MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI VỚI VIỆC KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG CÁC NGUỒN TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI VỚI VIỆC KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG CÁC NGUỒN TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN VÀ MÔI TRƯỜNG":

ĐỀ CƯƠNG CƠ SỞ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

ĐỀ CƯƠNG CƠ SỞ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

1. Khái niệm và phân loại môi trường ? Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật ( Theo Luật BVMT 2014 ) Môi trường là tập hợp tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh con người có ảnh hưởng tới con người và tác động qua lại với các hoạt động sống của con người như : không khí, mặt đất, sinh vật, xã hội loài người….. Phân loại : Theo chức năng , môi trường sống được chia thành 3 loại : + Môi trường tự nhiên : bao gồm các yếu tố thiên nhiên, vật lý, hóa học, sinh học tồn tại khách quan bao quanh con người. Môi trường tự nhiên lại có thể phân chia nhỏ hơn theo các thành phần : môi trường sinh thái, ở đó yếu tố sinh học chiếm vai trò chủ đạo là môi trường đất, không khí, nước, địa chất… Ở đây, khoa học môi trường chỉ quan tâm đến mối quan hệ giữa môi trường tự nhiên với con người. + Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa con người với con người, tạo nên sự thuận lợi hoặc trở ngại cho sự phát triển của các cá nhân hoặc từng cộng đồng dân cư. Thí dụ về loại này là sự gia tang dân số, định cư, di cư, môi trường sống của dân tộc thiểu số… + Môi trường nhân tạo là tập hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội do con người tạo nên và chịu sự chi phối của con người. Thí dụ về môi trường nhân tạo là nhà ở, môi trường khu vực đô thị và khu công nghiệp, môi trường nông thôn… 2. Trình bày và phân tích mối quan hệ giữa môi trường và sự phát triển ? Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật ( Theo Luật BVMT 2014 ) Phát triển là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất và tinh thần của con người bằng phát triển hoạt động sản xuất ra của cải vật chất, cải tiến quan hệ xã hội, nâng cao chất lượng văn hóa. Phát triển là xu thế chung của từng cá nhân và cả loài người trong quá trình sống. Giữa môi trường và sự phát triển có mối quan hệ hết sức chặt chẽ : • Môi trường tác động lên phát triển : + Tích cực : môi trường cung cấp tài nguyên, cung cấp mặt bằng , không gian hỗ trợ sự phát triển, là địa bàn và đối tượng của sự phát triển + Tiêu cực : làm suy thoái nguồn tài nguyên, gây thảm họa thiên tai, lũ lụt….. • Phát triển tác động lên môi trường : + Tích cực : cải tạo môi trường tự nhiên , tạo kinh phí cần thiết cho sự cải tạo đó, thúc đẩy KHCN. + Tiêu cực : gây ô nhiễm môi trường do KHCN, tạo nguồn thải lớn gây ô nhiễm môi trường. Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường.( luật bvmt 2014 ) Ta thường thấy hai biểu hiện khá rõ rệt về tác động môi trường : Ô nhiễm do dư thừa cuả các tầng lớp giàu, các nước giàu trong việc sử dụng thức ăn, năng lượng và tài nguyên : 20% dân số thế giới hiện sử dụng 80% của cải và năng lượng loài người, 80% dân số còn lại chỉ sử dung 20% phần con lại Ô nhiễm do nghèo đói của người nghèo khổ, các nước nghèo với con đường phát triển duy nhất là khai thác tài nguyên thiên nhiên ( rừng, khoangs sản, nông nghiệp ). Đối với các quốc gia đang phát triển, con đường nghèo đói có thể minh họa trong một vòng khép kín Phá rừng Nghèo đói thiên tai, bệnh tật
Xem thêm

15 Đọc thêm

Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2002 – 2012 và định hướng đến năm 2030

ĐỀ TÀI PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH PHÚ THỌ GIAI ĐOẠN 2002 – 2012 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2002 – 2012 và định hướng đến năm 2030 Xuất phát từ những thực tế trên, nhận thấy việc tiến hành rà soát tài nguyên, đánh giá thực trạng và xây dựng giải pháp phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ là một việc làm cấp thiết. Chính vì lẽ đó, tôi lựa chọn đề tài “Phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2002 – 2012 và định hướng đến năm 2030” để nghiên cứu, những mong đánh thức được tiềm năng, và định hướng phát triển du lịch phù hợp với giai đoạn phát triển chung của du lịch Việt Nam. 2. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ 2.1. Mục đích của đề tài Trên cơ sở tổng quan cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển du lịch và vận dụng vào địa bàn nghiên cứu, mục đích chính của đề tài là đánh giá tiềm năng và thực trạng du lịch ở tỉnh Phú Thọ để từ đó đề xuất một số định hướng và giải pháp phát triển nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng du lịch tỉnh Phú Thọ đến năm 2030. 2.2. Nhiệm vụ của đề tài Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đã đề ra luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau đây: - Tổng quan cơ sở lý luận, thực tiễn phát triển du lịch các tỉnh vùng Trung du miền núi Bắc Bộ để vận dụng vào việc nghiên cứu tại địa bàn tỉnh Phú Thọ. - Kiểm kê, đánh giá những tiềm năng du lịch ở địa phương và phân tích thực trạng phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ. Từ đó làm sáng tỏ những lợi thế so sánh và hạn chế đối với việc tổ chức và phát triển du lịch của tỉnh. - Bước đầu định hướng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng du lịch tỉnh Phú Thọ 3. GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI - Về nội dung: Đề tài tập trung đánh giá tiềm năng và thực trạng hoạt động du lịch theo hai khía cạnh ngành và lãnh thổ (các tuyến, điểm với các sản phẩm đặc trưng) - Về phạm vi lãnh thổ: Phạm vi nghiên cứu là địa bàn toàn tỉnh Phú Thọ. Ngoài ra, đề tài còn mở rộng nghiên cứu sang các tỉnh lân cận để thấy được mối liên hệ và so sánh giữa các tỉnh trong vùng Trung du miền núi Bắc Bộ. - Về thời gian: Đề tài tập trung thu thập số liệu, phân tích và nghiên cứu chủ yếu trong giai đoạn 2002 – 2012 với định hướng đến năm 2030. 4. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 4.1. Ở Việt Nam Trong công cuộc đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động du lịch đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, mang lại nhiều lợi ích cho đất nước, đòi hỏi các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu cũng như các nhà quản lí phải chú ý đến việc hoạch định chiến lược phát triển du lịch. Nhận thức được tầm quan trọng nói trên, các nhà khoa học, đi đầu là một số nhà địa lí chuyên nghiệp hàng đầu của đất nước đã có công trình nghiên cứu rất có giá trị. Khởi phát theo hướng gắn du lịch với địa lí học là công trình của Vũ Tuấn Cảnh với đề tài khoa học cấp Bộ: “Tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam” (1991). Sau đó, năm 1995, các tác giả Vũ Tuấn Cảnh, Lê Thông đặt vấn đề về công tác quy hoạch phát triển du lịch trong bài báo đăng trên tạp chí Du lịch và Phát triển với tiêu đề “Một số vấn đề về phương pháp luận và phương pháp quy hoạch du lịch”. Các nhà địa lí Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ… đã giải quyết một số vấn đề quan trọng để định hướng phát triển ngành địa lí du lịch Việt Nam qua các công trình: “Cơ sở địa lý du lịch” – Nguyễn Minh Tuệ (1994); “Tổ chức lãnh thổ du lịch” – Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ (1999)… Không chỉ quan tâm tới những vấn đề chung của đất nước, các nhà khoa học cũng để tâm nghiên cứu phát triển du lịch cho các địa phương. Tiêu biểu như luận án tiến sĩ: “Tổ chức lãnh thổ du lịch thành phố Hải Phòng” – Nguyễn Thanh Sơn (1997); “Phát triển du lịch Thành phố Hồ Chí Minh với việc khai thác tài nguyên du lịch vùng phụ cận” – Đỗ Quốc Thông (2004); “Tổ chức lãnh thổ du lịch Hòa Bình trên quan điểm bền vững” – Phạm Lê Thảo (2006); luận văn thạc sĩ “Phát triển du lịch tỉnh Kon Tum trong xu thế hội nhập” – Thái Huỳnh Anh Chi (2010); và một số báo cáo có giá trị trên các tạp chí: Du lịch Việt Nam, Nghiên cứu kinh tế, Toàn cảnh sự kiện và dư luận. Nhìn một cách tổng quan, các công trình nghiên cứu về du lịch cũng như các hoạt động thực tiễn phát triển du lịch không chỉ có tầm quan trọng trong chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế của đất nước, mà còn là nguồn lực mới mẻ, mạnh mẽ tiếp sức cho khoa học địa lí gắn mình với thực tiễn cuộc sống của xã hội, đất nước, đem lại cơ hội mới cho địa lí học đổi mới và phát triển. 4.2. Ở Phú Thọ Với sự phát triển non trẻ của ngành du lịch tỉnh Phú Thọ, hiện nay, các công trình nghiên cứu về du lịch của tỉnh Phú Thọ mới chỉ dừng lại ở một số báo cáo như: “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Phú Thọ - 2001”; Sở Văn hóa – thể thao – du lịch tỉnh Phú Thọ đưa ra “Báo cáo tổng hợp quy hoạch phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2011 – 2020, định hướng đến năm 2030” tháng 11 – 2012. Một số luận văn tốt nghiệp cao học đã bước đầu nghiên cứu về tài nguyên du lịch và quy hoạch phát triển du lịch của tỉnh, tiêu biểu như luận văn thạc sĩ “Tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Phú Thọ” của Ngô Thị Thu Hằng năm 2012, đề tài tập trung vào việc đưa ra một số hình thức trong tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh (bao gồm điểm, cụm và tuyến du lịch) giai đoạn 2006 – 2011. Như vậy, việc tập trung đánh giá tiềm năng và thực trạng du lịch theo hai khía cạnh ngành và lãnh thổ chưa được nghiên cứu một cách sát đáng. 5. QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5.1. Quan điểm nghiên cứu 5.1.1. Quan điểm hệ thống Đây là quan điểm được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu du lịch. Theo quan điểm này, mỗi một đối tượng nghiên cứu được coi là một hệ thống có nhiều yếu tố cấu thành và có mối quan hệ mật thiết với nhau. Khi nghiên cứu một đối tượng phải đặt nó trong mối tương quan với các đối tượng khác, với các yếu tố trong hệ thống cao hơn cũng như với cấp phân vị thấp hơn. Với ý nghĩa đó, du lịch Phú Thọ được xem như một bộ phận của các hệ thống du lịch có quy mô lớn hơn và cấp phân vị cao hơn là hệ thống du lịch trung tâm du lịch Hà Nội và vùng phụ cận cũng như hệ thống du lịch vùng du lịch trung du miền núi Bắc Bộ và hệ thống du lịch cả nước. Như vậy, du lịch Phú Thọ với tư cách là một bộ phận của hệ thống cấp cao hơn phải vận động theo quy luật của toàn hệ thống và việc nghiên cứu đầy đủ các thuộc tính du lịch của hệ thống có giá trị thực tiễn để vận dụng vào tổ chức và kinh doanh du lịch. 5.1.2. Quan điểm tổng hợp Xuất phát từ chỗ coi hệ thống lãnh thổ du lịch là một hệ thống xã hội được tạo thành bởi các thành tố: Tự nhiên, văn hóa, lịch sử, con người có mối quan hệ qua lại gắn bó với nhau, do đó việc vận dụng quan điểm tổng hợp trong nghiên cứu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trên quan điểm đó, khi đánh giá về tài nguyên du lịch phải được xem xét một cách tổng hợp kể cả tài nguyên nhân văn và tài nguyên tự nhiên; cũng vậy trong quá trình khái quát về thực trạng hoạt động du lịch tỉnh Phú Thọ cũng phải phân tích các khía cạnh: Lượt khách, doanh thu, du lịch… Từ quan điểm tổng hợp để có thể nhìn nhận, đánh giá cách đối tượng du lịch một cách đồng bộ, hình thành nên các điểm, tuyến, khu du lịch hiệu quả, đạt được những giá trị đồng bộ về các mặt kinh tế - xã hội và môi trường. 5.1.3. Quan điểm lãnh thổ Quan điểm lãnh thổ cho rằng các đối tượng nghiên cứu được phân bố trên phạm vi không gian lãnh thổ nhất định và có đặc điểm riêng. Xem xét hoạt động du lịch trong mối quan hệ với đặc điểm lãnh thổ nhằm khái quát được đặc trưng của du lịch trên từng địa bàn nghiên cứu. Và để mang lại hiệu quả tổ chức kinh doanh du lịch, cần tìm ra sự khác biệt trong từng đơn vị lãnh thổ từ đó tạo ra được sản phẩm du lịch đặc trưng, khai thác được các thế mạnh, khắc phục những hạn chế. 5.1.4. Quan điểm lịch sử và viễn cảnh Phú Thọ là một vùng đất lưu giữ bề dày lịch sử và có nền văn hoá nguồn cội. Trải qua lịch sử phát triển hàng nghìn năm với bao thăng trầm, đến nay vùng đất này còn lưu giữ được những đặc điểm riêng biệt, đặc sắc về tự nhiên, văn hoá và con người. Những đặc điểm này đã được khai thác cho phát triển kinh tế nói chung, du lịch nói riêng của địa phương. Sử dụng quan điểm lịch sử để tìm hiểu nguồn gốc phát sinh, diễn biến quá trình khai thác, kết quả khai thác, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm để có được những nhận định, những phương án, những dự báo chính xác và giúp cho việc tổ chức du lịch trên địa bàn mang tính hiệu quả và bền vững. 5.1.5. Quan điểm phát triển bền vững Phát triển du lịch phải gắn với việc bảo vệ và tôn tạo nguồn tài nguyên, môi trường sinh thái bền vững. Từ đó đặt ra các kế hoạch và cơ chế quản lý phù hợp với việc khai thác các giá trị thiên nhiên, nhân văn sao cho môi trường cảnh quan tự nhiên và các khu danh thắng ít bị xâm hại bởi các hoạt động phát triển du lịch có tính nhạy cảm cao cả về tự nhiên và nhân văn. Phát triển du lịch nói riêng, quy hoạch du lịch nói chung cũng cần phải gắn với việc bảo vệ môi trường xã hội trong sạch. Cần có biện pháp tổ chức quản lý chặt chẽ để ngăn ngừa những ảnh hưởng tiêu cực từ các hoạt động du lịch đến môi trường văn hoá xã hội trên địa bàn lãnh thổ. 5.1.6. Quan điểm kinh tế Du lịch là một hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp, là ngành kinh tế tổng hợp liên quan đến nhiều yếu tố khác nhau, nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau của nền kinh tế xã hội. Trong quá trình phát triển của các điểm đến du lịch ngoài việc xuất hiện những tình huống về kỹ thuật còn có những tình huống về kinh tế - xã hội mà nếu không được giải quyết thấu đáo sẽ gây những hậu quả khó khắc phục. Chính vì vậy, phát triển du lịch vừa phải đưa ra những giải pháp khai thác có hiệu quả các tài nguyên du lịch tự nhiên và du lịch nhân văn của tỉnh vừa phải giải quyết được mối quan hệ của các ngành kinh tế có liên quan đến hoạt động du lịch, nhằm mục đích thúc đẩy phát triển kinh tế nhưng vẫn giữ được sự cân bằng giữa các vấn đề trong xã hội. 5.2. Phương pháp nghiên cứu của đề tài 5.2.1. Phương pháp thu thập, tổng hợp, xử lý phân tích tài liệu Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến ở tất cả các công trình nghiên cứu khoa học. Việc vận dụng phương pháp này nhằm đảm bảo tính kế thừa nghiên cứu của các công trình trước đó, giúp tiết kiệm thời gian và công sức, giúp chúng ta có cái nhìn tổng thể về đề tài nghiên cứu. Nguồn tài liệu được lấy từ nhiều đơn vị khác nhau: sách, báo, tạp chí khoa học, các Sở ban ngành có liên quan (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Tài nguyên và môi trường, Sở Kế hoạch và đầu tư, Cục Thống kê…), các phương tiện thông tin đại chúng… Các tài liệu này được bao gồm các tài liệu sơ cấp và tài liệu thứ cấp. Việc phân loại tài liệu giúp chúng ta dễ dàng tra cứu và cập nhật thông
Xem thêm

