NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP PHÁT SINH TRONG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN BẰNG TÍN DỤNG CHỨNG TỪ

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP PHÁT SINH TRONG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN BẰNG TÍN DỤNG CHỨNG TỪ":

Pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ ở việt nam

PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP PHÁT SINH TRONG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN BẰNG TÍN DỤNG CHỨNG TỪ Ở VIỆT NAM

hoạt động thanh toán. Trải qua những tiến bộ về kỹ thuật, từ chỗ chỉ đơn thuần là sự giao nhận trực tiếp giữa người giao tiền và người nhận tiền, việc thanh toán ngày nay đã được thực hiện thông qua hệ thống thanh toán điện tử với thời gian lưu chuyển tiền tính bằng phút. Từ chỗ việc thanh toán diễn ra đồng thời với chuyển giao hàng hóa và tiềm ẩn đầy bất trắc, ngày nay sự ra đời của những phương thức thanh toán hiện đại đã tạo ra sự ràng buộc trách nhiệm các bên, giúp giảm thiểu tối đa rủi ro cho cả người mua cũng như người bán. Trong những hình thức thanh toán, đặc biệt là thanh toán quốc tế thông dụng hiện nay, thanh toán bằng tín dụng chứng từ được sử dụng phổ biến hơn cả. Với sự đảm bảo một cách hợp lý quyền lợi chính đáng của hai bên: người bán chỉ nhận được tiền sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng, người mua chỉ thanh toán khi yên tâm là hàng hóa đã được giao, phương thức thanh toán thanh toán tín dụng chứng từ giúp cho các doanh nghiệp bất kỳ ở các nước khác nhau dù chưa hiểu biết về nhau nhưng vẫn có thể tham gia giao dịch. Đối với các doanh nghiệp của một nền kinh tế mới mở cửa, vẫn đang trong quá trình tìm kiếm đối tác và gây dựng quan hệ ngoại thương như các doanh nghiệp Việt Nam thì những đảm bảo của thanh toán bằng tín dụng chứng từ càng tỏ ra ưu việt. Điều này lý giải vì sao tín dụng chứng từ là phương thức có sử dụng tỷ lệ cao nhất trong tổng số các giao dịch thanh toán ở Việt Nam hiện nay. Tuy có nhiều ưu điểm, nhưng do sự đa dạng của các chủ thể tham gia quan hệ thanh toán bằng tín dụng chứng từ cùng những khác biệt về tập quán kinh doanh, ngôn ngữ, đặc điểm văn hóa, pháp lý… và bản thân sự phức tạp trong quy trình nghiệp vụ của phương thức này đã làm nảy sinh trên thực tế một số lượng không nhỏ các vụ tranh chấp. Các tranh chấp phát sinh trong giao dịch bằng tín dụng chứng từ thường liên quan đến các chủ thể không cùng quốc tịch và chịu sự điều chỉnh của nhiều hệ thống pháp luật khác nhau, giải quyết tranh chấp phát sinh trong phương thức này cũng vì thế mà trở nên phức tạp. Ở Việt Nam các tranh chấp trong hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ diễn ra rất phổ biến song việc giải quyết tranh chấp còn nhiều bất cập và chưa đáp ứng được đòi hỏi của các quan hệ kinh tế. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này nhưng lý do chủ yếu nhất là do các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong hoạt động chứng từ còn chưa rõ ràng và đầy đủ. Nghiên cứu thực trạng các quy phạm được sử dụng để giải quyết tranh chấp và từ đó đưa ra các kiến nghị nhằm hạn chế các nguy cơ tiềm ẩn của tranh chấp cũng như giải quyết hiệu quả các tranh chấp từ phương thức thanh toán tín dụng chứng từ đã phát sinh là một yêu cầu
Xem thêm

17 Đọc thêm

Hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ

HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ

Giới thiệu tóm tắt đồ án: Hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ Cùng với xu thế mở cửa và hội nhập với nền kinh tế thế giới, hoạt động kinh tế nói chung, hoạt động kinh tế đối ngoại nói riêng ngày càng mở rộng. Sự giao lưu buôn bán hàng hoá giữa các quốc gia khác nhau với khối lượng ngày một lớn đã đòi hỏi qúa trình thị trường hàng hoá xuất nhập khẩu phải nhanh chóng thuận tiện cho các bên. Sau thời gian thực tập tại phòng Thanh toán quốc tế – Sở giao dịch I ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam (SDG I NHĐTPTVN), em nhận thấy tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán được áp dụng phổ biến nhất hiện nay. Bởi lẽ nó đáp ứng được nhu cầu của hai phía: Người bán hàng đảm bảo nhận tiền, người mua nhận được hàng và có trách nhiệm trả tiền. Đây là phương thức tín dụng quốc tế được áp dụng phổ biến và an toàn nhất hiện nay, đặc biệt là trong thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu. Trong năm qua SGD I NHĐTPTVN đã không ngừng đổi mới và nâng cao các nghiệp vụ thanh toán của mình để phục vụ tốt cho khách hàng, đáp ứng nhu cầu thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu của khách hàng. Cùng với chính sách kinh tế đối ngoại ngày càng mở rộng, thông thoáng của Chính phủ, hoạt động xuất nhập khẩu ngày càng phát triển. Do đó, hình thức thanh toán tín dụng chứng từ ngày càng được phát triển và hoàn thiện hơn. Xuất phát từ vấn đề nêu trên, Em muốn đi sâu nghiên cứu đề tài: “Hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ” (Nghiên cứu tại SGD I NHĐTPTVN) nhằm tìm hiểu thêm về hoạt động thanh toán quốc tế tại SGD I NHĐTPTVN. Đồng thời tìm ra giải pháp mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại SGD I. Ngoài phần mở đầu và kết luận chuyên đề gồm 3 chương: Chương 1: Tổng quan về thanh toán quốc tế và tín dụng chứng từ. Chương 2: Thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ tại SGD I NHĐTPTVN. Chương 3: Giải pháp mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế tại SGD I NHĐTPTVN.
Xem thêm

16 Đọc thêm

Giải quyết tranh chấp về giao dịch tín dụng chứng từ trong thanh toán quốc tế

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ GIAO DỊCH TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ

pháp lệnh ngoại hối. Và các Quyết định của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn nghiệp vụ. Pháp luật Việt Nam đều có quy định chung là: trong giao dịch L/C ưu tiên áp dụng tập quán quốc tế nếu có sự thỏa thuận của các bên và việc áp dụng tập quán quốc tế không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật VN. văn bản của Ngân hàng nhà nước VN đã thừa nhận và áp dụng hoàn toàn UCP trong TTQT. Tại chương 3, thứ nhất, luận văn đi vào phân tích các tình huống, các vụ việc tranh chấp xảy ra thực tế trên thế giới và Việt Nam - Thứ hai, luận văn nghiên cứu vấn đề luật hóa các quy định của tập quán quốc tế, điều ước quốc tế tại Việt nam: Có thể nói xu hướng luật hóa thông lệ và tập quán quốc tế là xu hướng mang tính khách quan. UCP tuy chưa phải là luật quốc tế tuy nhiên có thể coi là một văn bản có tính chất pháp lý đầy đủ nhất, cao nhất, được hầu hết các quốc gia chấp nhận áp dụng tại nước mình. Tuy nhiên để hiểu một cách đầy đủ, trọn vẹn nội dung của UCP cũng như áp dụng quy định của UCP vào hoạt động thanh toán quốc tế là một khoảng cách cần phải nghiên cứu rất nhiều. * Vấn đề thực thi pháp luật về thanh toán quốc tế tại Việt Nam Về vấn đề này, luận văn trình bày 2 ý: thứ nhất là sự thống nhất giữa pháp luật VN với luật pháp quốc tế; thứ hai là sự khác nhau giữa pháp luật VN với luật pháp quốc tế. Sau khi nghiên cứu luật quốc tế, pháp luật Việt Nam, em xin mạnh dạn có một số kiến nghị đề xuất, cụ thể như sau: 5  Về hệ thống pháp luật Việt nam: - Tại Việt Nam các văn bản quy phạm pháp luật đều hướng dẫn chung chung đó là áp dụng tập quán thanh toán quốc tế hoặc điều ước quốc tế nếu không trái với pháp luật Việt Nam nhưng chưa quy định một cách cụ thể, chưa chuyển hóa quy định của UCP vào nội dung của các văn bản pháp luật Việt nam thành Nghị định hay Thông tư. - Pháp luật trong nước quy định về tố tụng trọng tài chưa linh hoạt, đầy đủ mà thực tiễn thường áp dụng Luật tố tụng Dân sự, nên chăng trong sửa đổi sắp tới của Luật Tố tụng
Xem thêm

