THI TÌM HIỂU PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "THI TÌM HIỂU PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG":

Nguyên nhân và các giải pháp phòng chống tham nhũng ở nước ta hiện nay tiểu luận cao học

Nguyên nhân và các giải pháp phòng chống tham nhũng ở nước ta hiện nay tiểu luận cao học

MỞ ĐẦU Tham nhũng là tệ nạn gắn liền với sự vận hành của Nhà nước đã và đang xảy ra ở khắp nơi trên thế giới và trong mọi thời đại. Nó hiện hữu ở tất cả các quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị, giàu nghèo, phát triển hay đang phát triển hoặc kém phát triển. Tham nhũng nảy sinh, tồn tại và hoành hành do sự hư hỏng, biến chất không chỉ của những người có chức quyền mà còn của cả những người được giao thực hiện những công vụ bình thường đã làm biến dạng quyền hạn và công vụ được giao phó. Nói cách khác, quyền hạn hay công vụ trao cho họ đáng lý ra phải được thực hiện vì lợi ích chung của cả xã hội thì lại bị lạm dụng vào mục đích trục lợi cho riêng cá nhân. Ngay từ khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo về bệnh tham ô, lãng phí, quan liêu. Người coi đó là một thứ giặc độc ác ở trong lòng, là “kẻ thù của nhân dân”. Thấm nhuần sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách, pháp luật về vấn đề này, bên cạnh đó đã tham gia tích cực các diễn đàn quốc tế về phòng, chống tham nhũng. Sau khi Luật phòng, chống tham nhũng có hiệu lực (0162006) đã tác động đến nhận thức và hành động của các cấp các ngành trong việc đấu tranh chống tham nhũng và tạo ra bước chuyển biến khá tích cực, tuy nhiên có thể nói nạn tham nhũng vẫn chưa được đẩy lùi một cách cơ bản. Tình trạng tham nhũng, lãng phí ở nước ta vẫn diễn biến rất phức tạp, đã và đang tác động tiêu cực tới nhiều mặt của đời sống xã hội, làm hạn chế tới thành quả của công cuộc đổi mới; nếu chúng ta không chủ động ngăn chặn, đẩy lùi thì chúng ta sẽ không những không hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thậm chí không giữ được độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia. Do đó cần phải có nhận thức toàn diện hơn về bản chất và nguyên nhân của tham nhũng để có giải pháp hữu hiệu, đây cũng là lý do em đã chọn đề tài: “Nguyên nhân và các giải pháp phòng chống tham nhũng ở nước ta hiện nay” làm tiểu luận môn Thời đại và những vấn đề lớn của thế giới ngày nay.
Xem thêm

Đọc thêm

1 tiểu luận cao học mặt trận tổ quốc việt nam với vai trò giám sát, phản biện xã hội trong lĩnh vực phòng chống tham nhũng

1 tiểu luận cao học mặt trận tổ quốc việt nam với vai trò giám sát, phản biện xã hội trong lĩnh vực phòng chống tham nhũng

1.1 Lý do chọn đề tài Trong thời kỳ hiện nay cùng với việc phát triển kinh tế xã hội tệ nạn tham nhũng xuất hiện và ngày càng có chiều hướng phát triển tăng cao cả về số lượng và tính chất nghiêm trọng. Trong những năm qua, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về phòng chống tham nhũng đã được Đảng và nhà nước ta tiến hành, song để đáp ứng nhu cầu về mặt thực tiễn đảm bảo hiệu quả trong phòng chống tham nhũng, vai trò giám sát và pbản biện xã hội của Mặt trận tổ quốc là vô cùng quan trọng, bởi Nhà nước của chúng ta là của dân, do dân và vì dân. Chính người dân mới là người tham gia giám sát, phản biện xã hội, MTTQ đại diện cho nhân dân, nhận gánh nặng mà nhân dân giao phó. Giám sát, phản biện xã hội của MTTQ là nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân tham gia xây dựng chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật và chính sách cụ thể của nhà nước, góp phần hoàn thiện các chủ trương, chính sách, pháp luật sát hợp với thực tiễn của đời sống xã hội, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng và thể hiện được ý chí, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, nâng cao năng lực, sức chiến đấu của Đảng, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ngày càng trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Bởi vậy giám sát và phản biện xã hội là trọng trách của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với đất nước, với dân, với Đảng. Nhằm làm rõ hơn về vấn đề trên nên tôi đã chọm đề tài “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với vai trò giám sát, phản biện xã hội trong lĩnh vực phòng chống tham nhũng” làm đề tài nghiên cứu của mình. Do thời gian và kiến thức còn hạn chế nên không tránh khỏi thiếu sót, rất mong các thầy, cô góp ý thêm. 1.2. Đối tượng và mục đích nghiên cứu.
Xem thêm

Đọc thêm

Sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay ( khóa luận tốt nghiệp)

SỰ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀO CUỘC ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY ( KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP)

Sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

67 Đọc thêm

BÁO CÁO CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG TRONG TRƯỜNG THPT

BÁO CÁO CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG TRONG TRƯỜNG THPT

SỞ GD&ĐT THANH HÓATRƯỜNG THPH ...CỘNG HÒA Xà HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc lập - Tự do - Hạnh phúcSố:..., ngày 05 tháng 9 năm 2017KẾ HOẠCHCông tác phòng chống tham nhũng năm 2017Căn cứ Kế hoạch 435/KH-SGDĐT-TTr, ngày 30/8/2017, của Sở Giáo dục vàĐào tạo về Công tác phòng, chống tham nhũng năm 2017, Trường THPT ... xâydựng kế hoạch thực hiện công tác phòng chống tham nhũng của đơn vị trong năm2017 như sau:I. Mục đích, yêu cầu1. Mục đích:- Tiếp tục nâng cao ý thức tự giác, tinh thần trách nhiệm và quyết tâm phòng,chống tham nhũng của cán bộ, giáo viên, nhân viên trong trường.- Kịp thời ngăn chặn, phòng ngừa hành vi tham nhũng trước mắt cũng như lâudài, đặc biệt với các bộ phận, cá nhân dễ nảy sinh tiêu cực, tham nhũng, lãng phí.- Đưa công tác phòng chống tham nhũng thành nhiệm vụ trọng tâm, thườngxuyên của mọi tổ chức, cá nhân trong nhà trường. Tiếp tục tạo sự chuyển biến tíchcực trong nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chứctrong trường về công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, góp phần củng cốniềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và quản lý điều hành của Nhà nước.2. Yêu cầu.- Cụ thể hóa các nhiệm vụ, biện pháp phòng, chống tham nhũng được quy địnhtrong Luật phòng, chống tham nhũng vào trong các văn bản liên quan của nhàtrường
Xem thêm

5 Đọc thêm

GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN CƠ CHẾ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN TRONG PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN CƠ CHẾ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN TRONG PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Ở Việt Nam, tham nhũng được xếp ở mức phổ biến, có tính hệ thống, vì vậy, các ưu tiên cho phòng chống tham nhũng cũng không nằm ngoài các yếu tố kể trên. Để phòng, chống tham nhũng một cách căn bản, đúng hướng cần tập trung vào những giải pháp xây dựng và thiết lập sự cai trị của luật pháp, xây dựng và hoàn thiện các thể chế trách nhiệm, và các thể chế tham gia của người dân. Để làm được các mục tiêu cơ bản này, cần phải thiết kế và thực thi các giải pháp sau:
Xem thêm

Đọc thêm

TÀI LIỆU GIÁO DỤC NỘI DUNG PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG TRONG MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN CẤP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

TÀI LIỆU GIÁO DỤC NỘI DUNG PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG TRONG MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN CẤP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Phần thứ nhất: Một số vấn đề chung về phòng, chống tham nhũng Phần thứ hai: Nội dung tích hợp nội dung giáo dục phòng, chống tham nhũng trong môn Giáo dục Công dân cấp THPT. Phần thứ ba: Phương pháp dạy học những nội dung tích hợp giáo dục phòng, chống tham nhũng trong môn Giáo dục Công dân cấp THPT.

