 thành viên căn cứ theo khoản 5 điều 67 Luât donh nghiêp. Hoàn toàn tương tự với quy định tại điều 46 Luật doanh nghiệp đối với công ty TNHH 2 thành viên và điều 95 Luật doanh nghiệp với công ty cổ phần.. Với công ti hợp danh, công ti nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, việc ủy quyền đại diện theo pháp luật dựa trên quy định tại chương VII Bộ luật dân sự 2005 quy định về vấn đề ủy quyền. Người đại diện theo ủy quyền của doanh nghiệp sẽ thực hiện nhiệm vụ cũng như chịu trách nhiệm về những hành động của mình với doanh nghiệp cho đến khi người đại diện theo pháp luật trở lại làm việc tại doanh nghiệp hoặc khi Hội đồng thành viên, chủ sở hữu công ty, Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên công ty hợp danh quyết định cử người khác làm người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. 3. Nhiệm vụ của người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp: Người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp là người đứng đầu doanh nghiệp, được doanh nghiệp uỷ quyền, thay mặt doanh nghiệp thực hiện các giao dịch vì lợi ích của doanh nghiệp, với đối tác, khách hàng và với cơ quan Nhà nước. Quyền, nghĩa vụ và chức danh của người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp được quy định trong điều lệ doanh nghiệp, các giấy tờ giao dịch phải ghi rõ điều đó. Dưới đây em xin lấy 1 ví dụ về việc quy định người đại diện hợp pháp của công ty trong điều lệ của công ty cổ phần ô tô Trường Hải để làm rõ hơn quy định của pháp luật về vấn đề này. “ Điều 38… 38.3.1 Tổng Giám đốc Công ty là người đại diện cho Công ty trước Pháp luật. Là người điều hành mọi hoạt động kinh doanh của Công ty, là người có quyết định cao nhất về điều hành Công ty; 38.3.2 Tổ chức thực hiện các Nghị quyết, quyết định của HĐQT và Đại hội đồng cổ đông, thực thi kế hoạch kinh doanh, kế hoạch đầu tư hàng năm do Đại hội đồng cổ đông và HĐQT thông qua, bảo toàn và phát triển vốn; 38.3.3 Quyết định tất cả các vấn đề theo phân cấp của HĐQT, bao gồm việc thay mặt Công ty ký kết các hợp đồng kinh tế tài chính và thương mại theo quy định, tổ chức và điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty theo những thông lệ quản lý tốt nhất; 38.3.4 Kiến nghị về số lượng, cơ cấu cán bộ quản lý để HĐQT bổ nhiệm hoặc miễn nhiệm khi cần thiết để thực hiện các thông lệ quản lý tốt nhất cũng như các cơ cấu do HĐQT đề xuất và tư vấn cho HĐQT để quyết định mức lương, thù lao, các lợi ích và các điều khoản khác của hợp đồng lao động của cán bộ quản lý; …. Điều 39 : Uỷ quyền, uỷ nhiệm của Tổng Giám đốc Công ty 39.1 Tổng Giám đốc Công ty có thể ủy quyền, uỷ nhiệm bằng văn bản cho các Phó Tổng Giám đốc Công ty hoặc người khác giải quyết một số công việc của Công ty và chịu trách nhiệm trước Pháp luật về việc uỷ quyền, uỷ nhiệm của mình; 39.2 Người được Tổng Giám đốc Công ty uỷ quyền, uỷ nhiệm phải chịu trách nhiệm pháp lý trước Tổng Giám đốc Công ty và trước Pháp luật về những công việc mình làm. Người được Tổng Giám đốc công ty uỷ quyền, uỷ nhiệm không được uỷ quyền, uỷ nhiệm lại cho người thứ ba; 39.3 Mọi sự uỷ quyền, uỷ nhiệm có liên quan đến con dấu của Công ty đều phải thực hiện bằng văn bản. ….” Có thể thấy không chỉ ở công ti cổ phần ô tô Trường Hải mà điều lệ của các doanh nghiệp đều quy định cụ thể về người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp cũng như quyền hạn, nghĩa vụ của người đại diện hợp pháp. Ví dụ trên, tại khoản 3.1 Điều 38 Điều lệ của công ti quy định rõ người đại diện trước pháp luật của công ty là tổng giám đốc; các khoản còn lại của Điều 38 của Điều lệ quy định về chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của người đại diện hợp pháp của công ti ( tổng giám đốc). Điều 39 Điều lệ công ti quy định về việc ủy quyền của người đại diện hợp pháp cho cá nhân khác, đồng thời quy định về quyền hạn cũng như trách nhiệm của người đại diện theo ủy quyền. Quy định người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp là vấn đề quan trọng không chỉ là quy định bắt buộc của pháp luật, mà các doanh nghiệp cũng thấy được ý nghĩa quan trọng của vấn đề này và đều quy định khá rõ trong điều lệ của doanh nghiệp. KẾT LUẬN Hiện nay, về những vấn đề xung quanh người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, vẫn còn khá nhiều tranh cãi, như mâu thuẫn giữa chủ quyền và thực quyền, sự ôm đồm và trách nhiệm nặng nề, đại diện theo pháp luật “hữu danh vô thực”… Chính vì thế, chúng ta cần có những biện pháp khắc phục hiệu quả, giải quyết những mâu thuẫn giữa luật, đồng thời phải làm sao để những quy định về đại diện hợp pháp của doanh nghiệp ứng dụng hợp lí vào thực tiễn.
Xem thêm

6 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG QUẢN LÝ XÂY DỰNG

ĐỀ CƯƠNG QUẢN LÝ XÂY DỰNG

1. Các hình thức lựa chọn nhà thầu và phương thức áp dụng quy chế đấu thầu Khái niệm về đấu thầu: Việc lựa chọn nhà thầu trong xây dựng nhằm mục đích chon nhà thầu có đủ điều kiện năng lực cung cấp các sp, hh, thi công xây lắp, thiết kế, khảo sát, dịch vụ tư vấn phù hợp có giá dự thầu hợp lý, đáp ứng yêu cầu của chủ đầu tư và mục tiêu dự án trên cơ sở tuân thủ pháp luật, phù hợp với nền kinh tế thị trường, đảm bảo tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch, hiệu quả. Phân loại theo trình tự đầu tư xây dựng: Nhà thầu tư vấn(để lập dự án đầu tư); khảo sát, kiến trúc;thiết kế xây dựng; thẩm định thiết kế; tư vấn tổ chức đấu thầu; xây dựng, thi công lắp giáp công trình; tư vấn giám sát thi công; kiểm định, giám định chất lượng công trình; tư vấn quản lý dự án; cung cấp thiết bị, công nghệ; tổng thầu EPC; tổng thầu chìa kháo trao tay. Phân loại theo chuyên đề công việc: Nhóm nhà thầu về tư vấn xây dựng; thiết kế xây dựng; khảo sát xây dựng; thẩm định, giám sát; thi công xây dựng; cung cấp hàng hóa, mua sắm; tổng thầu. a.Tờ báo về đấu thầu, trang thông tin điện tử:Việc đăng thông tin về đấu thầu theo quy định của PL được thực hiện miễn phí. Các thông tin bắt buộc phải được đăng trên báo “đấu thầu”do bộ KHĐT phụ trách được đăng hàng ngày trên trang thông tin điện tử về đấu thầu của cơ quan quản lý NN về đấu thầu gồm các thông tin:kế hoạch đấu thầu; thông tin mời sơ tuyển và kết quả mời sơ tuyển;thông báo mời đấu thầu đối với đấu thầu rộng rãi;danh sách nhà thầu được mời tham gia đấu thầu; kết quả lựa chọn nhà thầu; thông tin xử lý vi phạm về pl đấu thầu; các văn bản pl đấu thầu hiện hành; các thông tin liên quan khác. Trách nhiệm cung cấp thông tin: Cán bộ, cơ quan ngang bộ , cơ quan khác ở TƯ và UBND các cấp chịu trách nhiệm cung cấp thông tin : xử lý vi phạm pháp luật về đấu thầu và văn bản pháp luật hiện hành Chủ đầu tư , bên mời thầu chịu trách nhiệm cung cấp các thông tin (còn lại ở trên). Thời hạn cung cấp thông tin: với thông báo mời sơ tuyển, mời thầu, thông báo nộp hồ sơ quan tập thời hạn châm nhất 15 ngày trước khi phát hành hồ sơ mời tuyển, hồ sơ mời thầu, hồ sơ quan tâm Đối với hồ sơ chào hàng chậm nhất 10 ngày trước khi phát hành hồ sơ yêu cầu. b.Trình tự chung về thực hiện đấu thầu( phụ thuộc quy mô, tính chất gói thầu) Gói thầ đặc biệt: phải qua 2 giai đoạn: 1Sơ tuyên để lựa chọn một số nhà thầu; 2tổ chức đấu thầu cho các bên đã lọt qua vòng sơ tuyển.
Xem thêm