11 Đọc thêm

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ11

Tuy nhiên, xét về phía nhà nhập khẩu, thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ sẽ làm cho nhà nhập khẩu bị đọng vốn trong trường hợp phải ký quỹ mở L/C. Nếu thời gian hiệu lực của L/C càng dài, số tiền của L/C càng lớn thì hiệu quả sử dụng vốn của nhà nhập khẩu càng giảm đi. Đây chính là một trong những vấn đề mà nhà nhập khẩu cần quan tâm khi xác định loại L/C và thời hạn hiệu lực của L/C để giảm bớt những thiệt hại cho nhà nhập khẩu.1.1.4. Lợi ích và rủi ro đối với các bên tham gia.1.1.4.1. Đối với người nhập khẩu.a. Lợi ích: 1. Người nhập khẩu sẽ nhận được các chứng từ về hàng hoá do mình quy định như NHPH ghi rõ trong L/C. Những chứng từ đó là bằng chứng của việc người mua được trao quyền sở hữu hàng hóa.2. Người nhập khẩu được đảm bảo rằng sẽ chỉ bị ghi nợ tài khoản số tiền L/C khi tất cả các chỉ định trong L/C được thực hiện đúng.3. Đảm bảo hàng hóa phù hợp với bộ chứng từ theo các điều kiện và điều khoản đã ký kết trong hợp đồng ngoại thương.4. Vì có sự bảo đảm về thanh toán, người nhập khẩu có thể thương lượng để đạt được giá cả tốt hơn và mở rộng được quan hệ khách hàng cũng như quy mô kinh doanh.b. Rủi ro:1. Không có sự bảo đảm nào cho nhà nhập khẩu rằng hàng hoá sẽ đúng như đơn đặt hàng hay không bị hư hại gì. Trong trường hợp này, nhà nhập khẩu vẫn phải hoàn trả đầy đủ tiền đã thanh toán cho NHPH.2. Những thay đổi trong hợp đồng ngoại thương giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu phải tiến hành làm thủ tục sửa đổi, bổ sung L/C làm kéo dài thời gian giao dịch, tăng chi phí.3. NHXN hay một NHCĐ khác có thể mắc sai lầm khi đã thanh toán cho một bộ chứng từ có sai sót, sau đó ghi nợ NHPH. Nếu ngân hàng mắc sai lầm lại do người nhập khẩu chỉ định, thì NHPH có quyền truy hoàn số tiền đã bị ghi nợ.4. Nhà nhập khẩu chưa nhận được bộ chứng từ cho đến khi hàng đã cập cảng.5. Nếu không quy định “bộ vận đơn đầy đủ” thì một người khác có thể lấy được hàng
Xem thêm

26 Đọc thêm

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP VỀ TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TRONG THANH TOÁN NGOẠI THƯƠNG TẠI VIỆT NAM

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP VỀ TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TRONG THANH TOÁN NGOẠI THƯƠNG TẠI VIỆT NAM

(ICC) ban hành đƣợc thừa nhận và áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới. Đây là tàiliệu cung cấp những chuẩn mực giao dịch chứng từ nhất định cho các bên thamgia, hạn chế những tranh chấp, những bất đồng do sự khác biệt về tập quán giaodịch giữa các đối tác thuộc những quốc gia khác nhau và cũng là cơ sở để các bêngiải quyết các mâu thuẫn phát sinh trong quá trình thanh toán. Bản điều lệ đã quanhiều lần sửa đổi và mỗi lần sửa đổi đã tạo điều kiện thuận lợi hơn, thống nhất hơngiữa các ngân hàng trong tổ chức thanh toán phƣơng thức tín dụng chứng từ chocác doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Lần sửa đổi gần đây, ICC bắt đầu từ năm 2003và văn bản cuối cùng đƣợc hoàn thiện tháng 12/2006, có hiệu lực từ 01/7/2007dƣới tên gọi là UCP 600. Văn bản này hiện đang đƣợc sử dụng rộng rãi trên thếgiới cũng nhƣ ở Việt Nam. Tất cả các bên tham gia trong nghiệp vụ tín dụng chứngtừ không những chỉ áp dụng UCP khi luật của nƣớc của họ không đề cập đến, màthậm chí ngay cả khi luật pháp của nƣớc họ có những điều luật về tín dụng chứngtừ, UCP vẫn xem là ƣu tiên vận dụng, hoặc sử dụng UCP nhƣ là những quy tắc bổsung cho luật pháp trong nƣớc.Việt Nam là một quốc gia đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế,cùng với việc mở cửa nền kinh tế, hoạt động xuất nhập khẩu đã thực sự bùng nổkéo theo sự phát triển mạnh mẽ của công tác thanh toán quốc tế tại các ngân hàngthƣơng mại. Do vậy, hoạt động mua bán ngoại thƣơng cũng nhƣ công tác thanhtoán quốc tế là một nhu cầu tất yếu của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu và Ngânhàng thƣơng mại. Tuy nhiên trong thanh toán ngoại thƣơng, Việt Nam vẫn thƣờnggặp phải những khó khăn. Hiện nay, Việt Nam cũng đã có những văn bản pháp lýđiều chỉnh hoạt động thanh toán ngoại thƣơng nhƣ Bộ luật Dân sự 2005, LuậtThƣơng mại năm 2005, Luật các Tổ chức Tín dụng, Pháp lệnh Ngoại hối 2005…Tuy nhiên các văn bản pháp luật của ta vẫn còn chung chung, chƣa quy định cụ thểdẫn đến việc áp dụng UCP để giải quyết các tranh chấp về tín dụng chứng từ trongthanh toán ngoại thƣơng gặp nhiều khó khăn. Chính vì vậy cần phải có Đề tàinghiên cứu một cách tổng hợp, toàn diện và có hệ thống về vấn đề này nhằm hoàn
Xem thêm

12 Đọc thêm

THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ VÀ VẤN ĐỀ TRANH CHẤP

THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ VÀ VẤN ĐỀ TRANH CHẤP

cũng như nhà xuất khẩu thu hồi được lãi, vốn và tiếp tục một chu kỳ tái sản xuất mới là một vấn đề mà những người liên quan tới hoạt động đối ngoại đều quan tâm đến. Trong trường hợp này cần có một phương thức thanh toán giao dịch thương mại đem lại hiệu quả, đáp ứng yêu cầu cả hai bên mua bán - đó chính là phương thức tín dụng chứng từ. 2.1. Khái niệm và các bên tham gia trong phương thức tín dụng chứng từ. Tuỳ theo thói quen và thông lệ của từng nước mà TDCT được gọi với nhiều tên khác nhau: Letter of credit, Credit, Document of credit. Tương tự, ở Việt Nam, ngoài tên là TDCT còn được gọi là tín dụng thư, thư tín dụng, L/C... Trước đây, nó được gọi là tín dụng thương mại (Commercial letter of credit) nhưng nay thì từ này không được dùng nữa mà thông dụng nhất là "Tín dụng chứng từ " (Documentary credit) vì nó thể hiện đúng nhất ý nghĩa tín dụng kèm chứng từ .Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận trong đó một Ngân hàng (Ngân hàng mở thư tín dụng) đáp ứng những yêu cầu của khách hàng (người xin mở thư tín dụng) cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho người thứ ba (người hưởng lợi số tiền của thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó khi người này xuất trình cho Ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định đề ra trong thư tín dụng. Trong phương thức này, Ngân hàng không chỉ là trung gian thu hộ, chi hộ mà còn là người đại diện bên nhập khẩu thanh toán tiền hàng cho bên xuất khẩu, đảm bảo cho bên xuất khẩu nhận được khoản tiền tương ứng với hàng hoá mà họ đã cung ứng đồng thời bên nhập khẩu nhận được số lượng hàng hoá có chất lượng tương ứng với số tiền mình phải thanh toán. Người bán sẽ được thanh toán cho dù người mua không thể trả tiền. Đối với Ngân hàng, đây được coi là một khoản tín dụng cấp cho người mua vì nếu người mua không trả được tiền thì Ngân hàng phải trả thay. Còn trong trường hợp nhà xuất khẩu phải ký quỹ 100% số tiền của thư tín dụng thì thực chất Ngân hàng không cấp một khoản tín dụng nào mà là cho người mua vay sự tín nhiệm của mình. TDCT cũng bảo vệ người mua ở chỗ họ bảo đảm không bị đòi tiền cho đến khi đủ chứng từ về việc giao hàng. TDCT trở thành phương thức thanh toán đem lại cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu một sự an
Xem thêm

