TRANH ĐÔNG HỒ GÀ ĐẠI CÁT

Tìm thấy 6,538 tài liệu liên quan tới từ khóa "TRANH ĐÔNG HỒ GÀ ĐẠI CÁT":

Thuyết minh về một làng nghề truyền thống - Làng tranh Đông Hồ

THUYẾT MINH VỀ MỘT LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG - LÀNG TRANH ĐÔNG HỒ

Đó là những câu ca gợi cảm về một làng nghề truyền thống từ lâu đã được người biết đến - Làng tranh Đông Hồ. Bài Làm  Hỡi cô thắt lưng bao xanh Có về làng Mái với anh thì về Làng Mái có lịch có lề Có ao tắm mát có nghề làm tranh Đó là những câu ca gợi cảm về một làng nghề truyền thống từ lâu đã được người biết đến - Làng tranh Đông Hồ. Đông Hồ, một cái tên làng quen thuộc xinh xắn nằm bên bờ sông Đuống thuộc xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, Hà Bắc cũ (nay là tỉnh Bắc Ninh, cách Hà Nội chừng trên 35 km). Từ lâu tên làng đi vào cuộc sống tinh thần của mỗi dân Việt Nam bằng những bức tranh dân gian nổi tiếng, đậm đà sắc thái dân tộc. Làng tranh Đông Hồ xưa còn gọi là làng Mái (đôi khi dân địa phương gọi là làng Hồ), là làng nghề nổi tiếng về tranh dân gian. Làng Đông Hồ nằm trên bờ nam sông Đuống, cạnh bên đò Hồ, nay là cầu Hồ. Từ Hà Nội muốn đi Đông Hồ gần nhất là xuôi theo đường Quốc lộ số 5 (đường đi Hải Phong đến ga Phú Thụy, cách Hà Nội chừng 15 km thì rẽ trái, đi chừng 18 km  các địa danh khá nổi tiếng của huyện Gia Lâm (Hà Nội) như phố Sủi, chợ Keo, chợ Dâu (Thuận Thành - Bắc Ninh) là đến phố Hồ - huyện lỵ Thuận Thành. Rẽ trái thêm 2 km là đến làng Hồ. Cũng có thể đi hết phố Hồ, lên đê rẽ gặp điểm canh đê thứ hai sẽ có biển chỉ đường xuống làng Đông Hồ. Tranh của làng Đông Hồ có từ thời Lê. Ở cái làng nghèo mà hào hoa như tranh Đông Hồ trước đây thường truyền nhau câu ca "Làng Mái có lịch có 26 sông tắm mát, có nghề làm tranh". Qua nhiều thế kỷ, 17 dòng họ đã quy về làng, vốn xưa tất cả đều làm tranh. Không khí sẩm uất vào cữ tháng một, tháng chạp, các thuyền từ xứ Đông, xứ Đoài ghé bên "ăn tranh". Người làng tranh trước ở ngoài đê vào mùa vụ làm tranh cũng phải một sương nắng tất bật khuya sớm. Thôi thì chỗ này rậm rịch tiếng chày giã điệp, chỗ dỡ ván in tranh cọ rửa lau chùi sạch sẽ. Khói đốt than lá tre ấn hiện la đà các ngọn cây. Làng Đông Hồ ruộng đất ít, sông chủ yếu bằng nghề làm. Nghề làm tranh trong làng rất được trọng vọng. Ai có hoa tay, có thú chơi cấm, kỳ, thi, họa đều được mọi người vị nể (cũng là theo cái thú ta của nhà nho xưa). Tranh Đông Hồ, hay tên đầy đủ là tranh khắc gỗ dân gian Đông Hồ, là một dòng tranh dân gian Việt Nam. Trước kia tranh được bán chủ yếu phục vụ cho dịp Tết Nguyên Đán, người dân nông thôn mua tranh dán trên tường, hết năm lại lột bỏ, dung tranh mới. Tranh làng Đông không phải vẽ theo cảm hứng nghệ thuật mà người ta dùng ván để in. Tranh được in hoàn toàn bằng tay với các bản màu; mỗi màu dùng một bản, và nét (màu đen) in sau cùng. Nhờ cách in này, tranh được "sản xuất" với số lượng lớn và không đòi hỏi kỹ năng cầu kỳ nhiều. Tuy nhiên vì in trên ván một cách thủ công, nên tranh bị hạn chế về mặt kích thước, thông thường tờ tranh không lớn quá 50 cm mỗi chiều. Để có những bản khắc đạt đến trình độ tinh xảo phải có người vẽ mẫu. Những người vẽ mẫu và bản khắc ván hỏi họ phải có lòng yêu nghệ thuật và tâm hồn nghệ sĩ, đặc biệt phải có trình độ kỹ thuật cao. Công đoạn in tranh có lẽ không khó lắm bởi lẽ ai cũng có thể phết màu lên ván rồi in. Giấy dùng in tranh là loại giấy gió mịn mặt. Trước khi in, giấy được bồi điệp làm nền, chất điệp óng ánh lấy từ vỏ con sò, con hến tạo nên chất liệu riêng biệt của tranh dân gian Đông Hồ. Sau khi in thành tranh, kể cả lúc tranh khô, người xem vẫn cảm nhận được màu sắc của tranh thật tươi tắn như lúc tranh ướt. Các hình khối, mảng nọ đặt cạnh mảng kia sự ăn ý hài hoà một cách tự nhiên. Các màu đã hoà quyện in tranh thường từ chất liệu thiên nhiên: màu đen người ta phải đốt lá tre rồi lấy than của màu xanh lấy từ vỏ và lá tràm, màu vàng lấy từ hoa hòe, màu đỏ thắm lấy thân, rễ cây vang, màu son lấy từ sỏi núi, màu trắng là điệp... Xem tranh gian ta thường bắt gặp cái thú vị ở những nét ngây ngô đơn giản nhưng họ; hợp tình. Tranh Đông Hồ còn hấp dẫn bởi vẻ rực rỡ, sắc màu tươi rói những bộ tứ binh, Thạch Sanh, những gà, lợn, mèo, chuột, ngựa... Một nhà xứ Kinh Bắc đã viết: Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong   Hồn dân tộc sáng bừng trên giấy điệp Có thể nói, cái đặc biệt của tranh Đông Hồ là ở chỗ đó. Tranh dân Hàng Trống, Kim Hoàng, Huế... không thể có sắc màu muôn hồng ngàn tía tranh Đông Hồ, cũng không thể có nền giấy điệp quyến rũ đó. Người sành tranh Đông Hồ chính bởi chất dân gian chứa đụng trong tờ tranh nền giấy điệp trắng ngà, lướt nhẹ lượt hoà vàng hay vàng đỏ. Tranh Đông Hồ gồm các loại: Tranh thờ - bộ ngũ sự; tranh lịch sử: Hai Trưng, Bà Triệu...; truyện tranh: Thánh Gióng, Truyện Kiều, Thạch Sanh; phổ biến nhất là chúc tụng; ví như tranh Vinh hoa - Phú quý, Nghi xuân, Gà (xem thêm Bảy bức tranh gà); tranh sinh hoạt: Đánh Ghen, Chăn Trâu Thổi Sách. Nhà Nông, Đám cưới Chuột, Hái dừa... Tranh Đông Hổ có đặc điểm thường là những hình ảnh sung túc như đám cưới chuột, cảnh trai gái cùng nhau hái dừa, cảnh cá chép nhiều màu vẫy đuôi... thể hiện mong muốn về sự sung túc. Có một điều đặc biệt là người dân làng Hồ chuyên sản xuất tranh nhưng chẳng bao giờ treo trong nhà mà đem bán hoặc cho hết. Hàng năm làng Hồ cơ hội làng vào rằm tháng ba âm lịch. Trong hội làng có những nghi thức truyền thống như tế thần, thi mã, thi tranh rất vui vẻ. Làng còn có các làn điệu dân ca như: Hỡi anh đi đường cái quan Dừng chân ngắm cảnh mà tan nỗi sầu Mua tờ tranh điệp tươi màu Mua đàn gà lợn thi nhau đẻ nhiều. Theo thời gian làng tranh cũng trải qua biết bao nhiêu thăng trầm. Các cụ nghệ nhân trong làng kể lại: Hòi Pháp thuộc, người ở nhà Bác Cổ thỉnh thoảng sẽ đánh xe ô tô về mua tranh, thậm chí mua cả bàn khắc tranh nữa! Nhà cụ Lừ bản khắc tranh gà rất quý đưa đi đóng cửa chuồng gà, người Pháp phát hiện ra hỏi mua cụ bán liền. Nghĩ lại mà tiếc! Còn nhớ cái thuở Tây càn, dân làng Hồ chạy loạn, binh lửa chiến tranh liên miên và cái khí hậu ẩm ướt khắc nghiệt của thiên nhiên miền Bắc, ván khắc tranh bị hỏng và thất lạc khá nhiều. Bản gốc tranh Đánh ghen, Gà đại cát, lợn ăn lá dày... cũng không còn nữa. Sau ngày Hòa Bình lập lại thấy trên báo Pháp có in tranh dân gian làng Hồ, Chính phủ e phải liên hệ với Đảng Cộng sản Pháp xin cho khắc lại ván tranh để bảo tồn. Đã một thời gian tranh dân gian Đông Hồ bị lãng quên nên nghề làm tranh mai một ít nhiều. Không ít hộ bỏ làm tranh chuyển sang làm đồ vàng mã. Nhưng vài năm trở lại đây người Đông Hồ lại hoan hỉ trở lại với nghề tranh nhiều hơn bởi người dân của ta đã lại nhận ra vẻ đẹp trong sự mộc mạc giản dị của tranh Đông Hồ là không thế thiếu được trong cuộc sống thường nhật, nhất là ngày Tết. Tranh Đông Hồ có một dạo lên đến điểm "cực thịnh", đã từng sáng giá trong các triển lãm nghệ thuật lớn ở các nước trên thế giới với nét vẽ nhuần nhụy, tươi tắn như hồn người đất Việt. Không chỉ có người Hà Nội và dân một số tỉnh thành trong nước yêu thích tranh dân gian Tết Đông Hồ vẽ tham quan tìm hiểu và chọn mua, mà không ít du khách, những người trong lĩnh vực hội họa, mỹ thuật của nước ngoài cũng đến để nghiên cứu về nghệ thuật tranh dân gian nổi tiếng của làng Hồ. Bà con Việt kiều khi về nước cùng phải tìm mua bằng được những bức tranh làng Hồ và cô Tố Nữ dáng quê hương, để khi ở xa quê trong sương mù Luân Đôn hay cái giá lạnh của Pa-ri hoa lệ, cảm thấy ấm lòng ở chốn tha hương. Loigiaihay.com Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Bài tiểu luận cơ sở văn hóa : đặc điểm,thực trạng phát triển chung cũng như là đề xuất giải pháp giữ gìn và phát triển dòng tranh dân gian Đông Hồ

BÀI TIỂU LUẬN CƠ SỞ VĂN HÓA : ĐẶC ĐIỂM,THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CHUNG CŨNG NHƯ LÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP GIỮ GÌN VÀ PHÁT TRIỂN DÒNG TRANH DÂN GIAN ĐÔNG HỒ

