VIẾT VĂN NGHỊ LUẬN VỀ TRÒ CHƠI ĐIỆN TỬ

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "VIẾT VĂN NGHỊ LUẬN VỀ TRÒ CHƠI ĐIỆN TỬ":

Trò chơi điện tử là món tiêu khiển hấp dẫn. Nhiều bạn vì quá mải chơi mà sao nhãng việc học tập và còn phạm những sai lầm khác. Hãy nêu ý kiến của em về hiện tượng đó.

TRÒ CHƠI ĐIỆN TỬ LÀ MÓN TIÊU KHIỂN HẤP DẪN. NHIỀU BẠN VÌ QUÁ MẢI CHƠI MÀ SAO NHÃNG VIỆC HỌC TẬP VÀ CÒN PHẠM NHỮNG SAI LẦM KHÁC. HÃY NÊU Ý KIẾN CỦA EM VỀ HIỆN TƯỢNG ĐÓ.

Hãy nhớ một điều: điện tử là trò tiêu khiển hấp dẫn nhưng đừng vì nó mà làm bản thân phải sai lầm không đáng có để cha mẹ, thầy cô phải phiền lòng, để bạn bè xa lánh.        Cuộc sống hiện đại ngày nay đã khiến con người nhìn vào cuộc sống của mình bằng một con mắt khác. Họ đòi .hỏi ở cuộc sống nhiều hơn, và một trong những nhu cầu lớn nhất là giải trí. Bàn về vấn đề này có người nói 'Trò chơi điện tử là món tiêu khiển hấp dẫn. Nhiều bạn vì quá mải chơi mà sao nhãng việc học tập và còn phạm nhiều sai lầm khác?" Theo bạn, bạn có đồng tình với ý kiến trên không?         Đã xa rồi những trò chơi dân gian xưa: chọi gà, chọi dế, đánh trận giả... Tấtcả dường như bị lãng quên, nó đã lùi vào cổ tích. Thay vào đó là những trò chơi tiêu khiển mới lạ, hấp dẫn. Một trong những trò chơi được liệt kê vào loại trò tiêu khiển hấp dẫn là điện tử. Bước chân vào các quán game ta mới thấy được có rất nhiều trò chơi thu hút mọi người đặc biệt là các bạn nam như: đá bóng, đua xe, đế chế... Tất cả đều được gọi cái tên chung là điện tử. Các trò chơi điện tử muốn chinh phục được nó đòi hỏi người chơi phải có óc sáng tạo, sự kiên trì, một chút khéo léo và đặc biệt nó kích thíchtính tò mò. Có lẽ vì vậy mà điện tử được gọi là "món tiêu khiển hấp dẫn". Nhưng trò chơi nào cũng có ít nhiều điều tiêu cực. Xã hội ngày càng phát triển đòi hỏi thế hệ trẻ phải có trí thức nên việc quan trọng nhất của chúng ta là học tập. Nhưng thực tế hiện nay không ít bạn vì quá đam mê "món tiêu khiển hấp dẫn - điện tử" mà đã sao nhãng việc học tập, quên đi mất nhiệm vụ chính cùa mình. Kết quả học tập giảm sút, gia đình phiền lòng. Việc làm ấy làm mất đi sự tự tin của chính bản thân và còn biết bao những sai lầm khác không đáng có nữa mà chúng ta không thể ngờ tới được... Nói về vấn đề kinh tế: chơi điện tử tác hại vô cùng ngay cả với gia đình kinh tế được xem là dư dật. Lại còn khi quá đam mê không có tiền để chơi, lúc đó họ sẽ làm gì? Nói dối bố mẹ để lấy tiền đi chơi, vay tiền người khác hay trộm cắp? Đó là một thực trạng đang nổi lên trong xã hội hiện nay. Vậy tại sao chúng ta không biết chọn lựa những trò chơi giải trí phù hợp và bổ ích cho mình thay vào việc đi chơi điện tử, tại sao chúng không tham gia ởcác câu lạc bộ thể thao, đọc sách, tham gia chiến dịch mùa hè xanh, thanh niên tình nguyện và còn biết bao hình thức giải trí khác. Tại sao chúng ta không tham gia? Vì nó không là món tiêu khiển hấp dẫn hay vì chúng ta chưa quan tâm tới?        Còn rất nhiều sai lầm của người chơi diện tử mà ta không thể không nêu ra được hết nhưng tôi xin chắc rằng chỉ khi người chơi tự nhận ra tác hại của việc chơi điện tử thì lúc ấy họ mới thực sự thấy thấm thía. Sự thất bại lúc ấymới thực sự là hồi chuông cảnh tỉnh cho họ. Biết đến bao giờ tất cả bố mẹ chúng ta mới có thể. rạng rỡ nụ cười trên khuôn mặt dãi nắng dầm sương vì có những đứa con ngoan ngoãn. Điều đó là tuỳ thuộc vào chính chúng ta đấy các bạn ạ!       Xã hội càng văn minh thì tệ nạn xã hội càng hay rình rập. Nó đòi hỏi ờ chúng ta sự tự chủ và kiên cường. Đừng để lúc nào chúng ta bị sa đà vào các trò tiêu khiển không bổ ích. Hãy nhớ một điều: điện tử là trò tiêu khiển hấp dẫn nhưng đừng vì nó mà làm bản thân phải sai lầm không đáng có để cha mẹ, thầy cô phải phiền lòng, để bạn bè xa lánh. Trích: loigiaihay.com
Xem thêm

1 Đọc thêm

Nghị luận trò chơi điện tử

NGHỊ LUẬN TRÒ CHƠI ĐIỆN TỬ

Trò chơi điện tử vốn là một trò giải trí lành mạnh song hiện tượng đam mê trò chơi này mà sao nhãng học hành và gây nhiều hậu quả tại hại đã trở thành một vấn đề bức xúc ở lứa tuổi học sinh . Có thể thấy ở khắp các phố phường và các nẻo đường thôn ngõ xóm những quán Intenet. Học sinh đến đó không phải để truy cập thông tin phục vụ cho việc học mà để chơi điện tử . Nhiều bạn ngồi hàng giờ , hàng ngày trước màn hình vi tính, mê mẩn với những trò chơi trên máy ,quên thời gian thậm chí bỏ học để chơi ,trong đầu lúc nào cũng chỉ nghĩ đến các trò chơi và ham muốn chinh phục khám phá nó khiến gương mặt ngơ ngẩn như mất hồn…Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng đó .Do bố mẹ không quan tâm , do buồn , do bạn bè rủ rê , do không tự chủ được bản thân …Song dù lý do nào đi nữa , ham mê trò chơi điện tử cũng là một điều tai hại . Trước hết ngồi quá gần màn hình vi tính trong một thời gian dài có thể làm cho mắt bị cận thị , người mệt mỏi, sức khoẻ bị tổn hại . Không chỉ có thế , ham mê trò chơi điện tử còn dẫn đến sao nhãng nhiệm vụ chính của người học sinh là học tập . Mải chơi , bỏ tiết, trốn học, không hiểu bài , không làm bài tập , học tập sút kém dẫn đến chán học . Như vậy vô tình sự ham chơi nhất thời có thể tự huỷ hoại tương lai của chính bản thân mình .Trò chơi điện tử còn khiến tâm hồn bị đầu độc bởi bạo lực , chém giết , bắn phá , cuốn con người vào một thế giới ảo đầy những mưu mô , thủ đoạn . Hơn nữa ham chơi điện tử còn tiêu tốn tiền bạc một cách vô ích , có khi còn làm thay đổi nhân cách con người . Để có tiền chơi điện tử nhiều thói hư tật xấu bắt đầu nảy sinh như dối trá , thủ đoạn , trộm cắp tiền bạc, tài sản của gia đình , bạn bè …Và không ai có thể lường trước được những hậu quả tai hại khác nếu niềm đam mê kia vẫn còn tiếp diễn .Trò chơi điện tử tai hại như vậy , làm thế nào để ngăn chặn nó ?Đây thực sự là một việc khó song không phải là không làm được.Quan trọng nhất là bản thân phải xác định nhiệm vụ chính của mình là học tập ,rèn luyện ,tu dưỡng,không lãng phí thời gian,sức lực, tiền bạc vào những việc vô bổ ,thậm chí là có hại .Chỉ coi trò chơi điện tử như một trò giải trí ,tiếp xúc với nó có chừng mực , biết chế ngự và làm chủ bản thân, không để bản thân bị tác động bởi những trò chơi và sự rủ rê của những người bạn xấu. Bên cạnh đó cũng cần có sự quan tâm thường xuyên và sự quản lý chặt chẽ của gia đình nhằm giúp con em mình tránh xa những đam mê tai hại .Nhà trường và xã hội cũng cần có sự phối hợp giáo dục thế hệ trẻ, tạo ra những hoạt động bổ ích ,những sân chơi vui tươi lành mạnh để mọi học sinh đều được tham gia .Có như vậy vấn nạn học sinh say mê trò chơi điện tử mới được giải quyết triệt để.Ham chơi điện tử – Ham muốn nhất thời mà tác hại không lường hết được.Bởi vậy vì tương lai của chính mình,chúng ta đừng để bản thân vướng vào đam mê chết người đó.  loigiaihay.com
Xem thêm

1 Đọc thêm

BỒI DƯỠNG KĨ NĂNG VIẾT VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

BỒI DƯỠNG KĨ NĂNG VIẾT VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

BỒI DƯỠNG KĨ NĂNG VIẾT VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI. Ngày nay, trước những yêu cầu bức thiết của xã hội, mục tiêu của việc dạy học môn Ngữ văn cũng có nhiều thay đổi. Giáo viên dạy học các tác phẩm văn học trong nhà trường không chỉ hướng dẫn học sinh cảm nhận, thưởng thức văn chương mà còn phải khơi dậy ở học sinh tình yêu đối với cái đẹp, lòng nhân ái, khát khao lí tưởng cũng như những hiểu biết về thế giới, về xã hội và nhất là về con người.Vì thế dạng bài nghị luận một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học là một dạng bài góp phần gắn chặt mối quan hệ giữa dạy đọc hiểu văn bản văn học với thực tế cuộc sống, giúp cho học sinh sau khi học tác phẩm văn học còn biết liên hệ đến các vấn đề xã hội đang diễn ra xung quanh, có khả năng tự định hướng và lựa chọn một lối sống tích cực . Đây chính là một trong những mục tiêu lớn của việc dạy học Ngữ văn trong nhà trường phổ thông hiện nay. Văn nghị luận xã hội là kiểu bài phát biểu ý kiến, bày tỏ nhận thức, đánh giá và thái độ của người viết về một vấn đề xã hội bằng những luận điểm, lí lẽ và dẫn chứng cụ thể. Bởi vậy, bài văn nghị luận xã hội muốn có sức thuyết phục cần lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, dẫn chứng tiêu biểu, phù hợp, xúc cảm sâu lắng, nhiệt huyết… Muốn thuyết phục người đọc cả về tư tưởng và tình cảm, bài văn nghị luận cần có chất văn. Nếu chất nghị luận là phần xác thì chất văn được coi như phần hồn, nếu chất nghị luận tác động đến lí trí, giúp người đọc hiểu vấn đề, nắm được tư tưởng của người viết thì chất văn lại lay động trái tim người đọc, mang đến những xúc cảm sâu lắng, khiến ta thấm thía, yêu mến, say sưa. Đặc biệt với bài viết của một học sinh giỏi, chất văn góp phần quyết định sự thành công, tạo những ám ảnh nơi người đọc.
Xem thêm