13 Đọc thêm

CÂU HỎI ÔN TẬP ĐẠO ĐỨC NGHỀ LUẬT

CÂU HỎI ÔN TẬP ĐẠO ĐỨC NGHỀ LUẬT

NỘI DUNG ÔN TẬP THI CUỐI KÌ MÔN ĐẠO ĐỨC NGHỀ LUẬT (042016) PHẦN I: LÝ THUYẾT 1. Cho biết các giai đoạn phát triển của pháp luật về luật sư và nghề luật sư ở Việt Nam ? 2. Theo quy định Luật luật sư Việt Nam, trình bày khái niệm luật sư, và điều kiện hành nghề luật sư ở Việt Nam? 3. Theo quy định Luật luật sư Việt Nam, hãy cho biết các hình thức tổ chức hành nghề luật sư ở Việt Nam? Phân tích sự khác biệt giữa các tổ chức hành nghề luật sư theo Luật luật sư và các loại hình doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp? 4. Nêu và so sánh khái niệm dịch vụ pháp lý theo quy định của WTO và pháp luật Việt Nam? 5. Hành nghề của tổ chức luật sư nước ngoài, luật sư nước ngoài tại Việt Nam. 6. Trình bày nội dung cơ bản của hợp đồng dịch vụ pháp lý. So sánh nội dung giữa hợp đồng dịch vụ thông thường và hợp đồng dịch vụ pháp lý. 7. Dựa vào Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của luật sự Việt Nam, và quy định của luật luật sư Việt Nam, hãy cho biết các quy tắc đạo đức nghề nghiệp luật sư trong mối quan hệ với khách hàng ? 8. Dựa vào Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của luật sự Việt Nam, và quy định của luật luật sư Việt Nam, hãy cho biết các quy tắc quan hệ luật sư với đồng nghiêp? 9. Dựa vào Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của luật sự Việt Nam, và quy định của luật luật sư Việt Nam, hãy cho biết các quy tắc quan hệ luật sư với cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan nhà nước khác? 10. Dựa vào Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của luật sự Việt Nam, và quy định của luật luật sư Việt Nam, hãy cho biết các quy tắc quan hệ của luật sư với các cơ quan thông tin đại chúng và quy tắc quảng cáo trong nghề luật sư? PHẦN II: XỬ LÝ TÌNH HUỐNG 1. Cùng đến với Văn phòng LS A một thời điểm có 4 người, người thứ nhất nhờ tư vấn về chính sách xã hội về người khuyết tật đối với mình, người thứ hia là người nghèo đến nhờ tư vấn và khiếu kiện vì đang bị thu hồi đất, người khó khăn (không có đủ tiền chi trả cho dịch vụ của luật sư) nhờ khởi kiện chia di sản thừa kế, người thứ tư là doanh nhân đến nhờ tư vấn hợp đồng ngoại. Trong khi VPLS A chỉ có hai luật sư. Là luật sư trưởng văn phòng LS A sẽ xử xự như thế nào? Từ chối ai và nhận lời ai đây? Cần phải xử xự như thế nào để vừa đúng pháp luật lại phù hợp với đạo đức nghề nghiệp LS? 2. Công ty luật TNHH MTV A đăng kí hoạt động tất cả các phạm vi hành nghề LS tại Sở Tư pháp nhưng trên thực tế lại chỉ chuyên cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật về lĩnh vực sỡ hữu trí tuệ hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh thương mại ; Công ty luật A không cung cấp dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực tranh tụng. Khi Ông Trần Quang B là giám đốc một công ty là đối tượng khách hàng thân thiết của công ty luật A, bị khởi tố hình sự đến nhờ Công ty A bào chữa từ giai đoạn điều tra. Công ty luật A phải xử xự ntn? Nhận hay từ chối khách hàng? Giới thiệu khách hang đến tổ chức hành nghề luật sư khác chuyên về tranh tụng hình sự hay cố gắng cung cấp dịch vụ bào chữa cho khách hàng? 3. Trong hợp đồng dịch vụ pháp lý ký với đại diện hợp pháp của bị cáo N (bảo vệ bị cáo N tại phiên tòa sơ thẩm), giờ làm việc của luật sư Nhã được tính là 16h ngày kể từ ngày kí kết hợp đồng (bao gồm 8 giờ làm việc ban ngày và 8 giờ làm việc nghiên cứu ban đêm). Ngoài ra, trong điều khoản về quyền và nghĩa vụ của bên thuê dịch vụ trong hợp đồng dịch vụ pháp lý, có quy định: “Nếu thân chủ N được TAND tỉnh X tuyên án cho hưởng án treo, thì ngoài khoản thù lao tính theo giờ làm việc, luật sư Nhã còn được đại diện hợp pháp của bị cáo N “thưởng” thêm số tiền là 50.000.000 đ”. Theo anh chị cách tính thù lao và điều khoản thưởng nói trên của luật sư Nhã trong hợp đồng dịch vụ pháp lý nói trên có phù hợp với quy định của pháp luật và đạo đức nghề nghiệp không? Bình luận của anh chị? 4. Luật sư Q Trưởng văn phòng luật sư Q và cộng sự đang tham gia tố tụng trong vụ án theo hợp đồng dịch vụ pháp lý để bảo vệ khách hàng A trước Tòa án tỉnh B. Đúng vào đầu buổi diễn ra phiên tòa, luật sư Q nhận được điện thoại gia đình thông báo :“Bố đang hấp hối cần gặp mặt, con về gấp”. Sau khi kiểm tra thông tin luật sư Q đã thông báo cho khách hàng A biết và đề xuất xin hoãn phiên tòa và nếu Tòa án tiếp tục xét xử thì đã có luật sư H của văn phòng luật sư Q và cộng sự cùng tham gia tố tụng bảo vệ khách hàng A tại Tòa án tỉnh B. Tuy nhiên, khách hàng A đã không đồng ý với lý do luật sư Q bảo vệ mới đảm bảo chất lượng và tương ứng với mức thù lao đã trả cho cả hai luật sư. Luật sư Q vẫn quyết định chuyển vụ việc cho luật sư H và về quê. Anh chị đánh giá về xử xự của luật sư Q dưới góc độ pháp luật và đạo đức nghề nghiệp? Là luật sư trong trường hợp này sẽ xử xự như thế nào?
Xem thêm

2 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG MÔN HỌC KĨ NĂNG TƯ VẤN PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC DÂN SỰ 2TC

ĐỀ CƯƠNG MÔN HỌC KĨ NĂNG TƯ VẤN PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC DÂN SỰ 2TC

10. Luật Nhà ở 201411. Luật Doanh nghiệp 201412. Luật công chứng 201413. Luật Phá sản 201414. Pháp lệnh của Uỷ ban thường vụ Quốc hội số 10/2009/PL16UBTVQH12 ngày 27/02/2009 về án phí, lệ phí toà án.15. Nghị quyết của HĐTPTANDTC số 01/2005/NQ-HĐTP ngày31/03/2005 hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứnhất “Những quy định chung” của BLTTDS.16. Nghị quyết của HĐTPTANDTC số 02/2005/NQ-HĐTP ngày27/04/2005 hướng dẫn thi hành một số quy định tại Chương VIII“Các biện pháp khẩn cấp tạm thời” của BLTTDS.17. Nghị quyết của HĐTPTANDTC số 04/2005/NQ-HĐTP ngày17/09/2005 hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTDS về“Chứng minh và chứng cứ”.18. Nghị quyết của HĐTPTANDTC số 02/2006/NQ-HĐTP ngày12/05/2006 hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTDS về“Thủ tục giải quyết vụ án tại toà án cấp sơ thẩm”.19. Nghị quyết của HĐTPTANDTC số 05/2006/NQ-HĐTP ngày04/08/2006 hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTDS về“Thủ tục giải quyết vụ án tại toà án cấp phúc thẩm”.20. Thông tư liên tịch số 03/2005/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày01/09/2005 hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTDS vềkiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự và việctham gia của viện kiểm sát nhân dân trong việc giải quyết các vụviệc dân sự.C. TÀI LIỆU THAM KHẢO LỰA CHỌN* Sách
Xem thêm

29 Đọc thêm

Tìm hiểu về hoạt động của công ty tài chính tại việt nam nhóm 16đề 2

TÌM HIỂU VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY TÀI CHÍNH TẠI VIỆT NAM NHÓM 16ĐỀ 2

Công ty Tài chính là loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng, với chức năng là sử dụng vốn tự có, vốn huy động và các nguồn vốn khác để cho vay, đầu tư; cung ứng các dịch vụ tư vấn về tài chính, tiền tệ và thực hiện một số dịch vụ khác theo quy định của pháp luật, nhưng không được làm dịch vụ thanh toán, không được nhận tiền gửi dưới 1 năm.( Điều 2, chương 1 , nghị định số 792002NĐCP)

16 Đọc thêm

Giáo án dạy học tích hợp GDCD 8 Bài 13 Phòng chống tệ nạn xã hội

GIÁO ÁN DẠY HỌC TÍCH HỢP GDCD 8 BÀI 13 PHÒNG CHỐNG TỆ NẠN XÃ HỘI

TIẾT 19 BÀI 13 : PHÒNG, CHỐNG TỆ NẠN XÃ HỘI (Tiết 1) I. Mục tiêu cần đạt 1. Kiến thức: Học sinh hiểu: Hiểu được thế nào là tệ nạn xã hội Nêu được tác hại của các tệ nạn xã hội. Nêu được một số quy định của pháp luật về phòng chống tệ nạn xã hội. Nêu được trách nhiệm của công dân trong việc phòng chống các tệ nạn xã hội. 2. Kĩ năng: Thực hiện tốt các quy định của pháp luật về phòng chống tệ nạn xã hội. Tham gia các hoạt động phòng, chống các tệ nạn xã hội do nhà trường, địa phương tổ chức. Biết cách tuyên truyền vận động bạn bè tham gia phòng chống các tệ nạn xã hội. 3. Thái độ: Ủng hộ các quy định của Pháp luật về phòng chống tệ nạn xã hội. II. Chuẩn bị của G và H: Gv: Tình huống. Phiếu học tập, máy chiếu (nếu có); Đồ dùng chơi sắm vai Hs: Tìm hiểu bài theo sự hướng dẫn của Gv. III. Phương pháp: P: thảo luận nhóm, đóng vai. KT: động não; trình bày 1 phút,tư vấn chuyên gia KNS: Tư tưởng HCM:
Xem thêm

7 Đọc thêm

Bài giảng tích hợp GDCD 8 Bài 13 Phòng chống tệ nạn xã hội

BÀI GIẢNG TÍCH HỢP GDCD 8 BÀI 13 PHÒNG CHỐNG TỆ NẠN XÃ HỘI

TIẾT 19 BÀI 13 : PHÒNG, CHỐNG TỆ NẠN XÃ HỘI (Tiết 1) I. Mục tiêu cần đạt 1. Kiến thức: Học sinh hiểu: Hiểu được thế nào là tệ nạn xã hội Nêu được tác hại của các tệ nạn xã hội. Nêu được một số quy định của pháp luật về phòng chống tệ nạn xã hội. Nêu được trách nhiệm của công dân trong việc phòng chống các tệ nạn xã hội. 2. Kĩ năng: Thực hiện tốt các quy định của pháp luật về phòng chống tệ nạn xã hội. Tham gia các hoạt động phòng, chống các tệ nạn xã hội do nhà trường, địa phương tổ chức. Biết cách tuyên truyền vận động bạn bè tham gia phòng chống các tệ nạn xã hội. 3. Thái độ: Ủng hộ các quy định của Pháp luật về phòng chống tệ nạn xã hội. II. Chuẩn bị của G và H: Gv: Tình huống. Phiếu học tập, máy chiếu (nếu có); Đồ dùng chơi sắm vai Hs: Tìm hiểu bài theo sự hướng dẫn của Gv. III. Phương pháp: P: thảo luận nhóm, đóng vai. KT: động não; trình bày 1 phút,tư vấn chuyên gia KNS: Tư tưởng HCM:
Xem thêm