1.Lý do chọn đề tài ..Ai về bên kia sông Ðuống Cho ta gửi tấm the đen Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên Những hội hè đình đám Trên núi Thiên Thai Trong chùa Bút Tháp Giữa huyện Lang Tài Gửi về may áo cho ai ? … (“Bên kia sông Đuống” Hoàng Cầm) Làng quê Kinh Bắc được biết đến bao đời nay là cái nôi của văn hóa dân gian Việt Nam . Kinh Bắc yên bình với những triền đê quanh co , những cánh đồng rộng rãi và bên dòng sông Đuống êm ả. Kinh Bắc cổ kính lâu đời với những ngôi chùa hàng trăm năm tuổi cùng các làng nghề truyền thống. Kinh Bắc lại đẹp duyên dáng bên những làn điệu dân ca quan họ.Về với Kinh Bắc là người ta về với chùa Dâu, chùa Bút Tháp, lăng Kinh Dương Vương ,hay về với làng gốm Phù Lãng, làng nghề tre trúc Xuân Lai, hội Lim…Về với Kinh Bắc người ta cũng không quên ghé qua làng Đông Hồ (xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) vùng đất đã nổi tiếng suốt 5 thế kỷ qua với một dòng tranh dân gian được coi như di sản văn hóa không thể thiếu của người Việt. “...Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp...” Tranh Đông Hồ là một trong ba dòng tranh dân gian tồn tại ở Việt Nam,là di sản văn hóa quý báu của dân tộc ta.Các nghệ nhân dân gian đã dựa trên những nhu cầu thực tiễn trong cuộc sống và thực tiễn sản xuất để tạo nên những bức tranh đẹp,phong phú và giàu ý nghĩa. Tranh Đông Hồ mô tả đời sống sinh hoạt hằng ngày với những nét vẽ khoáng đạt,tinh tế cùng với màu sắc sặc sỡ từ tự nhiên nên nó hòa hợp một cách tự nhiên vaò không khí ngày tết vui tươi,làm cho ngôi nhà của mỗi người dân Việt thêm sinh động,đặc biệt là nâng cánh cho những ước mong,những lời chúc tết cho gia đình thêm sung túc,hạnh phúc và thành công. Không phải tự nhiên mà nhà thơ Hoàng Cầm gọi tranh dân gian Đông Hồ là”Màu Dân Tộc”,tranh còn là sự cô đọng lại những 5000 năm dựng nước của dân tộc mà không phải ai củng biết thông qua những nét vẽ điêu luyện,màu sắc tinh tế,được gọt dũa bởi những bàn tay điêu luyện bậc thầy như nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam,Nguyễn Đăng Chế, .Nhìn vào mỗi bức tranh ta như được thấy lại được những sự kiện,những phong tục,tập quán cổ truyền quen thuộc của dân tộc Việt từ xưa tới nay. Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử dân tộc,các dòng tranh dân gian của dân tộc có số phận riêng của mình,tranh Đông Hồ củng vậy,tuy nhiên những nét đẹp văn hóa vốn có của nó vẩn tồn tại đi cùng năm tháng.Chúng ta củng biết được rằng như một quy luật tất yếu,sự phát triển kinh tế thị trường đi kèm với xu thế Toàn Cầu Hóa,nền văn hóa của các dân tộc có cơ hội giao thoa với nhau,điều này khiến cho nền văn hóa truyền thống Việt Nam cũng như dòng tranh dân gian Đông Hồ đứng trước những thử thách lớn.Nguy cơ một dòng tranh dân gian của dân tộc với những nét đẹp vui tươi,dí dỏm,thể hiện nét nhân văn,truyền thống mộc mạc của làng quê sẻ dần bị mai một,dần bị quên lãng và rơi vào quá khứ.Sẻ là như vậy nếu như chúng ta không kịp đưa ra các giải pháp cụ thể,mang tính khả thi,sự hòa trộn các nền văn hóa với nhau là điều tất yếu,văn hóa sẻ là một nền màu giống nhau,chúng ta sẻ không phân biệt được đăc trưng của các quốc gia với nhau,điều đó là không thể chấp nhận được.Câu hỏi đặt ra là làm sao vừa hội nhập lại vừa giữ gìn và bảo tồn,phát huy giá trị dòng tranh dân gian Đông Hồ?bài nghiên cứu này của tôi chỉ mong đóng góp những hiểu biết nhỏ bé,những sự yêu thích của mình về nét đẹp,nét văn hóa của dòng tranh dân gian Đông Hồ ở Bắc Ninh củng như là đưa ra một số đề xuất về việc bảo tồn và phát triển dòng tranh trước xu thế chung hiện nay.
Xem thêm

49 Đọc thêm

Soạn bài Bên kia sông đuống

SOẠN BÀI BÊN KIA SÔNG ĐUỐNG

Tác giả và xuất xứ bài thơ 1. Hoàng Cầm - nhà thơ Kinh Bắc, nổi tiếng tài hoa. Có nhiều kịch thơ trước năm 1945: “Kiều Loan”; “Hận Nam Quan”, “Lên đường”. Một số tập thơ, tiêu biểu nhất là “Mưa Thuận Thành”, “Về Kinh Bắc”… Kháng chiến bùng nổ, Hoàng Cầm đi bộ đội, làm công tác văn nghệ trong Quân đội. 2. Một đêm tháng 4/1948, tại Việt Bắc, được trực tiếp nghe tin giặc đánh phá quê hương mình, Hoàng Cầm xúc động và ngay đêm ấy viết bài thơ “Bên kia sông Đuống”, một trong những bài thơ hay nhất của ông. Chủ đề Bài thơ thể hiện tình yêu mến, thương nhớ và tự hào đối với quê hương kinh Bắc; căm giận quân xâm lược đang giày xéo quê hương; niềm tin vào một ngày mai giải phóng, quê hương trở lại thanh bình. Những tình cảm đẹp về quê hương và những câu thơ hay đáng nhớ 1. Hai câu thơ mở đầu với tiếng “em” thần tình. Không xác định. Có thể là người thương trong nỗi nhớ đồng vọng. Có thể là một nhân vật trữ tình xuất hiện mơ hồ trong tâm tưởng thi nhân? Cũng có thể là sự phân thân của tác giả? “Em” xuất hiện, gợi nhớ gợi thương, để vỗ về an ủi và chia xẻ nỗi đau buồn, thương nhớ. Cũng là để thi sĩ khơi nguồn cảm xúc đang dào dạt trong lòng. Ý vị đậm đà chất thơ của bài “Bên kia sông Đuống” là ở tiếng “em” và 2 câu thơ này: “Em ơi buồn làm chi Anh đưa em về sông Đuống” 2. Dòng sông tuổi thơ Với Hoàng Cầm thì sông Đuống là dòng sông thơ ấu với bao thương nhớ. Con sông đã gắn bó với tâm hồn nhà thơ. Nhớ không nguôi “cát trắng phẳng lì”, nhớ nao nao lòng “Sông Đuống trôi đi - Một dòng lấp lánh”; lấp lánh ánh bình minh, lấp lánh trăng sao soi vào gương sông trong xanh. Nhớ về dáng hình, về thế đứng của nó trong lịch sử: “Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ”. Câu thơ mang hàm nghĩa thế đứng hiên ngang của quê hương trong kháng chiến. Đôi bờ dòng sông quê hương là một màu “xanh xanh” bát ngát, là sắc “biêng biếc” của bãi mía, bờ dâu, của ngô khoai. Bức tranh quê trù phú, giàu đẹp thật “nhớ tiếc” và “xót xa” vô cùng: “Xanh xanh bãi mía bờ dâu Ngô khoai biêng biếc Đứng bên này sông sao nhớ tiếc Sao xót xa như rụng bàn tay” 3. Quê hương có nền văn hóa lâu đời đang bị quân thù giày xéo tàn phá. Nhà thơ sử dụng nghệ thuật tương phản đối lập để làm nổi bật nỗi nhớ tiếc, nỗi xót xa, nỗi đau đớn căm hờn… Tương phản xưa và nay, thuở bình yên với từ ngày khủng khiếp, đối lập giữa cảnh tưng bừng rộn rã với bây giờ tan tác về đâu… - Giặc Pháp cướp nước là kẻ đã gây ra cảnh chém giết đau thương và điêu tàn khủng khiếp: “Quê hương ta từ ngày khủng khiếp Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn Ruộng ta khô Nhà ta cháy Chó ngộ một đàn Lưỡi dài lê sắc máu…” Xưa kia, vùng Thuận Thành, bên kia sông Đuống, quê hương thân yêu của nhà thơ là một vùng giàu đẹp, có hương lúa nếp “thơm nồng”, có làng tranh Đông Hồ nổi tiếng, sự kết tinh những tinh hoa văn hóa cổ truyền giàu bản sắc dân tộc: “Bên kia sông Đuống Quê hương ta lúa nếp thơm nồng Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp” Nay giặc kéo đến thì “Ruộng ta khô – Nhà ta cháy”, điêu tàn, tan tác, đau thương. Nỗi tang tóc trùm lên, đè nặng mọi kiếp người. Hạnh phúc và ước mơ bị giày xéo, bị chà đạp. Sự sống bị hủy diệt đến kiệt cùng: “Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang. Mẹ con đàn lợn âm dương Chia lìa đôi ngả Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã Bây giờ tan tác về đâu” Tranh Đông Hồ trong thơ Hoàng Cầm không chỉ là nét đẹp riêng rất tự hào của quê hương mình mà còn là một biểu tượng của hạnh phúc, đoàn tụ, yên vui trong thanh bình, là nỗi đau trước sự tàn phá, điêu tàn, tan tác của một miền văn hóa lâu đời thời máu lửa. Thuận Thành, Kinh Bắc có núi sông mĩ lệ, chùa chiền thắng cảnh với bao lễ hội tưng bừng mang theo bao huyền thoại, sự tích thần kỳ, với những gác chuông, những tháp, những tượng Phật cổ kính bao đời nay. Chùa Phật Tích, núi Thiên Thai, chùa Dâu, chùa Bút Tháp, tượng Phật Quan Âm nghìn mắt nghìn tay. Ca dao: “Dù ai đi đẩu đi đâu - Cứ nhìn thấy tháp Chùa Dâu mà về”. Tục ngữ: “Mồng bảy hội Khám, mồng tám hội Dâu, mồng chín đâu đâu cũng về hội Gióng”. Phan Huy Chú đã viết trong “Lịch triều hiến chương loại chí”: “Kinh Bắc có mạch núi cao chót vót, nhiều sông quanh vòng, là mạn trên của nước ta… Mạch đất tốt tụ vào đấy nên càng nhiều chỗ có dấu tích đẹp, tinh hoa hợp vào đấy nên sinh ra nhiều danh thần”. Trong chiến tranh, đưa con ly hương nhớ tiếc, xót xa quê hương: “Ai về bên kia sông Đuống Cho ta gửi tấm the đen Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên Những hội hè đình đám Trên núi Thiên Thai Trong chua Bút Tháp Giữa huyện Lang Tài Gửi về may áo cho ai Chuông chùa văng vẳng nay người ở đâu”… 4. Nhớ con người quê hương Nhớ sông Đuống, nhớ bãi mía bờ dâu, nhớ hương lúa nếp thơm nồng… Nhớ mãi, nhớ nhiều những hội hè đình đám, nhớ tranh gà lợn, nhớ giấy điệp. Nhớ núi Thiên Thai, nhớ chuông chùa ngân nga… Nhớ “nàng môi cắn chỉ quết trầu”, nhớ cụ già “phơ phơ tóc trắng”, nhớ “những em sột soạt quần nâu”. Nhớ bồi hồi “từng khuôn mặt búp sen - Những cô hàng xén răng đen - Cười như mùa thu tỏa nắng”. Nhớ “những nàng dệt sợi – Đi bán lụa mầu”… nhớ “Những người thợ nhuộm - Đồng Tỉnh, Huê Cầu…”. Câu thơ “Bây giờ tan tác về đâu” và “Bây giờ đi đâu về đâu” được nhấn đi nhấn lại nhiều lần, vừa gợi tả nỗi đau thương tan tác, vừa thể hiện nỗi nhớ ứa máu tơi bời, nỗi xót xa và căm giận lũ hung tàn cướp nước. Những câu thơ nói về nỗi thương nhớ đàn con thơ và mẹ già rất xúc động: - Thương mẹ già: “Mẹ ta lòng đói dạ sầu Đường trơn mưa lạnh mái đầu bạc phơ” - Thương đàn con thơ: “Ngày tranh nhau một bát cháo ngô Đêm líu ríu chui gầm giường tránh đạn…” 5. Quê hương chiến đấu Cảnh đón bộ đội về làng rất cảm động. Cuộc hội ngộ tình quân dân cũng là sự hồi sinh và niềm vui hạnh phúc: “Lửa đèn leo lét soi tình mẹ, Khuôn mặt bừng lên như dựng trăng” Cảnh giết giặc: Dao lóe giữa chợ - Gậy lùa cuối thôn – Lúa chín vàng hoe, giặc mất hồn… Chúng mày phát điên – Quay cuồng như xéo trên đống lửa”… - Đồng quê quật khởi đứng lên: “Mà cánh đồng ta còn chan chứa Bao nhiêu nắng đẹp mùa xuân Gió đưa tiếng hát về gần Thợ cấy đánh giặc, dân quân cày bừa” 6. Ngày hội non sông Hoàng Cầm viết bài thơ “Bên kia sông Đuống” vào năm 1948, lúc bấy giờ quê hương đất nước ta còn đầy bóng giặc, chân trời thắng lợi còn xa vời. Phải gần 7 năm sau, ta mới có chiến thắng Điện Biên Phủ. Thế mà thi sĩ đã nói đến ngày hội non sông. Thơ kháng chiến hay nói đến “ngày mai”, một ngày mai thanh bình ca hát. Phải đổ biết bao xương máu, phải có ngàn vạn chiến sĩ ngã xuống, nhân dân ta mới có “ngày mai” như các nhà thơ đã viết: “Phải bao máu thấm trong lòng đất Mới ánh hồng lên sắc tự hào?” (Tố Hữu) Vì vậy, ta có thể nói, phần cuối bài “Bên kia sông Đuống” rất hay. Cảm hứng lãng mạn dào dạt. Nhân vật “em” lại xuất hiện. Duyên dáng, trẻ trung, tình tứ. Niềm tin về một ngày mai tái hợp sáng bừng vần thơ: “Bao giờ về bên kia sông Đuống Anh lại tìm em Em mặc yếm thắm Em thắt lụa hồng Em đi trẩy hội non sông Cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh”. Kết luận Cách chúng ta gần ba nghìn năm, nhà thơ Home (Hy Lạp) đã viết: “Không có mảnh đất nào êm đềm bằng quê cha đất mẹ”. Bài thơ “Bên kia sông Đuống” giúp ta cảm nhận sâu hơn ý tưởng của Hôme. Con sông Đuống và Thuận Thành, Kinh Bắc là quê hương nhà thơ. Nhưng người đọc thấy vô cùng thân thiết gắn bó với mình. Cái ý vị, cái hay của bài thơ là ở chỗ ấy. Câu thơ dào dạt theo cảm xúc rất hồn nhiên mà giàu nhạc điệu. Nhạc điệu ngọt ngào của dân ca Quan họ. Sâu lắng, thiết tha, bồi hồi là âm hưởng, là sắc điệu trữ tình đã thấm sâu vào hồn ta tình yêu quê hương đất nước. “Bên kia sông Đuống” xứng đáng là kiệt tác của thi ca Việt Nam hiện đại.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Em hãy tả một con vật nuôi trong gia đình mà em yêu thích