39 Đọc thêm

vấn đề cơ bản về hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ

VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ

viên………………………………………………………………………………… 263.2.4 Nâng cấp, đổi mới công nghệ ngân hàng và ứng dụng các công nghệ hiệnđại nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả thanh toán 272 | P a g e P a g e | 3MỞ ĐẦUQuá trình tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ mang lại cho Việt Nam nhiều cơ hội cũng như tháchthức. Sau gần một thập niên duy trì nền kinh tế bao cấp, Việt Nam đang nỗ lực để bắt kịp trìnhđộ phát triển chung của thế giới và đạt nhiều thành tựu đáng khích lệ trong lĩnh vực kinh tế.Trong xu hướng hội nhập quốc tế, nền kinh tế Việt Nam luôn thể hiện sự chủ động, linh hoạttrong hoạt động giao lưu thương mại với nước ngoài. Sau khi gia nhập ASEAN vào năm 1995 vàAFTA vào năm 1996, Việt Nam đã trở thành thành viên của APEC năm 1998. Ngày 7 tháng 11năm 2006, sau quá trình đàm phán kéo dài và căng thẳng, Việt Nam trở thành thành viên chínhthức thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).Việt Nam luôn khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia tích cực vào hoạt động xuất nhậpkhẩu. Chính phủ áp dụng mọi biện pháp cần thiết để thúc đẩu quá trình sản xuất hàng hóa phụcvụ cho mục đích xuất khẩu, mang tính cạnh tranh cao, phát triển việc xuất khẩu các dịch vụthương mại. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhập khẩu nguyênvật liệu và thiết bị hiện đại, công nghệ, kỹ thuật tiên tiến nhằm phát triển hoạt động sản xuấttrong nước, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa.Trong điều kiện kinh tế thị trường, các quan hệ kinh tế cũng như ngoại thương phát triển nhanhchóng. Tuy nhiên gắn liền với sự phát triển đó là nhiều khó khăn, thách thức mà Việt Nam phảivượt qua. Cần phải thực hiện sửa đổi, ban hành văn bản pháp luật phù hợp với xu thế mới cũngnhư tăng cường hiểu biết pháp luật của doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực kinhdoanh của họ. Một điều phải thừa nhận rằng các tổ chức tín dụng có vai trò quan trọng trong việccung cấp những dịch vụ thanh toán đa dạng, góp phần phát triển hoạt động giao dịch giữa cáccông ty Việt Nam và nước ngoài. Nhận thức được tầm quan trọng của việc thanh toán trong hợpđồng ngoại thương, các bên ký kết hợp đồng luôn chọn lựa phương thức thanh toán thích hợpnhằm bảo vệ lợi ích của mình trong trường hợp phát sinh tranh chấp.
Xem thêm

26 Đọc thêm

LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN BẰNG PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ

LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN BẰNG PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ

LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN BẰNG PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ1.1 Những vấn đề cơ bản về phương thức tín dụng chứng từ 1.1.1 Khái niệm tín dụng chứng từ Theo điều 2, UCP 600 định nghĩa TDCT được định nghĩa như sau: “Tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận bất kỳ, cho dù được mô tả hoặc tên gọi như thế nào, thể hiện một cam kết chắc chắn và không huỷ ngang của NHPH về việc thanh toán khi xuất trình phù hợp”. Với định nghĩa như vậy ta có thể hiểu rằng bản chất của TDCT là một sự cam kết thanh toán có điều kiện bằng văn bản của NHPH. “Điều kiện”ở đây chính là việc người thụ hưởng phải xuất trình được một bộ chứng từ hoàn hảo, vậy bộ chứng từ hoàn hảo nghĩa là thế nào, ta phải hiểu nó ra sao, ta có thể đưa ra một số chuẩn mực chung về bộ chứng từ hoàn hảo như sau:+ Bộ chứng từ phải phù hợp với các điều kiện và điều khoản quy định trong LC.+ Giữa các chứng từ trong bộ chứng từ không có sự mâu thuẫn với nhau.+ Bộ chứng từ được lập đúng luật (theo quy định của UCP).Cũng với cách định nghĩa này thì ta nên hiểu từ “tín dụng –credit” không phải là một khoản vay thông thường mà là “tín nhiệm”. Điều này được thể hiện rõ trong trường hợp người nhập khẩu ký quỹ 100% giá trị của LC, thì thực chất NH không cấp bất cứ khoản tín dụng nào cho người mở LC, mà chỉ cho người nhập khẩu vay “sự tín nhiệm” của mình .Tóm lại thì “tín dụngtrong phương thức tín dụng chứng từ chỉ thể hiện khoản “tín dụng trừu tượng” bằng lời hứa trả tiền của NH thay cho lời trả tiền của nhà nhập khẩu.1.1.2 Các bên tham gia Chủ thể tham gia có thể là 4 hoặc nhiều hơn tuỳ thuộc vào loại LC. Nhưng nhìn chung có các chủ thể sau đây: • Người xin mở thư tín dụng (Applicant for L/C): Là người làm đơn mở, yêu cầu NH phục vụ mình phát hành ra một L/C cho người XK hưởng, đơn yêu cầu này được dựa trên nội dung của HĐTM đã ký kết giữa người NK và người XK. Người xin mở L/C có trách nhiệm thanh toán bồi hoàn cho NH trị giá L/C và các
Xem thêm

23 Đọc thêm

Thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại chi nhánh NHCT Hai Bà Trưng

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI CHI NHÁNH NHCT HAI BÀ TRƯNG

Thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế theo phơng thức tín dụng chứng từ tại chi nhánh NHCT Hai Bà Trng2.1> Khái quát chung về NHCT Hai Bà Trng.2.1.1 Quá trình hình thành và phát triểnNHCT Việt Nam là một trong bốn NHTM nhà nớc lớn của Việt Nam, có một mạng lới rộng lớn bao gồm 2 Sở giao dịch,143 Phòng giao dịch, 104 chi nhánh. Trong đó, chi nhánh NHCT Hai Bà Trng là một trong những chi nhánh hoạt động có hiệu quả có đợc vị trí quan trọng trong toàn hệ thống NHCT Việt Nam.Sự ra đời và phát triển của chi nhánh NHCT Hai Bà Trng gắn liền với tiến trình đổi mới của NHCT khi hai pháp lệnh ngân hàng đợc ban hành năm 1990. NHCT Hai Bà Trng đã chuyển từ chi nhánh NHNN sang trực thuộc thành phố Hà Nội. Năm 1993, NHCT có sự thay đổi trong cơ cấu tổ chức bỏ qua NHCT cấp tỉnh, thành phố chỉ còn NHCT cấp quận. Do vậy, ngày 1/4/1993 Tổng giám đốc NHCT Việt Nam đã có quyết định thành lập chi nhánh NHCT Hai Bà Trng trực thuộc NHCT Việt Nam tại số 306 Bà Triệu nay chuyển về số 285 Trần Khát Chân Hà Nội.Trong những năm hoạt động gần đây kể từ khi là chi nhánh của NHCT Việt Nam, cùng với sự trởng thành và phát triển của NHCT Việt Nam, NHCT Hai Bà Trng đã trải qua nhiều khó khăn, thử thách để tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trờng. Tập thể lãnh đạo và cán bộ công nhân viên đã quyết tâm phấn đấu thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ cấp trên giao phó với mục tiêu "vì sự thành đạt của mọi ngời, mọi nhà, mọi doanh nghiệp, sự thành đạt của mọi doanh nghiệp cũng chính là sự thành đạt của ngân hàng". Đến nay, chi nhánh đã thật sự khẳng định đợc vị trí của mình đứng vững và phát triển trong cơ chế mới, chủ động mở rộng mạng lới dịch vụ, đa dạng hoá các mặt kinh doanh thờng xuyên tăng cờng cơ sở vật chất kỹ thuật để từng bớc đổi mới công nghệ, hiện đại hoá dịch vụ ngân hàng.2.1.2 Cơ cấu tổ chức của NHCT Hai Bà TrngChi nhánh NHCT Hai Bà Trng là một chi nhánh trực thuộc NHCT Việt
Xem thêm

25 Đọc thêm

Những vấn đề cơ bản về tín dụng chứng từ và chất lượng của việc thực hiện phương thức thanh toán tín dụng chứng từ

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG CHỨNG TỪ VÀ CHẤT LƯỢNG CỦA VIỆC THỰC HIỆN PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ

2. Nội dung của phơng thức thanh toán tín dụng chứng từTheo UCP500, phơng thức thanh toán tín dụng chứng từ bao gồm những nội dung cơ bản sau:2.1 Các bên tham gia và quy trình nghiệp vụ thanh toána) Các bên tham gia- Ngời yêu cầu mở th tín dụng: Là ngời mua, ngời nhập khẩu, hoặc ngời đ-ợc uỷ thác nhập khẩu, là ngời có đầy đủ các điều kiện để mở L/C.- Ngời hởng lợi th tín dụng: Là ngời bán, ngời xuất khẩu hay bất cứ ngời nào khác mà hởng lợi chỉ định.- Ngân hàng mở th tín dụng hay ngân hàng phát hành L/C: Là ngân hàng đại diện cho ngời nhập khẩu, nó cấp tín dụng cho ngời nhập khẩu.- Ngân hàng thông báo th tín dụng: Là ngân hàng phát hành th tín dụng yêu cầu thông báo cho ngời hởng lợi các điều khoản của th tín dụng (thờng ngân hàng này là ngân hàng của nớc ngời xuất khẩu, ngời hởng lợi).Thông thờng trong quan hệ tín dụng chứng từ chỉ có bốn bên tham gia là ngời xuất khẩu, ngời nhập khẩu, ngân hàng đại diện cho ngời xuất khẩu, ngân hàng của ngời xuất khẩu... Nhng ngoài ra có thể có các ngân hàng khác tham gia trong phơng thức thanh toán nh:- Ngân hàng xác nhận: Là ngân hàng xác nhận trách nhiệm của mình sẽ cùng ngân hàng mở L/C đảm bảo việc trả tiền cho ngời xuất khẩu trong trờng hợp ngân hàng mở L/C không đủ khả năng thanh toán. Ngân hàng xác nhận có thể là ngân hàng thông báo L/C hay một ngân hàng khác do ngời xuất khẩu yêu cầu thờng là một ngân hàng có uy tín trên thị trờng quốc tế.- Ngân hàng thanh toán: Có thể là ngân hàng mở L/C hoặc có thể là một ngân hàng khác đợc ngân hàng mở L/C chỉ định. Nếu địa điểm trả tiền quy định tại nớc ngời xuất khẩu thì ngân hàng trả tiền thờng là ngân hàng thông báo. Trách nhiệm của ngân hàng thanh toán cũng giống nh ngân hàng mở L/C khi nhận đợc bộ chứng từ của ngời xuất khẩu gửi đến. b) Quy trình thanh toán theo phơng thức tín dụng chứng từSơ đồ 2: Quy trình thanh toán theo phơng thức tín dụng chứng từ
Xem thêm

18 Đọc thêm

Phân tích tình hình hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ tại Vietcombank chi nhánh Cần Thơ

PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN BẰNG TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI VIETCOMBANK CHI NHÁNH CẦN THƠ

Tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán có thể đảm bảo được quyền lợi cho cả hai bên, một quy trình thanh toán chứng từ hoàn thiện sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao cho cả nhà xuất khẩu lẫn nhà nhập khẩu. Nhưng dù an toàn và tiện lợi đến mấy thì thanh toán bằng phương thức thanh toán tín dụng chứng từ vẫn không thể tránh khỏi các rủi ro và tranh chấp phát sinh. Và để hiểu rõ hơn về phương thức này đồng thời đề xuất được những biện pháp dự phòng nhằm hạn chế được những rủi ro và nâng cao chất lượng thanh toán tín dụng chứng từ nên em đã quyết định chọn đề tài “Phân tích tình hình hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ tại Vietcombank chi nhánh Cần Thơ
Xem thêm

101 Đọc thêm

Giải pháp mở rộng cho hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ taị ngân hàng thương mại cổ phần công thương việt nam chi nhánh thanh xuân (Khóa luận tốt nghiệp)

Giải pháp mở rộng cho hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ taị ngân hàng thương mại cổ phần công thương việt nam chi nhánh thanh xuân (Khóa luận tốt nghiệp)

Giải pháp mở rộng cho hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ taị ngân hàng thương mại cổ phần công thương việt nam chi nhánh thanh xuân (Khóa luận tốt nghiệp)Giải pháp mở rộng cho hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ taị ngân hàng thương mại cổ phần công thương việt nam chi nhánh thanh xuân (Khóa luận tốt nghiệp)Giải pháp mở rộng cho hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ taị ngân hàng thương mại cổ phần công thương việt nam chi nhánh thanh xuân (Khóa luận tốt nghiệp)Giải pháp mở rộng cho hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ taị ngân hàng thương mại cổ phần công thương việt nam chi nhánh thanh xuân (Khóa luận tốt nghiệp)Giải pháp mở rộng cho hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ taị ngân hàng thương mại cổ phần công thương việt nam chi nhánh thanh xuân (Khóa luận tốt nghiệp)Giải pháp mở rộng cho hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ taị ngân hàng thương mại cổ phần công thương việt nam chi nhánh thanh xuân (Khóa luận tốt nghiệp)Giải pháp mở rộng cho hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ taị ngân hàng thương mại cổ phần công thương việt nam chi nhánh thanh xuân (Khóa luận tốt nghiệp)Giải pháp mở rộng cho hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ taị ngân hàng thương mại cổ phần công thương việt nam chi nhánh thanh xuân (Khóa luận tốt nghiệp)Giải pháp mở rộng cho hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ taị ngân hàng thương mại cổ phần công thương việt nam chi nhánh thanh xuân (Khóa luận tốt nghiệp)Giải pháp mở rộng cho hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ taị ngân hàng thương mại cổ phần công thương việt nam chi nhánh thanh xuân (Khóa luận tốt nghiệp)
Xem thêm

Đọc thêm

TRANH CHẤP TRONG TÍN DỤNG CHỨNG TỪ

TRANH CHẤP TRONG TÍN DỤNG CHỨNG TỪ

đề trong thanh toán bằng tín dụng chứng từ cần được điều chỉnh bởi pháp luật, nêu các kiến nghị liên quan đến quy trình giải quyết tranh chấp đặc thù đối với các tranh chấp về thanh toán tín dụng chứng từ. 6. Phương pháp nghiên cứu Tác giả đã sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng trong nghiên cứu luận văn này. Đồng thời, luận văn còn thực hiện trên cơ sở kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu tài liệu, phân tích, tổng hợp, logic và so sánh luật học. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 2 chương: Chương 1: Những vấn đề cơ bản về pháp luật giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thanh toán quốc tế bằng tín dụng chứng từ. Chương 2: Thực tiễn pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thanh toán quốc tế bằng tín dụng chứng từ ở Việt Nam và các kiến nghị hoàn thiện. Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP PHÁT SINH TRONG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN BẰNG TÍN DỤNG CHỨNG TỪ 1.1 Một số vấn đề lý luận về thanh toán tín dụng chứng từ 1.1.1 Khái niệm thanh toán và dịch vụ thanh toán Theo nghĩa chung nhất, thanh toánhoạt động trả tiền của một chủ thể đối với một chủ thể khác trong quan hệ dân sự, thương mại. Dịch vụ thanh toán theo luật Việt Nam được hiểu là: "việc ung ứng phương tiện thanh toán, thực hiện giao dịch thanh toán trong nước và quốc tế, thực hiện thu hộ, chi hộ và các loại dịch vụ khác do Ngân hàng Nhà nước quy định của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán theo yêu cầu của người sử dụng dịch vụ thanh toán" (khoản 5 Điều 3 Nghị định số 64/2001/NĐ-CP ngày 20/8/2001). Pháp luật Việt Nam hiện hành ghi nhận 5 loại dịch vụ thanh toán chủ yếu được thực hiện bởi các Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, bao gồm:
Xem thêm

17 Đọc thêm

HẠN CHẾ RỦI RO THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HÀ NỘI

HẠN CHẾ RỦI RO THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HÀ NỘI

Rural Development- Ha Noi branch.Trụ sở chính: 77 Lạc Trung- Hai Bà Trưng- Hà Nội2.1.2 Tình hình hoạt động thanh toán quốc tế của chi nhánh NHNo&PTNT HàNội trong những năm gần đâyĐể đứng vững trong điều kiện mới, NHNo&PTNT Hà Nội được tổ chức vàhoàn thiện nhằm phục vụ đắc lực hơn cho công cuộc đổi mới kinh tế đất nước.NNNo&PTNT Hà Nội được đặt dưới sự lãnh đạo và điều hành của giám đốc điều hànhtheo chế độ thủ trưởng và đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ, quản lý và quyết địnhnhững vấn đề về cán bộ thuộc bộ máy theo sự phân công và ủy quyền của tổng giámđốc NHNo&PTNT Việt Nam. NHNo&PTNN Hà Nội đã trang bị hệ thống máy vi tínhhiện đại ngay khi chuyển sang kinh doanh theo cơ chế thị trường, áp dụng mạng thanhtoán liên hàng nội bộ, tham gia nối mạng thanh toán viễn thông liên ngân hàng quốc tế(SWIFT), triển khai hệ thống thanh toán rút tiền tự động ATM...Trên nền tảng và xu hướng công nghệ hiện đại, hoạt động kinh doanh củaNHNo&PTNN Hà Nội ngày càng được mở rộng kết hợp với đa dạng hóa các sản phẩmdịch vụ nhằm củng cố vị thế của mình trên thị trường trong nước và quốc tế. Hiện nay,NHNo&PTNN Hà Nội đang thực hiện đa dạng hóa các dịch vụ ngân hàng như sau:- Thanh toán hàng hóa XNK.- Thực hiện nghiệp vụ hối đoái- Cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ- Chuyển tiền nhanh- Thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh, xác nhận bảo lãnh- Thanh toán chuyển tiền đi – đến hàng hóa và dịch vụ qua hệ thống SWIFT- Mở tài khoản và thanh toán liên hàng điện tử trong nước- Nhận tiền gửi tiết kiệm, bán kỳ phiếu bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ.- Thanh toán các hiệp định vay nợ viện trợ của Chính phủvii
Xem thêm