167 Đọc thêm

Chính sách đầu tư công thu hẹp khoảng cách các vùng

Chính sách đầu tư công thu hẹp khoảng cách các vùng

1. Sự mất cân bằng không gian Sự phát triển kinh tế giữa các khu vực luôn luôn có sự khác nhau vì nó phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố liên quan đến sự phân bố không gian. Đặc biệt là sự ra đời và phát triển của các sản phẩm mới thì càng bị phụ thuộc rõ ràng hơn . Có những khu vực có điều kiện thuận lợi hơn các khu vực khác. Vì vậy không phải ở đâu cũng có sự phát triển tốt. Có nghĩa là tính đồng đều và phát triển kinh tế là không đạt được. 1.1 Hai loại hình mất cân bằng Mất cân bằng tức là có khoảng cách đối với một chuẩn mực nhất định. So sánh sự phát triển giữa các vùng lãnh thổ khác nhau có rất nhiều chỉ số phản ánh sự mất cân bằng như tỷ lệ vong ở trẻ em, tỷ lệ trẻ em đến trường, tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ dân cư được dùng nước sạch, số gường bệnh trong các bệnh viện trên đầu người… Xét về khía cạnh kinh tế có hai loại hình mất cân bằng: Sự chênh lệch về thu nhập và mức sống Mất cân bằng về phân bố dân cư và phân bố các hoạt động kinh tế. Hai loại hình này mất cân bằng này có mối quan hệ mật thiết với nhau và song hành cùng nhau. Loại hình mất cân bằng thứ nhất dễ điều chỉnh hơn. Hai loại hình mất cân bằng này đều phải được xem xét nghiêm túc và đầy đủ khi hoạch định chính sách và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội cho các vùng lãnh thổ. 1.2 Lý do của sự mất cân bằng. 1.2.1 Sự phân bố các nguồn lực tự nhiên và nguồn lực nhân tạo Nguồn lực tự nhiên là những thành phần thuộc về tự nhiên, ví dụ như tài nguyên thiên nhiên, khoàng sản, đất đai, nguồn nước…Còn nguồn lực nhân tạo là những thứ con người tạo ra, ví dụ như lao động, nguồn vốn khoa học – kĩ thuật, cơ sở vật chất hạ tầng... Những tài nguyên thiên nhiên như dầu lửa, than đá, đất đai, nguồn nước…là những nhân tố thuận lợi cho sự phát triển kinh tế. Sự phân bố các nguồn tài nguyên này không đồng đều. Ở những khu vực được thiên nhiên ưu đãi thì kinh tế và đời sống của người dân tốt hơn rất nhiều. Tuy nhiên cần nhận thức một vấn đề là nguồn lực tài nguyên sẽ dần cạn kiệt và không tạo được. Sự phân bố nguồn lực nhân tạo có vai trò quan trọng hơn trong việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế vùng. Hà Nội – diện tích 3328,9 km2 , dân số 7.500.000 người (năm 2015), đồng bằng, có sông Hồng bồi đắp đất đai màu mỡ, có 4 mùa quanh năm, CSVC hạ tầng hiện đại, dân trí cao, dân tộc Kinh. Hà Nội có vị trí địa lý chính trị quan trọng, là đầu não chính trị hành chính Quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế; là đầu mối giao thương bằng đường bộ, đường sắt, đường hàng không và đường sông đồng bằng, thấp dần từ tỏa đi các vùng khác trong cả nước và đi quốc tế.. Tài nguyên chủ yếu là: Tài nguyên nước mặt, tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên sinh vật Lào Cai Diện tích: 6.383,9 km² Dân số: 626.2 nghìn người (2010) Dân tộc: 25 dân tộc sinh sống: Việt (Kinh), H’Mmông, Tày, Dao, Thái... , là tỉnh vùng núi phía Bắc, không khí lạnh, núi, CSVC khó khăn, Rừng: 278.907 ha, chiếm 43,87% tổng diện tích tự nhiên, trong đó có 229.296,6 ha rừng tự nhiên và 49.604 ha rừng trồng, rất phong phú cả về số lượng loài và tính điển hình của thực vật. Khoáng sản: Lào Cai đã phát hiện được 150 mỏ và điểm mỏ với trên 30 loại khoáng sản, trong đó có một số mỏ chất lượng thuộc loại quy mô lớn nhất nước và khu vực như: mỏ apatit , mỏ sắt, mỏ, mỏ Molipden =>Thuận lợi cho ngành khai khoáng và khai thác gỗ
Xem thêm