83 Đọc thêm

THANH TRA TRONG PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH GIA LAI

THANH TRA TRONG PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH GIA LAI

thông qua việc thanh tra giải quyết khiếu nại, tố cáo, các cơ quan thanh tra phát hiệnđược những hành vi tham nhũng, tiêu cực của các cán bộ, công chức để từ đó cónhững biện pháp xử lý hữu hiệu, kịp thời. Thực tế cho thấy, mỗi năm toàn ngành thanhtra tiến hành hàng ngàn cuộc thanh tra trên nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước, qua thanhtra đã phát hiện rất nhiều sai phạm, thu hồi về cho nhà nước nhiều tỷ đồng và nhiều tàisản có giá trị khác, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.Như vậy có thể thấy rằng với những chức năng nhiệm vụ, quyền hạn được giao,các cơ quan thanh tra nhà nước là công cụ rất quan trọng và hữu hiệu trong đấu tranhphòng, chống tham nhũng bên cạnh các thiết chế khác.Trong giai đoạn hiện nay, công cuộc phòng, chống tham nhũng ở nước ta có đạtđược hiệu quả như mong muốn hay không phụ thuộc không nhỏ vào các cơ quan thanhtra nhà nước. Phòng, chống tham nhũng thành công sẽ góp phần nâng cao vai trò lãnhđạo của Đảng, tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước, kiện toàn bộ máy nhà nướctrong sạch, vững mạnh, bảo đảm thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, góp phần đẩylùi các nguy cơ đang kìm hãm sự phát triển đi lên của đất nước.Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định phòng, chống thamnhũng là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chínhtrị nhằm huy động sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội. Trong đó các cơ quan chứcnăng như thanh tra, kiểm toán, điều tra, kiểm sát, tòa án có trọng trách rất lớn trongviệc phòng ngừa, phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử các tội phạm về tham nhũng. Quanđiểm đó của Đảng đã được thể hiện xuyên suốt trong các Chỉ thị, Nghị quyết của15Đảng, trong các văn bản pháp luật của Nhà nước từ năm 1945 đến nay. Mặc dù ở mỗigiai đoạn lịch sử đều có những điều chỉnh về chức năng, nhiệm vụ cho phù hợp, songcác cơ quan Thanh tra Nhà nước kể từ khi thành lập đến nay luôn giữ một vai trò quantrọng trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí và các hành vi viphạm pháp luật nói chung.
Xem thêm

88 Đọc thêm

Phân tích so sánh pháp luật phòng, chống tham nhũng quốc tế: Bài học về những cơ chế xử lý và thực thi cho Việt Nam

PHÂN TÍCH SO SÁNH PHÁP LUẬT PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG QUỐC TẾ: BÀI HỌC VỀ NHỮNG CƠ CHẾ XỬ LÝ VÀ THỰC THI CHO VIỆT NAM

Nghiên cứu chính sách này so sánh khung pháp lý về các cơ chế xử lí và thực thi pháp luật phòng, chống tham nhũng ở năm quốc gia và vùng lãnh thổ: Úc, Hồng Kông, Indonesia, Singapore và Nam Phi. Mục đích của nghiên cứu là rút ra những bài học kinh nghiệm có thể áp dụng trong quá trình sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật về phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam. Phần lớn các quốc gia có luật chuyên biệt về phòng, chống tham nhũng (PCTN) đều đưa vào đó các quy định về bản chất và các dấu hiệu pháp lí của tội phạm, hình phạt cho các tội danh đó cũng như những biện pháp đặc biệt nhằm thu hồi tài sản có được do tham nhũng. Ba trong số năm quốc gia, vùng lãnh thổ trong nghiên cứu này đã và đang áp dụng các biện pháp quyết liệt, mạnh mẽ và hiệu quả trong việc thu hồi ‘những tài sản bất chính’. Sự kết hợp quy định hai cơ chế xử lý hình sự và xử lý kỷ luật công chức, viên chức là một đặc điểm nổi bật của các quốc gia thành công trong phòng chống tham nhũng. Các nguyên tắc về đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp được quy định chặt chẽ, hỗ trợ tích cực choviệc xử lý tham nhũng.
Xem thêm

67 Đọc thêm

BÁO CÁO CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG NĂM 2013

BÁO CÁO CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG NĂM 2013

UBND HUYỆN THÁP MƯỜIPHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOSố: 121/BC-PGDĐTCỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆTNAMĐộc lập - Tự do - Hạnh phúcTháp Mười,ngày 25 tháng 02 năm 2014BÁO CÁOCông tác phòng, chống tham nhũng năm 2013I. KẾT QUẢ CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG1. Việc quán triệt, tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách,pháp luật về phòng, chống tham nhũng; công tác lãnh đạo, chỉ đạo việcthực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng trongphạm vi trách nhiệm của sở, ngành, UBND cấp huyệna) Các hình thức cụ thể đã thực hiện để quán triệt, tuyên truyền, phổ biếnchủ trương, chính sách, pháp luật về phòng, chống tham nhũng: Lồng ghéptrong các lần họp cơ quan, họp Hiệu trưởng các trường trực thuộc, PhòngGDĐT tập trung sao in, gửi các văn bản pháp luật đến các trường trực thuộcqua địa thư điện tử, mua và cấp phát các quyển sách văn bản pháp luật về cáctrường và yêu cầu Hiệu trưởng các trường tổ chức triểu khai, phổ biến vàtuyên truyền đến đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh và phụ huynhbiết để thực hiện.Số lần phổ biến, tuyên truyền: 04 lần, 65 người dự/ 01 lần (Hiệu trưởngcác trường trực thuộc). Tổng số lượt người tham gia: 260 lượt.b) Việc ban hành văn bản, hướng dẫn triển khai thực hiện các văn bảnquy phạm pháp luật, văn bản chỉ đạo, điều hành của cấp trên trong công tác
Xem thêm

7 Đọc thêm

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHỐNG THAM NHŨNG

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHỐNG THAM NHŨNG

Bài tiểu luận với đề tài Tư tưởng Hồ Chí Minh về chống tham nhũng được thực hiện nhằm mục đích cung cấp những kiến thức cơ bản cho sinh viên về vấn đề tham nhũng và thực trạng của vấn đề. Từ đó ta có thể học tập theo tư tưởng của Bác, góp phần vào việc phòng chống tham nhũng. Bài tiểu luận gồm 3 chương: Chương 1: Tư tưởng Hồ Chí Minh về chống tham nhũng. Chương 2: Bức tranh toàn cảnh về tham nhũng ở Việt Nam hiện nay. Chương 3: Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
Xem thêm

