PHỐ TRẦN TẾ XƯƠNG HÀ NỘI

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "PHỐ TRẦN TẾ XƯƠNG HÀ NỘI":

Tác giả Trần Tế Xương

TÁC GIẢ TRẦN TẾ XƯƠNG

I.CUỘC ÐỜI, THỜI ÐẠI VÀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC: 1.Cuộc đời: Trần Tế Xương tên thật là Trần Duy Uyên, quen gọi là Tú Xương, tự là Mặc Trai, hiệu là Mộng Tích Trần Tế Xương tên thật là Trần Duy Uyên, quen gọi là Tú Xương, tự là Mặc Trai, hiệu là Mộng Tích, đến khi thi Hương mới lấy tên là Trần Tế Xương. Ông sinh ngày 10-8-1871 tại lànVị Xuyên, huyện Mỹ Lộc, Nam Ðịnh và mất ngày 20-1-1907 ở làng Ðịa Tứ cùng huyện.  Tú Xương là một người rất thông minh, tính tình thích trào lộng. Có nhiều giai thoại kể về cá tính của ông.  Cuộc đời Tú Xương lận đận về thi cử. Tám khoa đều hỏng nên dấu ấn thi rớt in đậm nét trong tiềm thức Tú Xương.  Ông cưới vợ rất sớm. Phạm Thị Mẫn từ một cô gái quê Con gái nhà dòng, lấy chồng kẻ chợ. Tiếng có miếng không, gặp hay chăng chớ trở thành bà Tú tần tảo một nắng hai sương Quanh năm buôn bán ở mom sông. Nuôi đủ năm con với một chồng. Ông Tú vẫn có thể có tiền để ăn chơi nhưng gia cảnh nghèo túng, việc nhà trông cậy vào một tay bà Tú.  Có thể nói, việc hỏng thi và cảnh nghèo của gia đình là nguồn đề tài phong phú trong sáng tác của Tú Xương.   Cuộc đời ông nằm gọn trong giai đoạn nước mất, nhà tan.  Năm Tú Xương ba tuổi (1873) Pháp đánh Hà Nội lần thứ nhất rồi tấn công Nam Ðịnh.  Năm mười bốn tuổi (1884) triều đình ký hàng ước dâng đất nước ta cho giặc.  Tuổi thơ của Tú Xương trôi qua trong những ngày đen tối và ký ức về những cuộc chiến đấu của các phong trào khởi nghĩa chống Pháp cũng mờ dần. Nhất là sau cuộc khởi nghĩa của Phan Ðình Phùng (1896) bị thất bại thì phong trào đấu tranh chống Pháp dường như tắt hẳn.  Năm 1897, Pháp đặt nền móng cai trị đất nước, xã hội có nhiều biến động, nhất là ở thành thị. Tú Xương lại sinh ra và lớn lên ở thành thị vào thời kỳ chế độ thực dân nửa phong kiến được xác lập, nền kinh tế tư bản phát triển ở một nước thuộc địa làm đảo lộn trật tự xã hội, đảo lộn đời sống tinh thần của nhân dân. Nhà thơ đã ghi lại rất sinh động, trung thành bức tranh xã hội buổi giao thời ấy và thể hiện tâm trạng của mình.  Có thể nói, đứng trước sự tha hoá của xã hội nên nguyên tắc Tam cương ngũ thường của Tú Xương không đậm như Nguyễn Khuyến và càng xa rời Ðồ Chiểu.  3. Tác phẩm:    Tú Xương mất sớm, ông chua đi trọn con đường sáng tác của mình. Nhưng những tác phẩm Tú Xương để lại có tác dụng như một bản cáo trạng đanh thép lên án xã hội thực dân nửa phong kiến trong giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX.  Tú Xương sáng tác rất nhiều và thất lạc cũng nhiều. Ông viết khoảng 151 bài thơ bằng chữ Nôm với đủ các thể loại. Ngoài ra, ông có dịch một số thơ Ðường.  II.NỘI DUNG THƠ VĂN TRẦN TẾ XƯƠNG: 1.Thơ Tú Xương là một bức tranh nhiều vẻ, sinh động về một xã hội thực dân nửa phong kiến:    Trong thơ ông có hình bóng con người và sinh hoạt của xã hội phong kiến cũ đã bị thực dân hóa, và có hình bóng những vật mới, những sinh hoạt mới – sản phẩm của xã hội thực dân nửa phong kiến. Thơ Tú Xương là tiếng nói đả kích, châm biếm sâu sắc và dữ dội vào các đối tượng mà ông căm ghét.  1.1.Ðả kích bọn thực dân Pháp:  Ðốái với thực dân Pháp, tuy chua phải là đối tượng chính để tập trung phê phán nhưng ta vẫn bắt gặp bóng dáng những tên thực dân xuất hiện với dáng vẻ rất buồn cười. Ðó là hình ảnh những ông Tây, bà Ðầm rất nghênh ngang lố bịch (Vịnh khoa thi Hương năm Ðinh Dậu). Với ngòi bút châm biếm sắc sảo, Tú Xương đả kích chúng không khoang nhượng, vạch trần thói gian ác, bần tiện, thủ đoạn kiếm ăn dơ bẩn của chúng bằng bút pháp trào phúng sâu sắc (Ông Cò).  1.2.Ðối với bọn quan lại, tay sai:  Ðề tài này thật ra không có gì mới mẻ so với trước, nhưng cái mới ở đây là bút pháp của Tú Xương có cá tính và mang nét cảm hứng thời sự.  Dưới ngòi bút của ông, hình ảnh bọn quan lại hiện lên rất phong phú đa dạng. Ðó là những lũ bất tài, dốt nát (Bác Cử Nhu); chúng không khác chi những tên hề (Hát bội). Ông phê phán trò gian lận, hối lộ, bòn rút của dân không nghĩ gì đến trách nhiệm (Ðùa ông Phủ).  Ông còn vạch trần bản chất làm tay sai của những tên quan lại lúc bấy giờ (Cô hầu gửi quan lớn).  Từ đó thấy được thái độ phẫn uất của Tú Xương trước thực trạng xã hội và ông đã dùng ngòi bút của mình để lên án, phê phán những con người, những hiện tượng trái tai, gai mắt.  Nhà thơ đã dựng lại chân dung của bọn quan lại, mỗi người mỗi vẻ nhưng đều rất sắc cạnh, cụ thể. Một tên quan huyện Mình trung đâu đấy trách người trinh, một ông Aám Chạy lăng quăng, ấm chẳng ngồi, ông Ðốc cờ bạc ăn chơi rặt một màu, ông Cử Sách như hủ nút, chữ như mù, một cô Bố Chồng chung, vợ chạ, một chú Hàn thì Ðậu lạy, quan xin… và cả một xã hội lố lăng, rởm đời với quý vị phu nhân, các cậu ấm tử, sư sãi… cũng được Tú Xương tái hiện, sinh động, cụ thể:  Hai cậu con con đóng vai ấm tử, lỗi bếp bồi cậu cũng như nhau. Ðôi đức bà lên mặt phu nhân, ngón đĩ thỏa bà nào cũng nhất. Nhất tắc mộ sư mô chi cực, nay chùa này, mai chùa khác, mở lòng từ tô tượng, đúc chuông. Nhất tắc ham chài lái chi khu, lên mành nọ xuống mành kia, che miệng thế đong dầu rót mật (Khai lý lịch)  1.3.Ðối với khoa cử, nho học:  Trong bức tranh xã hội của Tú Xương còn có những nho sĩ đi thi, những ông Nghè, ông Cống; có hình ảnh của trường thi, của một nền nho học đang xuống dốc trầm trọng. Thời Tú Xương không còn tìm thấy hình ảnh uy nghi, trang trọng của một trường thi chữ Hán xưa kia nữa mà nó đang lùi dần trước uy thế của kẻ thù.  Ông phản ánh thực trạng nho học suy đồi bằng tiếng thở dài áo não (Than đạo học). Ông còn chế giễu những người kéo nhau đi thi ở những trường lớp mới mở của thực dân (Ðổi thi).  Trong buổi lễ xứng danh khoa Ðinh Dậu, nhà thơ đã vẽ ra trước mắt người đọc bức tranh về cảnh trường thi cảnh ngao ngán của sĩ tử trước thực trạng nước mất, nhà tan, sĩ khí tiêu điều, bút lông hết được săn đón Vứt bút lộng đi giắt bút chì. Ðó là hình ảnh:  Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ Ậm oẹ quan trường miệng thét loa. Lọng cắm rợp trời quan sứ đến, Váy lê quét đất mụ đầm ra  Cái tàn tạ của nho học được Nguyễn Bính ghi lại: Mực tàu giấy bản là đây Nước non đi hết những người áo xanh Lỡ duyên bút tóc củ hành Trường thi Nam Ðịnh biến thành trường bay.  Tú Xương than thở cho số phận của một ông Nghè, ông Cống và giễu cả những ông Phán: Nào có gì lạ cái chữ nho Ông nghè, ông cống cũng nằm co Sao bằng đi học làm ông Phán. Tối rượu sâm banh, sáng sữa bò (Chữ nho)  1.4. Phê phán thế lực đồng tiền:  Trước Tú Xương, nhiều tác giả Việt Nam cũng như nừơc ngoài đã lên án sức mạnh đồng tiền. Nó chi phối tư tưởng và hành động của con người. Ðến thời Tú Xương, đồng tiền lại một lần nữa gây đảo điên xã hội nhất là ở thành thị. Nó làm cho đạo đức suy đồi từ trong gia đình cho đến ngoài xã hội.  Tú Xương đã mắng nhiếc cái xã hội đã hỗn loạn lên vì đồng tiền (Ðất Vị hoàng, Vị Hoàng hoài cổ)  Có thể thấy bức tranh xã hội của Tú Xương bị tha hóa đến trầm trọng. Nào là cảnh:  Ở phố Hàng Song thật lắm quan Thành thì đen kịt, độc thì lang Chồng chung vợ cha kìa cô Bố Ðậu lại quan xin nọ chú Hàn ( Phố Hàng song)  Vì đồng tiền, con người lường gạt nhau để sống, đối xử với nhau không ra gì. Tình nghĩa cha con, vợ chồng, tình yêu, tình bè bạn . . . đều bị chà đạp bởi thế lực của đồng tiền. Bài thơ Mùng hai tết viếng cô Ký, Ðể vợ chơi nhăng đã phê phán thói đời thật đáng sợ. Ông chồng khóc vợ chết chỉ vì thương cái xe tay. Còn vợ đối với chồng thì Trăm năm tuổi lại trăm thằng  Ngòi bút Tú Xương đã khái quát bức tranh hiện thực sinh động về một xã hội lố lăng, rởm đời, có những cảnh khá nực cười, những cảnh chướng tai, gai mắt cứ nhan nhản xuất hiện trong thơ Tú Xương ( Năm mới, Thói đời, Chữ nho):  Khăn là bác nọ lo tày rế, Váy lĩnh cô kia quét sạch hè. Công đức tu hành sư có lọng, Xu hào xủng xoảng mán ngồi xe. ( Năm mới)  Hay cảnh nực cười khác: Chí cha chí chát khua giày dép, Ðen thủi đen thui cũng lụa là.  1.5 Lên án những thói hư tật xấu của thời đại:  Phê phán những người hành đạo mà lòng dạ xấu xa và hành vi bẩn thỉu như cảnh sư sãi vụng trộm trong chùa, sư cho vay nặng lãi, sư chứa của gian đến nỗi phải ở tù (Sư ở từ, Ông sư và mấy ả lên đồng)  Ông còn lên án thói đồng bóng, cho đồng bóng là trò mê tín giả dối không thể chịu được: Ðồng giỏi sao đồng không giúp nước Hay là đồng sợ súng thần công.  Phê phán những phong tục xa hoa, phù phiếm trong ngày tết ý tứ mỉa mai trước thực trạng nước mất, nhà tan (Thói đời), vạch trần những tâm lý giả dối, sáo rỗng của con người trong ngày tết bằng lời lẽ châm biếm sắc sảo. Bài thơ Chúc tết đã chế giễu độc địa và sâu sắc: Lẵng lặng mà nghe nó chúc nhau Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu. Phen này ông quyết đi buôn cối, Thiên hạ bao nhiêu đứa giả trầu.   Nó lại chúc nhau cái sự sang! Ðứa thời mua tước đứa mua quan. Phen này ông quyết đi buôn lọng, Vừa chửi vừa rao cũng đắt hàng.   Nó lại mừng nhau cái sự giàu! Trăm ngìn vạn mớ để vào đâu? Phen này ắt hẳn gà ăn bạc, Ðồng rụng, đồng rơi, lọ phải cầu   Nó lại mừng nhau sự lắm con Sinh năm đẻ bảy được vuông tròn. Phố phường chật hẹp người đông đúc, Bồng bế nhau lên nó ở non.   2. Thơ Tú Xương là tiếng nói tâm tình trĩu nặng đau xót:               2.1. Nỗi đau xót về bản thân và thời cuộc:                          - Về bản thân:             Gánh nặng đeo đẳng nhà thơ suốt đòi là nợ lều chõng. Ban đầu hỏng thi, ông còn cười cợt, còn tự nghĩ cách để an ủi mình. Nhưng các khoa thi sau ( 1903, 1906) ông càng thất vọng, càng chua chát. Tú Xương ngày càng đau buồn, chán nãn, tuyệt vọng và cay cú: Học đã sôi cơm nhưng chữa chín. Thi không ăn ớt thế mà cay  Ðến khoa thi cuối ( 1906) tiếng thở dài của Tú Xuơng càng áo não và bi thiết hơn nhiều: Bụng buồn còn biết nói năng chi Ðệ nhất buồn là cái hỏng thi Một việc văn chương thôi cũng nhảm Trăm năm thân thế chẳng ra gì ( Buồn thi hỏng)  Ở đây, dù đau vì thi rớt, vì công danh không thành đạt nhưng Tú Xương vẫn ít ủy mị và luôn tỏ thái độ khôi hài, lúc nào nụ cười trào phúng cũng đến với ông. Qua những lời tự trào, tư thú về mình càng thấy rõ con người và tính cách Tú Xương:  Tú Xương tự khoe về sự ăn chơi của mình: Nghiện chèm nghiện rượu, nghiện cả cao lâu, Hay hát, hay chơi, hay nghề xuống lõng. Quanh năm phong vận, áo hàng Tàu, khăn nhiễu tím, ô Nhật Bản anh, Ra phố nghênh ngang, quần Tố nữ, bít tất tơ, giày Gia Ðịnh bóng . . . ( Phú hòng thi)  -         Về cảnh nghèo: Qua thơ ông, gia cảnh nhà ông hiện lên rất áo não và bi thiết ( Mùa nực mặc áo bông) Nhà thơ từng thấm thía cảnh chạy ăn, vay nợ, nhiều lúc ông phải gào lên: Van nợ lắm khi trào nước mắt Chạy ăn từng bữa toát mồ hôi ( Than nghèo)  Trong hoàn cảnh nào, Tú Xương vẫn cười cợt, châm biếm, nói ngông. Vì nghèo quá, ông đã tính đến chuyện đi tu nhưng không phải tu vì đạo lý mà tu vì tấm áo (Nghèo), rồi nghĩ đến chuyện làm mứt rận đãi gai đình trong ngày tết, có những ý nghĩ ngông nghênh, hợm hĩnh ( Mứt rận), hoặc nhiều lúc ông đâm ra chán chường tuyệt vọng: Ngủ quách sự đời thây đứa thức. Bên chùa chú trọc đã khua chuông. ( Ðêm hè) Vốn là con nhà trào phúng nên trong hoàn cảnh nào nhà thơ vẫn có thể cười cợt, vẫn bông đùa: Anh em đừng tưởng tết tôi nghèo Tiền bạc trong kho chữa lĩnh tiêu  Ðúng là nói cho vui, chứ kho đâu mà lĩnh, tiền đâu mà tiêu? Chính cái nghịch lý này đã hình thành nên tính cách của Tú Xương.  2.2. Nỗi lo lắng thầm kín của Tú Xương trước thời cuộc và vận mệnh đất nước:  - Tình cảm của Tú Xương đối với nhân dân: Ðối với người nghèo như những người học trò, những người nông dân chân lắm tay bùn (Thề với ăn xin)  . . . những dòng thơ của Tú Xương chứa chan tình cảm và đầy lòng ưu ái (Ðại hạn)  Hoặc ở một bài thơ khác, tâm trạng Tú Xương càng thể hiện rõ hơn: Ỳ ào tiếng học nghe không rõ Mát mẻ nhà ai ngủ hẳn lâu Ông lão nhà quê tan tản dậy, Bảo con đem đó, chớ đem gầu . . .  Ðối với người phụ nữ, hình ảnh họ hiện lên thật đáng thương, họ không những khổ sở về vật chất mà còn bị đau đớn về mặt tinh thần Thương vợ là một bài thơ tiêu biểu của Tú Xương viết về vợ:  Quanh năm buôn bán ở mom sông Nuôi đủ năm con với một chồng Lặn lội thân cò khi quãng vắng, Eo sèo mặt nước buổi đò đông Một duyên hai nợ âu đành phận Năm nắng mười mưa dám quản công Cha mẹ thói đời ăn ở bạc Có chồng hờ hững cũng như không.  Nỗi u hoài kín đáo của Tú Xương trước thời cuộc và vận mệnh đất nước thường triền miên, day dứt: Nhân tài đất Bắc nào ai đó? Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà ( Vịnh khoa thi Hương năm Ðinh dậu)  Nhà thơ thường thao thức suốt đêm dài để lặng lẽ suy tư và thấy được cái heo hút Vắng lặng của đêm trường: Ðêm sao đêm mãi tối mò mò, Ðêm đến bao giờ mới sáng cho. Ðàn trẻ u ơ chừng muốn dậy, Ông già thúng thắng vẫn đang ho. Ngọn đèn rình trộm khêu còn bé, Tiếng chó kinh người cắn vẫn to. Hàng xóm bốn bề ai dậy chửa, Dậy thì lên tiếng gọi nhà nho. ( Ðêm dài)  Trong hoàn cảnh đó, nhà thơ vẫn còn tỉnh táo để nhận ra mình: Kìa cái đêm nay mới gọi đêm Mắt giương không ngủ bũng không thèm Tình này ai thấu cho ta nhỉ Tâm sự năm canh một bóng đèn.  Ðiểm sáng nhất, xúc động nhất trong thơ ông là ở tình này. Ðó là tình cảm của ông đối với quê hương đất nước.  Nỗi đau khi nhìn thấy đất nước đổi thay mà bản thân ông thì không làm gì thay đổi thời cuộc ( Sông lấp). Bài thơ chứng tỏ Tú Xương vẫn là người nặng tình đời và tha thiết với cuộc sống. Mặc dù có lúc ông đâm ra bối rối, lạc lõng, mất phương hướng trước bao biến đổi của thời cuộc: Hỏi người chỉ thấy non xanh ngắt, Ðợi nước càng thêm tóc bạc phơ Ðường đất xa khơi ai mách bảo? Biết đâu mà ngóng dến  bao giờ? ( Lạc đường)  Lòng yêu nước của Tú Xuơng còn thể hiện qua sự khâm phục của Tú Xương đối với những người có tài, có đức ra cứu đời, giúp nước: Vá trời gặp hội mây năm vẻ Lấp bể ra công đất một hòn ( Gửi cụ thủ khoa Phan)  Tuy không đủ dũng khí để đi vào cuộc cách mạnh như bao nghĩa sĩ yêu nước khác nhưng ông có cảm tình nồng hậu đối với những người làm cách mạng. Hình ảnh Phan Bội Châu Vá trời, lấp bể đã đến với Tú Xương bằng tất cả sự kính mến, khâm phục.   3. Triết lý sống của Tú Xương giữa thời buổi loạn ly của đất nước:   Triết lý sống của Tú Xương đặc biệt không giống ai giữa thời buổi loạn ly. Ông sống giả câm, giả điếc, làm ngơ trước dư luận. Sống như ông phải có kiểu cách riêng, giống như hình ảnh của chú Mán ở Nam Ðịnh: Khi để chỏm, lúc cạo đầu Nghêu ngao câu hát nửa tàu, nửa ta Chẳng đội nón chịu màu da dãi nắng, Chẳng nhuộm răng để trắng dễ cười đời, Chốn quyền môn lòn cúi mặc ai, Ngoài cương tỏa thảnh thơi ai đã biết. ( Chú Mán)  Thái độ sống khác của Tú Xương có phải chăng là thái độ chống đối của nhà thơ trước thời cuộc? Ông không muốn hòa vào cuộc sống ngột ngạt không lối thoát này, không muốn hợp tác với cái văn minh trong thời kỳ nước mất, nhà tan. Giữa bao cái rối rắm mà mọi người đang tìm cách chen chân vào thì Tú Xương tách khỏi nó. Từ đó thể hiện sự yêu thích tự do, không chịu cúi lòn làm nô lệ.  Triết lý sống của Tú Xương nếu đem đặt bên cạnh triết lý sống của các nhà chiến sĩ yêu nước là xả thân vì nước lúc bấy giờ thì triết lý sống của Tú Xương có phần nhạt nhẽo, vô vị. Nhưng nói chung, triết lý sống của ông đã phần nào phản ảnh được tâm trạng của lớp người sống trong thời buổi không đành tâm theo giặc cũng không cầm vũ khí chống giặc.  III. NGHỆ THUẬT THƠ VĂN TRẦN TẾ XƯƠNG: 1.      Kết cấu:    1.1.Thơ trào phúng của Tú Xương hết sức đa dạng và phong phú. Có bài thơ vừa có hiện thực vừa có trào phúng. Bằng nhiều thủ pháp nghệ thuật, Tú Xương sử dụng tiếng cười làm vũ khí. Ở Tú Xương không có cái nhàn nhạt, cái lưng chừng, cười là cười phá, chửi là chửi độc, chua chát đến ứa mật, ứa máu.  Có những bài tự trào, tự khoe về mình, dùng ngôn ngữ lấp lững, ỡm ờ, hoặc những từ hoàn toàn thô tục . . . Tứ thơ thường độc đáo, đột ngột, táo bạo gây sự chú ý và bám vào linh hồn của chủ đề. Tú Xương đã quàng vào cổ ông Hàn nọ ( Vốn làm nghề nấu rượu) những xâu, chai, lọ, vung, nồi lổn nhổn: Hàn lâm tu soạn kém gì ai? Ðủ cả vung nồi, cả cóng chai ( Ðưa ông hàn)  Cái tài tình của Tú Xương là chợp đúng cái thần của sự vật bằng một vài nét điển hình, rồi với cách nói thẳng thừng, táo bạo và hài hước của mình, ông phơi bày cái lõi của sự thật cho mọi người xem có khi ở câu đầu: Lúc túng toan lên bán cả trời Trời rằng thằng bé nó hay chơi ( Tự cười mình)  Có khi ở cuối câu: Cụ Xứ có cô con gái đẹp Lăm le xin bố cưới làm chồng ( Ði thi nói ngông) Có khi mượn lối chơi chữ: Ấm không ra ấm, ấm ra nồi Ấm chạy lăng quăng, ấm chẳng ngồi ( Bỡn ông ấm Ðiềm)  Có lúc nhân cái mồm tu hú của đối tượng mà hạ một ý thật lạ lùng: Cậu này ắt hẵn hay nghề sáo, Dây vũ dây văn vụng ngón đàn ( Thông gia với quan)  Hoặc mở đầu bài thơ Ðể vợ chơi nhăng là đánh thẳng đối tượng là anh chồng ngu”: Thọ kia mày có biết hay chăng Con vợ mày kia xiết nói năng Vợ đẹp của người không giữ được Chồng ngu mượn đứa để chơi nhăng  Nhưng mục đích chính là đả kích mụ vợ, nên khổ thơ cứ dồn dập và quyết liệt: Ra đường đáng giá người trinh thục Trong bụng sao mà những gió trăng, Mới biết hồng nhan là thế thế, Trăm năm, trăm tuổi, lại trăm thằng.  Có thể nói, Tú Xương đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật kết cấu trong thơ trào phúng, trước hết vì tiếng cười của ông là sự phê phán của một lý trí và cảm xúc nhạy bén của con tim nên tiếng cười trào phúng của Tú Xương rất chắc, hiệu quả cao.  1.2.Thơ trữ tình của Tú Xương:  Lời thơ nhuần nhuyễn, ý thơ gần gũi, sâu lắng. Các bài thơ tiêu biểu Ðêm hè, Ngẫu hứng, Sông lấp, Gửi cụ thủ khoa Phan, Nhớ bạn phương trời . . . thể hiện cái sâu xa trong tâm trạng của ông đó là tinh thần dân tộc, tuy có giới hạn nhưng rất đáng quý, đã hình thành nên tính cách Tú Xương.  Ông có những bài thơ thể hiện tình cảm lãng mạn cũng khá hiện đại: Em gửi cho anh mãnh lụa đào Không biết rằng em bán thế nào ( Tặng người quen)  Ðề tài thơ trữ tình của Tú Xương tuy không phong phú và đa dạng như thơ trào phúng nhưng cũng rất sâu sắc và đậm đà. Nhà thơ sử dụng nhiều chi tiết từ  cuộc sống nên tứ thơ rất sinh động, nhiều chi tiết xác thực như bản thân đời sống . Hình ảnh bà Tú được tái hiện bằng những nét rất thực: Lặn lội thân cò khi quãng vắng Eo sèo mặt nước buổi đò đông. ( Thương vợ)  Bài thơ Nhớ bạn phương trời đã đi sâu vào thế gới tâm trạng, tràn ngập cảm xúc  trữ tình của nhà thơ đối với nhà cách mạng Phan Bội Châu. Ta nhớ người xa cách núi sông, Người xa, xa lắm nhớ ta không? Sao đang vui vẻ ra buồn bã Vừa mới quen nhau đã lạ lùng Lúc nhớ, nhớ cùng trong mộng tưởng Khi riêng riêng đến cả tình chung Tương tư lọ phải là trai gái, Một ngọn đèn xanh trống điểm thùng.  1.3.Sự kết hợp hai yếu tố hiện thực và trữ tình:  Rất độc đáo và sâu sắc. Kết cấu bài thơ không gò bó. Tính phóng túng trong suy nghĩ cũng như trong tính tình đã đem vào khuôn khổ thể thơ bảy chữ tám câu nhiều nét mới đã phá vỡ mọi qui định:  Việc bác không xong tôi chết ngay! Chết ngay? Như thế vội vàng thay! ( Bỡn người làm mối)  Hỏi lão đâu ta?- Lão ở Liêm Trông ra bóng dáng đã hom hem ( Già chơi trống bỏi)  Người đói ta đây cũng chẳng no, Cha thằng nào có tiếc không cho ( Thề với ăn xin)  Rất nhiều bài thơ của Tú Xương có sự kết hợp hài hòa hai yếu tố hiện thực và trữ tình (Vịnh khoa thi hương năm Ðinh Dậu, Thương vợ, Thề với ăn xin . . .)  Nói về sự kết hợp giữa hai yếu tố hiện thực và trữ tình trong một bài thơ, Nguyễn Tuân cho rằng: Sở dĩ thơ Tú Xương không bị tắt gió, không bị bay ra khỏi là vì thơ Tú Xương đã đi bằng hai chân hiện thực và lãng mạn, là vì thi pháp của Tú Xương phối hợp cả hiện thực và trữ tình   2.      Ngôn ngữ và chất liệu dân gian:   2.1.           Ngôn ngữ: Tú Xương là bậc thầy trong việc sử dụng ngôn ngữ và hình ảnh. Ngôn ngữ giản dị, chính xác, uyển chuyển, gợi hình và có tính chất dân gian ( Ði hát mất ô) được xem là bài duyên dáng, hóm hĩnh, độc đáo của Tú Xương vì ông đã thể hiện được cái thần của bài thơ.  Sử dụng ngôn ngữ hàng ngày, tươi mát, tự nhiên mà vẫn thanh nhã, óng chuốt. Mấy câu sau đây như lời nói ở cửa miệng, không thêm bớt mà rất chân thành: Tôi hỏi thăm ông đến tận nhà, Trước nhà có miếu, có cây đa Cửa hè sân ngõ chừng ba thước, Nửa tá tre pheo đủ một tòa . . . ( Ông ấm Ðiềm)  Hoặc đây là cách nói ngang tàng nhưng rất tự  nhiên: Gái tơ đi lấy làm hai họ Năm mới vừa sang được một ngày ( Viếng cô Ký)  Hai họ là vợ hai, đối với Một ngày tức mùng một tết. Vậy câu thơ chỉ giữ cái vỏ của phép đối mà vượt qua những ràng buộc khác khiến cho lời thơ của Tú Xương không những êm tai, sướng miệng mà còn rất độc đáo, có giá trị châm biếm cao.  2.2.Chất liệu dân gian:  Nhiều thành ngữ dân gian, ca dao đã đi vào thơ Tú Xương bằng sự sáng tạo riêng. Các thành ngữ như Học đã sôi cơm, thi không ăn ớt, vuốt râu nịnh vợ, quắc mắt khinh đời, năm nắng mưới mưa, thân cò lặn lội . . . đã được Tú Xương vận dụng khá độc đáo trong thơ. Vuốt râu nịnh vợ con bu nó Quắc mắt khinh đời cái bộ anh.  Tú Xương rất am hiểu ca dao, nhiều câu ca dao còn thể hiện cái tình tứ, duyên dáng, hóm hỉnh của nhà thơ.  Ai ơi còn nhớ ai không? Trời mưa một mảnh áo bông che đầu Nào ai có tiếc ai đâu Áo bông ai ướt khăn đầu ai khô? Người đi tam đảo, ngũ hồ. Kẻ về khóc trúc, than ngô một mình. Non non, nước nước, tình tình Vì ai ngơ ngẩn cho mình ngẩn ngơ ( Áo bông che đầu)  IV. KẾT LUẬN:  Về nội dung, thơ trào phúng và trữ tình của Tú Xương có giá trị hiện thực cao. Thơ Tú Xương là tiếng nói, là nỗi lòng của tầng lớp nho sĩ đang đứng giữa thời cuộc không đành tâm theo giặc cũng không cầm vũ khí chống giặc.  Về nghệ thuật, cả hai mặt trào phúng và trữ tình, Tú Xương xứng đáng là nhà thơ lớn của dân tộc, xứng đáng được Yên Ðỗ ( Nguyễn Khuyến) nhà thơ cùng thời xếp vào loại thi hào bất tử : Kìa ai chín suối Xương không nát Có nhẽ nghìn thu tiếng vẫn còn. loigiaihay.com   Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học. Môn Toán Môn Vật Lý Môn Hoá Học Click Học thử Click Học thử CLick Học thử Môn Văn Môn Sinh Môn Anh Click Học thử Click Học thử Click Học thử
Xem thêm