32 Đọc thêm

Tư vấn quảng cáo mặt hàng dược phẩm

TƯ VẤN QUẢNG CÁO MẶT HÀNG DƯỢC PHẨM

Tư vấn quảng cáo mặt hàng dược phẩm Bài tập học kì Pháp luật Quảng cáo và hội trợ triển lãm Chuyên mục Bài tập học kỳ, Pháp luật quảng cáo hội chợ triển lãm Bài tập số 5: Công ty dược phẩm PARAGON (Ấn Độ) muốn tìm hiểu thị trường dược phẩm và tiến hành chiến dịch quảng cáo đầu tiên tại Việt Nam với sản phẩm thuốc ONNO có đặc điểm sau: Loại sản phẩm: Thuốc tân dược Tên sản phẩm: ONNO Thành phần: chứa hoạt chất Z và một số tá dược Công dụng: điều trị chứng đau đầu do thời tiết, stress, cảm cúm... Dạng đóng gói: Viên nén 250mg, 10 viênvỉ, 10 vỉhộp Liều dùng: chỉ sử dụng cho người lớn, uống không quá 2 lầnngày, mỗi lần không quá 20 viên Chống chỉ định: đối với bệnh nhân dị ứng với bất kỳ thành phần nào của thuốc. Giá bán: 5 USDhộp Công ty PARAGON muốn thuê luật sư để tư vấn về các vấn đề pháp lý sau đây: 1. Sản phẩm ONNO có được phép quảng cáo ở Việt Nam hay không? Để sản phẩm ONNO được phép lưu hành và quảng cáo trên lãnh thổ Việt Nam, Công ty PARAGON cần chú ý những vấn đề pháp lý gì và phải tiến hành thủ tục gì? 2. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, sản phẩm ONNO được phép quảng cáo trên những phương tiện quảng cáo nào ở Việt Nam? Anh (chị) hãy đóng vai trò là Luật sư để tư vấn bằng văn bản cho Công ty PARAGON trên cơ sở vận dụng các quy định của pháp luật Việt Nam.   Công ty Luật X Hà Nội, ngày ... tháng ... năm 2013 BẢN TƯ VẤN Về việc: Tư vấn các vấn đề pháp lý liên quan đến chiến dịch quảng cáo sản phẩm thuốc ONNO của Công ty dược phẩm PARAGON Kính gửi: Công ty dược phẩm PARAGON Tôi là Luật sư Đào Lê Giang Linh thuộc Công ty luật X, Đoàn luật sư thành phố Hà Nội. Được sự chỉ định của Công ty luật X, tôi sẽ là người tư vấn về các vấn đề quý công ty đã yêu cầu tư vấn. Tại lần gặp mặt trước vào ngày XY2013, quý công ty đã yêu cầu công ty chúng tôi tư vấn các vấn đề sau: 1. Sản phẩm thuốc ONNO có được phép quảng cáo ở Việt Nam hay không? Để sản phẩm ONNO được phép lưu hành và quảng cáo trên lãnh thổ Việt Nam, Công ty PARAGON cần chú ý những vấn đề pháp lý gì và phải tiến hành những thủ tục gì? 2. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, sản phẩm ONNO được hép quảng cáo trên những phương tiện nào ở Việt Nam? Thay mặt công ty, tôi xin tư vấn các vấn đề trên cho quý công ty như sau: 1. Sản phẩm thuốc ONNO không được phép quảng cáo ở Việt Nam, vì lí do sau: Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 20 Luật quảng cáo 2012 quy định về quảng cáo thuốc: “a) Quảng cáo thuốc được phép quảng cáo theo quy định của pháp luật về y tế; phải có giấy phép lưu hành tại Việt Nam đang còn hiệu lực và tờ hướng dẫn sử dụng do Bộ Y tế phê duyệt;”. Theo quy định này, quảng cáo cho sản phẩm ONNO của quý công ty cần phải đáp ứng các điều kiện: Thứ nhất, quảng cáo thuốc được phép quảng cáo theo quy định của pháp luật y tế. Căn cứ pháp lý hiện nay quy định về lĩnh vực quảng cáo thuốc của pháp luật y tế là: + Luật Dược 2005, Chương 7 về Thông tin, quảng cáo thuốc; + Thông tư 132009TTBYT hướng dẫn hoạt động thông tin, quảng cáo thuốc; + Thông tư 422010TTBYT ban hành Danh mục hoạt chất thuốc và dược liệu được đăng ký quảng cáo trên phát thanh, truyền hình; + Ngoài ra còn có một số văn bản khác: Thông tư 082009TTBYT ban hành Danh mục thuốc không kê đơn, Thông tư liên tịch số 012004TTLTBVHTTBYT hướng dẫn hoạt động quảng cáo trong lĩnh vực y tế... Thứ hai, sản phẩm thuốc ONNO phải có giấy phép lưu hành tại Việt Nam đang còn hiệu lực và tờ hướng dẫn sử dụng do Bộ Y tế phê duyệt. Căn cứ vào thông tin mà quý công ty cung cấp, công ty đang muốn tìm hiểu thị trường dược phẩm và tiến hành chiến dịch quảng cáo đâì tiên tại Việt Nam với sản phẩm thuốc ONNO, nhưng công ty chưa có giấy phép lưu hành tại Việt Nam và tờ hướng dẫn sử dụng do Bộ Y tế phê duyệt cho sản phẩm thuốc ONNO. Như vậy, công ty chưa đáp ứng được các điều kiện cần thiết để được quảng cáo sản phẩm này tại Việt Nam. 2. Các vấn đề pháp lý cần lưu ý và các thủ tục phải tiến hành để sản phẩm ONNO được phép lưu hành và quảng cáo trên lãnh thổ Việt Nam 2.1. Các vấn đề pháp lý cần lưu ý (i) Các loại thuốc được quảng cáo Để được quảng cáo, sản phẩm thuốc ONNO không chỉ cần phải đáp ứng điều kiện thuộc Danh mục thuốc không kê đơn do Bộ Y tế ban hành hoặc có hoạt chất thuộc Danh mục hoạt chất được quảng cáo trên truyền thanh, truyền hình mà còn phải đáp ứng yêu cầu là có số đăng ký lưu hành đang còn hiệu lực. Căn cứ pháp lý: Điều 19 Thông tư 132009TTBYT; Danh mục thuốc không kê đơn do Bộ Y tế ban hành kèm theo Thông tư 082009TTBYT. Tuy nhiên, quý công ty cần lưu ý thêm Danh mục hoạt chất thuốc và dược liệu được đăng ký quảng cáo trên truyền thanh, truyền hình ban hành kèm Thông tư 422010TTBYT. (ii) Đăng ký, lưu hành thuốc Để quảng cáo được sản phẩm thuốc ONNO trên thị trường Việt Nam, trước tiên sản phẩm ONNO phải được pháp luật Việt Nam cấp phép lưu hành. Dựa vào thông tin quý công ty cung cấp, trường hợp đăng ký cho sản phẩm ONNO thuộc trường hợp đăng ký thuốc generic (hóa dược) lần đầu tại Việt Nam. Căn cứ pháp lý: Chương 3 (từ Điều 35 đến Điều 38) Luật Dược 2005, Thông tư 222009TTBYT quy định việc đăng ký thuốc. (iii) Thông tin, quảng cáo thuốc Thông tin, quảng cáo sản phẩm ONNO muốn được lưu hành và quảng cáo trước tiên phải đáp ứng được các điều kiện chung sau: 1. Chỉ Công ty PARAGON được đăng ký hồ sơ thông tin, quảng cáo thuốc do mình đăng ký. Trường hợp quý công ty muốn uỷ quyền cho đơn vị khác đăng ký hồ sơ thông tin, quảng cáo thì phải có văn bản uỷ quyền. Đơn vị được uỷ quyền phải là đơn vị có tư cách pháp nhân hợp pháp. 2. Thuốc đã được cấp số đăng ký lưu hành tại Việt Nam được thông tin, quảng cáo theo quy định tại Thông tư 132009TTBYT. Thuốc chưa được cấp số đăng ký lưu hành tại Việt Nam nhưng đã được phép lưu hành ở nước khác chỉ được thông tin cho cán bộ y tế thông qua hội thảo giới thiệu thuốc. 3. Nội dung thông tin, quảng cáo thuốc phải bảo đảm tính khoa học, khách quan, chính xác, trung thực, rõ ràng và không được gây hiểu lầm. 4. Tiếng nói và chữ viết dùng trong thông tin, quảng cáo là tiếng Việt, trừ trường hợp từ ngữ đã được quốc tế hoá hoặc thương hiệu, từ ngữ không thay thế được bằng tiếng Việt. 5. Cỡ chữ bé nhất trong thông tin, quảng cáo phải đủ lớn để có thể nhìn thấy trong điều kiện bình thường nhưng không được bé hơn cỡ chữ tương đương cỡ 11 VnTime. 6. Đơn vị thông tin, quảng cáo thuốc phải chịu trách nhiệm về nội dung, tính pháp lý những thông tin đã cung cấp trong các hoạt động thông tin, quảng cáo thuốc của mình. Căn cứ pháp lý: Chương 7 (từ Điều 51 đến Điều 53) Luật Dược 2005, Thông tư 132009TTBYT hướng dẫn hoạt động thông tin, quảng cáo thuốc; Quyết định số 180QĐQLD ngày 1462011 ban hành Sổ tay hướng dẫn thông tin, quảng cáo thuốc. (iiii) Nội dung quảng cáo thuốc Nội dung quảng cáo thuốc phải phù hợp với tờ hướng dẫn thuốc đã được Bộ Y tế (Cục Quản lý dược) phê duyệt, chuyên luận về sản phẩm thuốc ONNO đã được ghi trong Dược thư quốc gia hoặc trong các tài liệu về thuốc đã được quốc tế công nhận. Nội dung quảng cáo thuốc phải có đủ các thông tin sau: • Tên thuốc: là tên trong quyết định cấp số đăng ký lưu hành tại Việt Nam; • Thành phần hoạt chất: thuộc 2 Danh mục đã liệt kê ở mục (i); ngoài ra, sản phẩm thuốc của công ty là sản phẩm thuốc tân dược, do vậy phải dùng tên theo danh pháp quốc tế; • Chỉ định: không được đưa vào các chỉ định được quy định tại Điều 35 Thông tư 132009TTBYT. • Cách dùng; • Liều dùng; • Chống chỉ định và hay hoặc những khuyến cáo cho các đối tượng đặc biệt (như trẻ em, phụ nữ mang thai,....); • Tác dụng phụ và phản ứng có hại; • Tên, địa chỉ của cơ sở sản xuất thuốc. Có thể thêm tên, địa chỉ nhà phân phối. • Lời dặn: “Đọc kỹ hướng dẫn trước khi dùng” • Cuối trang đầu của tài liệu quảng cáo phải có số Giấy tiếp nhận hồ sơ đăng ký quảng cáo thuốc của Cục Quản lý dược và ngày tháng in tài liệu. Lưu ý: Đối vớ những tài liệu gồm nhiều trang phải đánh số trang, ở trang đầu phải ghi rõ tài liệu này có bao nhiều trang, phần thông tin chi tiết về sản phẩm xem ở trang nào. Căn cứ pháp lý: Điều 21 Thông tư 132009TTBYT 2.2. Thủ tục tiến hành Thủ tục thứ 1: Xin cấp Giấy phép lưu hành thuốc ONNO trên lãnh thổ Việt Nam. Thủ tục thứ 2: Xin cấp phép quảng cáo thuốc. Hai thủ tục này quý công ty xem chi tiết tại Phụ lục 1 kèm theo. 3. Các phương tiện quảng cáo mà sản phẩm ONNO được phép quảng cáo theo quy định của pháp luật Việt Nam Theo quy định tại Điều 20 Thông tư 132009TTBYT hướng dẫn hoạt động thông tin, quảng cáo thuốc về các hình thức quảng cáo thuốc bao gồm: “1. Quảng cáo trên sách, báo, tạp chí, tờ rơi, áp phích. 2. Quảng cáo trên bảng, biển, pano, băng rôn, vật thể phát quang, vật thể trên không, dưới nước, phương tiện giao thông, vật thể di động khác. 3. Quảng cáo trên phương tiện phát thanh, truyền hình. 4. Quảng cáo trên báo điện tử, website của doanh nghiệp, website của đơn vị làm dịch vụ quảng cáo. 5. Quảng cáo trên các phương tiện thông tin quảng cáo khác.” Căn cứ theo các hình thức quảng cáo thuốc có thể sử dụng nêu trên, sản phẩm ONNO được phép quảng cáo trên những phương tiện quảng cáo sau: 1. Báo chí. 2. Trang thông tin điện tử, thiết bị điện tử, thiết bị đầu cuối và các thiết bị viễn thông khác. 3. Các sản phẩm in, bản ghi âm, ghi hình và các thiết bị công nghệ khác. 4. Bảng quảng cáo, băngrôn, biển hiệu, hộp đèn, màn hình chuyên quảng cáo. 5. Phương tiện giao thông. 6. Hội chợ, hội thảo, hội nghị, tổ chức sự kiện, triển lãm, chương trình văn hoá, thể thao. 7. Người chuyển tải sản phẩm quảng cáo; vật thể quảng cáo. 8. Các phương tiện quảng cáo khác theo quy định của pháp luật.
Xem thêm