Đọc thêm

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI TẠI XÃ THỌ THẮNG HUYỆN THỌ XUÂN TỈNH THANH HÓA

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI TẠI XÃ THỌ THẮNG HUYỆN THỌ XUÂN TỈNH THANH HÓA

MỞ ĐẦUĐất đai là sản phẩm của tự nhiên, là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt của nghành nông lâm nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố dân cư, là nền tảng xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng.Mặc dù giữ vai trò vô cùng quan trọng, là tài sản vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là nhu cầu cần thiết của mọi nghành và mọi người nhưng đất đai lại là nguồn tài nguyên có hạn và không tái tạo được. Trong khi đó, sự tác động của thiên nhiên và quá trình sử dụng đất của con người có thể làm cho đất đai bị biến động về cả bề mặt lẫn độ phì nhiêu theo cả hai chiều “ tốt” và “ xấu”. Vì vậy để bảo vệ đất đai nhằm đảm bảo cho việc khai thác sử dụng đất đai có hiệu quả cả trước mặt và lâu dài thì chúng ta phải đề ra chiến lược quản lý đất đai một cách chặt chẽ và hợp lý.Hơn nữa, quá trình phát triển kinh tế, quá trình đô thị hoá làm cho mật độ dân cư ngày càng tăng. Chính sự gia tăng dân số, sự phát triển đô thị và quá trình công nghiệp hoá làm cho nhu cầu về nhà ở cũng như đất xây dựng các công trình công cộng, khu công nghiệp trong cả nước vốn đã “bức xúc” nay càng trở nên “nhức nhối” hơn. Đây là vấn đề nan giải không chỉ với nước ta mà còn với các nước đang phát triển và phát triển trên thế giới. Để giải quyết vấn đề này, mỗi quốc gia đều xây dựng cho mình những chương trình, kế hoạch, chiến lược riêng phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện của mình để sử dụng đất đai được hợp lý, hiệu quả, tiết kiệm. Đặc biệt là đối với nước ta một đất nước mà quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá đang diễn ra mạnh mẽ trên khắp cả nước. Từ năm 1945 khi thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà cho đến nay, trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, Nhà nước ta luôn quan tâm thích đáng đến vấn đề đất đai và đã ban hành, đổi mới Luật đất đai: Luật đất đai 1988, Luật đất đai năm 1993; Luật sửa đổi và bổ sung một số điều của Luật đất đai 1993 năm 1998, năm 2001; Luật đất đai năm 2003; Đặc biệt, Luật đất đai năm 2013 được Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2013 chính thức có hiệu lực ngày 0172014 đã từng bước đưa pháp luật đất đai phù hợp với thực tế quản lý và sử dụng đất. Các văn bản, Thông tư, Nghị định…đi kèm đã giúp rất nhiều cho việc nắm chắc, quản lý chặt chẽ quỹ đất đai của quốc gia cũng như phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế đất nước trong thời kỳ đổi mới. Công tác quản lý Nhà nước về đất đai với 15 nội dung được ghi nhận tại điều 22 của Luật đất đai năm 2013, đây là cơ sở pháp lý để Nhà nước tăng cường quản lý chặt chẽ nguồn tài nguyên của quốc gia cũng như để người sử dụng đất yên tâm sử dụng và khai thác tiềm năng từ đất mang lại.Tuy nhiên, tồn tại chung của ngành quản lý đất đai nước ta là tình trạng nắm không chắc quản không chặt nguồn tài nguyên này, vấn đề ô nhiễm tràn lan ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng đất đai và khả năng sử dụng đất. Mà mục tiêu của quản lý và sử dụng đất hiện nay là đạt hiệu quả bền vững trên 3 mặt: kinh tế xã hội môi trường.Với tầm quan trọng của đất đai như vậy, và để hiểu rõ hơn công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn xã Thọ Thắng, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa, được sự phân công của khoa Quản lý đất đai – Trường Đại Học Tài nguyên và môi trường Hà Nội và sự hướng dẫn trực tiếp của cô giáo –TS Nguyễn Thị Hải Yến – Trưởng bộ môn quản lý đất đai, tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu đề tài: “Đánh giá kết quả thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về đất đai tại xã Thọ Thắng huyện Thọ Xuân tỉnh Thanh Hóa.”
Xem thêm

68 Đọc thêm

Xây dựng hệ thống thông tin quản lý trang thiết bị trên Web

XÂY DỰNG HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN LÝ TRANG THIẾT BỊ TRÊN WEB

Bước vào thế kỷ 21, Thế giới chuyển sang nền kinh tế tri thức, với sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghệ thông tin. Công nghệ thông tin đã tác động đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: từ các hoạt động vui chơi giải trí, văn hoá thể thao, đến các hoạt động kinh tế, an ninh quốc phòng. Trong xã hội ngày nay thông tin đã thực sự trở thành nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng, nguồn của cải to lớn. Các quan hệ, tính trật tự và tổ chức là những thuộc tính phổ biến của mọi hệ thống kinh tế xã hội. Hệ thống càng phát triển thì càng có nhiều yếu tố hợp thành và có mhiều mối quan hệ giữa chúng, điều này dẫn đến trật tự thông tin càng phức tạp và do đó nội dung càng thêm phong phú, đến mức không thể xử lý được bằng các phương pháp “cổ điển”. Để xử lý được lượng thông tin lớn như vậy tức là khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên quan trọng này đòi hỏi phải có những phương pháp, công cụ mới mạnh mẽ hơn. Công nghệ thông tin phát triển đã cung cấp cho chúng ta những phương tiện đó. Xã hội càng phát triển thì nhu cầu ứng dụng Công nghệ thông tin (Tin học) càng lớn, thành tựu trong nghiên cứu, chế tạo công nghệ thông tin đã tác động ngược trở lại giúp cho con người làm việc có hiệu quả hơn, thay thế rất nhiều cho sức lao động của con người. Việc ứng dụng Tin học là nhằm thực hiện với năng suất và hiệu quả cao trong việc xử lý thông tin phức tạp trong quá trình điều tra, nghiên cứu, điều khiển, quản lý kinh doanh…tổ chức và khai thác hệ thống Tin học ở mọi mức độ. Ứng dụng tin học vào cuộc sống, nó đã làm thay đổi to lớn trong lực lượng sản xuất, cơ sở hạ tầng, cấu trúc nền kinh tế, tính chất lao động và cách thức quản lý kinh tế xã hội nói chung. Do vậy, bất kỳ một tổ chức nào muốn tồn tại và phát triển trong thời đại ngày nay cũng cần phải biết nắm bắt, ứng dụng Công nghệ thông tin để quản lý và khải thác có hiệu quả nguồn tài nguyên thông tin của tổ chức mình một cách hiệu quả. Như Bill Gate đã nói: “thời đại ngày nay là thời đại thông tin qua đầu ngón tay”, có nghĩa là mọi người ở bất kỳ đâu cũng có thể giao tiếp với nhau,tìm kiếm thông tin trên toàn Thế giới chỉ cần một máy tính nối mạng Internet. Ngày nay, Công nghệ thông tin đang phát triển theo xu hướng tích hợp các công nghệ hệ thống mạng. Các công ty hoạt động trong lĩnh vực Công nghệ thông tin đều hướng các sản phẩm của mình hỗ trợ hệ thống mạng. Trong quá trình thực tập taị Trung tâm Công nghệ thông tin Ngân hàng Công thương Việt Nam, được sự hướng dẫn của thầy TS. Hàn Viết Thuận và anh Tô Hải Châu, cùng toàn thể anh chị trong phòng Nghiên cứu và phát triển em đã chọn đề tài “Xây dựng hệ thống thông tin quản lý trang thiết bị trên Web“ là chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình. Nội dung chính của chuyên đề gồm những phần sau: Phần I: Tổng quan về Trung tâm Công nghệ thông tin Ngân hàng công thương Việt Nam. Phần II: Một số vấn đề về phương pháp luận trong việc Phân tích, thiết kế và cài đặt hệ thống Phần III: Xây dựng hệ thống thông tin quản lý trang thiết bị trên Web Em xin chân thành cảm ơn thầy TS. Hàn Viết Thuận, anh Tô Hải Châu trưởng phòng Nghiên cứu và phát triển, chị Hồng Anh trưởng phòng Tích hợp hệ thống, anh Hoàng, anh Trọng, anh Lâm, chị Hường đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này.
Xem thêm

77 Đọc thêm

Tiểu luận môn pháp luật với quản lý xã hội tìm hiểu pháp luật về bảo vệ môi trường và góp phần làm rõ vai trò của pháp luật về các vấn đề xã hội trong quản lý xã hội ở nước ta hiện nay

Tiểu luận môn pháp luật với quản lý xã hội tìm hiểu pháp luật về bảo vệ môi trường và góp phần làm rõ vai trò của pháp luật về các vấn đề xã hội trong quản lý xã hội ở nước ta hiện nay

PHẦN MỞ ĐẦU Yêu cầu phát triển bền vững đòi hỏi Việt Nam tập trung xây dựng chiến lược, kế hoạch, chính sách, pháp luật và chương trình hành động quốc gia để các nhu cầu xã hội, môi trường và kinh tế được tổng hoà và đáp ứng một cách cân đối với nhau. Nghị quyết Đại hội Đảng cộng sản toàn lần thứ IX, khẳng định:‘‘Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” và ‘‘Phát triển kinh tế xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hoà giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn đưa dạng sinh học”.Điều này đặt ra yêu cầu tìm hiểu về vai trò của pháp luật trong giải quyết các vấn đề xã hội trong quản lý xã hội trong thời kỳ mới. Đất nước Việt Nam trải dài từ Bắc đến Nam, có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đất đai màu mỡ, địa hình đa dạng và tiềm năng kinh tế biển to lớn. Tuy vậy, với dân số trên 80 triệu người (đứng hàng thứ 14 trên thế giới), Việt Nam đang đứng trước những thách thức về tài nguyên thiên nhiên và môi trường, các hệ sinh thái đang suy thoái ở mức độ nghiêm trọng. Tình hình gia tăng dân số, thâm canh nông nghiệp, nhất là quá trình đô thị hóa trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đang ảnh hưởng lớn đến tài nguyên môi trường. Cần phải có những giải pháp để phát triển bền vững, ổn định tối đa tài nguyên, bảo vệ môi trường, bảo vệ thiên nhiên và đa dạng sinh học đang là vấn đề cấp thiết đặt ra hiện nay. Theo ước tính của Tổng cục Môi trường Bộ Tài nguyên và Môi trường” Tổng thiệt hại kinh tế của nước ta do ô nhiễm môi trường gây ra trong thời gian qua chiếm từ 1,53% GDP. Hầu hết môi trường từ đất, nước, không khí, các khu dân cư, khu công nghiệp từ thành thị đến nông thôn đã và đang bị xuống cấp, trở thành vấn đề bức xúc của toàn xã hội. Xuất phát từ tầm quan trọng của môi trường và thực trạng môi trường hiện nay, xuất phát từ vai trò của pháp luật với vấn đề xã hội nói chung và vấn đề bảo vệ môi trường nói riêng cho thấy pháp luật về bảo vệ môi trường là một công cụ hữu hiệu để quản lý và bảo vệ môi trường. Trong thời gian qua, pháp luật về bảo vệ môi trường ở nước ta từng bước được xây dựng và hoàn thiện góp phần quan trọng vào việc điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan trực tiếp tới lĩnh vực môi trường. Thực tiễn đã cho thấy vị trí, vai trò của pháp luật đối với sự nghiệp bảo vệ môi trường là công cụ đảm bảo thực hiện cho các biện pháp bảo vệ môi trường khác. Tuy nhiên, hiện tượng vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường vẫn diễn ra phổ biến với tính chất và mức độ khác nhau; môi trường ở nhiều nơi tiếp tục bị xuống cấp đến mức báo động. Việc xây dựng pháp luật về bảo vệ môi trường còn chậm, thực hiện chưa nghiêm, hiệu quả chưa cao. Thực trạng ô nhiễm và suy thoái môi trường ở nước ta hiện nay do nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó có lý do từ chính bản thân hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường còn những bất cập, hạn chế nhất định rất cần được nghiên cứu, xây dựng cho hoàn thiện hơn. Do vậy, việc nghiên cứu để: “Tìm hiểu pháp luật về bảo vệ môi trường và góp phần làm rõ vai trò của pháp luật về các vấn đề xã hội trong quản lý xã hội ở nước ta hiện nay” sẽ tìm hiểu về pháp luật bảo vệ môi trường qua đó góp phần làm rõ vai trò của pháp luật về các vấn đề xã hội trong quản lý xã hội ở nước ta hiện nay.
Xem thêm

Đọc thêm

GIÁO DỤC sử DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM VÀ CÓ HIỆU QUẢ