14 Đọc thêm

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG

Vốn chủ sở hữu đạt 13.627 tỷ đồng. Eximbank hiện là một trong những Ngân hàng có vốn chủ sở hữu lớn nhất trong khối Ngân hàng TMCP tại Việt Nam.Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam có địa bàn hoạt động rộng khắp cả nước với Trụ Sở Chính đặt tại TP. Hồ Chí Minh và 77 Chi nhánh, phòng giao dịch được đặt tại Hà Nội, Đà Nẵng, Nha Trang, Cần Thơ, Quảng Ngãi, Vinh, Hải Phòng, Quảng Ninh, Đồng Nai, Bình Dương, Tiền Giang, An Giang, Bà Rịa- Vũng Tàu, Đắc Lắc, Lâm Đồng và TP.HCM. Đã thiết lập quan hệ đại lý với hơn 735 Ngân hàng ở tại 72 quốc gia trên thế giới.**Những thành tựu đạt được trong những năm gần đây:Tháng 7/2008: Eximbank vinh dự nhận được danh hiệu “Ngân hàng tốt nhất Việt Nam” do Tạp chí The Banker trao tặng.Tháng 4/2008, Eximbank đạt danh hiệu “Thương Hiệu Mạnh 2007” do báo Kinh Tế Việt Nam và Bộ Thương Mại. Trong 4 năm liên tiếp Eximbank đã được người tiêu dùng trên cả nước bình chọn.Tháng 2/2008, Eximbank vinh dự nhận được danh hiệu “Dịch vụ được hài lòng nhất năm 2008” do báo Sài Gòn Tiếp Thị tổ chức bình chọn lấy ý kiến của hàng nghìn người tiêu dùng trên cả nước.SVTH: Nguyễn Thị Phượng Trang 8Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Thầy Phạm Vũ ĐịnhTháng 2/2008, Eximbank được Wachovia Bank N.A New York trao tặng bằng khen về Thanh toán Quốc Tế Xuất Sắc. Đây là giải thưởng nhằm ghi nhận và đánh giá cao quá trình xử lý nghiệp vụ thanh toán tự động nhanh chóng, chuẩn xác và chuyên nghiệp trong dịch vụ điện thanh toán quốc tếTháng 11/2007, Eximbank đạt giải “Top Trade Servicer” do Báo Thương Mại trao tặng về những thành tựu đã đạt được trong quá trình hoạt động.Tháng 10/2007, Eximbank được Ban tổ chức Hiệp hội chống hàng giả và Bảo vệ thương hiệu Việt Nam trao tặng danh hiệu “ Thương Hiệu Vàng”.Tháng 5/2007, Eximbank chính thức trở thành thành viên của tổ chức IFC (công ty tài chính quốc tế toàn cầu)
Xem thêm

33 Đọc thêm

Kiến nghị nhằm nâng cao họa động kinh doanh xuất nhập khẩu tại Cty Vinatex Đà Nẵng - 6 pot

KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HỌA ĐỘNG KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CTY VINATEX ĐÀ NẴNG - 6 POT

nhau về bộ chứng từ thanh toán. Công ty phải lập đầy đủ, chính xác để tránh tình trạng bị từ chối thanh toán. Khi lập bộ chứng từ thanh toán phải tuân theo những yêu cầu sau đây: - Chứng từ phải được lập đúng và chính xác. - Phải lập đầy đủ các chứng từ cần thiết và các chứng từ có liên quan để đối chiếu khi có sai sót xảy ra. - Những nội dung trong bộ chứng từ phải được kiểm tra và phê duyệt. Đây là công việc mà các nhân viên phòng kinh doanh khi lập chứng từ phải cẩn trọng xem xét. (4) Xuất trình bộ chứng từ thanh toán Nhận tiền Điều chỉnh hoặc thương lượng Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.comCông việc này cũng đòi hỏi những nhân viên có kinh nghiệm, có nghiệp vụ vững , am hiểu và luôn cập nhập những thông tin mới nhất để đảm bảo cho bộ chứng từ được chấp nhận thanh toán. Bước lập chứng từ chỉ thực hiện sau khi các bước đóng hàng đã hoàn thiện. Sau khi nhận được lệnh cấp container nhân viên sẽ đem lệnh cấp container xuống cảng để kéo container về xưởng đóng hàng. Song song với việc nhận container , nhân viên sẽ thực hiện việc khai báo làm thủ tục Hải quan. Việc đóng hàng diễn ra tại Cảng, sau khi hoàn thành việc đóng hàng, hàng đã lên tàu lúc đó mới thực hiện quy trình lập chứng từ thanh toán. Bộ chứng từ sẽ được lập sau khi các bước đóng hàng đã hoàn thiện. I. Nội dung điều khoản thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ trong hợp đồng xuất khẩu tại Công ty: Hợp đồng được xem như lời cam kết hay một sự thoả thuận có tính pháp lý giữa hai bên trong đó có các khoản mục qui định trách nhiệm và quyền lợi của các bên. Trong kinh doanh xuất nhập khẩu, khi có tranh chấp xảy ra thì hợp đồng được xem như một văn bản có tính pháp lý cao góp phần vào việc giải quyết tranh chấp giữa các bên. Hợp
Xem thêm

9 Đọc thêm

ĐỀ THI LUẬT KINH TẾ

ĐỀ THI LUẬT KINH TẾ

Phần 1: Những lý luận cơ bản về luật kinh tế và pháp luật về chủ thể kinh doanh Phần 2: Pháp luật về hoạt động thương mại và hợp đồng trong thương mại pháp luật về phá sản và giải quyết tranh chấp trong kinh doanh Chương 1: Tổng quan về Luật Kinh Tế Khái niệm kuật kinh tế Nội dung cơ bản của luật kinh tế Chủ thể của luật kinh tế Nguồn của luật kinh tế

15 Đọc thêm

Luận văn nâng cao hiệu quả thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ tại ngân hàng ACB luận văn, đồ án, đề tài tốt nghiệp

LUẬN VĂN NÂNG CAO HIỆU QUẢ THANH TOÁN QUỐC TẾ BẰNG PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NGÂN HÀNG ACB LUẬN VĂN, ĐỒ ÁN, ĐỀ TÀI TỐT NGHIỆP

