LỰU CẬN CHÂU THÀNH TỪ KHỔ SAI 6 NĂM

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "LỰU CẬN CHÂU THÀNH TỪ KHỔ SAI 6 NĂM":

Canxi phòng bệnh cường tuyến cận giáp ở phụ nữ

CANXI PHÒNG BỆNH CƯỜNG TUYẾN CẬN GIÁP Ở PHỤ NỮ

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Nghiên cứu mới đây của các chuyên gia chăm sóc sức khoẻ Mỹ cho thấy, thiếu canxi là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây ra bệnh cường tuyến cận giáp ở phụ nữ độ tuổi mãn kinh. Canxi là một khoáng chất giúp xây dựng bộ xương và răng khỏe mạnh, điều hòa hoạt động co cơ bắp và đảm bảo độ đông máu ở mức bình thường. Trong bữa ăn hàng ngày nếu chúng ta không điều chỉnh hợp lý thì có thể dẫn đến những thiếu hụt nhất định về chất khoáng canxi, từ đó ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe, đặc biệt là mắc bệnh cường tuyến cận giáp. Bệnh cường tuyến cận giáp xảy ra là do các tuyến cận giáp tiết ra quá nhiều hormone cận giáp. Bệnh ảnh hưởng đến mọi người, với tỉ lệ mắc khoảng 1/800, tỉ lệ mắc bệnh ở phụ nữ cao gấp 3 lần ở nam giới, đặc biệt cao hơn nữa ở phụ nữ tuổi mãn kinh. Các bác sĩ đã nghiên cứu 58.300 phụ nữ, độ tuổi từ 39 đến 66, trong 12 năm (bắt đầu từ năm 1999, kết thúc năm 2011). Thời gian bắt đầu tiến hành nghiên cứu tất cả các phụ nữ này đều không có tiền sử bệnh cường tuyến cận giáp. Cứ 4 năm một lần, họ phải điền vào các bản khai cụ thể những thức ăn thường dùng, mật độ ăn thức ăn đó hoặc sử dụng viên thuốc có chứa canxi. Những phụ nữ này được chia thành 5 nhóm, tùy theo liều lượng canxi họ ăn vào. Các nhân tố như tuổi tác, tầm vóc, tình trạng gầy béo và chủng tộc cũng được đưa vào làm cơ sở nghiên cứu.   Canxi có nhiều trong các loại hạt, cá, thủy hải sản - Ảnh minh họa Kết quả là, nhóm sử dụng thức ăn chứa nhiều khoáng chất canxi nhất giảm được gần một nửa nguy cơ mắc bệnh cường tuyến cận giáp so với nhóm người sử dụng thức ăn ít canxi nhất. Vì vậy, lời khuyên của các chuyên gia y tế đưa ra là: Tăng lượng canxi chúng ta ăn vào, ưu tiên cho việc sử dụng những thức ăn giàu canxi và có thể bổ sung viên khoáng canxi theo sử chỉ dẫn của thầy thuốc để làm giảm nguy cơ mắc bệnh cường tuyến cận giáp ở phụ nữ. Tuy nhiên, chúng ta nên bổ sung khoáng chất canxi từ bữa ăn hàng ngày. Ngoài các vấn đề về xương và thận, thiếu canxi còn làm tăng nguy cơ mắc chứng huyết áp cao, bệnh đau tim và đột quị. Nghiên cứu cũng cho thấy, lượng canxi cung cấp quá ít trong bữa ăn hàng ngày là nguyên nhân tăng cao nguy cơ mắc một rối loạn hormone ở phụ nữ, có thể dẫn đến nứt rạn xương, loãng xương và bệnh sỏi thận. Ở người trưởng thành, mỗi người mỗi ngày cần một lượng khoảng 650mg canxi. Các loại hạt và cá (cá mòi, cá cơm) là nguồn cung cấp canxi phong phú. Ngoài ra, sữa và các sản phẩm từ sữa (phô mai, váng sữa, bơ) đã từ lâu được xem là nguồn cung canxi dồi dào. Các thức ăn khác chứa canxi khác bao gồm trái cây sấy khô, vừng, đậu nành và những loại rau có lá xanh thẫm. Vitamine D cũng quan trọng vì nó giúp cơ thể hấp thu và giữ lại canxi trong xương, làm xương khỏe mạnh, cứng cáp. Tuy nhiên, nếu cơ thể hấp thu quá nhiều canxi hơn m
Xem thêm

1 Đọc thêm

Hướng dẫn soạn bài : Thực hành phép tu từ Ẩn dụ và Hoán dụ

HƯỚNG DẪN SOẠN BÀI : THỰC HÀNH PHÉP TU TỪ ẨN DỤ VÀ HOÁN DỤ

THỰC HÀNH PHÉP TU TỪ ẨN DỤ VÀ HOÁN DỤ I. KIẾN THỨC CƠ BẢN Nhớ lại những điều cơ bản về ẩn dụ và hoán dụ: 1. Ẩn dụ là phép tu từ nghệ thuật được xây dựng dựa trên cơ sở những nét liên t­ưởng tư­ơng đồng. 2. Hoán dụ là phép tu từ nghệ thuật được xây dựng dựa trên cơ sở những nét liên tưởng tương cận (sự gần gũi nhau giữa hai sự vật, hiện tượng). 3. Ẩn dụ và hoán dụ đều được xây dựng dựa trên cơ sở liên tưởng nhưng cơ chế tạo lập có khác nhau (liên tưởng tương đồng và liên tưởng tương cận). II. RÈN KĨ NĂNG 1. Trong hai câu ca dao, các từ thuyền, bến, cây đa, con đò,... đúng là những từ không chỉ mang nghĩa gọi tên sự vật tồn tại trong hiện thực (thuyền, bến,...) mà còn mang nội dung ý nghĩa hoàn toàn khác. Các hình ảnh thuyền (con đò) - bến (cây đa) lần lượt tạo nên ý nghĩa tượng trưng cho hình ảnh người ra đi và người ở lại. Chính vì vậy câu (1) trở thành lời thề ­ước, hứa hẹn, nhắn nhủ về sự thủy chung. Câu (2) trở thành lời than tiếc vì thề x­a "lỗi hẹn". Các từ thuyền, bến ở câu (1) và cây đa bến cũ, con đò ở câu (2) có sự khác nhau nhưng chỉ là khác ở nội dung ý nghĩa hiện thực (chỉ sự vật). Xét về ý nghĩa biểu trưng, chúng là những liên tưởng giống nhau (đều mang ý nghĩa hàm ẩn chỉ người đi - kẻ ở). Để hiểu đúng ý nghĩa hàm ẩn này, thông thường chúng ta giải thích rằng : Các sự vật thuyền - bến - cây đa, bến cũ - con đò là những vật luôn gắn bó với nhau trong thực tế. Vì vậy chúng được dùng để chỉ "tình cảm gắn bó keo sơn" của con người. Bến, cây đa, bến cũ mang ý nghĩa hiện thực chỉ sự ổn định, vì thế nó giúp người ta liên tưởng tới hình ảnh người phụ nữ, tới sự chờ đợi, nhung nhớ, thủy chung. Ng­ược lại thuyền, con đò thường di chuyển không cố định nên được hiểu là người con trai, hiểu là sự ra đi. Có nắm được quy luật liên tưởng như vậy, chúng ta mới hiểu đúng ý nghĩa của các câu ca dao trên. 2. a) Trong câu thơ: Dư­ới trăng quyên đã gọi hè Đầu tư­ờng lửa lựu lập lòe đơm bông. Nhà thơ Nguyễn Du đã dùng hai hình ảnh chim đỗ quyên và hoa lựu để cùng biểu đạt ý nghĩa : mùa hè đã đến. Cả hai hình ảnh này đều là những dấu hiệu báo hè (chim đỗ quyên kêu và hoa lựu nở đều vào thời điểm mùa hè). Vì thế nhìn vào hai dấu hiệu ấy, người ta có thể nghĩ ngay đến sự khởi đầu của mùa hè. Lửa lựu còn gợi liên tưởng đến sức ấm nóng của mùa hè. * Chú ý : Thực ra hai hình ảnh chim quyên và hoa lựu nở cũng có thể hiểu là hai hoán dụ. Bởi mùa hè - chim quyên - hoa lựu đều có thực và gắn bó chặt chẽ với nhau trong thực tế (nghĩa là chúng có mối liên hệ tương cận với nhau). Nhưvậy chỉ có hình ảnh lửa lựu (sức nóng của mùa hè) ở trong câu này là được xây dựng dựa trên cơ sở liên tưởng tương đồng "thực sự" mà thôi. b) Vứt đi những thứ văn nghệ ngòn ngọt, bày ra sự phè phỡn thoả thuê hay cay đắng chất độc của bệnh tật, quanh quẩn vài tình cảm gầy gò của cá nhân co rúm lại. Chúng ta muốn có những tiểu thuyết, những câu thơ thay đổi được cả cuộc đời người đọc – làm thành người, đẩy chúng ta đến một sự sống trước kia chỉ đứng xa nhìn thấp thoáng. Cụm từ "làm thành người" là một ẩn dụ được xây dựng dựa trên cơ sở liên tưởng về cách thức. Từ "làm thành" thường dùng để chỉ quá trình thực hiện một việc gì đó (từ ch­a được đến được, từ ch­a tốt đến tốt...). Quá trình nhận thức của con người cũng diễn ra như vậy. Do đó làm thành người cũng hiểu là nên người - nghĩa là biết nhận thức đúng đắn về cuộc sống. c) Ơi con chim chiền chiện – Hót chi mà vang trời – Từng giọt long lanh rơi – Tôi đưa tay tôi hứng Đoạn thơ này cũng giống hai câu thơ của Nguyễn Du. Ở đây, hình ảnh chim chiền chiện, giọt s­ương rơi (giọt long lanh) là những dấu hiệu báo mùa xuân đến. Ẩn dụ này được xây dựng dựa trên cơ sở liên tưởng dấu hiệu đặc trưng - mùa. d) Thác bao nhiêu thác cũng qua – Thênh thênh là chiếc thuyền ta trên đời Câu thơ có hai hình ảnh ẩn dụ : Thác - chỉ những khó khăn vất vả, những thử thách. Chiếc thuyền - chỉ con đường cách mạng, chỉ con đường của cả nước non mình. Câu thơ xây dựng hình ảnh ẩn dụ dựa trên những liên tưởng có thực (thác - khó khăn, con thuyền - sức v­ượt qua) để nói lên sức sống và sức vư­ơn lên mãnh liệt của cả dân tộc chúng ta. e) Câu thơ cũng có hai hình ảnh ẩn dụ : Phù du (liên tưởng đến cuộc đời nổi trội, ngắn ngủi) và phù sa (cuộc sống sung sướng, hạnh phúc, ấm no). Có liên tưởng này vì phù du là một loài côn trùng có cuộc đời ngắn ngủi, trái lại phù sa là "chất dinh dưỡng" tốt nuôi sống cây trái trên đồng. Dùng hai hình ảnh ẩn dụ này, nhà thơ Chế Lan Viên muốn so sánh cuộc đời xư­a và nay. Từ đó mà khẳng định giá trị và ý nghĩa nhân văn của cuộc sống hôm nay. 3. Ví dụ một số câu văn có dùng phép ẩn dụ : a) Tôi đang nói đến cuộc sống đau thương và không hiểu sao, tôi lại nghĩ ngay đến "các vị la Hán chùa Tây Phương" của nhà thơ Huy Cận. b) Đất trời trở mình sang mùa, đã thấy cái lành lạnh của gió. c) Ông T­ vẫn ngồi đó. Ông đang nhớ về cái đêm tối tăm nhất của đời ông. 4. a) Đầu xanh đã tội tình gì - Má hồng đến quá nửa thì chưa thôi Nhà thơ Nguyễn Du dùng từ đầu xanh với ý nghĩ chỉ tuổi trẻ, từ má hồng với ý nghĩ chỉ người con gái đẹp, một mĩ nhân. Cả hai từ này đều dùng để ám chỉ nhân vật Thúy Kiều. Cũng như vậy, Tố Hữu dùng cụm từ áo nâu, áo xanh (Áo nâu liền với áo xanh – Nông thôn liền với thị thành đứng lên) để chỉ hai lớp người trong xã hội: nông dân và công nhân. Trong cả hai trư­ờng hợp này, các nhà thơ đã dùng những từ chỉ bộ phận của cơ thể (đầu, má) hay chỉ những trang phục quen dùng (áo xanh, áo nâu) để chỉ con người. Cách gọi tên này chẳng những tránh được sự nhầm nhọt, mòn sáo mà còn đem lại niềm vui thích và gợi ra những tình ý sâu xa. b) Trong tr­ường hợp, khi chúng ta gặp phải một đối tượng đã bị tác giả thay đổi cách gọi tên, để hiểu đúng được đối tượng ấy, chúng ta phải chú ý xem tác giả đã chọn cái gì để thay thế các đối tượng ấy. Cái được tác giả chọn để thay thế thường là một bộ phận, một tính chất, một đặc điểm nào đó... tiêu biểu. Phương thức chuyển đổi nghĩa này là phép tu từ hoán dụ. Nó giúp cho việc gọi tên sự vật, hiện tượng... trở nên phong phú, sinh động và hấp dẫn hơn. Các trường hợp này đều là hoán dụ tu từ. 5. Nguyễn Bính viết : Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông Cau thôn Đoài nhớ trầu không thôn nào ? Trong câu thơ này, hai hình ảnh thôn Đoài, thôn Đông là hai hình ảnh hoán dụ dùng để chỉ "người thôn Đoài" và "người thôn Đông". Còn hai hình ảnh cau thôn Đoài và trầu không thôn nào lại là những ẩn dụ dùng để chỉ những người đang yêu. Hai câu thơ là một lời tỏ tình thú vị. Đích của lời nói tuy vẫn hướng về người yêu. Thế nhưng cách nói bâng quơ theo kiểu ngôn ngữ tỏ tình của trai gái đã tạo ra một sự thích thú đặc biệt cho những người tiếp nhận nội dung của câu thơ. - Cùng là bày tỏ nỗi nhớ người yêu nhưng nếu câu ca dao Thuyền ơi có nhớ bến chăng...? sử dụng những liên tưởng có phần mòn sáo thì câu thơ của Nguyễn Bính (Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông) lại có những liên tưởng vô cùng mới mẻ. Những liên tưởng này tạo ra nét đẹp riêng và sự thích thú, hấp dẫn cho mỗi câu thơ. 6. Ví dụ một số câu văn có dùng phép tu từ hoán dụ : a) Trước Cách mạng tháng Tám, nông dân của ta đều là những Chị Dậu, Lão Hạc, anh Pha cả. b) Nhà nó có mỗi bốn miệng ăn. Vậy mà vợ chồng nó lúc nào cũng ngư­ợc xuôi vất vả. c) Người ta ba bốn chục tuổi đầu đã có nhà cao cửa rộng. Đằng này, đã ngoài bốn chục mà nó vẫn cứ nhởn nhơ phè phỡn như không. Sáng sáng, nó ngủ dậy, phi xe ra ngoài phố, ăn bát phở mà có khi đến tận m­ời giờ. Ăn xong lại rong ruổi đi các phố. Người ta bảo nó là một tay chơi. Tôi chẳng biết, chỉ biết cờ bạc, r­ượu chè, lô đề,... nó đều thông thạo cả. Khổ thân nhất là bà già nhà nó. Lá vàng sắp rụng đến nơi mà vẫn phải khòng l­ưng quẩy gánh ngày ngày kiếm vài ba chục để nuôi kẻ đầu xanh.
Xem thêm