EM HÃY TẢ MỘT CON VẬT NUÔI TRONG GIA ĐÌNH MÀ EM YÊU THÍCH

Anh Hùng học lớp 12 chuẩn bị thi tốt nghiệp và thi đại học. Tiếng gáy sáng của con gà trống nhà em là cái đồng hồ báo thức của anh. Đêm anh học đến 12 giờ; sáng anh dậy lúc 4 giờ rưỡi. Anh nói: “Con gà trống nhà ta gáy còn đúng hơn đồng hồ điện tử”. Ngắm con gà trống đậu trên bờ tường hoa cất tiếng gáy vào lúc bình minh, mới thấy đẹp, một vẻ đẹp oai phong và kiêu hùng. “ Ò…ó…o…”, chú gáy cho đàn gà thần dân biết là ông hoàng ta đây oai vệ lắm! Chú dám đấu với con Vện nhà bác Cung. Chú đã đá cho con diều hâu một trận tơi tả khi tên “không tặc” dám cả gan xâm phạm đến vương quốc của chú mà bắt gà con. Hãy nhìn xem chú gà trống đi dạo giữa đàn gà, khi mỗi sáng , mỗi chiều, mẹ tung ngô, tung thóc, phát lương thực ăn cho đàn gia cầm. Trong khi mấy con bồ câu vừa nhảy vừa chọn miếng ngon, bầy gà nhép tranh nhau mổ nhau chí chóe, khi mụ ngan đụn xòe cánh tham ăn đớp mồi, thì chú gà trống nhẩn nha mổ mổ, như ăn lấy chơi giữa mấy ả gà mái tơ mượt mà trong bộ khoác vàng óng, trong dáng điệu dịu dàng. Một miếng ăn ngon, một hạt ngô, một hạt đỗ, một con sâu nhỏ, chàng công tử phong lưu đa tình đều phân phát cho các mĩ nhân. Em gọi con gà trống là “Ông Hoàng Tía”. Chú cao to bệ vệ phải đến bốn, năm ki-lô-gam. Bộ long đỏ tía, đuôi và đôi cánh điểm long đen nhánh. Lông cổ màu vàng sẫm làm cho thân hình chú thêm rực rỡ, chói lọi.. Cái mỏ màu ngà, nhọn có lẽ cứng như một mũi khoan thép. Con gà trống nhà cô Huệ, con gà trống nhà bác Cung, con gà màu thó nhà cụ Chỉ đã bị con gà trống nhà em đánh cho đại bại. Cặp chân của chú caoto, có bốn móng nhọn và chiếc cựa nhọn hoắt như cái đùi. Con Vện, con ngỗng đã kinh hoàng về những cú đá song phi của chú.   Gà trống để làm giống. Mẹ nuôi 6 gà mái đẻ quanh năm. Trứng gà, gà thịt, gà thiến, gà mái tơ là nguồn thu nhập của mẹ. Cháo gà mẹ nấu bồi dưỡng cho anh Hùng thức khuya học ôn thi. Chủ nhật nào, cả nhà cũng được ăn thịt gà. Giỗ ông, giỗ bà, mẹ giết một lúc ba bốn con gà to. Mẹ bảo: “Đó là lộc của con gà trống nhà ta”. Giống tốt, to con, nên mẹ chăm bẩm nó lắm. Con gà trống nhà em chẳng kém gì con gà trống của vợ Sọ Dừa trên hoang đảo? “Ò…ó…o…”, chú ta lại cất tiếng gáy giục em cắp sách tới trường. Rạng đông rồi đó. loigiaihay.com
Xem thêm

1 Đọc thêm

SKKN TÌM HIỂU MÀU SẮC ĐƯỜNG NÉT TRONG TRANH ĐÔNG HỒ VÀ HÀNG TRỐNG ÁP DỤNG CÁC BÀI VẼ TRANH ĐỀ TÀI THCS

SKKN TÌM HIỂU MÀU SẮC ĐƯỜNG NÉT TRONG TRANH ĐÔNG HỒ VÀ HÀNG TRỐNG ÁP DỤNG CÁC BÀI VẼ TRANH ĐỀ TÀI THCS

trau chuốt, tinh tế khác hẳn với cách chồng màu bằng các ván khắc của tranh ĐôngHồ. Đường nét nền của tranh hàng trống không rõ ràng như Đông Hồ mà có chỗlơi đi chìm vào màu đặt những màu tương phản, bổ túc nhau ... Cùng tên với “Tổnữ” của tranh Đông Hồ, tranh hàng trống cũng có bức tranh “Tố nữ” với bốn thiếunữ đang đàn, thổi sáo, mua hát… ở đây, do kỹ thuật tô màu bằng tay vờn khối, tạosáng tối mềm mại, đường nét in mảnh nhỏ tạo những nếp áo dài rất hiệu quả, cácthiếu nữ với các dáng khác nhau duyên dáng và mềm mại hơn. Màu nền nhẹnhàng, nổi bật trên đó là bốn màu của áo dài được pha trộn theo gam màu tạo chotranh cân đối hài hoà, tranh trở nên có không gian và sinh động. Cách trang trí lọhoa, hình với hoa văn khác nhau cộng với phần chữ đã làm cho tranh cân đối, tạođược thần thái của người thiếu nữ Việt Nam trong trang phục áo dài truyền thống.Tranh “Ngũ hổ” (Hình 12) càng thể hiện tranh hàng trống đường nột thậttinh vi. Với những đường võn trờn mỡnh hổ mềm mại, đặc biệt là từng sợi ria trờnmặt hổ lại càng được tỉa tút cụng phu tỉ mỉ. Năm con hổ, hai bờn đối xứng nhau tạosự cõn đối vững chói, đụi mắt to tròn, dỏng uốn lượn thể hiện sự dữ tợn của hổ.Nột viền đen mảnh, nhiều chỗ lẫn cựng với màu. Màu cú chỗ được vờn chồng lờnnhau tạo cho tranh chuyển động mềm mại hơn, tươi mà khụng chúi. Khỏc với nềncủa tranh khỏc, tranh “Ngũ hổ” được đặt trờn nền màu xanh lam, nổi bật là nămcon hổ nằm trung tõm bức tranh với màu sắc tươi, rực rỡ.Tranh “Ngũ hổ” là sự hội tụ của kỹ thuật vẻ màu cụng phu, tỉ mỉ, cỏc nột vẽtrau chuốt, tinh tế khỏc hẳn với cỏch chồng màu bằng cỏc vỏn khắc của tranhĐụng Hồ. Đường nột nền của tranh hàng trống khụng rừ ràng như Đụng Hồ mà cú15chỗ lơi đi chỡm vào màu đặt những màu tương phản, bổ tỳc nhau ... Cựng tờn với“Tổ nữ” của tranh Đông Hồ, tranh hàng trống cũng có bức tranh “Tố nữ” với bốnthiếu nữ đang đàn, thổi sáo, mua hỏt… ở đây, do kỹ thuật tụ màu bằng tay vờnkhối, tạo sỏng tối mềm mại, đường nột in mảnh nhỏ tạo những nếp ỏo dài rất hiệuquả, cỏc thiếu nữ với cỏc dỏng khỏc nhau duyờn dỏng và mềm mại hơn. Màu nền
Xem thêm

33 Đọc thêm

SKKN Vận dụng nét vẽ đẹp tranh dân gian Đông Hồ trong dạy học mĩ thuật ở tiểu học

SKKN Vận dụng nét vẽ đẹp tranh dân gian Đông Hồ trong dạy học mĩ thuật ở tiểu học