14 Đọc thêm

TIỂU SỬ NHÀ THƠ TRẦN TẾ XƯƠNG

TIỂU SỬ NHÀ THƠ TRẦN TẾ XƯƠNG

ở Nam Định. Bà Mẫn sinh trưởng tại đây. Cuộc kết hôn giữa ông Tú với bà là từhoàn cảnh gần gũi đó. Bà sinh cho ông được 8 người con, trong đó có 6 trai và 2gái. Bà Tú là một phụ nữ tiêu biểu cho phụ nữ Việt Nam xưa ở nhiều phương diệnnhư tần tảo, thương chồng, thương con, nhẫn nại quên mình. Công việc kiếm sốngcho gia đình của bà là buôn bán nhỏ (tiểu thương). Điều đặc biệt là chính bà đã đivào thi phẩm của ông chồng như một nhân vật điển hình hấp dẫn.Khi mất ngôi nhà số 247 phố Hàng Nâu của ông nội và bố để lại. Gia đình ông Túchuyển đến nhà số 280 cùng phố mà sau này địa phương đã xếp hạng là di tíchlưu niệm Tú Xương chính là do mẹ vợ nhà thơ (bà Hai Sửu) chia cho con gái.Về văn bản tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]Tình hình văn bản tác phẩm của Tú Xương hết sức phức tạp. Không có di cảo.Không có những công trình đáng tin cậy tập hợp tác phẩm khi tác giả còn sốnghoặc vừa nằm xuống. Sinh thời, nhà thơ sáng tác dường như chỉ để tiêu sầu hoặcmua vui, thơ làm đọc lên cho vợ con, bạn bè nghe, rồi tùy ý truyền khẩu.ThànhNam thuở ấy còn có nhiều người hay thơ và thơ hay, cùng nỗi niềm và khuynhhướng với Tú Xương như Trần Tích Phiên, Phạm Ứng Thuần, Trần Tử Chi, VũCông Tự...Thơ họ cũng được phổ biến không ít. Lại 3 năm một lần thi hương, sĩ tửcả Bắc Kỳ tụ hội về đây, thơ hay được lan truyền càng rộng rãi. Vì thế thơ TúXương càng dễ bị lẫn lộn.Lúc đầu chỉ là các bài sưu tầm đăng giải rắc trên tạp chí Nam Phong (cácnăm 1918, 1919, 1920, 1926). Tiếp đến sách "Văn đàn bảo gián (quyển 3)" củaTrần Trung Viên, Nam Ký thư quán Hà Nội 1926, giới thiệu 79 tác phẩm, trong đóphần lớn đã được đăng ở Nam Phong. Từ đó,lần lượt xuất hiện những sáchchuyên đề về Tú Xương. Có 2 văn bản chữ nôm hiện còn lưu giữ ở thư viện Hán Nôm đó là Vị thành giai cú tập biên (ký hiệu AB.194) ghi rõ "Nam Định Vị Xuyên tútài Phượng Tường Trần Cao Xương Tử Thịnh trước tập" và Quốc văn tùy ký (kýhiệu AB.383). Có 10 lần xuất bản bằng chữ quốc ngữ với những văn bản sau:•••
Xem thêm

18 Đọc thêm

Hướng dẫn soạn bài : Thương Vợ (Tú Xương)

HƯỚNG DẪN SOẠN BÀI : THƯƠNG VỢ (TÚ XƯƠNG)