22 Đọc thêm

RÈN LUYỆN KỸ NĂNG VIẾT VĂN NGHỊ LUẬN CHO HỌC SINH LỚP 9

RÈN LUYỆN KỸ NĂNG VIẾT VĂN NGHỊ LUẬN CHO HỌC SINH LỚP 9

Trong quá trình trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn THCS,tôi nhận thấy phân môn Tập làm văn đối với học sinh là phần quan trọng và khó bởi qua nội dung này sẽ giúp các em tạo lập văn bản.Trong phần tập làm văn,phần Nghị luận văn học sẽ giúp các em hình thành,phát triển khả năng lập luận chặt chẽ,trình bày những lí lẽ,dẫn chứng giàu sức thuyết phục khi bày tỏ ý kiên của mình về một tác phẩm văn học nào đó. Nhưng đối với học sinh THCS thì kĩ năng viết văn của các em còn nhiều hạn chế như: bài viết rời rạc,khô khan,dùng câu từ chưa chính xác,bố cục chưa rõ ràng,lập luận chưa có sức thuyết phục,vốn từ nghèo nàn nên diễn đạt lủng củng,tối nghĩa,mắc lỗi chính tả…. Xuất phát từ thực trạng trên, bản thân tôi xin nêu một vài ý kiến kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy với mục đích trao đổi cùng các bạn đồng nghiệp qua sáng kiến: “Rèn luyện kĩ năng viết văn nghị luận cho học sinh lớp 9”.Với phạm vi của sáng kiến kinh nghiệm ,tôi xin tập trung vào kiểu bài rèn luyện cho học sinh kĩ năng viết bài văn nghị luận về tác phẩm văn học.
Xem thêm

19 Đọc thêm

VẬN DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN ĐỂ GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG THỰC TIỄN HỌC SINH THCS

VẬN DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN ĐỂ GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG THỰC TIỄN HỌC SINH THCS

Nói không với trò chơi điện tử.Hiện nay, với sự phát triển của công nghệ thông tin, sự phủ sóng của các mạng lưới internet ở thị trấn và thành phố ngày càng rộng rãi. Học sinh có thể sử dụng các công nghệ hiện đại để lên mạng chơi game để giải trí sau những giờ học căng thẳng. Tuy nhiên, học sinh đã dành nhiều thời gian để chơi game hơn là cho việc học, từ đó dẫn đến kết quả học tập của học sinh giảm sút và tâm lý của học sinh cũng bị ảnh hưởng xấu từ những trò chơi mang tính bạo lực. Vì vậy, chúng em sẽ vận dụng những kiến thức các môn đã học để giúp học sinh hiểu được những tác hại của trò chơi điện tử đối với học sinh ngày nay và nói không với trò chơi điện tử.
Xem thêm

7 Đọc thêm

Cách viết phần mở bài trong bài văn nghị luận XH

CÁCH VIẾT PHẦN MỞ BÀI TRONG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XH

Cách viết phần mở bài trong bài văn nghị luận XH Đối với học sinh, một trong những phần các em thường bối rối khi viết văn nghị luận là phần mở bài. Tuy đây không phải là phần trọng tâm của bài văn nhưng nó là phần không thể thiếu, góp phần làm nổi bật vấn đề. Nhiều em học sinh còn lúng túng, mất khá nhiều thời gian cho phần này. Ở bài viết này, cô chia sẻ với các em một số “mẹo vặt ” để viết mở bài, cách này cô đã áp dụng và thấy khá hiệu quả. Bài viết có 2 phần : Phần 1 hướng dẫn chung, phần 2 là một số mẹo vặt dành cho học sinh yếu I.Hướng dẫn chung Phần mở bài trong văn nghị luận là phần đặt vấn đề, thông thường có hai cách: – Trực tiếp: Là cách đi thẳng vào vấn đề cần nghị luận. Nghĩa là sau khi đã tìm hiểu đề và tìm được vấn đề trọng tâm của bài nghị luận, ta nêu thẳng vấn đề đó ra bằng một luận điểm rõ ràng. Tuy nhiên khi mở bài trực tiếp, ta cũng phải trình bày cho đủ ý, không nói thiếu nhưng cũng không nên nói hết nội dung, phải đáp ứng đủ các yêu cầu của một phần mở bài đúng mực trong nhà trường. Đặt vấn đề theo cách trực tiếp dễ làm, nhanh gọn, tự nhiên, dễ tiếp nhận, tuy nhiên thường khô khan, cứng nhắc, thiếu hấp dẫn cho bài viết. Nếu đề bài yêu cầu nghị luận về tác phẩm thì mở bài phải giới thiệu được tên tác giả, tên tác phẩm, trích dẫn khổ thơ, hoặc giới thiệu vấn đề nghị luận. – Gián tiếp: Với cách này người viết phải dẫn dắt vào đề bằng cách nêu lên những ý có liên quan đến luận đề (vấn đề cần nghị luận) để gây sự chú ý cho người đọc sau đó mới bắt sang luận đề.Mở bài theo cách này tạo được sự uyển chuyển, linh hoạt cho bài viết, hấp dẫn người đọc, tuy nhiên kiểu mở bài này dễ dẫn đến sự lan man, lạc đề cho bài viết. Những bạn học yếu nên mở bài theo cách thứ nhất ( không phải nghĩ nhiều,
Xem thêm

5 Đọc thêm

SOẠN BÀI: CÁCH LÀM BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT SỰ VIỆC, HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG

SOẠN BÀI: CÁCH LÀM BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT SỰ VIỆC, HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG

Hướng dẫn soạn văn, soạn bài, học tốt bài CÁCH LÀM BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT SỰ VIỆC, HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Đề bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống a) Đọc và so sánh các đề bài sau: Đề 1: Đất nước ta có nhiều tấm gương học sinh nghèo vượt khó, học giỏi. Em hãy trình bày một số tấm gương đó và nêu suy nghĩ của mình. Đề 2: Chất độc màu da cam mà đế quốc Mĩ đã rải xuống các cánh rừng miền Nam thời chiến tranh đã để lại di hoạ nặng nề cho hàng chục vạn gia đình. Hàng chục vạn người đã chết. Hàng vạn trẻ em chịu tật nguyền suốt đời. Cả nước đã lập quỹ giúp đỡ các nạn nhân nhằm phần nào cải thiện cuộc sống và xoa dịu nỗi đau cho họ. Em hãy nêu suy nghĩ của mình về các sự kiện đó. Đề 3: Trò chơi điện tử là món tiêu khiển hấp dẫn. Nhiều bạn vì mải chơi mà sao nhãng học tập và còn phạm những sai lầm khác. Hãy nêu ý kiến của em về hiện tượng đó. Đề 4: Đọc mẩu chuyện sau đây và nêu những nhận xét, suy nghĩ của em về con người và thái độ học tập của nhân vật. Nguyễn Hiền nhà rất nghèo, phải xin làm chú tiểu trong chùa. Việc chính là quét lá và dọn dẹp vệ sinh. Nhưng cậu rất thông minh và ham học. Những buổi thầy giảng kinh, cậu đều nép bên cửa lắng nghe, rồi chỗ nào chưa hiểu, cậu hỏi thầy giảng thêm. Thấy Nguyễn Hiền thông minh, mau hiểu, thầy dạy cho cậu học chữ. Không có giấy, Nguyễn Hiền lấy lá để viết chữ, rồi lấy que tre xâu thành từng xâu ghim xuống đất. Mỗi ghim là một bài. Một hôm Nguyễn Hiền xin thầy cho đi thi. Thầy ngạc nhiên bảo: - Con đã học tập được bao nhiêu mà dám thi thố với thiên hạ? - Con xin thi thử xem sức học của mình đến đâu. Năm ấy, Nguyễn Hiền đã đỗ trạng nguyên. Vua Trần cho Nguyễn Hiền còn nhỏ quá, mới 12 tuổi, nên không bổ dụng. Một thời gian sau, vua có việc tiếp sứ giả nước ngoài, cho gọi Nguyễn Hiền về triều. Nguyền Hiền bảo: - Đón trạng nguyên mà không có võng lọng sao? Ông về tâu với vua xin cho đầy đủ nghi thức. Vua đành cho các quan mang võng lọng r­ớc quan Trạng tí hon về kinh.. (Theo Cửu Thọ, Một trăm gương tốt thiếu nhi Việt Nam,NXB Trẻ, TPHCM, 1999) b) Chỉ ra những điểm giống nhau giữa các đề bài trên. Gợi ý: Một đề bài văn nghị luận về sự việc, hiện tượng đời sống thường có phần: nêu sự việc, hiện tượng cần bàn và nêu yêu cầu cần thực hiện. c) Em thử nghĩ ra những đề bài tương tự như các đề bài trên. Gợi ý: - Sự việc, hiện tượng nghị luận có thể là sự việc, hiện tượng tốt đáng ca ngợi, biểu dương; cũng có thể là sự việc, hiện tượng không tốt, cần phê phán, khuyến cáo. - Sự việc, hiện tượng cần nghị luận có thể được nêu ra cụ thể trong đề bài hoặc chỉ gợi ý, yêu cầu người nghị luận phải tự hình dung, mô tả. - Yêu cầu của đề bài thường là: “nêu suy nghĩ”, “nêu ý kiến nhận xét”, “đánh giá”, “bày tỏ thái độ”… 2. Cách làm bài văn nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống Cho đề bài: Báo đưa tin: “Bạn Phạm Văn Nghĩa là học sinh lớp 7 trường Trung học cơ sở Bắc Sơn, quận Gò Vấp, nhà ở Hóc Môn. Nghĩa thườngảa đồng giúp mẹ trồng trọt. Một hôm, mẹ thấy Nghĩa cầm tờ giấy hứng cái gì đó, mẹ hỏi: “Con làm gì đấy?”. Nghĩa trả lời: “Con thụ phấn cho bắp”. Vụ ấy ruộng bắp nhà Nghĩa năng suất cao hơn mọi năm. Ở nhà Nghĩa còn nuôi gà, nuôi heo. Em còn làm một cái tời để mẹ kéo nước cho đỡ mệt. Thành đoàn Thành phố Hồ Chí Minhh đã phát động phong trào “Học tập Phạm Văn Nghĩa”. Phong trào ấy được các bạn học sinh nhiệt liệt hưởng ứng”.” Em hãy nêu suy nghĩ của mình về hiện tượng ấy. (1). Tìm hiểu đề và tìm ý - Tìm hiểu đề + Đề thuộc loại gì? + Đề đưa ra hiện tượng, sự việc gì? + Đề yêu cầu em phải làm gì? - Tìm ý: Phân tích sự việc, hiện tượng đề đưa ra để tìm ý nghĩa của nó. + Những việc làm của Nghĩa cho thấy em là ng­ười nh­ư thế nào?  + Vì sao Thành đoàn Thành phố Hồ Chí Minh phát động phong trào học tập Bạn Nghĩa? + Những việc làm của Nghĩa có khó không? + Nếu mọi học sinh đều có ý thức làm như Nghĩa thì cuộc sống sẽ tốt lên như thế nào? (2) Lập dàn bài Sắp xếp các ý theo bố cục 3 phần của bài văn nghị luận: a) Mở bài: - Giới thiệu hiện tượng Phạm Văn Nghĩa: Em được biết đến hiện tượng này qua phương tiện thông tin nào hay trực tiếp chứng kiến? Phạm Văn Nghĩa bao nhiêu tuổi, học lớp mấy, trường nào, quê ở đâu? - Giới thiệu ý nghĩa tấm gương Phạm Văn Nghĩa: Nghĩa đã làm gì, việc làm ấy có ý nghĩa thế nào? (Nêu khái quát). b) Thân bài: - Phân tích ý nghĩa những việc làm của Phạm Văn Nghĩa; - Đánh giá việc làm của Phạm Văn Nghĩa; - Đánh giá ý nghĩa của việc phát động học tập theo gương Phạm Văn Nghĩa. c) Kết bài: - Khái quát ý nghĩa tấm gương Phạm Văn Nghĩa: nêu suy nghĩ, nhắn nhủ mọi người; - Tự rút ra bài học cho bản thân: Em sẽ học tập gương Phạm Văn Nghĩa như thế nào? (làm những việc cụ thể nào để học tập gương ấy). (3) Viết bài - Chú ý mối liên kết khi viết các phần (Mở bài – Thân bài – Kết luận); - Chú ý viết phần thân bài: Mỗi ý đã lập và sắp xếp trong dàn bài viết thành một đoạn văn. - Cần phân tích các việc làm của Nghĩa: Có thể phân tích trước rồi từ đó rút ra ý nghĩa của từng việc làm hoặc ngược lại. Ý nghĩa chung của tấm gương Phạm Văn Nghĩa phải được rút ra sau những phân tích cụ thể (nêu sự việc trước, chỉ ra ý nghĩa sau). Biết đưa ra những suy nghĩ của riêng mình về những việc làm của Phạm Văn Nghĩa cũng như ý nghĩa của những việc làm ấy. - Chú ý cách đặt câu, lựa chọn từ ngữ. (4) Đọc lại bài viết và sửa chữa - Mở bài và Kết bài đã hợp lí chưa? - Chú ý sửa lỗi viết đoạn: Đoạn đã tập trung làm nổi bật được ý chưa? Các đoạn có liên kết, mạch lạc với nhau không? - Sửa các lỗi về câu, từ ngữ, chính tả.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Nghị luận Tác Hại Của Game Online