19 Đọc thêm

Luận văn tư tưởng hồ chí minh về chống tham nhũng và vận dụng vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở việt nam hiện nay

Luận văn tư tưởng hồ chí minh về chống tham nhũng và vận dụng vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở việt nam hiện nay

Theo Từ điển Tiếng Việt thì: “Tham nhũng là lợi dụng quyền hành để nhũng nhiễu dân và lấy của”. Tham nhũng là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, vị thế xã hội của viên chức Nhà nước để làm trái pháp luật hoặc lợi dụng các sơ hở của pháp luật nhằm kiếm lợi cho bản thân, gây hại cho xã hội, cho công dân. Pháp lệnh chống tham nhũng ngày 26021998 cũng ghi rõ trong điều 1: “Tham nhũng là hành vi của những người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ và quyền hạn đó để tham ô, hối lộ hoặc cố ý làm trái pháp luật vì động cơ vụ lợi, gây thiệt hại cho tài sản Nhà nước, tập thể và cá nhân, xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức. Tham nhũng là vật cản lớn nhất của tiến trình phát triển xã hội, là nguy cơ trực tiếp liên quan đến sự sống còn của các Nhà nước”. Mặc dù được thể hiện theo những cách khác nhau, song tham nhũng được hiểu khá thống nhất trong văn hoá pháp lý ở các nước trên thế giới, đó là việc lợi dụng vị trí, quyền hạn thực hiện hành vi trái pháp luật nhằm trục lợi cá nhân, hay nói một cách khác, tham nhũng là việc sử dụng hoặc chiếm đoạt bất hợp pháp công quyền hay nguồn lực tập thể. Tham nhũng là một mối đe dọa đối với sự phát triển, dân chủ và ổn định. Tham nhũng gây nên cái nhìn sai lệch về thị trường, kìm hãm tăng trưởng kinh tế và gây e ngại cho các nhà đầu tư nước ngoài. Tham nhũng làm giảm chất lượng các dịch vụ công và gây xói mòn niềm tin của người dân vào các quan chức, cán bộ Nhà nước. Tham nhũng cũng góp phần gây nên các thiệt hại về môi trường và đe dọa sức khỏe cộng đồng qua việc tạo điều kiện cho các hành vi đổ trái phép vật liệu phế thải độc hại, sản xuất và phân phối dược phẩm giả. Tác hại của tham nhũng đã không dừng lại ở phương diện thiệt hại vật chất hàng ngàn tỷ đồng, hàng trăm triệu đôla của Nhà nước mà còn là một nhân tố ảnh hưởng đến kinh tế – chính trị, gây mất đoàn kết nội bộ, làm suy giảm uy tín của Đảng và Nhà nước trước nhân dân. Ở nước ta, từ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Xã hội Chủ nghĩa là con đường hoàn toàn mới mẻ. Những năm qua Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách cởi mở, tạo điều kiện để các thành phần kinh tế phát triển. Tuy nhiên hệ thống pháp luật vẫn thiếu đồng bộ, một số văn bản pháp quy vừa mới ban hành đã sớm lạc hậu so với thực tiễn, tạo nhiều sơ hở, dễ bị lợi dụng. Mặt khác, bước vào cơ chế mới, tâm lý nôn nóng làm giàu có mặt tích cực là động lực thúc đẩy xã hội phát triển, nhưng cũng có mặt tiêu cực là làm cho một số người bị tha hoá, đánh mất chính mình trong chủ nghĩa vị kỷ, hưởng lạc, trong khát vọng làm giàu bằng mọi giá, bất chấp pháp luật, đạo lý. Bộ máy Nhà nước của chúng ta trải qua các thời kỳ lịch sử khác nhau chưa đủ thời gian và kinh nghiệm để cải cách kịp thời, do đó khi bước vào thực hiện đường lối đổi mới của Đảng trên một số mặt đã bộc lộ không ít khuyết điểm. Tình hình đó cùng với hệ thống thủ tục hành chính rườm rà, bộ máy cồng kềnh, tạo môi trường dung dưỡng cho tệ quan liêu tham nhũng. Hệ thống cơ quan tư pháp, hành pháp, thanh tra, kiểm tra chất lượng và hiệu lực, hiệu quả chưa cao. Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa về kinh tế cùng quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, tham nhũng và chống tham nhũng đã trở thành vấn đề nhức nhối của toàn xã hội. Theo tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International – TI), chỉ số minh bạch của Chính phủ Việt Nam thấp và có chiều hướng đi xuống từ 2,8 (năm 1997) xuống còn 2,6 (năm 2005). Đảng và Nhà nước ta xác định, tham nhũng là “quốc nạn”, là một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ và coi chống tham nhũng là nhiệm vụ thường xuyên của tổ chức Đảng và cả hệ thống chính trị, từ đó yêu cầu chúng ta phải tích cực và chủ động chống tham nhũng có hiệu quả. Đảng, Nhà nước và Quốc hội đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị về việc này (Chỉ thị 15 của Bộ Chính trị; Nghị quyết 114 TTg của TT Chính phủ; Kế hoạch 493Nc của Chính phủ;... ). Như vậy, Đảng, Nhà nước và nhân dân đều đồng tình kiên quyết chống tham nhũng, nhưng tệ tham nhũng vẫn chưa được đẩy lùi. Do vậy, việc phân tích Tư tưởng Hồ Chí Minh về chống tham nhũng sẽ giúp chúng ta hiểu rõ bản chất của hiện tượng phức tạp này, trên cơ sở đó đề ra những biện pháp phòng, chống tham nhũng có hiệu quả trong tình hình hiện nay. Chính vì vậy em đã chọn đề tài: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về chống tham nhũng và vận dụng vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay”.
Xem thêm

Đọc thêm

Giáo án dạy học tích hợp GDCD 8 Bài 13 Phòng chống tệ nạn xã hội

Giáo án dạy học tích hợp GDCD 8 Bài 13 Phòng chống tệ nạn xã hội

TIẾT 19 BÀI 13 : PHÒNG, CHỐNG TỆ NẠN XÃ HỘI (Tiết 1) I. Mục tiêu cần đạt 1. Kiến thức: Học sinh hiểu: Hiểu được thế nào là tệ nạn xã hội Nêu được tác hại của các tệ nạn xã hội. Nêu được một số quy định của pháp luật về phòng chống tệ nạn xã hội. Nêu được trách nhiệm của công dân trong việc phòng chống các tệ nạn xã hội. 2. Kĩ năng: Thực hiện tốt các quy định của pháp luật về phòng chống tệ nạn xã hội. Tham gia các hoạt động phòng, chống các tệ nạn xã hội do nhà trường, địa phương tổ chức. Biết cách tuyên truyền vận động bạn bè tham gia phòng chống các tệ nạn xã hội. 3. Thái độ: Ủng hộ các quy định của Pháp luật về phòng chống tệ nạn xã hội. II. Chuẩn bị của G và H: Gv: Tình huống. Phiếu học tập, máy chiếu (nếu có); Đồ dùng chơi sắm vai Hs: Tìm hiểu bài theo sự hướng dẫn của Gv. III. Phương pháp: P: thảo luận nhóm, đóng vai. KT: động não; trình bày 1 phút,tư vấn chuyên gia KNS: Tư tưởng HCM:
Xem thêm