SKKN Vận dụng nét vẽ đẹp tranh dân gian Đông Hồ trong dạy học mĩ thuật ở tiểu họcSKKN Vận dụng nét vẽ đẹp tranh dân gian Đông Hồ trong dạy học mĩ thuật ở tiểu họcSKKN Vận dụng nét vẽ đẹp tranh dân gian Đông Hồ trong dạy học mĩ thuật ở tiểu họcSKKN Vận dụng nét vẽ đẹp tranh dân gian Đông Hồ trong dạy học mĩ thuật ở tiểu họcSKKN Vận dụng nét vẽ đẹp tranh dân gian Đông Hồ trong dạy học mĩ thuật ở tiểu họcSKKN Vận dụng nét vẽ đẹp tranh dân gian Đông Hồ trong dạy học mĩ thuật ở tiểu họcSKKN Vận dụng nét vẽ đẹp tranh dân gian Đông Hồ trong dạy học mĩ thuật ở tiểu họcSKKN Vận dụng nét vẽ đẹp tranh dân gian Đông Hồ trong dạy học mĩ thuật ở tiểu họcSKKN Vận dụng nét vẽ đẹp tranh dân gian Đông Hồ trong dạy học mĩ thuật ở tiểu họcSKKN Vận dụng nét vẽ đẹp tranh dân gian Đông Hồ trong dạy học mĩ thuật ở tiểu họcSKKN Vận dụng nét vẽ đẹp tranh dân gian Đông Hồ trong dạy học mĩ thuật ở tiểu họcSKKN Vận dụng nét vẽ đẹp tranh dân gian Đông Hồ trong dạy học mĩ thuật ở tiểu họcSKKN Vận dụng nét vẽ đẹp tranh dân gian Đông Hồ trong dạy học mĩ thuật ở tiểu họcSKKN Vận dụng nét vẽ đẹp tranh dân gian Đông Hồ trong dạy học mĩ thuật ở tiểu họcSKKN Vận dụng nét vẽ đẹp tranh dân gian Đông Hồ trong dạy học mĩ thuật ở tiểu học
Xem thêm

Đọc thêm

Trò chơi dân gian đá gà

TRÒ CHƠI DÂN GIAN ĐÁ GÀ

Mỗi người chúng ta ai cũng đã từng là một đứa trẻ và đã từng chơi những trò chơi của trẻ. Những vòng quay của con quay (chơi cù) hay những bước nhảy lò cò của trò chơi ăn quan... tất cả như một bức tranh sinh động của cuộc sống. Những điệu nhảy mềm mại, những cánh diều bay nhè nhẹ trên cao như đưa văn hóa Việt Nam đến khắp năm châu. Trò chơi trẻ em Việt Nam thường bắt nguồn từ những bài đồng dao, một thể loại văn vần độc đáo của dân tộc. Đấy là những bài ca có nhịp điệu đơn giản gieo vần một cách thoải mái, có thể ngắn dài bất kỳ hoặc lặp đi lặp lại không dứt. Chơi chọi gà là một trong những thú chơi được trẻ em thích thú vì không chỉ nó là con vật gần gũi với đời sống của trẻ mà nó còn mang ý nghĩa như một chiến binh khát vọng chiến thắng:“Con gà cục tác cục ta Hay đỗ đầu hè hay chạy rông rông Má gà thì đỏ hồng hồng Cái mỏ thì nhịn, cái mồng thì tươi Cái chân hay đạp hay bơi Cái cánh hay vỗ lên trời gió bay”
Xem thêm

4 Đọc thêm

Kể chuyện cóc kiện trời

KỂ CHUYỆN CÓC KIỆN TRỜI

Dựa vào tranh minh hoạ, kể lại một đoạn truyện Cóc kiện Trời theo lời của một nhân vật trong truyện.Kể lại đoạn 2 theo lời của Cóc : Dựa vào tranh minh hoạ, kể lại một đoạn truyện Cóc kiện Trời theo lời của một nhân vật trong truyện. Kể lại đoạn 2 theo lời của Cóc : Sáu người chúng tôi nương theo ngọn gió đi vun vút tới cửa nhà Trời Cứa nhà Trời vẫn đóng chặt, bên ngoài có troo một, cái trống lớn. Tôi suy nghĩ rồi phân cho mỗi người vào một vị trí thích hợp để sẵn sàng chiến đấu : Anh Cua thì bò vào chum nước, cô Ong thì đợi sau cánh cửa, còn chị Cáo, anh Gấu, anh Cọp thì nấp ở hai bên. Khi quân binh của chúng tôi đã mai phục xong, tôi với lấy cái dùi đánh ba hồi trống làm náo động cả thiên đình. Nghe tiếng trống, Trời nổi giận sai Gà ra trị tội tôi nhưng Gà vừa bay đến thì Cáo nhảy ra cắn cổ tha đi mất. Trời lại sai Chó ra đuổi bắt Cáo, nhưng Chó mới ló đầu ra đã bị Gấu quật ngã chết tươi. Trời giận dữ và sai Thần Sét ra trừng trị Gấu thì Thần Sét bị Ong châm túi bụi phải nhảy vào chum nước. Trong chum, Thần Sét lại bị Cua kẹp đau điếng phải nhảy vội ra và bị Cọp vồ luôn. Thế là quân nhà Trời đại bại và chúng tôi toàn thắng.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Tả gà mẹ và đàn gà con của gia đình em

TẢ GÀ MẸ VÀ ĐÀN GÀ CON CỦA GIA ĐÌNH EM

Đoạn văn tả gà mẹ và gà con. Mẹ gà ria mồi ban phát cho các con. Cặp mắt gà mẹ sáng lên trong niềm vui hạnh phúc. Bài mẫu tả gà mẹ và đàn gà con     Gà mẹ đi trước, đàn gà con theo sau. Cả một gia đình đông vui, hạnh phúc quá! Gà mẹ có biết đếm không, 18 đứa con tất cả. Cái đuôi tôm sắp xòe ra, màu vàng nâu, cặp chân bé tí bước liến thoắng, thỉnh thoảng các chú gà con lại vỗ cánh bay, lại nhún chân nhảy trông thật đáng yêu. Mẹ gà kêu “cục... cục...”, êm ái, đều đều. Mẹ con đi vòng sân tắm nắng. Nắng mai rực rỡ, cả đàn gà vàng rực lên. Gà mẹ xòe cánh, lúc duỗi chân, lúc nghiêng mỏ ngoái đầu, âu yếm nhìn đàn con thơ. Em vừa tung tấm xuống góc sân, bồ câu, gà choai, gà mái ghẹ, gà trống, vợ chồng mụ ngan xông đến tranh mồi. Gà mẹ trấn giữ một vùng, không có con ngan, con gà choai nào dám bén mảng đến tranh giành, dù chỉ một hạt tấm ngô nhỏ. Cái mỏ sắc như mũi giáo, cặp chân cứng như sắt của gà mẹ, bất cứ con gia cầm nào cũng kinh hồn bạt vía. Mẹ gà “cục... cục..” gọi đàn gà con ra vườn bắt sâu, bắt giun, bắt kiến. Chốc chốc, mẹ gà lại chia mồi cho các con. Mẹ đuổi theo con châu chấu, đàn con xông lên đón đường bao vây. Mẹ gà ria mồi ban phát cho các con. Cặp mắt gà mẹ sáng lên trong niềm vui hạnh phúc. Nắng reo lên, gió reo lên, lá reo lên. Khu vườn xao động. Dưói gốc cam, mẹ nằm nghỉ. Cánh xòe ra. Đàn con thơ quây quần lấy mẹ, hoặc rúc vào đôi cánh, hoặc ngồi lên lưng, cưỡi lên cổ. Gà mẹ như một con thuyền trên bến đậu hạnh phúc, bình yên. Lúc nào ngắm cảnh gà mẹ dẫn con đi dạo chơi, đi tìm mồi, hay nằm nghỉ, em thường nghĩ tới tình mẫu tử thiêng liêng. Thật đáng yêu gà mẹ và đàn gà con. Có cảnh gia đình nào đầm ấm hạnh phúc hơn thế! loigiaihay.com
Xem thêm

1 Đọc thêm

Mẹ Hàn rỉ tai chiêu đẻ con da trắng hồng

MẸ HÀN RỈ TAI CHIÊU ĐẺ CON DA TRẮNG HỒNG

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Được sống ở một đất nước với những cô gái được mệnh danh là đẹp nhất nhì châu Á, em thực sự mong muốn sau này mình cũng có những đứa con xinh xắn như thế. Em học đại học ở Việt Nam khoa tiếng Hàn bởi từ xưa em đã rất thích những bộ phim Hàn Quốc. Niềm thích thú từ những bộ phim tình cảm lãng mạn đã gieo đam mê cho em để đăng ký thi khoa tiếng Hàn. Sau 4 năm học tập, em xin được học bổng và tiếp tục sang Hàn Quốc học thêm 1 năm nữa. Ban đầu em có ý định ở lại Hàn Quốc làm việc luôn nhưng bố mẹ cứ thuyết phục về nước vì nhà chỉ có 2 chị em, em mà ở lại đó làm việc bố mẹ cũng buồn. Vì chẳng có gì ràng buộc nên em cuối cùng em cũng về Việt Nam. Thế nhưng dường như em có duyên với xứ sở Kim chi này. Em về nước làm việc cho một công ty mỹ phẩm Hàn. Tại đây em đã gặp và yêu luôn trợ lý tổng giám đốc của công ty. Anh chỉ công tác ở Việt Nam 1 năm nên cuối cùng em cũng phải từ biệt bố mẹ để theo chàng về dinh. Biết tin này, bố mẹ em mừng lắm vì dù sao lần này em cũng có người chăm sóc cho em, mà sống ở đất nước hiện đại đó thì bố mẹ chẳng có lý do gì để lo lắng cả. Đám cưới diễn ra không lâu sau đó. Tự dưng bố mẹ lại được sang Hàn Quốc để chơi nên các cụ vui lắm. Ngay sau đám cưới, bố mẹ chồng em đã có nguyện vọng mong chúng em sớm sinh con. Em khi đó cũng đã 27 tuổi, chồng hơn em những 5 tuổi nên mong muốn của các cụ cũng chính đáng. Tuy nhiên, em vô cùng bất ngờ với những quan niệm có phần hơi cổ hủ, nghiêm khắc mà cũng rất thú vị về chuyện thụ thai, mang thai ở đất nước Hàn Quốc xinh đẹp này. Xin chia sẻ với chị em: Không được quan hệ khi chồng say rượu Sau khi ra chỉ thị vợ chồng em phải sớm có thai, mẹ chồng đã gọi riêng em vào phòng nói nhỏ, khi quan hệ để muốn có thai thì nhất định không được làm khi chồng có men rượu trong người. Theo mẹ chồng em thì quan hệ khi chồng bị say rượu sau này sẽ sinh ra những đứa con ngốc nghếch, ngu dốt. Nghe mẹ nói cũng có vẻ có lý bởi rượu chẳng tốt cho tinh trùng thế nào nên tôi nghe lời bà răm rắp.   Muốn đẻ con vừa giỏi vừa đẹp, các mẹ Hàn Quốc thường không “yêu” khi chồng say rượu, ăn cam quýt và tránh ăn thịt gà trong thai kỳ. (ảnh minh họa) Muốn con da trắng phải ăn nhiều cam, quýt Từ khi có bầu, đều mỗi ngày mẹ chồng nhắc nhở tôi phải ăn đủ 2 quả cam. Dù có những lúc không đúng mùa mua cam rất khó nhưng mẹ chồng luôn lùng sục cho bằng được. Cam nhiều vitamin C không chỉ giúp cơ thể hấp thụ sắt, canxi tốt mà còn rất có lợi cho sự hình thành sắc tố da của trẻ. Quan điểm này của mẹ chồng tôi rất chuẩn khoa học, mà tôi cũng rất thích ăn cam. Tuy nhiên, mẹ chồng còn bắt tôi ăn cả quả, chỉ bỏ vỏ chứ không nên chỉ uống nước cam bởi như thế sẽ cung cấp thêm chất xơ cho cơ thể, tránh bị táo bón khi mang bầu. Chăm chỉ ngắm tranh ảnh đẹp sẽ đẻ ra con đẹp Điều này chẳng có một chút khoa học gì nhưng đã là quan niệm từ ngàn xưa thì không thể thay đổi được. Theo mẹ chồng và các mẹ, các bà ở Hàn Quốc thì muốn đứa trẻ trong bụng sau này sinh ra đẹp trai, xinh gái thì hãy chăm chỉ ngắm các em bé đẹp ngoài đời, thậm chí là ngắm những bức tranh ảnh đẹp, vui tươi cũng tốt. Mẹ chồng em giải thích, khi ngắm tranh ảnh đẹp, tâm lý của người mẹ cũng thoải mái, vui vẻ và đương nhiên đứa con trong bụng cũng thấy thích thú, hay cười. Suy luận này có vẻ khá lô-zich các mẹ nhỉ? Cấm ăn da gà Có một điều đặc biệt mà mẹ chồng luôn nhắc nhở em trong việc ăn uống lúc bầu bí là không được ăn da gà. Mẹ chồng bảo da gà xù xì mà cũng chẳng có chất gì nên ăn vào không tốt tí nào. Mẹ bầu ăn nhiều da gà sẽ khiến con sau này sinh ra có nước da xấu xí. Chẳng biết có đúng không nhưng mẹ chồng đã “phán” thế thì em phải làm theo thôi, mà thực ra em cũng rất ghét ăn da gà nên có thêm lý do từ chối đồ ăn này. Amy nhà em hiện nay đã 3 tuổi, ở nhà ai cũng khen bé nhẹ nhàng, khéo léo, đến lớp thì cô suốt ngày bảo bố mẹ cố gắng đầu tư để sau này con đi thi Hoa hậu Hàn Quốc, các cô còn thường gọi con là Hoa hậu tương lai nữa chứ. Em khen nữa thì lại bảo mẹ khen con nhưng nói thật lòng con em có nước da trắng hồng, rất nhanh nhẹn và khá thông minh. Có thể là do em làm theo những lời mẹ chồng căn dặn trước khi mang thai và trong thai kỳ chăng? Các mẹ hãy tham khảo nhé!
Xem thêm

