CÁ TRẮM CỎ KHỔNG LỒ

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "CÁ TRẮM CỎ KHỔNG LỒ":

Bệnh rận cá – ARGULOSIS pot

BỆNH RẬN CÁ – ARGULOSIS 1

- Rận thường ký sinh trên da, mang, vây, hốc mắt, hốc mũi và miệng của một số loài nước ngọt, nước lợ và nước mặn. Ở Việt Nam, trong các thuỷ vực nước ngọt, rận ký sinh chủ yếu trên da các loài như trắm cỏ, mè trắng, mè hoa, cá chép, diếc, lóc bông…, ký sinh trên ở tất cả các giai đoạn phát triển, nhưng ở lớn chỉ ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng, cũng có thể gây chết; giống cỡ 1-2cm nếu bị 3-4 trùng ký sinh ở nhiệt độ 28-30 độ C sau vài ngày có thể làm cho chết. - Bệnh xuất hiện quanh năm nhưng xuất hiện nhiều vào vụ xuân và đầu hè. 4. Phòng và trị bệnh - Diệt trứng và ấu trùng cần tát cạn ao, dọn sạch đáy, dùng vôi tẩy ao và phơi khô đáy ao trước khi thả vào nuôi. Nuôi lồng thường xuyên treo túi vôi liều lượng 2-4kg/10m³ lồng. - Để trị bệnh có thể dùng thuốc tím tắm cho bệnh nồng độ 10 ppm trong thời gian 30 phút, hoặc nước muối 2-4%. - Dùng Seaweed 2-2.5 lít/1.000 m³ nước, mỗi tuần xử lý một lần, trong 2 tuần
Xem thêm

2 Đọc thêm

Báo cáo nghiên cứu khoa học: " MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH SẢN CỦA CÁ TRẮM CỎ (CTENOPHARYNGODON IDELLUS CUVIER ET VALENCIENNES, 1844) TRONG ĐIỀU KIỆN NUÔI Ở QUẢNG TRỊ" doc

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH SẢN CỦA CÁ TRẮM CỎ CTENOPHARYNGODON IDELLUS CUVIER ET VALENCIENNES 1844 TRONG ĐIỀU KIỆN NUÔI Ở QUẢNG TRỊ DOC

n nhân t o các loài nuôi Vi t Nam, T p chí Thu s n, (1987), 23-29. 4. Phm Minh Thành, Bùi Lai, Cao V n Xin, Thái V n Tùng, S n xu t b t mè tr ng và trm c ng b ng sông C u Long - Các công trình nghiên c u KHKT-Sinh s n nhân to các loài nuôi Vi t Nam, T p chí Thu s n, (1987), 36 – 41. 5. Lng ình Trung, Sinh s n nhân t o mè tr ng, mè hoa, tr m c - Các công trình nghiên cu KHKT - Sinh s n nhân t o các loài nuôi Vi t Nam, T p chí Thu s n, (1987), 29 - 35. 6. Vin Nghiên c u Nuôi tr ng Thu s n I, Tuy n t p các công trình nghiên c u (1988-1992), NXB Nông nghip, (1993). 7. M. Kottelat and J. Freyhof, Handbook of European freshwater fishes, Publications Kottelat, Cornol, Switzerland, 2007. 8. S. Lifa, L. Wu, J. Wang, Q. Chou and Y. Chen, Comprehensive genetic study on Chinese carps, Shanghai Scientific & Technical Publishers, Shanghai, China, 1990. 72 9. J.V. Shireman and C.R. Smith, Synopsis of biological data on the grass carp Ctenopharyngodon idella (Cuvier and Valenciennes, 1844), FAO Fisheries Synopsis No. 135, Food and Agriculture Organization of the United Nations (FAO), Rome, Italy, 1983. 10. S. Ukkatawewat, The taxonomic characters and biology of some important freshwater fishes in Thailand, Manuscript, National Inland Fisheries Institute, Department of
Xem thêm

10 Đọc thêm

PHÒNG TRỊ BỆNH TRÊN CÁ NƯỚC NGỌT

PHÒNG TRỊ BỆNH TRÊN CÁ NƯỚC NGỌT

Trùng quả dưa ký sinh trên mang cáb. Tác nhân gây bệnh:Ký sinh trùng Ichthyophthyrius multifillisc. Phân bố và lan truyền:- Ở Việt Nam đã phát hiện thấy bệnh trùng quả dưa trên trắm cỏ, chép, mè trắng , mèhoa, trôi, rôphi, cá tra, cá trê.- Tỷ lệ cảm nhiễm 70 – 100%, cường độ cảm nhiễm 5 – 7 trùng/ la men.- Nhiệt độ thích hợp cho trùng quả dưa phát triển là 25 – 260C.d. Phòng và trị bệnh:- Phòng bệnh:+ Không thả chung bị nhiễm ký sinh trùng với khoẻ.+ Tẩy dọn ao kỹ, phơi đáy ao 3 – 4 ngày để diệt bào tử ở đáy ao.+ giống trước khi thả vào ao phải được tắm bằng VINADIN 600, liều 100ml/ 0,5m3nước, trong 10 phút để tiêu diệt ký sinh trùng.+ Định kỳ 2 tuần/ lần, trộn VINA-PARASITE vào thức ăn với liều 1kg/200 – 300kg thứcăn, cho ăn liên tục 2 – 3 ngày.+ Bổ sung các vitamin và khoáng vi lượng từ các sản phẩm VITAMIN C, VINAPREMIX vào khẩu phần ăn hàng ngày cho để tăng cường sức đề kháng.- Trị bệnh:Dùng VINA-PARASITE để trị bệnh trùng quả dưa cho theo 1 trong 2 phương phápsau:+ Trộn thuốc vào thức ăn: 2 – 3 ml/ 1 kg thức ăn, cho ăn liên tục 3 ngày+ Tắm cho : 2 – 3 ml/ m3 nước, tắm liên tục 2 – 3 ngày (lưu ý sử dụng khi trời mát)2. BỆNH SÁN LÁ ĐƠN CHỦTác nhân gây bệnh: Sán lá đơn chủ Cichlidogyrus tilapiae, C. sclerosus, GyrodactyluniloticusDấu hiệu bệnh lý: Cichlidogyrus, Gyrodactylus ký sinh trên da và mang cá, làm chomang và da tiết ra nhiều dịch nhờn ảnh hưởng đến hô hấp . Tổ chức da và mang cósán ký sinh bị viêm loét tạo điều kiện cho vi khuẩn, nấm và một số sinh vật xâm nhập
Xem thêm