Đọc thêm

Thực trạng và giải pháp chống tham nhũng tại việt nam

Thực trạng và giải pháp chống tham nhũng tại việt nam

MỤC LỤCMở đầu1I. THAM NHŨNG21. Tổng quan về tham nhũng21.1.Khái niệm21.2. Nguyên nhân và nguồn hình thành tham nhũng21.3. Phân loại và các hình thức biểu hiện của tham nhũng31.4. Công cụ nhận dạng tham nhũng52. Phân tích tác động của tham nhũng tới phát triển kinh tế xã hội52.1. Tác động của tham nhũng đến phân bổ nguồn lực52.2. Tác động của tham nhũng đến chính sách kinh tế và cải cách thể chế62.3. Ảnh hưởng đến phân phối thu nhập và công bằng xã hội.82.4. Tham nhũng đối với nền kinh tế thị trường92.5. Tham nhũng trong nền kinh tế mở9II. THAM NHŨNG TẠI VIỆT NAM101. Thực trạng tham nhũng của Việt Nam101.1. Chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI)101.2. Một số lĩnh vực có tham nhũng tiêu biểu132. Phòng chống tham nhũng tại Việt Nam212.1. Thể chế và khung pháp lý212.2 Vai trò của công dân trong phòng chống tham nhũng242.3. Phòng chống tham nhũng ở một số lĩnh vực26III.GIẢI PHÁP401. Giải pháp phòng ngừa tham nhũng.402. Các giải pháp phát hiện tham nhũng.42Kết luận44
Xem thêm

Đọc thêm

Bài giảng tích hợp GDCD 8 Bài 13 Phòng chống tệ nạn xã hội

Bài giảng tích hợp GDCD 8 Bài 13 Phòng chống tệ nạn xã hội

TIẾT 19 BÀI 13 : PHÒNG, CHỐNG TỆ NẠN XÃ HỘI (Tiết 1) I. Mục tiêu cần đạt 1. Kiến thức: Học sinh hiểu: Hiểu được thế nào là tệ nạn xã hội Nêu được tác hại của các tệ nạn xã hội. Nêu được một số quy định của pháp luật về phòng chống tệ nạn xã hội. Nêu được trách nhiệm của công dân trong việc phòng chống các tệ nạn xã hội. 2. Kĩ năng: Thực hiện tốt các quy định của pháp luật về phòng chống tệ nạn xã hội. Tham gia các hoạt động phòng, chống các tệ nạn xã hội do nhà trường, địa phương tổ chức. Biết cách tuyên truyền vận động bạn bè tham gia phòng chống các tệ nạn xã hội. 3. Thái độ: Ủng hộ các quy định của Pháp luật về phòng chống tệ nạn xã hội. II. Chuẩn bị của G và H: Gv: Tình huống. Phiếu học tập, máy chiếu (nếu có); Đồ dùng chơi sắm vai Hs: Tìm hiểu bài theo sự hướng dẫn của Gv. III. Phương pháp: P: thảo luận nhóm, đóng vai. KT: động não; trình bày 1 phút,tư vấn chuyên gia KNS: Tư tưởng HCM:
Xem thêm

Đọc thêm

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ MỘT NHÀ NƯỚC CÓ HIỆU LỰC PHÁP LÝ MẠNH MẼ VÀO VIỆC PHÒNG VÀ CHỐNG THAM NHŨNG HIỆN NAY

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ MỘT NHÀ NƯỚC CÓ HIỆU LỰC PHÁP LÝ MẠNH MẼ VÀO VIỆC PHÒNG VÀ CHỐNG THAM NHŨNG HIỆN NAY

ư tưởng Hồ Chí Minh về một Nhà nước có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ là cơ sở lý luận quan trọng, là kim chỉ nam cho hành động thực tiễn đấu tranh phòng chống tham nhũng, xây dựng một Nhà nước xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Xuất phát từ lý luận tư tưởng của Người , tác giả đã chọn đề tài “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về một Nhà nước có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ vào việc phòng và chống tham nhũng hiện nay” để hoàn thành bài tiểu luận này.
Xem thêm

16 Đọc thêm

Quy dinh chuc nang, nv thanh tra

Quy dinh chuc nang, nv thanh tra

Thanh tra thành phố thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật về thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng và các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể sau: 1. Trình Ủy ban nhân dân thành phố ban hành quyết định, chỉ thị về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng; chương trình, biện pháp tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước được giao. 2. Trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố kế hoạch thanh tra hàng năm và các chương trình, kế hoạch khác theo quy định của pháp luật. 3. Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chương trình, kế hoạch sau khi được Ủy ban nhân dân thành phố hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố phê duyệt. 4. Thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về lĩnh vực thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng cho cán bộ, công chức xã, phường. 5. Hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố trong việc thực hiện pháp luật về thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng.
Xem thêm

Đọc thêm

LUẬTTỔ CHỨC CHÍNH PHỦ

LUẬTTỔ CHỨC CHÍNH PHỦ

chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực được phân công;ban hành hoặc trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành chính sách pháttriển ngành, lĩnh vực được phân công.5. Thực hiện việc tuyển dụng, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, điềuđộng, luân chuyển, đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷluật cán bộ, công chức, viên chức và thực hiện phân cấp quản lý công chức, viênchức đối với các tổ chức, đơn vị trực thuộc theo quy định của pháp luật.6. Quyết định phân cấp cho chính quyền địa phương thực hiện một sốnhiệm vụ liên quan đến ngành, lĩnh vực được giao quản lý theo phạm vi lãnhthổ; phân cấp, ủy quyền cho các tổ chức, đơn vị trực thuộc.7. Quyết định chương trình nghiên cứu khoa học, công nghệ, ứng dụng tiếnbộ khoa học, công nghệ; các tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm và các định mứckinh tế - kỹ thuật của ngành, lĩnh vực thuộc thẩm quyền.8. Quyết định thành lập các tổ chức phối hợp liên ngành, tổ chức sự nghiệpcông lập theo quy định của pháp luật.9. Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, cho từ chức, đình chỉ công tác, khenthưởng, kỷ luật người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu tổ chức, đơn vịtrực thuộc.10. Lãnh đạo, chỉ đạo công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quyđịnh của pháp luật đối với ngành, lĩnh vực trong phạm vi toàn quốc.11. Quản lý và tổ chức sử dụng có hiệu quả công sở, tài sản, phương tiệnlàm việc và tài chính, ngân sách nhà nước được giao; quyết định biện pháp tổchức phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và các biểuhiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền trong ngành, lĩnh vực được phân công.12. Lãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiện cải cách hành chính, cải cách chế độcông vụ, công chức trong ngành, lĩnh vực thuộc trách nhiệm quản lý nhà nướccủa bộ, cơ quan ngang bộ.13. Chủ động phối hợp chặt chẽ với các cơ quan của Đảng, Quốc hội, Tòaán nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Ủy ban trung ương Mặttrận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội;
Xem thêm