NGHỊ LUẬN TÁC HẠI CỦA GAME ONLINE

Trò chơi điện tử phù hợp với sự phát triển của nền công nghệ thông tin,bên cạnh việc đem lại những điều bổ ích cho thanh,thiếu niên nó cũng có một phần nào đó gây tác hại đối với các em do bản thân các em không làm chủ được mình,vì vậy mà các em xao nhãng việc học tập và còn phạm nhiều sai lầm khác.Chúng ta cần phải ngăn chặn. Chúng ta luôn đặt ra nhiều câu hỏi về trò chơi điện tử.Câu hỏi thứ nhất:"Vì sao trò chơi điện tử rất phù hợp hấp dẫn đối với học sinh hiện nay ?".Trò chơi điện tử rất hấp dẫn đối với học sinh và phần lớn là học sinh Trung học,cũng có phần một ít là một số các em học sinh đang ở tuổi nhi đồng.Trò chơi điện tử có hình ảnh đẹp.Màu sắc được phối hợp hài hòa nhưng cũng có phần bí ẩn làm cho người chơi cảm thấy hồi hộp,bị lôi cuốn theo trò chơi.Về nhân vật cũng sinh động không kém gì hình ảnh.Về âm thanh có trò thì có điệu nhạc vui nhộn,có trò thì có điệu nhạc hoành tráng của những trận đánh nhau giữa hai game thủ.Ngày nay,nền công nghệ thông tin ngày càng phát triển hơn trước nên đã tạo ra nhiều trò chơi hay,hấp dẫn mọi người và nhất là học sinh.Nhiều trò chơi mà các game thủ có thể nói chuyện với nhau nhờ những bàn phím của vi tính.Nhiều trò chơi hấp dẫn các học sinh hiện nay như Audition,Boom,Võ Lâm,...Nhiều trò còn áp dụng nhiều kĩ thuật mới của ngành tin học làm cho nhân vật của các trò chơi có thể di chuyển nhanh,động tác mềm mại,uyển chuyển hơn.Trò chơi điện tử rất hấp dẫn đối với học sinh hiện nay nhờ vào hình ảnh sinh động,nhân vật của trò chơi đẹp,âm thanh phù hợp với trò chơi và đặc biệt là họ có thể nói chuyện với nhau khi đang chơi....Câu hỏi thứ hai là:"Tại sao nhiều học sinh trong các trường học vì mãi chơi điện tử mà xao nhãng việc học hành ?".Các bạn học sinh say mê game hiện nay chỉ muốn chứng tỏ mình tài giỏi hơn các bạn khác trong game.Những bạn học sinh như vậy thường không làm chủ được bản thân mình.Có nhiều bạn say mê game đến nỗi phải trốn học đi chơi,mất bài,mất vở,cuối năm bị xếp loại học sinh kém,vì thế làm cho các bạn thêm chán nãn,nghĩ rằng mình là người vô dụng.Có bạn còn nói dối cha mẹ,làm những điều không tốt để có tiền đi chơi điện tử.Có bạn còn nói dối thầy cô,bạn bè rằng mình bị bệnh này bệnh nọ để có thể nghỉ học mà đi chơi trò chơi điện tử vô bổ đó.Tất cả các việc làm trên ảnh hưởng đến việc học tập của bản thân,đạo đức ngày càng suy kém và nguyên nhân chính của nó là sự say mê game quá độ của các bạn học sinh. Có nhiều bạn học sinh hỏi rằng:"Làm thế nào để có thể vừa chơi vừa giải trí để nâng cao sự hiểu biết mà vẫn là những người học sinh giỏi,là những người con ngoan ?".Câu trả lời của tôi hơi dài nhưng có thể giúp các bạn trong việc học tập mà vẫn được giải trí.Chúng ta phải tập trung tất cả vào việc học tập,cần phải hoàn thành các bài tập tốt trước khi đến trường.Ở nhà thì phải giúp gia đình trong một số công việc nhẹ khác,làm những việc theo lời tôi nói thì các bạn sẽ nhanh chóng trở thành những học sinh gương mẫu,nắm vững kiến thức.Vào thời gian rãnh rỗi thì các bạn cũng cần phải đọc thêm sách báo,rèn luyện sức khỏe vào buổi sáng sớm.Và chúng ta cũng có thể tham gia game để thư giãn qua những ngày học tập mệt mỏi. Bên cạnh đó tôi thấy mỗi bạn học sinh cần phải tự giác thực hiện quy định của gia đình mình về thời gian dành cho giải trí,thư giãn,không để ảnh hưởng đến việc học tập.Khi chơi các trò chơi điện tử cần tránh những nội dung không phù hợp với lứa tuổi và tôi cũng kiến nghị chính quyền cần quản lí các địa điểm dịch vụ điện tử...Cha mẹ cần quan tâm,nhắc nhở gia đình,con cái thường xuyên.Nhà trường cần tổ chức nhiều sinh hoạt tập thể bổ ích cho các em để các em tránh được chuyện mãi chơi điện tử,xao nhãng việc học tập và phạm những sai lầm khác. Game luôn luôn hấp dẫn đối với chúng ta.Bên cạnh việc thành thạo các trò chơi,chúng ta cần phải phấn đấu trở thành học sinh giỏi và những người con ngoan.Đồng thời chúng ta còn biết ngăn chặn các bạn khác vì say mê game mà xao nhãng việc học tập,phạm nhiều sai lầm khác.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Tổng hợp các bài văn nghị luận phàn 1