9 Đọc thêm

VẤN ĐỀ PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH TRÊN BÁO CHÍ TIỂU LUẬN CAO HỌC

VẤN ĐỀ PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH TRÊN BÁO CHÍ TIỂU LUẬN CAO HỌC

1. Tính cấp thiết của đề tàiNgày 2511 hàng năm được Liên Hợp quốc lấy làm Ngày quốc tế phòng, chống bạo lực gia đình. Hiện có 89 quốc gia có những quy định pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình. Ở Việt Nam, ngày 21112007, Luật phòng chống bạo lực gia đình ra đời, đồng thời Nhà nước cũng ban hành nhiều văn bản pháp luật với chế tài xử lý nghiêm minh những hành vi bạo lực gia đình. Việc sử dụng thông tin đại chúng để tuyên truyền được coi là một trong nhưng giải pháp hữu hiệu trong công cuộc phòng chống BLGĐ, đặc biệt là nam giới tham gia nói không với BLGĐ. Trước đây, các chương trình truyền thông về vấn đề này vẫn còn mang tính thời vụ, chưa đồng bộ, thường chỉ là truyền thông theo các ngày lễ kỷ niệm, hoặc chỉ đưa tin khi có sự vụ BLGĐ xảy ra...gây nên tình trạng mất cân đối thông tin. Rất ít tác phẩm báo chí phân tính, bình luận sâu sắc về vấn đề BLGĐ dưới các góc độ xã hội như: tâm lý học, xã hội học, pháp luật... Các cơ quan báo chí chưa chủ động trong công tác truyền thông, vẫn làm theo phong trào hoặc có chăng là nội dung kế hoạch tuyên truyền trong các dự án của các tổ chức phi chính phủ. Để có những thông tin về BLGĐ, ngăn chặn tình trạng BLGĐ, những người làm việc trong lĩnh vực truyền thông, từ các nhà báo, các biên tập viên cho đến những nhà quản lý phải có một cách nhìn nhận mới mẻ, nhạy cảm và tiến bộ nhất về vấn đề giới BLGĐ hiện nay. Những gì các loại hình truyền thông đại chúng đã làm được trong việc truyền thông phòng chống bạo lực gia đình (TTPCBLGĐ), góp phần nâng cao nhận thức về việc gây ra BLGĐ là vi phạm nhân quyền, vi phạm pháp luật, từ đó có những chiến lược truyền thông phù hợp.Kể từ khi Luật phòng chống BLGĐ ra đời, đến nay các loại hình báo chí đã có nhiều tin bài phản ánh tập trung tuyên truyền về vấn đề này. Các tin bài đa dạng hơn, phong phú hơn, không chỉ đơn thuần là việc đưa tin.Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về bạo lực gia đình (BLGĐ) đối với phụ nữ. Và đã có những cách nhìn nhận rằng việc bảo vệ quyền của phụ nữ thuộc về phụ nữ. Điều này đã làm chúng ta bỏ quên một lực lượng hùng hậu. Đó chính là những người đàn ông đã biết vượt qua sai lầm, chía tay với BLGĐ, biết hàn gắn những tổn thương mất mát do mình gây ra, góp phần xây dựng gia đình no ấm, hạnh phúc. Đó là những người đàn ông tiến bộ. Chính họ mới là những ngưởi chủ lực trong công cuộc bảo vệ hạnh phúc gia đình, mang lại tiếng cười cho các em thơ. Họ là các tư vấn viên, tuyên truyền viên tích cực trong công cuộc vận động, thuyết phục những nam giới khác nói không với BLGĐ.Trong các nghiên cứu về bạo lực gia đình, phụ nữ và trẻ em là nạn nhân của BLGĐ chiếm tỷ lệ rất lớn. Cũng từ những nghiên cứu này, chúng ta có thể nhận ra rằng nam giới là người gây ra bạo lực và chính nam giới là người có thể ngăn chặn bạo lực gia đình. Với tình hình đó, tác giả chọn đề tài: “Vấn đề phòng chống bạo lực gia đình trên báo chí”, (khảo sát mục “Thức đêm của bạn” trên kênh VOV giao thông và mục “Gia đình” của giadinh.net.vn từ 12011 đến 62012) làm đề tài nghiên cứu cho luận văn này. Thông qua việc phân tích, tổng hợp công tác truyền thông về phòng chống bạo lực gia đình nói chung, truyền thông PCBLGĐ cho nam giới nói riêng, chỉ ra những thành tựu và hạn chế, đề xuất kiến nghị và giải pháp. Tác giả hi vọng đề tài này sẽ góp phần vào việc nâng cao chất lượng các chương trình truyền thông về PCBLGĐ cho nam giới, nam giới nói không với BLGĐ, nhằm xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc.
Xem thêm

12 Đọc thêm

Bài tập nhóm Xây dựng văn bản pháp luật: Thẩm định văn bản pháp quy phạm pháp luật

