GIÁ TRỊ VĂN HÓA 5 TƯ DUY HỆ THỐNG

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "GIÁ TRỊ VĂN HÓA 5 TƯ DUY HỆ THỐNG":

Quan điểm và ưu nhược điểm về cách tiếp cận văn hóa theo định nghĩa UNESCO

Quan điểm và ưu nhược điểm về cách tiếp cận văn hóa theo định nghĩa UNESCO

Quan điểm và ưu nhược điểm về cách tiếp cận văn hóa theo định nghĩa UNESCO 9 điểm Chuyên mục Bài tập học kỳ, Đại cương văn hóa VIệt Nam Bài tập học kỳ Đại cương văn hóa Việt Nam. Văn hóa là một vấn đề tưởng chừng như đơn giản, nhưng thực ra lại hết sức phức tạp, được nhiều nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau quan tâm nghiên cứu. Tùy theo hướng tiếp cận khác nhau mà mỗi ngành khoa học, mỗi nhà khoa học có thể đưa ra định nghĩa về văn hóa theo cách hiểu của mình. Tính đến nay đã có hơn 400 định nghĩa khác nhau về văn hóa. Mỗi định nghĩa đều đưa ra một cách nhìn nhận về văn hóa dựa trên phương pháp tiếp cận văn hóa riêng, UNESCO dựa vào các phương pháp tổng hợp cũng đã đưa ra những định nghĩa riêng về văn hóa. Để hiểu hơn về phương pháp tiếp cận văn hóa của UNESCO, em xin chọn đề tài bài tập học kì số 09: “Quan điểm của bạn về cách tiếp cận văn hóa theo định nghĩa UNESCO. Lấy ví dụ minh họa. Ưu, nhược điểm của cách tiếp cận đó.” 1. Khái niệm về văn hóa. Chúng ta đều biết rằng, việc xác định (nội hàm và ngoại diên) của một khái niệm phụ thuộc vào những góc độ công việc hay ngững góc độ nghiên cứu khác nhau. Vì thế, một khái niệm thường được định nghĩa bằng nhiều cách khác nhau. Điều đó không có nghĩa là các định nghĩa có thể phủ định nhau, mà ngược lại, chúng có thể bổ xung cho nhau. Bởi vì không có và không thể có một định nghĩa hoàn chỉnh về một sự vật, hiện tượng mà chỉ có thể có một hệ thống các định nghĩa bổ xung và hỗ trợ nhau để làm sáng tỏ sự vật, hiện tượng ấy. Từ “văn hóa” có rất nhiều định nghĩa. Trong Tiếng Việt, văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức ( trình độ văn hóa), lối sống ( nếp sống văn hóa); theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn ( vaen hóa Đông Sơn)… Trong khi theo nghĩa rộng thì văn hóa bao gồm tất cả, từ những sản phẩm tinh vi, hiện đại cho đến tín ngưỡng, phong tục, lối sống, lao động ,… Ngay từ giữa thế kỉ XX, năm 1952, hai nhà văn hóa học Hoa Kỳ A. Kroeber và C. Kluckholn đã thống kê được 150 định nghĩa khác nhau về văn hóa. Ngày nay, số lượng các định nghĩa đó đã tăng lên rất nhiều ( trên 400 định nghĩa). Nhìn chung, có thể phân chia các định nghĩa về văn hóa thành những loại chính đó là: các định nghĩa miêu tả, các định nghĩa lịch sử, các định nghĩa chuẩn mực, các định nghĩa tâm lý học, các định nghĩa cấu trúc, các định nghĩa nguồn gốc và định nghĩa của UNESCO. 2. Một số cách tiếp cận văn hóa thông thường. Hàng trăm định nghĩa khác nhau về văn hóa chứng tỏ sự đa dạng, phức tạp và khó đồng thuận, thống nhất trong quá trình đi tìm một khái niệm bao quát về văn hóa. Trong tập hợp những định nghĩa, chúng ta thấy nổi lên một số cách tiếp cận văn hóa cơ bản sau: Có thể tiếp cận văn hóa theo nghĩa rộng hoặc nghĩa hẹp. Cách tiếp cận triết học là phân biệt văn hóa với thế giới tự nhiên, cái gì không phải thuộc về tự nhiên là thuộc về văn hóa, nhưng lại không nêu được văn hóa là cái gì, văn hóa bao gồm những nội dung gì và được biểu hiện ra như thế nào. Tiếp cận văn hóa theo nghĩa hẹp như văn hóa nghệ thuật, tri thức, học vấn... thực hiện được nhiệm vụ xác định văn hóa cụ thể là cái gì, nhưng lại mang tính phiến diện, thiếu bao quát, bởi thống kê các nội dung cụ thể của văn hóa một cách đầy đủ là điều không thể thực hiện được. Có thể tiếp cận văn hóa theo hệ thống giá trị vật chất và tinh thần hoặc theo những giá trị chuẩn mực của một cộng đồng người nhất định. Con đường này sẽ gặp khó khăn: trong khi văn hóa là những yếu tố tiến bộ, tích cực, thì trong hệ thống giá trị vật chất và tinh thần lại bao gồm cả những mặt tốt và mặt xấu, tích cực và tiêu cực; và trong thực tế có những suy nghĩ, hoạt động của con người đòi hỏi đạt đến trình độ giá trị chuẩn mực, nhưng cũng có nhiều suy nghĩ, hoạt động, ứng xử của họ chỉ thuần túy do thói quen mà thôi. Có thể tiếp cận theo tính xã hội của văn hóa, nghĩa là nhấn mạnh đến tính cộng đồng trong sinh hoạt và bản tính người trong cộng đồng. Cách tiếp cận này có thể phân biệt được văn hóa là một hiện tượng xã hội, là nét đặc trưng của con người, nó đối lập và khác với thế giới tự nhiên, nhưng chưa nêu lên được vai trò của cá nhân và tính sáng tạo trong văn hóa. Thực tế cho chúng ta thấy giữa cá nhân, xã hội và văn hóa có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Văn hóa là những gì tiêu biểu, đặc trưng của một tộc người nhất định nhưng văn hóa khi bưiểu hiện ra thường được bộc lộ thông qua những suy nghĩ, hành động, ứng xử của một con người cụ thể. Do đó trong văn hóa vừa có tính xã hội, vừa bao gồm cả tính cá nhân, văn hóa vừa là sự phản ánh những quan niệm, những thói quen, những giá trị truyền thống của cộng đồng xã hội, vừa phản ánh tư tưởng, tình cảm, năng lực của mỗi cá nhân. Chính vì lẽ đó mà văn hóa mới luôn luôn biến đổi, phát triển nhờ sự sáng tạo có ý thức của mỗi thành viên trong cộng đồng xã hội. Ngoài ra còn có các phương pháp chung và các phương pháp chuyên ngành trong văn hóa học để tìm hiểu, nghiên cứu về văn hóa trong đó có thể kể đến các phương pháp chung bao gồm: Hệ thống chỉnh thể, phương pháp liên ngành, phương pháp lịch sử (cách tiếp cận lịch đại), phương pháp loogic (cách tiếp cận đồng đại). Các phương pháp chuyên ngành bao gồm: Cách tiếp cận nhân học: Nhân học văn hóa, cách tiếp cận sử học: Sử học văn hóa, cách tiếp cận xã hội học: Xã hội học văn hóa và cách tiếp cận kinh tể học: Kinh tế học văn hóa. Như vậy, ta có thể thấy có rất nhiều cách tiếp cận văn hóa khác nhau, mỗi hướng tiếp cận, dù còn những nhựơc điểm và phiến diện, nhưng đều có đóng góp và có ý nghĩa lịch sử nhất định trong quá trình con người đi sâu vào khám phá, nghiên cứu bản chất của văn hóa, cũng có nghĩa là tìm hiểu chính bản thân con người và xã hội loài người với những biến đổi khác nhau trong điều kiện tự nhiên, xã hội, tâm lý, sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần, quan hệ ứng xử với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và với chính bản thân con người. 3. Định nghĩa văn hóa và cách tiếp cận văn hóa của UNESCO. UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc, là một trong những tổ chức chuyên môn lớn hoạt động với mục đích “thắt chặt sự hợp tác giữa các quốc gia về giáo dục, khoa học và văn hóa…”. Với mục đích hoạt động nhằm thúc đẩy mạnh mẽ việc giáo dục quần chúng và truyền bá văn hóa, UNESCO đã có những hoạt động tích cực trong lĩnh vực văn hóa đặc biệt là việc xây dựng khái niệm văn hóa nhằm đưa ra một cái nhìn đầy đủ, toàn diện về văn hóa. UNESCO đã đưa ra rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa. Tuy nhiên tính đến thời điểm hiện tại, các nhà khoa học Việt Nam mới chỉ chấp nhận một định nghĩa chính thức về văn hóa của UNESCO đó là: “Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và các cộng đồng) đã diễn ra trong quá khú cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng rào thế kỉ, nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình”. ( Ủy ban Quốc gia về thập kỉ quốc tế phát triển văn hóa: Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa. H., Bộ Văn hóa Thông tin, 1992, tr.23) Từ định nghĩa trên, ta có thể thấy, UNESCO đã tiếp cận văn hóa dựa trên một phương pháp tổng hợp – kết hợp nhiều phương pháp khác nhau để xây dựng nên một định nghĩa hoàn chỉnh. Trong đó, có thể kể đến hai phương pháp tiếp cận chính đó là phương pháp miêu tả và phương pháp hệ thống chỉnh thể. Phương pháp miêu tả nghĩa là nghiên cứu đặt trọng tâm vào việc liệt kê tất cả những gì mà khái niệm văn hóa bao hàm. Theo đó, văn hóa gồm mọi mặt sống động của cuộc sống đã, đang và sẽ diễn ra tạo thành hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống. Bằng việc thu thập các dữ liệu từ nghiên cứu, các nhà khoa học của UNESCO đã liệt kê những đặc tính cơ bản của văn hóa, những khía cạnh tác động của văn hóa để từ đó làm cơ sở nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này. Đây là một phương pháp khá thông dụng trong nhiên cứu khoa học. Như khi tìm hiểu về đặc trưng văn hóa của một vùng, một tỉnh nào đó, ta cần phải liệt kê những đặc điểm về thiên nhiên, con người từ đó mới có thể lý giải được nững khác biệt biểu hiện qua văn hóa của vùng đất đó. Chẳng hạn khi nói đến Bạc Liêu, chúng ta nghĩ ngay Bạc Liêu nằm ở Đồng bằng châu thổ Cửu Long, cực nam của Tổ Quốc. Có lợi thế so sánh được thiên nhiên ưu đãi cho những sản vật vô cùng phong phú. Về nguồn lợi thủy sản dồi dào và đa dạng, như : tôm, cá, nghêu, sò, cua ghẹ, và hơn nữa có những cánh đồng lúa bạt ngàn, bất tận… Đặc biệt ở đây muốn nói đến đó là Bạc Liêu, có