15 Đọc thêm

Chú ý khi nuôi cá lóc đen và cá lóc thịt pot

CHÚ Ý KHI NUÔI CÁ LÓC ĐEN VÀ CÁ LÓC THỊT

Chú ý khi nuôi cá lóc đen và cá lóc thịt Căn cứ vào tính ăn của cá lóc có thể nuôi ghép với nuôi như mè, trôi, chép, trắm cỏ, rô phi, diếc để khống chế mật độ của những loài tạp và những sinh đẻ nhiều như cá rô phi, diếc nhằm đảm bảo thức ăn cho các loài kinh tế chủ yếu, cải tạo và nâng cao sức sản xuất các vùng nước. Tuy vậy, khi nuôi, cần tính cẩn trọng chú ý tỉ lệ, mật độ, kích cỡ thả. Nuôi cá lóc con Trước khi nuôi cá lóc phải dọn tẩy ao sạch sẽ để cho sinh vật phù du phát triển mạnh mới thả cá bột vào ao. Mật độ ương 5-10 vạn con/mẫu. Sau khi thả 7-8 ngày chưa cần cho ăn, sau đó một mặt vừa bón phân vào ao, mặt khác vớt động vật phù du bổ sung vào cho ăn (3-4 kg động vật phù du cho một vạn ). Nuôi như vậy 18-20 ngày thấy có màu vàng, trên thân xuất hiện vảy, sau đó chuyển sang màu đen, thân dài 3-6cm, tỉ lệ sống khoảng 60-65%, nuôi tiếp 20 ngày nữa đạt 6cm, lúc này bắt đầu cho ăn tôm, tép, con hay thức ăn chế biến có đạm cao. Nuôi trong 2 tháng đạt cỡ 9-12cm thành giống đưa ra ao lớn nuôi thành thịt. Nuôi thịt ở ao Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I đã nuôi thử nghiệm cá lóc với cá rô phi (dùng cá rô phi làm thức ăn cho cá lóc). Diện tích ao: 35m2. Độ sâu: 70-80cm. Mật độ thả: 0,5-1con/m2. Qua 4 tháng nuôi cỡ cá lóc 80-100g/con, lớn được 350g/con.
Xem thêm

4 Đọc thêm

Kỹ thuật nuôi cá lóc docx

KỸ THUẬT NUÔI CÁ LÓC DOCX

Kỹ thuật nuôi cá lóc Cá lóc là loài sống phổ biến ở đồng ruộng, kênh, rạch, ao, hồ, đầm, tốc độ sinh trưởng nhanh, thích nghi với mọi môi trường nước (đục, tù, nóng) có thể chịu đựng được ở nhiệt độ 39 - 40 độ C. Ở Miền Nam, cá lóc bông được nuôi trong lồng (bè). Dựa vào tính ăn của cá lóc, có thể nuôi ghép với mè, trôi, chép, trắm cỏ, rô phi, diếc để diệt tạp đảm bảo hợp lý nguồn thức ăn, cải tạo và nâng cao sức sản xuất của vùng nước. Tuy nhiên, cần chú ý tỉ lệ, mật độ kích cỡ thả. Nuôi cá lóc con: Trước khi thả cá bột vào, phải dọn tẩy ao để sinh vật phù du phát triển mạnh. Mật độ: 6 - 7 vạn con/mẫu. Sau khi thả 7 - 8 ngày chưa cho ăn, có thể vừa bón phân vừa vớt động vật phù du bổ sung vào ao (3 - 4 kg động vật phù du / một vạn ). 18 - 20 ngày sau có màu vàng, trên thân xuất hiện vảy, sau đó chuyển màu đen, dài 3 - 6 cm, tỉ lệ sống khoảng 60 - 65%, nuôi tiếp 20 ngày, đạt 6 cm, bắt đầu cho ăn tôm, tép, con hay thức ăn chế biến có đạm cao. Nuôi trong 2 tháng, giống được 9 - 12 cm, đưa ra ao lớn nuôi thành thịt. Nuôi thịt ở ao: Trạm Nghiên cứu nước ngọt Đình Bảng, Tiên Sơn, Hà Bắc (nay là Viện Nghiên cứu nuôi trồng Thủy sản I) đã thí nghiệm nuôi cá lóc với cá rô phi (dùng cá rô phi làm thức ăn cho cá lóc). Ao diện tích: 35 m 2 . Độ sâu: 70 - 80 cm. Mật độ thả: 0,5 - 1
Xem thêm