TỔNG HỢP CÁC BÀI VĂN NGHỊ LUẬN PHÀN 1

Phân tích Ngô Tử Văn trong chuyện chức phán sự đền Tản Viên. Phân tích biện pháp nghệ thuật ẩn dụ trong bài thơ Viếng lăng Bác. Tính cách nghĩa hiệp của Lục Vân Tiên qua đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga. Cảm nhận về nhân vật ông Sáu trong truyện ngắn “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng. Giai thích ý nghĩa câu”con ngoan,trò giỏi” Suy nghĩ của em về hiện tượng vứt rác bừa bãi hiện nay. Bác Hồ là vị lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. Hãy viết bài văn nêu suy nghĩ của em về Bác Trò chơi điện tử là món tiêu khiển hấp dẫn. Nhiều bạn vì quá mải chơi mà sao nhãng việc học tập và còn phạm những sai lầm khác. Hãy nêu ý kiến của em về hiện tượng đó. Vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Trãi qua bài Cảnh ngày hè. Ấn tượng của anh (chị) về hình ảnh người trai thời Trần sau khi học bài Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão. Phân tích tác phẩm Độc Tiểu Thanh Kí của Nguyễn Du. Phân tích bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nghị luận văn học “Sách là người bạn lớn” . Nghị luận Xã Hội Facebook và giới trẻ ngày nay. Cảm nhận về nhân vật cô Tấm. Phân tích bài thơ “Sóng” Xuân Quỳnh khổ 5,6,7. Tôn sư trọng đạoTruyền thống tốt đẹp của người Việt Nam. NLXH: Bàn về vai trò của việc tự học. Em nghĩ thế nào về hiện tượng lười học hiện nay. Suy nghĩ của anh chị về câu nói” Ai cũng muốn làm điều gì đó rất lớn lao nhưng lại không nhận ra rằng cuộc sống được tạo thành từ những điều rất nhỏ” Trình bày ý kiến của anh chị về quan niệm chọn nghề nghiệp trong tương lai. Nghị luận xã hội về Sự đồng cảm sẻ chia. Phân tích bức tranh tứ bình trong bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu. Suy nghĩ của em về câu nói “Nơi lạnh nhất không phải là Bắc Cực mà là nơi thiếu vắng tình thương” Phân tích nhân vật người anh hùng Đăm Săn trong đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây. Phải chăng: Một điều nhịn, chín điều lành? Anh chị hãy viết bài văn bình luận câu tục ngữ này. Khoảnh khác chuyển mùa từ hạ sang thu. Một bài học sâu sắc, ý nghĩa mà cuộc sống đã tặng cho em ” Bản chất của thành công”. Bài viết số 2 lớp 10 đề 3: Tưởng tượng và viết tiếp đoạn kết cho những câu truyện sau: Truyện An Dương Vương. Bài viết số 2 lớp 10 đề 2: Hãy tưởng tượng một kết thúc khác cho truyện Mị Châu – Ttrọng Thủy. Bài viết số 2 lớp 10 đề 1: Em hãy kể lại 1 kỷ niệm sâu sắc nhất về gia đình, bạn bè, người thân, thầy cô. Bài viết số 1 lớp 10 đề 1: Cảm nghĩ của em ngày đầu tiên bước chân vào trường PTTH. Một triết học nói: “Mỗi con vật khi sinh ra đều là tất cả những gì nó có. Chỉ có con người là ngay từ thuở lọt lònng thì chẳng là gì cả. Nó làm thế nào thì nó sẽ trở thành như thế ấy, và nó phải làm bằng tự do của chính nó.Tôi chỉ có thể trở thành kẻ do chính tôi làm ra” Nghị luận Trang phục và văn hóa. NLVH: Không thầy đố mày làm nên” nhưng cũng có câu “Học thầy không tày học bạn Phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm Chuyện người con gái Nam xương của Nguyễn Dữ. Nghị luận xã hội về tác hại của rượu. Nghị luận xã hội vể tình yêu quê hương. Phân tích hai khổ thơ đầu bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương. Phân tích tác phẩm Chuyện chức phán sự đền Tản Viên của Nguyễn Dữ. Nghị luận xã hội về câu nói “Hiền tài là nguyên khí quốc gia” Nghị luận xã hội về biến đổi khí hậu. NLXH: Sự chuẩn bị bản thân con người là quan trọng nhất. Cảm nhận về hình ảnh quê hương trong thơ Tế Hanh. Cảm Nhận Về Đoạn Trích “Chị Em Thúy Kiều” của Nguyễn Du. Dựa vào bài “Đi bộ ngao du” của nhà văn Ruxô, em hãy trình bày hiểu biết về lợi ích của việc đi bộ. Phân tích hình tượng nhân vật Khách trong “Phú sông Bạch Đằng” (Trương Hán Siêu). NLVH: “Sự sống nảy sinh từ trong cái chết, hạnh phúc hiện hình từ trong những hy sinh, gian khổ, ở đời này không có con đường cùng, chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải có sức mạnh để bước qua những ranh giới ấy…” (Mùa lạc – Nguyễn Khải) NLXH: Nói không với những tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục. NLXH: Trách nhiệm của con cái đối với cha mẹ.
Xem thêm