4 Đọc thêm

KIỂM TRA HÓA CHẤT KÉM CHẤT LƯỢNG ĐỂ TIÊU HỦY

KIỂM TRA HÓA CHẤT KÉM CHẤT LƯỢNG ĐỂ TIÊU HỦY

PHÒNG GD&ĐT CHÂU THÀNHTRƯỜNG THCS GIỤC TƯỢNGCộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt NamĐộc lập – Tự Do – Hạnh PhúcBIÊN BẢNKIỂM TRA HÓA CHẤT KÉM CHẤT LƯỢNG ĐỂ TIÊU HỦYNăm học: 2013 – 2014.Hôm nay vào lúc 7 giờ 30 phút ngày 21 tháng 04 năm 2014. Tại trường THCS Giục Tượng thành phần thamdự gồm có:1 - Ông Trần Quang Dũng: Phụ trách thiết bị.2 - Bà Phạm Kim Liên: Giáo viên dạy hóa3 - Bà Huỳnh Hải Yến: Giáo viên dạy hóaTiến hành kiểm tra các hóa chất kém chất lượng, hết hạn sử dụng, mất nhã để tập chung tiêu hủy.TT010203040506070809101112131415
Xem thêm

4 Đọc thêm

BÁO CÁO TỔNG KẾT NĂM HỌC TRƯỜNG THCS (2)

BÁO CÁO TỔNG KẾT NĂM HỌC TRƯỜNG THCS (2)

UBND HUYỆN CHÂU THÀNHPHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠOCỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc Lập – Tự Do – Hạnh PhúcChâu Thành, ngày 09 tháng 5 năm 2011Kính gửi: Hiệu trưởng các trường THCS, PTDTNT huyện Châu Thành.Căn cứ Hướng dẫn số 109/SGDĐT-GDTrH&TX ngày 09/5/2011 của SởGD&ĐT Kiên Giang về việc Hướng dẫn báo cáo tổng kết giáo dục trung học nămhọc 2010-2011; Bộ phận chuyên môn- Phòng Giáo dục và Đào tạo Châu Thànhyêu cầu các trường thực hiện báo cáo tổng kết như sau:I. Nội dung cần báo cáo:1. Báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ giáo dục trung học năm học 2010-2011(Mẫu 1, file Word);2. Kết quả xếp loại hạnh kiểm, học lực học kỳ 2, cả năm (Mẫu 2, file Excel);3. Thống kê số học sinh (Mẫu 3, file Excel);4. Thống kê số trường (Mẫu 4, file Excel);5. Trường, lớp, học sinh được học 2 buổi/ ngày (Mẫu 5-6, file Excel);6. Trường đạt chuẩn QG, đạt chuẩn THTT-HSTC (Mẫu 7-8, file Excel);7. Báo cáo tổng kết cuối năm học của tổ bộ môn (Mẫu 9, file Word).Lưu ý: Lưu báo cáo tại hồ sơ của trường từ năm học 2010-2011 trở đi.II. Thời gian báo cáo:Các trường gửi báo cáo về bộ phận THCS-Phòng GD&ĐT Châu Thành (Đ/cTài) bằng văn bản có đóng dấu (01 bản) và USB. Báo cáo hạn chót vào ngày23/5/2011Lưu ý: báo cáo phải đủ nội dung và đúng biểu mẫu như hướng dẫn.BỘ PHẬN THCS
Xem thêm

1 Đọc thêm

BÁO CÁO ĐẦU TƯ DỰ ÁN TRANG TRẠI ĐỘNG VẬT HOANG DÃ

BÁO CÁO ĐẦU TƯ DỰ ÁN TRANG TRẠI ĐỘNG VẬT HOANG DÃ

- Căn cứ các pháp lý khác có liên quan;1.2. Tình hình bảo tồn động vật hoang dã Việt NamViệt Nam là một trong số các nước Đông Nam Á có sự đa dạng sinh học cao. Nhưngtrong thời gian gần đây diện tích rừng bị thu hẹp lại, nạn buôn bán động vật hoang dã vẫncòn tiếp diễn. Không chỉ ở Việt Nam mà còn diễn ra ở các quốc gia trong khu vực và cácchâu lục khác đã và đang hình thành m ạng lưới buôn bán động vật hoang dã xuyên biên giới.Chính vì khu vực sống của các loài động vật hoang dã bị thu hẹp lại, số lượng cá thể giảmnhanh chóng nên nhiều loài có nguy cơ tuyệt chủng cao trên quy mô toàn cầu. Do đó, đadạng sinh học nói chung và động vật hoang dã của Việt Nam nói riêng đang phải đối mặt vớimột thách thức lớn về vấn đề bảo tồn.Nguyên nhân chung dẫn đến vấn nạn săn bắt và buôn bán động vật hoang dã xuyên biêngiới diễn biến phức tạp, trên quy mô lớn là do dân số tăng cao, dân trí thấp và đặc biệt là lợinhuận khổng lồ thu về từ việc kinh doanh các động vật hoang dã và các sản phẩm của nó.Bên cạnh đó, yếu tố văn hóa cũng góp phần khuyến khích tiêu thụ các sản phẩm từ động vậthoang dã. Trong giới thượng lưu, nhu cầu này ăn sâu bén rễ tới mức họ sẵn sàng chấp nhậnTrang 2Dự án đầu tư Trang trại động vật hoang dã Heo Rừng Miền Tâybất cứ mức giá nào để có được các món như sừng tê giác, cao hổ cốt…Việt Nam hiện tạiđang là điểm đến và là trạm trung chuyển của nhiều tổ chức tội phạm buôn bán động vậthoang dã. Do lợi nhuận từ việc săn bắt, buôn bán động vật hoang dã mà nhiều loài đang bịtận thu, số lượng bị suy giảm nhanh chóng và đang có nguy cơ tuyệt chủng rất cao. Phongtrào đi săn bắt và buôn bán xảy ra rầm rộ, đối với tất cả loài bò sát (rùa, rắn..). Hàng năm cókhoảng 10.000 tấn rùa thuộc các loài ra khỏi rừng và bị xuất sang biên giới. Kết quả là ViệtNam có 23 loài rùa cạn và 5 loài rùa nước thì tất cả các loài đều đứng trước nguy cơ biếnmất.Trước những thách thức đó, tại châu Á, các trang trại gây nuôi động vật hoang dã vì mụcđích thương mại đang được phát triển mạnh mẽ về số lượng. Mới đây, Hiệp hội bảo tồn động
Xem thêm

41 Đọc thêm

Đề thi học kì 2 môn Lịch Sử lớp 6 năm 2014 (P2)

ĐỀ THI HỌC KÌ 2 MÔN LỊCH SỬ LỚP 6 NĂM 2014 (P2)