GIÁO DỤC SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM VÀ CÓ HIỆU QUẢ

GIÁO DỤC SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM VÀ CÓ HIỆU QUẢĐồng Nai, ngày 19 tháng 01 năm 2011Nhóm thực hiện:Lưu Quang Ban – Trương Công Đức – Trần Văn SơnPHẦN MỘTNHỮNG VẤN ĐỀ CHUNGI. NĂNG LƯỢNG VÀ VAI TRÒ CỦA NĂNG LƯỢNG ĐỐI VỚI CON NGƯỜI 1.1 Năng lượng Theo Từ điển bách khoa Việt Nam: Năng lượng là độ đo định lượng chung cho mọi dạng vận động khác nhau của vật chất. Theo Từ điển tiếng Việt và Từ điển vật lý phổ thông: Năng lượng là đại lượng vật lý đặc trưng cho khả năng sinh công của một vật. Theo Nghị định số 1022003NĐCP của chính phủ về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả thì năng lượng được hiểu là dạng vật chất có khả năng sinh công.1.2 Các dạng năng lượng: Việc phân loại phụ thuộc vào mục đích khác nhau.1.2.1 Phân loại theo vật lý kĩ thuật: cơ năng, nội năng, điện năng, quang năng, hóa năng, năng lượng hạt nhân.1.2.2 Phân loại theo nguồn gốc năng lượng: Năng lượng vật chất chuyển hóa toàn phần gồm NL từ nhiên liệu hóa thạch và NL từ nguyên liệu nguyên tử. Năng lượng tái sinh là năng lượng có thể phục hồi theo chu trình biến đổi của thiên nhiên. Năng lượng không tái sinh là năng lượng không phục hồi khi khai thác và sử dụng. Năng lượng sinh khối sinh ra do đốt hoặc chuyển đổi nhiệt hóa học từ vật liệu có nguồn gốc hữu cơ. Năng lượng cơ bắp.1.2.3 Phân loại theo dòng biến đổi năng lượng: Năng lượng sơ cấp là nguồn năng lượng có sẵn trong thiên nhiên như than, dầu thô, khí tự nhiên, năng lượng nguyên tử, thuỷ năng, củi gỗ.... Năng lượng thứ cấp là nguồn năng lượng đã được chuyển đổi từ những năng lượng khác như điện năng, hơi nước của lò hơi, sản phẩm cracking dầu mỏ.... Năng lượng cuối cùng là năng lượng sau khâu truyền tải, vận chuyển được cấp tới nơi tiêu thụ, người sử dụng. Năng lượng hữu ích là năng lượng cuối cùng được sử dụng sau khi bỏ qua các tổn thất của thiết bị sử dụng năng lượng.1.3 Sự bảo toàn và chuyển hóa năng lượng.Năng lượng có thể chuyển hoá từ dạng này sang các dạng khác, song trong một hệ kín năng lượng có giá trị không đổi. Trong tự cũng như trong kỹ thuật có rất nhiều hiện tượng ở đó diễn ra các quà trình chuyển hoá năng lượng như: Cơ năng thành nhiệt.Cơ năng thành điện.Quang năng thành điện.Điện năng thành các dạng khác.Trong kĩ thuật người ta thường vận dụng định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng để phân tích các quá trình sử dụng năng lượng, từ đó tìm ra phương thức sử dụng năng lượng sao cho hiệu quả nhất.1.4 Vai trò của năng lượng đối với con người.1.4.1. Tình hình sử dụng năng lượng trong đời sống và trong sản xuất:Năng lượng có vai trò sống còn đối với cuộc sống con người, nó quyết định sự tồn tại, phát triển và chất lượng cuộc sống con người. Ngày nay, có thể thấy rõ các vấn đề khủng hoảng năng lượng thường có tác động rất lớn tới kinh tế và xã hội của các nước trên thế giới. Do vậy, nhiều nước đã đưa vấn đề năng lượng thành quốc sách, đặt thành vấn đề “an ninh năng lượng” đối với sự phát triển quốc gia.Tình hình sử dụng năng lượng hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam như sau:Nhu cầu năng lượng càng cao do nhu cầu tăng trưởng kinh tế, phát triển các ngành sản xuất công nghiệp, giao thông vận tải và nhu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống.Nguồn năng lượng được sử dụng chủ yếu vẫn là các nguồn năng lượng hoá thạch như: than đá, dầu, khí tự nhiên.Điện năng là dạng năng lượng có nhiều ưu điểm vì nó dễ dàng chuyển hoá từ các dạng năng lượng khác khi sảng xuất điện năng. Đồng thời khi sử dụng nó cũng dễ dàng chuyển hoá thành các dạng năng lượng khác. Vì vậy việc sản xuất và sử dũng điện năng có ý nghĩa quan trọng trong chiến lượt năng lượng của mỗi quốc gia.1.4.2. Sự cạn kiệt các nguồn năng lượng hoá thạch:Việc gia tăng khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên năng lượng như hiện nay trên thế giới cũng như năng lượng đã dẫn đến nguồn tài nguyên năng lượng không tái sinh như than, dầu lửa, khí đốt đang bị cạn kiệt. Dân số toàn cầu hiện nay đã hơn 6 tỉ người. Muốn duy trì sự phát triển của xã hội cần khai thác được các nguồn tài nguyên lớn trong đó có tài nguyên năng lượng. Việc tiếp tục thăm dò có thể phát hiện thêm các nguồn năng lượng than, dầu, khí mới. Tuy nhiên về lâu dài, các nguồn năng lượng hoá thạch sớm muộn sẽ cạn kiệt, việc thiếu hụt năng lượng cho nền kiinh tế và đời sống là một thách thức thật sự.1.4.3. Ảnh hưởng của việc khai thác và sử dụng năng lượng đến môi trường:Các nguồn năng lượng hoá thạch thường nằm sâu trong lòng đất. Vì vậy, việc khai thác chúng thường phải xây dựng hầm lò (trong khai thác than), tiến hành việc khoan, bơm qui mô lớn (khai thác dầu khí)Việc khai thác và sử dụng các nguồn nguyên liệu hóa thạch có quy mô càng lớn thì càng ảnh hưởng đến môi trường sinh thái và làm gia tăng hiệu ứng nhà kính là một trong những nguyên nhân chủ yếu tác động đến môi trường trên trái đất.Ở Việt Nam, các biểu hiện và hậu quả biến đổi khí hậu Trái đất đã bộc lộ ngày càng rõ: Thời tiết bất thường, bão lũ và khô hạn thường xuyên hơn ….II. XU HƯỚNG SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, HIỆU QUẢ Ở VIỆT NAM VÀ TRÊN THẾ GIỚI 2.1 Khái niệm tiết kiệm, hiệu quả.
Xem thêm

22 Đọc thêm

GDCD 11 bài 12 chính sách tài nguyên và bảo vệ môi trường

GDCD 11 BÀI 12 CHÍNH SÁCH TÀI NGUYÊN VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

Hoạt động 1: Sử dụng phương pháp thuyết trình, đàm thoại kết hợp với trực quan để tìm hiểu mục tiêu cơ bản của chính sách tài nguyên và bảo vệ môi trường. GV cho HS xem một số hình ảnh về sự đa dạng, phong phú của tài nguyên thiên; một số hình ảnh về môi trường bị tàn phá, ô nhiễm, tài nguyên bị khai thác cạn kiệt, bừa bãi. GV: Môi trường và tài nguyên thiên nhiên nước ta rất phong phú và đa dạng, góp phần tạo nên nét đẹp, sự phong phú của đất nước. Tuy nhiên, môi trường và tài nguyên thiên nhiên nước ta cũng đang đứng trước những thách thức đáng lo ngại đó là sự cạn kiệt về tài nguyên, ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và đáng quan tâm hơn hết là vấn đề biến đổi khí hậu (sự nóng lên của Trái Đất, hiệu ứng nhà kính, băng tan, bão, lụt, hạn hán, ...). Để giải quyết những vấn đề trên, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra những mục tiêu cơ bản để bảo vệ tài nguyên và môi trường, chúng ta cùng tìm hiểu mục 2. GV yêu cầu học sinh làm việc với SGK, liệt kê những mục tiêu cơ bản của chính sách tài nguyên và bảo vệ môi trường. HS trả lời: GV nhận xét, kết luận và ghi bảng: Ở mỗi mục tiêu, GV giải thích, đặt câu hỏi và lấy ví dụ để học HS hiểu. + Đối với mục tiêu “Sử dụng hợp lý tài nguyên”: Sử dụng hợp lý tức là khai thác tài nguyên phải tiết kiệm đối với các tài nguyên không thể phục hồi (khoáng sản, than đá, dầu mỏ, ...), tăng cường khai thác các tài nguyên vô tận (năng lượng nước, năng lượng gió, năng lượng mặt trời, ...), tận thu và tái sử dụng các nguyên liệu phế thải. Tất cả nhằm khai thác tối đa giá trị cũng như lợi ích kinh tế xã hội của tất cả các loại tài nguyên thiên nhiên trên đất nước ta; vừa đáp ứng nhu cầu sử dụng tài nguyên cho xã hội hiện tại, đồng thời đảm bảo duy trì lâu dài nguồn tài nguyên cho các thế hệ mai sau. + Đối với mục tiêu “Bảo vệ môi trường”: GV hỏi: Theo em, để bảo vệ môi trường chúng ta cần làm gì? HS trả lời: GV nhận xét, bổ sung:
Xem thêm

12 Đọc thêm

Đánh giá phần mềm ELIS và TMV LIS trong công tác xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính

ĐÁNH GIÁ PHẦN MỀM ELIS VÀ TMV LIS TRONG CÔNG TÁC XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐỊA CHÍNH

Đất đai là một loại tài nguyên thiên nhiên đặc biệt có mối quan hệ chặt chẽ với hầu hết các yếu tố kinh tế, chính trị, có ý nghĩa thiết thực và quan trọng đối với các hoạt động sản suất, kinh doanh, sinh hoạt và phát triển không chỉ giới hạn một cá nhân, một đơn vị hành chính và còn là của cả một nền kinh tế, của tất cả các quốc gia. Trong giai đoạn hiện nay, sử dụng đất đai đang là nhu cầu thiết yếu ngày càng tăng của con người, kéo theo đó là yêu cầu về sự quản lý chặt chẽ và có hệ thống của Nhà nước nhằm mục đích sử dụng hiệu quả và bền vững nguồn tài nguyên hữu hạn này. Ngày 30 tháng 10 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định phê duyệt Dự án “Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai” giao cho Bộ Tài nguyên và Môi trường làm cơ quan chủ quản và Tổng cục Quản lý đất đai làm chủ đầu tư. Thời gian thực hiện Dự án từ năm 2012 đến 2018 theo quy định tại Quyết định số 1892QĐTTg, ngày 14 tháng 12 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Đề án nâng cao năng lực quản lý nhà nước ngành quản lý đất đai giai đoạn 2011 2020”. Xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai bao gồm các cơ sở dữ liệu thành phần sau: Cơ sở dữ liệu địa chính; Cơ sở dữ liệu quy hoạch sử dụng đất; Cơ sở dữ liệu giá đất; Cơ sở dữ liệu thống kê, kiểm kê đất đai.Trong đó cơ sở dữ liệu địa chính là thành phần cơ bản của cơ sở dữ liệu đất đai, làm cơ sở để xây dựng và định vị không gian các cơ sở dữ liệu thành phân khác. Hiện nay ở Việt Nam có 3 bộ phần mềm đủ điều kiện ứng dụng trong công tác xây dựng và khai thác cơ sở dữ liệu đất đai được Bộ Tài nguyên và Môi trường thông qua là phần mềm VILIS, ELIS và TMV.LIS. Trên cơ sở đó, tôi đã lựa chọn đề tài:“Đánh giá phần mềm ELIS và TMV.LIS trong công tác xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính”
Xem thêm

98 Đọc thêm

Đồ án tốt nghiệp: ĐÁNH GIÁ CÁC ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN PHỤC VỤ ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT CỦA XÃ THANH TÂN – HUYỆN THANH LIÊM – TỈNH HÀ NAM ĐẾN NĂM 2020