Luận văn Nâng cao hiệu quả Thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ tại NH ACB 1 Lời mở đầu Ngày nay, sự phát triển của nền kinh tế gắn liền với các hoạt động kinh tế – xã hội, thị trường ngày càng mở rộng và phát triển trong mối quan hệ kinh tế và khu vực, đặc biệt là sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động ngoại thương.Vì thế quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế cũng không ngừng phát triển, kéo theo sự xuất hiện của nhiều phương thức thanh toán quốc tế, trong đó phải kể đến là thanh toán bằng tín dụng chứng từ. Trong những năm qua, hoạt động thanh toán bằng tín dung chứng từ của các ngân hàng thương mại Việt Nam đã có nhi ều đổi mới, từng bước gắn với yêu cầu hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, dù có tính ưu việt nhưng thanh toán bằng tín dụng chứng từ vẫn còn tồn tại những tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tham gia giao dịch tín dụng chứng từ do pháp luật quy định chưa rõ ràng, không có kiến thức sâu khi tham gia và áp dụng không đồng bộ thông lệ quốc tế, pháp luật quốc gia. Với hơn 15 năm có mặt trên thị trường, Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACB) đã trở nên gần gủi, gắn kết với khách hàng bằng chiến lược sản phẩm dịch vụ đa dạng, phong phú và chất lượng phục vụ cao. Trong đó, cũng cần kể đến dịch vụ thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ. Xuất phát từ nhu cầu thanh toán quốc tế, luận văn : “ Nâng cao hiệu quả Thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng TMCP Á Châu ” sẽ đi sâu vào nghiên cứu tổng quan và thực tiễn về phương thức thanh toán tín dụng chứng từ để tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế bằng phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại ngân hàng TMCP Á Châu. Mục đích nghiên cứu Qua tổng quan và thực tiễn về phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại ngân hàng TMCP Á Châu, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế bằng phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại ngân hàng 2 TMCP Á Châu. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Luận văn tập trung vào hai vấn đề : Nghiên cứu tổng quan về phương thức thanh toán tín dụng chứng từ. Nghiên cứu thực trạng thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ tại ngân hàng TMCP Á Châu. Phương pháp nghiên cứu Thu thập số liệu về hoạt động ngân hàng và thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ tại ngân hàng từ các cơ quan, ban ngành, từ các báo cáo của Ngân hàng TMCP Á Châu qua các năm 2008 – 2010. Tham khảo các tài liệu, tạp chí, các quy định trong hệ thống ngân hàng để phục vụ cho việc nghiên cứu. Sử dụng phương pháp thống kê, so sánh, phân tích đánh giá để nêu ra những thành tích đạt được và những tồn tại trong hoạt động thanh toán quốc tế bằng tín dụng chứng từ từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thanh toán tại ngân hàng. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Luận văn dựa trên tình hình hoạt động thanh toán quốc tế bằng tín dụng chứng từ của ngân hàng TMCP Á Châu, đưa ra những tồn tại, hạn chế và đề xuất những ý kiến phù hợp với ngân hàng trong thực tế. Từ đó, nâng cao hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế bằng tín dụng chứng từ tại ngân hàng TMCP Á Châu. Kết cấu luận văn Ngoài phần Lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn bao gồm ba chương : Chương 1 : Tổng quan về Thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ. Chương 2 : Thực trạng hoạt động Thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng TMCP Á Châu. Chương 3 : Nâng cao hiệu quả Thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng TMCP Á Châu. 3 CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ THANH TOÁN QUỐC TẾ BẰNG PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ 1.1. Khái quát về Thanh toán quốc tế và phương thức thanh toán tín dụng chứng từ (DC) 1.1.1.Khái niệm về Thanh toán quốc tế và phương thức thanh toán tín dụng chứng từ : 1.1.1.1.Khái niệm về Thanh toán quốc tế: Quan hệ quốc tế giữa các nước bao gồm nhiều lĩnh v ực như kinh tế, chính trị, ngoại giao, văn hóa,…trong đó quan hệ kinh tế (chủ yếu là ngoại thương) chiếm vị trí chủ đạo, là cơ sở cho các quan hệ quốc tế khác tồn tại và phát triển. Quá trình tiến hành các hoạt động quốc tế dẫn đến nhu cầu chi trả, thanh toán giữa các chủ thể ở các nước khác nhau, từ đó hình thành và phát triển hoạt động thanh toán quốc tế, trong đó ngân hàng là cầu nối trung gian giữa các bên. Như vậy, Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa v ụ chi trả và quyền hưởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân nước này với tổ chức, cá nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan. Có thể nói : thanh toán quốc tế là chiếc cầu nối giữa nền kinh tế trong nước với phần kinh tế thế giới bên ngoài. Nó có tác dụng bôi trơn và thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ. Trong thương mại quốc tế, không phải lúc nào các nhà xuất nhập khẩu cũng có thể thanh toán tiền hàng trực tiếp cho nhau, mà thường phải thông qua ngân hàng với mạng lưới chi nhánh và hệ thống ngân hàng đại lý rộng khắp toàn cầu. Vì vậy, thanh toán quốc tế ngày càng trở thành một dịch vụ quan trọng mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng của mình. 4 1.1.1.2. Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ (DC) là một sự thỏa thuận mà trong đó, một ngân hàng (ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người xin mở thư tín dụng ) cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho một người thứ ba (người hưởng lợi số tiền của thư tín dụng ) hoặc chấp nhận hối phiếu do người thứ ba ký phát trong phạm vi số tiền đó khi người thứ ba này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định đề ra trong thư tín dụng. Bản chất pháp lý của phương thức thanh toán tín dụng chứng từ (DC) : Thực tế, phương thức thanh toán đã chuyển trách nhiệm thanh toán từ nhà nhập khẩu sang ngân hàng đảm bảo nhà xuất khẩu giao hàng và nhận tiền an toàn, nhanh chóng, khi đó nhà nhập khẩu sẽ được ngân hàng kiểm tra bộ chứng từ và nhận hàng. Vì vậy ở một mức độ nhất định, phương thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán cân bằng lợi ích của cả hai bên xuất khẩu và nhập khẩu nên có thể cho là khá an toàn trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế. + Thư tín dụng độc lập với hợp đồng : thư tín dụng được hình thành trên cơ sở hợp đồng nhưng khi phát hành nó lại độc lập với hợp đồng, và các ngân hàng tham gia chỉ hành động theo quy định thư tín dụng . Theo điều 4 của UCP 600 :”Phương thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ là giao dịch riêng biệt với hợp đồng mua bán hoặc các hợp đồng khác mà có thể là cơ sở của tín dụng chứng từ. Các ngân hàng không liên quan hay bị ràng buộc ngay cả khi thư tín dụng có dẫn chiếu đến hợp đồng đó.” + Phương thức thanh toán tín dụng chứn từ là một kiểu mua bán chứng từ : điều 5 UCP 600 : “các ngân hàng giao dịch trên cơ sở các chứng từ chứ không bằng hàng hóa, dịch vụ hoặc các thực hiện khác mà các chứng từ có liên quan.”.Như vậy ngân hàng có nghĩa v ụ thanh toán cho nhà xuất khẩu khi họ xuất trình cho ngân hàng bộ chứng từ thanh toán phù hợp với các điều khoản, điều kiện của thư tín dụng, ngân hàng không được phép lấy lý do là ngư ời mua không nhận được hàng mà từ chối thanh toán nếu chứng từ người xuất khẩu phù 5 hợp với điều khoản, điều kiện của thư tín dụng. 1.1.2. Đặc trưng cơ bản của thư tín dụng (LC) : Thư tín dụng là văn bản do ngân hàng lập ra, là căn cứ pháp lý để ngân hàng quyết định việc thanh toán, chấp nhận hay chiết khấu hối phiếu bộ chứng từ, là cơ sở để người thụ hưởng lập bộ chứng từ đòi tiền ngân hàng. Vì vậy, thư tín dụng (LC) là một văn bản pháp lí quan trọng đối với hình thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ DC. Thư tín dụng có một số đặc điểm cơ bản sau : Dựa trên sự thỏa thuận giữa ngân hàng phát hành và người mở : khi nhận được yêu cầu từ người mở thư tín dụng, ngân hàng xem xét hợp đồng mua bán hàng hóa giữa người mở và người thụ hưởng để quyết định việc chấp nhận hay từ chối mở thư tín dụng theo yêu cầu của người mở thông qua các quy định về mở LC của ngân hàng. . Dựa trên mối quan hệ giữa ngân hàng phát hành và người thụ hưởng : LC là cam kết đơn phương của ngân hàng phát hành về việc thanh toán cho người thụ hưởng. Do đó, khi phát hành LC thì có giá trị ràng buộc ngân hàng phát hành. Người bán sau khi giao hàng, lập bộ chứng từ và gửi đến ngân hàng phát hành hay ngân hàng được chỉ định để thanh toán. Thư tín dụng lập trên cơ sở hợp đồng mua bán hàng hóa nhưng có tính độc lập so với hợp đồng mua bán. Sau khi đã phát hành LC, ngân hàng phát hành chỉ bị ràng buộc bởi LC đã phát hành, thậm chí ngay cả LC có dẫn chiếu đến hợp đồng mua bán đó. Trong quá trình thanh toán, ngân hàng phát hành ch ỉ dựa trên chứng từ, hồ sơ hợp lệ được các bên xuất trình mà không cần phải dựa vào thực tế giao nhận hàng hóa, tên hàng, số lượng, chất lượng...Nếu xảy ra rủi ro trong quá trình giao nhận hàng hóa thì hai bên mua bán sẽ tự giải quyết, ngân hàng phát hành không có trách nhiệm về hàng hóa đó. 6 1.1.3. Phân loại : Hiện nay, LC được sử dụng cơ bản nhất dưới các loại sau : Căn cứ vào tính chất và đặc điểm, LC được phân loại như sau : LC có thể hủy ngang (Revocable LC) : là LC mà người mở có quyền yêu cầu ngân hàng phát hành sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ bất cứ lúc nào mà không cần có sự chấp thuận hay thông báo trước của người thụ hưởng. Trong đó, lệnh sửa đổi, bổ sung hay hủy bỏ của ngân hàng phát hành chỉ có giá trị khi hàng chưa được giao. Thực tế, LC có thể hủy ngang thường không đảm bảo quyền lợi của người thụ hưởng vì họ có thể bị rủi ro do ngân hàng phát hành đơn