THƯƠNG VỢ                                              Tú Xương I. KIẾN THỨC CƠ BẢN Trần Tế Xương (1870 - 1907) thường gọi là Tú Xương, quê ở làng Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Tú Xương có cá tính sắc sảo, phóng túng, khó gò vào khuôn sáo trường quy, nên dù có tài nhưng tám lần thi vẫn chỉ đỗ tú tài. Tú Xương sinh vào giai đoạn giao thời, xã hội có nhiều thay đổi. Xã hội phong kiến già nua chuyển mình trở thành xã hội thực dân phong kiến. Hàng ngày những điều ngang tai trái mắt cứ đập vào mắt ông, gây phản ứng trong tâm trạng. Và thể hiện thành hai nội dung lớn trong thơ ông: trữ tình và trào phúng. Thương vợ được cấu tạo làm bốn phần theo kết cấu đề, thực, luận, kết với kết cấu chặt chẽ. đây là một bài thơ Nôm thành công cả về ngôn ngữ và hình ảnh thơ. Ngôn ngữ Nôm bình dân, hình ảnh thơ gần gũi voíư dân gian và đời sống. Câu đề và câu thực là suy nghĩ của nhà thơ về sự vất vả nhọc nhằn kiếm sống của người vợ, qua đó thể hiện sự cảm thông và trân trọng. Câu luận ngợi ca đức hy sinh của người vợ. Câu kết là tiếng chửi đời cay nghiệt của một con người bị cuộc sống biến thành vô tích sự. Bài thơ ngợi ca đức hy sinh của những người phụ nữ và sự cảm thông thấu hiểu của người chồng. Ngôn ngữ dung dị, đời thường nhưng với tài năng và tấm lòng, Tú Xương đã tạo nên một bài thơ sâu sắc, chứa đựng những giá trị nhân văn bền vững. Qua bài thơ này, Tú Xương đã xây dựng hình tượng nghệ thuật đẹp về người phụ nữ Việt Nam giàu đức hy sinh, chịu thương chịu khó hết lòng vì gia đình. II. RÈN KĨ NĂNG 1. Hình ảnh người vợ hiện lên trong bốn câu thơ đầu là một người phụ nữ đảm đang tần tảo sớm hôm nuôi chồng, nuôi con. Nhà thơ đã lựa chọn những hình ảnh, từ ngữ đặc sắc để thể hiện nỗi vất vả của vợ và sự cảm thông của mình đối với sự vất vả của người vợ. Đó là những từ “quanh năm”, “mom sông’, “lặn lội thâm cò”, “eo sèo mặt nước”, “nuôi đủ”, với các thành ngữ “một duyên hai nợ”, “năm nắng mười mưa”, hình thức đối “năm con - một chồng” Hình ảnh người vợ lặng lẽ làm việc nuôi chồng nuôi con với một đức hy sinh vô cùng lớn lao là hình tượng nổi bật trong bài thơ. 2. Câu hai có sắc thái tự trào sâu sắc khi tác giả đặt người chồng vào một bên đòn gánh trên đôi vai người vợ và bên kia là năm con. Người chồng là một bên của gánh nặng lo toan ấy. Dường như đó là lời tự trách chua cay. Vì gia đình, vì người chồng có quá nhiều nhu cầu ấy mà người vợ vất vả hơn. Người chồng vô tích sự chẳng những không giúp vợ nuôi con mà còn làm cho gánh nặng gia đình của người vợ nặng hơn rất nhiều. 3. Câu 5 - 6: Một duyên hai nợ âu đành phận, Năm nắng mười mưa dám quản công. Câu thơ khắc họa hình ảnh bà Tú trong mối quan hệ với chồng con. Hình thức như là lời độc thoại nội tâm của bà Tú nhưng thực ra chính là lời của ông Tú. Điều đo sthể hioện rõ ông hiểu nỗi vât vả của vợ, cảm thông và trân trọng bà Tú đến nhường nào. Hai thành ngữ xuất hiện trong hai câu thơ đều có nghĩa diễn tả sự vất vả của người phụ nữ phải nuôi chồng nuôi con. Và cũng ở đây, một lần nữa, người chồng thể hiện sự trân trọng đối với người vợ. “âu đành phận”, “dám quản công” không phải là sự cam chịu của người vợ mà đó là lời của nhân vật trữ tình - người chồng. Hình ảnh người vợ cứ lặng lẽ làm việc nuôi chồng nuôi con với một đức hy sinh vô cùng lớn lao đã là hình tượng nổi bật trong bài thơ. Hai câu thơ đã khắc họa đức tính nổi bật của bà Tú đó là đức hy sinh, chịu thương chịu khó, cả đời sẵn sàng vì chồng con. Bà Tú là hình tượng đẹp về người phụ nữ Việt Nam. 4. Bài thơ kết thúc bằng câu chửi. Ai chửi? Tất nhiên theo mạch cảm xúc của bài thơ thì đây là lời của nhân vật trữ tình. Từ cảm thông đến "Thương vợ" mà giận mình, giận đời. Người đàn ông, người chồng, con người có nhân cách ấy, trước vất vả nhọc nhằn của người vợ đã cất lên lời chửi. Như tự chửi mình nhưng là chửi đời. Chửi "thói đời ăn ở bạc" đã biến những ông chồng không thành  kẻ hư hỏng thì cũng thành người vô tích sự. Đó là câu chửi đời và cũng là lời tự trách mình của một nhà Nho có nhân cách. Ông trách mình là ngưoiừ chồng hờ hững, nhưng bài thơ với những tâm sự sâu sắc đã chứng tỏ ông chẳng hề hờ hững chút nào. 5. Bài thơ thể hiện tình cảm trân trọng, lòng biết ơn của ông Tú đối với người vợ tần tảo sớm hôm của mình. Tự nhận là một người chồng vô tích sự, song ông Tú là một người chồng biết tự trọng, một người biết cảm thông chia sẻ và thấu hiểu nỗi vất vả của người vợ. Điều đó đã giúp Tú Xương đóng góp cho văn học Việt Nam một hình tượng đẹp về người phụ nữ phương Đông. Ngôn ngữ dung dị, đời thường, sử dụng nhiều yếu tố dân gian, với tài năng và tấm lòng, Tú Xương đã tạo nên một bài thơ hay có giá trị nhân văn sâu sắc. III. TƯ LIỆU THAM KHẢO 1. Về tác giả "... Có khi tôi đã thấy giật mình cho Tú Xương, khi tôi giả tỉ thơ Tú Xương không có cái khía trữ tình, cái hơi lãng mạn của nó, mà lại chỉ rặt những “Cống hỉ - mét xì - Thôi thôi lạy mợ xanh căng lạy…”. Thật tôi thấy chối tai đấy. ở ai thế nào tôi không hay, nhưng ở tôi, khi mà Tú Xương cứ hiện thực chỉ có như vậy thôi, cái gốc hiện thực ấy mà không có cái ngọn trữ tình, cái tán lãng mạn ấy, thì Tú Xương cũng tắt gió trong tôi từ lâu rồi và đã bay ra khỏi tôi lúc nào không biết chừng. Cho nên ai muốn nói gì đến Tú Xương thì cứ nói ra, tôi đều coi trọng (…) nhưng tôi vẫn cho rằng thơ Tú Xương đi bằng cả hai chân hiện thực và trữ tình, mà cái chân hiện thực ở người Tú Xương chỉ là một cẳng chân trái. Tú Xương lấy cái chân phải trữ tình mà khiến cái chân trái tả thực. Chủ đạo cho đà thơ là ở chân phải và Tú Xương đã băng được mình thơ tới chúng ta bằng nước bước lãng mạn trữ tình." Nguyễn Tuân (Văn nghệ tháng 5, 1961) 2. Về tác phẩm “Thái độ của Tú Xương đối với vợ là “vuốt râu nịnh vợ con bu nó” thật cởi mở, hồn nhiên, đầy tình nghĩa. Đã có mấy ai trên trần gian, cổ kim Đông Tây này như Tú Xương yêu vợ, quý vợ, đùa với vợ bằng cách đưa vợ ra mà làm văn tế sống! Văn tế kể lai lịch, chân dung, đức hạnh, nghề nghiệp của vợ như thế này, vợ nghe không nở ruột, nở gan sao được: Con gái nhà dòng, lấy chồng kẻ chợ, Tiếng có miếng không, gặp chăng hay chớ! Mặt nhẵn nhụi, chân tay trắng trẻo, ai dám cho rằng béo rằng gầy Người ung dung, tính hạnh khoan hòa, chỉ một bệnh hay gàn hay dở Đầu sông, bãi bến, đua tài buôn chín bán mười. Trong họ ngoài làng, vụng lẽ chào rơi nói thả. (Văn tế sống vợ) Tú Xương làm thơ, mà thơ với Tú Xương cũng là một thứ đùa vui, âu yếm vợ cho khuây khỏa nỗi vất vả quanh năm. Tú Xương cảm nhận sâu sắc công ơn của vợ đối với bố con ông, đặc biệt là với ông. Tú Xương ghi công vợ thật rạch ròi, chu đáo, không chút mập mờ: Quanh năm buôn bán ở mom sông, Nuôi đủ năm con với một chồng. Có người nhận xét rằng: Tú Xương cũng là một “thứ con đặc biệt” của vợ, tự nhận mà không chút ngượng ngùng sĩ diện. Và càng thấy vợ vất vả bao nhiêu với bố con, Tú Xương càng thấy mình là đoảng, là vô tích sự bấy nhiêu! Trong cơn hối hận chả có cách gì tạ lại công ơn của vợ, Tú Xương chỉ buột một lời tự chửi. Chửi cái anh chồng vô tích sự là mình. Chửi luôn cả thói đời bạc bẽo đã đẻ ra cái loại chồng đoảng như mình nốt. Một tiếng chửi mà để lại nhân cách, nhân phẩm là vậy: Cha mẹ thói đời ăn ở bạc, Có chồng hờ hững cũng như không!...”.      Nguyễn Đình Chú    (Thơ văn Tú Xương, Sđd, tr.29-30) "... Một người vợ cần cù lam lũ như vậy, hy sinh nhẫn nại như vậy hỏi có người chồng nào bạc đãi, hắt hủi; hoặc nữa, còn dám không chung tình? Cho nên trong những lúc hãn hữu, ông trót vui anh vui em, trót làm phiền lòng vợ, nhà thơ không thể không thốt ra những câu có vẻ đùa cợt nhưng chính thật chân thành: Cha mẹ thói đời ăn ở bạc Có chồng hờ hững cũng như không!. (Thương vợ) Người phụ nữ dũng cảm ấy luôn luôn bị chồng châm biếm, nhưng cách châm biếm của Tú Xương đối với vợ là một cách biểu lộ niềm âu yếm thiết tha, lòng biết ơn sâu sắc của nhà thơ: Có một cô gái, nuôi một thầy đồ. Quần áo rách rưới, ăn uống xô bồ. Cơm hai bữa: cá kho rau muống, Quà một chiều: khoai lang lúa ngo. Sao dám khinh mình: thầy đâu thầy vậy, Chẳng biết trọng đạo, cô lốc cô lô. Cứ mỗi dịp Tú Xương chế giễu tình trạng thất nghiệp của mình, cứ mỗi bận nhà thơ nói đến cái nghèo túng hoặc lối ăn chơi của mình là mỗi bận, mỗi dịp nêu công đức của vợ, để ông đề cao vợ: Hỏi ra quan ấy ăn lương vợ, Đem chuyện trăm năm giở lại bàn. Hay là: Tiền bạc phó cho con mụ kiếm, Ngựa xe chẳng có lúc nào ngơi. Hoặc: Sách đèn phó mặc đàn con trẻ Thưng đấu nhờ trông một mẹ mày. Người đàn bà chung thủy kiểu mẫu đó luôn luôn gắn bó với chồng trên từng hành động, từng ý nghĩa, từng lo âu và từng hy vọng. Ông đi thi chăng? Bà lo sắm sửa giấy bút, lo chạy tiền lưng gạo bị: Tiễn chân, cô mất hai đồng chẵn Sờ bụng, thầy không một chữ gì!... Làm sao mà không cảm động lúc thi xong, bảng thi sắp yết, bà đi cúng, đi bói xem kỳ này chồng có được lấy đỗ không? Trong thủ tục mê tín kia có bao hàm cả một tấm lòng tận tụy: Sáng đi lễ Phật  còn kỳ này kỳ nữa là xong; Đêm dậy vái trời,  qua mồng bốn mồng năm cho chóng. Làm sao không xót xa, khi trong cơn mê man của bệnh đau trầm trọng, nửa đêm chợt tỉnh dậy, nhìn với ra sân qua khe cửa hở, nhà thơ thấy bà Tú đặt bàn thờ, đèn nhang nghi ngút, đang lầm rầm khấn vái cầu trời cho chóng vượt qua được cơn tai nạn: Im im thâu đêm, lại thằng này, Bệnh đâu có bệnh lạ lùng thay! Thuốc thang nghĩ lại chua mà đắng, Đường mật xem ra ngọt hóa cay! Lắm bệnh bạn bè đi lại ít, Nặng nhọc họ mạc hỏi han dầy Chỉ bền một nén tâm hương nguyện, Thuốc thánh bùa tiên, ắt chẳng chầy!. Mặt khác, người phụ nữ đó không phải chỉ biết có làm ăn quần quật suốt ngày, không phải chỉ có biết “lặn lội thân cò” và “eo sèo mặt nước”, người đó còn có một trình độ văn hóa nhất định, một trình độ nhận thức nhất định và đặc biệt có một năng khiếu tối thiểu về thưởng thức văn chương. Người vợ hiền đó còn tham gia vào công việc sáng tác của chồng. Phạm Thị Mẫn là người trước ai hết đã thuộc lòng tất cả thơ văn của Trần Tế Xương. Chính bà là người chủ yếu trong việc dạy lại thơ văn đó cho các con bà sau khi nhà thơ mất. Cũng có khi nhà thơ nửa đùa nửa thật hỏi ý kiến vợ về một bài ông mới sáng tác: Viết vào giấy dán ngay lên cột. Hỏi mẹ mày rằng dốt hay hay? Thưa rằng hay thực là hay, Chẳng hay sao lại đỗ ngay tú tài! Xưa này em vẫn chịu ngài! (Tết dán câu đối) (Trần Thanh Mại - Tú Xương, con người và nhà thơ. Nxb Văn học,  Hà Nội, 1961, tr.108-112)
Xem thêm