7 Đọc thêm

Kỹ thuật nuôi cá nước ngọt ao đất potx

KỸ THUẬT NUÔI CÁ NƯỚC NGỌT AO ĐẤT POTX

.). 2/ Mật độ và cách thả giống: - Mật độ thả từ 1-2 con/m2 - Kích cỡ giống: mè 10 – 12cm/con; trắm cỏ từ 12 – 15cm/con; chép, trôi, rô phi, chim trắng 7-10cm/con. - giống phải đồng đều khỏe mạnh, không bị xây xát. Cách thả: Thả vào lúc trời mát, đầu gió, thả từ từ tránh làm bị sốc. V/ THÀNH PHẦN VÀ TỶ LỆ THẢ GHÉP Tùy thuộc vào điều kiện ao nuôi, thức ăn có sẵn mà xác định loài nuôi chính. - Ao có diện tích lớn hơn 1.000m2 , màu nước xanh lá chuối, phân chuồng nhiều nên nuôi mè là đối tượng chính. - Vùng nuôi cung cấp được thực ăn xanh, nên nuôi trắm cỏ là đối tượng chính. - Ao có nguồn nước thả từ các chuồng nuôi thì nên nuôi cá rô phi, cá trôi, cá chép là đối tượng chính. Ngoài nuôi chính nên ghép các loài khác để tận dụng triệt để các tầng nước và quan hệ dinh dưỡng trong ao nuôi. IV/ CHO ĂN: - Nếu ao nuôi mè là chính thì phải tạo thức ăn cho mè bằng cách gây màu nước: Dùng phân chuồng hoặc phân xanh lá dầm bón cho ao. + Phân chuồng: 4 lần/tháng rải khắp ao (mỗi lầ bón từ 10 – 15kg/100m2 ) + Phân xanh: bó thành bó dìm ngập dưới các góc ao (mỗi bó khoảng 5 -7kg), khi nào lá phân hủy hết thì vớt cọng lên tay bó khác. - Đối với trắm cỏ, hàng ngày cho ăn ngày 02 lần vào buổi sáng và chiều mát tùy theo nhu cầu.
Xem thêm

8 Đọc thêm

Chú Ý Khi Nuôi Cá Lóc Con Và Cá Lóc Thịt doc

CHÚ Ý KHI NUÔI CÁ LÓC CON VÀ CÁ LÓC THỊT

Chú Ý Khi Nuôi Cá Lóc Con Và Cá Lóc Thịt Căn cứ vào tính ăn của cá lóc có thể nuôi ghép với nuôi như mè, trôi, chép, trắm cỏ, rô phi, diếc để khống chế mật độ của những loài tạp và những sinh đẻ nhiều như cá rô phi, diếc nhằm đảm bảo thức ăn cho các loài kinh tế chủ yếu, cải tạo và nâng cao sức sản xuất các vùng nước. Tuy vậy, khi nuôi, cần tính cẩn trọng chú ý tỉ lệ, mật độ, kích cỡ thả. Nuôi cá lóc con Trước khi nuôi cá lóc phải dọn tẩy ao sạch sẽ để cho sinh vật phù du phát triển mạnh mới thả cá bột vào ao. Mật độ ương 5-10 vạn con/mẫu. Sau khi thả 7-8 ngày chưa cần cho ăn, sau đó một mặt vừa bón phân vào ao, mặt khác vớt động vật phù du bổ sung vào cho ăn (3-4 kg động vật phù du cho một vạn ). Nuôi như vậy 18-20 ngày thấy có màu vàng, trên thân xuất hiện vảy, sau đó chuyển sang màu đen, thân dài 3-6cm, tỉ lệ sống khoảng 60-65%, nuôi tiếp 20 ngày nữa đạt 6cm, lúc này bắt đầu cho ăn tôm, tép, con hay thức ăn chế biến có đạm cao. Nuôi trong 2 tháng đạt cỡ 9-12cm thành giống đưa ra ao lớn nuôi thành thịt. Nuôi thịt ở ao Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I đã nuôi thử nghiệm cá lóc với cá rô phi (dùng cá rô phi làm thức ăn cho cá lóc). Diện tích ao: 35m2. Độ sâu: 70-80cm. Mật độ thả: 0,5-1con/m2. Qua 4 tháng nuôi cỡ cá lóc 80-100g/con, lớn được 350g/con. Tính ra cứ 4 kg cá rô phi con được 1kg cá lóc thịt. Nuôi cá lóc ghép với nuôi khác
Xem thêm