ĐỀ THI HỌC KÌ 2 MÔN SỬ LỚP 6 NĂM 2014 - ĐỀ SỐ 3 I. Trắc nghiệm khách quan: (4 điểm)  Câu 1: Khoanh tròn chỉ một chữ cái đứng trước câu trả lời đúng : (2đ) 1. Chính sách thâm độc nhất của các triều đại phong kiến phương Bắc đối với nước ta là: A. Bóc lột tô thuế                      B. Cống nạp nặng nề C. Đồng hoá nhân dân ta          D. Chia ra để trị 2. Khởi nghĩa Phùng Hưng nổ ra vào năm: A. 248            B. 542               C. 722               D. 776 3. Nét độc đáo của văn hoá Chămpa là: A. Tháp Chăm               B. Chữ viết      C. Tôn giáo           D. Không có 4. Người lãnh đạo nhân dân huyện Tượng Lâm đấu tranh giành độc lâp là: A. Mai Thúc Loan              B. Khu Liên C. Lý Bí                           D. Phùng Hưng Câu 2: Nối thời gian ở cột A với sự kiện ở cột B sao cho đúng (2đ) A (Thời gian) B (Sự kiện lịch sử) 1. Năm 544 a) Hai Bà Trưng hy sinh 2. Năm 722 b) Cuộc kháng chiến chống quân Lương thắng lợi 3. Tháng 3/43 c) Lý Bí lên ngôi hoàng đế 4. Năm 550 d) Khởi nghĩa Mai Thúc Loan bùng nổ II. Tự luận: (6đ)  Câu 3: Tình hình kinh tế nước ta từ thế kỉ I - thế kỉ VI có gì thay đổi? (2đ) Câu 4: Trình bày diễn biến cuộc khởi nghĩa của Lý Bí. Vì sao các hào kiệt hưởng ứng sôi nổi cuộc khởi nghĩa? Em có suy nghĩ gì về việc Lý Nam Đế đặt tên nước là Vạn Xuân? (4đ)  ĐỀ THI HỌC KÌ 2 MÔN SỬ LỚP 6 NĂM 2014 - ĐỀ SỐ 4 I. Trắc nghiệm khách quan: (4 điểm) Câu 1: Nối thời gian ở cột A với sự kiện tương ứng ở cột B cho đúng (2đ) A (Thời gian) B (Sự kiện lịch sử) a) Năm 542 1. Khởi nghĩa Mai Thúc Loan b) Năm 544 2. Nước Vạn Xuân thành lập c) Năm 679 3. Khởi nghĩa Phùng Hưng d) Năm 722 4. Khởi nghĩa Lý Bí bùng nổ   5. Nhà Đường đổi Giao Châu thành An Nam đô hộ phủ Câu 2: Hãy chọn và điền những cụm từ cho sẵn dưới đây vào chỗ (…) cho đúng (2đ):  Đồng lầy lội.               Cao khô ráo.             Dùng thuyền nhỏ.  Lau sậy um tùm.            Thuyền độc mộc.  Dạ trạch là một vùng …......……….......…mênh mông ........................................  ………. Ở giữa có một bãi đất .........….................… , có thể ở được. Đường vào bãi rất kín đáo, khó khăn , chỉ có thể….................................., chống sào lướt nhẹ trên đám cỏ nước, theo mấy con lạch nhỏ mới tới được.   II. Tự luận (6đ)   Câu 3: Trình bày nguyên nhân , diễn biến, ý nghĩa cuộc khởi nghĩa của Lý Bí năm 542. (4đ) Câu 4: Hãy nêu tình hình kinh tế nước Chăm pa từ thế kỉ II đến thế kỉ X. Người Chămpa và người Việt có mối quan hệ như thế nào trong cuộc sống. (2đ) Tuyensinh247 sẽ tiếp tục cập nhật đề thi học kì 2 các môn lớp 6 các em thường xuyên theo dõi.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Thực trạng và giải pháp cấp nước sinh hoạt huyện Châu Thành tỉnh Kiên Giang

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CẤP NƯỚC SINH HOẠT HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH KIÊN GIANG

Khóa luận tìm hiểu về thực trạng của việc sử dụng nước sinh hoạt trên địa bàn xã Minh Hòa huyện Châu Thành tỉnh Kiên Giang. Với việc sử dụng nguồn nước không hợp vệ sinh đã ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe cũng như sức lao động của người dân. Thông qua việc điều tra 50 hộ dân sống ven kênh Chàm Chẹt – Chưng Bầu, tác giả tiến hành nghiên cứu về các nguyên nhân làm cho người dân tại khu vực này chưa thể tiếp cận được nguồn nước sinh hoạt hợp vệ sinh. Trên cơ sở phân tích lợi ích – chi phí tác giả ước lượng chi phí mà người dân phải chi cho một lượng nước sử dụng. Các kết quả về ước lượng này là cơ sở đánh giá những thiệt hại cũng như dự báo tình hình bệnh tật do việc sử dụng nguồn nước không hợp vệ sinh đối với người dân. Dựa vào các nguyên nhân cũng như những đánh giá và dự báo đó tác giả đưa ra các giải pháp cho từng nguyên nhân. Đồng thời các khuyến nghị đến các cơ quan chức năng cũng được đưa ra nhằm nâng cao tỷ lệ người dân được thụ hưởng chương trình Nước sạch Vệ sinh môi trường.CHƯƠNG 1MỞ ĐẦU1.1 Đặt vấn đềTrong nhiều thập kỷ gần đây, Thế Giới có sự chuyển biến mạnh mẽ. Nền kinh tế phát triển vượt bậc. Với nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật con người đã tạo nhiều của cải phục vụ cho đời sống hàng ngày. Nhiều nhà máy xí nghiệp được thành lập. Bên cạnh đó vấn đề ô nhiễm môi trường và sự thiếu hụt nguồn nước sạch phục vụ cho con người ngày càng trầm trọng. Theo ông Loic Fauchon, “Khó khăn khi khai thác nguồn nước uống có chất lượng đưa nhân loại đối mặt với hiểm nguy gấp 10 lần so với tác hại của chiến tranh. Đây là đe dọa nghiêm trọng đối với các nước xảy ra tình trạng khủng hoảng nước sạch”.Ở Việt Nam, nhiều năm qua nền kinh tế đã có những chuyển biến tích cực. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân rất cao, đứng thứ hai Thế Giới. Với đường lối công nghiệp hoá hiện đại hóa đất nước, bộ mặt đất nước ngày càng thay đổi. Đời sống người dân ngày càng được nâng cao lên. Trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức WTO, Việt Nam đang đứng trước cơ hội phát triển nhanh chóng hơn nữa. Tuy nhiên, với sự bùng nổ về kinh tế thì vấn đề ô nhiễm môi trường sống của con người ngày càng gay gắt hơn. Trên cả nước, số làng ung thư xuất hiện ngày càng nhiều. Bên cạnh đó vấn đề cung cấp nước sinh hoạt phục vụ nhu cầu hàng ngày của người dân cũng là một vấn đề cần được quan tâm, đặc biệt là vùng nông thôn.Hiện nay, chỉ có khoảng 70 % dân số nông thôn Việt Nam được sử dụng nước sạch. Chính vì vậy từ năm 1998, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định 2371998QĐ – TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn (NS VSMTNT), đồng thời quyết định tuần lễ từ ngày 29 – 4 đến 6 – 5 hàng năm là tuần lễ nước sạch và vệ sinh môi trường.Xã Minh Hòa huyện Châu Thành tỉnh Kiên Giang nằm ở khu vực nông thôn. Xã nằm trong Chương trình mục tiêu Quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường của tỉnh. Vấn đề NS VSMT của huyện có nhiều chuyển biến. Tuy nhiên vẫn còn nhiều vấn đề tồn đọng, cần giải quyết nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân thuộc khu vưc nông thôn. Để tìm hiểu vấn đề vệ sinh môi trường và cấp nước sinh hoạt của huyện tôi đã tiến hành thực hiện đề tài “THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CẤP NƯỚC SINH HOẠT TRÊN ĐỊA BÀN XÃ MINH HÒA HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH KIÊN GIANG”.1.2 Mục tiêu của đề tàiMục đích: nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân khu vực nông thôn thông qua hoạt động cung cấp nước sạch đến từng hộ gia đình đồng thời cải thiện môi trường sinh sống của họ.Mục tiêu cụ thể: tìm hiểu về vấn đề cấp nước sinh hoạt trên địa bàn xã Minh Hòa. Từ thực trạng trên, chúng tôi đưa ra các giải pháp nhằm giải quyết các vấn đề còn tồn đọng.1.3 Phạm vi nghiên cứuKhông gian: xã Minh Hòa – huyện Châu Thành – tỉnh Kiên Giang.Thời gian nghiên cứu: từ ngày 2 – 5 đến 7 – 7 – 2007.1.4 Cấu trúc của khóa luậnLuận văn bao gồm 5 chương:Chương 1: Đặt vấn đềChương 2: Tổng quan Chương 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứuChương 4: Kết quả và thảo luậnChương 5: Kết luận và đề nghịNội dung từng chương như sau:Chương 1: Giới thiệu khái quát về tình hình sử dụng nước sạch trên Thế Giới và Việt Nam cũng như những thách thức đối với cuộc sống của con người. Bên cạnh đó cũng nêu mục tiêu nghiên cứu của của đề tài, không gian và thời gian thực hiện đề tài.Chương 2: Giới thiệu khái quát về địa bàn nghiên cứu. Các vấn đề được đề cập đến là điều kiện tự nhiên trong đó chú trọng đến các nguồn tài nguyên nước của huyện; các vấn đề về kinh tế xã hội. Từ đó nêu lên các nhận xét về khả năng phát triển kinh tế cũng như cải thiện môi trường sống của người dân.Chương 3: Giới thiệu một số khái niệm về môi trường, các loại ô nhiễm môi trường, nguồn gốc và các tác động của ô nhiễm nguồn nước đối với cuộc sống của người dân, khái niệm về nước sạch, tiêu chuẩn nước sinh hoạt.Trình bày các phương pháp chủ yếu trong việc đánh giá các tác động của môi trường đến con người.Nêu lên các phương pháp nghiên cứu như phương pháp thu thập và phân tích số liệu làm công cụ cho quá trình nghiên cứu.Chương 4: Đây là chương trọng tâm của đề tài Chương này nêu lên các kết quả của quá trình thu thập và phân tích số liệu. Thực trạng cấp nước sinh hoạt trên địa bàn xã được làm rõ cũng như những tác động của nó đến sức khỏe của người dân. Đồng thời phân tích kinh tế của việc sử dụng nguồn nước không hợp vệ sinh. Từ đó đưa ra các giải pháp cần thiết để giải quyết vấn đề.Chương 5:Trên cơ sở nghiên cứu đạt được và các ý nghĩa rút ra rừ kết quả nghiên cứu, chúng tôi đưa ra những kiến nghị để Chương trình mục tiêu Quốc gia về NS VSMTNT trên địa bàn xã được thực hiện tốt hơn.
Xem thêm

68 Đọc thêm

TIỂU LUẬN CAO HỌC THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CÔNG TÁC ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG TỆ NẠN XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG TỪ NĂM 2010 2015

TIỂU LUẬN CAO HỌC THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CÔNG TÁC ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG TỆ NẠN XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG TỪ NĂM 2010 2015