BÀI TẬP NHÓM XÂY DỰNG VĂN BẢN PHÁP LUẬT: THẨM ĐỊNH VĂN BẢN PHÁP QUY PHẠM PHÁP LUẬT

Thẩm định văn bản quy phạm pháp luật bài tập nhóm xây dựng văn bản pháp luật A. MỞ ĐẦU Thẩm định văn bản quy phạm pháp luật là một giai đoạn trong quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp. Như vậy, để ban hành một văn bản quy phạm pháp luật thì cần phải có đầy đủ các khâu đoạn trong đó có việc thẩm định. Thực chất của công tác thẩm định là khắc phục những hạn chế, bất cập của việc xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Để hiểu hơn về hoạt động thẩm định dự thảo văn bản pháp luật và ý nghĩa của hoạt động này nhóm chúng em chọn đề tài: “Ý nghĩa của hoạt động thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật và giá trị pháp lý của Báo cáo thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Cho ví dụ minh họa” . B. NỘI DUNG I. Thẩm định dự thảo văn bản pháp luật và ý nghĩa của hoạt động thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. 1. Khái niệm thẩm định dự thảo văn bản pháp luật. Hiện nay thuật ngữ thẩm định có nhiều cách hiểu khác nhau. Với cách hiểu thông thường, Từ điển Tiếng Việt thông dụng giải thích thẩm định là “xem xét để xác định về chất lượng”. Dưới góc độ pháp lý, theo Từ điển Luật học do Viện khoa học pháp lý Bộ Tư pháp biên soạn, đã đưa ra cách hiểu: “Thẩm định có ý nghĩa là việc xem xét, đánh giá và đưa ra kết luận mang tính pháp lý bằng văn bản về một vấn đề nào đó. Hoạt động này do tổ chức hoặc cá nhân có chuyên môn, nghiệp vụ thực hiện ... Việc thẩm định có thể tiến hành với nhiều đối tượng khác nhau như thẩm định dự án, thẩm định báo cáo, thẩm định hồ sơ, thẩm định thiết kế, thẩm định đồ án quy hoạch, thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật ...”. Như vậy, thẩm định trước hết là hoạt động của một chủ thể được tiến hành nhằm kiểm tra, đánh giá văn bản theo những tiêu chí nhất định. Tính đúng đắn của văn bản có thể được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau, tùy thuộc loại, tính chất của văn bản. Xét về bản chất, thẩm định là việc kiểm tra trước nhằm phát hiện những vi phạm, khiếm khuyết, hạn chế và dự báo, phòng ngừa những sai trái có thể có trong dự thảo. Theo Điều 1, Quy chế thẩm định dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 052007QĐTTG ngày 1012007 của Thủ tướng Chính phủ: Thẩm định dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động xem xét, đánh giá về nội dung và hình thức của dự án, dự thảo nhằm đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ của dự án, dự thảo trong hệ thống pháp luật. Như vậy, thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động xem xét, đánh giá về nội dung, hình thức, kỹ thuật soạn thảo của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, theo nội dung, trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, nhằm đảm bảo tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ của dự thảo trong hệ thống pháp luật. Thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động thuộc quy trình xây dựng văn bản. Hoạt động này do cơ quan chuyên môn về tư pháp có thẩm quyền tiến hành, nhằm đánh giá một cách toàn diện, khách quan và chính xác dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trước khi trình cơ quan có thẩm quyền ban hành, phê chuẩn. 2. Ý nghĩa của hoạt động thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Hoạt động thẩm định có vai trò rất quan trọng trong quá trình xây dựng và ban hành văn bản. Trước hết, hoạt động thẩm định là giải pháp nâng cao chất lượng của văn bản pháp luật, đóng vai trò đi trước, là phương thức mang tính chất phòng ngừa và đạt hiệu quả rất cao. Hoạt động thẩm định góp phần hoàn thiện pháp luật trong việc bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ của văn bản trước khi ban hành. Ý kiến thẩm định nhằm đưa ra những đánh giá, tư vấn xây dựng các quy phạm pháp luật phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội, quản lý nhà nước, với hệ thống pháp luật. Khi một văn bản quy phạm pháp luật được thẩm định và ý kiến thẩm định có giá trị thì sẽ tạo ra một văn bản có hiệu quả, góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội và quản lý nhà nước. Ngược lại, nếu chất lượng của Báo cáo thẩm định không đưa ra được những đánh giá chuẩn mực, xác đáng thì thậm chí sẽ gây thiệt hại lớn cho cơ quan quản lý cũng như đối tượng điều chỉnh. Thẩm định giúp chủ thể ban hành sẽ dễ dàng tiếp cận tính hợp hiến, hợp pháp, khả thi của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật một cách nhanh nhất có trọng tâm đúng pháp luật. Với tư cách là những đánh giá, xem xét rất cơ bản trung thực khách quan về dự thảo văn bản quy phạm pháp luật và đưa ra nhận xét nên thẩm định còn mang tính chất định hướng chỉ dẫn và cung cấp các thông tin dưới góc độ pháp lý cần thiết cho chủ thể ban hành dự thảo cũng như chủ thể soạn thảo. Trong qúa trình thẩm định cơ quan thẩm định có thể phát hiện được những bất hợp lý, bất hợp pháp mà cơ quan soạn thảo đã vô tình hoặc cố ý tạo ra. Hơn nữa, trong trường hợp có nhiểu quan điểm trái chiều nhau về cùng một vấn đề, kết quả thẩm định là cơ sở để xem xét ban hành văn bản. Thẩm định còn tạo ra cơ chế phối hợp và giám sát lẫn nhau giữa các cơ quan tham gia xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Để Báo cáo thẩm định có chất lượng, cơ quan thẩm định, soạn thảo văn bản, cũng như các tổ chức cá nhân có liên quan phải phối hợp chặt chẽ với nhau, tạo điều kiện cho nhau thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ. Trên thực tế nếu Báo cáo thẩm định thực sự khách quan có căn cứ khoa học hợp lý văn bản được ban hành sẽ có hiệu lực và hiệu quả cao. Bên cạnh đó thẩm định còn là cơ hội để trao đổi thông tin, nâng cao trình độ cho cán bộ công chức. Có thể người có kiến thức luật nhưng lại thiếu kiến thức chuyên môn về đối tượng điều chỉnh của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật và ngược lại. Qua đó, có thể nâng cao chất lượng xây dựng văn bản. II. Giá trị pháp lý của Báo cáo thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Mặc dù thẩm định được coi là hoạt động quan trọng trong việc xây dựng văn bản pháp luật, song Báo cáo thẩm định của cơ quan tư pháp địa phương chỉ được coi là tài liệu có tính chất tham mưu, không có tính chất bắt buộc cơ quan soạn thảo, cơ quan ban hành phải thực hiện. Báo cáo thẩm định là văn bản giúp Hội đồng thẩm định ghi chép và tổng kết lại kết quả của quá trình thẩm định. Báo cáo thẩm định được xây dựng khoa học thì mới phản ánh được chính xác và đầy đủ tất cả những vấn đề của hoạt động thẩm định. Nếu hoạt động thẩm định tốt mà báo cáo thẩm định không tốt thì nhiệm vụ thẩm định để xây dựng được những văn bản quy phạm pháp luật cũng không đạt được kết quả cao. Giá trị pháp lý của Báo cáo thẩm định được pháp luật quy định sau khi nhận được báo cáo thẩm định, cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu tiếp thu ý kiến của cơ quan thẩm định. Đối với cơ quan ban hành, báo cáo thẩm định là một tài liệu trong hồ sơ trình để ban hành văn bản và chỉ xem xét khi có văn bản thẩm định của cơ quan tư pháp. Dưới góc độ pháp lý quy định như vậy rất chặt chẽ, bảo đảm phát huy tối đa giá trị tham mưu, tư vấn của hoạt động thẩm định trong quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Giá trị pháp lý của Báo cáo thẩm định còn được thể hiện thông qua chất lượng của Báo cáo thẩm định. Chất lượng của Báo cáo thẩm định phải thể hiện được cả giá trị tham mưu, tư vấn cả về mặt pháp lý và giá trị thực tế, nếu không hoạt động thẩm định chỉ được coi là hoạt động mang tính hình thức, làm cho đúng thủ tục chứ không có vị trí quan trọng. Trong khi đó trong luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định tính khả thi là một tiêu chí không bắt buộc thẩm định, làm giảm giá trị tham mưu về khả năng thực thi đối với báo cáo thẩm định. III.Ví dụ về hoạt động thẩm định và báo cáo thẩm định dự thảo xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. 1. Ví dụ về hoạt động thẩm định dự thảo sửa đổi, bổ sung Bộ luật lao động. Ví dụ về hoạt động thẩm định dự thảo sửa đổi, bổ sung Bộ luật lao động. Dự thảo BLLĐ mới sẽ gồm 17 chương với 276 điều (BLLĐ hiện hành có 198 điều), tại mỗi chương, dự thảo quy định từng vấn đề thành các mục riêng rất cụ thể, chi tiết, trong đó có riêng một điều (Điều 5) giải thích một số thuật ngữ nhằm làm rõ thêm những vấn đề trước đây đang còn nhiều cách hiểu khác nhau. Dự thảo sửa đổi, bổ sung Bộ luật lao động lao động do Bộ tư pháp tiến hành. Ngày 06 tháng 7 năm 2011, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Quyết định số 1165QĐBTP về việc thành lập Hội đồng thẩm định dự án Bộ luật Lao động (sửa đổi). Hội đồng thẩm định bao gồm 11 thành viên là đại diện của các Bộ, ngành, tổ chức có liên quan, các chuyên gia, nhà khoa học và đại diện các đơn vị chức năng của Bộ Tư pháp do đồng chí Đinh Trung Tụng, Thứ trưởng Bộ Tư pháp làm Chủ tịch Hội đồng. Ngày 08 tháng 7 năm 2011, Hội đồng đã tiến hành thẩm định dự án Bộ luật Lao động (sửa đổi). Hội đồng thẩm định đã tiến hành thẩm định và tập trung vào các vấn đề sau: sự cần thiết ban hành Bộ luật; phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của dự án Bộ luật; sự phù hợp của dự án Bộ luật với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, tính đồng bộ và tính khả thi của dự án Bộ luật; ngôn ngữ, kỹ thuật soạn thảo; những vấn đề còn có ý kiến khác nhau và những vấn đề khác có liên quan đến dự án Bộ luật. 2. Báo cáo thẩm định dự thảo sửa đổi, bổ sung Bộ luật lao động. Trên cơ sở hoạt động thẩm định dự thảo Bộ luật lao động sửa đổi được tiến hành bắt đầu từ ngày 08072011 thì ngày 11 7 2011 Hội đồng thẩm định đã trình Báo cáo số 111 BCHĐTĐ về việc thẩm định dự án Bộ luật lao động sửa đổi. Báo gồm một số nội dung sau: I. Về sự cần thiết ban hành Bộ luật Lao động; II. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụngIII. Về sự phù hợp của nội dung dự án Bộ luật với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; tính hợp hiến, hợp pháp và thống nhất của dự án Bộ luật với hệ thống pháp luật và tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; IV. Về tính khả khi của dự án Bộ luật; V. Về các vấn có ý kiến còn khác nhau; VI. Về nội dung của dự án Bộ luật; IX. Nhận xét chung; VII. Về hồ sơ và trình tự soạn thảo 3.Ý nghĩa của hoạt động dự thảo Bộ luật lao động và ý nghĩa của báo cáo thẩm định. Hoạt động thẩm định đã xem xét, đánh giá dự thảo Bộ luật lao động sửa đổi trên nhiều mặt khác nhau, việc thẩm định sẽ giúp tìm ra những điểm hợp lí và không hợp lí, những vấn đề còn nhiều ý kiến tranh luận, phương hướng giải quyết. Qua đó sẽ tư vấn giúp những nhà lập pháp xây dựng được một Bộ luật lao động tiến bộ, chặt chẽ và khoa học, khắc phục được những hạn chế của Bộ luật lao động hiện hành, đồng thời theo kịp và dự liệu được các tình huống sẽ xảy ra trong thực tế liên quan đến những vấn đề mà Bộ luật lao động điều chỉnh. Cũng từ đó sẽ tạo ra hành lang pháp lí khoa học, đúng đắn, thúc đẩy đất nước phát triển. Mặt khác hoạt động thẩm định còn tạo ra cơ chế giám sát giữa các cơ quan xây dựng dự thảo và cơ quan thanh tra, giám sát, các cơ quan có liên quan.... Báo cáo thẩm định của hội đồng thẩm định đã ghi chép, tổng kết đầy đủ, chính xác hoạt động thẩm định dự thảo văn Bộ luật lao động sửa đổi. Báo cáo thẩm định cũng là cơ sở để trình lên Chính phủ, Bộ lao động thương binh và xã hội về hoạt động thẩm định của Hội đồng thẩm định, qua đó góp phần xây dựng được Bộ luật lao động mới tốt hơn. C. KẾT LUẬN Thẩm định là hoạt dộng đánh giá, góp phần hoàn thiện nội dung cũng như hình thức dự thảo văn bản pháp luật. Chất lượng thẩm định dự thảo văn bản pháp luật có ý nghĩa đối với công tác xây dựng văn bản pháp luật, đặc biệt là chất lượng xây dựng văn bản. Ngược lại, nếu thẩm định không chính xác, hời hợt có thể làm mất giá trị, ý nghĩa của báo cáo thẩm định. Tuy nhiên, trong công tác thẩm định dự thảo văn bản pháp luật hiện nay còn tồn tại những hạnchế nhất định như: nội dung thẩm định còn nặng về hình thức, chất lượng thẩm định đôi khi không đáp ứng yêu cầu, việc tổ chức thẩm định chưa khoa học, sự phối hợp giữa các cơ quan trong quá trình thẩm định chưa chặt chẽ…
Xem thêm

9 Đọc thêm

BÀI TẬP HỌC KỲ MÔN AN SINH XÃ HỘI ĐỀ 05

BÀI TẬP HỌC KỲ MÔN AN SINH XÃ HỘI ĐỀ 05

Câu 1: Phân tích các chế độ ưu đãi đới với người có công với cách mạng. Câu 2: Anh H vào làm việc tại công ty xây dựng Y từ ngày 20101995. Ngày 2102015, theo yêu cầu của giám đốc anh ở lại công ty làm thêm giờ. Trong lúc làm thêm giờ, không may giàn giáo sập khiến anh bị thương phải vào viện điều trị mất hai tháng. Ra viện, anh được xác định suy giảm 45% khả năng lao động. Tháng 12016, vết thương tái phát, anh phải vào viện điều trị 20 ngày. Sau khi ra viện, anh được xác định suy giảm 61% khả năng lao động. Mặc dù mới 52 tuổi nhưng anh làm đơn xin nghỉ việc và đề nghị được giải quyết chế độ hưu trí. Anh (chị) hãy tư vấn các quyền lợi về an sinh xã hội cho anh H theo quy định của pháp luật hiện hành.
Xem thêm

16 Đọc thêm

THƯ TƯ VÂN PHÁP LÝ THỦ TỤC ĐẦU TƯ, THUẾ VÀ ĐẤT ĐAI CỦA CÔNG TY CHIHAN (thư tư vấn pháp lý mẫu - 9,5 điểm)

THƯ TƯ VÂN PHÁP LÝ THỦ TỤC ĐẦU TƯ, THUẾ VÀ ĐẤT ĐAI CỦA CÔNG TY CHIHAN (THƯ TƯ VẤN PHÁP LÝ MẪU - 9,5 ĐIỂM)