5 Đọc thêm

Nhà thơ Trần Tế Xương

NHÀ THƠ TRẦN TẾ XƯƠNG

I.CUỘC ÐỜI, THỜI ÐẠI VÀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC 1.Cuộc đời Trần Tế Xương tên thật là Trần Duy Uyên, quen gọi là Tú Xương, tự là Mặc Trai, hiệu là Mộng Tích, đến khi thi Hương mới lấy tên là Trần Tế Xương. Ông sinh ngày 10-8-1871 tại lànVị Xuyên, huyện Mỹ Lộc, Nam Ðịnh và mất ngày 20-1-1907 ở làng Ðịa Tứ cùng huyện. Tú Xương là một người rất thông minh, tính tình thích trào lộng. Có nhiều giai thoại kể về cá tính của ông. Cuộc đời Tú Xương lận đận về thi cử. Tám khoa đều hỏng nên dấu ấn thi rớt in đậm nét trong tiềm thức Tú Xương. Ông cưới vợ rất sớm. Phạm Thị Mẫn từ một cô gái quê Con gái nhà dòng, lấy chồng kẻ chợ. Tiếng có miếng không, gặp hay chăng chớ trở thành bà Tú tần tảo một nắng hai sương Quanh năm buôn bán ở mom sông. Nuôi đủ năm con với một chồng. Ông Tú vẫn có thể có tiền để ăn chơi nhưng gia cảnh nghèo túng, việc nhà trông cậy vào một tay bà Tú. Có thể nói, việc hỏng thi và cảnh nghèo của gia đình là nguồn đề tài phong phú trong sáng tác của Tú Xương. 2.Thời đại: Cuộc đời ông nằm gọn trong giai đoạn nước mất, nhà tan. Năm Tú Xương ba tuổi (1873) Pháp đánh Hà Nội lần thứ nhất rồi tấn công Nam Ðịnh. Năm mười bốn tuổi (1884) triều đình ký hàng ước dâng đất nước ta cho giặc. Tuổi thơ của Tú Xương trôi qua trong những ngày đen tối và ký ức về những cuộc chiến đấu của các phong trào khởi nghĩa chống Pháp cũng mờ dần. Nhất là sau cuộc khởi nghĩa của Phan Ðình Phùng (1896) bị thất bại thì phong trào đấu tranh chống Pháp dường như tắt hẳn. Năm 1897, Pháp đặt nền móng cai trị đất nước, xã hội có nhiều biến động, nhất là ở thành thị. Tú Xương lại sinh ra và lớn lên ở thành thị vào thời kỳ chế độ thực dân nửa phong kiến được xác lập, nền kinh tế tư bản phát triển ở một nước thuộc địa làm đảo lộn trật tự xã hội, đảo lộn đời sống tinh thần của nhân dân. Nhà thơ đã ghi lại rất sinh động, trung thành bức tranh xã hội buổi giao thời ấy và thể hiện tâm trạng của mình. Có thể nói, đứng trước sự tha hoá của xã hội nên nguyên tắc Tam cương ngũ thường của Tú Xương không đậm như Nguyễn Khuyến và càng xa rời Ðồ Chiểu. 3. Tác phẩm Tú Xương mất sớm, ông chua đi trọn con đường sáng tác của mình. Nhưng những tác phẩm Tú Xương để lại có tác dụng như một bản cáo trạng đanh thép lên án xã hội thực dân nửa phong kiến trong giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX. Tú Xương sáng tác rất nhiều và thất lạc cũng nhiều. Ông viết khoảng 151 bài thơ bằng chữ Nôm với đủ các thể loại. Ngoài ra, ông có dịch một số thơ Ðường. II.NỘI DUNG THƠ VĂN TRẦN TẾ XƯƠNG: 1.Thơ Tú Xương là một bức tranh nhiều vẻ, sinh động về một xã hội thực dân nửa phong kiến Trong thơ ông có hình bóng con người và sinh hoạt của xã hội phong kiến cũ đã bị thực dân hóa, và có hình bóng những vật mới, những sinh hoạt mới - sản phẩm của xã hội thực dân nửa phong kiến. Thơ Tú Xương là tiếng nói đả kích, châm biếm sâu sắc và dữ dội vào các đối tượng mà ông căm ghét. 1.1.Ðả kích bọn thực dân Pháp: Ðối với thực dân Pháp, tuy chua phải là đối tượng chính để tập trung phê phán nhưng ta vẫn bắt gặp bóng dáng những tên thực dân xuất hiện với dáng vẻ rất buồn cười. Ðó là hình ảnh những ông Tây, bà Ðầm rất nghênh ngang lố bịch (Vịnh khoa thi Hương năm Ðinh Dậu). Với ngòi bút châm biếm sắc sảo, Tú Xương đả kích chúng không khoang nhượng, vạch trần thói gian ác, bần tiện, thủ đoạn kiếm ăn dơ bẩn của chúng bằng bút pháp trào phúng sâu sắc (Ông Cò). 1.2.Ðối với bọn quan lại, tay sai: Ðề tài này thật ra không có gì mới mẻ so với trước, nhưng cái mới ở đây là bút pháp của Tú Xương có cá tính và mang nét cảm hứng thời sự. Dưới ngòi bút của ông, hình ảnh bọn quan lại hiện lên rất phong phú đa dạng. Ðó là những lũ bất tài, dốt nát (Bác Cử Nhu); chúng không khác chi những tên hề (Hát bội). Ông phê phán trò gian lận, hối lộ, bòn rút của dân không nghĩ gì đến trách nhiệm (Ðùa ông Phủ). Ông còn vạch trần bản chất làm tay sai của những tên quan lại lúc bấy giờ (Cô hầu gửi quan lớn). Từ đó thấy được thái độ phẫn uất của Tú Xương trước thực trạng xã hội và ông đã dùng ngòi bút của mình để lên án, phê phán những con người, những hiện tượng trái tai, gai mắt. Nhà thơ đã dựng lại chân dung của bọn quan lại, mỗi người mỗi vẻ nhưng đều rất sắc cạnh, cụ thể. Một tên quan huyện Mình trung đâu đấy trách người trinh, một ông Aám Chạy lăng quăng, ấm chẳng ngồi, ông Ðốc cờ bạc ăn chơi rặt một màu, ông Cử Sách như hủ nút, chữ như mù, một cô Bố Chồng chung, vợ chạ, một chú Hàn thì Ðậu lạy, quan xin… và cả một xã hội lố lăng, rởm đời với quý vị phu nhân, các cậu ấm tử, sư sãi… cũng được Tú Xương tái hiện, sinh động, cụ thể: Hai cậu con con đóng vai ấm tử, lỗi bếp bồi cậu cũng như nhau. Ðôi đức bà lên mặt phu nhân, ngón đĩ thỏa bà nào cũng nhất. Nhất tắc mộ sư mô chi cực, nay chùa này, mai chùa khác, mở lòng từ tô tượng, đúc chuông. Nhất tắc ham chài lái chi khu, lên mành nọ xuống mành kia, che miệng thế đong dầu rót mật (Khai lý lịch) 1.3.Ðối với khoa cử, nho học: Trong bức tranh xã hội của Tú Xương còn có những nho sĩ đi thi, những ông Nghè, ông Cống; có hình ảnh của trường thi, của một nền nho học đang xuống dốc trầm trọng. Thời Tú Xương không còn tìm thấy hình ảnh uy nghi, trang trọng của một trường thi chữ Hán xưa kia nữa mà nó đang lùi dần trước uy thế của kẻ thù. Ông phản ánh thực trạng nho học suy đồi bằng tiếng thở dài áo não (Than đạo học). Ông còn chế giễu những người kéo nhau đi thi ở những trường lớp mới mở của thực dân (Ðổi thi). Trong buổi lễ xứng danh khoa Ðinh Dậu, nhà thơ đã vẽ ra trước mắt người đọc bức tranh về cảnh trường thi cảnh ngao ngán của sĩ tử trước thực trạng nước mất, nhà tan, sĩ khí tiêu điều, bút lông hết được săn đón Vứt bút lộng đi giắt bút chì. Ðó là hình ảnh: Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ Ậm oẹ quan trường miệng thét loa. Lọng cắm rợp trời quan sứ đến, Váy lê quét đất mụ đầm ra Cái tàn tạ của nho học được Nguyễn Bính ghi lại: Mực tàu giấy bản là đây Nước non đi hết những người áo xanh Lỡ duyên bút tóc củ hành Trường thi Nam Ðịnh biến thành trường bay. Tú Xương than thở cho số phận của một ông Nghè, ông Cống và giễu cả những ông Phán: Nào có gì lạ cái chữ nho Ông nghè, ông cống cũng nằm co Sao bằng đi học làm ông Phán. Tối rượu sâm banh, sáng sữa bò (Chữ nho) 1.4. Phê phán thế lực đồng tiền: Trước Tú Xương, nhiều tác giả Việt Nam cũng như nừơc ngoài đã lên án sức mạnh đồng tiền. Nó chi phối tư tưởng và hành động của con người. Ðến thời Tú Xương, đồng tiền lại một lần nữa gây đảo điên xã hội nhất là ở thành thị. Nó làm cho đạo đức suy đồi từ trong gia đình cho đến ngoài xã hội. Tú Xương đã mắng nhiếc cái xã hội đã hỗn loạn lên vì đồng tiền (Ðất Vị hoàng, Vị Hoàng hoài cổ) Có thể thấy bức tranh xã hội của Tú Xương bị tha hóa đến trầm trọng. Nào là cảnh: Ở phố Hàng Song thật lắm quan Thành thì đen kịt, độc thì lang Chồng chung vợ cha kìa cô Bố Ðậu lại quan xin nọ chú Hàn ( Phố Hàng song) Vì đồng tiền, con người lường gạt nhau để sống, đối xử với nhau không ra gì. Tình nghĩa cha con, vợ chồng, tình yêu, tình bè bạn . . . đều bị chà đạp bởi thế lực của đồng tiền. Bài thơ Mùng hai tết viếng cô Ký, Ðể vợ chơi nhăng đã phê phán thói đời thật đáng sợ. Ông chồng khóc vợ chết chỉ vì thương cái xe tay. Còn vợ đối với chồng thì Trăm năm tuổi lại trăm thằng Ngòi bút Tú Xương đã khái quát bức tranh hiện thực sinh động về một xã hội lố lăng, rởm đời, có những cảnh khá nực cười, những cảnh chướng tai, gai mắt cứ nhan nhản xuất hiện trong thơ Tú Xương ( Năm mới, Thói đời, Chữ nho): Khăn là bác nọ lo tày rế, Váy lĩnh cô kia quét sạch hè. Công đức tu hành sư có lọng, Xu hào xủng xoảng mán ngồi xe. ( Năm mới) Hay cảnh nực cười khác: Chí cha chí chát khua giày dép, Ðen thủi đen thui cũng lụa là. 1.5 Lên án những thói hư tật xấu của thời đại: Phê phán những người hành đạo mà lòng dạ xấu xa và hành vi bẩn thỉu như cảnh sư sãi vụng trộm trong chùa, sư cho vay nặng lãi, sư chứa của gian đến nỗi phải ở tù (Sư ở từ, Ông sư và mấy ả lên đồng) Ông còn lên án thói đồng bóng, cho đồng bóng là trò mê tín giả dối không thể chịu được: Ðồng giỏi sao đồng không giúp nước Hay là đồng sợ súng thần công. Phê phán những phong tục xa hoa, phù phiếm trong ngày tết ý tứ mỉa mai trước thực trạng nước mất, nhà tan (Thói đời), vạch trần những tâm lý giả dối, sáo rỗng của con người trong ngày tết bằng lời lẽ châm biếm sắc sảo. Bài thơ Chúc tết đã chế giễu độc địa và sâu sắc: Lẵng lặng mà nghe nó chúc nhau Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu. Phen này ông quyết đi buôn cối, Thiên hạ bao nhiêu đứa giả trầu. Nó lại chúc nhau cái sự sang! Ðứa thời mua tước đứa mua quan. Phen này ông quyết đi buôn lọng, Vừa chửi vừa rao cũng đắt hàng. Nó lại mừng nhau cái sự giàu! Trăm ngìn vạn mớ để vào đâu? Phen này ắt hẳn gà ăn bạc, Ðồng rụng, đồng rơi, lọ phải cầu Nó lại mừng nhau sự lắm con Sinh năm đẻ bảy được vuông tròn. Phố phường chật hẹp người đông đúc, Bồng bế nhau lên nó ở non. 2. Thơ Tú Xương là tiếng nói tâm tình trĩu nặng đau xót: 2.1. Nỗi đau xót về bản thân và thời cuộc: - Về bản thân: Gánh nặng đeo đẳng nhà thơ suốt đòi là nợ lều chõng. Ban đầu hỏng thi, ông còn cười cợt, còn tự nghĩ cách để an ủi mình. Nhưng các khoa thi sau ( 1903, 1906) ông càng thất vọng, càng chua chát. Tú Xương ngày càng đau buồn, chán nãn, tuyệt vọng và cay cú: Học đã sôi cơm nhưng chữa chín. Thi không ăn ớt thế mà cay Ðến khoa thi cuối ( 1906) tiếng thở dài của Tú Xuơng càng áo não và bi thiết hơn nhiều: Bụng buồn còn biết nói năng chi Ðệ nhất buồn là cái hỏng thi Một việc văn chương thôi cũng nhảm Trăm năm thân thế chẳng ra gì ( Buồn thi hỏng) Ở đây, dù đau vì thi rớt, vì công danh không thành đạt nhưng Tú Xương vẫn ít ủy mị và luôn tỏ thái độ khôi hài, lúc nào nụ cười trào phúng cũng đến với ông. Qua những lời tự trào, tư thú về mình càng thấy rõ con người và tính cách Tú Xương: Tú Xương tự khoe về sự ăn chơi của mình: Nghiện chèm nghiện rượu, nghiện cả cao lâu, Hay hát, hay chơi, hay nghề xuống lõng. Quanh năm phong vận, áo hàng Tàu, khăn nhiễu tím, ô Nhật Bản anh, Ra phố nghênh ngang, quần Tố nữ, bít tất tơ, giày Gia Ðịnh bóng . . . ( Phú hòng thi) - Về cảnh nghèo: Qua thơ ông, gia cảnh nhà ông hiện lên rất áo não và bi thiết ( Mùa nực mặc áo bông) Nhà thơ từng thấm thía cảnh chạy ăn, vay nợ, nhiều lúc ông phải gào lên: Van nợ lắm khi trào nước mắt Chạy ăn từng bữa toát mồ hôi ( Than nghèo) Trong hoàn cảnh nào, Tú Xương vẫn cười cợt, châm biếm, nói ngông. Vì nghèo quá, ông đã tính đến chuyện đi tu nhưng không phải tu vì đạo lý mà tu vì tấm áo (Nghèo), rồi nghĩ đến chuyện làm mứt rận đãi gai đình trong ngày tết, có những ý nghĩ ngông nghênh, hợm hĩnh ( Mứt rận), hoặc nhiều lúc ông đâm ra chán chường tuyệt vọng: Ngủ quách sự đời thây đứa thức. Bên chùa chú trọc đã khua chuông. ( Ðêm hè) Vốn là con nhà trào phúng nên trong hoàn cảnh nào nhà thơ vẫn có thể cười cợt, vẫn bông đùa: Anh em đừng tưởng tết tôi nghèo Tiền bạc trong kho chữa lĩnh tiêu Ðúng là nói cho vui, chứ kho đâu mà lĩnh, tiền đâu mà tiêu? Chính cái nghịch lý này đã hình thành nên tính cách của Tú Xương. 2.2. Nỗi lo lắng thầm kín của Tú Xương trước thời cuộc và vận mệnh đất nước: - Tình cảm của Tú Xương đối với nhân dân: Ðối với người nghèo như những người học trò, những người nông dân chân lắm tay bùn (Thề với ăn xin) . . . những dòng thơ của Tú Xương chứa chan tình cảm và đầy lòng ưu ái (Ðại hạn) Hoặc ở một bài thơ khác, tâm trạng Tú Xương càng thể hiện rõ hơn: Ỳ ào tiếng học nghe không rõ Mát mẻ nhà ai ngủ hẳn lâu Ông lão nhà quê tan tản dậy, Bảo con đem đó, chớ đem gầu . . . Ðối với người phụ nữ, hình ảnh họ hiện lên thật đáng thương, họ không những khổ sở về vật chất mà còn bị đau đớn về mặt tinh thần Thương vợ là một bài thơ tiêu biểu của Tú Xương viết về vợ: Quanh năm buôn bán ở mom sông Nuôi đủ năm con với một chồng Lặn lội thân cò khi quãng vắng, Eo sèo mặt nước buổi đò đông Một duyên hai nợ âu đành phận Năm nắng mười mưa dám quản công Cha mẹ thói đời ăn ở bạc Có chồng hờ hững cũng như không. Nỗi u hoài kín đáo của Tú Xương trước thời cuộc và vận mệnh đất nước thường triền miên, day dứt: Nhân tài đất Bắc nào ai đó? Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà ( Vịnh khoa thi Hương năm Ðinh dậu) Nhà thơ thường thao thức suốt đêm dài để lặng lẽ suy tư và thấy được cái heo hút Vắng lặng của đêm trường: Ðêm sao đêm mãi tối mò mò, Ðêm đến bao giờ mới sáng cho. Ðàn trẻ u ơ chừng muốn dậy, Ông già thúng thắng vẫn đang ho. Ngọn đèn rình trộm khêu còn bé, Tiếng chó kinh người cắn vẫn to. Hàng xóm bốn bề ai dậy chửa, Dậy thì lên tiếng gọi nhà nho. ( Ðêm dài) Trong hoàn cảnh đó, nhà thơ vẫn còn tỉnh táo để nhận ra mình: Kìa cái đêm nay mới gọi đêm Mắt giương không ngủ bũng không thèm Tình này ai thấu cho ta nhỉ Tâm sự năm canh một bóng đèn. Ðiểm sáng nhất, xúc động nhất trong thơ ông là ở tình này. Ðó là tình cảm của ông đối với quê hương đất nước. Nỗi đau khi nhìn thấy đất nước đổi thay mà bản thân ông thì không làm gì thay đổi thời cuộc ( Sông lấp). Bài thơ chứng tỏ Tú Xương vẫn là người nặng tình đời và tha thiết với cuộc sống. Mặc dù có lúc ông đâm ra bối rối, lạc lõng, mất phương hướng trước bao biến đổi của thời cuộc: Hỏi người chỉ thấy non xanh ngắt, Ðợi nước càng thêm tóc bạc phơ Ðường đất xa khơi ai mách bảo? Biết đâu mà ngóng dến bao giờ? ( Lạc đường) Lòng yêu nước của Tú Xuơng còn thể hiện qua sự khâm phục của Tú Xương đối với những người có tài, có đức ra cứu đời, giúp nước: Vá trời gặp hội mây năm vẻ Lấp bể ra công đất một hòn ( Gửi cụ thủ khoa Phan) Tuy không đủ dũng khí để đi vào cuộc cách mạnh như bao nghĩa sĩ yêu nước khác nhưng ông có cảm tình nồng hậu đối với những người làm cách mạng. Hình ảnh Phan Bội Châu Vá trời, lấp bể đã đến với Tú Xương bằng tất cả sự kính mến, khâm phục. 3. Triết lý sống của Tú Xương giữa thời buổi loạn ly của đất nước: Triết lý sống của Tú Xương đặc biệt không giống ai giữa thời buổi loạn ly. Ông sống giả câm, giả điếc, làm ngơ trước dư luận. Sống như ông phải có kiểu cách riêng, giống như hình ảnh của chú Mán ở Nam Ðịnh: Khi để chỏm, lúc cạo đầu Nghêu ngao câu hát nửa tàu, nửa ta Chẳng đội nón chịu màu da dãi nắng, Chẳng nhuộm răng để trắng dễ cười đời, Chốn quyền môn lòn cúi mặc ai, Ngoài cương tỏa thảnh thơi ai đã biết. ( Chú Mán) Thái độ sống khác của Tú Xương có phải chăng là thái độ chống đối của nhà thơ trước thời cuộc? Ông không muốn hòa vào cuộc sống ngột ngạt không lối thoát này, không muốn hợp tác với cái văn minh trong thời kỳ nước mất, nhà tan. Giữa bao cái rối rắm mà mọi người đang tìm cách chen chân vào thì Tú Xương tách khỏi nó. Từ đó thể hiện sự yêu thích tự do, không chịu cúi lòn làm nô lệ. Triết lý sống của Tú Xương nếu đem đặt bên cạnh triết lý sống của các nhà chiến sĩ yêu nước là xả thân vì nước lúc bấy giờ thì triết lý sống của Tú Xương có phần nhạt nhẽo, vô vị. Nhưng nói chung, triết lý sống của ông đã phần nào phản ảnh được tâm trạng của lớp người sống trong thời buổi không đành tâm theo giặc cũng không cầm vũ khí chống giặc. III. NGHỆ THUẬT THƠ VĂN TRẦN TẾ XƯƠNG: 1. Kết cấu: 1.1.Thơ trào phúng của Tú Xương hết sức đa dạng và phong phú. Có bài thơ vừa có hiện thực vừa có trào phúng. Bằng nhiều thủ pháp nghệ thuật, Tú Xương sử dụng tiếng cười làm vũ khí. Ở Tú Xương không có cái nhàn nhạt, cái lưng chừng, cười là cười phá, chửi là chửi độc, chua chát đến ứa mật, ứa máu. Có những bài tự trào, tự khoe về mình, dùng ngôn ngữ lấp lững, ỡm ờ, hoặc những từ hoàn toàn thô tục . . . Tứ thơ thường độc đáo, đột ngột, táo bạo gây sự chú ý và bám vào linh hồn của chủ đề. Tú Xương đã quàng vào cổ ông Hàn nọ ( Vốn làm nghề nấu rượu) những xâu, chai, lọ, vung, nồi lổn nhổn: Hàn lâm tu soạn kém gì ai? Ðủ cả vung nồi, cả cóng chai ( Ðưa ông hàn) Cái tài tình của Tú Xương là chợp đúng cái thần của sự vật bằng một vài nét điển hình, rồi với cách nói thẳng thừng, táo bạo và hài hước của mình, ông phơi bày cái lõi của sự thật cho mọi người xem có khi ở câu đầu: Lúc túng toan lên bán cả trời Trời rằng thằng bé nó hay chơi ( Tự cười mình) Có khi ở cuối câu: Cụ Xứ có cô con gái đẹp Lăm le xin bố cưới làm chồng ( Ði thi nói ngông) Có khi mượn lối chơi chữ: Ấm không ra ấm, ấm ra nồi Ấm chạy lăng quăng, ấm chẳng ngồi ( Bỡn ông ấm Ðiềm) Có lúc nhân cái mồm tu hú của đối tượng mà hạ một ý thật lạ lùng: Cậu này ắt hẵn hay nghề sáo, Dây vũ dây văn vụng ngón đàn ( Thông gia với quan) Hoặc mở đầu bài thơ Ðể vợ chơi nhăng là đánh thẳng đối tượng là anh chồng ngu”: Thọ kia mày có biết hay chăng Con vợ mày kia xiết nói năng Vợ đẹp của người không giữ được Chồng ngu mượn đứa để chơi nhăng Nhưng mục đích chính là đả kích mụ vợ, nên khổ thơ cứ dồn dập và quyết liệt: Ra đường đáng giá người trinh thục Trong bụng sao mà những gió trăng, Mới biết hồng nhan là thế thế, Trăm năm, trăm tuổi, lại trăm thằng. Có thể nói, Tú Xương đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật kết cấu trong thơ trào phúng, trước hết vì tiếng cười của ông là sự phê phán của một lý trí và cảm xúc nhạy bén của con tim nên tiếng cười trào phúng của Tú Xương rất chắc, hiệu quả cao. 1.2.Thơ trữ tình của Tú Xương: Lời thơ nhuần nhuyễn, ý thơ gần gũi, sâu lắng. Các bài thơ tiêu biểu Ðêm hè, Ngẫu hứng, Sông lấp, Gửi cụ thủ khoa Phan, Nhớ bạn phương trời . . . thể hiện cái sâu xa trong tâm trạng của ông đó là tinh thần dân tộc, tuy có giới hạn nhưng rất đáng quý, đã hình thành nên tính cách Tú Xương. Ông có những bài thơ thể hiện tình cảm lãng mạn cũng khá hiện đại: Em gửi cho anh mảnh lụa đào Không biết rằng em bán thế nào ( Tặng người quen) Ðề tài thơ trữ tình của Tú Xương tuy không phong phú và đa dạng như thơ trào phúng nhưng cũng rất sâu sắc và đậm đà. Nhà thơ sử dụng nhiều chi tiết từ cuộc sống nên tứ thơ rất sinh động, nhiều chi tiết xác thực như bản thân đời sống . Hình ảnh bà Tú được tái hiện bằng những nét rất thực: Lặn lội thân cò khi quãng vắng Eo sèo mặt nước buổi đò đông. ( Thương vợ) Bài thơ Nhớ bạn phương trời đã đi sâu vào thế gới tâm trạng, tràn ngập cảm xúc trữ tình của nhà thơ đối với nhà cách mạng Phan Bội Châu. Ta nhớ người xa cách núi sông, Người xa, xa lắm nhớ ta không? Sao đang vui vẻ ra buồn bã Vừa mới quen nhau đã lạ lùng Lúc nhớ, nhớ cùng trong mộng tưởng Khi riêng riêng đến cả tình chung Tương tư lọ phải là trai gái, Một ngọn đèn xanh trống điểm thùng. 1.3.Sự kết hợp hai yếu tố hiện thực và trữ tình: Rất độc đáo và sâu sắc. Kết cấu bài thơ không gò bó. Tính phóng túng trong suy nghĩ cũng như trong tính tình đã đem vào khuôn khổ thể thơ bảy chữ tám câu nhiều nét mới đã phá vỡ mọi qui định: Việc bác không xong tôi chết ngay! Chết ngay? Như thế vội vàng thay! ( Bỡn người làm mối) Hỏi lão đâu ta?- Lão ở Liêm Trông ra bóng dáng đã hom hem ( Già chơi trống bỏi) Người đói ta đây cũng chẳng no, Cha thằng nào có tiếc không cho ( Thề với ăn xin) Rất nhiều bài thơ của Tú Xương có sự kết hợp hài hòa hai yếu tố hiện thực và trữ tình (Vịnh khoa thi hương năm Ðinh Dậu, Thương vợ, Thề với ăn xin . . .) Nói về sự kết hợp giữa hai yếu tố hiện thực và trữ tình trong một bài thơ, Nguyễn Tuân cho rằng: Sở dĩ thơ Tú Xương không bị tắt gió, không bị bay ra khỏi là vì thơ Tú Xương đã đi bằng hai chân hiện thực và lãng mạn, là vì thi pháp của Tú Xương phối hợp cả hiện thực và trữ tình 2. Ngôn ngữ và chất liệu dân gian: 2.1. Ngôn ngữ: Tú Xương là bậc thầy trong việc sử dụng ngôn ngữ và hình ảnh. Ngôn ngữ giản dị, chính xác, uyển chuyển, gợi hình và có tính chất dân gian ( Ði hát mất ô) được xem là bài duyên dáng, hóm hĩnh, độc đáo của Tú Xương vì ông đã thể hiện được cái thần của bài thơ. Sử dụng ngôn ngữ hàng ngày, tươi mát, tự nhiên mà vẫn thanh nhã, óng chuốt. Mấy câu sau đây như lời nói ở cửa miệng, không thêm bớt mà rất chân thành: Tôi hỏi thăm ông đến tận nhà, Trước nhà có miếu, có cây đa Cửa hè sân ngõ chừng ba thước, Nửa tá tre pheo đủ một tòa . . . ( Ông ấm Ðiềm) Hoặc đây là cách nói ngang tàng nhưng rất tự nhiên: Gái tơ đi lấy làm hai họ Năm mới vừa sang được một ngày ( Viếng cô Ký) Hai họ là vợ hai, đối với Một ngày tức mùng một tết. Vậy câu thơ chỉ giữ cái vỏ của phép đối mà vượt qua những ràng buộc khác khiến cho lời thơ của Tú Xương không những êm tai, sướng miệng mà còn rất độc đáo, có giá trị châm biếm cao. 2.2.Chất liệu dân gian: Nhiều thành ngữ dân gian, ca dao đã đi vào thơ Tú Xương bằng sự sáng tạo riêng. Các thành ngữ như :Học đã sôi cơm, thi không ăn ớt, vuốt râu nịnh vợ, quắc mắt khinh đời, năm nắng mưới mưa, thân cò lặn lội . . . đã được Tú Xương vận dụng khá độc đáo trong thơ. Vuốt râu nịnh vợ con bu nó Quắc mắt khinh đời cái bộ anh. Tú Xương rất am hiểu ca dao, nhiều câu ca dao còn thể hiện cái tình tứ, duyên dáng, hóm hỉnh của nhà thơ. Ai ơi còn nhớ ai không? Trời mưa một mảnh áo bông che đầu Nào ai có tiếc ai đâu Áo bông ai ướt khăn đầu ai khô? Người đi tam đảo, ngũ hồ. Kẻ về khóc trúc, than ngô một mình. Non non, nước nước, tình tình Vì ai ngơ ngẩn cho mình ngẩn ngơ ( Áo bông che đầu) IV. KẾT LUẬN: Về nội dung, thơ trào phúng và trữ tình của Tú Xương có giá trị hiện thực cao. Thơ Tú Xương là tiếng nói, là nỗi lòng của tầng lớp nho sĩ đang đứng giữa thời cuộc không đành tâm theo giặc cũng không cầm vũ khí chống giặc. Về nghệ thuật, cả hai mặt trào phúng và trữ tình, Tú Xương xứng đáng là nhà thơ lớn của dân tộc, xứng đáng được Yên Ðỗ ( Nguyễn Khuyến) nhà thơ cùng thời xếp vào loại thi hào bất tử : Kìa ai chín suối Xương không nát Có nhẽ nghìn thu tiếng vẫn còn.
Xem thêm