3 Đọc thêm

Kỹ thuật ương nuôi cá rô phi nước ngọt ppt

KỸ THUẬT ƯƠNG NUÔI CÁ RÔ PHI NƯỚC NGỌT

gạo nấu chín. Giai đoạn cá hương từ 2cm đến 5-6cm, ăn thức ăn của loài vì vậy có thể ương đơn hoặc ương ghép. trắm cỏ giai đoạn này có thể ương với mật độ 3.500-4.000 con/100m2. Hoặc ương ghép với tỷ lệ 70% trắm cỏ và 30% mè hoa hoặc mè trắng. giống ở giai đoạn từ 6-10 cm hoặc lớn hơn thì ương với mật độ 1.500-2.000 con/m2. Chăm sóc và quản lý Đối với cá chép giai đoạn từ 2-3cm ương lên 8-10cm, có thể cho ăn thức ăn nhân tạo với lượng 4 kg/10.000 con/ngày trong 2 tuần đầu và tăng lên ở các tuần tiếp theo. Thành phần chủ yếu là thức ăn xanh và cám gạo. trắm cỏ thức ăn chủ yếu là thực vật, các loại rau, bèo, bổ sung thêm chất bột. Lượng cho ăn từ 40-60 kg/10.000 ở giai đoạn ương từ 5-6cm lên 10-12cm. Thường xuyên kiểm tra chất lượng nước, gây màu nước định kỳ 1 lần/tuần để đảm bảo thức ăn cho . Theo dõi nổi đầu vào buổi sáng sớm để có biện pháp khắc phục kịp thời. Theo dõi và điều trị kịp thời các bệnh trên giống. Phòng bệnh bằng cách bổ sung dinh dưỡng vào thức ăn cho , định kỳ dùng vôi với liều lượng 2-6 kg vôi bột/100m3 nước, hòa vào nước té đều xuống ao 2 tuần/lần. Với phân chuồng, cần ủ với vôi với lượng 5-7 kg/100 kg phân trong vòng 20 trước khi bón xuống ao. >> Để đảm bảo giống ít bị hao hụt khi vận chuyển xa, cần luyện ép bằng cách dùng trà gai, cào tre kéo khắp ao làm cho ao sục bùn hoặc dùng lưới kéo dồn lại góc ao khoảng 20-30 phút rồi lại thả ra, làm liên tục trong vòng 1 tuần trước khi vận chuyển .
Xem thêm

5 Đọc thêm

Đặc điểm sinh học của cá lóc potx

ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CÁ LÓC POTX

Chú ý khi nuôi cá lóc con Căn cứ vào tính ăn của cá lóc có thể nuôi ghép với nuôi như mè, trôi, chép, trắm cỏ, rô phi, diếc để khống chế mật độ của những loài tạp và những sinh đẻ nhiều như cá rô phi, diếc nhằm đảm bảo thức ăn cho các loài kinh tế chủ yếu, cải tạo và nâng cao sức sản xuất các vùng nước. Tuy vậy, khi nuôi, cần tính cẩn trọng chú ý tỉ lệ, mật độ, kích cỡ thả. Trước khi nuôi cá lóc phải dọn tẩy ao sạch sẽ để cho sinh vật phù du phát triển mạnh mới thả cá bột vào ao. Mật độ ương 5-10 vạn con/mẫu. Sau khi thả 7-8 ngày chưa cần cho ăn, sau đó một mặt vừa bón phân vào ao, mặt khác vớt động vật phù du bổ sung vào cho ăn (3-4 kg động vật phù du cho một vạn ). Nuôi như vậy 18-20 ngày thấy có màu vàng, trên thân xuất hiện vảy, sau đó chuyển sang màu đen, thân dài 3-6cm, tỉ lệ sống khoảng 60-65%, nuôi tiếp 20 ngày nữa đạt 6cm, lúc này bắt đầu cho ăn tôm, tép, con hay thức ăn chế biến có đạm cao. Nuôi trong 2 tháng đạt cỡ 9-12cm thành giống đưa ra ao lớn nuôi thành thịt. NTNN, 31/10/2003 & 6/11/2003 Nhân giống cá lóc đen Tại khu vực ĐBSCL, kỹ thuật nhân giống cá lóc bằng cách dùng kích thích tố sinh sản đang được nông dân ứng dụng khá rộng rãi. Hiệu quả thu được từ nguồn giống này khá lớn: cứ 100% mẹ sinh sản, thu được 70 - 80% giống. Qua nghiên cứu cho thấy, yếu tố quyết định thành công là khâu chọn, nuôi vỗ bố mẹ và sử dụng kích thích tố đúng liều lượng. Chọn và nuôi vỗ bố mẹ Nên chọn bố mẹ có trọng lượng trung bình 0,3 - 0,8kg trong tự nhiên rồi tiếp tục nuôi vỗ thành thục sinh dục trong điều kiện nuôi ở lồng đặt trong ao đất có kích thước 2 x 2,5 x 2m và mật độ thả nuôi là 10 con/m2. Trong thời gian nuôi vỗ, nguồn thức ăn được sử dụng là biển và tạp nước ngọt, với khẩu phần ăn dao động từ 1,5-2% trọng lượng /ngày (2 lần/ngày). Quá trình nuôi vỗ được định kỳ kiểm tra 30 ngày/lần, nhằm xác định độ chín muồi của tuyến sinh dục và sự phát triển về kích thước trứng.
Xem thêm

4 Đọc thêm

Kinh nghiệm nuôi cá ao đầu tư thấp ở miền núi doc

KINH NGHIỆM NUÔI CÁ AO ĐẦU TƯ THẤP Ở MIỀN NÚI DOC

xác hữu cơ, các loại rêu, tảo bám đáy, rong cỏ, rau, Chọn các loài như Trắm cỏ, Mè trắng, Mè hoa, Trôi, Chép, Rô phi đơn tính, - Nuôi ghép: nên ghép các loại , bao gồm chính (chiếm số lượng 50 -60 % tổng đàn) và khác để tận dụng triệt để các tầng nước và quan hệ dinh dưỡng trong ao nuôi. Chẳng hạn, ao có diện tích lớn, màu nước tốt nên nuôi Mè là chính; Vùng nuôi cung cấp được thức ăn xanh nên nuôi Trắm cỏ là chính; Ao chịu ảnh hưởng của chất thải trong chăn nuôi ( phương thức VAC) nên nuôi cá Chép, cá Rô phi đơn tính là chính. - Thời gian thả giống: trong tháng 3 dương lịch là thời điểm phù hợp cho việc thả cá đối với ao hồ nhỏ, thời tiết nắng ấm và có đủ thời gian để tiến hành thu hoạch trước mùa mưa lũ, tránh thất thoát. - Kích cỡ : Mè: 10-12 cm; Trắm : 10-12 cm; cá Chép,
Xem thêm