PHẦN MỞ ĐẦU Trong những năm qua vấn đề tệ nạn xã hội và đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hội đã được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm và bước đầu thu được những kết quả đáng khả quan. Đã từng bước hoàn thiện được các văn bản pháp luật về phòng, chống tệ nạn xã hội, tăng cường sự chỉ đạo triển khai thực hiện các chương trình hành động quốc gia về công tác này, giảm được các tụ điểm tệ nạn xã hội phức tạp. Tuy nhiên, quá trình toàn cầu hóa với các mặt trái của nó đang làm nảy sinh và lan nhanh nhiều tệ nạn xã hội mới như cá độ bóng đá qua internet, nghiện game, ảnh hưởng văn hóa phẩm đồ trụy du nhập từ bên ngoài, xâm hại tình dục trẻ em... Số người mắc các loại tệ nạn xã hội vẫn có xu hướng gia tăng và diễn biến phức tạp trên diện rộng, đặc biệt là các tệ nạn ma tuý, cờ bạc, xâm hại tình dục trẻ em... Hàng năm Nhà nước ta từ Trung ương đến địa phương phải chi ra hàng ngàn tỉ đồng cùng với một lực lượng lớn về con người để tập trung đấu tranh triệt phá các ổ nhóm, đường dây buôn bán ma tuý, mại dâm, buôn bán phụ nữ và trẻ em. Tổ chức chữa bệnh, cai nghiện phục hồi và tái hoà nhập cộng đồng cho người nghiện ma tuý và gái mại dâm, song hiệu quả chưa cao. Tỷ lệ tái phạm còn rất lớn. Hàng ngày, hàng giờ bộ phận dân cư mắc các tệ nạn xã hội đã tiêu phí một lượng tiền rất lớn ném vào ma túy, ăn chơi sa đoạ, không những không mang lại lợi ích kinh tế. Ngược lại làm cho một bộ phận dân cư này ngày càng rơi vào tình trạng đói nghèo, ảnh hưởng tới sự phát triển của giống nòi và nguồn nhân lực của đất nước trong tương lai, làm phát sinh tội phạm. Tệ nạn xã hội gia tăng, gây mất an ninh trật tự, làm xói mòn đạo đức, làm sai lệch những chuẩn mực và giá trị truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc, phá hoại hạnh phúc của mỗi con người, mỗi gia đình, đe doạ đến tính mạng, sức khoẻ của nhân dân. Sự gia tăng của tệ nạn xã hội còn là nguyên nhân chủ yếu làm lây lan nhanh căn bệnh HIVAIDS trong cộng đồng dân cư. Nằm trong xu thế chung, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang trong những năm qua với quyết tâm cao của các cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân toàn huyện theo chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước. Thực hiện tích cực quá trình hội nhập quốc tế, Châu Thành đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Đáng chú ý là an ninh, trật tự luôn được giữ vững và đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần cho sự phát triển các lĩnh vực khác của toàn huyện. Tuy nhiên, số người mắc các loại tệ nạn xã hội trên toàn huyện vẫn có xu hướng gia tăng và diễn biến phức tạp, đặc biệt là các tệ nạn ma tuý, cờ bạc, xâm hại tình dục trẻ em... Đang là vấn đề gây bức xúc, gây dư luận bất bình trong quần chúng nhân dân. Nếu chúng ta không có những giải pháp ngăn chặn có hiệu quả thì tệ nạn xã hội trở thành mối đe dọa, kéo theo những hậu quả khôn lường cho xã hội, gây mất an ninh trật tự trên địa bàn. Xuất phát từ sự cần thiết nêu trên, tôi chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp công tác đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hội trên địa bàn huyện Châu Thành, tỉnh An Giang từ năm 2010 2015” để sau khi ra trường tôi áp dụng vào thực tiễn tốt hơn, góp phần giữ vững an ninh trật tự trên địa bàn huyện.
Xem thêm

32 Đọc thêm

THỜI XA VẮNG – TỪ VĂN HỌC ĐẾN ĐIỆN ẢNH (DƯỚI GÓC NHÌN TỰ SỰ HỌC)

THỜI XA VẮNG – TỪ VĂN HỌC ĐẾN ĐIỆN ẢNH (DƯỚI GÓC NHÌN TỰ SỰ HỌC)