9 Đọc thêm

Giới thiệu một danh lam thắng cảnh ở quê em

GIỚI THIỆU MỘT DANH LAM THẮNG CẢNH Ở QUÊ EM

Hồ Gươm đã tồn tại từ trước nay rất lâu. Cách đây khoảng 6 thế kỷ, theo những địa danh hiện nay, hồ gồm hai phần chạy dài từ phố Hàng Đào, qua Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt tới phố Hàng Chuối, thông với sông Hồng "Mặt Hồ Gươm vẫn lung linh mây trời, càng toả mát hương hoa thơm Thủ đô...". Nhắc đến Hà Nội là nhắc đến hình ảnh Hồ Gươm trong xanh và bóng Tháp Rùa nghiêng nghiêng soi dáng. Hồ Gươm cùng quần thể kiến trúc của nó đã trở thành một biểu tượng đẹp đẽ và thiêng liêng về Hà Nội - trái tim hồng của cả nước. Hồ Gươm đã tồn tại từ trước nay rất lâu. Cách đây khoảng 6 thế kỷ, theo những địa danh hiện nay, hồ gồm hai phần chạy dài từ phố Hàng Đào, qua Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt tới phố Hàng Chuối, thông với sông Hồng. Nước hồ quanh năm xanh biếc nên hồ Gươm cũng được gọi là hồ Lục Thuỷ. Vào thế kỷ XV, hồ được đổi tên thành hồ Hoàn Kiếm. Sự kiện ấy gắn liền với truyền thuyết trả gươm thần cho Rùa Vàng của vị vua khai triều nhà Hậu Lê - người anh hùng của khởi nghĩa Lam Sơn chống lại giặc Minh (1417-1427), Lê Lợi. Truyền thuyết kể rằng khi Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn, có người dân mò được một lưỡi gươm, sau đó chính ông nhặt được một cái chuôi ở trong rừng. Khi lưỡi gắn vào chuôi gươm thì thân gươm ánh lên hai chữ "Thuận Thiên" - "Thuận theo ý trời". Gươm báu này đã theo Lê Lợi trong suốt thời gian kháng chiến chống giặc Minh. Khi lên ngôi về đóng đô ở Thăng Long, trong một lần nhà vua đi chơi thuyền trên hồ Lục Thuỷ, bỗng một con rùa xuất hiện. Rùa vươn đầu cất tiếng nói: "Xin bệ hạ hãy hoàn lại gươm cho Long Quân”. Lê Thái Tổ hiểu ra sự việc bèn rút gươm khỏi vỏ, giơ gươm ra thì gươm bay về phía con rùa. Rùa ngậm gươm lặn xuống đáy hồ, và từ đó hồ Lục Thuỷ có tên gọi mới là hồ Hoàn Kiếm (trả gươm) hay hồ Gươm. Chính truyền thuyết đặc sắc này đã khẳng định tấm lòng yêu chuộng hoà bình, ghét chiến tranh của người dân Thăng Long - Hà Nội nói riêng và nhân dân Việt Nam nói chung. Câu chuyện này đã được nhấn mạnh trong ngày lễ Hà Nội đón nhận danh hiệu "Thành phố Vì hoà bình” Sau đó, cũng vào thời Lê, hồ còn được dùng làm nơi tập luyện của thuỷ quân nên có lúc được gọi là hổ Thuỷ Quân. Hồ Hoàn Kiếm là một thắng cảnh nổi tiếng của Hà Nội. Quanh hồ trồng nhiều loại hoa và cây cảnh. Đó là những hàng liễu rủ thướt tha, những nhành lộc vừng nghiêng nghiêng đổ hoa soi bóng dưới lòng hồ. Giữa hồ có tháp Rùa, cạnh hồ có đền Ngọc Sơn có "Đài Nghiên Tháp Bút chưa sờn"... Hình ảnh hồ Gươm lung linh giống như một tấm gương xinh đẹp giữa lòng thành phố đã đi vào lòng nhiều người dân Hà Nội. Người dân Hà Nội sống ở khu vực quanh hồ có thói quen ra đây tập thể dục vào sáng sớm, đặc biệt là vào mùa hè. Họ gọi các khu phố nằm quanh hồ là Bờ Hồ. Không phải là hồ nước lớn nhất trong Thủ đô, song với nguồn gốc đặc biệt, hồ Hoàn Kiếm từ đã gắn liền với cuộc sống và tâm tư của nhiều người. Hồ nằm ở trung tâm một quận với những khu phố cổ chật hẹp, đã mở ra một khoảng không đủ rộng cho những sinh hoạt văn hóa bản địa. Hồ có nhiều cảnh đẹp. Và hơn thế, hồ gắn với huyền sử, là biểu tượng khát khao hòa bình (trả gươm cầm bút), đức văn tài võ trị của dân tộc (thanh kiếm thiêng nơi đáy hồ và tháp bút viết lên trời xanh). Do vậy, nhiều văn nghệ sĩ đã lấy hình ảnh Hồ Gươm làm nền tảng cho các tác phẩm của mình. Nhà thơ Trần Đăng Khoa từng viết: Hà Nội có Hồ Gươm Nước xanh như pha mực Bên hồ ngọn Tháp Bút Viết thơ lên trời cao Và như thế, Hồ Gươm sẽ mãi sống trong tiềm thức mỗi người dân Thủ đô nói riêng và người dân cả nước nói chung như một biểu tượng thiêng liêng về lịch sử và truyền thống văn hóa dân tộc. Trích: Loigiaihay.com
Xem thêm

1 Đọc thêm

ĐIỀU TRA CÁC BÀI THUỐC ĐIỀU TRỊ GÃY XƯƠNG CỦA NGƯỜI DAO Ở XÃ BA VÌ, HUYỆN BA VÌ, HÀ NỘI VÀ CỦA NGƯỜI MƯỜNG Ở XÃ THUNG NAI, HUYỆN CAO PHONG, HÒA BÌNH

ĐIỀU TRA CÁC BÀI THUỐC ĐIỀU TRỊ GÃY XƯƠNG CỦA NGƯỜI DAO Ở XÃ BA VÌ, HUYỆN BA VÌ, HÀ NỘI VÀ CỦA NGƯỜI MƯỜNG Ở XÃ THUNG NAI, HUYỆN CAO PHONG, HÒA BÌNH

Điều tra các bài thuốc điều trị gãy xương của người dao ở xã ba vì, huyện ba vì, hà nội và của người mường ở xã thung nai, huyện cao phong, hòa bình Điều tra các bài thuốc điều trị gãy xương của người dao ở xã ba vì, huyện ba vì, hà nội và của người mường ở xã thung nai, huyện cao phong, hòa bình Điều tra các bài thuốc điều trị gãy xương của người dao ở xã ba vì, huyện ba vì, hà nội và của người mường ở xã thung nai, huyện cao phong, hòa bình Điều tra các bài thuốc điều trị gãy xương của người dao ở xã ba vì, huyện ba vì, hà nội và của người mường ở xã thung nai, huyện cao phong, hòa bình Điều tra các bài thuốc điều trị gãy xương của người dao ở xã ba vì, huyện ba vì, hà nội và của người mường ở xã thung nai, huyện cao phong, hòa bình Điều tra các bài thuốc điều trị gãy xương của người dao ở xã ba vì, huyện ba vì, hà nội và của người mường ở xã thung nai, huyện cao phong, hòa bình Điều tra các bài thuốc điều trị gãy xương của người dao ở xã ba vì, huyện ba vì, hà nội và của người mường ở xã thung nai, huyện cao phong, hòa bình Điều tra các bài thuốc điều trị gãy xương của người dao ở xã ba vì, huyện ba vì, hà nội và của người mường ở xã thung nai, huyện cao phong, hòa bình Điều tra các bài thuốc điều trị gãy xương của người dao ở xã ba vì, huyện ba vì, hà nội và của người mường ở xã thung nai, huyện cao phong, hòa bình Điều tra các bài thuốc điều trị gãy xương của người dao ở xã ba vì, huyện ba vì, hà nội và của người mường ở xã thung nai, huyện cao phong, hòa bình Điều tra các bài thuốc điều trị gãy xương của người dao ở xã ba vì, huyện ba vì, hà nội và của người mường ở xã thung nai, huyện cao phong, hòa bình Điều tra các bài thuốc điều trị gãy xương của người dao ở xã ba vì, huyện ba vì, hà nội và của người mường ở xã thung nai, huyện cao phong, hòa bình Điều tra các bài thuốc điều trị gãy xương của người dao ở xã ba vì, huyện ba vì, hà nội và của người mường ở xã thung nai, huyện cao phong, hòa bình Điều tra các bài thuốc điều trị gãy xương của người dao ở xã ba vì, huyện ba vì, hà nội và của người mường ở xã thung nai, huyện cao phong, hòa bình Điều tra các bài thuốc điều trị gãy xương của người dao ở xã ba vì, huyện ba vì, hà nội và của người mường ở xã thung nai, huyện cao phong, hòa bình Điều tra các bài thuốc điều trị gãy xương của người dao ở xã ba vì, huyện ba vì, hà nội và của người mường ở xã thung nai, huyện cao phong, hòa bình Điều tra các bài thuốc điều trị gãy xương của người dao ở xã ba vì, huyện ba vì, hà nội và của người mường ở xã thung nai, huyện cao phong, hòa bình Điều tra các bài thuốc điều trị gãy xương của người dao ở xã ba vì, huyện ba vì, hà nội và của người mường ở xã thung nai, huyện cao phong, hòa bình Điều tra các bài thuốc điều trị gãy xương của người dao ở xã ba vì, huyện ba vì, hà nội và của người mường ở xã thung nai, huyện cao phong, hòa bình Điều tra các bài thuốc điều trị gãy xương của người dao ở xã ba vì, huyện ba vì, hà nội và của người mường ở xã thung nai, huyện cao phong, hòa bình Điều tra các bài thuốc điều trị gãy xương của người dao ở xã ba vì, huyện ba vì, hà nội và của người mường ở xã thung nai, huyện cao phong, hòa bình Điều tra các bài thuốc điều trị gãy xương của người dao ở xã ba vì, huyện ba vì, hà nội và của người mường ở xã thung nai, huyện cao phong, hòa bình Điều tra các bài thuốc điều trị gãy xương của người dao ở xã ba vì, huyện ba vì, hà nội và của người mường ở xã thung nai, huyện cao phong, hòa bình Điều tra các bài thuốc điều trị gãy xương của người dao ở xã ba vì, huyện ba vì, hà nội và của người mường ở xã thung nai, huyện cao phong, hòa bình Điều tra các bài thuốc điều trị gãy xương của người dao ở xã ba vì, huyện ba vì, hà nội và của người mường ở xã thung nai, huyện cao phong, hòa bình Điều tra các bài thuốc điều trị gãy xương của người dao ở xã ba vì, huyện ba vì, hà nội và của người mường ở xã thung nai, huyện cao phong, hòa bình
Xem thêm

75 Đọc thêm

Qua bài thơ Bánh trôi nước, Tự tình II của Hồ Xuân Hương và bài Thương vợ của Trần Tế Xương, anh (chị) hiểu những gì về thân phận người phụ nữ Việt Nam thủa xưa?

QUA BÀI THƠ BÁNH TRÔI NƯỚC, TỰ TÌNH II CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG VÀ BÀI THƯƠNG VỢ CỦA TRẦN TẾ XƯƠNG, ANH (CHỊ) HIỂU NHỮNG GÌ VỀ THÂN PHẬN NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM THỦA XƯA?