một nét đặc trưng văn hóa rất độc đáo, đó là con người Bạc Liêu có phong cách hào phóng, trọng nghĩa tình, thủy chung, văn minh, lịch thiệp và bản lĩnh qua các thế hệ. Con người Bạc Liêu cần cù chịu khó, năng động sáng tạo, vượt qua khó khăn, gian khổ để vươn lên. Có được những nét đặc trưng trên, cũng chính là có một nền tảng bề dày truyền thống cách mạng, có nhiều sự kiện đấu tranh cách mạng qua các thời kỳ đã đi vào lịch sử, có những thắng cảnh hấp dẫn, có nhiều di tích lịch sử, có một nét văn hóa đặc trưng giao thoa các dân tộc… Chỉ cần những miêu tả đơn giản như vậy cũng có thể giúp t hiểu hơn về mảnh đất và con người nơi đây. Từ đó có thể thấy ý nghĩa cũng như khả năng truyền tải thông tin hữu ích của phương pháp nghiên cứu này. Tuy nhiên khi sử dụng phương pháp này vẫn có những hạn chế nhất định khi phạm trù bao hàm của văn hóa là rất lớn, vì vậy khó có thể liệt kê toàn bộ các khía cạnh cấu thành nên vă hóa. Do đó việc thiếu sót khi nghiên cứu là tất yếu. Hệ thống chỉnh thể là phương pháp nghiên cứu văn hóa như một chỉnh thể mà không cắt đoạn theo địa giới hành chính hay phân giới địa lý. Theo UNESCO, Văn hóa là các hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống. Các yếu tố này gắn liền, có mối quan hệ mật thiết và không thể tách rời với nhau tạo nên bản sắc riêng của từng dân tộc. Tiếp cận Văn hóa theo phương pháp hệ thống chỉnh thể nghĩa là xem xét văn hóa như một hệ toàn vẹn, có cấu trúc xác định và vận động, phát triển nhờ sự tương tác theo quy luật riêng giữa các bộ phận cấu thành. Xét trên phương diện Văn hóa, hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống là các yếu tố để cấu thành nên bản sắc của từng dân tộc, để phân biệt giữa dân tộc này với dân tộc khác. Khi ta tư duy theo hệ thống chỉnh thể về văn hóa tức là chúng ta đặt văn hóa vào hệ thống của nó để xem xét, cảm nhận; là nhìn nhận văn hóa từ nhiều điểm nhìn khác nhau để khám phá văn hóa một cách đầy đủ, toàn vẹn và có những khám phá mới về nó. Phương pháp tư duy hệ thống là phương pháp tư duy khoa học, phương pháp tư tưởng rộng cho phép ôm vào nó nhiều phương pháp để phát huy, vận dụng tối đa sức sáng tạo của người tiếp nhận. Phương pháp tư duy hệ thống là một con đường giúp xây dựng căn cứ khoa học để “tự do sáng tạo”, đảm bảo không rơi vào tình trạng mông lung, siêu hình hoặc là bình tán, gán ghép. Đây là phương pháp tư duy mà Giáo sư Tiến sĩ khoa học Phan Đình Diệu gọi là: “nguồn sức sống mới của đổi mới tư duy” hiện nay. Đây chính là cách tiếp cận bản thể luận, chống lại việc xa rời bản chất, đặc trưng của văn hóa. Các cách tiếp cận về văn hóa khác thường quy văn hóa về một hình thức, dưới một dạng cụ thể. Ví dụ như các định nghĩa chuẩn mực coi văn hóa là các giá trị vật chất và xã hội của bất kỳ nhóm người nào. Hay theo định nghĩa tâm lý học lại coi văn hóa là: tổng thể những sự thích nghi của con người với các điều kiện sinh sống của họ. Từ đó có thể thấy cách tiếp cận để đưa ra định nghĩa của các phương pháp khác thường hướng suy nghĩ vào một hình tượng, 1 vấn đề cụ thể, còn đối với phương pháp hệ thống chỉnh thể lại mở ra sự tự do trong suy nghĩ để đưa tưởng tượng ra xa hơn, mang lại cái nhìn mới mẻ về văn hóa. Tuy nhiên, sử dụng phương pháp Hệ thống chỉnh thể đòi hỏi người tìm hiểu phải có một vốn kiến thức sâu rộng trên nhiều lĩnh vực cũng như phải có cái nhình tổng quan mới có thể đưa ra một định nghĩa chính xác về vấn đề đang tìm hiểu. Đây là một nhược điểm của cách tìm hiểu này. Ví dụ về cách tiếp cận Hệ thống chỉnh thể trong tác phẩm Truyện Kiều Nguyễn Du. Khi tìm hiểu nhân vật Thúy Kiều trong Truyện Kiều, chúng ta phải đặt nhân vật trong tương quan với hệ thống nhân vật trong tác phẩm, tức là đặt hình tượng Thúy Kiều trong mối quan hệ với gia đình (Vương ông, Thúy Vân), với người yêu ( Kim Trọng), với Thúc Sinh, Từ hải và cả với các thế lực đói nghịch: Bạc Bà, Bạc Hạnh, Tú Bà, Sở Khanh,… Từ đó ta mới thấy được cái đẹp cũng như giá trị nhân văn của nhân vật này. Ta cũng cần đặt Thúy Kiều trong hệ thống văn hóa Việt Nam, cách tư duy của người Việt để thấy được tinh thần dân tộc đậm đà mà nhà thơ gửi gắm vào nhân vật khi tác giả đã sáng tạo lại một tiểu thuyết của Trung Hoa. 4. Ví dụ về cách tiếp cận văn hóa theo định nghĩa UNESCO. Ưu điểm, nhược điểm của cách tiếp cận này. Việc sử dụng phương pháp tổng hợp để nghiên cứu một vấn đề khoa học là cách tốt nhất giúp các nhà nghiên cứu tránh khỏi những thiếu sót, sự khách quan. Điều này đã được thực tế cuộc sống chứng minh khá rõ. Khi nghiên cứu lịch sử phát triển của loài người, các nhà khoa học ngoài sử dụng các phương pháp chuyên ngành còn sử dung các phương pháp chung đó là phương pháp miêu tả và hệ thống chỉnh thể để áp dụng cho các nghiên cứu riêng của mình. Họ phải tìm hiểu và liệt kê toàn bộ các đặc điểm về tự nhiên như: khí hậu, đất đai, sinh vật, nguồn nước, sự biến đổi của trái đất để khái quát và bước đầu có một hình ảnh cụ thể về thế giới cổ đại lúc bấy giờ rồi từ đó mới lý giải được sự hình thành và phát triển của con người. Tương tự như vậy, khi tìm hiểu về nguồn gốc của loài người, không thể tách rời con người với thế giới, phải đặt con người trong tự nhiên để hiểu được nguyên nhân của sự tiến hóa từ một loài vượn cổ lên thành con người ngày nay, từ những cộng đồng người nguyên thủy phải phụ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên thành con người thông minh với những bộ óc vĩ đại và không ngừng phát triển. Từ những phân tích trên ta có thể khẳng định những ưu điểm vượt trội của cách tiếp cận văn hóa theo định nghĩa UNESCO. Đây là phương pháp có khả năng phản ánh thế giới không gian vật thể và sự kiện cụ thể của văn hóa, phản ánh toàn bộ dòng chảy cũng như các đặc tính của văn hóa. Ngoài ra phương pháp này còn biểu lộ cái chung nhất bằng cách phân tích các cấu trúc điều chỉnh của văn hóa. Cách tiếp cận ăn hóa theo định nghĩa UNESCO có thể nói là một phương pháp hoàn chỉnh nhất khi áp dụng khá nhiều phương pháp khác nhau để xây dựng nên một định nghĩa đầy đủ về văn hóa. Định nghĩa này đã để cập đến rất nhiều phương diện đa dạng của văn hóa từ các giá trị về vật chất hay tinh thần, truyền thống đến thẩm mỹ và lối sống của con người. Bên cạnh đó trong định nghĩa của UNESCO ta còn thấy được dòng chảy của lịch sử khi đề cập đến mọi mặt của cuộc sống đã, đang và sẽ diễn ra tạo nên các đặc trưng – bản sắc riêng của từng dân tộc. Từ đó giúp văn hóa được nhìn nhận một cách toàn diện, hoàn hảo nhất. Tuy nhiên, dù là cách tiếp cận văn hóa nào thì cũng không thể tránh khỏi những hạn chế nhất định đặc biệt là khi tìm hiểu về văn hóa – một vấn đề hết sức phức tạp và có sức ảnh hưởng rộng trong cuộc sống. Cách tiếp cận văn hóa của UNESCO tuy đã đề cập kha đầy đủ các khía cạnh của văn hóa nhưng vẫn còn rất hạn chế trong việc xác định hình thức của bản thân tính hay thay đổi hoặc toàn vẹn của văn hóa. Bên cạnh đó, việc sử dụng phương pháp mô tả – liệt kê cũng không thể đảm bảo có thể liệt kê toàn bộ, không bỏ sót bất cứ một yếu tố nào của văn hóa. Bởi văn hóa là một vấn đề hết sức rộng lớn và đa dạng vì vậy, để có thể đưa ra một khí niệm hoàn chỉnh là vô cùng khó khăn, đòi hỏi người nghiên cứu phải có một vốn kiến thức sâu rộng trên nhiều lĩnh vực khác nhau mới có thể có cái nhìn toàn diện trên nhiều phương diện mà văn hóa đề cập đến. So với các cách tiếp cận văn hóa khác, phương pháp của UNESCO sử dụng có thể coi là phương pháp hoàn thiện và đầy đủ nhất. Nếu như các định nghĩa nguồn gốc chỉ đề cập văn hóa là “tổng thể những gì được tạo ra hay được cải biến bởi hoạt động có ý thức hay vô thức từ hai hay nhiều cá nhân ...” Như vậy, về bản chất các định nghĩa nguồn gốc coi văn hóa là tổng thể các hoạt động của con người; đây chỉ là một điều kiện cần nhưng chưa đủ để cấu thành nên văn hóa. Hay định nghĩa chuẩn mực lại khẳng định: “văn hóa là các giá trị vật chất và xã hội của bất kì nhóm người nào”. Từ định nghĩa trên có thể thấy, các nhà khoa học đã hướng tư duy đến một hình tượng hay một sự vật cụ thể đó là giá trị vật chất và xã hội của các nhóm người mà không đề cập đến các giá trị tinh thần, các truyền thống, thẩm mỹ hay lối sống – những nhân tố quan trọng biểu hiện của văn hóa. Như vậy, cách tiếp cận văn hóa theo định nghĩa UNESCO có thể coi là phương pháp chẩn mực, đầy đủ và hoàn thiện nhất. KẾT LUẬN Tính đến nay, số lượng các định nghĩa về văn hóa vẫn chưa dừng lại; mỗi định nghĩa có một cách tiếp cận khác nhau, bổ sung cho nhau nhằm góp phần giúp con người hiểu sâu hơn về lĩnh vực đang được rất nhiều người quan tâm đặc biệt là về vấn đề bảo tồn các giá trị văn hóa nhân loại. Định nghĩa của UNESCO về văn hóa, với một phương pháp đúng đắn đã giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện và hoàn chỉnh hơn về văn hóa góp phần không nhỏ trong việc duy trì và bảo vệ văn hóa hiện nay.
Xem thêm