148 Đọc thêm

Ôn tập phần làm văn lớp 7

ÔN TẬP PHẦN LÀM VĂN LỚP 7

VỀ VĂN BIỂU CẢM 1. Hãy ghi lại tên các bài văn biểu cảm (văn xuôi) đã được học và đọc trong Ngữ văn 7, tập 1. Gợi ý: Để xác định được bài văn nào là bài văn biểu cảm, cần hiểu được thế nào là văn biểu cảm. Văn biểu cảm xuất phát từ nhu cầu thổ lộ tình cảm của con người. Vì vậy, văn biểu cảm viết ra là để biểu đạt tình cảm, cảm xúc, sự đánh giá của con người đối với thế giới xung quanh, khơi gợi tình cảm, sự đồng cảm nơi người đọc. Có thể kể tên các bài văn biểu cảm: Cổng trường mở ra, Mẹ tôi, Một thứ quà của lúa non: cốm, Sài Gòn tôi yêu, Mùa xuân của tôi,… 2. Văn biểu cảm có những đặc điểm gì? Cho ví dụ cụ thể. Gợi ý: Chọn bài văn tuỳ thích phân tích để thấy được những biểu hiện của văn biểu cảm trong đó. Chú ý trả lời các câu hỏi: - Bài văn tập trung biểu đạt tình cảm nào? - Tác giả đã bộc lộ tình cảm của mình qua các hình ảnh ẩn dụ, tượng trưng hay bộc lộ trực tiếp những trạng thái tình cảm của mình? Sắc thái tình cảm ấy là gì? - Tình cảm trong bài văn ấy tạo ra sự xúc động trong em ra sao? Những tình cảm ấy hướng ta tới điều gì? 3. Trong văn biểu cảm, yếu tố miêu tả có vai trò gì? Cho ví dụ cụ thể. Gợi ý: Miêu tả trong văn biểu cảm khác thế nào với miêu tả trong văn miêu tả? Miêu tả trong văn biểu cảm không nhằm mục đích tái hiện sự vật, hiện tượng mà là nhằm khơi gợi cảm xúc và nó chịu sự chi phối của cảm xúc. Cho nên, sự vật, hiện tượng trong văn biểu cảm hiện ra với hình dáng, màu sắc, …thấm đẫm tình cảm, cảm xúc của người viết. Đó là sông xanh, núi tím, trăng mới in ngần, mưa riêu riêu,gió lành lạnh, tiếng nhạn kêu trong đêm xanh,… gợi nỗi buồn nhớ, hoài niệm da diết, là tình yêu quê hương đằm thắm, đậm sâu mà khắc khoải đến nao lòng (Mùa xuân của tôi). Đó là tình yêu Sài Gòn thẫm đẫm trong hình ảnh Sài Gòn cứ trẻ hoài như một cây tơ đương độ nõn nà, với nắng ngọt ngào, là những cô gái tóc buông thõng trên vai, trên lưng… cũng yểu điệu thướt tha nhưng theo cung cách Bến Nghé, e thẹn ngượng nghịu như trăng mới ló, còn ngập ngừng dấu nửa vành sau áng mây… (Sài Gòn tôi yêu). 4. Nêu vai trò của yếu tố tự sự trong văn biểu cảm. Cho ví dụ cụ thể. Gợi ý: Vai trò của tự sự trong văn biểu cảm có giống với vai trò của tự sự trong văn tự sự không? Tình cảm cảm xúc phải có sự vật, sự việc cụ thể để bộc lộ, gửi gắm. Sự vật thì nhờ miêu tả, còn sự việc thì nhờ tự sự. Đó là câu chuyện về thú dạo chơi trong tiết xuân gợi cảm giác êm ái như nhung, say sưa như uống rượu, là chuyện chuyện thờ cúng tổ tiên sao mà ấm áp lạ lùng,… (Mùa xuân của tôi) … 5. Khi muốn bày tỏ tình thương yêu, lòng ngưỡng mộ, ngợi ca đối với một con người, sự vật, hiện tượng thì em phải nêu lên được điều gì của con người, sự vật, hiện tượng đó? Gợi ý: Không thể có tình thương yêu, lòng ngưỡng mộ, ngợi ca đối với những đối tượng vô hình. Phải khắc hoạ đối tượng, kể về đối tượng theo một cách nào đó thì mới có cớ để bộc lộ tình cảm, thì cảm xúc mới sống động, cụ thể. 6. Ngôn ngữ biểu cảm đòi hỏi phải sử dụng các phương tiện tu từ như thế nào? Cho ví dụ cụ thể. Gợi ý: Văn biểu cảm thường sử dụng các biện pháp tu từ như so sánh, ẩn dụ, nhân hoá, điệp ngữ,… Hãy tìm trong các bài: Một thức quà của lúa non: Cốm, Sài Gòn tôi yêu, Mùa xuân của tôi,… các ví dụ về việc sử dụng các biện pháp tu từ này (chú ý nêu lên tác dụng cụ thể của chúng trong thể hiện tình cảm, cảm xúc). 7. Kẻ lại bảng sau vào vở và điền vào bảng sau: Gợi ý: - Nội dung biểu cảm: + Biểu cảm về sự vật, sự việc nào? + Bộc lộ tình cảm gì đối với đối tượng biểu cảm? Tính chất, màu sắc, cung bậc tình cảm ra sao? - Mục đích biểu cảm: Thổ lộ tình cảm, cảm xúc để làm gì? - Biểu cảm bằng phương tiện nào? Cách nào? + Ngôn ngữ biểu cảm như thế nào? + Các biện pháp tu từ được sử dụng để biểu cảm? 8. Kẻ lại bảng sau vào vở và điền những thông tin cần thiết. Mở bài   Thân bài   Kết bài   Gợi ý: - Phần nào có nhiệm vụ giới thiệu đối tượng biểu cảm, tính chất của tình cảm? - Phần nào bộc lộ cụ thể các sắc thái, cung bậc cụ thể của tình cảm đối với đối tượng? - Phần nào kết đọng ấn tượng về đối tượng, khắc sâu tình cảm về đối tượng? II. VỀ VĂN NGHỊ LUẬN 1. Trong chương trình Ngữ văn 7, tập 2, em đã được tìm hiểu những bài văn nghị luận nào? Gợi ý: Có thể kể các bài văn nghị luận như: Tinh thần yêu nước của nhân dân ta, Sự giàu đẹp của tiếng Việt, Đức tính giản dị của Bác Hồ, Ý nghĩa văn chương,… 2. Khi nào thì người ta dùng văn nghị luận? Em hãy kể ra một số trường hợp cụ thể đòi hỏi sử dụng văn nghị luận. Gợi ý: Khi người ta muốn xác lập cho người đọc, người nghe một tư tưởng, quan điểm nào đó thì xuất hiện nhu cầu tạo lập văn bản nghị luận. Văn nghị luận có thể dưới dạng các ý kiến nêu ra trong một cuộc họp, các bài xã luận, bình luận, phát biểu ý kiến trên báo chí,… 3. Làm một bài văn nghị luận, chúng ta phải chú ý đến những yếu tố nào? Gợi ý: Luận điểm, luận cứ, lập luận là những yếu tố hết sức cơ bản của một bài văn nghị luận. Để tạo lập một bài văn nghị luận, không thể không chú ý đến các yếu tố này. 4. Thế nào là luận điểm? Trong các câu sau đây, những câu nào là luận điểm? Vì sao? a) Nhân dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. b) Đẹp thay tổ quốc Việt Nam! c) Chủ nghĩa anh hùng trong chiến đấu và sản xuất. d) Tiếng cười là vũ khí của kẻ mạnh. Gợi ý: - Luận điểm là ý kiến thể hiện tư tưởng, quan điểm của bài văn, được nêu ra dưới hình thức câu khẳng định hay phủ định, được diễn đạt sáng rõ, nhất quán; luận điểm là linh hồn của bài viết, có vai trò thống nhất các đoạn văn thành một khối; luận điểm phải đúng đắn, chân thực, có ý nghĩa thực tế. - Theo đó, các câu (a) và (d) đáp ứng đúng tiêu chuẩn của luận điểm. 5. Có người nói: Làm văn chứng minh cũng dễ thôi, chỉ cần nêu luận điểm và dẫn chứng là xong. Ví dụ sau khi nêu ra luận điểm “Tiếng Việt ta giàu đẹp”, chỉ cần dẫn ra câu ca dao: Trong đầm gì đẹp bằng sen, Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng… là được. Em có đồng ý với ý kiến trên không? Vì sao? Gợi ý: - Bài văn lập luận chứng minh cần những yếu tố nào? ý kiến trên đã đảm bảo đầy đủ các yếu tố đó chưa? - Yêu cầu về chất lượng đối với từng yếu tố trong bài văn lập luận chứng mình là gì? + Luận điểm phải thế nào? + Lí lẽ phải thế nào? + Dẫn chứng phải thế nào? + Lập luận phải thế nào? 6. So sánh cách làm hai đề văn sau: a) Chứng minh rằng Ăn quả nhớ kẻ trồng cây là một suy nghĩ đúng đắn. b) Giải thích câu tục ngữ: Ăn quả nhớ kẻ trồng cây. Gợi ý: Hai đề trên là ví dụ cho đề văn lập luận chứng minh và lập luận giải thích. Chỉ ra được điểm giống và khác nhau về cách làm giữa hai đề văn này tức là đã nắm được cách làm bài văn lập luận chứng minhvà lập luận giải thích. Hai đề này giống nhau ở nội dung của vấn đề được đưa ra nhưng khác nhau ở yêu cầu về thao tác. Với yêu cầu chứng minh, người viết phải dùng những lí lẽ chặt chẽ, dẫn chứng tiêu biểu, xác thực, đã được mọi người thừa nhận để chứng tỏ luận điểm Phải biết ơn những người có công tạo ra thành quả cho ta hưởng thụ thể hiện qua câu tục ngữ Ăn quả nhớ kẻ trồng cây là đúng đắn, đáng tin cậy. Với yêu cầu giải thích, nhiệm vụ trọng tâm của người viết là làm cho mọi người hiểu rõ câu tục ngữ; muốn được như vậy, cần phải làm sáng tỏ nghĩa đen, nghĩa bóng của câu này, lí giải và thuyết phục mọi người tin tưởng theo nhận thức của mình về nó. III. ĐỀ VĂN THAM KHẢO Đề 1: Bạn em chỉ ham thích trò chơi điện tử, truyền hình, ca nhạc, … mà tỏ ra thờ ơ, không quan tâm đến thiên nhiên. Em hãy chứng minh cho bạn thấy rằng thiên nhiên chính là nơi đem lại cho ta sức khoẻ, sự hiểu biết và niềm vui vô tận, và vì thế, chúng ta cần gần gũi với thiên nhiên, yêu mến thiên nhiên. Đề 2: Do không được nghe giảng về câu tục ngữ Nhất canh trì, nhị canh viên, tam canh điền, nhiều người không hiểu những từ Hán Việt trong câu ấy nghĩa là gì, người xưa muốn nói điều gì qua câu tục ngữ ấy và nói như thế có lí hay không. Em sẽ giải thích thế nào cho những người đó hiểu? Đề 3: Có người sau khi đọc Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu cứ băn khoăn: Vì sao Nguyễn Ái Quốc không để nhân vật Phan Bội Châu vạch tội hay thét mắng vào mặt Va-ren mà chỉ im lặng, với nụ cười ruồi thoáng qua, “kín đáo, vô hình” trên gương mặt. Người đó cũng không hiểu vì sao “cái im lặng dửng dưng” của Phan Bội Châu lại có thể “làm cho Va-ren sửng sốt cả người” Em đã học kĩ tác phẩm này, vậy hãy giải thích cho người đó rõ. Đề 4: Hãy chứng minh rằng: trong trích đoạn Nỗi oan hại chồng, nhân vật Thị Kính không chỉ chịu khổ vì bị oan mà còn mang nỗi nhục của một thân phận nghèo hèn bị kẻ giàu có, tàn ác khinh rẻ. Đề 5: Chép lại đoạn văn sau: Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước. (Hồ Chí Minh, Tinh thần yêu nước của nhân dân ta) a) Tìm các trạng ngữ của câu trong đoạn văn trên và nêu rõ công dụng của các trạng ngữ ấy. b) Chỉ ra một trường hợp dùng cụm C – V làm thành phần của cụm từ trong đoạn văn trên. Cấu tạo của cụm C – V ấy có gì đặc biệt? c) Câu đầu của đoạn văn trên có sử dụng biện pháp đảo trật tự từ trong một cụm từ làm phụ ngữ. Hãy chỉ ra từ nào đã được đảo trật tự và nêu tác dụng của biện pháp ấy trong câu văn. d) Trong câu cuối của đoạn văn trên, tác giả đã dùng hình ảnh nào để thể hiện cụ thể sức mạnh của tinh thần yêu nước? Nêu giá trị của việc sử dụng hình ảnh ấy. đ) Trong câu cuối đoạn văn trên, có một loạt động từ được sử dụng rất thích hợp. Hãy nêu các động từ ấy và phân tích giá trị của từng trường hợp. Đề 6: Đồng bào ta ngày nay cũng rất xứng đáng với tổ tiên ta ngày trước. Từ các cụ già tóc bạc đến các cháu nhi đồng trẻ thơ, từ những kiều bào ở nước ngoài đến những đồng bào ở vùng tạm bị chiếm, từ nhân dân miền ngược đến miền xuôi, ai cũng có một lòng nồng nàn yêu nước, ghét giặc. Từ những chiến sĩ ngoài mặt trận chịu đói mấy ngày để bám sát lấy giặc đặng tiêu diệt giặc, đến những công chức ở hậu phương nhịn ăn để ủng hộ bộ đội, từ những phụ nữ khuyên chồng con đi tòng quân mà mình thì xung phong giúp việc vận tải, cho đến các bà mẹ chiến sĩ săn sóc yêu thương bộ đội như con đẻ của mình. Từ những nam nữ công nhân và nông dân thi đua tăng gia sản xuất, không quản khó nhọc để giúp một phần vào kháng chiến, cho đến những đồng bào điền chủ quyên đất ruộng cho Chính phủ,… Những cử chỉ cao quý đó tuy khác nhau nơi việc làm, nhưng đều giống nhau nơi lòng nồng nàn yêu nước. (Hồ Chí Minh, Tinh thần yêu nước của nhân dân ta) Đọc kĩ đoạn văn trên và cho biết: a) Câu mở đoạn và câu kết đoạn. b) Biện pháp liệt kê đã được sử dụng rộng rãi trong đoạn văn trên. Hãy nêu tác dụng của biện pháp ấy trong đoạn văn đối với việc chứng minh luận điểm cơ bản của bài văn: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta“. c) Giữa hai vế được liên kết theo mô hình “từ… đến…” ở đoạn văn trên có những mối quan hệ như thế nào? d) Viết một đoạn văn có sử dụng ba lần mô hình “từ… đến…”. Đề 7: Tiếng Việt có những đặc sắc của một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay. Nói thế có nghĩa là nói rằng: tiếng Việt là một thứ tiếng hài hoà về mặt âm hưởng, thanh điệu mà cũng rất tế nhị, uyển chuyển trong cách đặt câu. Nói thế cũng có nghĩa là nói rằng: tiếng Việt có đầy đủ khả năng để diễn đạt tình cảm, tư tưởng của người Việt Nam và để thoả mãn cho yêu cầu của đời sống văn hoá nước nhà qua các thời kì lịch sử. (Đặng Thai Mai, Sự giàu đẹp của tiếng Việt) Đọc đoạn văn trên và cho biết: a) Câu văn nào nêu luận điểm và những câu nào làm nhiệm vụ giải thích luận điểm ấy? b) Tác giả đã giải thích thế nào về cái đẹp và cái hay của tiếng Việt? Hai phẩm chất ấy có quan hệ với nhau như thế nào? Đề 8: Lựa chọn câu đúng trong các bài tập sau đây: a) Trong bài văn nghị luận: - Không thể có yếu tố miêu tả, trữ tình; - Có yếu tố miêu tả, kể chuyện hay trữ tình; - Có thể có yếu tố miêu tả, kể chuyện hay trữ tình nhưng các yếu tố ấy không giữ vai trò quan trọng. b) Trong tác phẩm trữ tình: - Chỉ thể hiện trực tiếp tình cảm, thái độ của tác giả; - Tình cảm, thái độ của tác giả được thể hiện qua bức tranh thiên nhiên và đời sống con người; - Không có hình ảnh thế giới khách quan bên ngoài chủ thể trữ tình. c) Bài văn nghị luận nào cũng phải có: - Luận điểm cơ bản và hệ thống các luận điểm chi tiết; - Hệ thống các luận điểm chi tiết nhưng không nhất thiết phải có luận điểm cơ bản; - Luận điểm cơ bản nhưng không nhất thiết phải có hệ thống luận điểm chi tiết. loigiaihay.com
Xem thêm