MỤC LỤC1.TÓM TẮT YÊU CẦU TƯ VẤN12.CƠ SỞ PHÁP LÝ23.Ý KIẾN PHÁP LÝ33.1.Vấn đề 1: Các quy định liên quan đến việc tiến hành hoạt động đầu tư tại Việt Nam của công ty Chihan33.2.Vấn đề 2: Các hình thức đầu tư; ưu, nhược điểm từng hình thức đầu tư công ty Chihan có thể thực hiện tại Việt Nam63.3.Vấn đề 3: Các loại thuế liên quan và chế độ miễn giảm thuế đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của công ty Chihan tại Việt Nam133.4.Vấn đề 4: Các quy định về đất đai liên quan đến hoạt động xây dựng nhà máy sản xuất máy móc của công ty Chihan tại Việt Nam213.5.Các vấn đề liên quan28PHỤ LỤC 129PHỤ LỤC 232Công ty Chihan là công ty được thành lập tại Singapore với các ngành nghề chính là sản xuất và kinh doanh các loại máy móc, thiết bị dùng trong văn phòng như máy in văn phòng, mực in, máy fax, máy scan, máy điện thoại và các loại máy móc tương tự khác. Chihan muốn tiến hành đầu tư sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam.Các yêu cầu tư vấn của công ty Chihan như sau:(1)Yêu cầu tư vấn về các quy định liên quan đến hoạt động đầu tư tại Việt Nam của công ty Chihan?(2) Yêu cầu tư vấn về các hình thức đầu tư công ty Chihan có thể thực hiện đầu tư? Các ưu nhược điểm của các hình thức đầu tư đối với việc đầu tư vào Việt Nam của công ty Chihan?(3)Yêu cầu tư vấn về các loại thuế liên quan đến hoạt động đầu tư sản xuất kinh doanh và chế độ miễn giảm thuế mà công ty Chihan có thể được hưởng theo quy định của pháp luật Việt Nam?(4)Yêu cầu tư vấn các quy định về đất đai liên quan đến hoạt động xây dựng nhà máy sản xuất máy móc tại Việt Nam?ĐÂY LÀ MỘT BÀI TƯ VẤN MẪU, KHÔNG CÓ THẬT TRÊN THỰC TẾ, CẦN KIỂM TRA THÔNG TIN TRƯỚC KHI SỬ DỤNG CÁC NỘI DUNG NÀY
Xem thêm

36 Đọc thêm

Chế độ pháp lý đối với văn phòng công chứng theo quy định pháp luật hiện hành.

Chế độ pháp lý đối với văn phòng công chứng theo quy định pháp luật hiện hành.

NỘI DUNG 2 I. Những vấn đề lý luận về chế độ pháp lý đối với Văn phòng công chứng. 2 1. Sự hình thành mô hình tổ chức Văn phòng công chứng. 2 2.Tổ chức hoạt động của Văn phòng công chứng. 4 II. Chế độ pháp lý của văn phòng công chứng theo quy định của pháp luật hiện hành. 5 1.Địa vị pháp lý của Văn phòng công chứng. 5 2. Tên gọi của Văn phòng Công chứng. 6 3. Bổ nhiệm Công chứng viên đối với Văn phòng công chứng. 6 4. Mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với công chứng viên của Văn phòng công chứng: 7 5. Điều kiện, hồ sơ thành lập Văn phòng công chứng: 9 Sở Tư pháp là cơ quan giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh (thành phố) tiếp nhận, xem xét, kiểm tra hồ sơ đề nghị thành lập Văn phòng công chứng để trình Uỷ ban nhân dân quyết định cho phép thành lập. Sau khi được thành lập, Văn phòng công chứng phải đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp của địa phương nơi cho phép thành lập trong thời hạn 90 ngày. 10 6. Nguồn tài chính của Văn phòng công chứng: 10 III. Những bất cập trong chế độ pháp lý của văn phòng công chứng và hướng hoàn thiện pháp luật. 11 KẾT LUẬN 12
Xem thêm

Đọc thêm

TÁC ĐỘNG CỦA CÁC CAM KẾT GIA NHẬP WTO ĐẾN DỊCH VỤ CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM

TÁC ĐỘNG CỦA CÁC CAM KẾT GIA NHẬP WTO ĐẾN DỊCH VỤ CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM

Việc quy định mức vốn nhằm mục đích đảm bảo rằng các công ty chứngkhoán thực sự có vốn và dùng vốn của họ để kinh doanh. Nhân viên thực hiệnnghiệp vụ tự doanh của công ty phái có trình độ chuyên môn, khả năng tựquyết cao và đặc biệt là tính nhạy cảm trong công việc. Tại một số nước nhưThái Lan, Mỹ, nhân viên tự doanh của công ty chứng khoán phải đáp ứngđược một số tiêu chuẩn nhất định như kinh nghiệm làm việc lâu năm trongngành, có bằng thạc sĩ trở lên và có một số chứng chỉ chuyên môn nhất định.Khi thực hiện hoạt động tự doanh, các công ty chứng khoán phải có sựtách biệt giữa nghiệp vụ tự doanh và các nghiệp vụ khác, đặc biệt là nghiệp vụ10môi giới để đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng trong hoạt động. Các công tychứng khoán phải có đội ngũ nhân viên riêng biệt để thực hiện nghiệp vụ tựdoanh và đảm bảo sự tách bạch về tài sản của khách hàng với các tài sản củachính công ty. Các công ty chứng khoán còn phải ưu tiên khách hàng trongviệc tự doanh chứng khoán, không được phép mua, hoặc bán chứng khoántranh của khách hàng. Để đảm bảo hạn chế rủi ro, các công ty chứng khoáncũng phải chịu một số hạn chế nhất định khi đầu tư vào các loại chứng khoán.Các hạn chế này thường được cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật.Bên cạnh đó, các công ty chứng khoán cũng phải có nghĩa vụ bình ổn thịtrường trong một số trường hợp cần thiết, đặc biệt là đối với hình thức tạo lậpthị trường. Thực tế cho thấy pháp luật của hầu hết các nước đều quy định cáccông ty chứng khoán phải dành một tỷ lệ phần trăm nhất định giao dịch củamình (ở Mỹ là 60%) cho hoạt động bình ổn thị trường. Các công ty có nghĩavụ mua vào khi giá chứng khoán lên và bán ra khi giá chứng khoán giảmnhẳm ổn định giá chứng khoán.3.3.
Xem thêm

20 Đọc thêm

KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH, MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH, MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

giải quyết kháng nghị phúc thẩm án hình sự.VKSND tối cao cần lấy ý kiến của cán bộ, kiểm sát viên vềnhững khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện chức năng, nhiệmvụ của ngành và công tác kháng nghị phúc thẩm án hình sự, từ đó tổnghợp đề xuất đến các cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung kịp thời.Hai là, VKSND tối cao cần tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡngchuyên sâu về nghiệp vụ hình sự, trong đó tập trung đào tạo kỹ năngphát hiện vi phạm bản án và kỹ năng về kháng nghị phúc thẩm.Đối với Viện kiểm sát tỉnh, cần có biện pháp để bổ sung biên chếkịp thời cho một số đơn vị Viện kiểm sát cấp huyện thiếu cán bộ vàkiểm sát viên. Cần quan tâm đào tạo cán bộ trẻ mới vào ngành. Có kếhoạch sử dụng và đề bạt cán bộ, nhất là cán bộ trẻ có năng lực.Ba là, tăng cường sự quan tâm chỉ đạo của Lãnh đạo Viện kiểmsát các cấp về công tác kháng nghị phúc thẩm. Lãnh đạo Viện cần rútkinh nghiệm đối với những vi phạm cụ thể hoặc những vi phạm mangtính điển hình, chỉ đạo sâu sát nội dung kháng nghị, không phó mặchoặc thụ động trên cơ sở chỉ xem xét báo cáo của Kiểm sát viên.Bốn là, Viện kiểm sát hai cấp cần tập trung nghiên cứu, khángnghị các bản án có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và áp dụngpháp luật. Khi ban hành kháng nghị phải đảm bảo chặt chẽ từ hìnhthức đến nội dung và đúng thủ tục, thời hạn pháp luật quy định.Năm là, tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện làm việc choViện kiểm sát và hoàn thiện chính sách, chế độ tiền lương đối với cánbộ, Kiểm sát viên.24KẾT LUẬNKháng nghị phúc thẩm hình sự là một quyền năng pháp lý
Xem thêm