Đọc thêm

Ứng dụng của bản đồ tư duy trong dạy học chương trình Đại số 10 THPT

Ứng dụng của bản đồ tư duy trong dạy học chương trình Đại số 10 THPT

2. Đối tượng nghiên cứu Bản đồ tư duy Nội dung dạy học Đại số 10 THPT. 3. Mục tiêu nghiên cứu Đề xuất phương pháp hướng dẫn học sinh THPT tạo và sử dụng bản đồ tư duy trong khi học Đại số 10. Từ đó kích thích tư duy sáng tạo, tinh thần hăng say học tập, khả năng tự học của học sinh và góp phần đổi mới phương pháp dạy và học Toán trong trường THPT. 4. Nhiệm vụ nghiên cứu Nghiên cứu phương pháp ghi nhớ, tóm tắt, hệ thống hóa bằng bản đồ tư duy. Nghiên cứu nội dung dạy học chương trình Đại số 10. Nghiên cứu thực trạng dạy và học Đại số 10 ở trường THPT hiện nay. Đề xuất một số biện pháp hướng dẫn học sinh tiếp cận và sử dụng bản đồ tư duy khi học tập chương trình Đại số 10. Thực hiện soạn giảng một số tình huống sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học chương trình Đại số 10. 5. Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu lí luận. Quan sát điều tra. Tổng kết kinh nghiệm. Thực nghiệm sư phạm.
Xem thêm