4 Đọc thêm

Kỹ thuật nuôi cá ao nước tĩnh doc

KỸ THUẬT NUÔI CÁ AO NƯỚC TĨNH DOC

15 đến 20 4 đến 6 4. Quản lý - chăm sóc ao * Thức ăn, phân bón cho ao nước tĩnh : Sử dụng thức ăn, phân bón trong ao nuôi hợp lý sẽ mang lại hiệu quả cao. Thức ăn xanh gồm : các loại cỏ, rong, bèo tấm, bèo dâu, lá chuối, lá sắn nên cho ăn đủ hàng ngày. Sau khi ăn cần vớt bỏ các cọng cỏ, cây, lá già không ăn được. Cho ăn thêm cám gạo, cám ngô, các loại bột sắn, bột mỳ, bột đậu tương. Lượng thức ăn hằng ngày cho 100 giống trong 2 tháng đầu từ 0,3 đến 0,5 kg, các tháng sau tăng dần. Ðối với trắm cỏ thì cứ 100 con cho ăn từ 2 đến 3 kg thức ăn xanh, sau tăng dần theo sự lớn lên của bằng cách theo dõi hằng ngày. Hằng tuần cần bón từ 10 đến 15 kg phân chuồng cho 100 mét vuông ao. * Quản lý ao : - Theo dõi thường xuyên bờ ao, cống thoát nước, xem mực nước ao vào các buổi sáng. - Vào sáng sớm theo dõi xem có bị nổi đầu vì ngạt thở không, có nổi đầu kéo dài không. Nếu có, tạm dừng cho ăn và thêm nước vào ao. - Khi thấy bị bệnh hoặc chết rải rác cần hỏi cán bộ kỹ thuật hoặc khuyến ngư để biết cách xử lý. 5. Thu hoạch - Sau 5 đến 6 tháng nuôi có thể đánh tỉa số lớn để ăn hoặc bán và thả bù giống để tăng năng suất nuôi. Phải ghi lại số lượng đã thu và thả lại sau mỗi lần đánh tỉa (ghi cả số con và số kg ). - Cuối năm thu toàn bộ (có thể chọn những nhỏ giữ lại làm giống cho vụ nuôi sau). Sau khi thu hoạch toàn bộ phải ghi lại sản lượng cá thu được (bao gồm cả đánh tỉa và cá thu cuối năm) nhằm sơ bộ hạch toán trong quá trình nuôi để có cơ sở cho đầu tư tiếp ở vụ nuôi sau. Theo tài liệu của Dự án Phát triển NTTS miền núi phía Bắc, Fistenet.
Xem thêm

4 Đọc thêm

Kỹ thuật nuôi cá ao nước tĩnh ppt

KỸ THUẬT NUÔI CÁ AO NƯỚC TĨNH PPT

Một số đặc điểm của các loài cá ao * Cá trắm cỏ Cá sống ở tầng nước giữa, thức ăn chính là cây xanh như cỏ thân mềm, rau, bèo dâu, bèo tấm, lá chuối, lá sắn, cây chuối non băm nhỏ, rong,[r]

5 Đọc thêm

Tài liệu Kỹ thuật nuôi cá lóc doc

TÀI LIỆU KỸ THUẬT NUÔI CÁ LÓC DOC

Kỹ thuật nuôi cá lóc Kỹ thuật nuôi cá lóc Cá lóc là loài sống phổ biến ở đồng ruộng, kênh, rạch, ao, hồ, đầm, tốc độ sinh trưởng nhanh, thích nghi với mọi môi trường nước (đục, tù, nóng) có thể chịu đựng được ở nhiệt độ 39 - 40 độ C. Ở Miền Nam, cá lóc bông được nuôi trong lồng (bè). Dựa vào tính ăn của cá lóc, có thể nuôi ghép với mè, trôi, chép, trắm cỏ, rô phi, diếc để diệt tạp đảm bảo hợp lý nguồn thức ăn, cải tạo và nâng cao sức sản xuất của vùng nước. Tuy nhiên, cần chú ý tỉ lệ, mật độ kích cỡ thả. Nuôi cá lóc con: Trước khi thả cá bột vào, phải dọn tẩy ao để sinh vật phù du phát triển mạnh. Mật độ: 6 - 7 vạn con/mẫu. Sau khi thả 7 - 8 ngày chưa cho ăn, có thể vừa bón phân vừa vớt động vật phù du bổ sung vào ao (3 - 4 kg động vật phù du / một vạn ). 18 - 20 ngày sau có màu vàng, trên thân xuất hiện vảy, sau đó chuyển màu đen, dài 3 - 6 cm, tỉ lệ sống khoảng 60 - 65%, nuôi tiếp 20 ngày, đạt 6 cm, bắt đầu cho ăn tôm, tép, con hay thức ăn chế biến có đạm cao. Nuôi trong 2 tháng, giống được 9 - 12 cm, đưa ra ao lớn nuôi thành thịt. Nuôi thịt ở ao: Trạm Nghiên cứu nước ngọt Đình Bảng, Tiên Sơn, Hà Bắc (nay là Viện Nghiên cứu nuôi trồng Thủy sản I) đã thí nghiệm nuôi cá lóc với cá rô phi (dùng cá rô phi làm thức ăn cho cá lóc). Ao diện tích: 35 m 2 . Độ sâu: 70 - 80 cm. Mật độ thả: 0,5 - 1 con/m 2 . Sau 4 tháng nuôi, đạt 80 - 100 g/con, con lớn đạt 350 g/con. Tính ra cứ 4 kg cá rô phi con được 1 kg cá lóc thịt.
Xem thêm