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP: ĐÁNH GIÁ CÁC ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN PHỤC VỤ ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT CỦA XÃ THANH TÂN – HUYỆN THANH LIÊM – TỈNH HÀ NAM ĐẾN NĂM 2020

1. Tính cấp thiết của đề tài Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của sự sống, là địa bàn phân bố dân cư, phát triển dân sinh và xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh quốc phòng. Nhưng đất đai là tài nguyên không thể tái tạo được, nó cố định về vị trí và giới hạn về không gian. Với vai trò đặc biệt quan trọng đó thì việc sử dụng và bảo vệ đất hiệu quả là điều rất cần thiết và cấp bách. Nhưng hiện nay, với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế, đời sống con người ngày càng nâng cao thì nhu cầu của con người về đất đai ngày càng lớn. Điều này đẫn đến tình trạng đất đai bị khai thác và sử dụng một cách bừa bãi, môi trường đất bị hủy hoại. Trước thực trạng này, việc quy hoạch sử dụng đất là cần thiết hơn bao giờ hết. Nó không những tổ chức lại việc sử dụng đất, mà còn hạn chế sự chồng chéo gây lãng phí đất đai, tránh tình trạng chuyển mục đích tùy tiện, ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực, tranh chấp, lấn chiếm, hủy hoại đất, phá vỡ sự cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trường dẫn đến nhưỡng tổn thất hoặc kìm hãm sản xuất, phát triển kinh tế xã hội và các hậu quả khó lường về bất ổn chính trị, an ninh quốc phòng của từng địa phương, đặc biệt là trong thời kì phát triển kinh tế thị trường. Thanh Tân là xã có nền kinh tế khá trong huyện Thanh Liêm. Cơ cấu nền kinh tế đang có sự chuyển dịch từ nông nghiệp sang công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ. Trong những năm qua, bộ mặt của xã đã có sự thay đổi nhưng vẫn còn hạn chế như mức độ phát triển chưa cao, chưa đồng bộ, hài hòa giữa các mặt kinh tế, văn hóa và môi trường. Điều này cho thấy xã chưa thực hiện tốt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội cũng như quy hoạch sử dụng đất. Từ thực tế này, được sự phân công của khoa Quản lý đất đai – Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội cũng như sự đồng ý cả UBND xã Thanh Tân, tôi thực hiện đề tài “Đánh giá các điều kiện cơ bản của xã Thanh Tân phục vụ định hướng quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020”
Xem thêm

97 Đọc thêm

Báo cáo thực tập sinh thái rừng

BÁO CÁO THỰC TẬP SINH THÁI RỪNG

Giữa sinh vật, con người và môi trường có mối quan hệ chặt chẽ mà nếu ta biết vận dụng chúng theo quy luật phát triển bền vững và cân bằng sinh thái thì mới có khả năng duy trì và phát triển hiệu quả mối quan hệ này đối với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội đi đôi với môi trường. Sinh thái học là khoa học về quan hệ của sinh vật hoặc một nhóm sinh vật với môi trường xung quanh, hay là khoa học về quan hệ qua lại giữa sinh vật và môi trường của chúng. Trong đó, rừng cũng góp phần quan trọng trong việc bảo vệ môi trường sống của chúng ta.
Xem thêm

30 Đọc thêm

Giải pháp kết hợp giữa cân bằng sinh thái với phát triển kinh tế tạo nên sự phát triển bền vững

GIẢI PHÁP KẾT HỢP GIỮA CÂN BẰNG SINH THÁI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẠO NÊN SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Thế giới đã bước vào thế kỷ XXI Một thế kỷ của những vấn đề môi trường sinh thái. Nó là mối quan tâm, lo lắng chung của toàn nhân loại, đồng thời cũng là đối tượng nghiên cứu của nhiều khoa học, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau. Tài nguyên thiên nhiên là một yếu tố quyết định của môi trường đối với hoạt động kinh tế. Nó cấu thành các nguồn lực vật chất nguyên thuỷ cho hoạt động kinh tế. Dường như khi loài người xuất hiện thì sự tiến hoá của giới tự nhiên đã sẵn sàng những tài nguyên cần thiết để xã hội loài người sinh thành và phát triển. Giới tự nhiên ở tầng vũ trụ là vô hạn nhưng trong phạm trù môi trường thì nó là một hữu hạn. Trong khái niệm tài nguyên thiên nhiên, tức là đối tượng của lao động sản xuất, thì giới tự nhiên cũng có một phạm vi xác định nhỏ bé. Những nguồn vật chất tự nhiên làm thành tài nguyên cho con người sử dụng vào trong sinh hoạt đời sống, vào trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất trước bộ máy công nghiệp lớn mạnh lại càng là một giới hạn chật hẹp. Hơn nữa sự kết hợp các nguyên tố tự nhiên trong quá trình tiến hoá để hình thành nên những tài nguyên cần thiết cho sinh hoạt đời sống và sản xuất là một quá trình lịch sử lâu dài và ở trong những hoàn cảnh nhất định. Thời gian mà con người và xã hội loài người được sinh ra cho tới nay là một khoảnh khắc lịch sử ngắn ngủi so với toàn bộ lịch sử sinh thành của các tài nguyên có trên trái đất hợp thành môi trường sống và phát triển của loài người. Vậy là trong nền sản xuất xã hội, trong sự phát triển kinh tế của nhân loại chứa đựng một mâu thuẫn: một mặt giới tự nhiên giữ một chìa khoá của sự phát triển. Đây là chiếc chìa khoá của các kho vật liệu cho sản xuất của nhân loại, nhưng lại là một cái kho hữu hạn. Mặt khác trong khi theo đuổi các mục tiêu của cuộc sống con người đã tăng sức sản xuất tạo ra bộ máy công nghiệp, con người đã tăng vô hạn sức sản xuất, thì đồng thời con người đã tăng vận tốc trên con đường đi tới những giới hạn của bản thân sản xuất. Nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình chuyển từ kinh tế nông nghiệp chậm phát triển sang kinh tế phát triển hiện đại một cách rút ngắn. Quá trình này được thúc đẩy bởi ba làn sóng công nghiệp, nông nghiệp, và làn sóng phát triển hiện đại. Dưới tác động của kinh tế thị trường, công nghiệp mở cửa, hội nhập tiến trình phát triển của thế giới Việt Nam có mức tăng trưởng khá cao. Nhưng sự tăng trưởng này mới chỉ đi đôi với việc tăng cường khai thác các tài nguyên. Hệ kinh tế thị trường đòi hỏi hoạt động kinh tế đạt hiệu quả tối đa trên cơ sở tăng năng suất và tiết kiệm tối đa chi phí sản xuất. Các nhà sản xuất chạy theo lợi nhuận và ít quan tâm nhiều đến môi trường, tính chưa hợp lý gây ra tổn thương đến môi trường chưa đạt đến mức nghiêm trọng và có cả khả năng khắc phục được. Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã xác định đường lối chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nước ta là phải gắn kết phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế bền vững với cân bằng sinh thái và bảo vệ, cải thiện môi trường. Đây là một vấn đề lớn có tính vùng, miền, quốc gia, quốc tế. Để kết hợp được hai mục tiêu tăng trưởng phát triển kinh tế bền vững với mục tiêu cân bằng sinh thái cần có được sự nỗ lực của toàn cộng đồng, của mọi quốc gia. Và đây là vấn đề đặt ra cho thời đại và các thế hệ tương lai. Tôi xin chân thành cảm ơn giáo viên: Phạm Thành đã nhiệt tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi hoàn thành đề án này. Với hạn chế là một sinh viên năm thứ hai nên tôi còn rất nhiều thiếu sót trong nội dung và cách trình bày đề án. Tôi rất mong nhận được những đóng góp ý kiến của mọi người về bài viết của tôi. Sinh viên thực hiện Nguyễn Thị Thanh Giang
Xem thêm

43 Đọc thêm

Đánh giá cảnh quan phục vụ mục đích phát triển nông lâm nghiệp bền vững huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình

ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN PHỤC VỤ MỤC ĐÍCH PHÁT TRIỂN NÔNG LÂM NGHIỆP BỀN VỮNG HUYỆN YÊN THỦY, TỈNH HÒA BÌNH