26 Đọc thêm

Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa trong tố tụng hình sự

Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa trong tố tụng hình sự

LỜI MỞ ĐÀU 1. Lý do chọn đề tài Trong chế độ Xã hội chủ nghĩa các quyền con người luôn được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. Trong các quyền đó thì quyền bào chữa được ghi nhận trong Hiến pháp là một điều quan trọng và cần thiết. Ở Điều 132 Hiến pháp 1992 của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam quy định quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm. Quyền bào chữa là cơ sở của các quyền khác mà pháp luật quy định cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo khi tham gia tố tụng hình sự. Phát triển và cụ thể hoá nguyên tắc nói trên, pháp luật tố tụng hình sự đã quy định một cách hệ thống các quyền tố tụng mà người bị tình nghi (người bị tạm giữ, bị can, bị cáo) có thể sử dụng để đưa ra những lý lẽ và chứng cứ để bào chữa cho mình. Điều 11 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định: “Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cảo thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy định của Bộ luật này. ” Trong một số điều luật, đặc biệt là các Điều 48 49 50 Bộ luật tố tụng hình sự, quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đã được quy định tương đối đầy đủ. Như chúng ta đã biết không phải bất cứ người bị tình nghi nào cũng có thể tự bào chữa cho mình, mà thông thường họ thường nhờ người có khả năng hiểu biết pháp luật để bào chữa thay cho họ. Luật gọi những người này là người bào chữa. Vì vậy, để đảm bảo quyền bào chữa cho người bị tình nghi pháp luật tố tụng hình sự cho phép họ mời người bào chữa. Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa khi tham gia vào quá trình tố tụng hình sự cũng được luật quy định khá cụ thể ở các Điều 58 Bộ luật tố tụng hình sự 2003. Đảm bảo quyền bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không chỉ là một nguyên tắc hiến định mà còn là một nguyên tắc quan trọng trong tố tụng hình sự. Vì bất kỳ sự vi phạm nào về nguyên tắc này trong qúa trình giải quyết vụ án hình sự đều có thể là một trong những nguyên nhân dẫn tới hậu quả xấu không chỉ đối với người bị tình nghi mà còn ảnh hưởng xấu đến uy tín của các cơ quan bảo vệ pháp luật nói chung và của Nhà nước nói riêng. Với tinh thần của cải cách tư pháp hiện nay chúng ta muốn quán triệt Nghị quyết 08TW ngày 02012002 của Bộ chính trị về việc giải quyết vụ án hình sự phải chủ yếu dựa vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa thì sự tôn trọng nguyên tắc nói trên càng mang tính chất thiết thực hơn bao giờ hết. Và tầm quan trọng của người bao chữa cũng được xác định rõ hơn và quan trọng hơn. Xuất phát từ tầm quan trọng của người bào chữa là bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp của người bị tình nghi trong quá trình tố tụng hình sự và góp phần bảo vệ quá trình tố tụng được chính xác khách quan, tránh làm oan người vô tội, tránh bỏ lọt tội phạm. Do đó tôi chọn đề tài “Vai trò của người bào chữa trong tố tụng hình 5ự” để lảm luận văn tốt nghiệp cho mình. 2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài Khi nói đến người bào chữa là chúng ta luôn nghĩ đến họ gắn liền với việc giúp cho người bị tình nghi bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, bảo vệ quá trình tố tụng, trợ giúp pháp lý,... Với bài viết này tác giả chỉ tập trung đi sâu nghiên cứu cơ sở lý luận, chức năng, nhiệm vụ, bản chất pháp lý của người bào chữa, phân tích các quy định của pháp luật và việc áp dụng các quy định này vào thực tiễn còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc và đề ra một số giải pháp. 3. Mục tiêu nghiên cứu Trên cơ sở tham khảo một số bài viết và nghiên cứu một số tài liệu về vai trò của người bào chữa trong tố tụng hình sự, tác giả muốn đánh giá thực trạng về hoạt động của người bào chữa trong lĩnh vực tố tụng hình sự qua một số thành tựu, hạn chế về vai trò của người bào chữa khi tham gia tố tụng hình sự, đồng thời đề ra phương hướng hoàn thiện về vai hò của người bào chữa trong giai đoạn hiện nay. 4. Phương pháp nghiên cứu về phương pháp nghiên cứu tác giả sử dụng một số phương pháp chính như sau: • Khảo sát thực tế; • Thống kê; • Phân tích tổng họp; • Đối chiếu và so sánh. 5. Bố cục của đề tài Ngoài phàn mở đàu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung chính của luận văn gồm có ba chương: Chương 1: Lý luận chung về vai ừò của người bào chữa trong tố tụng hình sự. Chương 2: Vai trò của người bào chữa trong tố tụng hình sự. Chương 3: Một số vấn đề về thực trạng và vướng mắc về vai trò của người bào chữa trong giai đoạn hiện nay, đề xuất và những giải pháp. Lòi cảm ơn: Để hoàn thành được đề tài luận văn tốt nghiệp cử nhân luật trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn đến cô Mạc Giáng Châu đã tận tình hướng dẫn và đóng góp nhiều ý kiến quý giá ừong quá trình nghiên cứu đề tài, đồng thời gửi lời cảm ơn đến tất cả quý thầy cô trong khoa luật Đại học cần Thơ cùng các bạn sinh viên đã giúp đỡ tôi trong quá trình tìm kiếm tài liệu. Vai trò của người bào chữa trong tổ tụng hình sự Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VÈ VAI TRÒ CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA TRONG TỐ TỤNG HÌNH sự Trong tố tụng hình sự ngoài các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án thì bộ phận cũng không kém phần quan trọng trong việc tham gia vào quá trình giải quyết vụ án hình sự đó là người bào chữa, để làm rõ thế nào là người bào chữa chúng ta cần tìm hiểu những lý luận chung về bào chữa, quyền bào chữa, người bào chữa để thấy được vai trò quan trọng của người bào chữa trong tố tụng hình sự. l.l. Khái niệm chung Người bào chữa đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (gọi chung là người bị tình nghi) ừong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Đe làm rõ được vai trò của người bào chữa chúng ta phải làm rõ các khái niệm liên quan đến bào chữa, chức năng và nhiệm vụ của người bào chữa trong quá trình tham gia tố tụng hình sự. l.l.l. Một số khái niệm cơ bản l.l.l.l. Khái niệm bào chữa Ở Việt Nam từ thời kỳ phong kiến người ta đã biết dùng những lời nói biện hộ cho những hành vi sai ừái mà bản thân không thực hiện hoặc có thực hiện nhưng vẫn biện hộ cho hành vi của mình là đúng để tránh bị phạt vạ hay trách móc của người khác gọi là “bào chữa”. Bào chữa là dùng lời nói hay đưa ra những chứng cứ để chứng minh một vấn đề nào đỏ mà chính bản thân mình cho là đúng hoặc là những việc làm sai để có được sự khoan hồng tha thứ từ người khác. Trong bối cảnh xã hội hiện nay người ta vẫn quen sử dụng cụm từ “bào chữa” để nói lên quyền được chống lại sự buộc tội từ người khác hoặc từ cơ quan quyền lực Nhà nước. Theo Từ điển luật học thì “bào chữa” được hiểu là “việc dùng lý lẽ, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp của người bị tạm giữ bị can, bị cáo” . Từ “bào chữa” còn được sử dụng rộng rãi hơn trước, không chỉ được hiểu là dùng lời nói để biện hộ mà còn đưa ra những chứng cứ, vật chứng, nhân chứng,...để bào chữa. Không những thế mà còn được nâng lên thành những điều luật cho phép người bị buộc là phạm tội, có thể chứng minh là mình không có lỗi, không có tội hay để giảm nhẹ hành vi lỗi hoặc tội mà mình gây ra. Bào chữa là một trong những chức năng quan trọng không thể thiếu trong quá trình tiến hành giải quyết các vụ án hình sự nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Mà trong đó người bị tạm giữ, bị can, bị cáo sử dụng chức năng này để tự mình bào chũa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình. Chế định về bào chữa cũng được quy định trong Hiến pháp tại Điều 132 như sau: “Quyển bào chữa của bị cáo được bảo đảm....”. Chế định bào chữa không những được quy định ừong Hiến pháp mà còn được cụ thể hoá hơn trong luật, theo Điều 11 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 có quy định: “Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cảo thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy định của bộ luật này”. Tóm lại, bào chữa là việc người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, tự mình đưa ra các lý lẽ chứng cứ chứng minh vô tội, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp hoặc có thế nhờ người khác thực hiện chức năng bào chữa cho mình (gọi là người bào chữa). 1.1.1.2. Khái niệm quyền bào chữa Quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là một trong những quyền quan trọng nhất của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo ừong quá trình tố tụng giải quyết vụ án hình sự. Việc tôn trọng và bảo đảm thực hiện quyền bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là một trong những nguyên tắc quan trọng của hoạt động tư pháp. Trong giới luật gia có quan điểm cho rằng: “Quyền bào chữa của bị can, bị cáo là tổng thể các quyền mà pháp luật quy định, cho phép bị can, bị cảo có thể sử dụng nhằm bác bỏ một phần hoặc toàn bộ sự buộc tội và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự”. Có quan điểm khác lại cho rằng “Quyền bào chữa của bị can, bị cảo là tổng thể các quyền năng mà pháp luật quy định cho bị can, bị cảo, người đại diện hợp pháp của bị can, bị cảo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần để họ sử dụng nhằm chổng lại một phần hay toàn bộ sự buộc tội, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cảo ”. Một quan điểm khác nữa lại cho rằng: “Quyển bào chữa là tong hợp các hành vỉ tố tụng của bị can, bị cảo trên cơ sở phù hợp với các quy định của pháp luật nhằm đưa ra các chứng cứ để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước các cơ quan tiến hành tố tụng” . Các quan điểm trên đều đã phản ánh được nội dung của quyền bào chữa, nhưng chưa đầy đủ ở chỗ là chưa làm sáng tỏ được từ “quyền” và cụm từ “bào chữa”. Để có cơ sở khoa học định nghĩa về quyền bào chữa của bị can, bị cáo, cần phải làm sáng tỏ nội dung của từ “quyền” và cụm từ “bào chữa”, đồng thời phải căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự quy định về quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Theo Từ điển Luật học thì “quyền” được hiểu là “khải niệm pháp lý để chỉ những điều mà pháp luật công nhận và bảo đảm thực hiện đổi với cả nhân, tổ chức để theo đó cả nhân, tố chức được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản, hạn chế”. Theo Từ điến Tiếng Việt thì: “Bào chữa là dùng lỷ lẽ và chủng cử để bênh vực cho đưong sự nào đó thuộc vụ án hình sự hay dân sự trước Toà án hoặc cho một việc làm đang bị lên án”. Như vậy quyền bào chữa trước hết phải là những điều được pháp luật ghi nhận và bảo đảm thực hiện, có nghĩa là phải được pháp luật ghi nhận vế mặt pháp lý. Những gì không được pháp luật quy định thì không được coi đó là quyền bào chữa. Cùng với việc ghi nhận, pháp luật còn xác định cơ chế đảm bảo cho chủ thể (cụ thể là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo) thực hiện. Các Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng cũng như các cơ quan, cá nhân khác không được hạn chế, ngăn cản. Thứ hai, quyền bào chữa gắn liền với chủ thể là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được thể hiện thông qua quan hệ xã hội cụ thể là quan hệ pháp luật hình sự giữa một bên là Nhà nước và bên kia là người bị tình nghi trong vụ án hình sự. Thứ ba, nội dung của quyền bào chữa là người bị buộc tội sử dụng mọi lý lẽ, chứng cứ, tài liệu để chống lại toàn bộ hoặc một phần sự buộc tội của Nhà nước (cụ thể là cơ quan công tố) nhằm chứng minh sự vô tội, hoặc nhằm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hoặc bảo vệ các quyền, lợi ích hcrp pháp khác của mình. Từ sự phân tích và tổng họp tri thức về các khái niệm “quyền” và “bào chữa”, có thể xây dựng khái niệm “quyền bào chữa” như sau: Quyền bào chữa là tổng thể các quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được pháp luật ghi nhận và bảo đảm thực hiện trong việc sử dụng các lý lẽ, chứng cứ, tài liệu nhằm chứng minh sự vô tội, hoặc nhằm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hoặc bảo vệ các quyền, lợi ích họp pháp khác của mình. 1.1.1.3. Khái niệm người bào chữa Quyền bào chữa là quyền quan trọng của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có thể sử dụng tất cả những biện pháp, phương tiện mà pháp luật không cấm để chống lại, phủ nhận, bác bỏ toàn bộ hoặc một phần sự buộc tội của những cơ quan có thẩm quyền. Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thường thì có trình độ hiểu biết pháp luật thấp, khả năng thu thập chứng cứ, tranh luận và điều kiện về thời gian, về cơ sở vật chất... của họ có hạn chế, nhất là những người bị tạm giữ, bị can, bị cáo bị tạm giam, trong đó quá trình giải quyết vụ án hình sự gồm nhiều vấn đề phức tạp thì việc tự bào chữa của không ít người bị tạm giữ, bị can, bị cáo gặp nhiều khó khăn, do vậy việc nhờ người bào chữa cho mình là rất cần thiết. Tại Điều 5 sắc lệnh số 13CSL ngày 1391945 về việc thiết lập các Toà án quân sự đã quy định: “Bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bênh vực cho Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà năm 1946 cũng ghi nhận tại Điều 67: “Người bị cảo có thể tự bào chữa hoặc nhờ luật sứ”. Trong các bản Hiến Pháp 1959 và năm 1980 đều ghi nhận quyền của bị cáo tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình. Quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa của bị cáo được ghi nhận đầy đủ tại Điều 132 Hiếp pháp 1992 như sau: “Quyển bào chữa của bị cảo được bảo đảm. Bị cảo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình. Tố chức luật sư được thành lập để giúp bị cảo và các đương sự khác bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của mình và góp phẩn bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa Người bào chữa là người được pháp luật quy định tham gia vào quá trình tố tụng hình sự để bảo vệ lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, góp phần lảm sáng tỏ các tình tiết gỡ tội hay giảm nhẹ tội cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và bảo vệ họ khỏi sự vi phạm có thể từ phía Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng khác. Người bào chữa theo quy định của khoản 1 Điều 56 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 thì người bào chữa có thể là: Luật sư; Người đại diện họp pháp cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; Bào chữa viên nhân dân; Khi tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa, thì luật sư, người đại diện họp pháp cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, bào chữa viên nhân dân đều có quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định chung cho người bào chữa. a. Luật sư bào chữa Theo Điều 2 Luật Luật sư 2006 “Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của luật này, thực hiện dịch vụ pháp lỷ theo yêu cầu của cả nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là khách hàng) ”. Người muốn được hành nghề luật sư phải gia nhập một đoàn luật sư phải có đủ các điều kiện theo quy định của Luật Luật sư, để đạt tiêu chuẩn để trở thành luật sư hội đủ điều kiện được quy định tại Điều 10 Luật luật sư: “Công dân Việt Nam trung thành với To quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua then gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khỏe bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư. ” Và khi đạt đủ tiêu chuẩn tại Điều 10 còn phải hội đủ điều kiện hành nghề luật sư được quy định tại Điều 11 Luật luật sư: “Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 10 của Luật này muốn được hành nghề luật sư phải có chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một Đoàn luật sư”. Những luật sư được người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ mời làm người bào chữa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ và luật sư này không thuộc một trong những điều kiện không được bào chữa được quy định tại Khoản 2 Điều 56 Bộ luật tố tụng hình sự: “Người đã tiến hành tổ tụng trong vụ án đó; người thân thích của người đã hoặc đang tiến hành tổ tụng trong vụ ản đó; Người tham gia trong vụ án đó với tư cách là người làm chứng, người giảm định hoặc người phiên dịch ”, thì luật sư được mời làm người bào chữa và được Cơ quan tiến hành tố tụng đồng ý cấp giấy chứng nhận bào chữa thì luật sư được mời mới trở thành luật sư bào chữa trong vụ án hình sự. Đây là hai điều kiện phải cùng tồn tại song song với nhau có một bên chủ thể không đồng ý thì luật sư không thể trở thành luật sư bào chữa trong vụ án hĩnh sự. Tóm lại, luật sư bào chữa là người có đủ điều kiện hành nghề theo quy định của pháp luật và đại diện cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người mà luật sư bào chữa nhận lời bào chữa và phải được Cơ quan tiến hành tố tụng cấp giấy chứng nhận bào chữa thì luật sư mới chính thức trở thành luật sư bào chữa trong vụ án hình sự. b. Ngưòỉ đại diện hợp pháp cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Người đại diện hợp pháp cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo: Người đại diện hợp pháp cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo cũng có thế tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa trong trường người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không tự mình bào chữa được hoặc trong trường hợp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất, người không có khả năng nhận thức hoặc nhận thức kém cần có người đại diện về mặt pháp luật để giúp cho họ có thể tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Người đại diện hợp pháp cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có thể là cha mẹ hoặc người giám hộ của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Người đại diện hợp pháp không chỉ là người đại diện cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong vai trò là người bào chữa mà người đại diện hợp pháp cũng có quyền thay mặt người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mời người bào chữa để giúp họ bảo về quyền và lợi ích hợp pháp. Tóm lại, người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người đứng ra bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất và họ phải tuân thủ theo những quy định mà pháp luật đặt ra cho người bào chữa (nếu người đại diện hợp pháp thực hiện luôn chức năng bào chữa). c. Bào chữa viên nhân dân Người bào chữa trong tố tụng hình sự còn có thể là bào chữa viên nhân dân. Chức danh bào chữa viên ở nước ta ra đời trên cơ sở sắc lệnh số 69SL ngày 1861949 và chế định bào chữa viên nhân dân còn tồn tại đến ngày nay và được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự tại Điều 56 về người bào chữa: Những người có thể là người bào chữa trong đó có chế định bào chữa viên nhân dân. Bào chữa viên nhân dân: Là người được Uỷ Ban Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình trong những trường họrp theo quy định của pháp luật, để đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của bị can, bị cáo trong những trường hợp do pháp luật quy định. Bào chữa viên nhân dân khi tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa, đều có các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật đã quy định chung cho người bào chữa, về mặt pháp lý bào chữa viên nhân dân là một chủ thể tư pháp có tư cách của người bào chữa trong tố tụng hình sự. Qua những phân tích trên bào chữa viên nhân dân là người được Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức m ffffffff grgrgrg rggtt
Xem thêm