Đọc thêm

Tín ngưỡng và lễ hội thống của người mnông tỉnh đăk nông

Tín ngưỡng và lễ hội thống của người mnông tỉnh đăk nông

Bài luận văn tiến sĩ Văn hóa học gồm 270 trang, trang, bản đẹp, dễ dàng chỉnh sửa và tách trang làm tài liệu tham khảo.Tín ngưỡng và lễ hội là đặc trưng văn hóa tiêu biểu của dân tộc M’nông. Qua tín ngưỡng và lễ hội, những giá trị văn hóa cộng đồng M’nông được phản ánh rõ nét. Luận án đi sâu tìm hiểu các vấn đề liên quan đến tín ngưỡng, lễ hội của người M’nông từ đặc điểm, cấu trúc, chức năng, giá trị văn hóa đến mối quan hệ giữa tín ngưỡng và lễ hội xuyên suốt truyền thống đến hiện đại. Kết quả nghiên cứu này sẽ là cơ sở để luận án nhận diện, đánh giá, dự báo xu hướng phát triển tín ngưỡng, lễ hội truyền thống của người M’nông. Từ đó, đưa ra định hướng và đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa trong tín ngưỡng, lễ hội của người M’nông phù hợp xu thế thời đại mà vẫn giữ gìn bản sắc văn hóa tộc người. Thông qua luận án, chúng tôi hi vọng sẽ đem lại cái nhìn hệ thống, chuyên sâu về tín ngưỡng, lễ hội của người M’nông từ cách tiếp cận văn hóa học để có thể có những đóng góp nhất định trên cả phương diện lý luận lẫn thực tiễn. Luận án chọn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp nghiên cứu định tính (chủ yếu sử dụng các phương pháp và kỹ thuật trong nghiên cứu điền dã), phương pháp so sánh, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp hệ thống cấu trúc, phương pháp nghiên cứu liên ngành. Luận án đã thực hiện khảo sát toàn địa bàn tỉnh Đăk Nông với 08 huyện thị (tập trung vào 04 huyện trọng điểm) cùng hơn 200 tài liệu nghiên cứu liên quan đến đề tài nhằm phục vụ có hiệu quả cho mục tiêu nghiên cứu. Chương 1. Cơ sở lý luận và tổng quan về người M’nông ở Đăk Nông: Phần cơ sở lý luận trình bày các khái niệm cơ bản cùng các lý thuyết tiếp cận vấn đề. Phần tổng quan về người M’nông ở Đăk Nông đề cập một số vấn đề liên quan đến nguồn gốc tộc người, địa bàn phân bố, đặc trưng kinh tế, văn hóa, xã hội. Chương này cũng đi vào khái quát đặc trưng một số địa bàn điền dã tiêu biểu. Chương 2. Đặc điểm tín ngưỡng truyền thống của người M’nông: Trình bày cơ sở nhận diện và đặc trưng của ba loại hình tín ngưỡng hiện còn nhiều dấu ấn trong đời sống văn hóa cư dân M’nông là tô tem, hồn linh và đa thần. Qua đó, làm rõ nền tảng hình thành những đặc trưng tín ngưỡng của người M’nông ở Đăk Nông. Chương 3. Đặc điểm lễ hội truyền thống của người M’nông: Tập trung làm rõ ba hệ thống nghi lễ lễ hội tiêu biểu của người M’nông (vòng đời, vòng cây trồng, sinh hoạt cộng đồng). Các yếu tố cấu thành lễ hội, chức năng, mối quan hệ, giá trị văn hóa của tín ngưỡng và lễ hội cũng được chú trọng nghiên cứu trong chương này. Chương 4. Sự biến đổi tín ngưỡng và lễ hội của người M’nông ở tỉnh Đăk Nông hiện nay: Nội dung chương hướng đến các vấn đề cơ bản: Những biến đổi của tín ngưỡng, lễ hội của người M’nông hiện nay; Các tác nhân tạo nên sự biến đổi; Xu huớng biến đổi; Vấn đề bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa tín ngưỡng và lễ hội của người M’nông hiện nay.
Xem thêm

Đọc thêm

Lý thuyết hệ thống và vận dụng tư duy hệ thống trong đổi mới quản lý giáo dục

Lý thuyết hệ thống và vận dụng tư duy hệ thống trong đổi mới quản lý giáo dục

Lý thuyết hệ thống và vận dụng tư duy hệ thống trong đổi mới quản lý giáo dụcLý thuyết hệ thống và vận dụng tư duy hệ thống trong đổi mới quản lý giáo dụcLý thuyết hệ thống và vận dụng tư duy hệ thống trong đổi mới quản lý giáo dụcLý thuyết hệ thống và vận dụng tư duy hệ thống trong đổi mới quản lý giáo dụcLý thuyết hệ thống và vận dụng tư duy hệ thống trong đổi mới quản lý giáo dụcLý thuyết hệ thống và vận dụng tư duy hệ thống trong đổi mới quản lý giáo dụcLý thuyết hệ thống và vận dụng tư duy hệ thống trong đổi mới quản lý giáo dục
Xem thêm

Đọc thêm

Một số nội dung cơ bản trong triết học Trần Đức Thảo

Một số nội dung cơ bản trong triết học Trần Đức Thảo

“ Một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận” 15 tr.489 “ Muốn nâng cao trình độ tư duy lý luận không có cách nào khác hơn là nghiên cứu toàn bộ lịch sử triết học thời trước”. 15 tr.489. Phriđrích Ăngghen lãnh tụ thiên tài, người thầy vĩ đại của giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới, người đã cùng Các Mác sáng tạo ra thế giới quan mới của giai cấp công nhân đã khẳng định vai trò quan trọng của tư duy lý luận trong việc nghiên cứu và khám phá thế giới tự nhiên cũng như chính bản thân con người. Bởi lẽ giá trị của triết học không chỉ dừng lại ở sự vĩ đại khi nghiên cứu về giới tự nhiên một cách toàn diện, sâu sắc mà thông qua việc nghiên cứu đó thì tinh thần con người cũng trở nên vĩ đại và có khả năng hợp nhất với vũ trụ. Sự hợp nhất này là lợi ích cao nhất mà triết học mang lại cho con người. Chính vì lẽ đó mà triết học đã khẳng định được giá trị to lớn của mình ở các nền văn minh lớn của nhân loại. Việt Nam nằm giữa hai trung tâm triết học lớn của thế giới là Trung Quốc và Ấn Độ. Hệ thống triết học phương Đông và phương Tây có điều kiện truyền bá vào nước ta từ sớm. Ở thời hiện đại, do yêu cầu của việc giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp, trào lưu triết học MácLênin được truyền bá mạnh mẽ vào nước ta. Đó là những điều kiện khách quan thuận lợi, góp phần thúc đẩy sự hình thành và phát triển của tư duy triết học Việt Nam.
Xem thêm

Đọc thêm

TIỂU LUẬN MÔN QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG DOANH NGHIỆP: Qua hoạt động thực tiễn của một hoặc một vài doanh nghiệp, anh (chị) hãy chứng minh việc xây dựng văn hóa trong doanh nghiệp, trong văn phòng doanh nghiệp cũng là một trong những phương pháp lãnh đạo điều hàn

TIỂU LUẬN MÔN QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG DOANH NGHIỆP: Qua hoạt động thực tiễn của một hoặc một vài doanh nghiệp, anh (chị) hãy chứng minh việc xây dựng văn hóa trong doanh nghiệp, trong văn phòng doanh nghiệp cũng là một trong những phương pháp lãnh đạo điều hàn