2. LịCH Sử VấN Đề 2.1. Tự sự học ở Việt Nam Trên thế giới, Tự sự học từ lâu đã không còn là thuật ngữ xa lạ, những vấn đề về lý thuyết đã được định hình thành hệ thống và Tự sự học ngày càng được mở rộng và phát triển. Với những ưu điểm của mình Tự sự học ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong việc khám phá lí giải thế giới nghệ thuật ngôn từ. Mặc dù thế giới đã đi qua hai giai đoạn của Tự sự học: Tự sự học kinh điển và Tự sự học hậu kinh điển nhưng ở Việt Nam Tự sự họcvẫn còn là một hướng nghiên cứu hết sức mới mẻ. Các vấn đề về dịch thuật, các khái niệm trong cấu trúc truyện kể như điểm nhìn trần thuật, ngôi kể, phối cảnh trần thuật …vẫn còn phức tạp chồng chéo gây nhiều tranh cãi đặc biệt là các công trình quan trọng của ba nhà Tự sự học lớn R.Barthes, G.Genette, T.Todorov vẫn chưa được dịch thuật một cách hệ thống. Hội thảo Tự sự học đầu tiên do khoa Ngữ văn trường Đại học sư phạm Hà Nội tổ chức vào năm 2001 (với 76 bản tham luận của nhiều nhà nghiên cứu thuộc nhiều trường đại học và cơ quan nghiên cứu văn học trên cả nước tham gia) và tiếp đó là việc xuất bản công trình: Tự sự học –một số vấn đề lí luận và lịch sử (Nxb Đại học sư phạm Hà Nội, 2003) đã đánh dấu mốc son chính thức ghi nhận sự xuất hiện của Tự sự học ở nước ta. Sau bảy năm, xuất phát từ nhu cầu lí luận, thực tiễn năm 2008 khoa Ngữ văn tiếp tục tổ chức hội thảo Tự sự học lần thứ với 62 bản tham luận. Bên cạnh các bài viết giới thiệu lí thuyết Tự sự học ở nhiều phương diện còn có các bài viết mang tính ứng dụng cao. Hai cuộc hội thảo đã cho thấy tình hình nghiên cứu Tự sự học ở nước ngoài cũng như ở Việt Nam. Có thể coi đây là một hoạt động khoa học quan trọng trong việc xây dựng tiền đề cho ngành Tự sự học ở nước ta. Năm 2010 ban Văn học nước ngoài của Viện văn học đã triển khai thực hiện đề tài Tự sự học, lí luận và ứng dụng. Công trình khoa học này tập trung nghiên cứu tự sự từ những vấn đề lịch sử, lí thuyết đến ứng dựng ở một số nền văn học như Trung Quốc, Anh, Pháp, Mỹ, Nga, Nhật Bản, Ấn Độ và chủ yếu là ở Việt Nam. Một phần các kết quả nghiên cứu đó (Với 10 mục bài được lựa chọn bao gồm cả hai phần lí thuyết và ứng dụng ) đã được tuyển tập trong chuyên đề Tự sự học in trong tạp chí Nghiên cứu văn học số 9 năm 2010. Có thể khẳng định rằng công trình khoa học của Viện văn học đã góp phần to lớn tạo nên sự phát triển của ngành khoa học còn khá mới mẻ này. Hiện nay GS Trần Đình Sử chủ nhiệm một đề tài lớn, đầy đủ và toàn diện vềTự sự học mang tên Nafosted tuy nhiên đề tài vẫn đang trong quá trình hoàn thiện. Cho nên xét trên những tài liệu đã được công bố thì có thể thấy tuy đến Việt Nam khá muộn nhưng Tự sự học đã được các nhà khoa học nước ta đón nhận và hưởng ứng rộng rãi với một tâm thế chủ động và bước đầu đã gặthái được những thành công đáng trân trọng. Trước hết các nhà nghiên cứu của ta đã nỗ lực dịch và giới thiệu những vấn đề lý thuyết Tự sự học trên các phương diện như lịch sử phát triển, các xu hướng, các khái niệm Tự sự học đương đại…Có thể kể đến các công trình dịch thuật như Độ không của lối viết của R.Barthes do Nguyên Ngọc dịch; Cơ sở của kí hiệu học của R.Barthes do Trịnh Bá Đĩnh trích dịch; Thi pháp văn xuôi của T.Todorov do Đặng Anh Đào và Lê Hồng Sâm dịch; Dẫn luận về Tự sự học của Susanna Onega và J.A.Garcia Landa do Lê Lưu Oanh và Nguyễn Đức Nga dịch; Diễn ngôn mới của truyện kể của G.Genette do Lê Phong Tuyết trích dịch; Hai nguyên tắc của truyện kể của T.Todorov do Phùng Ngọc Kiên dịch;Nhập môn phân tích cấu trúc truyện kể của Roland Barthes do Tôn Quang Cường dịch; Các khái niệm và thuật ngữ của các trường phái nghiên cứu văn học ở Tây Âu và Hoa Kỳ thế kỷ XX của nhóm những nhà nhiên cứu Nga do Đào Tuấn Ảnh, Trần Hồng Vân và Lại Nguyên Ân dịch...Những nghiên cứu trên mang ý nghĩa chủ yếu là giới thiệu lí thuyết Tự sự học dù bước đầu còn mới mẻ và ở các cấp độ khác nhau nhưng nhìn chung khá chi tiết và chuyên sâu.Vấn đề mà các nhà nghiên cứu quan tâm tập trung vào một số điểm cơ bản sau đây: 1Lịch sử quá trình phát triển và mục đích của Tự sự học khi xác định văn học như là đối tượng nghiên cứu cơ bản và chủ yếu, xác định thuật ngữ, chọn dùng khái niệm Tự sự học; 2 Giới thiệu những vấn đề cơ bản của lí thuyết Tự sự học hiện đại đặc biệt là những phương diện về trần thuật. Song song với việc biên dịch, giới thiệu, việc vận dụng lí thuyết Tự sự học vào nghiên cứu văn học ở Việt Nam ngày càng được quan tâm và triển khai một cách sâu rộng. Trước hết phải kể đến công trình nghiên cứu công phu 20 năm (19812001) của GS Trần Đình Sử mang tên Thi pháp truyện Kiều. Công trình Những vấn đề thi pháp của truyện của tác giả Nguyễn Thái Hòa xuất bản năm 2000. Năm 2008, tác giả Đào Duy Hiệp cho ra mắt tác phẩm Phê bình văn học từ lí thuyết hiện đại. Ở quy mô nhỏ hơn lí thuyết Tự sự học đã được các tác giả vận dụng khi tìm hiểu các tác phẩm trong và ngoài nước in trên các báo, tạp chí và đặc biệt là in chung trong hai cuốn sách Tự sự học, một số vấn đề lí luận và lịch sử do nhà xuất bản Đại học Sư phạm phát hành. Ngoài ra lý thuyết Tự sự học cũng trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều luận án tiến sĩ đã cho thấy Tự sự học ngày càng thu hút được sự chú ý của các nhà nghiên cứu nước nhà.Tự sự học là môn khoa học rất phức tạp bao gồm nhiều vấn đề do đó dẫn tới sự phong phú trong các đề tài nghiên cứu. Các nhà nghiên cứu có thể chọn nhiều cách thức khác nhau như chọn một vấn đề trong cấu trúc tự sự (người kể chuyện, cốt truyện, kết cấu, không gian, thời gian…) hoặc có thể tổng hợp nhiều vấn đề (nghệ thuật tự sự, thế giới nghệ thuật…). Tuy nhiên nghiên cứu Tự sự học ở Việt Nam chủ yếu tập trung ởTự sự học văn học rất ít đề tàimở rộng nghiên cứu Tự sự học trong các lĩnh vực khác đặc biệt là Tự sự học điện ảnh. Vì vậy Tự sự học điện ảnh chưa được ý thức rõ là một môn khoa học riêng biệt, nó chỉ được coi như sự mở rộng của Tự sự học văn học mà thôi. 2.2. Điện ảnh xuất hiện khi các loại hình nghệ thuật khác như văn chương, điêu khắc, hội họa, âm nhạc, múa, sân khấu đã phát triển đến độ chín. Vì vậy điện ảnh có cơ hội kế thừa, tiếp thu những phương tiện nghệ thuật sẵn có đồng thời tự tạo cho mình những kỹ thuật và phương pháp biểu hiện mới, hiện đại và phong phú. Thành công của tác phẩm điện ảnh là thành công của sự kết hợp nhuần nhuyễn và tuyệt vời giữa các loại hình nghệ thuật cùng với các ngành khoa học kỹ thuật và công nghệ. Trong các loại hình nghệ thuật thì văn học và điện ảnh có mối quan hệ đặc biệt ngay từ những ngày đầu điện ảnh mới hình thành. Mối quan hệ giữa văn học và điệnảnh thể hiện rõ nhất qua hiện tượng phim chuyển thể. Chưa ai có thể thống kê nổi con số khổng lồ về những tác phẩm văn học được chuyển thể thành phim. Chỉ biết rằng hầu hết các tác phẩm văn chương ưu tú của các dân tộc khác nhau, các thời đại khác nhau đều đã một lần hoặc hơn một lần được sống đời sống thứ hai trong ngôi nhà của nàng Muydơ thứ 7. Mặc dù phim chuyển thể xuất hiện từ sớm cùng với sự phát triển của điện ảnh nhưng lí thuyết về nó thì chưa nhiều chủ yếu là xuất hiện rải rác trên các báo, tạp chí. Nói về hiện tượng chuyển thể trước hết phải kể đến công trình “Bàn về cải biên tiểu thuyết thành phim” của Hạ Diễn, Mao Thuẫn và Dương Thiên Hỷ. Trong tác phẩm đó các tác giả đã bàn về các vấn đề montage, âm thanh trong điện ảnh đặc biệt là sự chuyển thể từ tiểu thuyết sang kịch bản điện ảnh. Tác phẩm đã cung cấp những hiểu biết cơ bản để chuyển thể một cuốn tiểu thuyết thành phim. Tác giả Nguyễn Mai Loan có bài “Các cấp độ chuyển thể” in trên Tạp chí Điện ảnh ngày nay số 124 năm 2005. Trong bài, người viết đã thể hiện những hiểu biết sâu sắc về hiện tượng chuyển thể và khẳng định xu hướng chuyển thể sát nguyên bản vẫn được số đông các nhà điện ảnh Việt Nam ưa chuộng từ xưa tới nay. Đi vào cụ thể hơn của hiện tượng chuyển thể trong một bài viết khác mang tiêu đề“Phim chuyển thể tiểu thuyết” đăng trên Tạp chí Văn hóa nghệ thuật số 6 năm 2005 tác giả Nguyễn Mai Loan đã đi tới khẳng định “khi chuyển thể các nhà làm phim phải nỗ lực tìm sự tương đương từ các từ ngữ đến hình ảnh…phải nắm được phong cách của tiểu thuyết, nhà làm phim phải đưa được hơi thở của cuộc sống ẩn sâu trong văn bản tự sự lên màn ảnh lớn” 40;76 Nhìn từ lí thuyết liên văn bản tác giả Lê Thị Dương có bài “Vấn đề chuyển thể văn học – điện ảnh từ góc độ liên văn bản” (Tạp chí Nghiên cứu văn học số 11012). Đây là bài viết thể hiện cái nhìn bao quát sâu rộng về hiện tượng chuyển thể. Cung cấp cho người đọc những hiểu biết căn bản về hiện tượng chuyển thể là gì, các cấp độ của chuyển thể, montage – thủ pháp đặc trưng trong điện ảnh. Ngoài ra chuyển thể văn học sang điện ảnh đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều công trình khoa học, trong các luận án, luận văn, khóa luận tốt nghiệp tiêu biểu như: luận án “Từ tác phẩm văn học đến tác phẩm điện ảnh” của Phan Bích Thủy, ĐHSP thành phố HCM; luận văn thạc sĩ “Vấn đề chuyển thể tác phẩm văn học sang tác phẩm điện ảnh (từ góc nhìn tự sự) của Đỗ Thị Ngọc Diệp, ĐH KHXHNV; Trong khóa luận tốt nghiệp“Bước đầu tìm hiểu hoạt động chuyển thể tác phẩm văn học trong sáng tạo điện ảnh (Khảo sát qua một số bộ phim Việt Nam đương đại) của Nguyễn Thu Hồng, ĐHSPHN… 2. 3. Tác phẩm “Thời xa vắng” và phim chuyển thể cùng tên Lê Lựu viết Thời xa vắng từ 1984 nhưng đến 1986 tác phẩm mới ra mắt độc giả. Từ khi ra đời đến nay tác phẩm đã được tái bản nhiều lần. Ban đầu nó là đối tượng tranh luận sôi nổi của giới phê bình sau đã trở thành đối tượng nghiên cứu của khoa học chuyên sâu. Theo dõi qúa trình nghiên cứu nhìn chung Thời xa vắng được giới chuyên môn đánh giá cao.Họ đều khẳng định những đóng góp lớn lao của Lê Lựu và vị trí quan trọng của tác phẩm trong tiến trình vận động và phát triển của văn xuôi nước nhà thời kì đổi mới. Tiêu biểu là các bài viết: Nhu cầu nhận thức lại thực tại qua một “Thời xa vắng” của Nguyễn Văn Lưu; Mỗi người phải chịu trách nhiệm về nhân cách của mình của Đỗ Tất Thắng; Đọc Thời xa vắng của Lê Lựu của Hoàng Ngọc Hiến; Suy tư từ một “Thời xa vắng” của Nguyễn Hòa; Một đóng góp vào việc nhận diện con người Việt Nam hôm nay của Vương Trí Nhàn; Lê Lựu thời xa vắng của Đinh Quang Tốn; Thời xa vắng một tâm sự nóng bỏng của Lê Thành Nghị…Các nhà phê bình đã nhận thấy trong tác phẩm này có “cách nhìn hiện thực mới”, vấn đề đặt ra trong tác phẩm có ý nghĩa sâu sắc đó là nhu cầu nhận thức lại thực tại. Tác phẩm đã thẳng thắn đề cập đến những mặt trái, mặt xấu của xã hội, điều mà trước năm 1975 văn xuôi của ta không dám nói, chưa được nói do nhu cầu của lịch sử cũng như sự vận động của thực tại đời sống. Lê Lựu cũng như các nhà văn cùng thời đã chú ý lắng nghe những âm thanh của cuộc đời để thể hiện sinh động hơn, tập trung hơn trong tác phẩm của mình. Đánh giá về tác phẩm này nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Lưu đã nhận định: “Tiểu thuyết Thời xa vắng của Lê Lựu phản ánh sinh động và chân thực quá trình chuyển biến trong cách nhìn nhận và đánh giá lại thực tại” 42;588. Tác phẩm đã “khoan thủng các tấm màn vô hình che giấu nhiều điều lâu nay chúng ta không nói tới”20;604. Nói về cuốn tiểu thuyết của mình Lê Lựu đã từng bộc bạch: “Cả một thời kỳ dài từ những năm đầu chiến tranh cho đến những năm đầu 80 người ta không nói đến cái bi kịch riêng. Tôi muốn viết về một cá nhân, một cuộc đời cụ thể với niềm hạnh phúc và nỗi đau khổ, có cái được và cái mất”. Tuy nhiên để làm nên tiếng vang cho Thời xa vắng không thể không kể đến những đóng góp nổi bật trên khía cạnh nghệ thuật. Tác giả Hoàng Ngọc Hiến đặc biệt chú ý đến cách sử dụng các câu văn “lùa thùa có khi mềm và rối như bún nhưng lại rất được” 17;603 của Lê Lựu; PGS La Khắc Hòa lại quan tâm đến vấn đề người trần thuật của cuốn tiểu thuyết:“…lúc nào nó cũng lắm lời, lời kể của nó đã lùa thùa, dài dòng mà cái luận đề lộ rất rõ…”34;66. Bên cạnh đó giọng văn trần thuật cũng được các nhà nghiên cứu quan tâm. Tác giả Thiếu Mai cho rằng “cách nhìn thấu đáo của anh, tấm lòng thiết tha của anh đã thể hiện đầy đủ ở giọng văn, giọng văn trầm tĩnh vừa giữ được vẻ đầm ấm chân tình, vừa khách quan không thêm bớt tô vẽ đặc biệt là không cay cú, chính giọng văn như vậy đã góp phần đáng kể vào sức thuyết phục hấp dẫn của tác phẩm”51;344. Cũng nhận xét về giọng văn PGS La Khắc Hòa lại tìm thấy ở tác phẩm chính là giọng giễu nhại rất độc đáo. Ông viết như sau: “Nó không cần sử dụng những thủ pháp lạ hóaquen thuộc như phóng đại hay vật hóa hình ảnh con người để làm nổ ra tiếng cười. Nó chỉ đơn giản thuật lại những chuyện “thật như đùa” mà đã có thể tạo ra được một hình tượng giễu nhại. Nhờ thế lời văn của Thời xa vắng khi thì như bông đùa lúc lại xót xa, chì chiết nhưng giễu nhại bao giờ cũng là giọng chủ đạo của nó”34;67. Mặc dù các ý kiến khác nhau nhưng tựu chung lại đều thống nhất cho rằng Thời xa vắng là một tác phẩm “đi tìm lại những giá trị từng bị đánh mất, từng bị lãng quên” là sự khái quát lịch sử bằng số phận của một cá nhân. Tác phẩm xứng đáng đưa Lê Lựu trở thành người tiên phong trong quá trình đổi mới nền văn học dân tộc. Gần đây một số báo cáo khoa học, luận văn thạc sĩ đã nghiên cứu các khía cạnh của cuốn tiểu thuyết như: Thời xa vắng của Lê Lựu và tiến trình đổi mới văn xuôi Việt Nam sau 1975 (Thái Thị Mỹ Bình, ĐHSPHN), Đối thoại trong ba tiểu thuyết: Thời xa vắng (Lê Lựu), Bến không chồng (Dương Hướng) và Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh) của Phạm Thị Thúy Vinh, ĐHSPHP… Nhận ra được ý nghĩa sâu sắc ấy của tác phẩm đạo diễn Hồ Quang Minh đã quyết tâm chuyển thể cho nó sống đời sống thứ hai ở lĩnh vực điện ảnh. Đồng thời cũng là để hoàn thiện bộ ba phim nói về chủ đề thân phận con người trong và sau chiến tranh ở Việt Nam qua ba miền đất nước như mong muốn của ông:Con thú tật nguyền, Bụi hồng và Thời xa vắng. Bộ phim Thời xa vắng ngay từ khi khởi quay đã gặp rất nhiều khó khăn về kinh phí, về tuyển chọn diễn viên, về xây dựng bối cảnh…trong quá trình quay phim. Tuy nhiên bằng sự nỗ lực hết mình của đạo diễn, sự giúp đỡ tận tình của nhà văn Lê Lựu, sự cố gắng của cả đoàn làm phim cuối cùng bộ phim cũng hoàn thành và đưa vào công chiếu gây được tiếng vang trong lòng khán giả và sự quan tâm của giới báo chí. Hàng loạt các bài viết về bộ phim như: Lận đận Thời xa vắng (Thanh Tân); Thời xa vắng –“mối nhân duyên”giữa nhà văn Lê Lựu và đạo diễn Hồ Quang Minh của Bùi Huyền Dung; Một thoáng với đoàn làm phim Thời xa vắng của Bùi Thị Huyền;Nhà văn Lê Lựu với phim Thời xa vắng của Phan Thúy Thảo; Gặp tác giả Thời xa vắng của Lê Lương Giang, Thời xa vắng – bộ phim chắp cánh cho văn học thăng hoa của Phan Bích Thủy…Tuy nhiên các bài viết chỉ mang tính chất như các bài phỏng vấn hay bài nghiên cứu nhỏ lẻ chứ chưa có một công trình nào nghiên cứu nghiêm túc về bộ phim dưới khía cạnh của khoa học chuyên sâu. Mặc dù vậy có một điểm chung đó là giới chuyên môn có đánh giá cao về bộ phim, một trong số đó là nhà phê bình Ngô Minh Nguyệt,tác giả đã từng khẳng định như sau: “Thời xa vắng làm sống dậy bức tranh quê hồn hậu với những con người bình dị đã sống cách chúng ta nửa thế kỷ, những phong tục, lối sống…Thời xa vắng trau chuốt trong từng cảnh quay với những khuôn hình đẹp. Thời xa vắng cũng làm người xem day dứt, se lòng trước những đau thương của nhân vật truyện”. “Thông qua tấn bi kịch của cuộc đời Sài từ khi mới lên mười đến lúc về già là cả bức tranh xã hội hiện lên chân thực. Đây là chủ kiến của đạo diễn khi ông nói rằng với bộ phim Thời xa vắng ông coi trọng yếu tố chân rồi mới đến thiện và mỹ. Cái không khí thời đại ẩn vào trong từng nếp nghĩ, chi phối đến cả những chi tiết nhỏ nhặt nhất”55;4.
Xem thêm