phương hủy ngang LC đã phát hành. Do đó, lo ại LC này rất ít được sử dụng trong thực tế. LC không thể hủy ngang (Irrevocable LC) : là loại LC mà sau khi đã mở và người thụ hưởng đã chấp nhận, thì ngân hàng phát hành không được sửa đổi, bổ sung hay hủy bỏ trong thời hạn hiệu lực của LC, trừ khi có sự thỏa thuận khác của các bên tham gia. Nếu như LC có thể hủy ngang nói lên khả năng đơn phương hủy bỏ LC đang còn hiệu lực không cần sự đồng ý của các bên thì LC không hủy ngang không cho phép bên nào đơn phương hủy bỏ hay sửa đổi. Đây là loại hình đảm bảo quyền lợi của người thụ hưởng nên được sử dụng rất rộng rãi trên thế giới. LC không thể hủy ngang có xác nhận (Confirmed Irrevocable LC) : là loại LC không thể hủy bỏ, được ngân hàng khác xác nhận đảm bảo trả tiền theo yêu cầu của ngân hàng phát hành, người bán có thể ký phát hối phiếu đòi tiền ngân hàng xác nhận. Quyền lợi của người thụ hưởng được đảm bảo chắc chắn vì cả ngân hàng phát hành và xác nhận đều cam kết thanh toán khi bộ chứng từ xuất trình phù hợp với điều kiện, điều khoản của LC. LC không thể hủy ngang không có xác nhận (UnConfirmed Irrevocable LC): là loại LC không thể hủy bỏ, được thông báo qua ngân hàng khác và không có sự cam kết nào về phía ngân hàng phát hành. LC không hủy ngang miễn truy đòi (Irrevocable without recourse LC) là 7 loại LC mà sau khi người hưởng lợi đã đư ợc trả tiền thì ngân hàng phát hành không có quyền được đòi tiền người hưởng lợi trong bất cứ trường hợp nào. LC chuyển nhượng (Transferable LC): là LC không hủy ngang, trong đó người hưởng lợi thứ nhất chuyển nhượng một phần hay toàn bộ nghĩa vụ thực hiện LC cũng như quyền đòi tiền mà mình có được cho những người hưởng lợi thứ hai. LC giáp lưng (Back to back LC): là loại LC mà sau khi nhận được LC do người mở mở cho mình, nhà xuất khẩu căn cứ vào nội dung LC này và dùng đúng LC này để thế chấp mở một LC khác cho người hưởng lợi khác với nội dung gần giống như nội dung ban đầu. LC giáp lưng là một LC biệt lập được mở trên cơ sở của LC gốc còn gọi là LC thứ hai trên cơ sở LC thứ nhất. LC giáp lưng cũng đư ợc dùng trong mua bán trung gian như LC chuyển nhượng. Điều khác nhau giữa LC giáp lưng và LC chuyển nhượng là ngân hàng phát hành LC giáp lưng hoàn toàn chịu trách nhiệm thanh toán bộ chứng từ hợp lệ theo LC mà mình mở không ràng buộc bởi LC gốc. LC tuần hoàn (Revolving LC) là LC không thể hủy ngang mà sau khi đã sử dụng hết giá trị của nó hay đã hết hạn hiệu lực thì nó lại có giá trị như cũ và tiếp tục được sử dụng một cách tuần hoàn trong một thời gian nhất định cho đến khi tổng giá trị hợp đồng các bên được thực hiện. LC tuần hoàn có 2 loại: + Tuần hoàn có tích lũy : số tiền đã sử dụng có thể được thêm vào cho lần giao hàng kế tiếp. + Tuần hoàn không tích lũy: nh ững khoản tiền từng phần không được sử dụng sau khi đã hết hạn hiệu lực. LC tuần hoàn thường được sử dụng trong các trường hợp người mua muốn hàng hóa được giao từng phần tại những thời điểm quy định (đối với các hợp đồng giao hàng nhiều lần). LC dự phòng (Standby LC) : là loại LC được mở ra để bảo vệ quyền lợi của nhà nhập khẩu trong trường hợp nhà xuất khẩu đã nhận được LC , tiền đặt cọc hoặc tiền ứng trước, nhưng lại không có khả năng giao hàng hoặc không hoàn 8 thành nghĩa vụ giao hàng như đã quy định trong LC, đòi hỏi ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu phát hành một LC trong đó cam kết với nhà nhập khẩu sẽ hoàn trả lại số tiền đã đ ặt cọc, tiền ứng trước và chi phí mở LC cho nhà nhập khẩu.Trong LC dự phòng, ngân hàng mở ghi rõ LC này chỉ có giá trị thực hiện khi có sự vi phạm nghĩa vụ của người xin mở LC, ngược lại nếu không có sự vi phạm thì LC không đư ợc thực hiện. LC dự phòng được xem là phương tiện thanh toán thứ yếu, chỉ là đảm bảo cho người thụ hưởng LC trong trường hợp nghĩa vụ không được thực hiện. Do đó, LC dự phòng được sử dụng như một hình thức bảo lãnh trong phạm vi rất rộng bao gồm các hoạt động thương mại, tài chính. LC đối ứng (Reciprocal LC) : là loại LC không thể hủy ngang, chỉ bắt đầu có hiệu lực khi LC kia đối ứng với nó được mở ra. Trong LC ban đầu thường phải ghi ‘LC này chỉ có giá trị khi người hưởng lợi đã mở lại một LC đối ứng với nó để cho người mở LC này hưởng” và LC đối ứng phải ghi “ LC này đối ứng với LC số…mở ngày...tại ngân hàng…” và thông báo cho người hưởng lợi biết. Đặc điểm nổi bật của LC này là điều khoản thanh toán. LC này được sử dụng trong giao dịch hàng đổi hàng và gia công hàng xuất khẩu, khi cả hai bên đều là người mua người bán của nhau. LC điều khoản đỏ (Red Clause LC): là loại LC mà ngân hàng phát hành cho phép ngân hàng thông báo ứng trước cho người thụ hưởng để mua hàng hóa, nguyên liệu phục vụ sản xuất hàng hóa theo đúng LC đã m ở. Khoản ứng trước này sẽ được khấu trừ vào tiền thanh toán bộ chứng từ. Căn cứ vào thời điểm thanh toán LC được phân loại như sau : LC trả chậm (AcceptanceDeffered Payment LC ): là loại LC không thể hủy ngang, trong đó ngân hàng phát hành hay ngân hàng xác nhận LC cam kết với người hưởng lợi sẽ thanh toán toàn bộ số tiền của LC tại một hay những thời điểm xác định trong tương lai, những thời điểm này được xác định cụ thể trong LC. LC trả ngay (At sight Payment LC) : người thụ hưởng sẽ nhận được khoản 9 thanh toán ngay khi họ xuất trình chứng từ phù hợp với điều khoản, điều kiện của LC. 1.1.4. Nội dung chủ yếu của LC: Số hiệu, địa điểm và ngày mở LC : + Số hiệu (LC Number) :mỗi LC đều có số hiệu riêng do ngân hàng phát hành cấp, để các bên tham gia trao đổi thư từ, điện tín có liên quan đến LC nhằm tạo thuận lợi trong trao đổi thông tin giữa các bên có liên quan. + Địa điểm mở LC (Place of issue) : là nơi mà ngân hàng mở LC cam kết trả tiền cho người thụ hưởng và có ý nghĩa quan tr ọng trong việc lựa chọn luật pháp áp dụng để giải quyết những bất đồng xảy ra. + Ngày mở LC (Date of issue): là ngày bắt đầu phát sinh sự cam kết của ngân hàng mở LC đối với người xuất khẩu, là ngày ngân hàng mở chính thức chấp nhận đơn xin mở LC của nhà nhập khẩu, là ngày bắt đầu tính thời hạn hiệu lực của LC và cũng là căn cứ để người xuất khẩu kiểm tra xem nhà nhập khẩu có thực hiện việc mở LC đúng hạn không. Loại thư tín dụng (Form of LC): là điều khoản quan trọng ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của LC vì mỗi loại LC có tính chất và nội dung khác nhau. Tên, địa chỉ các bên liên quan đến LC (Name Address of parties) : người mở, người thụ hưởng, ngân hàng phát hành và các ngân hàng khác như : ngân hàng thông báo, ngân hàng xuất trình, ngân hàng xác nhận... Số tiền của LC (Amount of LC): được ghi bằng số và chữ và phải thống nhất với nhau, đơn vị tiền tệ chính xác, trị giá LC phản ánh trị giá lô hàng giao theo hợp đồng, dung sai số tiền... Thời hạn hiệu lực (Expired Period): là thời hạn mà ngân hàng phát hành cam kết sẽ trả tiền cho người thụ hưởng nếu họ xuất trình bộ chứng từ phù hợp trong thời hạn đó.Thời hạn này bắt đầu từ ngày mở LC đến ngày hết hiệu lực Thời hạn xuất trình (Period for presentation): là khoảng thời gian người thụ hưởng được sử dụng để hoàn tất bộ chứng từ và gửi đi cho người mua thanh toán, thường được tính cụ thể là một số ngày nhất định sau ngày giao hàng. 10 Thời hạn trả tiền (Period for payment): có thể nằm trong thời hạn hiệu lực của LC nếu là LC trả ngay hoặc nằm ngoài thời hạn LC nếu là LC trả chậm, nhưng những hối phiếu đòi tiền có kỳ hạn vẫn phải xuất trình cho ngân hàng trong thời hạn hiệu lực của LC. Thời hạn giao hàng (Shipment Period) : cũng được quy định rõ trong LC và do hợp đồng mua bán quy định, ngày giao hàng phải nằm trong thời hạn hiệu lực của LC và không được trùng với thời hạn hiệu lực của LC, ngày mở LC phải trước ngày giao hàng một thời gian hợp lý, không được trùng vào ngày giao hàng. Mô tả hàng hóa (Description of goods) : tên hàng hóa, số lượng, trọng lượng, quy cách phẩm chất, giá cả, bao bì, kí hiệu...cũng được quy định cụ thể trong LC. Vận tải giao nhận hàng hóa : các điều kiện cơ sở giao hàng (FOB, CIF, CF…) nơi gửi hàng, cách vận chuyển, cách giao hàng cũng được quy định cụ thể trong LC. Những chứng từ mà người xuất khẩu phải xuất trình (Documents) : đây là nội dung then chốt chứng minh rằng người xuất khẩu đã hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ giao hàng và làm theo đúng như điều kiện của LC. Đó là căn cứ quan trọng để yêu cầu ngân hàng mở LC thanh toán tiền hàng. Do đó, yêu cầu khắt khe của việc thực hiện thanh toán bằng phương thức này là sự phù hợp hoàn toàn của các chứng từ với tất cả các điều kiện của LC. Chứng từ phải thỏa 3 yêu cầu : số loại, lượng chứng từ và yêu cầu về việc ký phát chứng từ đó như thế nào. Thông thường bộ chứng từ bao gồm : + Hối phiếu (Drafts) + Hóa đơn (Invoice) + Chứng từ vận tải (Transport documents) + Hợp đồng bảo hiểm (Insurance Document) + Chứng nhận xuất xứ (Certificate of origin) + Bản khai đóng gói hàng (Packing List) + Giấy chứng nhận số lượngtrọng lượng (Certificate of WeightQuantity) 11 + Giấy chứng nhận chất lượng (Certificate of Quality) + Giấy chứng nhận phân tích…(Certificate of Anlysis) Và một số chứng từ khác do hai bên người mở và người thụ hưởng quy định như :chứng nhận giao hàng, chứng nhận chuyển giao chứng từ,… Sự cam kết trả tiền của Ngân hàng mở LC : là điều khoản ràng buộc trách nhiệm của ngân hàng mở LC. Những điều khoản đặc biệt khác : cho phép đòi tiền bằng điện, địa chỉ nhận chứng từ, phí, quy cách đóng gói…Tuy nhiên, thực tế cho thấy không nên đưa quá nhiều điều khoản phụ vào LC để tránh hiểu nhầm, không rõ ràng. Chữ kí trên LC hay mã hóa : LC phải được ký vì là cam kết trả tiền của ngân hàng phát hành, nếu LC được mở và gửi cho người xuất khẩu bằng thư thì người ký nó phải là người đại diện ngân hàng hay được ủy quyền và được gửi đến các ngân hàng có liên qua
Xem thêm