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1 PHẦN I. KHÁI QUÁT VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 3 1. Các khái niệm cơ bản 3 2. Hệ giá trị cốt lõi trong VHDN. 4 3. Các quy ước văn hóa ứng xử trong doanh nghiệp: 4 4. Văn hóa doanh nghiệp, bắt nguồn từ những giá trị 5 5.Tác dụng của văn hóa doanh nghiệp 6 6. Đặc trưng của văn hóa doanh nghiệp 8 7. Những yếu tố cấu thành văn hóa doanh nghiệp 9 8. Làm thế nào để xây dựng văn hóa doanh nghiệp 11 PHẦN II. XÂY DỰNG VĂN HÓA TRONG DOANH NGHIỆP, TRONG VĂN PHÒNG DOANH NGHIỆP LÀ MỘT TRONG NHỮNG PHƯƠNG PHÁP LÃNH ĐẠO ĐIỀU HÀNH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN KINH ĐÔ 15 1. Giới thiệu chung về công ty cổ phần Kinh Đô 15 1.1. Các mốc lịch sử chính của Kinh Đô 15 1.2. Các ngành hàng kinh doanh 16 2. Việc xây dựng văn hóa trong doanh nghiệp, trong văn phòng doanh nghiệp là một trong những phương thức lãnh đạo, điều hành của Công ty Cổ phần Kinh Đô 17 2.1. Khái niệm lãnh đạo, điều hành 17 2.2.Xây dựng văn hóa trong doanh nghiệp, trong văn phòng doanh nghiệp là một trong những phương thức lãnh đạo, điều hành của Công ty Cổ Phần Kinh Đô. 17 2.2.1. Tầm nhìn và sứ mệnh. 17 2.2.2 Phương pháp lãnh đạo điều hành 18 2.4 Các hình thức văn hóa khác 20 CHƯƠNG III. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 22 1.Những thành tựu và hạn chế trong việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp công Cổ phần Kinh Đô 22 1.1 Thành tựu 22 1.2. Hạn chế 23 3.Một số giải pháp nhằm phát huy ưu điểm, khắc phục nhược điểm trong việc xây dựng văn hóa trong doanh nghiệp, trong văn phòng doanh nghiệp của công ty Cổ phần Kinh Đô. 23
Xem thêm

Đọc thêm

VĂN HÓA KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ và PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH TỈNH lâm ĐỒNG

VĂN HÓA KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ và PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH TỈNH lâm ĐỒNG