4 Đọc thêm

TÀI LIỆU KỸ THUẬT NUÔI CÁ AO NƯỚC TĨNH PPTX

TÀI LIỆU KỸ THUẬT NUÔI CÁ AO NƯỚC TĨNH PPTX

ăn tạp nhưng ngả về các loại rau, bèo, cỏ non. nuôi sau 1 năm đạt trọng lượng từ 0,2 - 0,5 kg mỗi con. * Nhóm cá trôi ấn độ ( Rôhu, Mrigan) sống ở tầng giữa, ăn mùn bã hữu cơ là chính. có thể ăn cả bèo tấm, bèo dâu, rau muống non và các loại tinh bột (cám gạo, cám ngô, bột sắn ), nuôi sau 10 đến 12 tháng có thể đạt trọng lượng từ 0,5 đến 1 kg mỗi con. 3. Thả giống - Có 2 thời kỳ thả giống : Vụ xuân từ tháng 2 đến tháng 3; Vụ thu từ tháng 8 đến tháng 9. - Cần thả giống lớn, khoẻ mạnh, không sây xát, không có bệnh. Riêng vùng lạnh như sìn Hồ càng phải thả giống lớn hơn. - Mật độ thả từ 1 - 2 con cho 1 mét vuông. Tỷ lệ thả ghép các loài trong ao như sau : Trong 100 thì có : 4. Quản lý - chăm sóc ao * Thức ăn, phân bón cho ao nước tĩnh : Sử dụng thức ăn, phân bón trong ao nuôi hợp lý sẽ mang lại hiệu quả cao. Thức ăn xanh gồm : các loại cỏ, rong, bèo tấm, bèo dâu, lá chuối, lá sắn nên cho ăn đủ hàng ngày. Sau khi ăn cần vớt bỏ các cọng cỏ, cây, lá già không ăn được. Cho ăn thêm cám gạo, cám ngô, các loại bột sắn, bột mỳ, bột đậu tương. Lượng thức ăn hằng ngày cho 100 giống trong 2 tháng đầu từ 0,3 đến 0,5 kg, các tháng sau tăng dần. Ðối với trắm cỏ thì cứ 100 con cho ăn từ 2 đến 3 kg thức ăn xanh, sau tăng dần theo sự lớn lên của bằng cách theo dõi hằng ngày. Hằng tuần cần bón từ 10 đến 15 kg phân chuồng cho 100 mét vuông ao. * Quản lý ao : - Theo dõi thường xuyên bờ ao, cống thoát nước, xem mực nước ao vào các buổi sáng. - Vào sáng sớm theo dõi xem có bị nổi đầu vì ngạt thở không, có nổi đầu kéo dài không. Nếu có, tạm dừng cho ăn và thêm nước vào ao.
Xem thêm

5 Đọc thêm

CẠNH TRANH VỚI NHỮNG NGƯỜI KHỔNG LỒ - CUỘC CHIẾN KHÔNG CÂN SỨC

CẠNH TRANH VỚI NHỮNG NGƯỜI KHỔNG LỒ - CUỘC CHIẾN KHÔNG CÂN SỨC

Cạnh tranh với những người khổng lồ - Cuộc chiến không cân sứcHiện nay, trong nhiều lĩnh vực kinh doanh, các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang phải luôn đối mặt với tình trạng cạnh tranh gay gắt trên thương trường. Tuy nhiên, trong cuộc chiến không cân sức đó, đặc biệt là trong cuộc chiến với những người khổng lồ, nhiều doanh nghiệp không những đã chứng minh được sự tồn tại của mình mà còn “ăn nên làm ra” và ngày càng trở nên thịnh vượng. Họ đã làm như thế nào? Bài viết này đề cập tới bí quyết kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Pháp như một kinh nghiệm để các doanh nghiệp tại Việt Nam có thể học tập. “Các doanh nghiệp nhỏ hoạt động đơn lẻ, sớm hay muộn gì rồi cũng sẽ bị những ngườI khổng lồ “nuốt chửng”. Trong vòng 20 năm, chúng tôi đã trở thành tập đoàn thứ 2 tại Pháp về phần mềm”, Michel Goujon, Tổng giám đốc của Missler (với doanh thu hàng năm 90 triệu franc), nói. Đối với ông, hiện nay trên thế giới chỉ có 2 đối thủ đáng gờm: Dassault Systèmes và Unigraphics. Còn trong lĩnh vực sản xuất bánh mỳ, tình trạng lớn nuốt bé cũng liên tục xảy ra. La Belle Crousteline, một doanh nghiệp nhỏ với 32 triệu franc doanh thu hàng năm đã rất nỗ lực trong lĩnh vực kinh doanh của mình. Tuy nhiên, hãng này đã phải san sẻ thị phần cho hai đối thủ cạnh tranh đáng gờm khác là Brioche Pasquier và Harry’s France mà nếu xét về góc độ doanh thu hàng năm thì doanh thu của La Belle Crousteline chỉ bằng một phần năm doanh thu của một trong hai đối thủ. Rõ ràng, cuộc chiến trên thị trường đầy cạnh tranh thực sự là một cuộc chiến không cân sức. Các công ty đa quốc gia có quá nhiều ưu thế trong cuộc chiến này, trong khi các doanh nghiệp vừa và nhỏ lại yếu thế gần như về mọi mặt. Ví dụ như ngân quỹ dành cho quảng cáo của Kronenbourg ít nhất gấp 100 lần so với ngân quỹ cùng loại của nhà máy bia Duyck. Điều đó cho thấy những doanh nghiệp nhỏ cần nhắm đúng mục tiêu và bắn trúng ngay từ phát súng đầu tiên. Trong bối cảnh toàn cầu hóa cũng như các trào lưu mua bán, sáp nhập doanh nghiệp đang diễn ra rầm rộ trên thế giới, các doanh nghiệp vừa và nhỏ phải dám đương đầu vớI thách thức để duy trì sự tồn tại cũng như vị trí của mình, xa hơn nữa là để phát triển và lớn mạnh. Dưới đây là một vài ví dụ về chiến lược kinh doanh được rút ra từ kinh nghiệm của họ. Chiến lược liên kết hay tránh né? Liên kết Liên minh tạo ra sức mạnh, nguyên tắc này dường như rất đúng đối với các doanh nghiệp trong trào lưu mua bán và sáp nhập. Sự tập hợp, liên kết của các doanh nghiệp vừa và nhỏ cho phép họ có sức mạnh hơn trong các mối quan hệ với khách hàng cũng như với nhà cung cấp hay các đối tác. Ban đầu, sự liên kết, liên minh giữa các doanh nghiệp là nhằm mục đích phòng vệ để rồi sau
Xem thêm