133 Đọc thêm

Đại tá không biết đùa

ĐẠI TÁ KHÔNG BIẾT ĐÙA

Nhà văn Lê Lựu sinh ngày 12 tháng 12 năm 1942 tại xã Tân Châu, huyện Khoái Châu Hưng Yên, là một nhà văn Việt Nam, thành viên của Hội nhà văn Việt Nam từ năm 1974, chuyên về tiểu thuyết và truyện ngắn, tiêu biểu là Thời xa vắng đã được đạo diễn Hồ Quang Minh của Hãng phim Giải Phóng dựng thành phim truyện nhựa và ra mắt công chúng năm 2004. Ông hiện nay đang đảm nhiệm chức Giám đốc của Trung tâm Văn hóa Doanh nhân tại Hà Nội Tác phẩm Đại tá không biết đùa được đánh giá là tiểu thuyết hay nhất trong đời viết văn của ông
Xem thêm

82 Đọc thêm

THỰC HÀNH PHÉP TU TỪ ẨN DỤ VÀ HOÁN DỤ

THỰC HÀNH PHÉP TU TỪ ẨN DỤ VÀ HOÁN DỤ

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN. Nhớ lại những điều cơ bản về ẩn dụ và hoán dụ:rnrn1. Ẩn dụ là phép tu từ nghệ thuật được xây dựng dựa trên cơ sở những nét liên t­ưởng tư­ơng đồng. 2. Hoán dụ là phép tu từ nghệ thuật được xây dựng dựa trên cơ sở những nét liên tưởng tương cận (sự gần gũi nhau giữa hai sự vật, hiện tượng). 3. Ẩn dụ và hoán dụ đều được xây dựng dựa trên cơ sở liên tưởng nhưng cơ chế tạo lập có khác nhau (liên tưởng tương đồng và liên tưởng tương cận). II. RÈN KĨ NĂNG 1. Trong hai câu ca dao, các từ thuyền, bến, cây đa, con đò,… đúng là những từ không chỉ mang nghĩa gọi tên sự vật tồn tại trong hiện thực (thuyền, bến,…) mà còn mang nội dung ý nghĩa hoàn toàn khác. Các hình ảnh thuyền (con đò) – bến (cây đa) lần lượt tạo nên ý nghĩa tượng trưng cho hình ảnh người ra đi và người ở lại. Chính vì vậy câu (1) trở thành lời thề ­ước, hứa hẹn, nhắn nhủ về sự thủy chung. Câu (2) trở thành lời than tiếc vì thề x­a “lỗi hẹn”. Các từ thuyền, bến ở câu (1) và cây đa bến cũ, con đò ở câu (2) có sự khác nhau nhưng chỉ là khác ở nội dung ý nghĩa hiện thực (chỉ sự vật). Xét về ý nghĩa biểu trưng, chúng là những liên tưởng giống nhau (đều mang ý nghĩa hàm ẩn chỉ người đi – kẻ ở). Để hiểu đúng ý nghĩa hàm ẩn này, thông thường chúng ta giải thích rằng : Các sự vật thuyền – bến – cây đa, bến cũ – con đò là những vật luôn gắn bó với nhau trong thực tế. Vì vậy chúng được dùng để chỉ “tình cảm gắn bó keo sơn” của con người. Bến, cây đa, bến cũ mang ý nghĩa hiện thực chỉ sự ổn định, vì thế nó giúp người ta liên tưởng tới hình ảnh người phụ nữ, tới sự chờ đợi, nhung nhớ, thủy chung. Ng­ược lại thuyền, con đò thường di chuyển không cố định nên được hiểu là người con trai, hiểu là sự ra đi. Có nắm được quy luật liên tưởng như vậy, chúng ta mới hiểu đúng ý nghĩa của các câu ca dao trên. 2. a) Trong câu thơ: Dư­ới trăng quyên đã gọi hè Đầu tư­ờng lửa lựu lập lòe đơm bông. Nhà thơ Nguyễn Du đã dùng hai hình ảnh chim đỗ quyên và hoa lựu để cùng biểu đạt ý nghĩa : mùa hè đã đến. Cả hai hình ảnh này đều là những dấu hiệu báo hè (chim đỗ quyên kêu và hoa lựu nở đều vào thời điểm mùa hè). Vì thế nhìn vào hai dấu hiệu ấy, người ta có thể nghĩ ngay đến sự khởi đầu của mùa hè. Lửa lựu còn gợi liên tưởng đến sức ấm nóng của mùa hè. * Chú ý : Thực ra hai hình ảnh chim quyên và hoa lựu nở cũng có thể hiểu là hai hoán dụ. Bởi mùa hè – chim quyên – hoa lựu đều có thực và gắn bó chặt chẽ với nhau trong thực tế (nghĩa là chúng có mối liên hệ tương cận với nhau). Nhưvậy chỉ có hình ảnh lửa lựu (sức nóng của mùa hè) ở trong câu này là được xây dựng dựa trên cơ sở liên tưởng tương đồng “thực sự” mà thôi. b) Vứt đi những thứ văn nghệ ngòn ngọt, bày ra sự phè phỡn thoả thuê hay cay đắng chất độc của bệnh tật, quanh quẩn vài tình cảm gầy gò của cá nhân co rúm lại. Chúng ta muốn có những tiểu thuyết, những câu thơ thay đổi được cả cuộc đời người đọc – làm thành người, đẩy chúng ta đến một sự sống trước kia chỉ đứng xa nhìn thấp thoáng. Cụm từ “làm thành người” là một ẩn dụ được xây dựng dựa trên cơ sở liên tưởng về cách thức. Từ “làm thành” thường dùng để chỉ quá trình thực hiện một việc gì đó (từ ch­a được đến được, từ ch­a tốt đến tốt…). Quá trình nhận thức của con người cũng diễn ra như vậy. Do đó làm thành người cũng hiểu là nên người – nghĩa là biết nhận thức đúng đắn về cuộc sống. c) Ơi con chim chiền chiện – Hót chi mà vang trời – Từng giọt long lanh rơi – Tôi đưa tay tôi hứng Đoạn thơ này cũng giống hai câu thơ của Nguyễn Du. Ở đây, hình ảnh chim chiền chiện, giọt s­ương rơi (giọt long lanh) là những dấu hiệu báo mùa xuân đến. Ẩn dụ này được xây dựng dựa trên cơ sở liên tưởng dấu hiệu đặc trưng – mùa. d) Thác bao nhiêu thác cũng qua – Thênh thênh là chiếc thuyền ta trên đời Câu thơ có hai hình ảnh ẩn dụ : Thác – chỉ những khó khăn vất vả, những thử thách. Chiếc thuyền – chỉ con đường cách mạng, chỉ con đường của cả nước non mình. Câu thơ xây dựng hình ảnh ẩn dụ dựa trên những liên tưởng có thực (thác – khó khăn, con thuyền – sức v­ượt qua) để nói lên sức sống và sức vư­ơn lên mãnh liệt của cả dân tộc chúng ta. e) Câu thơ cũng có hai hình ảnh ẩn dụ : Phù du (liên tưởng đến cuộc đời nổi trội, ngắn ngủi) và phù sa(cuộc sống sung sướng, hạnh phúc, ấm no). Có liên tưởng này vì phù du là một loài côn trùng có cuộc đời ngắn ngủi, trái lại phù sa là “chất dinh dưỡng” tốt nuôi sống cây trái trên đồng. Dùng hai hình ảnh ẩn dụ này, nhà thơ Chế Lan Viên muốn so sánh cuộc đời xư­a và nay. Từ đó mà khẳng định giá trị và ý nghĩa nhân văn của cuộc sống hôm nay. 3. Ví dụ một số câu văn có dùng phép ẩn dụ : a) Tôi đang nói đến cuộc sống đau thương và không hiểu sao, tôi lại nghĩ ngay đến “các vị la Hán chùa Tây Phương” của nhà thơ Huy Cận. b) Đất trời trở mình sang mùa, đã thấy cái lành lạnh của gió. c) Ông T­ vẫn ngồi đó. Ông đang nhớ về cái đêm tối tăm nhất của đời ông. 4. a) Đầu xanh đã tội tình gì – Má hồng đến quá nửa thì chưa thôi Nhà thơ Nguyễn Du dùng từ đầu xanh với ý nghĩ chỉ tuổi trẻ, từ má hồng với ý nghĩ chỉ người con gái đẹp, một mĩ nhân. Cả hai từ này đều dùng để ám chỉ nhân vật Thúy Kiều. Cũng như vậy, Tố Hữu dùng cụm từáo nâu, áo xanh (Áo nâu liền với áo xanh – Nông thôn liền với thị thành đứng lên) để chỉ hai lớp người trong xã hội: nông dân và công nhân. Trong cả hai trư­ờng hợp này, các nhà thơ đã dùng những từ chỉ bộ phận của cơ thể (đầu, má) hay chỉ những trang phục quen dùng (áo xanh, áo nâu) để chỉ con người. Cách gọi tên này chẳng những tránh được sự nhầm nhọt, mòn sáo mà còn đem lại niềm vui thích và gợi ra những tình ý sâu xa. b) Trong tr­ường hợp, khi chúng ta gặp phải một đối tượng đã bị tác giả thay đổi cách gọi tên, để hiểu đúng được đối tượng ấy, chúng ta phải chú ý xem tác giả đã chọn cái gì để thay thế các đối tượng ấy. Cái được tác giả chọn để thay thế thường là một bộ phận, một tính chất, một đặc điểm nào đó… tiêu biểu. Phương thức chuyển đổi nghĩa này là phép tu từ hoán dụ. Nó giúp cho việc gọi tên sự vật, hiện tượng… trở nên phong phú, sinh động và hấp dẫn hơn. Các trường hợp này đều là hoán dụ tu từ. 5. Nguyễn Bính viết : Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông Cau thôn Đoài nhớ trầu không thôn nào ? Trong câu thơ này, hai hình ảnh thôn Đoài, thôn Đông là hai hình ảnh hoán dụ dùng để chỉ “người thôn Đoài” và “người thôn Đông”. Còn hai hình ảnh cau thôn Đoài và trầu không thôn nào lại là những ẩn dụ dùng để chỉ những người đang yêu. Hai câu thơ là một lời tỏ tình thú vị. Đích của lời nói tuy vẫn hướng về người yêu. Thế nhưng cách nói bâng quơ theo kiểu ngôn ngữ tỏ tình của trai gái đã tạo ra một sự thích thú đặc biệt cho những người tiếp nhận nội dung của câu thơ. - Cùng là bày tỏ nỗi nhớ người yêu nhưng nếu câu ca dao Thuyền ơi có nhớ bến chăng…? sử dụng những liên tưởng có phần mòn sáo thì câu thơ của Nguyễn Bính (Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông) lại có những liên tưởng vô cùng mới mẻ. Những liên tưởng này tạo ra nét đẹp riêng và sự thích thú, hấp dẫn cho mỗi câu thơ. 6. Ví dụ một số câu văn có dùng phép tu từ hoán dụ : a) Trước Cách mạng tháng Tám, nông dân của ta đều là những Chị Dậu, Lão Hạc, anh Pha cả. b) Nhà nó có mỗi bốn miệng ăn. Vậy mà vợ chồng nó lúc nào cũng ngư­ợc xuôi vất vả. c) Người ta ba bốn chục tuổi đầu đã có nhà cao cửa rộng. Đằng này, đã ngoài bốn chục mà nó vẫn cứ nhởn nhơ phè phỡn như không. Sáng sáng, nó ngủ dậy, phi xe ra ngoài phố, ăn bát phở mà có khi đến tận m­ời giờ. Ăn xong lại rong ruổi đi các phố. Người ta bảo nó là một tay chơi. Tôi chẳng biết, chỉ biết cờ bạc, r­ượu chè, lô đề,… nó đều thông thạo cả. Khổ thân nhất là bà già nhà nó. Lá vàng sắp rụng đến nơi mà vẫn phải khòng l­ưng quẩy gánh ngày ngày kiếm vài ba chục để nuôi kẻ đầu xanh.  loigiaihay.com
Xem thêm