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH TRƢƠNG VŨ TUẤN TÚ VĂN HÓA KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG ĐẦU TƢ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAMCHI NHÁNH TỈNH LÂM ĐỒNG LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2010 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH TRƢƠNG VŨ TUẤN TÚ VĂN HÓA KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG ĐẦU TƢ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAMCHI NHÁNH TỈNH LÂM ĐỒNG Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh Mã số: 60.34.05 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS. HỒ TIẾN DŨNG TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2010 LỜI CÁM ƠN Tôi xin chân thành cảm ơn đến Quý thầy cô, Giảng viên Trƣờng Đại học kinh tế TPHCM đã tận tình giảng dạy và hƣớng dẫn cho tôi nhiều kiến thức quý báu trong suốt thời gian theo học tại lớp cao học kinh tế đƣợc tổ chức tại Đà Lạt niên khoá 20062009. Xin chân thành cảm ơn PGS.TS Hồ Ngọc Dũng ngƣời đã tận tình hƣớng dẫn tôi hoàn thành luận văn này. Xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã đóng góp ý kiến thiết thực cho luận văn. Xin chân thành cảm ơn Trung tâm đào tạo ngân hàng Đầu Tƣ và Phát Triển Việt Nam, Lãnh đạo ngân hàng Đầu Tƣ và Phát Triển Tỉnh Lâm Đồng và các bạn đồng nghiệp tại chi nhánh BIDV Tỉnh Lâm Đồng đã hỗ trợ tài liệu và thông tin cho tôi hoàn thành luận văn này. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi. Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực, nội dung luận văn này chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào. TRƢƠNG VŨ TUẤN TÚ MỤC LỤC Trang bìa Trang bìa phụ Lời cám ơn Lời cam đoan Mục lục Danh mu ̣c các tƣ̀ viết tắt Danh mu ̣c các bảng Mở đầu CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA KINH DOANH ............................... 1 1.1 Khái quát chung về văn hóa kinh doanh ................................................................ 1 1.1.1 Văn hóa .......................................................................................................... 1 1.1.2 Văn hóa kinh doanh ........................................................................................ 5 1.1.2.1 Khái niệm................................................................................................... 5 1.1.2.2 Đặc trƣng cơ bản của văn hóa kinh doanh................................................... 6 1.1.2.3 Các nhân tố cấu thành văn hóa kinh doanh ................................................ 9 1.2 Văn hóa doanh nghiệp và văn hóa kinh doanh..................................................... 17 1.2.1 Khái niệm về văn hóa doanh nghiệp............................................................... 17 1.2.2 Mối liên hệ giữa văn hóa doanh nghiệp và văn hóa kinh doanh...................... 18 1.2.3 Các cấp độ văn hóa doanh nghiệp .................................................................. 18 1.2.3.1 Cấp độ độ 1Những quá trình và cấu trúc hữu hình của doanh nghiệp.......... 18 1.2.3.2 Cấp độ độ 2Những giá trị đƣợc tuyên bố ..................................................... 19 1.2.3.3 Cấp độ độ 3Những quan điểm chung........................................................... 19 1.3 Vai trò của văn hóa kinh doanh ........................................................................... 19 1.3.1 Văn hóa kinh doanh là phƣơng thức phát triển sản xuất kinh doanh bền vững . 20 1.3.2 Văn hóa kinh doanh là nguồn lực phát triển kinh doanh.................................. 21 1.3.3 Văn hóa kinh doanh là điều kiện đẩy mạnh kinh doanh quốc tế ....................... 23 CHƢƠNG 2 THỰC TRẠNG VĂN HÓA KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG ĐẦU TƢ VÀ PHÁT TRIỂN LÂM ĐỒNG ......................................................................... 25 2.1 Giới thiệu về Ngân hàng Đầu tƣ v Phát triển Việt Nam ....................................... 25 2.1.1 Giới thiệu về BIDV Việt Nam ........................................................................ 25 2.1.2 Giới thiệu về BIDV Việt Nam Chi nhánh Lâm Đồng.................................... 27 2.1.2.1 Lịch sử hình thành .................................................................................. 27 2.1.2.2 Vị trí địa lý ............................................................................................. 29 2.1.2.3 Lĩnh vực kinh doanh............................................................................... 30 2.1.2.4 Nhân lực đến năm 2009.......................................................................... 31 2.1.2.5 Kết quả hoạt động kinh doanh 20072009 .............................................. 34 2.2 Thực trạng văn hóa kinh doanh của Ngân hàng Đầu tƣ và Phát triển Lâm Đồng . 35 2.2.1 Cơ sở hình thành văn hóa kinh doanh tại BIDV Lâm đồng.............................. 35 2.2.2 Các cơ sở cấu thành văn hóa kinh doanh tại BIDV Lâm đồng .......................... 36 2.2.2.1 Cấp độ thứ 1 Những quá trình và cấu trúc hữu hình ................................ 36 a. Kiến trúc đặc trƣng và diện mạo doanh nghiệp ......................................... 36 b. Lễ kỷ niệm và sinh hoạt văn hóa............................................................... 37 c. Khẩu hiệu ................................................................................................. 38 d. Logo ......................................................................................................... 38 e. Đồng phục ................................................................................................ 39 f. Bộ quy chuẩn đạo đức và Bộ quy tắc ứng xử ............................................ 39 g. Hệ thống quản lý chất lƣợng..................................................................... 41 2.2.2.2 Cấp độ thứ 2 Những giá trị đƣợc tuyên bố............................................... 42 a. Tầm nhìn .................................................................................................. 42 b. Sứ mệnh ................................................................................................... 42 c. Mục đích, tôn chỉ hoạt động ..................................................................... 42 d. Phƣơng châm hành động .......................................................................... 43 e. Xây dựng và ban hành Bộ quy tắc ứng xử và Bộ quy chuẩn đạo đức ........ 43 f. Những thành công đƣợc ghi nhận ............................................................. 44 2.2.2.3 Cấp độ thứ 3 Những quan niệm chung .................................................... 45 a. Công tác đào tạo và tổ chức cán bộ........................................................... 45 b. Cơ cấu thu nhập....................................................................................... 45 c. Đãi ngộ và khen thƣởng........................................................................... 46 d. Kỷ cƣơng kỷ luật ...................................................................................... 47 e. Xây dựng tập thể vững mạnh .................................................................... 47 2.3 Đánh giá chung về văn hóa kinh doanh của tỉnh BIDV Lâm Đồng...................... 48 2.3.1 Phân tích SWOT về văn hóa kinh doanh của BIDV tỉnh Lâm Đồng .............. 48 2.3.2 Đánh giá chung về văn hóa kinh doanh của BIDV tỉnh Lâm Đồng thông qua khảo sát.......................................................................................................... 54 2.3.2.1 Đánh giá của CBCNV BIDV về các cấp độ văn hóa của BIDV ............ 54 2.3.2.2 Đánh giá của khách hàng về các cấp độ văn hóa của BIDV .................. 55 CHƢƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VĂN HÓA KINH DOANH TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƢ VÀ PHÁT TRIỂN LÂM ĐỒNG ........................................ 56 3.1 Các mục tiêu và định hƣớng của BIDV đến 2020............................................... 56 3.1.1 Mục tiêu chung ............................................................................................... 56 3.1.2 Mục tiêu riêng................................................................................................. 56 3.1.3 Định hƣớng..................................................................................................... 58 3.2 Xây dựng văn hóa kinh doanh của BIDV Lâm Đồng.......................................... 61 3.2.1. Giải pháp về cấp độ thứ 1 Xây dựng, củng cố các giá trị hữu hình của BIDV 61 3.2.1.1 Các giải pháp về kiến trúc, cơ sở ha ̣ tầng. .............................................61 3.2.1.2 Giải pháp về phát triển thƣơng hiệu BIDV ........................................... 