1. Tính cấp thiết của đề tài Trong bối cảnh lịch sử đất nước hiện nay với yêu cầu cấp bách của vấn đề phát triển kinh tế xã hội (KTXH) hiệu quả nhằm đưa đất nước ta tiến lên xây dựng nền kinh tế vững mạnh, thoát khỏi sự lạc hậu so với các nền kinh tế trên thế giới. Muốn làm được điều đó chúng ta phải tăng cường phát huy những lợi thế nội lực và tranh thủ ngoại lực. Lợi thế về nội lực của chúng ta là những điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên sẵn có, nền kinh tế đã và đang tạo dựng, xã hội với nguồn lao động, thị trường, truyền thống văn hóa,… Tất cả những yếu tố nội lực là sức mạnh quyết định sự thành công của công cuộc xây dựng tổ quốc. Trong các yếu tố nội lực đó thì điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên là một trong những yếu tố có tầm quan trọng hàng đầu. Vấn đề sử dụng hợp lí các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, khai thác có hiệu quả các nguồn lực tự nhiên là vô cùng quan trọng và cần thiết nó chính là vấn đề sống còn của mỗi quốc gia bởi vấn đề sử dụng hợp lí và khai thác hiệu quả không chỉ phát huy tối đa thế mạnh để phát triển kinh tế mà nó còn có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc cải tạo và bảo vệ môi trường cho hôm nay và tương lai, hướng tới việc phát triển bền vững (PTBV). Trong nhiều văn kiện chỉ đạo của Đảng, kế hoạch, chiến lược của Nhà nước, các chỉ thị, nghị quyết của Chính phủ đã đề cập và coi vấn đề sử dụng hợp lí tự nhiên, nguồn tài nguyên thiên nhiên và khai thác hiệu quả các nguồn lực tự nhiên để phục vụ phát triển kinh tế xã hội là chiến lược phát triển của quốc gia đồng thời đưa vấn đề khai thác tự nhiên phát triển kinh tế phải gắn với việc cải tạo bảo vệ môi trường theo hướng phát triển bền vững là vấn đề cần thiết và cấp bách. Để giải quyết vấn đề này sẽ có rất nhiều cách thức, nhiều phương pháp với nhiều nội dung khác nhau nhưng theo chúng tôi một phần nội dung không thể thiếu đó là sự quan tâm, tham gia của các nhà địa lí nói chung và các nhà nghiên cứu cảnh quan học nói riêng trong việc nghiên cứu, đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện về tiềm năng, đặc điểm điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên của mỗi vùng, miền, lãnh thổ và trên cả nước gắn liền với mục đích ứng dụng cụ thể cho phát triển sản xuất, kinh tế xã hội phù hợp. Từ đó có phương hướng sử dụng hợp lí, khai thác hiệu quả nguồn lực tự nhiên nhưng vẫn đảm bảo cải tạo và bảo vệ môi trường cho phát triển bền vững. Đặc điểm tự nhiên của mỗi vùng miền, mỗi lãnh thổ dù nhỏ bé hay rộng lớn đều được tạo thành bởi sự kết hợp của các thành phần tự nhiên cùng với mối quan hệ vô cùng chặt chẽ, phức tạp theo không gian và thời gian giữa chúng, tạo nên đặc trưng riêng về tự nhiên của từng vùng miền lãnh thổ. Vì thế để khai thác và sử dụng hợp lí nguồn lực tự nhiên của mỗi lãnh thổ thì cần phải đánh giá các đặc điểm về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên một cách tổng thể trên quan điểm cảnh quan học. Đó là việc nghiên cứu đặc điểm đặc trưng của các thể tổng hợp tự nhiên lãnh thổ, của cảnh quan (CQ) làm rõ các quy luật phân hóa không gian, thời gian, đặc điểm phát sinh, phát triển, mối quan hệ tương hỗ giữa các thành phần có hệ thống, có quy luật của chúng ở các vùng miền lãnh thổ. Yên Thủy, là huyện miền núi phía nam của tỉnh Hòa Bình có tổng diện tích tự nhiên là 28.210,1 ha, địa hình tương đối phức tạp chủ yếu là đồi núi thấp, giao thông đi lại khó khăn và xuống cấp nghiêm trọng gây cản trở cho hoạt động kinh tế xã hội. Huyện là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc trong đó dân tộc Mường chiếm phần lớn với 67,57%, dân tộc kinh chiếm 32,22% các dân tộc khác chiếm 0,21%, ở những vùng đồi núi chủ yếu là địa bàn cư trú của đồng bào dân tộc mường với trình độ văn hóa còn khá thấp tập quán canh tác còn lạc hậu. Mặt khác trình độ quản lí của đội ngũ cán bộ và sự khó khăn về điều kiện kinh tế dẫn đến việc khai thác và sử dụng bừa bãi nguồn tài nguyên thiên nhiên, việc khai thác chưa hợp lí với quy luật địa sinh thái lãnh thổ dẫn đến hệ quả làm suy thoái và cạn kiệt tài nguyên. Điều này gây ảnh hưởng xấu tới xu thế phát triển kinh tế xã hội của huyện và ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống hiện tại và tương lai của dân cư. Do vậy, nghiên cứu đánh giá cảnh quan nhằm mục đích khai thác, sử dụng hợp lí, bảo vệ môi trường sinh thái tối ưu trên từng đơn vị lãnh thổ cụ thể là vấn đề mang tính chiến lược, đặc biệt đối với một vùng lãnh thổ miền núi với sự phân hóa của tự nhiên khá đa dạng và phức tạp. Xuất phát từ thực tế hoat động sản xuất, phát triển kinh tế của huyện với tỉ trọng ngành nông – lâm nghiệp chiếm tới 41,7% (năm 2009). Tuy nhiên do địa hình chủ yếu là đồi núi, diện tích đất canh tác lại có nhiều núi sót phân cách làm đồng ruộng, các đồi nương bị phân cắt mạnh mẽ nên việc hình thành không gian canh tác với quy mô vừa và lớn gặp rất nhiều khó khăn. Cho đến nay các nghiên cứu chính thức về đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên phục vụ mục đích phát triển kinh tế xã hội nói chung và ngành nông – lâm nghiệp nói riêng còn rất hạn chế nếu có cũng chỉ mới dừng lại ở việc đánh giá các hợp phần riêng biệt mà chưa có đề tài nào tiến hành đánh giá tổng hợp các nhân tố theo hướng đánh giá cảnh quan cho mục đích phát triển cụ thể. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn đó, học viên đã lựa chọn đề tài luận văn với tên gọi “Đánh giá cảnh quan phục vụ mục đích phát triển nông lâm nghiệp bền vững huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình”.
Xem thêm

99 Đọc thêm

Ứng dụng mô hình DPSIR trong việc xây dựng chỉ thụ môi trường hệ đầm phá Tam Giang Cầu Hai

ỨNG DỤNG MÔ HÌNH DPSIR TRONG VIỆC XÂY DỰNG CHỈ THỤ MÔI TRƯỜNG HỆ ĐẦM PHÁ TAM GIANG CẦU HAI

Hiện nay, thế giới đang đứng trước năm cuộc khủng hoảng lớn: Dân số, lương thực, năng lượng, tài nguyên và môi trường. Năm cuộc khủng hoảng này đều liên quan chặt chẽ với môi trường và làm cho chất lượng cuộc sống của con người có nguy cơ suy giảm. Mặt khác, môi trường đang bị phá hoại và ô nhiễm nặng nề cũng là một phần nguyên nhân gây nên năm cuộc khủng hoảng trên. Môi trường đã và đang trở thành vấn đề chung của nhân loại, có thể nói thế giới đang phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng mới, đó chính là cuộc khủng hoảng môi trường, mà nguyên nhân chính gây ra cuộc khủng hoảng này chính là con người, tuy nhiên cũng chỉ có con người mới có thể khắc phục được tình trạng này. Khắc phục khủng hoảng môi trường chính là góp phần cải thiện và phát triển cuộc sống của con người. Nằm trong hoàn cảnh chung của thế giới đặc biệt là khu vực Châu ÁThái Bình Dương, môi trường Việt Nam đang xuống cấp cục bộ, có nơi bị huỷ hoại nghiêm trọng, gây nên nguy cơ mất cân bằng sinh thái, sự cạn kiệt nguồn tài nguyên, làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và phát triển bền vững của đất nước. Sự phát triển kinh tế theo chủ trương Công nghiệp hoá Hiện đại hoá của Đảng và Nhà nước đã thúc đẩy đầu tư, tăng cường khai thác tài nguyên và phát triển các ngành công nghiệp đã tác động mạnh đến tài nguyên thiên nhiên và môi trường tự nhiên. Với tinh thần đó, Đảng ta chủ trương “Kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế xã hội với bảo vệ và cải thiện môi trường theo hướng phát triển bền vững, tiến tới bảo đảm cho mọi người dân đều được sống trong môi trường có chất lượng tốt về không khí, đất, nước, cảnh quan và các nhân tố môi trường tự nhiên khác đạt chuẩn mực tối thiểu do Nhà nước quy định”. Trong quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và hiện đại hóa, nông nghiệp nông thôn; hâụ quả của ô nhiễm môi trường, bao gồm: thiệt hại đối với sức khỏe cộng đồng thiệt hại về kinh tế, thiệt hại các hệ sinh thái, đặc biệt là các hệ sinh thái ven bờ, những vấn đề bức xúc và điểm nóng về môi trường cần ưu tiên giải quyết các hoạt động của cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường; đồng thời là cơ sở để đánh giá các chính sách, quy định về môi trường để các cấp chính quyền, nhà quản lý định hướng phát triển kinh tế xã hội một cách bền vững và có các chính sách, cơ chế phù hợp để duy trì phát triển bền vững, hài hòa giữa phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường. Việc sử dụng mô hình DPSIR sẽ xác định rõ các loại chỉ thị môi trường để có thể đánh giá được hiện trạng môi trường, theo dõi diễn biến chất lượng môi trường và có những biện pháp tác động hiệu quả đến hoạt động gây ô nhiễm môi trường. Hệ đầm phá Tam Giang Cầu Hai thuộc địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế được đánh giá là đầm phá lớn nhất khu vực Đông Nam Á với diện tích 22.600 ha. Trải qua địa phận 33 xã thuộc 05 huyện là Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà, Phú Vang và Phú Lộc, là nơi sinh sống của hơn 591.482 người dân, chiếm hơn 36% dân số tỉnh Thừa Thiên Huế. Do vị trí địa lý phức tạp giữa một bên là biển, một bên là đầm phá nên thường xuyên chịu tác động của BĐKH thông qua các biểu hiện thời tiết cực đoan như lũ lụt, bão, sạt lở, nước biển dâng, xâm thực. Xuất phát từ các lý do thực tế trên, nhận định được sự tác động của môi trường đến cuộc sống dân sinh và sản xuất của khu vực. Việc nghiên cứu đề tài “Đánh giá hiện trạng và xây dựng chỉ thị môi trường nước biển ven bờ bằng mô hình DPSIR tại hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai – Tỉnh Thừa Thiên Huế” là cần thiết và cấp bách
Xem thêm

32 Đọc thêm

ĐÊ ÁN BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ ĐẾN NĂM 2020.

ĐÊ ÁN BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ ĐẾN NĂM 2020.

ĐÊ ÁN BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ ĐẾN NĂM 2015, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2020. A. PHẦN MỞ ĐẦU. I. Sự cần thiết để xây dựng Đề án Bảo vệ môi trường là chính bảo vệ cuộc sống của chúng ta là trách nhiệm chung của toàn hệ thống chính trị xã hội; môi trường và xã hội có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, môi trường là nguồn cung cấp nguyên liệu và không gian cho sản xuất xã hội, là nơi nuôi dưỡng, bảo vệ con người và phát triển xã hội; môi trường tự nhiên nói chung có vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế xã hội theo hướng bền vững đối với từng vùng, từng lãnh thổ, từng địa phương. Đối với địa bàn thị xã Hương Trà được xác định là địa bàn trọng điểm về kinh tế xã hội của tỉnh Thừa Thiên Huế; Việc phát triển kinh tế gắn liền với công tác bảo vệ môi trường đã được Thị ủy và UBND thị xã quan tâm giải quyết một cách hài hòa, nhằm phát triển kinh tế xã hội ngày càng bền vững. Hiện nay trên địa bàn thị xã có hơn 5.662 hộ kinh doanh; có khoảng 115 tổ chức doanh nghiệp và 38 Hợp tác xã; các cơ sở sản xuất kinh doanh lớn tập trung chủ yếu là ở Cụm công nghiệp Tứ Hạ, một số vùng phụ cận và ở các cụm làng nghề; có hơn 20 tổ chức khai thác tài nguyên khoáng sản đất, đá và hơn 100 hộ có tàu thuyền khai thác cát, sỏi dọc tuyến sông Hương và sông Bồ; tốc độ phát triển về cơ sở hạ tầng, phát triển đô thị hóa trên địa bàn thị xã ngày càng phát triển mạnh, các cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề đã đi vào hoạt động ngày càng nhiều. Với những đặc điểm trên công tác bảo vệ môi trường đang đặt ra những yêu cầu mới đối với sự phát triển bền vững của địa phương. Điều này đã thể rõ tại Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ thị xã lần thứ XII đã nêu nhiệm vụ bảo vệ mội trường là “Tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm về pháp luật đất đai và môi trường cho nhân dân. Nhân rộng các mô hình phát triển bền vững, giải quyết triệt để các điểm nóng về môi trường, làm tốt công tác thu gom, xử lý rác thải, chất thải công nghiệp. Phát triển cây xanh... Chăm sóc và trồng mới cây xanh đường phố, vành đai cây xanh đô thị”.
Xem thêm