Qua bài thơ Bánh trôi nước, Tự tình II của Hồ Xuân Hương và bài Thương vợ của Trần Tế Xương, anh (chị) hiểu những gì về thân phận người phụ nữ Việt Nam thủa xưa? ------------- Hồ Xuân Hương sáng tác nhiều bài thơ nổi tiếng về đề tài phụ nữ. Thơ bà là tiếng nói đòi quyền sống tự do và thể hiện khát khao hạnh phúc. Trần Tế Xương cũng có một số bài thơ nói về những vất vả gian truân mà người phụ nữ phải gánh chịu trong xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ. Mượn hình ảnh chiếc bánh trôi nước quen thuộc trong dân gian, Hổ Xuân Hương gửi gắm những suy ngẫm sâu sắc của mình về thân phận nhỏ bé và phụ thuộc của người phụ nữ: Thân em vừa trắng lại vừa tròn, Bảy nổi ba chìm với nước non. Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn, Mà em vẫn giữ tấm lòng son. Chiếc bánh trôi nước làm bằng bột nếp trắng tinh, mịn màng, tròn trịa và xinh xắn khiến người ta liên tưởng tới vẻ đẹp hổn nhiên, đầy đặn của những cô gái đương xuân. Bánh luộc trong nồi nước sôi, mấy lần chìm xuống nổi lên mới chín. Bột bánh trắng trong nổi rõ màu nâu đỏ của nhân làm bằng đường thẻ. Với đôi mắt và trái tim đa cảm, Hồ Xuân Hương đã nhận ra đằng sau những chi tiết rất thực ấy là cả một nỗi niềm thương thân trách phận của người phụ nữ. Tạo hóa sinh ra họ là để duy trì và phát triển sự sống của nhân loại, đồng thời làm đẹp cho đời. Vai trò của họ là vô cùng quan trọng, nhưng quan niệm thiên vị đến mức lệch lạc trong xã hội phong kiến đã cố tình phủ nhận điều đó. Nào là: Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô. Nào là: Nữ nhân ngoại tộc. Rồi luật Tam tòng cột chặt người phụ nữ vào thân phận bị phụ thuộc vĩnh viễn: Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử. Những quan niệm khắt khe, cổ hủ ấy đã tước đoạt điều quý giá nhất là được tự do sống đúng với con người mình và đáng sợ hơn là nó biến người phụ nữ thành cái bóng mờ nhạt trong suốt cuộc đời. Họ tồn tại chứ không phải là sống theo đúng nghĩa tích cực của từ đó. Chẳng khác gì những chiếc bánh trôi nước, rắn, nát, méo, tròn hoàn toàn do tay kẻ nặn. Ở bài thơ Tự tình II, Hồ Xuân Hương đã bộc bạch tâm trạng bức xúc cao độ của bản thân, đồng thời cũng là tâm trạng chung của bao phụ nữ cùng cảnh ngộ trong xã hội phong kiến: Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn, Trơ cái hồng nhan với nước non. Chén rượu hương đưa say lại tỉnh, Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn. Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám, Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn. Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại, Mảnh tình san sẻ tí con con! Nói đến người phụ nữ là nói đến cái đẹp, tình yêu thương và đức hi sinh. Họ cống hiến hết cho cuộc đời mà không đòi hỏi quyền lợi vật chất nào ngoài sự trân trọng, cảm thông và chia sẻ. Nhưng những cái đó hầu như không được gia đình và xã hội quan tâm vì cho rằng thiên chức của phụ nữ là phục tùng vô điều kiện. Hiểu rõ điều bất công đó nên Hồ Xuân Hương đã viết nên những câu thơ thấm đẫm nỗi xót xa, chua chát như trên. Hồng nhan là cách gọi những phụ nữ đẹp, rộng hơn là để chỉ chung giới nữ. Nhưng gọi là cái hồng nhan có nghĩa là đã hạ nó xuống ngang hàng với những vật vô tri vô giác khác. Nỗi hờn tủi, bẽ bàng chất chứa trong câu thơ: Trơ cái hồng nhan với nước non in đậm dấu ấn phong cách diễn tả độc đáo của Xuân Hương. Tâm sự trĩu nặng nỗi buồn thân phận và duyên phận của nữ sĩ không biết ngỏ cùng ai nên càng cuộn xoáy, day dứt trong lòng giữa đêm khuya thanh vắng. Nhưng dù bị phụ phàng hay quên lãng thì nhân vật trữ tình trong bài thơ vẫn không tuyệt vọng, vẫn khao khát sống mạnh mẽ, vẫn ước ao đến cháy lòng hạnh phúc tròn đầy, vẫn mong muốn được san sẻ và bù đắp những tình cảm chân thành nhất giữa người với người. Bài Thương vợ của nhà thơ trào phúng nổi tiếng Trần Tế xương có thể coi là chân dung tương đối hoàn chỉnh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến: Quanh năm buôn bán ở mom sông, Nuôi đủ năm con với một chồng. Lặn lội thân cò khi quãng vắng, Eo sèo mặt nước buổi đò đông. Một duyên hai nợ âu đành phận, Năm nắng mười mưa dám quản công. Cha mẹ thói đời ăn ở bạc, Có chồng hờ hững cũng như không. Ngày xưa, Nho giáo buộc phụ nữ phải có bổn phận thờ chồng, nuôi con. Thờ chồng đối với bà Tú bao hàm cả việc nuôi chồng, thế là bất công vì đúng ra, người đàn ông phải giữ vai trò trụ cột trong gia đình về mọi mặt. Bà Tú vốn con nhà gia giáo, khá giả. Lúc còn ở với cha mẹ, bà không phải chịu cảnh vất vả nắng sương. Làm vợ ông Tú lận đận về đường khoa cử, lại không nghề không nghiệp nên bà đành chấp nhận cảnh sống long đong, khổ sở. Quanh năm lo tảo tần buôn bán nơi mom sông, bến chợ để Nuôi đủ năm con với một chồng. Mà nuôi ông chồng đặc biệt tài hoa như ông Tú thì không phải chỉ lo miếng cơm, manh áo bình thường mà còn phải chuẩn bị sẵn cho ông ít rượu ít trà, ít tiền bỏ túi để có lúc ông vui bạn vui bè, chuẩn bị cho ông một hai bộ cánh tươm tất để nhỡ đi đâu ông khỏi tủi… Như vậy là bà Tú phải lo rất nhiều, phải làm rất nhiều mà không dám kể lể, thở than: Một duyên hai nợ âu đành phận, Năm nắng mười mưa dám quản công. Bà âm thầm coi đó là định mệnh đã an bài. Suy nghĩ và tâm trạng của bà Tú cũng là suy nghĩ, tâm trạng chung của phụ nữ thời xưa. Nhà thơ Trần Tế Xương từng tự nhận mình là ông chồng vô tích sự, để vợ phải lặn lội thân cò… chẳng khác chi những thân cò thân vạc đáng thương trong ca dao – dân ca, tượng trưng cho thân phận vất vả, cực nhọc của người phụ nữ. Bên cạnh nỗi khổ vật chất, bà Tú còn nỗi khổ tinh thần. Bà hết lòng vì chồng, vì con nhưng chồng con nào có biết cho chăng?! Thế nên mới có tiếng thở dài như một lời than não ruột: Cha mẹ thói đời ăn ở bạc, Có chồng hờ hững cũng như không! Có lẽ ông Tú đã hoá thân vào vợ mình, để thấu hiểu và thông cảm với bà. Lấy chồng mà chẳng được nhờ vả, cậy dựa; lấy phải ông chồng hờ hững thì quả là có cũng như không mà thôi. Ba bài thơ cùng một đề tài và cùng toát lên thân phận nhỏ bé, phụ thuộc rất đáng thương của người phự nữ trong xã hội phong kiến xưa kia. Nhà thơ Hồ Xuân Hương và nhà thơ Trần Tế Xương đã góp tiếng nói đáng kể vào tiếng nói chung bảo vệ quyền lợi chính đáng của một nửa nhân loại – những người gánh vác trọng trách duy trì sự sống trên trái đất này.
Xem thêm

2 Đọc thêm

ĐỀ THI GIỮA HỌC KÌ 1 MÔN NGỮ VĂN LỚP 11 TRƯỜNG THPT THỐNG NHẤT A, ĐỒNG NAI NĂM HỌC 2016 - 2017

ĐỀ THI GIỮA HỌC KÌ 1 MÔN NGỮ VĂN LỚP 11 TRƯỜNG THPT THỐNG NHẤT A, ĐỒNG NAI NĂM HỌC 2016 - 2017

VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phíSỞ GD&ĐT ĐỒNG NAIĐỀ THI GIỮA HỌC KÌ 1 NĂM HỌC 2016 - 2017TRƯỜNG THPT THỐNG NHẤT AMÔN: NGỮ VĂN - LỚP 11Thời gian làm bài: 90 phútI. Đọc - hiểu (3,0 điểm)Học sinh đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:“Vũ trụ nội mạc phi phận sự,Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng.Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông,Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng.Lúc bình Tây, cờ đại tướng,Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên.”(Ngữ văn 11, tập một, NXB Giáo dục)1) Văn bản trên được trích từ tác phẩm nào? Của ai ? (1,0 điểm)2) Vì sao biết rằng việc làm quan là gò bó, mất tự do (vào lồng) nhưng Nguyễn Công Trứvẫn ra làm quan ? (1,0 điểm)3) Chỉ ra và cho biết tác dụng của những biện pháp tu từ được sử dụng trong văn bản (1,0điểm)II. Làm văn (7,0 điểm)Phân tích hình ảnh bà Tú trong bài thơ Thương vợ của Trần Tế Xương.VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phí
Xem thêm

4 Đọc thêm

GIỮA NGUYỄN KHUYẾN VÀ TRẦN TẾ XƯƠNG CÓ NỖI NIỀM TÂM SỰ GIỐNG NHAU NHƯNG GIỌNG THƠ TRÀO LỘNG, CHÂM BIẾM LẠI CÓ NHỮNG NÉT KHÁC NHAU NHƯ THẾ NÀO? HÃY LÀM RÕ Ý KIẾN CỦA ANH (CHỊ)

GIỮA NGUYỄN KHUYẾN VÀ TRẦN TẾ XƯƠNG CÓ NỖI NIỀM TÂM SỰ GIỐNG NHAU NHƯNG GIỌNG THƠ TRÀO LỘNG, CHÂM BIẾM LẠI CÓ NHỮNG NÉT KHÁC NHAU NHƯ THẾ NÀO? HÃY LÀM RÕ Ý KIẾN CỦA ANH (CHỊ)

Giữa Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương có nỗi niềm tâm sự giống nhau nhưng giọng thơ trào lộng, châm biếm lại có những nét khác nhau như thế nào? Hãy làm rõ ý kiến của anh (chị) -------- Nguyễn Khuyến (1835 11909), Trần Tế Xương (1870 – 1907) là hai nhà thơ trào phúng nổi tiếng của đất Hà Nam, Nam Định. Tuy chênh lệch khá nhiều về tuổi tác, về đường công danh nhưng hai ông có một số điểm gần gũi trong cách nhìn nhận và đánh giá thời cuộc và cả hai đã dùng tiếng cười châm biếm, trào lộng trong thơ ca để phơi bày bản chất nhố nhăng, suy đồi của cái xã hội thực dân, phong kiến dở Tây dở ta thuở ấy. Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, thực dân Pháp đã bình định xong Đông Dương về mặt quân sự và bắt đầu triển khai kế hoạch bình định trên các lĩnh vực khác như chính trị, kinh tế, văn hoá… Trường học được mở ở khắp nơi để dạy tiếng Pháp và đào tạo ra thế hệ quan lại bản xứ tay sai thân Pháp. Sự bành trướng nhanh chóng của nền giáo dục thực dân đã đẩy lùi nền giáo dục truyền thống dựa trên nền tảng đạo Nho có từ lâu đời ở nước ta. Nho học tàn dần, phần lớn tầng lớp trí thức vội vã “Quẳng bút lông đi giắt bút chì” để mong nhận được chức thầy thông, thầy phán trong các công sở của chính quyền bảo hộ, đặng hưởng cuộc sống “Sáng rượu sâm banh, tối sữa bò”, khác xa với cuộc sống lầm than của cả dân tộc dưới ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp. Là một bậc đại khoa đã từng làm quan hơn mười năm trong triều đình nhà Nguyễn với nhiều chức vụ khác nhau, Nguyễn Khuyến hiểu sâu sắc tình thế nước nhà lúc bấy giờ. Từ vua tới quan chỉ là những con rối trong tay chính quyền thực dân, hoàn toàn chịu sự chi phối và điều khiển của chúng. Xót xa và thấm thía nỗi nhục quốc thể, nhà thơ đã mượn lời than thở của vợ người hát chèo để nói lên thực trạng đau lòng ấy: Vua chèo còn chẳng ra gì, Quan chèo vai nhọ khác chi thằng hề. (Lời vợ người hát chèo) Theo bước chân của đạo quân xâm lược phương Tây, yếu tố tư bản chủ nghĩa cũng tràn vào nước ta, làm thay đổi diện mạo của xã hội phong kiến đã định hình hàng ngàn năm. Nền tảng tư tưởng, nền tảng đạo đức truyền thống lung lay dữ dội. Nhiều giá trị cơ bản bị đảo lộn, đồng tiền được tôn lên vị trí thống soái, chi phối toàn bộ cuộc sống của con người. Chính vì thế mới có những cảnh cười ra nước mắt trong hội Tây do thực dân Pháp tổ chức mà người bản xứ tham gia các trò chơi tỏ ra vui vẻ đến vô tâm trước nỗi nhục nô lệ: Kìa hội thăng bình tiếng pháo reo, Bao nhiêu cờ kéo với đèn treo. Bà quan tênh nghếch xem bơi trải, Thằng bé lom khom nghé hát chèo. Cậy sức cây đu nhiều chị nhún, Tham tiền cột mỡ lắm anh leo. Khen ai khéo vẽ cho vui thế, Vui thế bao nhiêu nhục bấy nhiêu! (Hội Tây) Tiếng cười của Nguyễn Khuyến là tiếng cười của lương tâm, của ý thức liêm sỉ nên thâm thuý và thấm đượm nước mắt. Không chỉ cười những hiện tượng đáng cười trong cuộc sống đương thời, nhà thơ còn dám nhìn sâu vào bên trong con người mình để tự trào: Cũng chẳng giàu mà cũng chẳng sang, Chẳng gầy chẳng béo, chỉ làng nhàng. Cờ đương dở cuộc không còn nước, Bạc chửa thầu canh đã chạy làng. Mở miệng nói ra gàn bát sách, Mềm mồi chén mãi tít cung thang. Nghĩ mình lại gớm cho mình nhị Thế cũng bia xanh, cũng bảng vàng! (Tự trào) Đúng là chân dung của một con người dở dang mọi nhẽ, công chẳng thành mà danh chẳng toại, thật đáng buồn, đáng chán. Ngẫm người rồi ngẫm đến ta, nhiểu lúc cụ Tam Nguyên Yên Đổ cũng chế giễu mình bằng nụ cười nhếch mép đầy xót xa, cay đắng. Cụ ngầm so sánh những bậc đại khoa có tiếng tăm giống như mình nhưng cũng đành xuôi tay bất lực trước thời thế đảo điên thì chẳng khác gì mấy ông phỗng đá vô hồn. Nhà thơ Trần Tế xương nhìn đời với đôi mắt bất bình của kẻ sinh bất phùng thời nên đâu đâu cũng thấy những cảnh chướng tai gai mắt: Nhà kia lỗi đạo con khinh bố, Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng. Vì tiền mà các cô gái tơ sẵn sàng chấp nhận thân phận làm vợ bé các thầy ký, thầy phán để rồi phải lãnh chịu kết cục thảm thương: Cô Kí sao mà đã chết ngay? Ô hay, Trời chẳng nể ông Tây. Gái tơ đi lấy làm hai họ, Năm mới vừa sang được một ngày. Hàng phố điếu bằng câu đối đỏ, Ông chồng thương đến cái xe tay. Gớm thay cho các cô con gái, Mà vẫn đua nhau lấy các thầy! (Mồng ba Tết viếng cô Kí) Vì tiền nên mới diễn ra những cảnh huống lố bịch, nhố nhăng khiến nhà thơ Tú Xương tức giận phải bật lên tiếng chửi phũ phàng: Lẳng lặng mà nghe nó chúc giàu, Trăm nghìn vạn mớ để vào đậu. Phen này ắt hẳn gà ăn bạc, Đồng rụng đồng rơi lọ phải cầu. Lẳng lặng, mà nghe nó chúc sang, Đứa thời bán tước đứa mua quan, Phen này ông quyết đi buôn lọng, Vừa chùi vừa rao cũng đắt hàng. (Năm mới chúc nhau) Hiện tượng bỏ tiền ra để mua quan bán tước, mua chuộc, hối lộ hòng kiếm lấy một chức vị hay một mảnh bằng nào đó đã trở nên khá phổ biến trong cái xã hội bát nháo, kỉ cương rối loạn. Học giỏi như Tú xương nhưng cứ trượt hoài vì Tám khoa không khỏi phạm trường quy, trong khi đó một số tên công tử con nhà giàu ham chơi học dốt thì lại đỗ. Bất bình, nhà thơ văng tục: Cử nhân cậu ấm Kỉ, Tú tài con Đô Mĩ. Thi thế mà cũng thi, Ối khỉ ơi là khỉ! Còn cái loại đậu lạy, quan xin thì nhan nhản khắp nơi. Điềm tĩnh, chín chắn như Nguyễn Khuyến mà cũng phải chua chát nhận xét về đám người này qua bài thơ Tiến sĩ giấy: Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai, Cũng gọi ông nghè có kém ai. Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng, Nét son điểm rõ mặt văn khôi. Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ, Cái giá khoa danh ấy mới hời. Ghế chéo, lọng xanh ngồi bảnh choẹ, Tưởng rằng đồ thật hoá đồ chơi! Sống trong cái xã hội bị ma lực đồng tiền chi phối và khuynh đảo ghê gớm như vậy thì những người luôn đề cao phẩm giá như Nguyễn Khuyến, Tú Xương chỉ có cách duy nhất là giữ gìn khí tiết trong sạch, xa lánh cõi đời thật giả, vàng thau lẫn lộn. Đêm giao thừa, nghe tiếng pháo nổ mừng năm mới của những kẻ lắm của nhiều tiền, thi sĩ nghèo Tú Xương suy ngẫm rồi cám cảnh thốt lên hai câu thơ châm biếm sâu cay: Thiên hạ xác rồi còn đốt pháo, Nhân tình trắng thế lại bôi vôi. Tiếng cười trào lộng ở đây không vang lên hả hê, khoái trá mà chứa đựng một nỗi đau, nỗi hận và day dứt khôn nguôi. Sự nhố nhăng không chỉ hiện diện ở ngoài đời mà nó còn lan tràn cả vào chốn tôn nghiêm của cửa Khổng sân Trinh, biến các khoa thi Hán học thành chợ trời nhốn nháo. Tú Xương cười nhạo cảnh: Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt, Dưới sân ông cử ngỏng đầu rồng và cũng khóc thầm trước quang cảnh lố lăng của một kì thi Hương ở Nam Định vào giai đoạn Nho giáo đã suy tàn: Nhà nước ba năm mở một khoa, Trường Nam thi lẫn với trường Hà. Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ , Ậm oẹ quan trường miệng thét loa. Cờ cắm rợp trời quan sứ đến, Vảy lê quét đất mụ đầm ra. Nhân tài đất Bắc nào ai đó? Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà! (Vịnh khoa thi Hương) Rõ ràng cùng là tiếng cười trào lộng đả kích, phê phán những hiện tượng xấu xa, tiêu cực trong xã hội thực dân phong kiến cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, nhưng đặc điểm tiếng cười của Nguyễn Khuyến khác với Tú xương. Tiếng cười Nguyễn Khuyến nhẹ nhàng, thâm thuý; còn tiếng cười Tú Xương mạnh như những làn roi quất thẳng vào mặt cái xã hội điêu trá ấy. Chừng nào cái ác, cái xấu còn tồn tại thì tiếng cười đầy ý nghĩa của hai nhà thơ nổi tiếng trên vẫn còn nguyên giá trị.
Xem thêm

3 Đọc thêm

TÓM TẮT QUÁ TRÌNH TĂNG CƯỜNG ẢNH HƯỞNG VỀ KINH TẾ CỦA TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI ĐÔNG NAM Á TỪ NĂM 1991 ĐẾN NAY_QUA TRƯỜNG HỢP VỚI LÀO, CAMPUCHIA, VIỆT NAM VÀ MYANMAR