3 Đọc thêm

TÌM HIỂU KỸ THUẬT SẢN XUẤT GIONG CÁ TRẮM CỎ

TÌM HIỂU KỸ THUẬT SẢN XUẤT GIONG CÁ TRẮM CỎ

tương đối phát triển, có răng cửa, bắt đầu ăm một ít mầm non thực vật, tỉ lệ luân trùng trong thức ăn giảm dần, nhưng các loài giáp xác vẫn chiếm thành phần chủ yếu.Khi đạt chiều dài 30-100mm, có thể nghiền nát được thực vật thượng đẳng, chuyển sang ăn thực vật thủy sinh non, các lá non, mầm non thực vật.Khi đạt chiều dài 100mm trở lên, ruột dài 220–295% thân, răng hầu phát triển hoàn chỉnh dạng lưỡi liềm (4.2–4.5), thức ăn chính là thực vật thượng đẳng trên cạn và dưới nước như trưởng thành. trắm cỏ có thể ăn một lượng thức ăn rất lớn trong ngày. Với thực vật ở cạn, chúng ăn khoảng 22.1–28.7% so với trọng lượng cơ thể trong ngày và với thực vật thủy sinh 79. –97.2%. Hệ số thức ăn của trắm cỏ thay đổi theo loại thực vật. Nếu sử dụng thực vật ở cạn hệ số thức ăn là 25.2–47.8 và với thực vật ở nước là 49–157.3.Ngoài thức ăn về thực vật, trắm cỏ còn sử dụng được nhiều loại thức ăn khác như: bột ngũ cốc, các loại sản phẩm thải công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm, phân động vật.3.6. Đặc diểm sinh trưởngCá trắm cỏ mới nở có chiều dài 6 mm, nuôi khoảng 20 ngày có chiều dài khoảng 2,5cm, cá biệt có con dài 3cmSo với các loài khác trắm cỏ là loài lớn nhanh. Trung bình 1 tuổi được 1 kg; 2 tuổi đạt 2-4 kg. Những nơi nhiều thức ăn trắm cỏ 3 tuổi đạt 9-12 kg.Chung Lân (1965), khi nghiên cứu về sinh trưởng của trắm cỏ đã phân chia quá trình sinh trưởng của trắm cỏ làm 3 giai đoạn5Chuyên đề: Tìm hiểu kỹ thuật sản xuất giong trắm cỏGiai đoạn cá hương: Tốc độ sinh trưởng về chiều dài nhanh hơn tốc độ sinh trưởng về khối lượng Giai đoạn giống: Trong giai đoạn này sự tăng trưởng về khối lượng nhanh hơn sự tăng trưởng về chiều dài.
Xem thêm

34 Đọc thêm

6 Loại Cá Có Công Dụng Chữa Bệnh pdf

6 LOẠI CÁ CÓ CÔNG DỤNG CHỮA BỆNH

6 Loại Có Công Dụng Chữa Bệnh không chỉ hương vị thơm ngon, dưỡng chất phong phú, mà còn là loại thực phẩm được ưa chuộng. Mách bạn 6 loại dưới đây còn có tác dụng trị bệnh. - diếc Có tác dụng tiêu phù, ích khí, kiện tì, giúp lưu thông huyết mạch, lợi sữa, thanh nhiệt, giải độc. Thường dùng cho sản phụ ít sữa, người bị sa dạ dày, người bị trĩ, người bị sưng phù… - Cá hố Loại này có công dụng bổ ngũ tạng, khử gió, sát khuẩn, có lợi cho người bị suy nhược tì vị, tiêu hoá không tốt, hoặc da khô nẻ. Loại này cũng có thể dùng làm thực phẩm hỗ trợ trị liệu cho các bệnh viêm gan mãn tính. Ngoài ra, ăn các hố thường xuyên giúp làn da tươi nhuận, duy trì độ ẩm và tính đàn hồi cho da. - trắm cỏ Loại này có công dụng bình gan, khử gió…thường được dùng để trị các chứng đau đầu do trúng gió, hoặc suy nhược. Tốt nhất khi ăn hấp.
Xem thêm