63 3.2.1.3 Giải pháp về thiết kế lại hệ thống nhận diện thƣơng hiệu logo .............. 65 3.2.1.4 Giải pháp về thay đổi slogan ................................................................ 66 3.2.1.5 Giải pháp về về trang phục công sở ............................ ..........................68 3.2.1.6 Làm giàu phòng truyền thống, thành tích của chi nhánh BIDV ............. 68 3.2.1.7 Phong cách giao tiếp, quảng bá thƣơng hiệu hƣớng đến khách hàng ..... 69 3.2.2. Giải pháp về cấp độ thứ 2 Những giá trị đƣợc tuyên bố ................................. 72 3.2.2.1 Triển khai tầm nhìn, sƣ́ mê ̣nh và mu ̣c tiêu hoa ̣t đô ̣ng ............................ 72 3.2.2.2 Tuân thủ các quy tắc, quy chuẩn trong hai bô ̣ quy chuẩn của BIDV ..... 73 3.2.3. Giải pháp về cấp độ thứ 3 Xây dựng các quan điểm chung ............................ 74 3.2.3.1 Tổ chức cán bộ ..................................................................................... 74 3.2.3.2 Phát triển nguồn nhân lực, chính sách lƣơng, thƣởng, quy hoạch, bổ nhiệm........................................................................................................... 74 3.3 Đề xuất xây dựng chƣơng trình hành động cụ thể trong xây dựng văn hóa kinh doanh của BIDV Lâm Đồng............................................................................... 76 3.4 Kiến nghị ............................................................................................................ 80 3.4.1 Kiến nghị đối với ngân hàng nhà nƣớc,Hiệp hội ngân hàng ............................ 80 3.4.2 Kiến nghị đối với BIDV Trung ƣơng Hội sở chính ....................................... 81 Kết luận Tài liệu tham khảo Phụ lục DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT NHNN Ngân hàng nhà nƣớc Việt Nam BIDV Ngân hàng Đầu Tƣ và Phát triển Việt Nam NHTMCP Ngân hàng Thƣơng Mại Cổ Phần NHTMQD Ngân hàng Thƣơng Mại Quốc Doanh NHBL Ngân hàng bán lẻ BIC Công ty bảo hiểm BIDV HĐQT Hội Đồng Quản Trị TGĐ Tổng giám đốc ATM Máy rút tiền tự động Phòng GD Phòng giao dịch QTK Quỹ tiết kiệm ĐGD Điểm giao dịch H.O (head office) hội sở chính ACB Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Á Châu DN Doanh nghiệp CBCNV Cán bộ công nhân viên DANH MU ̣C BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ PHỤ LỤC ĐIỀU TRA 1. Bảng biểu Bảng 2.1 Phân bổ lao động tại BIDV Lâm Đồng đến năm 2009 Bảng 2.2 Chất lƣợng lao động của BIDV Lâm Đồng đến năm 2009 Bảng 2.3 Kết quả kinh doanh năm 2007 20082009 của BIDV Lâm Đồng 2. Biểu đồ: Biểu đồ 2.1 : Số lƣợng lao động (phân theo loại hợp đồng) năm 2009 Biểu đồ 2.2 : Cơ cấu lao động năm 2009 3. Phụ lục Phụ lục 1 Bộ quy chuẩn đạo đức của BIDV Phụ lục 2 Bộ quy tắc ứng xử của BIDV Phụ lục 3 Bảng đánh giá cấp độ văn hóa kinh doanh của CB BIDV Phụ lục 4 Bảng đánh giá cấp độ văn hóa kinh doanh của khách hàng Phụ lục 5 Phiếu đánh giá nhân sự BIDV Phụ lục 6 Thăm dò ý kiến khách hàng tại chi nhánh BIDV LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Xây dựng và phát triển văn hóa kinh doanh cho một doanh nghiệp là một quá trình gây dựng lâu dài đi cùng với lịch sử phát triển của doanh nghiệp,trở thành các giá trị, quan niệm, tập quán truyền thống của doanh nghiệp. Chúng ta thấy văn hóa kinh doanh hiện diện ở bất kỳ doanh nghiệp nào và một công ty muốn phát triển từ khá lên xuất sắc phải có một tầm nhìn rộng lớn, tham vọng lâu dài, để xây dựng đƣợc một nền văn hoá có bản sắc riêng, thể hiện sự vƣợt trội. Ngành ngân hàng cũng không n ằm ngoài xu hƣớng trên, tại bất kỳ ngân hàng nào ta cũng thấy có văn hoá kinh doanh ta ̣i đấy, tƣ̀ tầm nhìn, sƣ́ mê ̣nh, triết lý kinh doanh…nó đƣơ ̣c xem nhƣ là mu ̣c tiêu , tôn chỉ hoạt động của ngân hàng , đó cũng chinh là mô ̣t phần của văn hoá kinh doanh nằm trong đấy. Áp lực cạnh tranh giữa các khối Ngân hàng thƣơng mại có vốn Nhà nƣớc và khối Ngân hàng thƣơng mại Cổ phần ngày càng mạnh mẽ, đặc biệt trong thời gian gần đây có sự chuyển dịch mạnh mẽ về thị phần từ khối ngân hàng thƣơng mại có vốn Nhà nƣớc sang khối ngân hàng TMCP, chủ yếu là thị phần khách hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ. Bên cạnh đó trong những năm qua đã xuất hiện rất nhiều các công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính cung cấp các dịch vụ tài chính cho các khách hàng cá nhân đã tạo ra một áp lực cạnh tranh không nhỏ đối với các ngân hàng trong hoạt động kinh doanh. Tại Ngân hàng Đ ầu Tƣ Và Phát Triển Việt Nam (BIDV) và chi nhánh BIDV Lâm đồng cũng vâ ̣y , là một trong những ngân hàng thƣơng mại nhà nƣớc hàng đầu hiện nay tại Việt Nam , kinh doanh đa năng, đa lĩnh vực. Hiện đang trong giai đoạn thực hiện lộ trình cổ phần hóa ngân hàng thƣơng mại; chuyển đổi mô hình công ty mẹcông ty con tiến tới hình thành tập đoàn tài chính ngân hàng; Tiếp nhận và áp dụng phƣơng thức quản trị ngân hàng hiện đại, tranh thủ kinh nghiệm và kỹ năng của các đối tác chiến lƣợc nƣớc ngoài, tập trung đầu tƣ cho công nghệ hiện đại và tăng cƣờng năng lực tài chính, năng lực quản trị điều hành đối với ngân hàng. Với những mục tiêu hƣớng đến đó thì văn hóa doanh nghiệp, văn hóa kinh doanh là một trong những yếu tố không thể thiếu đƣợc để thực hiện tốt các mục tiêu này.Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, tác giả đã mạnh dạn chọn đề tài “ VĂN HÓA KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG ĐẦU TƢ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM –CHI NHÁNH TỈNH LÂM ĐỒNG“, làm luận văn tốt nghiệp cho mình 2. Mục tiêu nghiên cứu Đề tài nghiên cứu, hệ thống hóa nhằm làm rõ các khái niệm và nội dung có liên quan đến văn hóa doanh nghiệp,văn hóa kinh doanh trên cơ sở lý luận đó sẽ liên hệ, phân tích, đánh giá thực trạng văn hóa kinh doanh của BIDV Lâm đồng . Qua đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng văn hóa kinh doanh của BIDV Lâm đồng 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu: 3.1 Đối tƣợng nghiên cứu: Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là văn hóa kinh doanh và các nhân tố ảnh hƣởng đến xây dựng văn hóa kinh doanh nói chung và văn hóa kinh doanh của BIDV nói riêng. 3.2 Phạm vi nghiên cứu Do điều kiện và thời gian có hạn chế nên phạm vi nghiên cứu về văn hóa kinh doanh của BIDV giới hạn trong phạm vi ngân hàng ĐTPT Việt Nam – Chi nhánh Lâm đồng và Chi nhánh Bảo Lộc Tỉnh Lâm đồng . Bao gồm các cán bô ̣ Lanh đa ̣o , CBCNV và các khách hàng có quan hệ tạ i chi nhánh Lâm đồng , chi nhánh Bảo Lô ̣c với phƣơng pháp chọn mẫu Thời gian nghiên cƣ́u , khảo sát từ tháng 32009 đến tháng 92009 4. Phƣơng pháp nghiên cứu: Phƣơng pháp khảo sát thực tiễn: điều tra, khảo sát tìm hiểu khách hàng nhằm đánh giá thực trạng và thu thập thông tin phục vụ cho việc xây dựng, định hƣớng phát triển văn hóa kinh doanh của BIDV Phƣơng pháp lấy ý kiến chuyên gia: tổng hợp các ý kiến của các chuyên gia hàng đầu, Hội đồng quản trị, Ban Tổng giám đốc trong quá trình xây dựng văn hóa BIDV Việt Nam (Phần này có Trung tâm đào ta ̣o BIDV Viê ̣t Nam hỗ trơ) Phƣơng pháp tổng hợp: nhận định môi trƣờng bên trong và bên ngoài của BIDV từ đó xác định điểm mạnh và điểm yếu, các cơ hội cũng nhƣ nguy cơ làm căn cứ để định hƣớng phát triển văn hóa kinh doanh BIDV Phƣơng pháp suy luận logic: kết quả phân tích và các thông tin đƣợc tổng hợp, đánh giá để đề ra các giải pháp thích hợp. 5. Kết cấu luận văn: Luận văn chia làm 3 chƣơng Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về văn hóa kinh doanh Chƣơng 2: Thực trạng văn hóa kinh doanh tại BIDV Việt NamChi nhánh Lâm đồng Chƣơng 3: Xây dựng văn hoá kinh doanh tại BIDV Việt Nam –chi nhánh Lâm đồng. CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA KINH DOANH 1.1 Khái quát chung về văn hóa và văn hóa kinh doanh 1.1.1 Văn hóa Văn hóa gắn liền với sự ra đời của nhân loại. Nhƣng mãi đến thế kỷ 17, nhất là nửa cuối thế kỷ 19 trở đi, các nhà khoa học trên thế giới mới tập trung vào nghiên cứu sâu về lĩnh vực này. Bản thân vấn đề văn hóa rất đa dạng và phức tạp, nó là một khái niệm có một ngoại diên rất lớn (có nhiều nghĩa), đƣợc dùng để chỉ những khái niệm có nội hàm khác nhau về đối tƣợng, tính chất, và hình thức biểu hiện. Do đó, khi có những tiếp cận nghiên cứu khác nhau sẽ dẫn đến có nhiều quan niệm xung quanh nội dung thuật ngữ văn hóa. Năm 1952, hai nhà nhân văn học văn hoá ngƣời Mỹ là Koroeber và Kluchohn đã thống kê đƣợc 164 định nghĩa về văn hóa, cho đến nay, con số này chắc chắn đã tăng lên rất nhiều. Cũng nhƣ bất cứ lĩnh vực nào khác, một vấn đề có thể đƣợc nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau. Vì vậy việc có nhiều khái niệm văn hóa khác nhau không có gì đáng ngạc nhiên, trái lại càng làm vấn đề đƣợc hiểu biết phong phú và toàn diện hơn.  