2 Đọc thêm

TẬP ĐỌC TRANH LÀNG HỒ

TẬP ĐỌC TRANH LÀNG HỒ

Thứ tư ngày 14 tháng 3 năm 2018TẬP ĐỌCTIẾT : TRANH LÀNG HỒI. MỤC TIÊU- Ca ngợi và biết ơn những nghệ sĩ làng Hồ đã sáng tạo ra nhũng bức tranhgian độc đáo-Biết đọc diễn cảm bài văn với giọng đọc ca ngợi, tự hào.- HS biết thêm về một sô tranh dân gian khác.II. ĐỒ DÙNG DẠY HỌC- GV: phấn màu, bảng phụ, tranh làng Hồ.- HS: sách giáo khoa.III. HOẠT ĐỘNG DẠY – HỌCHoạt động của thầyHoạt động của trò1. Kiểm tra bài cũ (4’)- GV cho HS đọc thầm lại bài tập đọc: - HS đọc thầmHội thổi cơm thi ở làng Đồng Vân.- GV gọi 1 HS trả lời câu hỏi bài tập - Hội thi bắt nguồn từ các cuộcđọc: Hội thổi cơm thi ở làng Đồng Vân quân đánh giặc của người Việt cổbắt nguồn từ đâu?bờ sông Đáy xưa.- Ban giám khảo chấm cơm theo những - chấm theo 3 tiêu chí:cơm trắng ,tiêu chí nào?và không có cháy.2. Dạy bài mớia) Giới thiệu bài (1’)Bản sắc văn hóa của dân tộc không chỉ - HS lắng nghethể hiện ở truyền thống và phong tụctập quán mà còn ở những vật phẩm vănhóa.Bài tập đọc hôm nay sẽ giúp các emtìm hiểu về tranh dân gian làng Hồ-một
Xem thêm

Đọc thêm

Đề thi học kì 1 lớp 7 môn Văn năm 2014 Trường THCS Lộc Hạ

ĐỀ THI HỌC KÌ 1 LỚP 7 MÔN VĂN NĂM 2014 TRƯỜNG THCS LỘC HẠ

Đề thi học kì 1 lớp 7 môn Văn năm 2014 Trường THCS Lộc Hạ I. TRẮC NGHIỆM: (3.0 diểm) Phần 1 (2.0 điểm) : Đọc kĩ các câu hỏi  sau và trả lời bằng cách khoanh tròn vào chữ cái đầu của câu trả lời đúng nhất. Câu 1: Bài ca dao sau  thuộc chủ đề nào ? “Công đâu công uổng công thừa Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan Công đâu công uổng công hoang Công đâu gánh nước Tam Quan tưới dừa.” A.  Những câu hát  về tình yêu quê hương đất nước      B. Những câu hát  về tình cảm gia đình. C. Những câu hát than thân D.  Những câu hát châm biếm Câu 2 : Bài thơ “ Sông núi nướcNam” được làm theo thể nào? A. Thất ngôn bát cú                                            C. Thất ngôn tứ tuyệt B. Ngũ ngôn                                                       D. Song thất lục bát Câu 3: Nhà thơ  Nguyễn Khuyến có tên gọi là: A. Thần thơ thánh chữ                      B. Tam Nguyên Yên Đổ            C. Thi tiên                                        D. Thi thánh Câu  4: Qua hình ảnh chiếc bánh trôi nước, Hồ Xuân Hương muốn nói điều gì về người phụ nữ?           A. Vẻ đẹp hình thể                                     C. Số phận bất hạnh           B.  Vẻ đẹp tâm hồn                                    D. Vẻ đẹp và số phận long đong Câu 5:  Hình ảnh nào cùng xuất hiện trong hai bài thơ Cảnh khuya và Rằm tháng giêng của Hồ Chí Minh? A. Dòng suối                 B. Tiếng hát                             C.  Bầu trời     D Ánh trăng            Câu 6. Hai câu thơ sau sử dụng dạng điệp ngữ nào? “ Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.” A. Điệp ngữ cách quãng          B.  Điệp ngữ nối tiếp     C. Điệp ngữ chuyển tiếp Câu 7. Hình ảnh nổi bật xuyên suốt bài thơ “Tiếng gà trưa” là gì? A. Tiếng gà trưa                                       B. Quả trứng hồng C. Người bà                                              D. Người chiến sĩ Câu 8. Bài “Sông núi nước Nam” thường được gọi là gì? A. Hồi kèn xung trận                               B. Khúc ca khải hoàn C. Áng thiên cổ hùng văn                        D. Bản tuyên ngôn độc lập II. TỰ LUẬN: (7.0 điểm) Câu 1 (1.0 điểm): Hãy chép thuộc lòng bài thơ “ Bánh trôi nước ” Hồ Xuân Hương. Câu 2 (5.0 điểm): Nêu cảm nghĩ của em về  bài thơ “ Tiếng gà trưa” của Xuân Quỳnh.   Đáp án Đề thi học kì 1 lớp 7 môn Văn năm 2014 Trường THCS Lộc Hạ II. TỰ LUẬN (7.0 điểm): Câu 1:   - Học sinh  ghi lại chính xác (1.0 điểm) . Sai một từ trừ 0.25 điểm; sai một dòng không chấm điểm. -  Chép đúng như sau:      Thân em vừa trắng lại vừa tròn Bảy nổi ba chìm với nước non Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn Mà em vẫn giữ tấm lòng son. Câu 2(6.0 điểm): Nêu cảm nghĩ của em về  bài thơ “ Tiếng gà trưa” của Xuân Quỳnh. * Yêu cầu chung: - Thể loại: Biểu cảm về tác phẩm văn học. - Nội dung: Bài thơ “ Tiếng gà trưa” của Xuân Quỳnh. - Hình thức:  Bố cục đầy đủ ba phần. Hành văn mạch lạc, lưu loát. * Yêu cầu cụ thể:  Bài làm cần đảm bảo các ý chính sau: 1. Mở bài: Giới thiệu về tác giả, tác phẩm. 2. Thân bài: Nêu cảm nghĩ về nội dung và nghệ thuật qua từng khổ thơ. - Khổ 1: Tâm trạng người  lính trẻ trên đường hành quân xa .    + Tiếng gà trưa  cất lên nơi xóm nhỏ là âm thanh quen thuộc, bình dị của làng quê từ bao  đời nay. Nhưng với người lính trẻ lại vô cùng xúc động. Tiếng gà trưa đã làm  xao động nắng trưa và cả hồn người. Tiếng gà trưa  giúp người lính trẻ xua tan bao mệt  mỏi và  gợi nhớ về tuổi thơ.    + Điệp từ nghe làm cho giọng thơ thêm bồi hồi, tha thiết. - Khổ 2,3,4,5,6 : Những  kỷ niệm  tuổi thơ  của người  lính trẻ được gợi lên từ tiếng gà trưa.    + Khổ 2:  Hình ảnh đàn gà và những ổ trứng hồng đẹp như tranh vẽ    +  Khổ 3:  Kỉ niệm về bà- một lần xem gà đẻ bị bà mắng. Qua đó ta thấy được tình cảm yêu thương  và sự lo lắng cho cháu.    + Khổ 4, 5:  Hình ảnh người bà chắt chiu, dành từng quả trứng hồng lo cho cháu. Nhớ tới bà là nhớ tới bao nỗi lo, bao niềm mong ước của bà với tình thương bao la.    +  Khổ 6:   Niềm vui của tuổi thơ  khi được quần áo mới từ tiền bán gà của bà. - Điệp ngữ tiếng gà trưa được nhắc lại nhiều lần, một âm thanh hiện hữu đồng vọng gợi nhớ bao kỷ niệm một thơ bé. Tiếng gà trưa là tiếng vọng của quê hương, là tình hậu phương  thiết tha sâu nặng của người lính trong kháng  chiến chống Mỹ. - Khổ cuối: Những suy tư được gợi lên từ tiếng gà trưa + Tiếng gà gọi về những giấc mơ tuổi thơ của người lính trẻ. + Điệp từ vì nhấn mạnh nguyên nhân lên đường của người cháu. Tình yêu gia đình hòa trong tình yêu quê hương đất nước. 3. Kết bài: Khái quát về nội dung và nghệ thuật của bài thơ (Thể thơ năm chữ, hình ảnh bình dị, điệp ngữ; vẻ đẹp trong sáng, đằm thắm  của những  kỷ niệm về  tuổi thơ, về tình bà cháu chan hòa trong tình yêu quê hương đất nước.) Tuyensinh247 tiếp tục cập nhật đề thi học kì 1 lớp 7 môn Văn của các trường, các em thường xuyên theo dõi.
Xem thêm