6 Đọc thêm

Đề thi học kì 2 lớp 8 môn Văn 2015 - Phòng GD Tân Châu

ĐỀ THI HỌC KÌ 2 LỚP 8 MÔN VĂN 2015 - PHÒNG GD TÂN CHÂU

KỲ KIỂM TRA HỌC KỲ II NĂM HỌC 2014-2015 Môn:  Ngữ văn - Lớp 8 Thời gian:  90 phút I. VĂN – TIẾNG VIỆT: (4 điểm) Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi bên dưới: “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối; ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng."     (Ngữ văn 8 – Tập hai) Câu 1:(1 điểm) Em hãy cho biết đoạn văn trên được trích từ tác phẩm nào, tác giả là ai? Câu 2:(1 điểm) Nội dung của đoạn văn trên là gì? Câu 3:(2 điểm) Trong đoạn văn trên, theo em có thể thay từ “quên” bằng từ “không”, từ “chưa” bằng từ “chẳng” được không? Vì sao?  II. LÀM VĂN:  (6 điểm)              Trò chơi điện tử đang trở thành trò chơi tiêu khiển hấp dẫn, nhất là đối với các bạn học sinh. Nhiều bạn vì mãi chơi nên sức học ngày càng giảm sút và còn phạm những sai lầm khác. Hãy viết một bài văn nghị luận nêu suy nghĩ của em về hiện tượng đó. Tham gia Group phục vụ hỏi đáp ôn thi vào 10 năm 2016 tại đây:  Môn toán:  Môn văn:  Môn Anh:  Môn Lý:  Môn Sinh:  Môn Hoá:  Môn Sử:  Môn Địa:   Đáp án Đề thi học kì 2 lớp 8 môn Văn 2015 - Phòng GD Tân Châu Câu Nội dung Thang điểm I. Câu 1:       Câu 2:         Câu 3:                     - Đoạn văn được trích từ:         + Tác phẩm: Hịch tướng sĩ         + Tác giả: Trần Quốc Tuấn   - Nội dung đoạn văn: Lòng yêu nước căm thù giặc sâu sắc của Trần Quốc Tuấn: đau xót trước cảnh tình của đất nước; uất ức, căm tức khi chưa trả được thù; sẵn sàng hy sinh để rửa mối nhục cho đất nước.   - Không thể thay “quên” bằng “không”, “chưa” bằng “chẳng” được. - Vì: Thay thế sẽ làm thay đổi ý nghĩa của câu, không phù hợp với nội dung ý nghĩa của văn bản. - “Quên” ở đây có nghĩa là không nghĩ đến, không để tâm đến, dùng từ này thể hiện đúng ý của người viết: căm thù giặc đến mức không để tâm đến việc ăn uống. “Quên” không phải là từ phủ định. - “Chưa”: biểu thị ý phủ định đối với điều mà cho đến một thời điểm nào đó không có, nhưng sau thời điểm đó có thể có. Còn “chẳng” cũng biểu thị ý phủ định nhưng không có hàm ý là về sau có thể có. Dùng từ “chưa” thể hiện được đúng ý của Trần Quốc Tuấn: chưa thể làm, chưa thể xả thịt lột da quân thù.   0.5 điểm 0.5 điểm   1 điểm         0.5 điểm   0.5 điểm   0.5 điểm       0.5 điểm II Làm văn                 * Yêu cầu về hình thức:             - Trình bày sạch đẹp, bố cục đủ 3 phần.             - Chữ viết dễ đọc, không sai chính tả. * Yêu cầu về nội dung:  Mở bài: - Khái quát về tác hại của trò chơi điện tử. - Nêu vấn đề cần nghị luận. Thân bài: Hiện trạng:   - Số lượng cửa hàng dịch vụ trò chơi điện tử nhiều và ngày càng gia tăng.   - Nó đã thu hút rất nhiều đối tượng, mọi lứa tuổi, đặc biệt là học sinh ở độ tuổi mới lớn, ưa thích khám phá cái mới.   - Nhiều bạn học sinh ngồi hàng giờ, hàng ngày trước màn hình máy tính, mê mẩn với những trò chơi trên máy mà sao nhãng học hành và còn phạm nhiều sai lầm khác nữa… Nguyên nhân: - Trò chơi điện tử hiện nay đang thu hút mọi người bởi tính đa dạng và phong phú của nó. - Đây là một thú vui tiêu khiển rẻ tiền, dễ chơi với những âm thanh, đồ họa rất sống động, bắt mắt, mới lạ, hợp với tính cách của giới trẻ. - Do bản thân chưa có ý thức tự giác, còn mãi chơi; do gia đình, bố mẹ còn lỏng lẻo trong việc quản lí con cái… Tác hại: - Đam mê trò chơi điện tử: tốn thời gian dễ khiến học sinh sao nhãng việc học tập, dẫn đến kết quả thấp kém, trốn học, bỏ học… - Ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người: cận thị, đầu óc mệt mỏi… - Chơi game nhiều, sống với thế giới ảo sẽ làm đầu óc mụ mẫm, ảo giác, thiếu vốn sống thực tế… - Để có tiền chơi điện tử, người chơi có thể trở thành kẻ trộm cắp, cướp giật, thậm chí gây nhiều tội ác khác… - Bị ảnh hưởng bởi những nội dung không lành mạnh hoặc bị bạn bè xấu rủ rê, lôi kéo dễ mắc vào các tệ nạn xã hội… (Nêu một vài dẫn chứng cụ thể). Giải pháp khắc phục, lời khuyên:   Việc mải chơi điện tử rất nguy hại với lứa tuổi học sinh. Vì vậy: - Mỗi học sinh cần phải có ý thức tự giác, thực hiện qui định về thời gian, không ảnh hưởng đến học tập… - Các bậc phụ huynh cần quản lí con em mình chặt chẽ. - Nhà trường và các tổ chức xã hội cần tổ chức các sân chơi bổ ích và lành mạnh nhằm thu hút các em. - Các cơ quan chức năng cần quản lí và kiểm soát chặt chẽ các dịch vụ điện tử, cần có hình thức xử phạt nghiêm đối với các đối tượng vi phạm… (Học sinh có thể nêu những giải pháp hợp lý khác) - Liên hệ thực tế, đưa ra lời khuyên thiết thực.  Kết bài: - Khái quát nhận định của cá nhân về vấn đề nghị luận. - Hơn ai hết, bản thân mỗi bạn trẻ cần ý thức rõ ràng những mặt lợi, mặt hại của trò chơi điện tử để tự điều chỉnh mình, tự rèn luyện ý thức tự giác. - Chỉ nên xem đây là thú tiêu khiển mang tính giải trí để không quá lạm dụng nó, phụ thuộc vào nó. Biểu điểm bài làm văn: - Đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của đề, có sáng tạo. - Đáp ứng tương đối đầy đủ các yêu cầu của đề, còn mắc một vài lỗi nhỏ về diễn đạt. - Đáp ứng được 2/3 các yêu cầu trên. - Đáp ứng được nửa các yêu cầu của đề. - Nội dung sơ sài, diễn đạt yếu, sai nhiều lỗi chính tả. - Hoàn toàn lạc đề.         1 điểm       0.5 điểm               0.5 điểm               1.5 điểm                         1.5 điểm                         1 điểm          6 điểm 5 điểm   4 điểm 3 điểm 1-2 điểm 0 điểm Nguồn dethi..violet
Xem thêm

5 Đọc thêm

Hướng dẫn soạn bài : ĐỀ VĂN NGHỊ LUẬN

HƯỚNG DẪN SOẠN BÀI : ĐỀ VĂN NGHỊ LUẬN

ĐỀ VĂN NGHỊ LUẬN I – KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Yêu cầu của đề văn nghị luận - Khi còn ngồi trên ghế nhà trường, để luyện tập kĩ năng nghị luận, người viết văn nghị luận cần tuân theo những yêu cầu cụ thể. Thông thường, những yêu cầu này được đưa ra dưới dạng các đề văn. - Yêu cầu cơ bản và quan trọng nhất của một đề văn nghị luận là vấn đề nghị luận (còn gọi là luận đề). - Tuỳ thuộc vào nội dung do đề văn đặt ra mà người viết lựa chọn và vận dụng các thao tác lập luận cho phù hợp. Khi gặp những đề văn nêu rõ thao tác lập luận như hãy giải thích, hãy chứng minh, hãy bình luận, hãy phân tích,… người viết cần lưu ý: đó chỉ là yêu cầu về thao tác chính cần sử dụng chứ không phải thao tác duy nhất. Không có bài văn nghị luận nào chỉ sử dụng một thao tác lập luận. - Yêu cầu về nội dung cần bàn luận là yêu cầu bắt buộc mà mỗi đề văn cần phải có. Căn cứ vào tính chất của nội dung ấy, người ta thường chia đề văn nghị luận thành hai loại: đề văn nghị luận chính trị – xã hội và đề văn nghị luận văn học. 2. Tìm hiểu đề văn nghị luận a) Xác định nội dung trọng tâm cần bàn bạc và làm sáng tỏ b) Xác định loại đề văn nghị luận và các thao tác lập luận chính sẽ vận dụng trong bài viết c) Xác định phạm vi tư liệu cần huy động, trích dẫn cho bài viết II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG Đọc kĩ các đề văn sau và thực hiện yêu cầu: (1) Vẻ đẹp trong bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão (2) Tiếng khóc của Nguyễn Du trong bài thơ Đọc “Tiểu Thanh kí” 1. Xác định nội dung trọng tâm cần bàn bạc và làm sáng tỏ của mỗi đề văn Gợi ý: - Đề (1): Vẻ đẹp nội dung và nghệ thuật của bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão. - Đề (2): Tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du thể hiện trong bài Đọc “Tiểu Thanh kí”. 2. Xác định thao tác lập luận chính sẽ vận dụng để giải quyết yêu cầu của mỗi đề văn Gợi ý: - Đề (1): Với yêu cầu của đề bài này, cần tập trung vận dụng thao tác phân tích và bình luận. Phân tích những biểu hiện đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, đồng thời kết hợp bình luận để chứng tỏ sự đánh giá, cảm thụ của mình về vẻ đẹp riêng của tác phẩm. Tuy nhiên, cũng có thể vận dụng các thao tác chứng minh hay giải thích sao cho phù hợp. Có thể đưa ra luận điểm khẳng định về vẻ đẹp của lí tưởng cao cả và khí phách anh hùng, sau đó kết hợp phân tích và chứng minh bằng những biểu hiện cụ thể trong bài thơ. Có thể sử dụng thao tác giải thích để làm rõ ý nghĩa của “nợ công danh”, từ đó bình luận về vẻ đẹp đậm chất lí tưởng cao cả và khí phách của bậc anh hùng của nhân vật trữ tình. - Đề (2): Với yêu cầu về nội dung nghị luận ở đề bài này, cần tập trung vận dụng thao tác giải thích, chứng minh. Giải thích “tiếng khóc” để chỉ ra đó là cách nói hình ảnh về sự cảm thông, tấm lòng tri âm, nói rộng ra là lòng nhân đạo của tác giả đối với bậc tài hoa mệnh bạc. Giải thích về xuất xứ bài thơ, về mối liên hệ giữa bài thơ với Tiểu Thanh kí,… Từ việc giải thích như vậy, người viết từng bước chứng minh bằng những chi tiết, hình ảnh cụ thể của bài thơ: Từ những biểu hiện của nỗi xót thương của nhà thơ tr­ước số phận của Tiểu Thanh ở hai câu đầu, cho đến những cảm nhận về số phận của những kẻ tài hoa bạc mệnh nói chung ở bốn câu giữa, và cuối cùng là nỗi niềm riêng tư­ của tác giả được giãi bày. Cần thiết phải kết hợp sử dụng thao tác bình luận, bình luận về mối đồng cảm, tri âm và thể hiện được những cảm thụ của mình đối với mối cảm thương sâu sắc của tác giả. 3. Xác định phạm vi tư liệu cần huy động, trích dẫn cho mỗi đề văn Gợi ý: Đối với hai đề bài này, phạm vi tư liệu nằm trong hai bài đã học: văn bản tác phẩm và hệ thống các tri thức đã nắm bắt trong quá trình đọc – hiểu. Ngoài ra, có thể huy động thêm những bài viết tham khảo để mở rộng những hiểu biết về đối tượng nghị luận.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Cách làm bài văn nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống

CÁCH LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VỀ MỘT SỰ VIỆC, HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG

A. TÓM TẮT KIẾN THỨC. - Văn nghị luận là đưa ra các lý lẽ dẫn chứng để bảo vệ hoặc làm sáng tỏ một quan điểm, tư tưởng (luận điểm) nào đó. - Một bài văn nghị luận đều phải có luận điểm, luận cứ và lập luận. Trong một văn có thể có một luận điểm chính và các luận điểm phụ. + Luận điểm: Là ý kiến thể hiện tư tưởng, quan điểm của bài văn được nêu ra dưới hình thức câu khẳng định (hay phủ định), được diễn đạt sáng tỏ, dễ hiểu, nhất quán. Luận điểm là linh hồn của bài viết, nó thống nhất các đoạn văn thành một khối. Luận điểm phải đúng đắn, chân thật, đáp ứng nhu cầu thực tế thì mới có sức thuyết phục. +Luận cứ: là lí lẽ, dẫn chứng đưa ra làm cơ sở cho luận điểm. Luận cứ phải chân thật, đúng đắn, tiêu biểu thì mới khiến cho luận điểm có sức thuyết phục. + Lập luận là cách nêu luận cứ để dẫn đến luận điểm. Lập luận phải chặt chẽ, hợp lí thì bài văn mới có sức thuyết phục. * Các dạng nghị luận ở lớp 9. - Nghị luận xã hội: + Nghị luận về một sự việc, hiện tượng trong đời sống. + Nghị luận về một tư tưởng đạo lý. - Nghị luận văn học: + Nghị luận về một tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích). + Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ. - Văn nghị luận về một sự việc, hiện tượng trong đời sống là bàn về một sự việc, hiện tượng có ý nghĩa đối với xã hội, đáng khen hay đáng chê hay có vấn đề đáng suy nghĩ. * Yêu cầu chung của bài văn nghị luận về một sự việc, hiện tượng trong đời sống. - Bài nghị luận phải nêu được sự việc, hiện tượng có vấn đề. Phân tích mặt đúng, mặt sai, nguyên nhân và bày tỏ thái độ của người viết. - Hình thức phải có bố cục mạch lạc, rõ ràng, luận điểm rõ ràng, luận cứ xác thực, lập luận phù hợp. * Cách làm bài văn nghị luận về một sự việc, hiện tượng trong đời sống. - Muốn làm tốt bài văn phải tuõn theo các bước sau: + Đọc kĩ đề (tìm hiểu đề). + Phân tích sự việc, hiện tượng đó để tìm ý. + Lập dàn ý. + Đọc bài và sửa chữa. B. CÁC DẠNG ĐỀ. 1. Dạng đề 2 hoặc 3 điểm. Đề 1. Cho các đề sau: 1. Trong trường, trong lớp em có nhiều tấm gương học sinh nghèo vượt khó học giỏi. Em hãy trình bày một trong những tấm gương đó và nêu lên suy nghĩ của mình. 2. Hiện nay có tình trạng nhiều bạn học sinh mải chơi trò chơi điện tử, sao nhãng việc học hành.Em có thái độ như thế nào trước hiện tượng đó. 3. Trường em vừa phát động phong trào xây dựng quỹ ''Ba đủ '' giúp đỡ các bạn học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Em có suy nghĩ gì về việc này. Em hãy so sánh chỉ ra điểm giống và khác nhau trong các đề? Gợi ý: * Giống nhau: - Thể loại đều là văn nghị luận về một sự việc, hiện tượng trong đời sống. - Các đề yêu cầu người viết phải trình bày được quan điểm, tư tưởng, thái độ của mình đối với vấn đề đặt ra. * Khác nhau: - Đề 1 và đề 3 đưa ra những nhận xét, suy nghĩ về những việc làm tốt đáng biểu dương, nhân rộng điển hình. - Đề 2 cần có thái độ dứt khoát lên án, tuyên truyền loại bỏ hiện tượng xấu. Đề 2. Tìm hiểu đề và luËn ®iÓm cho đề sau: Hút thuốc lá có hại cho sức khoẻ. Gợi ý: - Thể loại: Nghị luận về một sự việc hiện tượng trong đời sống đó là vấn đề hút thuốc lá. - Nội dung: Phải nêu bật hút thuốc lá là hiện tượng đáng chê, cần tuyên truyền đến mọi người hiểu được tác hại của thuốc lá để có một môi trường trong lành không khói thuốc. - Yêu cầu tìm ra các luận điểm sau: + Chỉ ra nguyên nhân, biểu hiện của hiện tượng đó. + Trình bày được các tác hại, hậu quả của thuốc lá đối với sức khoẻ người hút và sức khoẻ cộng đồng. + Bày tỏ thái độ và tuyên truyền đến mọi người. 2. Dạng đề 5 hoặc 7 điểm. Đề 1. Em hãy viết bài nghị luận tuyên truyền đến mọi người từ bỏ thuốc lá vì sức khoẻ cộng đồng. Dàn bài: * Mở bài. - Giới thiệu thực trạng của hiện tượng hút thuốc lá trong xã hội hiện nay. * Thân bài. - Chỉ ra các nguyên nhân, biểu hiện, hậu quả, tác hại của việc hút thuốc lá (lấy dẫn chứng tiêu biểu minh hoạ, thuyết phục). + Ảnh hưởng tới sức khoẻ của mỗi cá nhân người hút thuốc sinh ra các căn bệnh hiểm nghèo. Ảnh hưởng tới những người xung quanh, sức khoẻ cộng đồng và vấn đề giống nòi. + Ảnh hưởng xấu tới môi trường sống. + Gây tốn kém tiền bạc cho người hút thuốc lá. - Ảnh hưởng tác động của thuốc lá đến lứa tuổi thanh thiếu niên như thế nào ? - Thái độ và hành động của thế giới, cả nước nói chung và của học sinh chúng ta nói riêng ra sao? * Kết bài. - Lời kêu gọi hãy vì sức khoẻ cộng đồng và vì một môi trường không có khói thuốc lá. - Liên hệ bản thân và rút ra bài học kĩ năng sống . C. BÀI TẬP. 1. Dạng đề 2 hoặc 3 điểm. Đề 1. Hãy viết một đoạn văn ngắn(từ 15 đến 20 dòng) về một sự việc, hiện tượng đáng phê phán ở địa phương em. Gợi ý: - Xác định những sự việc, hiện tượng nổi bật, nóng bỏng ở địa phương mình như: Vấn đề rác thải, ô nhiễm nguồn nước, chặt phá rừng...để viết bài văn nghị luận. 2. Dạng đề 5 hoặc 7 điểm. Đề 2. Một hiện tượng khá phổ biến hiện nay là vứt rác bừa bãi, tuỳ tiện ra đường, ra nơi công cộng. Ý kiến, thái độ của em như thế nào trước hiện tượng này và em hãy đặt nhan đề cho bài viết của mình. Dàn bài: * Mở bài - Giới thiệu hiện tượng sự việc . * Thân bài . - Trình bày các biểu hiện của hiện tượng. - Chỉ rõ nguyên nhân của việc vứt rác bừa bãi: Do ý thức của con người tuỳ tiện, vô ý, kém hiểu biết ... - Tác hại của việc vứt rác bừa bãi (Cần đưa ra những dẫn chứng tiêu biểu, thuyết phục). + Làm mất cảnh quan, mỹ quan môi trường. + Ô nhiễm môi trường sống, lây lan mầm bệnh, ổ dịch... + Sinh ra các thói quên xấu. - Thái độ, suy nghĩ của em như thế nào? Hành động và nêu ra biện pháp khắc phục. * Kết bài. - Lời kêu gọi cộng đồng hãy chung tay vì một môi trường trong sạch. (Sưu tầm)
Xem thêm