20 Đọc thêm

GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH TẠI CÔNG TY TNHH VẬT LIỆU VÀ XÂY DỰNG KHOA NHUNG

GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH TẠI CÔNG TY TNHH VẬT LIỆU VÀ XÂY DỰNG KHOA NHUNG

Tính cấp thiết của đề tài. Bước qua những năm đầu tiên thập kỉ thứ hai của thiên niên kỉ , xã hội Việt Nam đang có những bước chuyển mình mau lẹ, ngày càng vươn cao, xa trên trường quốc tế bằng khả năng, nội lực của một nền kinh tế trẻ trung, năng động, hấp dẫn các nước phát triển đến đầu tư. Xã hội đang chứng kiến một cuộc chuyển mình lớn sau những năm tháng đất nước mở cửa.. Trong những năm qua, cùng với sự phát triển mạnh mẽ trên nhiều mặt của nền kinh tế - xã hội, một số yếu kém, bất cập trong quản lý hành chính Nhà nước đã bộc lộ, nảy sinh nhiều hiện tượng tiêu cực, đặc biệt là tệ nạn tham nhũng đã có chiều hướng gia tăng. Pháp lệnh phòng chống tham nhũng 1998 và pháp lệnh sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh phòng, chống tham nhũng 2000 đã tỏ ra bất cập, hạn chế cả về phạm vi điều chỉnh lẫn tổ chức lực lượng và các biện pháp chế tài. Năm 2006, Quốc hội ban hành Luật phòng, chống tham nhũng. Tuy nhiên, trong những năm qua, cuộc đấu tranh chống tham nhũng sao cho có hiệu quả, đẩy lùi căn bệnh trầm kha của xã hội Việt Nam vẫn đang là vấn đề nan giải mà Đảng, Nhà nước ta đau đầu tìm câu trả lời. Hiện nay, tham nhũng xảy ra ở nhiều nơi, nhiều lĩnh vực khác nhau, trở thành căn bệnh trầm kha của xã hội. Quy mô các vụ tham nhũng ngày càng vượt ra khỏi phạm vi một ngành, một địa phương, một quốc gia với phương thức, thủ đoạn ngày càng đa dạng, tinh vi, trong đó có sự móc ngoặc giữa người có chức vụ, quyền hạn trong các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước với người không thuộc cơ quan nhà nước, giữa người trong nước với đối tượng là ngùi nước ngoài có sử dụng công nghệ cao. Chủ thể của các vụ tham nhũng có địa vị, chức vụ ngày càng cao. Tham nhũng đã và đang len lỏi vào mọi cơ quan tổ chức, không trừ một lĩnh vực nào. Nếu không ngăn chặn kịp thời, căn bệnh trầm kha ấy sẽ ăn sâu, huỷ hoại bộ máy Nhà nước, chế độ mà Đảng, Nhà nước ta đã và đang dày công gây dựng, làm mất niềm tin sâu sắc đối với nhân dân, hậu quả sẽ khôn lường. Nâng cao hiệu quả pháp luật phòng, chống tham nhũng là việc cần thiết mang tính chất cấp bách. Trong bước hội nhập cùng thế giới của đất nước, tham nhũng còn tồn tại như một “hòn đá tảng” thì phòng ngừa, đấu tranh chống tham nhũng là vấn đề được xác định như một sự tồn vong của chế độ Xã hội chủ nghĩa. Hệ thống pháp luật phòng, chống tham nhũng ở nước ta hiện nay chủ yếu là Luật phòng, chống tham nhũng ban hành 2005, Bộ luật hình sự ban hành năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009, Luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí. Bên cạnh đó còn một số các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương Đảng, Chính phủ. Trong những năm qua, đề tài về chống tội phạm tham nhũng không còn mới mẻ, đã có nhiều đề tài khoa học tập trung vào nghiên cứu đặc điểm, phương thức, thủ đoạn của tội phạm tham nhũng, tuy nhiên chưa có đề tài nào đề cập đến vấn đề nâng cao hiệu quả pháp luật phòng, chống tham nhũng. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu, hệ thống hóa, góp phần hoàn thiện lí luận chung về hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp trong điều kiện nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường định hưỡng xã hội chủ nghĩa, cạnh tranh và hội nhập. Đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty TNHH Vật liệu và xây dựng Khoa Nhung, đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty trong giai đoạn mới Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Chuyên đề chủ yếu nghiên cứu các phạm trù liên quan tới vố kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn: lí luận về vốn trong doanh nghiệp, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sủ dụng vốn trong doanh nghiệp Phạm vi nghiên cứu: Tình hình sử dugj vốn kinh doanh tại Công ty TNHH vật liệu và xây dựng Khoa Nhung từ năm 2009 – 2012 Phương pháp nghiên cứu Khóa luân sử dụng các phương pháp nghiên cứu: phương pháp phân tích tổng hợp, thống kê, logic, các phuwong pháp so sánh, phân tổ , phân tích DuPont… Ngoài ra khóa luận còn sử dụng hệ thống bảng, biểu, sơ đồ… để minh họa Kết cấu đề tài Ngoài phần mở đầu kết luận khóa luận gồm 3 chương sau: Chương 1: Lí luận chung về hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh trong doanh nghiệp Chương 2: Tình hình huy động và sử dụng vốn kinh doanh tại công ty TNHH vật liệu và xây dựng Khoa Nhung Chương 3: Giải pháp nâng cáo hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại công ty TNHH vật liệu và xây dựng Khoa Nhung
Xem thêm

64 Đọc thêm

Tác động của luật quốc tế tới quá trình hoàn thiện các văn bản luật của Việt Nam trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm

Tác động của luật quốc tế tới quá trình hoàn thiện các văn bản luật của Việt Nam trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm

Tác động của Luật quốc tế tới quá trình hoàn thiện các văn bản luật của Việt Nam trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm 8 điểm Chuyên mục Bài tập học kỳ, Công pháp quốc tế Bài tập học kỳ Công pháp quốc tế có đáp án. Theo khoa học pháp lý quốc tế hiện đại, Luật Quốc tế là hệ thống các nguyên tắc, quy phạm pháp luật, được quốc gia và các chủ thể khác của Luật Quốc tế thỏa thuận xây dựng nên trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng, nhằm điều chỉnh những quan hệ phát sinh giữa quốc gia và các chủ thể đó trong mọi lĩnh vực của đời sống quốc tế. Mối quan hệ giữa Luật Quốc tế và Luật quốc gia là vấn đề mang tính lý luận cơ bản, có ý nghĩa quan trọng trong quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật ở từng quốc gia. Mối quan hệ này được thể hiện ở nhiều nội dung và dưới nhiều cấp độ khác nhau. Trên quy mô toàn cầu, mối quan hệ biện chứng qua lại giữa Luật Quốc tế và Luật quốc gia diễn ra theo hai chiều hướng: Luật quốc gia ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển, quá trình xây dựng và thực hiện Luật Quốc tế; Luật Quốc tế thường xuyên thúc đẩy sự phát triển và hoàn thiện của pháp luật quốc gia. Đối với từng quốc gia, sự tác động qua lại giữa Luật Quốc tế và Luật quốc gia tùy thuộc vào mức độ tham gia quan hệ quốc tế của quốc gia đó. Từ năm 1986 đến nay, Việt Nam đã chủ động từng bước tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực. Trong quá trình tham gia vào quan hệ quốc tế, ảnh hưởng qua lại giữa Luật Quốc tế và Luật quốc gia của Việt Nam là tương đối rõ nét. Chính vì vậy, trong phạm vi nghiên cứu của bài tiểu luận, em xin được chọn đề tài: Phân tích tác động của Luật quốc tế tới quá trình hoàn thiện các văn bản luật của Việt Nam trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm NỘI DUNG I. Cơ sở lý luận 1. Khái niệm đấu tranh phòng chống tội phạm Để có cách sử dụng chính xác thuật ngữ “đấu tranh phòng, chống tội phạm” đảm bảo tính khoa học và toàn diện, cần phân tích nội hàm của các thuật ngữ này qua các từ của thuật ngữ. “Đấu tranh” là từ Hán Việt, có nghĩa tương đương với “chống”, theo đó “đấu tranh” ở đây được hiểu là công tác điều tra, truy tố, xét xử người phạm tội. “Chống” được hiểu là sự đấu tranh trực diện giữa một bên là chủ thể có thẩm quyền và một bên là tội phạm. Còn “phòng ngừa” là ngăn ngừa hoặc ngăn chặn để không cho tội phạm xảy ra Phòng ngừa tội phạm là hoạt động của tất cả các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án, các cơ quan Nhà nước và tổ chức xã hội và của mọi công dân trong xã hội áp dụng tổng hợp và đồng bộ các biện pháp khác nhau hướng vào thủ tiêu những nguyên nhân và điều kiện phạm tội, cũng như loại bỏ các yếu tố tiêu cực ảnh hưởng đến quá trình hình thành phẩm chất cá nhân tiêu cực, đồng thời từng bước hạn chế, đẩy lùi và tiến tới loại bỏ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội. 2. Một số văn bản pháp luật của Việt Nam về lĩnh vực phòng chống tội phạm Luật phòng, chống mua bán người ngày 29032011 Nghị định số 722010NĐCP ngày 0872010 quy định về phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật khác về môi trường Nghị quyết số 091998NQCP “Về tăng cường công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới” ngày 3171998. Chỉ thị số 372004CTTTg “Về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 091998NQCP và Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm của Chính phủ đến năm 2010” Nghị định số 252014NĐCP của Chính phủ ngày 07042014 quy định về phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật khác có sử dụng công nghệ cao. Một số điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên: + Công ước New York ngày 15112000 về Chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (kèm theo bảo lưu và tuyên bố), có hiệu lực đối với Việt Nam kể từ ngày 0862012 + Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng + Công ước của Liên hợp quốc về tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia + Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia Các hiệp định song phương và đa phương khác về tương trợ tư pháp, dẫn độ tội phạm… 3. Luật Quốc tế có tác động đến sự phát triển và hoàn thiện của Luật quốc gia Khi tham gia quan hệ quốc tế, quốc gia có nghĩa vụ phải tận tâm thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế của mình. Điều này được quốc gia thể hiện thông qua nhiều hành vi cụ thể khác nhau trong đó có hành vi sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật quốc gia sao cho các quy định của pháp luật quốc gia vừa mang tính đặc thù của mỗi quốc gia vừa phù hợp với các cam kết quốc tế của quốc gia. Chính vì vậy, các quy định có nội dung tiến bộ của Luật Quốc tế thể hiện thành tựu mới của khóa học pháp lý dần dần sẽ được truyền tải vào trong các văn bản pháp luật quốc gia. Những thành tựu này có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của pháp luật quốc gia, đảm bảo cho quốc gia vừa có thể hội nhập vào nền tảng pháp lý chung, vừa có thể thiết lập được một hệ thống pháp luật quốc gia hoàn chỉnh, phù hợp với yêu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong phạm vi lãnh thổ quốc gia. Ở Việt Nam, vấn đề áp dụng các điều ước quốc tế được thực hiện theo quy định của pháp lệnh về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế, cụ thể là: “Trong trường hợp việc thực hiện điều ước quốc tế đòi hỏi phải bổ sung, sửa đổi hoặc ban hành văn bản pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì cơ quan các ngành hữu quan có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp trình kiến nghị về việc bổ sung, sửa đổi hoặc ban hành văn bản pháp luật đó” (khoản 6 điều 11) Điều ước quốc tế được Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết với danh nghĩa Nhà nước, Chính phủ hoặc cấp ngành. Do vậy, khi một điều ước quốc tế được phía Việt Nam ký kết hoặc gia nhập thì có nghĩa là Nhà nước, Chính phủ hoặc ngành liên quan có trách nhiệm thực hiện điều ước quốc tế đó bằng cách nội luật hóa hoặc quy chiếu trực tiếp, có nghĩa là nó sẽ nằm trong hệ thống pháp luật quốc gia, khi đó, mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia quan hệ xã hội được nó điều chỉnh phải tuân theo. Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập quy định những vấn đề mà pháp luật trong nước chưa điều chỉnh thì nó có thể trở thành căn cứ pháp lý để ban hành những văn bản quy phạm pháp luật trong nước, đặc biệt là các văn bản của bộ, ngành. Trường hợp điều ước quốc tế và luật nội địa cùng quy định về một vấn đề thì về nguyên tắc, luật nội địa phải phù hợp với điều ước quốc tế bằng cách phải sửa đổi, bổ sung hoặc dẫn chiếu áp dụng điều ước quốc tế. Như vậy, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập là căn cứ cho việc ban hành văn bản. Chính vì vậy mà các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên nói riêng và pháp luật quốc tế nói chung là cơ sở, căn cứ quan trọng để chúng ta phát triển, hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nước. II. Tác động của Luật quốc tế tới quá trình hoàn thiện các văn bản luật của Việt Nam trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm Để phân tích tác động của Luật quốc tế tới quá trình hoàn thiện các văn bản luật của Việt Nam trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm, em xin được đi vào phân tích tác động của Luật quốc tế tới quá trình hoàn thiện các văn bản luật của Việt Nam trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm cụ thể, đó là: đấu tranh phòng chống tội phạm buôn bán người; đấu tranh phòng chống tội phạm tham nhũng và đấu tranh phòng chống khủng bố quốc tế. 1. Tác động của Luật Quốc tế tới quá trình hoàn thiện các văn bản pháp luật của Việt Nam trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm buôn bán người Hiện nay, ở Việt Nam tình hình buôn bán người đang gia tăng và diễn biến phức tạp. Việc nghiên cứu các quy định trong Công ước về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và các nghị định thư bổ sung, đặc biệt là Nghị định thư về phòng chống buôn bán người vào thời điểm này rất có ý nghĩa thực tiễn về mặt pháp lý, một trong những nỗ lực của Việt Nam nhằm giảm thiểu nạn buôn bán người là việc thông qua Luật phòng chống mua bán người. Những quy định cơ bản của pháp luật về buôn bán người Nhìn chung, pháp luật Việt Nam thông qua Luật phòng chống buôn bán người và Luật quốc tế thông qua Nghị định thư về phòng chống buôn bán người đều quy định những vấn đề như: Hình sự hóa những hành vi liên quan đến tội phạm buôn bán người: phù hợp với quy định tại Điều 5 Nghị định thư về chống buôn bán người, pháp luật Việt Nam đã quy định tương đối đầy đủ các hành vi phạm tội có liên quan đến tội buôn bán người và những hành vi phạm tội đó đều chịu những mức xử lý nghiêm khắc. Liên quan đến hành vi phạm tội buôn bán người được quy định tại Điều 119, 120, Điều 20 tội đồng phạm, Điều 254, 255, 256, 273, 274, 275 BLHS; Điều 3 Luật phòng chống buôn bán người; Nghị định 682002CP ngày 10072002 quy định chi tiết thi hành một số điều luật của Luật hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài có nhiều điều khoản liên quan đến phòng chống buôn bán người như: điều 2, 18, 21, 35, 50, 58. Thẩm quyền điều tra, quyền tài phán ngoài phạm vi lãnh thổ: pháp luật Việt Nam đã cụ thể hóa các quy định tại Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia tại Điều 5, Điều 6 BLHS. Theo như quy định này thì Việt Nam cũng có thể có thẩm quyền tài phán ngoài lãnh thổ đối với các tội phạm được thực hiện ngoài lãnh thổ Việt Nam trong các trường hợp như người bị hại là công dân Việt Nam, người không có quốc tịch thường trú tại Việt Nam; hành vi phạm tội có tổ chức được thực hiện ngoài lãnh thổ Việt Nam nhằm để thực hiện một tội phạm nghiêm trọng tại Việt Nam hoặc hành vi tham gia rửa tiền hay rửa tiền chưa đạt được thực hiện ở ngoài lãnh thổ Việt Nam nhằm để sẽ rửa tiền tại Việt Nam. Quyền tài phán ngoài lãnh thổ được quy định rất rõ trong các Hiệp định song phương hay đa phương mà Việt Nam ký kết với các nước khác trong từng lĩnh vực cụ thể. Dẫn độ tội phạm và tương trợ tư pháp: Nghị định thư về chống buôn bán người không đề cập vấn đề dẫn độ tội phạm buôn bán người, nhưng tại khoản 1, khoản 3 Điều 16 của Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia có quy định về dẫn độ tội phạm và tương trợ tư pháp. Pháp luật Việt Nam quy định các trường hợp dẫn độ tội phạm theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia theo nguyên tắc có đi có lại (quy định cụ thể trong chương 4 Luật tương trợ tư pháp và trong điều 343 BLTTHS). Các quy định về dẫn độ trong pháp luật Việt Nam nói chung đã đáp ứng được những yêu cầu khách qua trong việc thực hiện tương trợ tư pháp trong thời kỳ hội nhập quốc tế và cũng phù hợp với tinh thần chung của pháp luật quốc tế về phòng chống buôn bán người Những quy định về việc bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân của tội phạm buôn bán người: Nhìn chung, pháp luật Việt Nam cũng đã quy định đầy đủ về vấn đề trợ giúp và tái hòa nhập cộng đồng của các nạn nhân bị buôn bán và điều này cũng phù hợp với tinh thần chung của Công ước Liên hợp quốc về phòng chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (Điều 24, 25) và Nghị định thư bổ sung cho Công ước về chống buôn bán người (Điều 6, 7, 8). Cả pháp luật Việt Nam và Luật quốc tế đều quy định các vấn đề như: không trừng phạt nạn nhân; bảo vệ an toàn thể chất, bảo vệ đời tư và nhân dạng cho nạn nhân; các biện pháp hỗ trợ, giúp đỡ nạn nhân trong quá trình tố tụng; hồi hương và tái hòa nhập cộng đồng… Những quy định trong pháp luật Việt Nam có rất nhiều điểm tương đồng với các quy định của pháp luật quốc tế về phòng chống tội phạm buôn bán người; điều đó chứng tỏ tác động không nhỏ của Luật quốc tế tới quá trình hoàn thiện các văn bản pháp luật của Việt Nam trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm buôn bán người. 2. Tác động của Luật Quốc tế tới quá trình hoàn thiện các văn bản pháp luật của Việt Nam trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm tham nhũng Ngày 21112005, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật phòng chống tham nhũng. Quá trình xây dựng Luật này cũng đã tham khảo những quy định trong Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng. Từ các quy định của Công ước, quy định của Luật phòng chống tham nhũng, đồng thời quán triệt Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X (kỳ họp thứ ba), các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về phòng chống tham nhũng. Cụ thể là: Chính phủ đã ban hành Chiến lược quốc gia về phòng chống tham nhũng đến năm 2020 và kế hoạch triển khai thực hiện Chiến lược; đã ban hành một loạt các Nghị định, Quyết định, Chỉ thị quy định về minh bạch tài sản, thu nhập, chuyển đổi vị trí công tác đối với cán bộ, công chức, viên chức; tiêu chuẩn, định mức sử dụng trụ sở, trang thiết bị và phương tiện làm việc; tặng quà, nhận quà và nộp lại quà tặng; xử lý trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng; vai trò, trách nhiệm của xã hội trong phòng chống tham nhũng; trả lương qua tài khoản đối với đối tượng hưởng lương từ ngân sách... Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng và Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã xây dựng, trình Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Quy chế phối hợp giữa Ủy ban Kiểm tra Trung ương với Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng trong công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng có liên quan đến PCTN (Quyết định số 264QĐTW ngày 12102009); Thực hiện Nghị quyết 10392006NQUBTVQH11 ngày 2882006 của Ủy ban Thường Vụ Quốc hội, các cơ quan: Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, Thanh tra Chính phủ, Kiểm toán Nhà nước, Bộ Công an, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành Quy chế về việc phối hợp trong công tác phòng chống tham nhũng (Quy chế số 01QCPH ngày 15012009); Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định phê duyệt Đề án đưa nội dung phòng chống tham nhũng vào chương trình giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng (Quyết định số 1372009QĐTTg); Ban hành Quyết định về tổ chức, tên gọi, nhiệm vụ và quy chế hoạt động của Bộ phận giúp