4 Đọc thêm

Tả quang cảnh một phiên chợ Tết

TẢ QUANG CẢNH MỘT PHIÊN CHỢ TẾT

Mặt trời tiết cuối đông nhọc nhằn chọc thủng màn sương sớm, từ từ nhô lên khỏi rặng tre của làng xa. Bầu trời dần tươi sáng, cảnh vật như bừng tỉnh để đón chào ngày mới, đón cháo một mùa xuân mới đang sắp sửa tới gần… Từ các xóm làng, từ các mái nhà còn sương lam ôm ấp, mọi người đổ ra đường, người gồng gánh, kẻ bưng thúng, xách giỏ, có người đẩy xe chở hàng. Họ lần lượt dồn lên con đường lớn. Vai kĩu kịt, tay vung vẫy, chân đi thoăn thoắt…Tất cả đều tiến về chợ huyện. Phiên chợ Tết thật đông. Tiếng lợn con en éc, tiếng gà gáy oát…oát, tiếng vịt cạc…cạc, tiếng người nói bi bô trong chợ. Các gian hàng nhanh chóng được bày diện. Nào áo, quần, giày dép nhiều loại, bánh mứt đủ màu, rau quả tươi roi rói, kẻ muôn người bán lon xon, chật ních. Trước cổng chợ, những bức tranh lợn, gà heo, chuột ếch,… được giải treo tiếp nối nhau trông thật đẹp mắt. Rồi bức tranh của làng quê cũng hiện lên từ xa: Biển lúa vàng óng ả, chú bé ngồi ngất nghểu trên lưng trâu ung dung thổi sáo, đàn cò trắng nhởn nhơ trên bầu trời xanh thẳm, chim én lượn vòng trên xóm chợ… Một bức tranh đầy quyến rũ, ấm áp lạ thường. Sương tan, nắng ấm rải nhẹ trên hoa lá, chợ đông nghẹt, đủ thứ màu sắc trà trộn, đủ thứ âm thanh chen lẫn. Không ai nói to cũng không ai nói nhiều. Nhưng lường phát âm của vô số người đã làm phiên chợ âm ầm giữa miền quê yên tĩnh và vô cùng vui tươi, trù phú. Sắc xuân rón rén đến gần, xuân phảng phất trong từng nụ hoa đang chúm chím. Mặt trời đã ngả về phía tây, chợ vẫn tưng bừng hàng hóa vẫn tấp nập các quầy. Từ các nơi, các loài hoa nườm nượp đưa về. Nào là hoa mai, hoa đào, hoa cẩm chướng, hồng nhung… Chúng rạng rỡ như cô thiếu nữ, chúng lay động dưới ánh xuân như tuổi đôi mươi. Đây đó, một vài cụ đồ nho hí hoái viết thơ xuân, viết những câu đối đỏ trên bức sáo, mọi người chen nhau đọc. Có người mãi ngắm tranh, ngắm hoa, đọc thơ mà quên cả thời gian vận hành, buổi chiều hửng ấm đã nhạt nhòa ngã xuống. Cho tới lúc trời tối, chuông chùa văng vẳng ngân vang, mọi người tạm ngưng phiên chợ. Họ lũ lượt trở ra về. Khung cảnh tưng bừng nơi chợ Tết bắt đầu mờ dần rồi mất hẳn, không còn trông thấy một cái gì nữa bởi sương đêm. Phảng phất trong không khí có mùi hương quen thuộc, mùi lúa mới, mùi trái ngọt, hoa thơm… Tất cả đều đặc biệt, đáng yêu, đáng quí bởi nó là mùi vị của một làng quê Việt Nam trù phú, thấm đượm nghĩa tình, ấm nồng hương đồng cỏ nội. Phiên chợ Tết đã đem đến cho con người bao điều thú vị. Ai cũng hối hả, khẩn trương với công việc của mình. Họ rạo rực đón xuân trong niền vui lao động. Tôi cũng hồi hộp đón xuân và lo nghĩ đến nhiệm vụ của chính mình. loigiaihay.com
Xem thêm

1 Đọc thêm

EM HÃY TẢ QUANG CẢNH MỘT PHIÊN CHỢ TẾT Ở NÔNG THÔN

EM HÃY TẢ QUANG CẢNH MỘT PHIÊN CHỢ TẾT Ở NÔNG THÔN

Bài làm: Mặt trời tiết cuối đông nhọc nhằn chọc thủng màn sương sớm, từ từ nhô lên khỏi rặng tre của làng xa. Bầu trời dần tươi sáng, cảnh vật như bừng tỉnh để đón chào ngày mới, đón cháo một mùa xuân mới đang sắp sửa tới gần. Từ các xóm làng, từ các mái nhà còn sương lam ôm ấp, mọi người đổ ra đường, người gồng gánh, kẻ bưng thúng, xách giỏ, có người đẩy xe chở hàng. Họ lần lược dồn lên con đường lớn. Vai kĩu kịt, tay vung vẫy, chân đi thoăn thoắt...Tất cả đều tiến về chợ huyện. Phiên chợ Tết thật đông. Tiếng lợn con en éc, tiếng gà gấy oát...oát, tiếng vịt cạc...cạc, tiếng người nói bô bô trong chợ. Các gian hàng nhanh chóng được bày diện. Nào áo, quần, giày dép nhiều loại, bánh mứt đủ màu, rau quả tươi roi rói, kẻ muôn người bán lon xon, chật ních. Trước cổng chợ, những bức tranh lợn, gà heo, chuột ếch,... được giải treo tiếp nối nhau trông thật đẹp mắt. Rồi bức tranh của làng quê cũng hiện lên từ xa: Biển lúa vàng óng ả, chú bé ngồi ngất nghểu trên lưng trâu ung dung thổi sáo, đàn cò trắng nhởn nhơ trên bầu trời xanh thẳm, chim én lượn vòng trên xóm chợ... Một bức tranh đầy quyến rũ, ấm áp lạ thường. Sương tan, nắng ấm rải nhẹ trên hoa lá, chợ đông nghẹt, đủ thứ màu sắc trà trộn, đủ thứ âm thanh chen lẫn. Không ai nói to cũng không ai nói nhiều. Nhưng lường phát âm của vô số người đã làm phiên chợ âm ầm giữa miền quê yên tĩnh và vô cùng vui tươi, trù phú. Sắc xuân rón rén đến gần, xuân phảng phất trong từng nụ hoa đang chúm chím. Mặt trời đã ngả về phía tây, chợ vẫn tưng bừng hàng hóa vẫn tấp nập các quầy. Từ các nơi, các loài hoa nườm nượp đưa về. Nào là hoa mai, hoa đào, hoa cẩm chướng, hồng nhung... Chúng rạng rỡ như cô thiếu nữ, chúng lay động dưới ánh xuân như tuổi đôi mươi. Đây đó, một vài cụ đồ nho hí hoái viết thơ xuân, viết những câu đối đỏ trên bức sáo, mọi người chen nhau đọc. Có người mãi ngắm tranh, ngắm hoa, đọc thơ mà quên cả thời gian vận hành, buổi chiều hửng ấm đã nhạt nhòa ngã xuống. Cho tới lúc trời tối, chuông chùa văng vẳng ngân vang, mọi người tạm ngưng phiên chợ. Họ lũ lượt trở ra về. Khung cảnh tưng bừng nơi chợ Tết bắt đầu mờ dần rồi mất hẳn, không còn trông thấy một cái gì nữa bởi sương đêm. Phảng phất trong không khí có mùi hương quen thuộc, mùi lúa mới, mùi trái ngọt, hoa thơm... Tất cả đều đặc biệt, đáng yêu, đáng quí bởi nó là mùi vị của một làng quê Việt Nam trù phú, thấm đượm nghĩa tình, ấm nồng hương đồng cỏ nội. Phiên chợ Tết đã đem đến cho con người bao điều thú vị. Ai cũng hối hả, khẩn trương với công việc của mình. Họ rạo rực đón xuân trong niền vui lao động. Tôi cũng hồi hộp đón xuân và lo nghĩ đến nhiệm vụ của chính mình.
Xem thêm

1 Đọc thêm

BÀI 9. VẼ MÀU VÀO HÌNH CÓ SẴN

BÀI 9. VẼ MÀU VÀO HÌNH CÓ SẴN

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỒNG BÀNGTRƯỜNG TIỂU HỌC QUÁN TOANGIÁO VIÊN: HOÀNG SĨ NGUYÊNTRANH DÂN GIAN VIỆT NAMChim CôngPhật Bà( Tranh Hàng Trống) ( Tranh Hàng Trống)Đấu vật( Tranh Đông Hồ)Vinh hoa( Tranh Đông Hồ)Quang Trung( Tranh Đông Hồ)Đám cưới chuột( Tranh Đông Hồ)12

11 Đọc thêm

BÀI 25. VẼ MÀU VÀO HÌNH CỦA TRANH DÂN GIAN

BÀI 25. VẼ MÀU VÀO HÌNH CỦA TRANH DÂN GIAN

: Gi¸o viªn Nguyễn Thị Lanh - Trêng TH Nguyễn Thị Minh KTranh 1Tranh 2Tranh dân gianBÀI 25Tranh Ngũ Hổ( Hàng Trống)*Ý Nghĩa: Năm con hổ tượng trưng cho 5 phúc lớncủa gia đình là Phú (giàu có), Quý (sang trọng, Vinhhiển), Thọ (sống lâu), Khang (mạnh khỏe), Ninh (yênấm, hòa thuận).Tranh Gà Mái(Đông Hồ)Ý nghĩa:Cầu chúc cho sự sung túc, đông con và an nhàn

19 Đọc thêm

Luận văn: Tranh làng Sình trong đời sống tín ngưỡng người dân Huế

LUẬN VĂN: TRANH LÀNG SÌNH TRONG ĐỜI SỐNG TÍN NGƯỠNG NGƯỜI DÂN HUẾ

MỞ ĐẦU11. Lý do chọn đề tài12. Lịch sử nghiên cứu vấn đề và tính mới của đề tài23. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu64. Mục đích nghiên cứu65. Phương pháp nghiên cứu76. Bố cục luận văn và vấn đề cần giải quyết8NỘI DUNG10Chương 1: LÀNG SÌNH VÀ NGHỀ TRANH LÀNG SÌNH TRONG KHÔNG GIAN VĂN HÓA TÍN NGƯỠNG HUẾ101.1 Tổng quan về Huế101.1.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên101.1.2 Đặc điểm dân cư131.1.3 Những dấu ấn lịch sử141.1.4 Nguồn gốc hình thành tín ngưỡng dân gian Huế151.1.4.1 Tín ngưỡng dân gian truyền thống của dân tộc Việt161.1.4.2 Tín ngưỡng của cư dân tiền trú – Chăm Pa171.1.4.3 Tín ngưỡng của người Hoa nhập cư191.1.4.4 Ảnh hưởng của Tam giáo: Phật, Đạo, Nho221.2 Tổng quan về làng Sình251.2.1 Vị trí địa lý251.2.2 Lịch sử lập làng271.2.3 Đời sống kinh tế, xã hội291.2.4 Sinh hoạt văn hóa cộng đồng301.3 Nghề tranh làng Sình331.3.1 Điều kiện hình thành331.3.2 Nguồn gốc và quá trình phát triển35TIỂU KẾT CHƯƠNG 139Chương 2: KHẢO SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ TRANH LÀNG SÌNHTRONG ĐỜI SỐNG TÍN NGƯỠNG NGƯỜI DÂN HUẾ402.1 Quy trình sản xuất tranh làng Sình402.1.1 Khai thác nguyên liệu402.1.2 Chế biến nguyên liệu422.1.2.1 Giã điệp432.1.2.2 Pha màu442.1.2.3 Làm giấy462.1.3 Kỹ thuật làm tranh472.1.3.1 Sáng tác mẫu tranh472.1.3.2 Khắc ván482.1.3.3 In tranh502.1.3.4 Tô màu512.1.4 Khâu tiêu thụ sản phẩm522.1.5 Sự khác biệt trong quy trình sản xuất của tranh làng Sình với tranh Đông Hồ, tranh Hàng Trống và tranh Kim Hoàng532.2 Nội dung và ý nghĩa tranh làng Sình trong đời sống tín ngưỡng562.2.1 Tín ngưỡng – chức năng đặc trưng của tranh làng Sình582.2.2 Khảo tả các loại tranh592.2.2.1 Tranh bếp và việc thờ cúng táo quân602.2.2.2 Bộ tranh thế mạng và lễ cầu an612.2.2.3 Tranh tượng Bà với tục cúng trừ giải bệnh tật, ốm đau và trong sinh đẻ632.2.2.4 Tranh áo Bà, áo Ông, áo Binh và ông Cọp (hổ) với tín ngưỡng của những người đi biển, đi rừng642.2.2.5 Bộ tranh động vật và lễ giải hạn cho các vật nuôi642.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm tranh làng Sình65TIỂU KẾT CHƯƠNG 267Chương 3: SỰ THÍCH ỨNG VÀ BIẾN ĐỔI CỦA TRANH LÀNG SÌNHTRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY683.1 Sự thích ứng của tranh làng Sình683.2 Sự biến đổi của tranh làng Sình753.2.1 Biến đổi về đầu ra773.2.2 Biến đổi về số lượng và chất lượng773.2.3 Biến đổi về lực lượng sáng tác783.2.4 Biến đổi về chức năng793.2.5 Biến đổi về đề tài thể hiện823.2.6 Biến đổi về kỹ thuật làm tranh823.2.7 Biến đổi về nguyên liệu833.2.8 Biến đổi về không gian sản xuất và sự xuất hiện tranh gương85TIỂU KẾT CHƯƠNG 387KẾT LUẬN88TÀI LIỆU THAM KHẢO91
Xem thêm