13 Đọc thêm

Phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường ở Việt nam

PHÁT TRIỂN KINH TẾ GẮN VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM

MỞ ĐẦU 1. Giới thiệu khái quát về luận án Đề tài "Phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường ở Việt Nam", được thực hiện dưới góc độ khoa học của chuyên ngành Kinh tế chính trị. Đây là đề tài nghiên cứu dựa trên hệ thống những quan điểm cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường của Việt Nam. Trong quá trình triển khai nghiên cứu, tác giả đã tham khảo kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học; các báo cáo sơ kết, tổng kết của các Bộ, Ban ngành có liên quan để giải quyết vấn đề nghiên cứu đặt ra. Kết cấu luận án gồm: mở đầu, tổng quan vấn đề nghiên cứu, 3 chương, kết luận và kiến nghị; danh mục các công trình nghiên cứu khoa học của tác giả đã được công bố có liên quan đến đề tài luận án; danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. Tác giả tập trung nghiên cứu, luận giải một số lý luận về phát triển kinh tế (PTKT), tăng trưởng kinh tế (TTKT), kinh tế bền vững, môi trường, bảo vệ môi trường (BVMT); đánh giá thực trạng về gắn PTKT với BVMT của Việt Nam; xác định yêu cầu và đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế gắn với BVMT của Việt Nam hiện nay. Đây là công trình nghiên cứu độc lập không trùng lặp với các công trình khoa học, luận văn đã công bố. 2. Lý do lựa chọn đề tài luận án Sau gần 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn về PTKT và phát triển xã hội. Đối với nước ta, PTKT có tầm quan trọng hàng đầu không chỉ do điểm xuất phát thấp về kinh tế, xã hội, khoa học, công nghệ, mà còn là để sớm đưa đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển, chống nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế và chỉ có tăng trưởng phát triển nhanh mới tạo ra được những tiền đề, điều kiện để giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc (tạo việc làm, tăng thu nhập của dân cư, giảm thất nghiệp, xóa đói giảm nghèo, thực hiện an sinh xã hội, bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường). Nhờ có TTKT cao trong thời kỳ đổi mới, Việt Nam đã thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế kéo dài nhiều năm kể từ khi đất nước được hòa bình, thống nhất. Năm 2010, Việt Nam đã thoát khỏi tình trạng một nước kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình, quy mô của nền kinh tế không ngừng được mở rộng, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện và nâng cao một cách đáng kể, nền kinh tế Việt Nam đã từng bước hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Tuy nhiên, nhìn một cách khách quan có thể thấy tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế chưa thật tương xứng với tiềm năng và cơ hội mà đất nước có được. TTKT vẫn chủ yếu theo chiều rộng (tăng trưởng nhờ vào vốn đầu tư; lao động chất lượng thấp, giá rẻ và dựa vào khai thác tài nguyên thiên nhiên). Chất lượng tăng trưởng thấp, hiệu quả của tăng trưởng còn hạn chế, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn yếu kém. Do đó, đã nảy sinh "mối quan ngại" về tăng trưởng và tính bền vững của tăng trưởng nền kinh tế hiện nay. Hơn nữa, cũng giống như tình trạng chung ở nhiều nước đang phát triển khác, PTKT trong thời gian qua của Việt Nam đang mang trong mình "những hiểm họa" về môi trường (ô nhiễm nguồn nước, không khí, sự suy giảm của hệ sinh thái, đất đai bị sa mạc hóa, khai thác cạn kiệt và sử dụng lãng phí tài nguyên thiên nhiên, thiên tai, hạn hán, lụt lội xảy ra liên tục trên phạm vi cả nước…). Sự suy giảm và ô nhiễm môi trường (ONMT) chẳng những ảnh hưởng đến sự PTKT bền vững và môi trường sống, mà còn đòi hỏi phải bỏ ra một nguồn kinh phí lớn để phòng chống và khắc phục sự xuống cấp của môi trường. Các chuyên gia nước ngoài thường viện dẫn con số thiệt hại về tài nguyên môi trường ở Việt Nam là khoảng 3-5% GDP. Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEF) đã cảnh báo rằng, bây giờ là thời điểm Việt Nam cần kiên trì theo đuổi mục tiêu phát triển bền vững (PTBV). Nếu Việt Nam không giải quyết được vấn đề ONMT thì Việt Nam có thể bị xóa đi tất cả các thành tựu kinh tế và xã hội ấn tượng đã có được trong nhiều năm qua. Có thể nói rằng hiện nay ở nước ta, khoảng cách giữa tăng trưởng, PTKT và bảo vệ tài nguyên và môi trường ngày càng doãng ra, và điều này cho thấy, sự ưu tiên cho lĩnh vực kinh tế, phản ánh tư duy phát triển theo kiểu "Kinh tế trước, môi trường sau" như Nghị quyết số 41 ngày 15-11-2004 của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng, khóa X đã nhận xét: "Chưa đảm bảo sự hài hòa giữa PTKT với BVMT, thường chỉ chú trọng đến TTKT mà ít quan tâm đến BVMT". Nhận thức rõ nguy cơ, thách thức của tình trạng PTKT tách rời với BVMT và tác động của ONMT đối với PTKT, Đảng và Nhà nước đã xác định muốn phát triển nhanh, bền vững phải thường xuyên coi trọng và gắn kết chặt chẽ giữa PTKT và BVMT. Văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng nhấn mạnh: "Phát triển kinh tế - xã hội (PTKT-XH) phải coi trọng bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường, chủ động đối phó với biến đổi khí hậu (BĐKH) [32, tr.99] và "nâng cao ý thức BVMT, gắn nhiệm vụ mục tiêu BVMT với PTKT-XH; chú trọng phát triển kinh tế xanh, thân thiện với môi trường, thực hiện sản xuất và tiêu dùng bền vững, từng bước phát triển năng lượng sạch, sản xuất sạch, tiêu dùng sạch" [32, tr.136-137]. Từ đường lối, chủ trương của Đảng và từ thực tiễn PTKT và giải quyết vấn đề môi trường ở nước ta trong thời gian qua, cho thấy cần có một nghiên cứu làm rõ sự gắn kết chặt chẽ giữa PTKT với BVMT để PTBV ở nước ta. Với những lý do trên, tác giả chọn "Phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường ở Việt Nam" làm đề tài luận án tiến sĩ kinh tế, chuyên ngành Kinh tế chính trị. Nghiên cứu của luận án nhằm trả lời các câu hỏi: - Mối quan hệ và sự tác động qua lại giữa PTKT và BVMT ở Việt Nam là như thế nào? - Thực trạng PTKT gắn với BVMT ở Việt Nam ra sao? - Những giải pháp nào để gắn kết giữa PTKT và BVMT ở Việt Nam? 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của PTKT gắn với BVMT trong quá trình phát triển đất nước; trên cơ sở đó đề xuất, phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm gắn kết PTKT với BVMT góp phần bảo đảm PTBV ở Việt Nam.
Xem thêm

187 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG MÔN QUẢN LÝ ĐỚI BỜ

ĐỀ CƯƠNG MÔN QUẢN LÝ ĐỚI BỜ

Câu 1 Quan điểm về chiến lược phát triển đới bờ từ 2020 2030 Quan điểm Đổi mới tư duy và phương thức quản lý tài nguyên biển nhằm khắc phục tính phân tán trong cách tiếp cận quản lý đơn ngành, theo lãnh thổ; tập trung vào giải quyết các vấn đề đa ngành, đa mục tiêu, liên vùng để hướng tới phát triển bền vững ở đới bờ về mặt môi trường, kinh tế và xã hội. Củng cố, hoàn thiện thể chế, chính sách và pháp luật về quản lý tổng hợp đới bờ, góp phần vào quá trình hoàn thiện và vận hành thông suốt thể chế quản lý tổng hợp, thống nhất biển đảo và thực hiện có hiệu quả Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Hạn chế đến mức thấp nhất xung đột giữa bảo vệ, bảo tồn với khai thác tài nguyên, phát triển kinh tế; tạo lập sinh kế bền vững cho các cộng đồng ven biển, tăng cường năng lực và khả năng ứng phó với sự cố môi trường, thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu. Thúc đẩy hơn nữa sự tham gia của các tổ chức xã hội và cộng đồng vào các hoạt động quản lý, bảo vệ tài nguyên và môi trường đới bờ; các quá trình lập kế hoạch, quy hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên và không gian của đới bờ.   Nội dung 1. Xây dựng và ban hành chính sách, pháp luật về quản lý tổng hợp đới bờ Hoàn thiện chính sách, pháp luật về quản lý tổng hợp đới bờ để khắc phục những lỗ hổng, sự chồng chéo và các vấn đề còn tồn tại trong hệ thống chính sách, pháp luật hiện hành. Từ đó, đề xuất sửa đổi, điều chỉnh và ban hành mới các văn bản pháp luật giúp thực hiện hiệu quả các hoạt động quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường đới bờ cấp quốc gia và tỉnh. Xây dựng và thể chế hóa cơ chế điều phối, phối hợp đa ngành, liên ngành và liên địa phương về quản lý tổng hợp đới bờ, để tăng cường tính nhất quán, sự thống nhất trong quá trình ra quyết định; giảm thiểu các xung đột lợi ích giữa các ngành và địa phương trong việc khai thác, sử dụng tài nguyên và không gian đới bờ trong bối cảnh quản lý đới bờ hiện nay còn thuộc về nhiều Bộ, ban, ngành khác nhau và phân cấp quản lý. Xây dựng và ban hành các hướng dẫn phân định ranh giới biển cho các tỉnh, thành phố ven biển trực thuộc Trung ương, từ đó xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm và tăng cường hiệu quả phối hợp trong quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển. Xây dựng cơ sở dữ liệu và hệ thống thông tin tổng hợp phục vụ quản lý tổng hợp đới bờ cấp quốc gia và tỉnh, để hỗ trợ hiệu quả cho công tác quản lý nhà nước, việc lập quy hoạch, kế hoạch, chiến lược liên quan đến quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đới bờ, hướng tới phát triển kinh tế xã hội bền vững; giúp việc quản lý và chia sẻ thông tin, dữ liệu được xuyên suốt, thống nhất từ cấp trung ương đến địa phương, giữa các bộ, ban ngành và bên liên quan. Quá trình cập nhật, khai thác, sử dụng và chia sẻ thông tin dữ liệu phục vụ quản lý tổng hợp đới bờ được thực hiện dựa trên cơ chế quản lý và chia sẻ thông tin dữ liệu, trong đó trách nhiệm và quyền truy cập thông tin dữ liệu của các bên liên quan được phân định rõ. 2. Khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên; bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học Xây dựng và triển khai, thực hiện phân vùng chức năng đới bờ cấp quốc gia và tỉnh, hướng tới khai thác, sử dụng hợp lý các tài nguyên và không gian đới bờ; giảm thiểu xung đột lợi ích giữa các ngành kinh tế, hỗ trợ sử dụng bền vững, an toàn, hiệu quả đới bờ; bảo vệ, duy trì và khôi phục các hệ sinh thái biển và ven biển. Căn cứ vào kế hoạch phân vùng, quy hoạch sử dụng đới bờ, các quy hoạch, kế hoạch phát triển của các ngành và tỉnh, thành phố ven biển sẽ được điều chỉnh phù hợp theo kế hoạch, quy hoạch trên, để hướng tới mục tiêu khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả các tài nguyên và không gian đới bờ. Xây dựng và triển khai các mô hình đồng quản lý tài nguyên, sinh cảnh và các hệ sinh thái biển và ven biển dựa vào cộng đồng, để đẩy mạnh sự tham gia của cộng đồng và các tổ chức xã hội; tăng trách nhiệm của người dân và giảm gánh nặng cho các cơ quan quản lý nhà nước; tạo sinh kế, góp phần xóa đói giảm nghèo và tăng quyền được hưởng lợi của người dân từ các giá trị có được ở đới bờ. Xây dựng và triển khai các chương trình, kế hoạch bảo vệ, bảo tồn và phục hồi các hệ sinh thái, sinh cảnh, đa dạng sinh học, các loài đặc hữu và những giá trị tự nhiên khác ở đới bờ hiện có hoặc đã bị suy thoái, bị mất do các tác động của con người và tự nhiên; hạn chế, giảm thiểu các tác động tiêu cực do các tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng.
Xem thêm