6 Đọc thêm

Dinh dưỡng của cá nuôi pptx

DINH DƯỠNG CỦA CÁ NUÔI PPTX

lượng đã giảm•Quá trình dị hóa chiếm ưu thế hơn đồng hóa • Khả năng sinh sản giảm  ngừng hẳn Thu hoạch 3.1.2. Sự phân chia tính ăn của cá3.1.2. Sự phân chia tính ăn của ăn thực vật• ăn động vật• ăn tạpCá trắm cỏCá ăn thực vậtCá ăn thực vậtHầu hết các loài đều ăn tạp, tuy nhiên tuỳ loài có thức ăn thích hợp riêngPhytoplankton: mè

15 Đọc thêm

NUÔI CÁ MÈ HOA pptx

NUÔI CÁ MÈ HOA PPTX

NUÔI MÈ HOAKinh nghiệm nuôi mè hoa đạt năng suất cao (NNVN, 1/8/2003) So với các loài nuôi hiện nay, mè hoa có các ưu việt sau: lớn nhanh hơn mè trắng. nuôi ở hồ Cấm Sơn (Bắc Giang) 3năm nặng 20kg, lớn nhất 40kg. Nuôi ở ao 1 năm lớn 1,5kg. mè hoa có lượng mỡ nhiều (chiếm 12% trọng lượng ) có thể "tựnó rán nó". mè hoa tính hiền lành dễ đánh bắt, lượng trứng nhiều hơn mètrắng (cỡ mè trắng 10kg có 30 vạn trứng, khi đó mè hoa có 1,5 triệutrứng).Để tăng sản lượng mè hoa nuôi ở ao, hồ, ruộng cần áp dụng mộtsố biện pháp sau đây:Do lượng động vật phù du trong ao luôn ít hơn thực vật phù du, khicho ăn thức ăn nhân tạo như: Cám, bột mì, bột sắn thì khả năng tranh ăncủa mè trắng mạnh hơn mè hoa nên thường tỷ lệ nuôi giữa mè trắng vàmè hoa thường từ 3 – 5/1.Ao nuôi mè hoa là chính, 1 năm có thể thả 3 – 4 đợt giống. Trongđiều kiện như vậy, để đảm bảo mè hoa luôn lớn nhanh hơn mè trắngthì phải:+ Nuôi ghép mè trắng cỡ nhỏ (50 – 100g/con) với mè hoa cỡ lớn(300 – 500g/con).+ Khống chế mật độ và cỡ mè trắng (khi mè trắng đạt 0,75 –1kg/con thì thu hoạch ngay) rồi lại thả tiếp cỡ nhỏ (số lượng thả bằngsố lượng cá thu).Ở các ao, hồ, đầm vùng đồng bằng hay vùng trung du nước có nhiềumầu mỡ thì thả mè hoa, trắm cỏ, trôi làm chính, ghép thêm mè trắng,cá chép, diếc; số lượng mè thả chiếm 23 – 33% tổng số lượng . Năngsuất đạt 1,8 – 3,7 tấn/1 ha, trong đó mè hoa chiếm 20 – 25% năng suấtchung.Ở hồ Cấm Sơn rộng 2600 ha, trước đây mỗi năm thả 80% mè hoa
Xem thêm

2 Đọc thêm

Kỹ thuật nuôi cá lóc doc

KỸ THUẬT NUÔI CÁ LÓC DOC

Kỹ thuật nuôi cá lóc Cá lóc là loài sống phổ biến ở đồng ruộng, kênh, rạch, ao, hồ, đầm, tốc độ sinh trưởng nhanh, thích nghi với mọi môi trường nước (đục, tù, nóng) có thể chịu đựng được ở nhiệt độ 39 - 40 o C. [http://agriviet.com] Các loại cá lóc Cá lóc là loài sống phổ biến ở đồng ruộng, kênh, rạch, ao, hồ, đầm, tốc độ sinh trưởng nhanh, thích nghi với mọi môi trường nước (đục, tù, nóng) có thể chịu đựng được ở nhiệt độ 39 - 40 o C. Ở Miền Nam, Cá lóc bông được nuôi trong lồng (bè). • Đặc điểm sinh học của cá lóc 1. Là loài dữ, phàm ăn, tính ăn rộng: nhỏ ăn : giáp xác, chân chèo, ấu trùng bọ gậy, ấu trùng côn trùng, tôm co n, nòng nọc, các loại nhỏ khác. trưởng thành ăn tạp: , ếch, nhái, tôm Chúng ăn mạnh vào mùa hè, khi nhiệt độ giảm xuống dưới 12 o C ngừng kiếm ăn. béo vào trước mùa đẻ, ở vùng nước lợ béo hơn ở vùng nước ngọt. 2. Sinh sản: 1 - 2 tuổi bắt đầu đẻ trứng, có thể đẻ 5 lần/năm. Sau khi đẻ, mẹ bảo vệ con khoảng một tháng rồi tiếp tục đẻ lần khác. Mùa đẻ ở miền Bắc vào tháng 5 - 8, tập trung vào tháng 4 - 5. đẻ ở nơi yên tĩnh, có nhiều cây cỏ thực vật thủy sinh, đẻ vào sáng sớm, sau mỗi trận mưa rào 1 - 2 ngày. Trước lúc đẻ, làm tổ hình tròn, đường kính tổ khoảng 40 - 50 cm. Ở nhiệt độ 20 - 35 o C sau ba ngày nở thành con. Trong môi trường tự nhiên, sau 3 ngày con tiêu hết noãn hoàng, lớn dài 4 - 5 cm bắt đầu tách khỏi đàn sống độc
Xem thêm

5 Đọc thêm