96 Đọc thêm

Giáo án mầm non Giáo án lĩnh vực thẩm mỹ vẽ con gà trống

Giáo án mầm non Giáo án lĩnh vực thẩm mỹ vẽ con gà trống

GIÁO ÁN Hoạt động phát triển thẩm mỹ Hoạt động : Tạo hình Đề tài: Vẽ con gà trống( mẫu) Chủ đề : Thế giới động vật Đối tượng dạy: Trẻ MG 4 tuổi Người thực hiện: Nguyễn Thị Huyền Trang Ngày soạn : 03012013 Ngày dạy: 04012013 Thời gian: 3035 phút I.Mục đích yêu cầu: 1.Kiến thức: Trẻ biết vẽ theo mẫu của cô hướng dẫn Trẻ vẽ được con gà trống theo mẫu 2.Kỹ năng: Luyện kỹ năng cầm bút để tô vẽ Trẻ có kỹ năng cơ bản như: vẽ nét cong tròn, nét xiên thẳng để tạo thành con gà trống 3.Thái độ: Trẻ hướng thud vẽ. Trẻ biết yêu quý chăm sóc các con vật sống trong gia đình II.Chuẩn bị: Tranh mẫu của cô để giới thiệu Giấy vẽ ,bút màu Các bài hát: con gà trống, đàn gà trong sân, tiếng chú gà trống gọi III.Cách tiến hành: Hoạt động của cô Hoạt động của trẻ 1.Ổn định: Giới thiệu khách Cô và trẻ cùng vận động bài hát con gà trống Trò chuyện và đàm thoại về nội dung bài hát Bài hát đã nói đến điều gì? Con gà trống có gì? ( có mào đỏ, chân có cựa,...) Cô và trẻ cùng bắt chước tiếng gà gáy Con gà trống là con vật sống ở đâu? à đúng rồi con gà trống là con vật sống trong gia đình nó rất có ích cho mọi người đấy .Hàng ngày con gà trống gọi mọi người thức dậy để đi làm đúng giờ đấy Vậy bây giờ các con có muốn vẽ con gà trống không? 2.Quan sát đàm thoại tranh mẫu của cô: Cô đưa tranh vẽ con gà trống cho trẻ quan sát và đàm thoại Cô có bức tranh vẽ gì đây? Bạn nào giỏi cho cô biết con gà trống cô vẽ gồm có mấy phần ? + Mình gà cô vẽ bằng hình gì ? +Đầu gà là hình gì? Cô mời bạn khác có ý kiến con gà còn có gì nữa nào? Đúng rồi đấy con gà trống có mỏ ,có 2 chân ,2 cánh Mời bạn tiếp theo .Màu sắc con gà trống ntn? Mình gà cô tô màu gì? đầu gà ,mào gà.... Cô hỏi trẻ thức ăn của gà là gì ? và thuộc nhóm nào ? + Cô giáo dục :Thế nhà các con có nuôi gà không ? Để cho gà mau lớn thì hàng ngày chúng mình phải làm gì? đúng rồi hàng ngày phải cho gà ăn ,chăm sóc quét dọn chuồng trại cho sạch sẽ và bảo vệ chúng các con nhớ chưa nào. 3. Cô vẽ mẫu : Trước khi vẽ cô phải cầm bút bằng tay nào và cầm bằng mấy đầu ngón tay? Khi ngồi vẽ tư thế phải ngay ngắn không được cúi đầu sát xuống bàn Lần 1 : Cô vẽ mẫu không giải thích Lần 2: Cô vẽ kết hợp giải thích Cô vừa vẽ vừa hỏi trẻ Cô vẽ một hình tròn to để làm mình gà,tiếp đến cô vẽ 2 nét xiên thẳng để làm cổ gà ,tiếp đến là hình tròn nhỏ để làm đầu gà và đuôi gà là các nét cong.Đầu gà cô vẽ mào gà,mỏ ,mắt ,mình gà vẽ chân ,vẽ cánh. Để cho con gà thêm đẹp thì cô phải làm gì? Cô lần lượt tô mình gà,đầu,đuôi,chân ,cánh 4.Trẻ thực hiện: Cô hỏi trẻ cách cầm bút,tư thế ngồi vẽ Cô cùng trẻ vẽ trên không 1 lần Cô đi bao quát ,nhắc nhở ,gợi ý cho trẻ khá vẽ sáng tạo thêm Cô giúp đỡ những trẻ yếu kém và gợi ý cho trẻ vẽ tạo ra sản phẩm. 5.Trưng bày và nhận xét sản phẩm: Tích tắc tích tắc Đồng hồ đã điểm Báo hết giờ rồi Nào các bạn ơi Dừng tay thôi nào Cùng nhau mang bài Lên để trưng bày. Cô cho từng tổ mang bài lên trưng bày sản phẩm Gọi trẻ lên nhận xét bài nào đẹp nhất mà trẻ thích nhất.Vì sao con thích? Nhận xét tuyên dương trẻ vẽ đẹp và động viên trẻ vẽ chưa đẹp lần sau cố gắng hơn nữa. + Kết thúc: Cô và trẻ hát một bài và mang sản phẩm ra để trưng bày. Trẻ chào khách Trẻ cùng cô vận động Trẻ trả lời Trẻ trả lời Trong gia đình ạ Có ạ Trẻ quan sát Con gà trống ạ 3 phần ạ Hình tròn tọa Hình tròn nhỏ ạ Đuôi gà ,chân gà ạ Màu sắc rực rỡ ạ Trẻ trả lời. Gia cầm ạ Có ạ Vâng ạ Trẻ quan sát cô vẽ mẫu Trẻ trả lời Tô màu ạ Trẻ vẽ Trẻ dừng tay Trẻ mang bài lên trưng bày Trẻ nhận xét Trẻ hát cùng cô và mang bài treo vào góc sản phẩm. GIÁO ÁN Hoạt động phát triển thẩm mỹ Hoạt động : Tạo hình Đề tài : Tô màu cảnh làng quê Chủ đề : Quê hương đất nước Bác Hồ Đối tượng dạy: Trẻ MG 4 tuổi Người thực hiện: Phạm Thị Út Nguyễn Thị Huyền Trang Ngày soạn : 252013 Ngày dạy: 352013 Thời gian: 3035 phút I.Mục đích yêu cầu: 1.Kiến thức: Trẻ biết một số cảnh đẹp của quê hương Biết cách tô màu bức tranh cảnh làng quê đẹp Biết phối hợp màu sắc phù hợp 2.Kỹ năng: Luyện kỹ năng cầm bút để tô màu Sử dụng màu sắc phù hợp 3.Thái độ: Trẻ hướng thú tô. Trẻ biết yêu quý giữ gìn sản phẩm mình tạo ra Giáo dục trẻ yêu quê hương đất nước II.Chuẩn bị: Tranh mẫu của cô để giới thiệu Ttanh cảnh làng quê để trẻ tô màu , bút màu sáp Các bài hát: Quê hương tươi đẹp , yêu Hà Nội III. Cách tiến hành: Hoạt động của cô Hoạt động của trẻ 1.Ổn định tổ chức: Chào khách Cô cùng trẻ hát kết hợp vận động bài hát “Quê hương tươi đẹp” Hỏi trẻ tên bài hát ,nội dung bài hát đã nói lên điều gì? Gọi trẻ lên kể về quê hương của bé đang sống ở đâu? ( Làng ,xã,huyện...) Mỗi làng quê của chúng ta đều có những cảnh đẹp đấy 2. Quan sát đàm thoại: Đến với tiết học hôm nay cô đã chuẩn bị bức tranh rất đẹp đấy chúng mình có muốn khám phá không? Cô cho trẻ quan sát bức tranh Hỏi trẻ cô có bức tranh về gì đây? Đúng rồi đấy đó là bức tranh cảnh làng quê đấy Đây là gì? Còn đây là gì? Ngoài ra còn có cả cây đa,ao sen nữa đấy Các con thấy bức tranh cảnh làng quê có đẹp không? Ngoài ra cô còn tô màu bức tranh cũng về cảnh làng quê đấy ,chúng mình cùng khám phá nhé. Hỏi trẻ cô tô các ngôi nhà màu gì? cổng làng màu gì?cây xanh ,áo sen màu gì?... Khi tô bức tranh phải biết phối hợp màu sắc hài hoà để bức tranh thêm đẹp ,và không tô trờm màu ra ngoài Các con thấy bức tranh cô tô có đẹp không? + Giáo dục trẻ :biết yêu quý quê hương làng xóm ,đất nước ,biết gìn giữ văn hoá ,qui ước của làng . 3. Cô tô mẫu: Để tô được bức tranh chúng mình phải có gì? Hỏi trẻ cách cầm bút ? tư thế ngồi? Cô tô đến đâu hỏi trẻ đến đó Trước tiên cô tô các ngôi nhà trước ,tô nóc nhà màu gì? Tiếp theo cô tô đến cổng làng ,đường đi ,cây đa ,ao sen... Khi tô phải tô đều màu ,không làm trờm màu ra ngoài Giờ chúng mình có muốn tô bức tranh thật đẹp giống cô không? 4. Trẻ thực hiện: Hỏi trẻ cách cầm bút ,tư thế ngồi tô? Cô đi quan sát ,nhắc nhở trẻ tô đúng tô đẹp và cách phối hợp màu hài hoà Cô giúp đỡ những trẻ yếu kém để trẻ tạo ra sản phẩm 5. Trưng bày và nhận xét sản phẩm: Cô đọc câu thơ để trẻ dừng tay Cô cho từng tổ mang bài lên trưng bày sản phẩm Gọi trẻ lên nhận xét bài nào đẹp nhất mà trẻ thích nhất.Vì sao con thích? Nhận xét tuyên dương trẻ tô đẹp và động viên trẻ tô chưa đẹp lần sau cố gắng hơn nữa. + Kết thúc: Cô và trẻ hát một bài và mang sản phẩm ra để trưng bày. Trẻ chào khách Trẻ hát và vân động cùng cô Trẻ trả lời Trẻ kể về quê hương của mình Có ạ Trẻ trả lời Trẻ trả lời Trẻ trả lời Có ạ Trẻ trả lời Có ạ bút màu ạ Trẻ trả lời Trẻ trả lời Có ạ Trẻ trả lời Trẻ thực hiện Trẻ dừng tay và mang bài lên để trưng bày Trẻ nhận xét Trẻ hát cùng cô và mang bài ra trưng bày vào góc sản phẩm. GIÁO ÁN Hoạt động phát triển thẩm mỹ Hoạt động : Tạo hình Đề tài : Vẽ quà tặng chú bộ đội Chủ đề : Nghề nghiệp Đối tượng dạy: Trẻ MG 4 tuổi Người thực hiện: Vũ Thuý Nhài Ngày soạn : 19122013 Ngày dạy: 2012 2013 Thời gian: 3035 phút I.Mục đích yêu cầu: 1.Kiến thức: Trẻ biết một số dụng cụ của chú bộ đội Biết cách tô vẽ một số những món quà bằng các nét vẽ cơ bản Biết phối hợp màu sắc phù hợp để tô màu bức tranh 2.Kỹ năng: Luyện kỹ năng vẽ các nét cơ bản để tạo nên bức tranh Sử dụng màu sắc phù hợp Biết bố cục bức tranh 3.Thái độ: Giáo dục trẻ biết yêu quý các chú bộ đội Biết giữ gìn sản phẩm của mình tạo ra II.Chuẩn bị: Đĩa nhạc có bài hát “cháu thương chú bộ đội, chú bộ đội” Các hình ảnh : quần áo ,những bông hoa,các loại quả,bóng bay ,mũ súng... Giấy vẽ ,bút chì , bút màu III. Cách tiến hành: Hoạt động của cô Hoạt động của trẻ 1.Ổn định tổ chức gây hứng thú: Cô giới thiệu chương trình “ chúng tôi là chiến sĩ” Chào khách Cô cùng trẻ hát bài hát “Cháu thương chú bộ đội ” Hỏi trẻ tên bài hát ,nội dung bài hát đã nói lên điều gì? Cô giới thiệu chuẩn bị đến ngày 2212 là ngày gì các con có biết không ? Trong lớp mình có bố bạn nào là bộ đội không? Vậy nhân ngày thành lập quân đội nhân dân việt nam con có muốn gửi những món quà tới bố của mình không? 2. Quan sát đàm thoại: Ngay sau đây các chiến sĩ bước vào phần thi thứ nhất “ Vui cùng chiến sĩ” Cô cho trẻ quan sát trên màn hình Quan sát chùm bóng bay Cô hỏi trẻ đây là quà gì? con nhìn thấy bức tranh có những gì? Màu sắc các quả bóng ra sao? Tiếp theo cô cho trẻ quan sát hết món quà cô đã chuẩn bị Cô đặt câu hỏi tương tự Vừa rồi các con đã được quan sát rất nhiều các món quà rồi .Các chú bộ đội rất vất vả ngày đêm canh giữ biên cương ,rồi ngoài hải đảo xa xôi để cô con mình được vui chơi học hành đấy . Vậy các con có yêu quý chú bộ đội không? Yêu quý các chú bộ đội các con phải làm gì? Để chào mừng ngày 2212 ngày thành lập quân đội nhân dân việt nam các con gửi tặng các chú bộ đội những món quà gì nào ? cô mời con Vậy con phải vẽ ntn? Có những bạn nào muốn vẽ giống bạn Cô muốn biết ý định của bạn khác ,những ai muốn vẽ như bạn. Cô hỏi kỹ năng vẽ ntn? 3. Trẻ thực hiện: Tiếp theo là phần thi “ tài năng chiến sĩ” ở phần thi này các bé sẽ phải trổ hết tài năng của mình để vẽ những món quà thật đẹp để tặng các chiến sĩ. Xin mời các bé hãy nhẹ nhàng trở về bàn để thể hiện tài năng của mình. Cô cho trẻ đọc một đoạn thơ Cô hướng dẫn cách ngồi, cách cầm bút cho trẻ Cô đi bao quan nhắc nhở ,gợi mở cho trẻ vẽ để tạo ra sản phẩm đẹp. 4. Trưng bày và nhận xét sản phẩm: Cô đọc câu thơ để trẻ dừng tay Cô cho từng tổ mang bài lên trưng bày sản phẩm Gọi trẻ lên nhận xét bài nào đẹp nhất mà trẻ thích nhất.Vì sao con thích? Gọi 3 4 trẻ lên nhận xét Nhận xét tuyên dương trẻ vẽ đẹp và động viên trẻ vẽ chưa đẹp lần sau cố gắng hơn nữa. + Kết thúc: Cô và trẻ hát múa một bài để kết thúc chương trình “ chúng tôi là chiến sĩ”. Trẻ chào khách Trẻ hát và vân động cùng cô Trẻ trả lời Có ạ Trẻ quan sát Trẻ trả lời Trẻ trả lời Có ạ Trẻ trả lời Trẻ trả lời Trẻ trả lời Trẻ giơ tay Trẻ trả lời Trẻ về chỗ Trẻ đọc thơ Trẻ thực hiện Trẻ dừng tay và mang bài lên để trưng bày Trẻ nhận xét Trẻ hát cùng cô và đi ra ngoài.
Xem thêm