việc Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng chống tham nhũng (Quyết định số 1382009QĐTTg ngày 09122009) Các văn bản pháp luật trên các lĩnh vực kinh tế xã hội, nhất là các lĩnh vực nhạy cảm, dễ xảy ra tham nhũng cũng đã được rà soát, sửa đổì, bổ sung, ban hành mới theo thẩm quyền. Về việc thực hiện một số biện pháp phòng ngừa tham nhũng: Theo Điều 8 Công ước, các quốc gia thành viên Công ước có nghĩa vụ “trong khuôn khổ hệ thống pháp luật và thể chế nước mình, những quy tắc hoặc chuẩn mực xử sự (cho công chức) để đảm bảo việc thực hiện chức năng công được chính xác, chuẩn mực và đúng đắn”. Thực thi quy định này, hầu hết các cơ quan nhà nước Việt Nam ở trung ương đều đã ban hành và thực hiện quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức. Một số tổ chức xã hội nghề nghiệp ở trung ương cũng đã xây dựng và thực hiện quy tắc đạo đức nghề nghiệp của hội viên như: Hội Kế toán, Kiểm toán, Hội nhà báo, Tổng hội Y dược học...; các tổ chức khác cũng đang khẩn trương xây dựng quy tắc để ban hành. 3. Tác động của Luật Quốc tế tới quá trình hoàn thiện các văn bản pháp luật của Việt Nam trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống khủng bố quốc tế Khủng bố quốc tế là hành vi của cá nhân hay tổ chức sử dụng các thủ đoạn bạo lực hoặc phi bạo lực tấn công và gây thiệt hại (hoặc đe dọa gây thiệt hai) nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe tài sản của cá nhân, tổ chức, tàn sát dã man dân thường để nhằm đạt được các mục đích chính trị, kinh tế hay xã hội Các quy định pháp luật về phòng, chống khủng bố có ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau như: BLHS năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009; BLTTHS năm 2003; Luật Tương trợ tư pháp năm 2007; Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 1997... và nhiều văn bản dưới luật khác. Thực tiễn cho thấy, hoạt động khủng bố quốc tế là một loại tội phạm xuyên quốc gia rất nguy hiểm; quá trình đấu tranh chống tội phạm khủng bố quốc tế đòi hỏi các nước trên thế giới phải đẩy mạnh hợp tác tương trợ tư pháp hình sự trên nhiều mặt, như công tác điều tra, thu thập chứng cứ, cung cấp, trao đổi thông tin, bắt giữ và dẫn độ, chuyển giao người bị kết án… Để có cơ sở pháp lý đầy đủ cho các hoạt động này, Việt Nam cần tiếp tục đàm phán, ký kết với các nước Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự, Hiệp định về dẫn độ và các điều ước quốc tế khác có điều chỉnh vấn đề hợp tác đấu tranh chống tội phạm khủng bố. Nghị quyết 48NQTW đã định hướng: Ký kết và gia nhập các công ước quốc tế về chống khủng bố quốc tế, chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, chống rửa tiền, chống tham nhũng, các hiệp định tương trợ tư pháp. Đối với bốn điều ước quốc tế về chống khủng bố mà Việt Nam chưa phải là thành viên, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần đẩy nhanh tiến độ nghiên cứu, đề xuất Nhà nước gia nhập các điều ước quốc tế này, nhất là Công ước quốc tế về chống bắt cóc con tin. Việc Việt Nam tham gia công ước quốc tế này trong thời điểm hiện nay là cần thiết. Tuy đã gia nhập hoặc ký kết nhiều điều ước quốc tế đa phương, song phương về phòng, chống khủng bố hoặc liên quan đến phòng, chống khủng bố nhưng cho đến nay ở Việt Nam vẫn chưa tạo lập được cơ chế tổ chức thực hiện các điều ước quốc tế đó. Để nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế phòng, chống khủng bố, cần xây dựng một văn bản quy phạm pháp luật phân công trách nhiệm tổ chức thực hiện các văn bản pháp lý quốc tế về phòng, chống khủng bố; đặc biệt là các điều ước của Liên hợp quốc về phòng, chống khủng bố. Nếu không ban hành văn bản hướng dẫn thi hành các điều ước quốc tế về phòng, chống khủng bố thì các điều ước đó chỉ tồn tại mang tính hình thức. Luật phòng, chống khủng bố cần tạo ra cơ sở pháp lý đầy đủ, phải bảo đảm yêu cầu nội luật hoá các quy định trong các văn kiện pháp lý quốc tế về phòng, chống khủng bố mà Việt Nam đã là thành viên, tạo điều kiện để Việt Nam tiếp tục tham gia các điều ước quốc tế còn lại về chống khủng bố trong thời gian tới; đồng thời, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm xây dựng pháp luật và thực tiễn đấu tranh phòng, chống khủng bố của các quốc gia trên thế giới. Đây là những yêu cầu rất đáng chú ý trong quá trình xây dựng dự án Luật để đảm bảo sự tương thích của pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế về phòng, chống khủng bố. Việc tiếp thu kinh nghiệm quốc tế về phòng, chống khủng bố cũng phải được tính toán, cân nhắc có chọn lọc, theo hướng lựa chọn những kinh nghiệm phù hợp với thực tiễn chính trị, kinh tế, pháp luật Việt Nam, tránh rập khuôn, máy móc... III. Một số hạn chế ngăn cản sự tác động của Luật quốc tế tới quá trình hoàn thiện các văn bản luật của Việt Nam trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm Thứ nhất, việc triển khai thực hiện các hiệp định đã được ký kết còn nhiều hạn chế, chưa phù hợp với pháp luật quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự hoặc chưa đúng với quy định của pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế. Để tăng cường phòng, chống tội phạm, công cụ đầu tiên là BLHS và BLTTHS. Thực tiễn mấy năm qua cho thấy có nhiều chậm trễ, bất hợp lý trong pháp luật hình sự Việt Nam. Những kinh nghiệm từ nhiều quốc gia phát triển đang rất cần cho xã hội Việt Nam, đã từng được đề xuất nhưng chưa được áp dụng. Thứ hai, về phòng chống tội khủng bố: các dấu hiệu pháp lý của tội khủng bố trong pháp luật hình sự Việt Nam còn có những điểm chưa tương thích với các quy định về khủng bố trong các công ước quốc tế, chưa đáp ứng thực tiễn hoạt động phạm tội khủng bố trong tình hình hiện nay. Thứ tư, về phòng chống tội phạm tham nhũng: Việt Nam còn ít kinh nghiệm, nhiều quy định của Công ước còn tương đối mới đối với Việt Nam. Pháp luật Việt Nam tuy cơ bản phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng, song bản thân hệ thống pháp luật đó đang trong giai đoạn hoàn thiện. KẾT LUẬN Ngày nay, xu thế toàn cầu hóa và khu vực đang tạo điều kiện thuận lợi cho sự giao thoa pháp luật. Sự giao thoa này chắc chắn sẽ dẫn đến quá trình tiếp thu và học hỏi cái mới, văn minh, tiến bộ nhằm hoàn thiện những lỗ hổng và bất cập trong hệ thống pháp luật quốc gia. Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam mở rộng quan hệ quốc tế và hợp tác về trật tự an toàn xã hội đã và sẽ giúp Việt Nam tranh thủ được các kinh nghiệm và thành tựu, các phương tiện kỹ thuật hiện đại của thế giới để bảo vệ an ninh, trật tự; đồng thời tạo thành một thế trận, một môi trường an ninh, trật tự ổn định để phát triển kinh tế đất nước. Cùng với đó, cũng tạo được cơ sở vững chắc để xây dựng hành lang pháp lý ngày càng hoàn thiện.
Xem thêm

Đọc thêm

KIẾN THỨC CHUNG (ÔN THI CÔNG CHỨC VIỆN KIỂM SÁT)

KIẾN THỨC CHUNG (ÔN THI CÔNG CHỨC VIỆN KIỂM SÁT)

Đây là tài liệu tổng hợp để ôn thi công chức môn kiến thức chung, gồm 1 số câu hỏi về lý luận chung nhà nước và pháp luật, luật cán bộ công chức và luật phòng chống tham nhũng. Tập tài liệu gồm trên 50 trang. Chúc các bạn ôn thi tốt và đạt kết quả cao.

62 Đọc thêm

Cùng chủ đề