TÓM TẮT QUÁ TRÌNH TĂNG CƯỜNG ẢNH HƯỞNG VỀ KINH TẾ CỦA TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI ĐÔNG NAM Á TỪ NĂM 1991 ĐẾN NAY_QUA TRƯỜNG HỢP VỚI LÀO, CAMPUCHIA, VIỆT NAM VÀ MYANMAR

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINHNguyễn Thị Như NgọcQUÁ TRÌNH TĂNG CƯỜNG ẢNH HƯỞNG VỀKINH TẾ CỦA TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI ĐÔNGNAM Á TỪ NĂM 1991 ĐẾN NAY_QUA TRƯỜNGHỢP VỚI LÀO, CAMPUCHIA, VIỆT NAM VÀMYANMARLUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ THẾ GIỚIThành phố Hồ Chí Minh – năm 2015BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINHNguyễn Thị Như NgọcQUÁ TRÌNH TĂNG CƯỜNG ẢNH HƯỞNG VỀKINH TẾ CỦA TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI ĐÔNGNAM Á TỪ NĂM 1991 ĐẾN NAY_QUA TRƯỜNGHỢP VỚI LÀO, CAMPUCHIA, VIỆT NAM VÀMYANMARChuyên ngành: Lịch sử thế giớiMã số: 60 22 03 11LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ THẾ GIỚINGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:PGS.TS. NGUYỄN CẢNH HUỆ
Xem thêm

Đọc thêm

Bài giảng sinh học 8 bài 9 cấu tạo và tính chất của cơ thao giảng (16)

BÀI GIẢNG SINH HỌC 8 BÀI 9 CẤU TẠO VÀ TÍNH CHẤT CỦA CƠ THAO GIẢNG (16)

... Bài 9: CẤU TẠO VÀ TÍNH CHẤT CỦA CƠ I - Cấu tạo bắp tế bào II - Tính chất - Tính chất co dãn Khi co cơ, vào tơ mảnh xuyên vàotếvùng phân ? Căn cấu tạo bắpsâu bào cơ, chobố biết tế bàoxảy cơra dày... bào cấu tạo từ tơ gồm: Các tơ mảnh tơ dày xếp xen kẽ Tơ mảnh trơn, tơ dày có mấu sinh chất - Đơn vị cấu trúc tế bào gọi tiết Bài 9: CẤU TẠO VÀ TÍNH CHẤT CỦA CƠ I - Cấu tạo bắp tế bào II - Tính chất. .. TRA MIỆNG 1/ Nêu cấu tạo chức xương dài ?( đ) 2/ Cho biết thành phần hóa học tính chất xương ? ( đ) 2/ Cho biết tính chất ? ( đ) TIEÁT - Bài 9: CẤU TẠO VÀ TÍNH CHẤT CỦA CƠ I - Cấu tạo bắp tế bào
Xem thêm

23 Đọc thêm

Phân tích bài thơ Đất Vị Hoàng của Tú Xương

PHÂN TÍCH BÀI THƠ ĐẤT VỊ HOÀNG CỦA TÚ XƯƠNG

Đất Vị Hoàng Trần Tế Xương Có đất nào như đất ấy không? Phố phường tiếp giáp với bờ sông. Nhà kia lỗi phép con khinh bố, Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng. Keo cú người đâu như cứt sắt, Tham lam chuyện thở những hơi đồng. Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh Có đất nào như đất ấy không? Hãy phân tích bài thơ “Đất Vị Hoàng” của Tú Xương. Phân tích Vị Hoàng là quê cha đất tổ của nhà thơ Tú Xương. Làng Vị Hoàng xa xưa có sông Vị Thủy chảy qua. Ngày Tây chiếm đóng thành Nam, khi cờ ba sắc xuất hiện thì sông Vị Thủy bị lấp dần. Vị Hoàng vốn là một miền quê có thứ chuối ngự ngon nổi tiếng cùng với thơ Tú Xương đã trở thành thổ ngơi, đặc sản quê nhà, một trăm năm về trước được truyền tụng trong dân gian: “Ăn chuối ngự, đọc thơ Xương”. Vị Hoàng cũng vốn là “nơi sang trọng, chốn nhiều quan”. Nhưng rồi biển dâu biến đổi, trong buổi giao thời hổ lốn dở Tây dở ta, ngày càng lộn xộn tang thương, đạo lý sa sút, suy đồi. Tú Xương đau nỗi đau quê nhà, xót cho thói đời đen bạc, buồn cho cảnh nước bị mất chủ quyền. Nước cũ, làng xưa có bài “Vị Hoàng hoài cổ” man mác buồn thương, lại có thêm bài thơ “Đất Vị Hoàng” này để nói lên những chuyện xấu xa đồi bại ở Vị Hoàng, ở thành Nam. Bài “Đất Vị Hoàng” được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, thủ vĩ ngâm. Câu 1 và câu 8 là câu hỏi tu từ: “Có đất nào như đất ấy không?”; nhà thơ hỏi để mà nguyền rủa, giọng thơ trở nên đau đớn, chua xót. Nơi chôn rau cắt rốn thân thương nay đã thay đổi nhiều rồi, ngày ngày diễn ra bao cảnh đau lòng. Còn đâu nữa hình ảnh đẹp một thời, để tự hào và “nhớ”: “Anh đi anh nhớ non Côi, Nhớ sông Vị Thủy nhớ người tình chung” Trong bài “Sông lấp”, Tú Xương viết: “Sông kia rày đã Lên đồng - Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngôi khoai…”. Cảnh ấy có khác gì ở đây: “Phố phường tiếp giáp với bờ sông”. Tây và bọn tay sai chiếm ruộng, chiếm bãi, chiếm đất, chiếm phố, chiếm nhà. Phố xá mọc lên cùng với bọn bất lương ra sức vơ vét làm giàu. Trong nhà ngoài phố, kẻ chợ làng quê, nơi gần chốn xa, nhất là ở Vị Hoàng nhỡn tiền ra đó. “Nhà kia… mụ nọ…” vừa ám chỉ vừa vạch mặt chỉ tên, đầy khinh bỉ trước những cảnh đời xấu xa vô đạo. Có cảnh nhà “lỗi phép”, con cái bất hiếu: “con khinh bố”. Có cảnh đời, đảo điên tình nghĩa, “chanh chua” như mụ nọ “vợ chửi chồng”. Có lẽ chỉ vì tiền mà đồi bại đến cùng cực thế! Hai mối quan hệ làm rường cột của đạo lí: tình phụ - tử, nghĩa phu - thê đã trở nên nhem nhuốc vô cùng. Hỏng từ gia đình hỏng ra. Không còn là hiện tượng cá biệt nữa. Thời bấy giờ nhan nhản phố phường những “tiết hạnh khả phong” như mụ Phó Đoan, những gái tân thời như cô Hoàng Hôn, cô Tuyết (Số đỏ), những me Tây như mụ Tư Hồng “có tàn, có tán, có hương án thờ vua, lẫy lừng băm sáu tỉnh”. (câu đối của Nguyễn Khuyến). Những “em chã”, những trưởng giả, thượng lưu rởm đang “Âu hoá” sống phè phỡn, nhố nhăng! Hai câu thơ 3, 4 trong phần thực như bức biếm họa nhí nhảnh đăng đối với bao vết ố, nét thơ ghê tởm, đặc tả sự đồi bại về luân thường đạo lý. “Nhà kia lỗi phép con khinh bố, Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng.” Hai câu trong phần luận mở rộng ý thơ trong phần thực, làm cho bức tranh “Đất Vị Hoàng” được tô đậm sắc màu hiện thực. Không còn ước lệ nữa. Hai nét vẽ về cảnh đời đáng buồn đáng thương đối nhau. Một bộ tứ bình biếm họa hoàn chỉnh. Ở cái đất Vị Hoàng ấy nhan nhản những loại người “tham lam” và “keo cú”. “Keo cú” đến bần tiện, ghê gớm và hôi hám. Nhà thơ ngạc nhiên hỏi và so sánh: người đâu như cứt sắt “sao mà” đáng sợ, đáng khinh bỉ! Lại có loại người “tham lam” đến cùng cực, nhịp sống cuộc đời họ chỉ là “chuyên thở rặt hơi đồng”. “Thở” là nhãn tự, rất linh diệu; nếu thay bằng chữ “nói” hay một từ nào khác thì không lột tả được bản chất loại người tham lam đê tiện này. Vì đã “thở” nên phảo đi liền với “hơi” - "hơi đồng”, tiền bạc. Chỉ vì tiền, coi tiền bạc là trên hết, là trước hết trong mọi mối quan hệ gia đình và xã hội. “Rặt” là từ cổ, nghĩa là “toàn là”, “đều là”. Phép đảo ngũ rất có giá trị thẩm mĩ, tạo nên ngữ điệu dữ dội, khinh bỉ, một tiếng chửi đời cay độc lên án loại người tham lam, keo cú mất hết nhân tính: “Keo cú / người đâu như cứt sắt, Tham lam / chuyện thở rắt hơi đồng” Hai câu kết đẩy vần thơ lên cao trào của giọng điệu châm biếm và lên án. Không còn là chuyện riêng, chuyện cá biệt ở cái làng Vị Hoàng nhỏ bé nữa, mà là hiện thực thối nát, đồi bại, xấu xa, đạo lý suy đồi, đảo điên… trong cái xã hội nửa thực dân phong kiến, của một nước bị mất chủ quyền. Cái xấu, cái ác đã trở thành nỗi đau, nỗi nhục của nhiều người, trên một không gian rộng lớn “Bắc, Nam”, và “bao nhiêu tỉnh”. Nghệ thuật thủ - vĩ ngâm dưới hình thức câu hỏi tu từ nghẹn ngào cất lên như một lời đay nghiến, vừa xót xa đau đớn, vừa căm giận khinh bỉ cái xã hội kim tiền, cái xã hội chó đểu mà 30 năm sau Vũ Trọng Phụng phải nguyền rủa! “Đất Vị Hoàng” là bài thơ trào phúng độc đáo của Tú Xương. Muốn yêu quê, muốn tự hào về quê hương mà không được nữa. Nhà thơ sống trong tâm trạng đầy bị kịch. Bốn câu trong phần thực và luận là bộ tứ bình biếm họa về 4 loại người trong xã hội dở Tây dở ta buổi đầu. Trong gia đình, con thì bất hiếu, “lỗi phép”, vợ thì “chanh chua” lăng loàn; ngoài xã hội đâu đâu cũng chỉ có hạng người “tham lam” và “keo cú” vênh váo. Đạo lý suy đồi mà nguyên nhân sâu xa là nước mất chủ quyền, là sự tác oai tác quái của mặt trái đồng tiền. Nhà thơ vừa đau xót, vừa khinh bỉ. Đúng là Tú Xương “đã đi bằng hai chân” hiện thực trào phúng và trữ tình, tạo nên giọng điệu riêng hiếm thấy. Bài thơ toàn Nôm, ngôn ngữ bình dị mà sắc sảo. Bốn câu hỏi xuất hiện trong bài thơ làm cho ngữ điệu thêm dữ dội, đầy ám ảnh. Thơ liền mạch, đúng là Tú Xương đã xuất khẩu thành thơ. Bút pháp điêu luyện mà tự nhiên, hồn nhiên, nhất khí mà bình dị. Trong thơ ca dân tộc ít có bài thơ thủ - vĩ ngâm hay như bài thơ “Đất Vị Hoàng” này. Tú Xương mãi mãi là nhà thơ trào phúng bậc thầy trên thi đàn dân tộc.
Xem thêm

2 Đọc thêm

THÊM TRẠNG NGỮ CHỈ NƠI CHỐNCHO CÂU

THÊM TRẠNG NGỮ CHỈ NƠI CHỐNCHO CÂU

Đặt 1 câu có sử dụng trạngngữ.Thứngày tháng năm 2015LUYỆN TỪ VÀ CÂU:NG NGỮ CHỈ NƠI CHỐI. Nhận xét1.Tìm trạng ngữ trong những câu sau và cho biết chúngbổ sung ý nghĩa gì cho câu.a) Trước nhà, mấy cây hoa giấy nở tưng bừng.TNCVTrần Hoài Dươngb) Trên các lề phố, trước cổng các cơ quan, trên mặt đườngTrạng ngữ chỉ nơi những cây hoa giấy nở tưng bừngnhựa, khắp năm cửa ô trở vào, hoa sấu vẫn nở, vẫn vươngvãi khắp thủ đô.Nguyễn TuânTheo

20 Đọc thêm

Tả một ngõ phố - nơi ở của gia đình em

TẢ MỘT NGÕ PHỐ - NƠI Ở CỦA GIA ĐÌNH EM

Năm 2008, gia đình em chuyển đến ngõ phố Yên Hoà, thuộc Quận Cầu Giấy, Hà Nội. Đường phố Yên Hoà hẹp, chỉ rộng độ ba mét. Không có những biệt thự, những nhà cao tầng, Bài mẫu tả một ngõ phố - nơi ở của gia đình em      Năm 2008, gia đình em chuyển đến ngõ phố Yên Hoà, thuộc Quận Cầu Giấy, Hà Nội. Đường phố Yên Hoà hẹp, chỉ rộng độ ba mét. Không có những biệt thự, những nhà cao tầng, nhà Ngân hàng, Bưu điện,... như ở các dãy phố Trung Kính, Phạm Hùng, Lê Văn Lương,... Phố Yên Hoà chỉ có các cửa hàng, cửa hiệu nhỏ bé. Tuy vậy, phố xá có đủ mặt hàng. Người bán rau xanh chở bằng xe đạp, giá rất rẻ. Quán cơm, quán phở phục vụ sinh viên, khách vãng lai. Cũng có quán bán “Cầy tơ bảy món”, bán "Lòng lợn tiết canh”,... Cũng có quán Karaokê, quán Chơi trò điện tử. Sập bán báo lèo tèo, cửa hàng bách hoá nhỏ bé,... Điểm nổi bật ở phố Yên Hoà là chùa Cót, một ngôi chùa cổ mới được trùng tu mấy năm gần đây. Chùa chưa có nhiều tượng Phật, nhưng phong quang sạch sẽ. Có ao chùa, giếng chùa. Có ba, bốn gốc si cổ thụ toả bóng mát mái chùa, sân chùa. Cạnh chùa là Nhà Văn hoá, Câu lạc bộ của các cụ về hưu, lúc nào cũng thấy đông vui. Ngày nào đi học, em cũng đi bộ dọc phố Yên Hoà để đến trường. Lúc đầu hơi lạ, lâu dần thành quen. loigiaihay.com
Xem thêm

1 Đọc thêm

BÀI 28. TRÀO LƯU CẢI CÁCH DUY TÂN Ở VIỆT NAM NỬA CUỐI THẾ KỈ XIX

BÀI 28. TRÀO LƯU CẢI CÁCH DUY TÂN Ở VIỆT NAM NỬA CUỐI THẾ KỈ XIX

KHỞI ĐỘNG LỊCH SỬCâu 1: Hà Nội trở thành một thành phố “nhượng địa” vào năm nào?A. 1887B. 1888C. 1889D. 1990Câu 2. Sau khi chiếm được Hà Nội, thực dân Pháp đã làm gì?A. Phát triển kinh tếB.Xây dựng các cơ quan hành chính thực dânC.Mở mang giao thôngD. Tất cả các đáp án trênCâu 3. “Vận động cải cách xã hội; đưa học sinh sang Nhật học tập…” lànội dung của phong trào nào?A. Đông DuB.