Đọc thêm

Thuyết minh về một loài động vật ở quê em.

THUYẾT MINH VỀ MỘT LOÀI ĐỘNG VẬT Ở QUÊ EM.

Đối với người nông dân Việt Nam thì gà nhà luôn là con vật gần gũi và thân thuộc nhất trong số rất nhiều các loài gà khác nhau. Gà là vật nuôi quan trọng nhất của con người để lấy thịt và trứng. Bức tranh thôn quê Việt Nam là một bức tranh tràn ngập sắc màu rực rỡ nhưng cũng rất yên bình, ở đó chứa đựng mơ ước của người nông dân, có cây đa, giếng nước, mái đình, con trâu,... nhưng gần gũi với mỗi gia đình nhất có lẽ là đàn gà chạy rộn rã trước sân nhà. Đối với người nông dân Việt Nam thì gà nhà luôn là con vật gần gũi và thân thuộc nhất trong số rất nhiều các loài gà khác nhau. Gà là vật nuôi quan trọng nhất của con người để lấy thịt và trứng. Đặc điểm chung của gà là cánh tròn, ngắn, toàn thân phủ lông. Để thích nghi với cuộc sống bới đất tìm mồi, từ thuở xưa, gà đã được tạo hóa ban cho một đôi chân to móng cùn và cứng, phủ vẩy sừng mỏng màu vàng và còn một cái mỏ ngắn khỏe nữa. Không phải từ thuở ban đầu gà sinh ra đã là gã nhà mà tổ tiên của chúng là gà rừng đã trải qua thuần hóa liên chúng không có khả năng bay lượn. Đại đa số thời gian chúng dùng chân nâng đỡ cơ thể đi lại trên mặt đất. Vì vậy, cơ hồng của gà đa số tập trung ở chân, cơ ngực và các bộ phận khác lại là cơ trắng. Các em thiếu nhi vẫn có bài hát rất dễ thương về loài động vật này: Gà không biết gáy là mẹ gà con. Gà mà không gáy là vợ gà cha. Đi lang thang trong sân có con gà có con gà”. Chỉ mấy càu hát đơn giản như vậy thôi đã cho ta thấy một gia đình gà. Gà trống được coi là gà bố, đúng như một ông bố có dáng bệ vệ, chân có cựa sắc, bộ lông óng mượt rực rỡ, nổi bật bởi bông hoa đỏ rực trên đầu mà người ta vẫn gọi là mào gà. Gà trống có tiếng gáy âm vang, từ lâu đã được coi như là đồng hồ báo thức của người nông dân. Gà mái hay là gà mẹ, cũng giống với một người mẹ, hiền lành và có dáng vẻ chậm chạp hơn, bộ lông không săc sỡ .như gà trống. Nhưng bù lại, với “thiên chức” của một người mẹ, gà mái có khả năng ấp trứng và nở ra những chú gà con rất đáng yêu: Gà mái đẻ mỗi lứa từ 10 đến 20 trứng. Đa số gà mái sau khi đẻ trứng thường kêụ “cục tác”. Đó là biểu hiện sự hưng phấn cùa gà mái, hay có thê nói đó là niềm vui của gà mẹ, một “người mẹ” có tình mẫu tử mãnh liệt. Gà con vừa chui ra khỏi vỏ trứng giống như một nắm nhung có sự sống, bé nhỏ trong bộ lông vàng tơ óng mượt. Gà con mới nở có thể theo mẹ đi kiếm mồi ngay. Đốì với gà thì hạt thóc hạt mạch... có thể được coi là sơn hào hải vị của chúng. Nhưng cho dù được ăn những thứ đó hàng ngàv thì chúng vẫn thích mổ đông bới tây, đề tìm ăn những hạt sỏi, hạt cát. Thật ra vì không có răng nên gà cần dựa vào thứ khác để nghiền thức ăn và chúng đã lợi dụng sỏi để tiêu hóa thức ãn. Thịt gà và trứng gà là những thức ăn bổ dưỡng rất tốt cho con người. Không những từ xưa mà đến bây giờ vẫn vậy và không chỉ đối với người nông dân mà đối với hết thảy mọi người dân Việt Nam, con gà đã chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống văn hoá ẩm thực. Có thể nói, con gà đã đi vào tín ngưỡng, vào đời sống tâm linh văn hóa của người dân Việt Nam. Nó là một trong mười hai con giáp, vẫn được gọi bằng cái tên thân mật là “Dậu”. Con “Dậu” là tượng trưng cho một tuổi đời. Ai đã từng đến Việt Nam, từng tìm hiểu và yêu nền văn hóa dân tộc Việt thì chắc hẳn không thể nào quên được những bức tranh Đông Hồ đậm đà bản sắc Việt với hình ảnh phong phú về thể loại, màu sắc cách điệu nhưng cũng giản dị vô cùng, nổi bật với những bức tranh như: “Vinh hoa”, “Gà trống hoa hồng”, “Gà dạ xương”... Dưới con mắt của người Việt Nam, con gà đáng trân trọng và thân thương như vậy đó. Từ lâu đã thành lệ, con gà là thứ không thể thiếu trong bất kì lễ tết truyền thống hay ngày cúng giỗ nào của người Việt Nam. Đêm giao thừa, vào giờ khắc chuyển giao, nhà nhà lại cùng nhau bày một mâm cỗ đặt trước cửa nhà để cầu mong tốt lành, hạnh phúc cho năm mới. Lẽ dĩ nhiên, mâm cỗ không thể thiếu con gà. Con gà luộc được đặt trong một,cái đĩa lớn đặt giữa mâm, miệng ngậm một bông hồng. Đó là tượng trưng cho sự an lành, may mắn mà nhà nhà đều mong đợi. Tự nhiên như thế, con gà trống như linh vật của người dân Việt Nam, tượng trưng cho sự may mắn yên bình, hạnh phúc, luôn luôn rất linh thiêng đối với nhân dân.Con gà còn đi vào văn học, vào ca dao, tục ngữ của dân tộc. Có câu chỉ nói đến kinh nghiệm trong văn hóa ẩm thực như: “Con gà cục tác lá chanh” nhưng có câu còn để răn dạy con người như: Khôn ngoan đối đáp người ngoài Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau Gần đây, dịch cúm gà hoành hành đã làm cho bữa cơm Việt Nam thưa vắng món thịt gà. Người ta cảm thấy thiếu thiếu một cái gì đó, nhất là mỗi độ Tết đến. Con gà là biểu tượng sự sống, của hi vọng, an lành đối với người dân Việt Nam. Mong rằng nạn dịch cúm sẽ nhanh chóng được đẩy lùi để con gà lại được hồi sinh, lại trở về bên người nông dân, trở về với bữa-cơm thường ngày và luôn gần gũi gắn bó với người dân Việt.  Trích: loigiaihay.com
Xem thêm

2 Đọc thêm