3 Đọc thêm

DẠY HỌC TÍCH CỰC HOÁ NGƢỜI HỌC MÔN CÔNG NGHỆ 8 Ở CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ KHU VỰC CHÂU THÀNH B TỈNH BẾN TRE

DẠY HỌC TÍCH CỰC HOÁ NGƢỜI HỌC MÔN CÔNG NGHỆ 8 Ở CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ KHU VỰC CHÂU THÀNH B TỈNH BẾN TRE

trong hoạt động của con ngƣời, là sự lĩnh hội những “sức mạnh bản chất người” đãđƣợc đối tƣợng hóa trong các sản phẩm của hoạt động con ngƣời. [29]- Dạy học: Dạy học là quá trình tổ chức nhận thức kiến thức cho ngƣời học nhằmhình thành và phát triển ở ngƣời học những kiến thức, kỹ năng cần thiết. Trongdạy học thì việc dạy và việc học luôn gắn bó với nhau, trong đó sự dạy khôngđơn thuần là giảng dạy mà còn là sự tổ chức, chỉ đạo và điều khiển sự học.- Tích cực: Tích cực nghĩa là hăng hái hoạt động, sự nhiệt tình, chủ động tham giavào công việc hay nhiệm vụ gì đó khi đƣợc giao.- Tích cực hóa ngƣời học: là quá trình làm cho ngƣời học từ thế bị động tiếp thukiến thức từ ngƣời thầy truyền đến chuyển sang chủ động, hăng hái, năng nổ, tìmkiếm tri thức mới dƣới sự hƣớng dẫn của GV.Tích cực hóa người học là làm cho ngƣời học năng động hơn, tích cực vàlinh hoạt hơn trở thành chủ thể trong hoạt động học tập của họ.- Thuật ngữ “phƣơng pháp” bắt nguồn từ tiếng HyLạp- “methodos” nguyên văn làcon đƣờng đi tới một cái gì đó, nghĩa là cách thức đạt đến mục đích và bằng mộthình ảnh nhất định, nghĩa là một hành động đƣợc điều chỉnh. [20]-Phƣơng pháp là cách thức, con đƣờng để thực hiện một hoạt động nào đó nhằmgiải quyết đƣợc nhiệm vụ đã đề ra để đạt đƣợc mục tiêu nhất định. Phƣơng phápbao giờ cũng đƣợc xây dựng dựa trên cơ sở của một đối tƣợng nhất định.7- Phƣơng pháp dạy học:Theo bách khoa toàn thƣ của Liên Xô năm 1965: “Phương pháp dạy học làcách thức làm việc của GV và HS, nhờ đó mà HS nắm vững kiến thức, kĩ năng, kĩxảo, hình thành thế giới quan, phát triển năng lực nhận thức”.Phƣơng pháp dạy học theo Nguyễn Ngọc Quang: ”cách thức làm việc của
Xem thêm

196 Đọc thêm

Tiểu luận lớp bồi dưỡng CBQL chương trình Việt Sing 2015

TIỂU LUẬN LỚP BỒI DƯỠNG CBQL CHƯƠNG TRÌNH VIỆT SING 2015

1. PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THỰC TẾ VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC TỰ ĐÁNH GIÁ TẠI TRƯỜNG THPT CHÂU THÀNH 1.1. Giới thiệu khái quát về trường THPT Châu Thành, huyện Châu Thành, tỉnh Long An Trường THPT Châu Thành vốn trước đây là trường THPT Bán Công Châu Thành, được thành lập vào tháng 91990. Qua 23 năm thành lập, nhà trường không ngừng phát triển về mọi mặt: cơ sở vật chất, số lớp, số HS, đội ngũ cán bộ, GV và nhân viên. Đến tháng 92009 trường được chuyển đổi sang công lập theo quyết định số 2320QĐUB của UBND tỉnh Long An ngày 0792009. Trường tọa lạc tại số 25 đường Nguyễn Thông, khu phố III, thị trấn Tầm Vu, huyện Châu Thành, tỉnh Long An với diện tích 5.425m2. Trong năm học 2015 – 2016: Về HS: có 647 HS, biên chế thành 18 lớp chia ra như sau: Khối 10: 7 lớp Ban Cơ bản, 260 HS Khối 11: 6 lớp, 220 HS + Hệ THPT: 5 lớp Ban Cơ bản, 188 HS; + Hệ GDTX: 1 lớp, 32 HS. Khối 12: 5 lớp, 167 HS + Hệ THPT: 5 lớp Ban Cơ bản, 131 HS; + Hệ GDTX: 1 lớp, 36 HS. Về đội ngũ cán bộ, GV, nhân viên: 52 người. Trong đó CBQL: 03 người; GV: 41 người; nhân viên: 08 người. Cán bộ, GV, nhân viên của trường biên chế thành: 05 tổ chuyên môn + Tổ Văn – Giáo dục công dân: 08 người; + Tổ Toán – Tin: 09 người; + Tổ Sử – Địa – Anh văn: 08 người; + Tổ Hóa – Sinh – Thể dục: 09 người; + Tổ Lí – Công nghệ: 07 người. 01 tổ Văn phòng: 08 người. Về cơ sở vật chất: Phòng học tạm đủ dạy nội ngoại, ngoại khoá; còn thiếu phòng truyền thống, phòng đa năng nghe nhìn. Tổng số phòng: 25 phòng. Trong đó: + Phòng học: 15 phòng; + Phòng thư viện: 01 phòng; + Phòng thiết bị thực hành: 02 phòng; + Phòng vi tính: 02 phòng; + Phòng văn thư, kế toán: 01 phòng; + Phòng HT, Phó HT: 01 phòng; + Hội trường: 01 phòng. Cũng như các trường công lập mới được chuyển đổi, trường THPT Châu Thành tiếp nhận những HS có học lực trung bình yếu và một số lượng không nhỏ HS kém về ý thức học tập, yếu về tu dưỡng đạo đức. Lực lượng GV của trường cũng hạn chế về năng lực chuyên môn, kinh nghiệm giảng dạy, chủ nhiệm. Bởi vì trước đây, khi được biết trường bán công phải chuyển đổi, GV không an tâm công tác đã lần lượt xin thuyên chuyển về các trường công lập. Phần lớn GV ra đi đều là GV dạy lâu năm, có kinh nghiệm, vững tay nghề, GV còn lại ở trường phần nhiều là GV trẻ, được đào tạo từ nhiều hệ khác nhau nên năng lực giảng dạy, giáo dục còn hạn chế. Lực lượng GV và HS như vậy, để giữ vững thành tích, nâng cao CLGD toàn diện cho HS cũng là một khó khăn, thách thức cho nhà trường. Tuy nhiên, thành tích mà GV và HS của trường đạt được cũng không phải là ít. Lực lượng GV tham gia các đợt thi GV dạy giỏi cấp cơ sở, cấp tỉnh, tham gia dự thi đổi mới phương pháp, thi làm đồ dùng dạy học cấp tỉnh nhiều năm đều có giải. CLGD của trường THPT Châu Thành trong 05 năm gần đây như sau: Năm học 2010 2011 Năm học 2011 2012 Năm học 2012 2013 Năm học 2013 2014 Năm học 2014 2015 Tổng số HS 815 785 875 779 711 Tỉ lệ đỗ TN 61.6% 95.7% 96.72% 97.89% 66.03% Tỉ lệ đỗ vào các trường ĐH, CĐ 14.5% 22.4% 37.6% >38% 12.5% Hiệu quả đào tạo 48.1% 65.3% 76.6% 82.4% 51.3% Tỉ lệ bỏ học 11.9% 6.2% 3.8% 2.3% 5.43%
Xem thêm

18 Đọc thêm

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA CÂY CA CAO TRONG MÔ HÌNH TRỒNG XEN VỚI CÂY ĂN TRÁI TẠI HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH BẾN TRE

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA CÂY CA CAO TRONG MÔ HÌNH TRỒNG XEN VỚI CÂY ĂN TRÁI TẠI HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH BẾN TRE