69 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG MÔN HỌC : GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

ĐỀ CƯƠNG MÔN HỌC : GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

Giải quyết tranh chấp trong TMQT là môn học chuyên ngành bắt buộc đối với sinh viên mã ngành luật TMQT. Môn học cung cấp những kiến thức chuyên ngành sâu về giải quyết tranh chấp trong TMQT như:Kiến thức về thực tiễn giải quyết tranh chấp TMQT giữa quốc gia và quốc gia;Kiến thức về thực tiễn giải quyết tranh chấp TMQT giữa quốc gia và thương nhân;Kiến thức về thực tiễn giải quyết tranh chấp TMQT giữa thương nhân và thương nhân;Kiến thức về các vấn đề pháp luật, kinh tế, chính trị, ngoại giao trong việc giải quyết tranh chấp TMQT;Đồng thời, xuyên suốt trong môn học, các GV sẽ hướng dẫn sinh viên sử dụng phương pháp case study, kĩ năng mock trial khi tiếp cận và giải quyết các tranh chấp TMQT.
Xem thêm

39 Đọc thêm

Vận dụng UCP 600 để hạn chế tranh chấp trong thanh toán quốc tế bằng thư tín dụng

VẬN DỤNG UCP 600 ĐỂ HẠN CHẾ TRANH CHẤP TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ BẰNG THƯ TÍN DỤNG

1. Sự cần thiết phải nghiên cứu đề tài Sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam trong những năm gần đây đánh dấu một bước phát triển, một sự trưởng thành của nền kinh tế. Trong đó, thật không công bằng nếu không kể đến sự đóng góp của hoạt động xuất nhập khẩu. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá năm 2007 đạt 104.28 tỷ USD; tăng 23% so với năm 2006, tăng gần 50% so với năm 2005. Qua đó, dễ dàng nhận thấy tổng giá trị thanh toán quốc tế là rất lớn. Hơn nữa, Việt Nam vừa gia nhập tổ chức WTO, hội nhập với nền kinh tế thế giới. Cùng với các hoạt động khác, hoạt động ngoại thương nói riêng và hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung ngày càng chiếm vị trí quan trọng. Vì thế, Ngân hàng thương mại với hoạt động thanh toán quốc tế là mắt xích không thể thiếu trong quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, hoạt động thanh toán quốc tế có những đặc trưng riêng do các bên tham gia ở các quốc gia khác nhau, tạo ra sự khác biệt về địa lý, về ngôn ngữ, về đồng tiền, về tập quán, về hệ thống luật pháp,…Vì thế, những rủi ro hay tranh chấp xảy ra trong hoạt động thanh toán quốc tế là điều khó có thể loại bỏ. Trong các phương thức thanh toán quốc tế, phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là một trong phương thức thanh toán được sử dụng phổ biến nhất. Để điều chỉnh hoạt động thanh toán bằng thư tín dụng, ICC đã thảo ra Bản Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ, hiện nay ấn bản mới nhất là ấn bản số 600, năm 2007 có hiệu lực từ ngày 01072007, gọi tắt là UCP 600. Trong thực tiễn hoạt động thanh toán quốc tế của Việt Nam đã xảy ra không ít các vụ tranh chấp, kiện tụng liên quan tới phương thức tín dụng chứng từ. Nguyên nhân của nó là các nhà xuất nhập khẩu và các ngân hàng thương mại của Việt Nam vẫn còn non trẻ, thiếu kinh nghiệm. Thực trạng đó đặt ra cho các ngân hàng và các nhà xuất nhập khẩu của Việt Nam một vấn đề cần giải quyết: Làm thế nào vận dụng tốt UCP 600 trong hoạt động thanh toán bằng thư tín dụng, đặc biệt là trong việc hạn chế các tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện. Để góp phần đáp ứng yêu cầu đó, đề tài “Vận dụng UCP 600 để hạn chế tranh chấp trong thanh toán quốc tế bằng thư tín dụng” được tác giả lựa chọn nghiên cứu. 2. Mục đích của đề tài: Đi sâu vào phân tích nội dung, nguyên nhân của các tranh chấp xảy ra trong thực tiễn thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ tại Việt Nam trong thời gian qua. Đưa ra các giải pháp ngăn ngừa cũng như giải quyết có hiệu quả cho các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu và các ngân hàng thương mại Việt Nam để hạn chế tranh chấp bằng cách vận dụng UCP 600. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu: Những tranh chấp trong hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ tại Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động nghiệp vụ thanh toán tín dụng chứng từ tại Việt Nam. 4. Phương pháp nghiên cứu: Khoá luận sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích, so sánh, thống kê các dữ liệu thu thập được từ thực tiễn. 5. Những vấn đề mới của khoá luận: Hệ thống hoá những tranh chấp thường xảy ra trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ. Nâng cao tính hiệu quả của việc vận dụng UCP 600 trong việc hạn chế và giải quyết các tranh chấp. 6. Nội dung, bố cục của khoá luận: Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo, khoá luận gồm 3 chương: Chương 1: Tổng quát về phương thức thanh toán tín dụng chứng từ và UCP 600 Chương 2: Vận dụng UCP 600 để giải quyết các tranh chấp thường xảy ra Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm hạn chế tranh chấp phát sinh trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại Việt Nam
Xem thêm

90 Đọc thêm

Cùng chủ đề