3 Đọc thêm

Đề văn nghị luận

ĐỀ VĂN NGHỊ LUẬN

I – KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Yêu cầu của đề văn nghị luận  Khi còn ngồi trên ghế nhà trường, để luyện tập kĩ năng nghị luận, người viết văn nghị luận cần tuân theo những yêu cầu cụ thể. Thông thường, những yêu cầu này được đưa ra dưới dạng các đề văn. - Yêu cầu cơ bản và quan trọng nhất của một đề văn nghị luận là vấn đề nghị luận (còn gọi là luận đề). - Tuỳ thuộc vào nội dung do đề văn đặt ra mà người viết lựa chọn và vận dụng các thao tác lập luận cho phù hợp. Khi gặp những đề văn nêu rõ thao tác lập luận như hãy giải thích, hãy chứng minh, hãy bình luận, hãy phân tích,… người viết cần lưu ý: đó chỉ là yêu cầu về thao tác chính cần sử dụng chứ không phải thao tác duy nhất. Không có bài văn nghị luận nào chỉ sử dụng một thao tác lập luận. - Yêu cầu về nội dung cần bàn luận là yêu cầu bắt buộc mà mỗi đề văn cần phải có. Căn cứ vào tính chất của nội dung ấy, người ta thường chia đề văn nghị luận thành hai loại: đề văn nghị luận chính trị – xã hội và đề văn nghị luận văn học. 2. Tìm hiểu đề văn nghị luận a) Xác định nội dung trọng tâm cần bàn bạc và làm sáng tỏ b) Xác định loại đề văn nghị luận và các thao tác lập luận chính sẽ vận dụng trong bài viết c) Xác định phạm vi tư liệu cần huy động, trích dẫn cho bài viết II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG Đọc kĩ các đề văn sau và thực hiện yêu cầu: (1) Vẻ đẹp trong bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão (2) Tiếng khóc của Nguyễn Du trong bài thơ Đọc “Tiểu Thanh kí” 1. Xác định nội dung trọng tâm cần bàn bạc và làm sáng tỏ của mỗi đề văn Gợi ý: - Đề (1): Vẻ đẹp nội dung và nghệ thuật của bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão. - Đề (2): Tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du thể hiện trong bài Đọc “Tiểu Thanh kí”. 2. Xác định thao tác lập luận chính sẽ vận dụng để giải quyết yêu cầu của mỗi đề văn Gợi ý: - Đề (1): Với yêu cầu của đề bài này, cần tập trung vận dụng thao tác phân tích và bình luận. Phân tích những biểu hiện đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, đồng thời kết hợp bình luận để chứng tỏ sự đánh giá, cảm thụ của mình về vẻ đẹp riêng của tác phẩm. Tuy nhiên, cũng có thể vận dụng các thao tác chứng minh hay giải thích sao cho phù hợp. Có thể đưa ra luận điểm khẳng định về vẻ đẹp của lí tưởng cao cả và khí phách anh hùng, sau đó kết hợp phân tích và chứng minh bằng những biểu hiện cụ thể trong bài thơ. Có thể sử dụng thao tác giải thích để làm rõ ý nghĩa của “nợ công danh”, từ đó bình luận về vẻ đẹp đậm chất lí tưởng cao cả và khí phách của bậc anh hùng của nhân vật trữ tình. - Đề (2): Với yêu cầu về nội dung nghị luận ở đề bài này, cần tập trung vận dụng thao tác giải thích, chứng minh. Giải thích “tiếng khóc” để chỉ ra đó là cách nói hình ảnh về sự cảm thông, tấm lòng tri âm, nói rộng ra là lòng nhân đạo của tác giả đối với bậc tài hoa mệnh bạc. Giải thích về xuất xứ bài thơ, về mối liên hệ giữa bài thơ với Tiểu Thanh kí,… Từ việc giải thích như vậy, người viết từng bước chứng minh bằng những chi tiết, hình ảnh cụ thể của bài thơ: Từ những biểu hiện của nỗi xót thương của nhà thơ tr­ước số phận của Tiểu Thanh ở hai câu đầu, cho đến những cảm nhận về số phận của những kẻ tài hoa bạc mệnh nói chung ở bốn câu giữa, và cuối cùng là nỗi niềm riêng tư­ của tác giả được giãi bày. Cần thiết phải kết hợp sử dụng thao tác bình luận, bình luận về mối đồng cảm, tri âm và thể hiện được những cảm thụ của mình đối với mối cảm thương sâu sắc của tác giả. 3. Xác định phạm vi tư liệu cần huy động, trích dẫn cho mỗi đề văn Gợi ý: Đối với hai đề bài này, phạm vi tư liệu nằm trong hai bài đã học: văn bản tác phẩm và hệ thống các tri thức đã nắm bắt trong quá trình đọc – hiểu. Ngoài ra, có thể huy động thêm những bài viết tham khảo để mở rộng những hiểu biết về đối tượng nghị luận. loigiaihay.com
Xem thêm

2 Đọc thêm

VẬN DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG NGỮ VĂN 9 BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VỀ MỘT HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG

VẬN DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG NGỮ VĂN 9 BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VỀ MỘT HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG

Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hà NộiPhòng Giáo dục và Đào tạo quận Tây HồBài viết dự thiCuộc thi Vận dụng kiến thức liên môn để giải quyếtcác tình huống thực tiễn dành cho học sinh trung họcTrường Trung học cơ sở Chu Văn AnĐịa chỉ: 17 Thụy Khuê, Tây Hồ, Hà NộiĐiện thoại: 0904255931Email: c2.cva@tayho.edu.vnThông tin về học sinh:Họ và tên: Lương Nhật MinhNgày sinh: 6/11/2000Lớp: 9A6BÀI DỰ THI VẬN DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔNĐỂ GIẢI QUYẾT CÁC TÌNH HUỐNG THỰC TIỄNMÔN: NGỮ VĂN LỚP 9BÀI: VĂN NGHỊ LUẬN VỀ MỘT HIỆN TƯỢNG ĐỜISỐNG1. Tình huống cần giải quyết là:Trong một hội nghị về vấn đề: “An toàn giao thông cho học sinh” em được đềcử để trình bày một bài viết nói lên suy nghĩ, ý kiến của mình về một hiệntượng, thực trạng đang sử dụng phương tiện giao thông mất an toàn đối vớihọc sinh trung học cơ sở. Em sẽ viết bài văn nói lên suy nghĩ của mình về việc
Xem thêm

9 Đọc thêm

HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 7 LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN CHỨNG MINH VÀ GIẢI THÍCH

HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 7 LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN CHỨNG MINH VÀ GIẢI THÍCH

Trong quá trình giảng dạy môn Ngữ văn ở trường THCS, tôi nhận thấy: Ở lớp 6 các em học sinh vừa học xong kiểu bài tự sự và miêu tả. Sang lớp 7 các em lại làm quen với kiểu bài nghị luận. Văn nghị luận là một thể loại khó đối với học sinh THCS nói chung và đặc biệt khó đối với học sinh lớp 7. Khi được học chương trình thay sách giáo khoa, học sinh lớp 7 được tiếp xúc với loại văn bản nghị luận mà trong chương trình cải cách trước đây chỉ dành cho đối tượng học sinh từ lớp 8 trở lên. Cho nên nhiều em học sinh chưa biết cách làm như thế nào, các em chưa quen với một số khái niệm đặc trưng của kiểu bài này, phương pháp làm bài không chắc, thao tác lập luận không chặt chẽ, dẫn đến các em chán học các tiết tập làm văn về văn nghị luận. Từ đó dẫn đến kết quả kiểm tra các bài viết thì điểm số của các em rất thấp.Vậy nên dạy văn nghị luận như thế nào để học sinh lớp 7 hiểu, cảm nhận và vận dụng để tập nghị luận về một vấn đề cụ thể trong cuộc sống hoặc trong tác phẩm văn học phù hợp với trình độ nhận thức và độ tuổi của các em. Đây là điều không ít giáo viên dạy văn lớp 7 trăn trở tìm cách dễ hiểu nhất để hướng dẫn các em làm tốt bài văn nghị luận. Xuất phát từ những lý do trên nên chúng tôi đã chọn chuyên đề: “Hướng dẫn học sinh lớp 7 làm bài văn nghị luận chứng minh và giải thích” để mong được trao đổi cùng đồng nghiệp những kinh nghiệm về cách dạy học sinh làm văn nghị luận cho học sinh lớp 7.
Xem thêm

39 Đọc thêm

VIẾT BÀI TẬP LÀM VĂN SỐ 3

VIẾT BÀI TẬP LÀM VĂN SỐ 3

VIẾT BÀI TẬP LÀM VĂN SỐ 3 A.Mục tiêu cần đạt: Giúp học sinh: Biết vận dụng những kiến thức đã học để thực hành viết một bài văn tự sự có kết hợp các yếu tố miêu tả nội tâm và nghị luận. Rèn luyện kĩ năng diễn đạt, trình bày B Chuẩn bị: Giáo viên ra đề, làm đáp án, biểu điểm Học sinh ôn lại văn tự sự, các yếu tố miêu tả nội tâm và nghị luận trong văn bản tự sự C Lên lớp: HĐ1 Tổ chức: 9A 9B H Đ2 .Kiểm Tra ;sự chuẩn bị của học sinh HĐ3.Bài mới
Xem thêm

3 Đọc thêm

Khoá luận tốt nghiệp sử dụng sơ đồ tư duy vào dạy học bài thao tác lập luận so sánh trong SGK ngữ văn 11

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY VÀO DẠY HỌC BÀI THAO TÁC LẬP LUẬN SO SÁNH TRONG SGK NGỮ VĂN 11

... với Bài Thao tác lập luận so sảnh” Mục tiêu giúp HS hiểu lập luận so sánh, dạng lập luận so sánh, vai trò thao tác lập luận so sánh tronglàm văn nghị luận biết vận dụng thao tác lập luận so sánh. .. trình dạy học Thao tác lập luận so sảnh” có sử dụng SĐTD chương Chương DẠY HỌC BÀI THAO TÁC LẬP LUẬN so SẢNH” TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 11 CÓ sử DỤNG sơ ĐÒ TƯ DUY 2.1 Mục đích việc dạy học Thao. .. thức: Giúp học sinh hiểu lập luận so sánh, dạng lập luận so sánh vai trò thao tác lập luận so sánh làm văn nghị luận kĩ năng: Biết vận dụng thao tác lập luận so sánh viết đoạn văn, văn nghị luận thái
Xem thêm

69 Đọc thêm

Đề thi vào lớp 10 môn Văn chung - THPT chuyên Lam Sơn năm 2015

ĐỀ THI VÀO LỚP 10 MÔN VĂN CHUNG - THPT CHUYÊN LAM SƠN NĂM 2015

Đề thi vào lớp 10 môn Văn chung - THPT chuyên Lam Sơn Thanh Hóa năm 2015 Câu 2 (3 điểm) Nếu dửng dưng với những gì diễn ra xung quanh mình, bạn khó có thể trở thành một con người đích thực. Viết bài văn nghị luận (khoảng 300 từ) trình bày suy nghĩ của mình về ý kiến trên.

2 Đọc thêm

CHUYÊN ĐỀ ÔN TẬP VĂN NGHỊ LUẬN

CHUYÊN ĐỀ ÔN TẬP VĂN NGHỊ LUẬN

3.4, Hịch t¬ướng sĩ của Trần Quốc Tuấn là một áng văn tràn đầy tinh thần yêu n¬ớc và căm thù giặc. 3.5, T¬ t¬ởng nhân nghĩa cao đẹp của Nguyễn Trãi trong đoạn trích N¬ớc Đại Việt ta 3.6, Nư¬ớc Đại Việt ta bản tuyên ngôn độc lập bất hủ của dân tộc Đại Việt 3.7, Tình cảm yêu n¬ớc của ba áng văn Chiếu dời đô, Hịch t¬ớng sĩ, N¬ớc Đại Việt ta. 3.8, Khát vọng độc lập và khí phách Đại Việt qua ba áng văn: Chiếu dời đô, Hịch tớng sĩ, N¬ớc Đại Việt ta. 3.9, Hãy chứng minh các văn bản nghị luận ( bài 22, 23, 24, 25, 26) đều đ¬ợc viết có lý, có tình có chứng cứ nên đều có sức thuyết phục cao. 3.10, Nhiều ng¬ời còn ch¬a hiểu rõ: thế nào là học đi đôi với hành và vì sao ta cần phải theo điều học mà làm nh¬ lời La Sơn Phu Tử trong bài Bàn luận về phép học . Hãy viết bài văn nghị luận để giải đáp những thắc mắc trên.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Cùng chủ đề