28 Đọc thêm

CÂU HỎI VÀ TRẢ LỜI MÔN CHÍNH TRỊ HỌC PHÁT TRIẺN

CÂU HỎI VÀ TRẢ LỜI MÔN CHÍNH TRỊ HỌC PHÁT TRIẺN

CHÍNH TRỊ HỌC PHÁT TRIỂNCâu 1: Trình bày nội dung bản chất của phát triển bền vững.2Câu 2: phân tích vai trò của Đảng chính trị đối với phát triển xã hội ? Liên hệ thực tiễn .5Câu3: Phân tích vai trò của Nhà nước đối với sự phát triển xã hội. Liên hệ thực tiễn7Câu 4: Phân tích vai trò của các tổ chức chính trị XH đối với PT XH, lien hệ thực tiễn ?10Câu 5 :Phân tích vai trò của khoa học kỹ thuật đối với sự phát triển xã hội:13Câu 6: Trình bày vai trò của toàn cầu hóa đối với sự phát triển xã hội?15Câu 7: Trình bày mục tiêu quan điểm phát triển bền vững của đảng Cộng sản Việt Nam.17 Câu 1: Trình bày nội dung bản chất của phát triển bền vững.Phát triển là một quá trình hướng tới việc thiết lập một nền dân chủ ổn định cho phép không ngừng nâng cao điều kiện sống cho quần chúng nhân dân theo một cách thức mang tính nhân văn và công bằng.Phát triển là một quá trình tiến hóa đồng bộ năm thành tố căn bản đó là tăng trưởng kinh tế,ổn định,công bằng,dân chủ và quyền con người.Phát triển bền vững được coi là “ sự phát triển được đáp ứng những yêu cầu của hiện tại nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng các nhu cầu ấy của thế hệ mai sau”1.Nội dung của phát triển bền vữngPhát triển bền vững là sự phát triển hài hòa cả về kinh tế,văn hóa,xã hội,môi trường nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đời sống của con người ở các thế hệ hiện tại và tương lai.Phát triển bền vững hiện nay được thể hiện trên ba mặt đó là phát triển bền vững về kinh tế xã hội,tài nguyên môi trường. Phát triển bền vững về kinh tế phải đạt được sự tăng trưởng ổn định với cơ cấu kinh tế hợp lý,đáp ứng được các yêu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân,tránh được suy thoái đình trệ trong tương lai,tránh để lại gánh nặng cho các thế hệ mai sau. Phát triển bền vững xã hội là đạt được kết quả cao trong việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội,đảm bảo chế độ dinh dưỡng và chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân ngày càng nâng cao.Mọi người trong xã hội đều được học hành có việc làm,giảm tình trạng đói nghèo và hạn chế khoảng cách giàu nghèo giữa các nhóm tầng lớp trong xã hội ( giảm các tệ nạn xã hội nâng cao mức độ công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các thành viên và các thế hệ trong một xã hội,duy trì và phát huy được tính đa dạng và bản sắc dân tộc,nâng cao trình độ văn minh,đời sống vật chất,tinh thần. Phát bền vững về tài nguyên,môi trường và khai thác hợp lý sử dụng có hiệu quả,tiết kiện các tài nguyên thiên nhiên ,phòng ngừa ngăn chặn và xử lý các hậu quả ô nhiễm môi trường.Bảo vệ tốt môi trường sống,bản vệ các khu rừng vườn quốc gia,khu dự trữ sinh quyển,sự đa dạng sinh học,khắc phục sự suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường.=> Phát triển bền vững bao gồm khía cạnh liên quan đến đời sống của nhân loại là kinh tế,xã hội môi trường phải được tổng hòa,kết hợp lồng ghép khi có thể và được cân đối một cách có hiệu quả qua các chính sách,cơ chế,công cụ và qua quá trình thực hiện chính sách.Phát triển bền vững là con đường phát tiển tất yếu của nhân loại.Sự thành công của nó phụ thuộc không chỉ vào các nỗ lực hành động từng quốc gia mà còn vào sự phối hợp hành động của toàn thế giới.2.Bản chất của phát triển bền vững.Bản chất của phát triển bền vững là tạo ra một xã hội tốt đẹp hơn cho con người, điều này được thể hiện qua các nguyên tắc trong việc xây dựng một xã hội tốt đẹp đó là :Tăng trưởng kinh tế ổn định qua nhiều nămThực hiện sự tiến bộ của xã hộiTôn trọng và quan tâm đến cuộc sống cộng đồngNâng cao chất lượng cuộc sống của con ngườiBảo tồn sự sống và sự đa dạng sinh học của trái đấtHạn chế đến mức thấp nhất việc làm suy giảm các nguồn tài nguyên không tái tạo
Xem thêm

19 Đọc thêm

Đề cương ôn tập Quản lý tài nguyên môi trường.

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG.

1. khái niệm, phân loại tài nguyên và môi trường? tài nguyên là các dạng vật chất, tri thức thông tin được tạo thành trong suốt quá trình hình thành và phát triển của tự nhiên, cuộc sống sinh vật và con người. các dạng vật chất này cung cấp nguyên nhiên vật liêu, hỗ trợ và phục vụ cho các nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của con người. phân loại tài nguyên thiên nhiên: theo khả năng phục hồi của tài nguyên: + tài nguyên vĩnh cửu: là các dạng tài nguyên có thể sử dụng mãi mãi không bao giờ hết( năng lượng mặt trời, sức gió, không khí) Vd: NLMT, sức gió, thủy chiều, dòng chảy + tài nguyên có khả năng phục hồi( tài nguyên tái tạo tài nguyên tái sinh): các dạng tài nguyên có thể tái tạo đóng vai trò rất quan trọng đối với sự sống của sinh vật vì chúng là nguồn cung cấp thực ăn liên tục cho sự sống của sinh vật và cho các nhu cầu cần thiết khác. Đây là các tài nguyên không giới hạn. Vd: không khí, nước ngọt, đất, thực vật, động vật… + tài nguyên không có khả năng phục hồi: các tài nguyên không tái tạo có khối lượng nhất định và bị hao hụt dần sau khi được khai thác để phục vụ cho sự phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật của xã hội loài người. những tài nguyên này có giới hạn về khối lượng. Vd: nhiên liệu hóa thạch, khoáng sản kim loại, sắt, đồng, nhôm… khoáng sản phi kim, cát đất sét… theo thành phần hóa học + TNTN có thành phần hóa học là các chất vô cơ( quặng kim loại) + TNTN có thành phần hóa học là các chất hữu cơ ( than đá, dầu mỏ, than bùn) phân loại tài nguyên thiên nhiên theo trạng thái phân bổ + TNTN ngoài mặt đất, Vd: không khí, sức gió, ASMT + TNTN trên mặt đất. vd: thảm thực vật, hệ động vật, nguồn nước mặt. + TNTN trong lòng đất. VD các loại khoáng sản, nguồn nước ngầm. phân loại tài nguyên theo môi trường thành phần + tài nguyên đất + tài nguyên môi trường nước + tài nguyên môi trường không khí + tài nguyên sinh vật + tài nguyên khoáng sản + tài nguyên năng lượng + tài nguyên rừng + tài nguyên biển + tài nguyên khí hậu cảnh quan môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sụ tồn tại và phát triển của con người và sinh vật. phân loại môi trường + môi trường tự nhiên: bao gồm các yếu tố tự nhiên, thiên nhiên như các yếu tố vật lý, hóa học sinh học, tồn tại khách quan bao quanh con người. + môi trường xã hội: là tổng thể các mối quan hệ giữa con người và con người, tạo nên sự thuận lợi hay trở ngại cho sự tồn tại và phát triển của cá nhân và cộng đồng dân cư Vd: sự gia tăng dân số, định cư, di cư, môi trường sống của dân tộc thiểu số + môi trường nhân tạo: là tập hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội do con người tạo nên chịu sự chi phối của con người. Vd: nhà ở, môi trường khu vực đô thị và khu vực công nghiệp, môi trường nông thôn…
Xem thêm

19 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG

ĐỀ CƯƠNG ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG

Câu 1: Tại sao phải thực hiện phát triển bền vững?Trình bày tóm tắt các điều kiện để thực hiện phát triển bền vững Trong các thế kỷ trước đây khi dân số còn ít và trình độ của nền kinh tế còn thấpnên phát triển truyền thống chưa bộc lộ những hậu quả xấu tới môi trường, chưa nảy sinh các mâu thuẫn gay gắt giữa môi trường và phát triển. Tuy nhiên, với dân số ngày càng tăng, trình độ nền kinh tế cũng như tốc đô khai thác sử dụng tài nguyên ngày càng tăng cao nên kể từ nửa cuối thế kỷ 20 đến nay mâu thuẫn giữa môi trường và phát triển đã nảy sinh và ngày càng ngay gắt tại nhiều nơi, nhất là tại các nước công nghiệp phát triển và có xu thế là: Các đe dọa trên cho thấy do sự phát triển không được kiểm soát mà môi trường trên trái đất đang bị phá hoại một cách nghiêm trọng, chất lượng môi trường sống của con người đã giảm sút đến mức báo động ở nhiều nơi, nhiều nguồn tài nguyên đang có nguy cơ cạn kiệt mà trước đây tưởng như các tài nguyên đó không bao giờ cạn. Điều này là một mối đe doạ và nhìn về tương lai thì mối đe doạ này còn có thể nhân lên nếu không có giải pháp xử lý đúng đắn. Cách giải quyết là phải xem xét và thay đổi lại cách thức phát triển để kiểm soát và hạn chế được mối mâu thuẫn giữa phát triển và môi trường, giữ cho phát triển cân bằng với môi trường. Đó là xuất phát điểm của việc ra đời khái niệm phát triển bềnvững thay cho phát triển truyền thống trước đây. Các tác động môi trường do tăng dân số: Các tác động tiêu cực của tình trạng gia tăng dân số hiện nay trên thế giới biểu hiện ở các khía cạnh:  Sức ép lớn tới tài nguyên thiên nhiên và môi trường trái đất do khai thác quá mức các nguồn tài nguyên phuc vụ cho các nhu cầu nhà ở, sản xuất lương thực, thực phẩm, sản xuất công nghiệp v.v...  Tạo ra các nguồn thải tập trung vượt quá khả năng tự phân huỷ của môi trường tự nhiên trong các khu vực đô thị, khu sản xuất nông nghiệp, công nghiệp.  Sự chênh lệch về tốc độ phát triển dân số giữa các nước công nghiệp hoá và các nước đang phát triển gia tăng, dẫn đến sự nghèo đói ở các nước đang phát triển và sự tiêu phí dư thừa ở các nước công nghiệp hoá. Sự chênh lệch ngày càng tăng giữa đô thị và nông thôn, giữa các nước phát triển công nghiệp và các nước kém phát triển dẫn đến sự di dân ở mọi hình thức.  Sự gia tăng dân số đô thị và sự hình thành các thành phố lớn siêu đô thị làm cho môi trường khu vực đô thị có nguy cơ bị suy thoái nghiêm trọng. Nguồn cung cấp nước sạch, nhà ở, cây xanh không đáp ứng kịp cho sự phát triển dân cư. Ô nhiễm môi trường không khí, nước tăng lên. Các tệ nạn xã hội và vấn đề quản lý xã hội trong đô thị ngày càng khó khăn.
Xem thêm

14 Đọc thêm

Cùng chủ đề