Đọc thêm

LUẬN ÁN THỦ TỤC PHÁ SẢN CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG Dương Kim Thế Nguyên

LUẬN ÁN THỦ TỤC PHÁ SẢN CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG DƯƠNG KIM THẾ NGUYÊN

PHẦN MỞ ĐẦU 1 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5 4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận án 7 5. Tính mới của Luận án 7 6. Kết cấu của Luận án 8 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 9 1.1. TỔNG QUAN T NH H NH NGHIÊN CỨU 9 1.1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 9 1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 15 1.1.3. Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu 17 1.2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18 1.2.1. Cơ sở lý thuyết 18 1.2.2. Phương pháp nghiên cứu 21 Kết luận Chương 1 23 CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT PHÁ SẢN TỔ CHỨC TÍN DỤNG V KINH NGHIỆM LẬP PHÁP VỀ PHÁ SẢN TỔ CHỨC TÍN DỤNG Ở MỘT SỐ NƯỚC 24 2.1. TỔ CHỨC TÍN DỤNG VỚI TÍNH CHẤT L DOANH NGHIỆP KINH DOANH TRONG NG NH ĐẶC BIỆT 24 2.1.1. Khái niệm tổ chức tín dụng 24 2.1.2. Các đặc trưng của tổ chức tín dụng 27 2.1.3. Các loại tổ chức tín dụng 32 2.2 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ PHÁ SẢN V PHÁ SẢN CÁC TCTD 36 2.2.1. Khái niệm phá sản và thủ tục phá sản 36 2.2.2. Khái niệm phá sản các TCTD và triết lý để thiết lập các quy định đặc thù về phá sản các tổ chức tín dụng 48 2.2.3. Những nội dung có tính đặc thù cần được quy định trong pháp luật phá sản tổ chức tín dụng 59 2.3 KINH NGHIỆM PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC PHÁ SẢN TỔ CHỨC TÍN DỤNG Ở MỘT SỐ QUỐC GIA 66 2.3.1 Thủ tục phá sản ngân hàng theo pháp luật Hoa Kỳ 68 2.3.2 Thủ tục phá sản ngân hàng theo pháp luật Anh 72 2.3.3 Thủ tục phá sản các TCTD theo pháp luật Liên bang Nga 77 2.3.4 Một số nhận xét về thủ tục phá sản các TCTD tại Hoa Kỳ, Anh và Nga .82 Kết luận Chương 2 83 Chương 3 THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THỦ TỤC PHÁ SẢN TỔ CHỨC TÍN DỤNG 86 3.1 KIỂM SOÁT ĐẶC BIỆT VỚI TÍNH CHẤT L THỦ TỤC PHỤC HỒI ĐỐI VỚI TỔ CHỨC TÍN DỤNG MẤT KHẢ NĂNG THANH TOÁN, MẤT KHẢ NĂNG CHI TRẢ 87 3.1.1 Thủ tục kiểm soát đặc biệt đối với TCTD có nguy cơ mất khả năng thanh toán, mất khả năng chi trả 89 3.1.2 Các biện pháp phục hồi tổ chức tín dụng khả năng thanh toán, mất khả năng chi trả khác 99 3.2 CÁC QUY ĐỊNH ĐẶC THÙ TRONG THỦ TỤC PHÁ SẢN TỔ CHỨC TÍN DỤNG TẠI TÒA ÁN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 107 3.2.1 Quy định đặc thù về nộp đơn và thụ lý đơn yêu cầu giải quyết phá sản các TCTD tại tòa án. 110 3.2.2 Quy định đặc thù về một số loại chủ thể có quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với TCTD 118 3.2.3 Quy định đặc thù về thủ tục rút gọn cho phá sản TCTD 123 3.2.4 Quy định đặc thù về quản lý tài sản phá sản, bảo toàn tài sản và thứ tự thanh toán tài sản của TCTD 127 Kết luận Chương 3 132 Chương 4 HO N THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THỦ TỤC PHÁ SẢN TỔ CHỨC TÍN DỤNG 134 4.1. NHỮNG YÊU CẦU CỦA VIỆC HO N THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC PHÁ SẢN TỔ CHỨC TÍN DỤNG TẠI VIỆT NAM 134 4.1.1 Pháp luật về thủ tục phá sản TCTD phải thể hiện chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển thị trường tiền tệ 134 4.1.2 Hoàn thiện pháp luật về thủ tục phá sản các TCTD phải gắn với việc thực hiện Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 20112015” 135 4.1.3 Pháp luật về xử lý phá sản các TCTD phải đồng bộ với các pháp luật có liên quan 136 4.2 KIẾN NGHỊ HO N THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC PHÁ SẢN TỔ CHỨC TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM 137 4.2.1 Hoàn thiện mô hình và cấu trúc của pháp luật về thủ tục phá sản TCTD ..........................................................................................................................137 4.2.2 Hoàn thiện các quy định liên quan đến thủ tục áp dụng các biện pháp can thiệp đối với TCTD mất khả năng thanh toán nhằm hạn chế phá sản 140 4.2.3 Hoàn thiện các quy định về thủ tục xử lý phá sản tại tòa án 147 4.3 CÁC ĐIỀU KIỆN ĐỂ ĐẢM BẢO THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC PHÁ SẢN TỔ CHỨC TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM 157 4.3.1 Điều kiện về nhận thức của cộng đồng đối với pháp luật phá sản 157 4.3.2 Năng lực giải quyết phá sản của đội ngũ cán bộ tham gia xử lý phá sản được bảo đảm 160 4.3.3 Đội ngũ quản tài viên và doanh nghiệp quản lý tài sản hình thành và phát triển 162 4.3.4 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bảo tiểm tiền gửi Việt Nam chủ động trong các hoạt động giám sát, hỗ trợ. 162 Kết luận Chương 4 164 KẾT LUẬN 166 NHỮNG CÔNG TR NH LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ ... i PHỤ LỤC ii DANH MỤC T I LIỆU THAM KHẢO xv
Xem thêm

477 Đọc thêm

Cùng chủ đề