22 Đọc thêm

Hướng dẫn soạn bài : VỊNH KHOA THI HƯƠNG

HƯỚNG DẪN SOẠN BÀI : VỊNH KHOA THI HƯƠNG

VỊNH KHOA THI HƯƠNG                                                                              Trần Tế Xương I. KIẾN THỨC CƠ BẢN Tú Xương là một người rất lận đận trong chuyện thi cử. Ông thi nhiều lần và đều hỏng, chỉ đỗ đến tú tài. Ông lại sống và thời buổi “mưa Âu gió Mĩ”, thời kì khủng hoảng của những qua hệ đạo đức truyền thống. Cay đắng của số phận riêng cùng với những điều ngang tai trái mắt của cuộc sống thị thành đã khiến Tú Xương trở thành một nhà thơ trào phúng tiêu biểu của văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX.  Thực dân Pháp tạm thời hoàn thành cuộc xâm lược Việt Nam, văn hoá phương Tây tràn vào lấn át văn hoá truyền thống. Hán học suy vong, các nhà Nho đua nhau “vứt bút lông đi” đổi sang cầm cây bút chì để kiếm sống. Chuyện thi cử của Nho học trở thành trò hề, cảnh tượng các kì thi vô cùng thảm hại. Cả Nguyễn Khuyến và Tú Xương đều là những nhà nho có lòng tự trọng, họ đều rất đau lòng và cay đắng ghi lại trong một loạt bài thơ. Trong đó có Vịnh khoa thi Hương của Trần Tế Xương. II. RÈN KĨ NĂNG 1. Vịnh khoa thi Hương là một bài thơ trữ tình - trào phúng. Qua việc tái hiện hình ảnh thảm hại của kì thi năm Đinh Dậu (1897) tại trường Hà Nam, nhà thơ bày tỏ sự xót xa, đau đớn của con người trước tình cảnh thảm hại của các nhà Nho vào thời kì mạt vận của Nho học. Khoa thi Hương 1897 ấy được miêu tả với cảm hứng trào phúng. Bức tranh trường thi hiện lên với cảnh tượng thật nhốn nháo, lộn xộn. Khoa thi Hương ấy gợi cảm giác đau xót trước hiện thực đất nước. Trong ngày tuyển chọn nhân tài cho đất nước vốn đã chẳng được trang nghiêm  mà cái bóng của kẻ xâm lược vẫn bao trùm không tha. Hiện thực đen tối của dân tộc phần nào đwocj táI hiện trong bàI thơ này. 2. Tú Xương thuộc lớp nhà Nho theo nghiệp khoa cử cuối cùng của xã hội phong kiến Việt Nam. Cuối thế kỉ XIX, việc tổ chức các kì thi Hán học chỉ còn là hình thức. Khoa thì năm Đinh Dậu được nhà thơ giới thiệu một cách giới thiệu rất tự nhiên. Kì thi được tổ chức theo đúng thời gian quy định, ba năm một lần. Nhưng có điểm không bình thường: Trường Nam thi lẫn với trường Hà. Tác giả không dùng thi chung hoặc một cách diễn đạt khác trang trọng hơn mà dùng từ “thi lẫn”. Cách nói ấy đã dự báo tính chất không nghiêm túc của kì thi. Khoa thi Hương 1897 ấy được miêu tả với cảm hứng trào phúng rõ rệt. Tác giả đặc biệt nhấn mạnh sự nhốn nháo, lộn xộn, nhếch nhác của trường thi và sự xuất hiện ồn ào, ầm ĩ của bọn quan thầy xâm lược. Qua đó thể hiện tâm sự xót xa của một nhà Nho có tự trọng và lòng căm thù giặc của một người dân yêu nước thương nòi. 3. Bốn câu thơ 3,4,5,6 tả cảnh trường thi đều được dùng cấu trúc đảo trật tự thành phần câu và phép đối ngẫu. Hai câu thực, tác giả đảo trật tự thành phần phụ chỉ đặc điểm lên trước. Hai từ “lôi thôi”, “ậm oẹ” đứng đầu câu nhấn mạnh điểm nổi bật nhất của cảnh thi, thật bi hài. Sĩ tử là nhân vật chính của kì thi. Khi Nho học đang ở thời thịnh vượng, các sĩ tử khi đi thi thường có người hầu đi theo cho nên họ không phải làm công việc “đeo lọ” bên mình như sĩ tử trong cảnh thi này. Những sĩ tử đến kì thi trông thật nhếc nhách và tội nghiệp. Còn “quan trường”, những người có trách nhiệm tổ chức và trông coi kì thi thì cũng thảm hại không kém. “Lôi thôi” đối với “ậm oẹ” thật là cân xứng. Lẽ ra họ phải dõng dạc, oai phong trong tư thế của mệnh quan triều đình. Tú Xương đã chọn từ ngữ rất đắt. Không cần nhiều chỉ hai từ đó thôi đã đủ tái hiện bộ mặt nhếch nhác đến thảm hại của kì thi Hán học cuối cùng này. Cảnh tượng trường thi lôi thôi, nhếch nhác là thế nhưng hình ảnh các vị khách mời thì lại khác. Bốn câu thơ trên tác giả đã tận dụng triệt để các hình thức đối ngẫu trong thơ. Đối trong cặp câu thực: hình ảnh sĩ tử >< hình ảnh quan trường; đối trong cặp câu luận: lọng - quan sứ >< váy - mụ đầm là sự đối ngẫu trong mối quan hệ tương đồng. Đối giữa hai câu thực và hai câu luận: sĩ tử, quan trường (nhân vật chính của ki thi) >< quan sứ, mụ đầm (khách mời) là sự đối ngẫu trong quan hệ tương phản. Bên nhân vật chính thảm hại, nhếch nhác bao nhiêu thì bên nhân vật phụ, bọn quan thầy xâm lược lại long trọng, kể cả bấy nhiêu. Sự đối lập hai này làm nổi bật nỗi nhục nhã ê chề của những trí thức Nho học. Chỉ với một vài hình ảnh đặc tả vậy thôi, Tú Xương đã tái hiện cảnh tượng của kì thi Hương Đinh Dậu, qua đó khái quát bộ mặt xã hội Việt Nam những năm cuối thế kỉ XIX. 4. Câu kết là tâm sự đau xót, chua chát của nhà thơ trước hiện thực đất nước. Câu thơ vừa là lời tự vấn mình, vừa hướng đến những người đồng môn. Bài thơ thể hiện nỗi đau đớn xót xa của nhà thơ trước vận mệnh dân tộc. Nỗi đau đớn xót xa ấy thể hiện tác giả là người trọng danh dự, danh dự của các trí thức nho học và là người có tấm lòng với dân với nước. Là con người biết trọng danh dự, với tấm lòng lo nước thương đời, ông Tú muốn đánh thức ý thức dân tộc trong con người Việt nam, nhất là những người tài, những người có trách nhiệm và có khả năng cứu nước, cứu đời. Giọng điệu chính của bài thơ là giọng điệu trào phúng, nhưng ở hai câu kết, tác giả đã dùng giọng điệu trữ tình. 5. Vịnh Khoa thi Hương thể hiện tấm lòng tha thiết tình đời của nhà thơ trào phúng Tú Xương. Sống trong hiện thực đen tối của xã hội Việt Nam những năm cuối thế kỉ XIX, biết trọng danh dự, biết đau xót trước hiện thực dân tộc như Tú Xướng là một thái độ rất đáng trân trọng. Những nhà Nho như Tú Xương không đủ sức, đủ điều kiện để đứng lên cầm súng chống giặc, cải tạo đất nước nhưng họ đã dùng ngòi bút để thể hiện tấm lòng mình với dân tộc và đánh thức ý thức dân tộc trong mỗi người Việt Nam. Những nhà thơ như Tú Xương đã góp phần làm nên sức mạnh Việt Nam. wWw.SoanBai.Com
Xem thêm

4 Đọc thêm

Thuyết minh về một món ngon đất Hà thành chả cá Lã Vọng

THUYẾT MINH VỀ MỘT MÓN NGON ĐẤT HÀ THÀNH CHẢ CÁ LÃ VỌNG

Trong rất nhiều món ngon Hà Nội được gần xa biết đến người ta hay nhắc đến bánh tôm Hồ Tây, bánh cốm Hàng Than, cốm làng Vòng, phố Hà Nội... Bài Làm Trong rất nhiều món ngon Hà Nội được gần xa biết đến người ta hay nhắc đến bánh tôm Hồ Tây, bánh cốm Hàng Than, cốm làng Vòng, phố Hà Nội... Và dĩ nhiên không thể không nhắc đến chả cá Lã Vọng. Chả cá Lã Vọng là tên của một đặc sản Hà Nội. Vốn là một món ăn dân gian của gia đình họ Đoàn chế biến, tại số nhà 14 phố Chả Cá (trước là phố Hàng Sơn) trong khu phố cổ giữ bí quyết kinh doanh và đặt tên cho nó như trên. Đến nay chả cá đã thành món ăn khoái khẩu của thực khách sành ăn Hà Nội. Lâu dần hai tiếng chả cá được gọi thành tên phố và nó đã trở thành một trong 5 địa chỉ văn hoá vật chất nổi tiếng của Hà Nội xưa - nay. Trong nhà hàng bày một ông Lã Vọng ngồi bó gối câu cá bên dòng suối - biểu tưọng của người tài giỏi nghĩa hiệp ưu thời mẫn thế phải thúc thủ đợi thời. Vì thế khách đã quen gọi là chả cá Lã Vọng, ngày nay trở thành tên gọi của nhà hàng. Lịch sử về món ăn này được kể lại như sau: Vào những năm thời kỳ Pháp thuộc, số 14 Hàng Sơn có một gia đình họ Đoàn sinh sống, họ thường lấy nhà mình làm nơi cưu mang nghĩa quân Đề Thám. Chủ nhà hay làm một món chả ngon đãi khách, lâu dần thành quen, những vị khách ấy đã giúp gia đình một quán chuyên bán món ăn ấy, vừa để nuôi sống gia đình, vừa làm nơi họp. Về sau, hai tiếng "Chả Cá" được gọi thành tên phố. Trong nhà hàng bày một ông Lã Vọng - Khương Tử Nha ngồi bó gối câu cá – biểu tượng người tài giỏi nhưng đang phải đợi thời. Vì thế khách ăn quen gọi là Chả Lã Vọng, ngày nay trở thành tên nhà hàng và cũng là của món ăn. Bí quyết chả cá chỉ truyền lại cho người con cả họ Đoàn. Quán nhỏ nằm giữa phố, trông cũ kỹ, đồ dùng hơi xập xệ, ấy vậy mà khách tây, khách ta cứ tầm trưa, chiều  là đông nghịt bởi cái tên quán "Chả cá Lã Vọng" suốt hơn 100 năm nay có tiếng khắp trong Nam ngoài Bắc. Chả cá Lã Vọng "giữ chân" khách được lâu là bởi sự cẩn thận, tỉ mỉ của người làm từ khâu chọn thực phẩm, chế biến cho đến khi khách dùng món. Cá làm chả thường là cá lăng tươi. Đây là loại cá ít xương, ngọt thịt và Đặc biệt nhất và cũng vô cùng hiếm hoi là chả làm từ cá Anh Vũ, bắt ở ngã ba sông Bạch Hạc (Việt Trì - Phú Thọ). Không có cá lăng thì có thể dùng cá nheo, cá quả, nhưng cá nheo thì thịt bở hơn và cá quả thì nhiều xương dăm hơn nên không ngon bằng cá lăng. Thịt cá được lọc theo kiểu lạng từ hai sườn, thái mỏng, ướp với nước riềng, nghệ, mẻ, hạt tiêu, nước mắm theo phương cách bí truyền đặc biệt ít nhất hai giờ đồng hồ, rồi kẹp vào cặp tre (hoặc vỉ nướng chả có quệt một lớp mỡ cho đỡ dính). Người nướng phải quạt lửa, lật giở đều tay sao cho hai mặt đều chín vàng như nhau. Chuẩn bị ăn người ta mới mang những kẹp chả nướng đã chín trút vào chảo mỡ - loại mỡ chó (đây là tuyệt chiêu khiến chá cá Lã Vọng nổi tiếng) sôi đặt trên bếp than hoa đặt trên bàn ăn, cùng với rau thì là và hành hoa cắt khúc. Thường người ta không dùng dầu ăn vì nhiệt độ thấp hơn và cá kém thơm hơn. Nước chấm là mắm tôm hảo hạng, vắt chanh tươi đánh sủi lên, một chút ớt cay, dầm phảng phất cà cuống, thêm vài giọt rượu trắng. Món rau quả thật quan trọng đối với món chả cá, những lát chuối xanh, ruột trắng nõn mang nhựa chát, cùng những lát khếthái mỏng xanh như ngọc, chua nhức lưỡi. Lạc rang thơm. Khay rau sống phong phú những sung, mơ, ngổ, thơm, đinh lăng, cọng hành nõn, miếg gừng vàng. Cạnh khay rau là đĩa bún. Bún lá, bún con. Bún xếp thành vi nhỏ, trắng muốt, mát lành cùng rau, cùng gia vị cay, cùng thịt cá thơm nướng chả. Miếng chả ngon, đạt yêu cầu là khi nướng chín rồi miếng cá không vỡ, không khô quá, màu vàng, thơm mùi cá nướng, vị ngọt, bùi, béo. Chá phải ăn nóng. Khi ăn, gắp từng miếng cá ra bát, rưới rước mỡ đang đun sôi lên trên, ăn kèm với bánh đa nướng hay bún rối, lạc rang, rau mùi, húng Láng, thì là, hành củ tươi chẻ nhỏ chấm với mắm tôm. Mắm tôm phải được pha chế bằng cách vắt chanh tươi, thêm ớt, đánh sủi lên rồi tra thêm chút tình dầu cà cuống, thêm vài giọt rượu trắng, một ít nước mỡ và đường. Một khách nước ngoài không ăn được mắm tôm thì thay bằng nước mắm, nhưng nước mắm ít nhiều khiến món chả cá bị giảm hương vị. Có hai cách ăn phổ biến: Cho cá đã nướng vào chảo mỡ, bỏ hành và rau thì là vào. Khi rau chín tái thì gắp ra ăn với bún, rau thơm, đậu phộng rang và mắm tôm đã pha chế theo cách cho một ít bún vào bát, cho rau và một vài miếng chả cá lên trên, rắc ít lạc rang, rưới chút mắm tôm rồi trộn ăn. Khi ăn mùi mắm tôm quyện với vị ngọt của cá, mùi rau và vị bùi của lạc rang. Do có nhiều mỡ nên khi ăn phải ăn kèm theo cuống hành tươi chẻ nhỏ ngâm qua dấm pha loãng. Hoặc cho chả cá hành và rau vào bát, rưới nước mỡ đang sôi và dùng ngay, có thể ăn kèm với bánh đa nướng. Cách ăn này làm vừa đủ ăn nếu không cá sẽ nguội, mất ngon. Ngoài hai cách trên, một số ngưòi có thể cho cả bún vào chảo và đảo nhanh với cá, thì là, hành hoa sau đó trút ra bát ăn. Ăn cách này rất nóng, ngon nhưng hơi nhiều mỡ. Ăn chả cá, phải từ từ ít một để thường thức vị thơm của cá nướng, vị ngọt đậm đà của cá chiên, cá lăng, vị chát của chuối, vị chua của khế vị thơm các loài rau gia vị, mùi đặc biệt của cà cuống, mắm tôm, chanh và cùng nhâm nhi chén rượu quê nhà. Cuối cùng là món canh chua. Sau khi ăn toàn món khô háo nước, thường thức thêm nước bát bún canh chua sôi sùng sục, càng ngon miệng. Thế là ta đã thưởng thức đầy đủ hương vị của chả chiên, cá lăng thưởng thức món chả cá thú vị nhất là khi gió heo may về, trời Hà Nội thu se lạnh. Người ăn cứ thế nhấm nháp, nhẩn nha đàng hoàng. Tiếng mỡ nóng phi hành hoa kêu lép bép. Màu cá nướng vàng rộm thơm lừng đặt  trên những lớp rau thì là xanh mướt, bên lò nướng than hồng rực, ấm áp. Vị ngọt bùi cùa miếng chả cá vàng đều, với sợi bún trắng mỏng quyện với mắm chanh, vị cay thơm của cà cuống, thì là... vừa ăn vừa nhâm nhi với chút lạnh mới thấy hết cái hương vị đặc trưng có một không hai của món ăn trong miệng , cho ta cái cảm giác như đang được hưởng cái tinh tuý của đất trời, tất cả những điều đó đem lại cho món chả cá Lã Vọng Hà Nội sự hài hoà đến độc đáo, quyến rũ. Chả cá, món ăn vừa sang trọng vừa thi vị mà dân Hà Thành ưa chuộng, các văn, nhà thơ bao thế hệ vừa thưởng thức vừa ca ngợi, đến muốn... thèm. Chả cá Lã Vọng của Hà Nội cũng đã xuất hiện cá ở Thành phố Hồ Chí Minh, nhất là ở các quận 1, quận 8, quận Phú Nhuận. Nhiều khách nước ngoài khi đến Việt Nam, thưởng thức món đặc sản này đã phái trầm trồ, thán phục nghệ thuật ẩm thực đến tinh tế! cầu kỳ của người Việt. Chả cá Lã Vọng Hà Nội đã nổi tiếng. Một hãng truyền thông của Mỹ xếp vào vị trí thứ năm trong 10 món nên ăn trước khi... "về trời". Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

2 Đọc thêm

BÀI GIẢNG SINH HỌC 8 BÀI 9 CẤU TẠO VÀ TÍNH CHẤT CỦA CƠ THAO GIẢNG (20)

BÀI GIẢNG SINH HỌC 8 BÀI 9 CẤU TẠO VÀ TÍNH CHẤT CỦA CƠ THAO GIẢNG (20)

... TRA BÀI BÀI CŨ CŨ + Cấu tạo chức xương dài? + Thành phần hóa học tính chất xương? BÀI CẤU TẠO VÀ TÍNH CHẤT CỦA CƠ NỘI DUNG: I Cấu tạo bắp tế bào II Tính chất III Ý nghĩa hoạt động co I - Cấu tạo. .. hưởng của hệ hệ thần thần kinh kinh II Tính chất Tính Tính chất chất của cơ là sự co co và dãn dãn cơ Khi Khi tơ tơ cơ mảnh mảnh xuyên xuyên sâu sâu vào vào vùng vùng phân phân bố bố của tơ... phình to bụng I - Cấu tạo bắp tế bào - Cấu tạo bắp cơ: Bắp Bắp cơ gồm gồm nhiều nhiều bó bó cơ, cơ, mỗi bó bó cơ gồm gồm nhiều nhiều sợi sợi cơ (tế (tế bào bào cơ) , cơ) , bọc bọc trong màng
Xem thêm

18 Đọc thêm

Nghệ thuật ẩm thực Hà Nội, Huế

Nghệ thuật ẩm thực Hà Nội, Huế

Ẩm thực Hà Nội đã trở thành nổi tiếng khắp đất nước và được nhiều bạn bè quốc tế biết tới. Sự nổi tiếng ấy không chỉ ở những món ăn ngon độc đáo chỉ đất Hà Thành mới có mà còn ở văn hóa thưởng thức, văn hóa bán hàng của người Hà Nội. Ở Hà Nội có những khu phố chỉ bán một loại món ăn như nhau, cứ đến giờ là đông nghịt khách, giá cả và chất lượng tương đối đồng đều..

Đọc thêm

TIỂU LUẬN CẤU TRÚC MẶT HÀNG HỖN HỢP CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THẾ GIỚI SỐ TRẦN ANH

TIỂU LUẬN CẤU TRÚC MẶT HÀNG HỖN HỢP CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THẾ GIỚI SỐ TRẦN ANH

Chương II: Liên hệ thực tế với công ty Trần Anh 1 Giới thiệu chung Tên Công ty: CÔNG TY CỔ PHẦN THẾ GIỚI SỐ TRẦN ANH Tên giao dịch tiếng Anh: TRANANH DIGITAL WORLD JSC. Địa chỉ: 1174 Đường Láng, Phường Láng Thượng, Quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội Giấy CNĐKKD và Mã số doanh nghiệp số: 0101217009 (số cũ: 0103018927) đăng ký thay đổi lần thứ 28 do Sở Kế hoạch Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp ngày 2952015 Đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp: Ông Trần Xuân Kiên Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Trần Anh được thành lập theo Quyết định số 0102004703 ngày 1132002 của Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội. Công ty đã chính thức chuyển đổi từ mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn sang mô hình công ty cổ phần với tên gọi mới là Công ty Cổ phần Thế giới số Trần Anh kể từ ngày 0882007 theo Giấy CNĐKKD số 0103018927 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp và đã chuyển sang số mới là 0101217009 kể từ ngày 2952015. 1.2 Tầm nhìn của Công ty Trần Anh Trở thành Công ty có hệ thống trung tâm bán lẻ Điện máy Máy tính Điện thoại quy mô, chuyên nghiệp và lớn mạnh nhất Việt Nam. Xây dựng Trần Anh trở thành một môi trường làm việc chuyên nghiệp, nơi mà mọi cá nhân có thể phát huy tối đa sức sáng tạo, khả năng lãnh đạo và cơ hội làm chủ thực sự với một tinh thần dân chủ cao. Xây dựng Trần Anh trở thành ngôi nhà chung thực sự cho mọi cán bộ, nhân viên trong Công ty bằng việc cùng nhau chia sẻ quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ một cách công bằng và minh bạch nhất.
Xem thêm

Đọc thêm