Cây ca cao đã tồn tại trên đất Châu Thành trên 30 năm, ban đầu bắt đầu một cách tự phát và được sự quan tâm của chính quyền địa phương cho đến hôm nay các dự án quy mô mang tính tổ chức về cây ca cao đã được triển khai rộng khắp trên đất Châu Thành. Qua quá trình điều tra kết hợp với việc phân tích, tính toán ta có thể chứng minh cây ca cao hứa hẹn có lợi ích kinh tế cao, có đủ sức thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội huyện trong thời gian tới. Từ những chỉ tiêu đo lường hiệu quả kinh tế khá cao đã được tính toán ở chương 4 phản ánh được lợi nhuận mang lại từ việc đầu tư 1ha ca cao rất cao. Bên cạnh đó NPV từ việc phân tích dự án là 18.68 triệu đồng đối với cacao lai và 25.41 triệu đồng cây ca cao ghép. Đem so sánh với cây dâu , một loại cây trồng xen khá phổ biến ở huyện, thì ta thấy có sự chênh lệch rất lớn về các chỉ tiêu. Không những thế, các dự án phát triển cây ca cao của huyện nằm trong dự án phát triển chung của tỉnh và của cả nước khi mà Bộ NNPTNT đang khuyến khích trồng ca cao ở các vùng quy hoạch để đáp ứng cho thị trường thế giới đang “khát” ca cao trong đó Bến Tre được chọn là vùng trọng điểm. Chính điều này cùng với những kết quả đạt được ở hiện tại thì lợi nhuận tiềm năng trong tương lai hứa hẹn sẽ rất lớn. Từ những điều trên tôi khẳng định rằng cây ca cao là loại cây trồng xen có hiệu quả kinh tế cao trên đất Châu Thành, nó góp phần cải thiện đời sống người dân, nâng cao thu nhập và thúc đẩy kinh tế xã hội huyện phát triển. Tuy nhiên để giúp cho cây ca cao có thể đứng vững trên đất Châu Thành và người dân an tâm trồng ca cao, tôi xin có một vài kiến nghị sau:
Xem thêm

93 Đọc thêm

07BOI DUONG HS GIOI YEU 1 12

07BOI DUONG HS GIOI YEU 1 12

PHỊNG GD& ĐT CHÂU THÀNH CỘNG HỒ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMTRƯỜNG THCS GIỤC TƯỢNGĐộc lập – Tự do – Hạnh phúcSố 07/KH-CMGiục Tượng, ngày 14 tháng 11 năm 2015KẾ HOẠCH BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI & PHỤ ĐẠO HỌC SINHYẾU NĂM HỌC 2015-2016Căn cứ vào sự chỉ đạo của tổ chun mơn THCS phòng GD&ĐT Châu Thành;Căn cứ vào kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm học của trường THCS Giục Tượng;Căn cứ vào tình hình thực tế học sinh của trường qua chất lượng tổng kết và kết quảkhảo sát đầu năm;Nay bộ phận chun mơn lập kế hoạch và một số quy định thực hiện cơng tácbồi dưỡng học sinh giỏi và phụ đạo học sinh yếu cụ thể như sau:I/ Về thời gian bồi dưỡng và phụ đạo:- Tiến hành từ ngày 05 tháng 10 năm 2015.( Tiếp tục phụ đạo theo kế hoạch số 05)- Bồi dưỡng học sinh giỏi khối 8 từ ngày 16/11/2015- Số tiết dạy 02 tiết/ tuần/ lớp.II/ Phân cơng bồi dưỡng và phụ đạo:STT01020304
Xem thêm

2 Đọc thêm

BÀI GIẢNG ĐẠI CƯƠNG VỀ BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

BÀI GIẢNG ĐẠI CƯƠNG VỀ BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

~ 67 triệu2025:333 triệu~ 76 triệu.(Theo International Diabetes Federation (IDF))DÒCH TEÃ HOÏCCHẨN ĐOÁN- Biểu hiện lâm sàng- Cận lâm sàngXét nghiệm chẩn đoán (đường huyết)Xét nghiệm đánh giá và theo dõi(HbA1C, lipid huyết, đạm niệu,…)Chẩn đoán dựa vào kết quả đo đường huyết Đường huyết bất kỳ≥ 200mg/dl + các triệu chứng tăng đường huyết Đường huyết lúc đói- - ≥ 100mg/dl và đường huyết đói

54 Đọc thêm

XÉT NGHIỆM VÀ THĂM DÒ CẬN LÂM SÀNG HỆ THẬN TIẾT NIỆU CNKTXN

XÉT NGHIỆM VÀ THĂM DÒ CẬN LÂM SÀNG HỆ THẬN TIẾT NIỆU CNKTXN

Xét nghiệm y học môn nội cơ sở XÉT NGHIỆM và THĂM dò cận lâm SÀNG hệ THẬN TIẾT NIỆU Các xét nghiệm và thăm dò cận lâm sàng hệ thống thận tiết niệu bao gồm: 1. Xét nghiệm máu 2. Xét nghiệm nước tiểu: protein niệu, tế bào niệu, vi khuẩn niệu 3. Đánh giá mức lọc cầu thận 5. Chụp Xquang hệ tiết niệu: có và không có thuốc cản quang 6. Siêu âm thận –tiết niệu 7. Xạ hình chức năng thận 8. Chụp cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ 9. Các thăm dò khác

10 Đọc thêm

Phân tích đoàn thuyền đánh cá

PHÂN TÍCH ĐOÀN THUYỀN ĐÁNH CÁ

Huy Cận là nhà thơ nổi tiếng trong phong trào thơ mới với tập thơ “Lửa thiêng” (1940), đồng thời là một trong những nhà thơ tiêu biểu của nền thơ hiện đại Việt Nam. Sau CM thơ của HC vắng bóng trên diễn đàn thi ca một thời gian khá dài. Đến giữa năm 1958, Huy Cận có chuyến đi thực tế dài ngày ở vùng mỏ Quảng Ninh. Từ chuyến đi thực tế này, hồn thơ Huy Cận mới thực sự nảy nở trở lại, dồi dào trong cảm hứng về thiên nhiên đất nước, về lao động và niềm vui trước cuộc sống mới.
Xem thêm

7 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG KHÍ HẬU NHIỆT ĐỚI

ĐỀ CƯƠNG KHÍ HẬU NHIỆT ĐỚI

Câu 1. Giải thích sự đồng nhất của bức xạ theo mùa trong vùng nhiệt đới? Đặc điểm nổi bật của biến trình năm bức xạ trong miền nhiệt đới? Giải thích sự đồng nhất của bức xạ theo mùa trong vùng nhiệt đới Về cơ bản, trong thời kì mùa đông và mùa hè thì bức xạ trong miền nđới ít biến động so với các vùng vĩ độ cao nơi có sự biến động mạnh hơn. Nguyên nhân do: Độ cao mặt trời: + Tác động bởi sự quay của Trái đất quanh mặt trời và độ nghiêng của trục trái đất => độ cao của mặt trời thay đổi + Độ cao mặt trời quyết định lượng bức xạ mà kv đó nhận được là nhiều hay ít + Độ cao mặt trời tăng theo vĩ độ địa lí. + Trong miền nhiệt đới chênh lệch độ cao ít giữa các khu vực miền => điều này dẫn đến sự đồng nhất giữa bức xạ theo các mùa trong năm. Hoạt động của mây và mưa: + Trong mùa hè theo lí thuyết thì lượng bxạ nhận được trên kv nđới phải lớn nhất trong năm, tuy nhiên phần lớn trong kv miền nđới lại có mùa mưa xảy ra trong thời kì mùa hè, do ảnh hg của mây và mưa lúc này làm cho bxạ nhận được trong thời kì mùa hè giảm đi đáng kể => bxạ mùa hè thực tế ít hơn so với lí thuyết. + Trong thời kì mùa đông ít mây và mưa, tuy nhiên lúc này mặt trời lại di chuyển lên các kv vĩ độ cao do vậy làm giảm đi lượng bức xạ kv nhận được. => vậy lượng bức xạ nhận được giữa mùa đông và mùa hè chênh lệch nhau không lớn => có sự đồng nhất của bức xạ theo mùa trong vùng nhiệt đới Biến trình năm của bức xạ trong miền nhiệt đới: Biến trình năm của bức xạ thiên văn: + Bức xạ thiên văn là bức xạ MT đến giới hạn trên của khí quyển, sự biến đổi của nó phụ thuộc vào vĩ độ địa lý và độ xích vĩ của mặt trời. + Ở khu vực XĐ và cận XĐ có 2 cực đại ( t3,t9) và 2 cực tiểu (t6,t12) + Ở chí tuyến, cận chí tuyến có 1 cực đại ( khoảng t6) và 1 cực tiểu (tháng 12) Biến trình năm của bức xạ tại bề mặt: Sự pbố của bức xạ Mtrời tại bề mặt sẽ phức tạp hơn vì độ trong suốt của khí quyển và điều kiện mây biến đổi rất lớn. + Lượng tổng xạ tb năm lớn nhất ở khu vực nđới và cận nđới (đặc biệt là khu vực quang mây) + Vào tháng mùa đông (t12) lượng tổng xạ lớn nhất ở kv lục địa nđới của NBC + Vào tháng 6 (mùa hè) tổng xạ đạt cực đại ở kv lục địa nđới của BCB
Xem thêm

11 Đọc thêm

CÂU HỎI THI ÔN THI NGOẠI KHOA

CÂU HỎI THI ÔN THI NGOẠI KHOA

Câu 7 ;Triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng u phì đại lành tính tuyến tiền liệt (UPĐLTTTL)?Câu 8: Chẩn đoán xác định và chẩn đoán phân biệt UPĐLTTT?Câu 9: Các phương pháp điều trị sỏi niệu quản?Câu 10 : Các phương pháp điều trị chấn thương thận kín?Khoa B9 :Câu 1: Chấn động não do chấn thương, lâm sàng, cận lâm sàng, nguyên tắc chungvề điều trị bảo tồn?Câu 2: Vỡ nền sọ giữa do chấn thương, triệu chứng lâm sàng, hình ảnh cận lâmsàng và nguyên tắc chung về điều trịCâu 3: Vỡ tầng sọ trước do chấn thương? Triệu chứng lâm sàng, hình ảnh cận lâmsàng, nêu nguyên tắc chung về điều trịCâu 4: lâm sàng, hình ảnh CLVT, điều trị phẫu thuật máu tụ ngoài màng cứng cấptính do chấn thươngCâu 5: Hãy nêu phân loại chấn thương cột sống tủy sống?Câu 6 : Biến chứng loét,teo cơ ,cứng khớp và tổn thương tiết niệu ,cách phòngchống ở BN liệt tủy ?Câu 7: Sơ, cấp cứu, vận chuyển bn CTCSTS?Câu 8: Trình bày đặc điểm lâm sàng TVDD vùng thắt lưng cùng?Câu 9 : Các phương pháp cận lâm sàng để chẩn đoán thoát vị đĩa đệm vùng thắtlưng cùng?Câu 10: Tai biến và biến chứng khi mổ TVDD CSTL?Câu 11 : Triệu chứng LS và XQ qui ước gãy di lệch đốt sống thắt lưng (L1) ?Câu 12 : Chỉ định và chống chỉ định ,mổ TVDD ?Câu 13 : Nguyên nhân,triệu chứng lâm sàng tổn thương dây thần kinh quay ?Khoa B12 :Câu 1: Mảng sườn di động (điều kiện hình thành, rối loạn sinh lý bệnh, chẩn đoán,điều trị) ?
Xem thêm

7 Đọc thêm