Theo nghĩa gốc của từ Tại phƣơng Tây, văn hóa culture (trong tiếng Anh, tiếng Pháp) hay kultur (tiếng Đức)…đều xuất xứ từ chữ La Tinh cultus có nghĩa là khai hoang, trồng trọt, trông nom cây lƣơng thực; nói ngắn gọn là sự vun trồng. Sau đó từ cultus đƣợc mở rộng nghĩa, dùng trong lĩnh vực xã hội chỉ sự vun trồng, giáo dục, đào tạo và phát triển mọi khả năng của con ngƣời. Ở phƣơng Đông, trong tiếng Hán cổ, từ văn hóa bao hàm ý nghĩa văn là vẻ đẹp của nhân tính, cái đẹp của tri thức, trí tuệ con ngƣời có thể đạt đƣợc bằng sự tu dƣỡng của bản thân và cách thức cai trị đúng đắn của nhà cầm quyền. Còn chữ hóa trong văn hóa là việc đem cái văn (cái đẹp, cái tốt, cái đúng) để cảm hóa, giáo dục và hiện thực hóa trong thực tiễn, đời sống. Vậy, văn hóa chính là nhân hóa hay nhân văn hóa. Đƣờng lối văn trị hay đức trị của Khổng Tử là từ quan điểm cơ bản này về văn hóa (văn hóa là văn trị giáo hóa, là giáo dục, cảm hóa bằng điểm chƣơng, lễ nhạc, không dùng hình phạt tàn bạo và sự cƣỡng bức). Nhƣ vậy, văn hóa trong từ nguyên của cả phƣơng Đông và phƣơng Tây đều có một nghĩa chung căn bản là sự giáo hóa, vun trồng nhân cách con người (bao gồm cá nhân, cộng đồng và xã hội loài ngƣời), cũng có nghĩa là làm cho con người và cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn.  Căn cứ vào phạm vi nghiên cứu Căn cứ vào đối tƣợng mà thuật ngữ “văn hóa” đƣợc sử dụng để phản ánh ba cấp độ nghiên cứu chính về văn hóa đó là:  Theo phạm vi nghiên cứu rộng nhất, văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo ra trong quá trình lịch sử Loài ngƣời là một bộ phận của tự nhiên nhƣng khác với các sinh vật khác, loài ngƣời có một khoảng trời riêng, một thiên nhiên thứ hai do loài ngƣời tạo ra bằng lao động và tri thức đó chính là văn hóa. Nếu tự nhiên là cái nôi đầu tiên nuôi sống con ngƣời, giúp loài ngƣời hình thành và sinh tồn nhƣ không khí, đất đai thì văn hóa là cái nôi thứ hai nơi ở đó toàn bộ đời sống vật chất và tinh thần của loài ngƣời đƣợc hình thành, nuôi dƣỡng và phát triển. Nếu nhƣ con ngƣời không thể tồn tại khi tách khỏi giới tự nhiên thì cũng nhƣ vậy, con ngƣời không thể trở thành “ngƣời” đúng nghĩa nếu tách khỏi môi trƣờng văn hóa. Do đó, nói đến văn hóa là nói đến con ngƣời nói tới những đặc trƣng riêng chỉ có ở loài ngƣời, nói tới việc phát huy những năng lực và bản chất của con ngƣời nhằm hoàn thiện con ngƣời, hƣớng con ngƣời khát vọng vƣơn tới chân thiện mỹ. Đó là ba giá trị trụ cột vĩnh hằng của văn hóa nhân loại Cho nên, theo nghĩa này, văn hóa có mặt trong tất cả các hoạt động của con ngƣời dù đó chỉ là những suy tƣ thầm kín, những cách giao tiếp ứng xử cho đến những hoạt động kinh tế, chính trị và xã hội. Nhƣ vậy, hoạt động văn hóa là hoạt động săn xuất ra các giá trị vật chất và tinh thần nhằm giáo dục con ngƣời khát vọng hƣớng tới chân thiện mỹ và khả năng sáng tạo chân thiện mỹ trong đời sống.  Theo nghĩa hẹp, văn hóa là những hoạt động và giá trị tinh thần của con ngƣời. Trong phạm vi này, văn hóa khoa học (toán học, hóa học..) và văn hóa nghệ thuật (văn học, điện ảnh….) đƣợc coi là hai phân hệ chính của hệ thống văn hóa.  Theo nghĩa hẹp hơn nữa, văn hóa đƣợc coi nhƣ một ngành ngành văn hóa nghệ thuật để phân biệt với các ngành kinh tế kỹ thuật khác. Cách hiểu này thƣờng kèm theo cách đối xử sai lệch về văn hóa. Coi văn hóa là lĩnh vực hoạt động đứng ngoài kinh tế, sống đƣợc là nhờ sự trợ cấp của nhà nƣớc và “ăn theo” nền kinh tế. Trong ba cấp độ phạm vi nghiên cứu kể trên về thuật ngữ văn hóa, hiện này ngƣời ta thƣờng dùng văn hóa theo nghĩa rộng nhất. Loại trừ những trƣờng hợp đặc biệt và ngƣời nghiên cứu đã từ giới hạn và quy ƣớc.  Căn cứ theo hình thức biểu hiện Văn hóa đƣợc phân loại thành văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, hay nói đúng hơn, theo cách phân loại này văn hóa bao gồm văn hóa vật thể (tangible) và văn hóa phi vật thể (intangible) Các đền chùa, cảnh quan, di tích lịch sử cũng nhƣ các sản phẩm văn hóa truyền thống nhƣ tranh Đông Hồ, gốm Bát Tràng, áo dài, áo tứ thân,… đều thuộc loại hình văn hóa vật thể. Các phong tục, tập quán, các làn điệu dân ca hay bảng giá trị, các chuẩn mực đạo đức của một dân tộc… là thuộc loại hình văn hóa phi vật thể. Tuy vậy, sự phân loại trên cũng chỉ có nghĩa tƣơng đối bởi vì trong một sản phẩm văn hóa thƣờng có cả yếu tố “vật thể” và “phi vật thể” nhƣ “cái hữu thể và cái vô hình gắn bó hữu cơ với nhau, lồng vào nhau, như thân xác và tâm trí con người”. Điển hình nhƣ trong không gian văn hóa cồng chiêng của các dân tộc Tây Nguyên, ẩn sau cái vật thể hữu hình của nó gồm những cồng, những chiêng, những con ngƣời của núi rừng, những nhà sàn, nhà rông mang đậm bản sắc… là cái vô hình của âm hƣởng, phong cách và quy tắc chơi nhạc đặc thù, là cái hồn của thời gian, không gian và giá trị lịch sử. Nhƣ vậy, khái niệm văn hóa rất rộng, trong đó những giá trị vật chất và tinh thần đƣợc sử dụng làm nền tảng định hƣớng cho lối sống, đạo lý, tâm hồn và hành động của mỗi dân tộc và các thành viên để vƣơn tới cái đúng, cái tốt, cái đẹp, cái mỹ trong mối quan hệ giữa ngƣời và ngƣời, giữa ngƣời với tự nhiên và môi trƣờng xã hội. Theo nhà xã hội học văn hoá nƣớc Anh Eduard Burnett Tylor vào cuối thế kỷ thứ XIX định nghĩa một cách khá tổng hợp: “ Văn hoá là một chỉnh thể phức hợp bao gồm toàn bộ những tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, những khả năng và tập quán khác nhau mà con người cần hướng đến với tư cách là một thành viên xã hội”. Tổ chức văn hóa, giáo dục, khoa học của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) đƣa ra một định nghĩa đƣợc nhiều quốc gia thừa nhận và ứng dụng: “ Văn hoá là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và hiện tại … hình thành một hệ thống các giá trị, truyền1 thống và thị hiếu. Văn hoá đó xác định từng đặc trưng riêng của từng dân tộc”. Với quan niệm xem văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, khái niệm văn hoá đƣợc mở rộng hơn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương tiện sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi sinh tồn” . Nhƣ vậy có thể rút ra khái niệm về văn hóa nhƣ sau: “Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần mà loài người tạo ra trong quá trình lịch sử” 1.1.2 Văn hóa kinh doanh 1.1.2.1 Khái niệm Càng ngày con ngƣời càng nhận thấy rằng văn hoá tham gia vào mọi quá trình hoạt động của con ngƣời và sự tham gia đó ngày càng đƣợc thể hiện rõ nét và tạo thành các lĩnh vực văn hoá đặc thù nhƣ văn hoá chính trị, văn hoá pháp luật, văn hoá giáo dục, văn hoá gia đình… và văn hoá kinh doanh. Kinh doanh là một hoạt động cơ bản của con ngƣời, xuất hiện cùng với hàng hoá và thị trƣờng. Nếu là danh từ, kinh doanh là một nghề đƣợc dùng để chỉ những con ngƣời thực hiện các hoạt động nhằm mục đích kiếm lợi, còn nếu là động từ thì kinh doanh là một hoạt động là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tƣ từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng các dịch vụ trên thị trƣờng. Dù xét từ giác độ nào thì mục đích chính của kinh doanh là để kiếm lời. Trong nền kinh tế thị trƣờng , kinh doanh là một nghề chính đáng xuất phát từ nhu cầu phát triển của xã hội, do sự phân công lao động xã hội tạo ta. Còn việc kinh doanh nhƣ thế nào, kinh doanh đem lại lợi ích và giá trị cho ai thì đó chính là vấn đề của văn hoá kinh doanh. Trong kinh doanh, những sắc thái văn hoá có mặt trong toàn bộ quá trình tổ chức và cách bố trí máy móc và dây chuyền công nghệ; từ cách tổ chức bộ máy về nhân sự và hình thành quan hệ giao tiếp ứng xử giữa các thành viên trong tổ chức cho đến những phƣơng thức quản lý kinh doanh cố nhiên không lấy các giá trị của văn hoá làm mục đích trực tiếp, song nghệ thuật kinh doanh, cách thức tổ chức thực hiện chiến lƣợc kinh doanh, từ việc tạo vốn ban đầu, tìm địa bàn kinh doanh, mặt hàng kinh doanh, cách thức tổ chức thực hiện chiến lƣợc kinh doanh, tiếp thị sản phẩm, dịch vụ và bảo hành sau bán… đƣợc “thăng hoa” lên với những biểu hiện và giá trị tốt đẹp thì kinh doanh cũng là biểu hiện sinh động văn hoá của con ngƣời. Do đó, bản chất của văn hoá kinh doanh là làm cho cái lợi gắn bó chặt chẽ với cái đúng, cái tốt và cái đẹp. Từ đó, khái niệm về văn hóa kinh doanh đƣợc trình bày nhƣ sau: “Văn hóa kinh doanh là toàn bộ các nhân tố văn hóa được chủ thể kinh doanh chọn lọc, tạo ra, sử dụng và biểu hiện trong hoạt động kinh doanh tạo nên bản sắc kinh doanh của chủ thể đó”. 1.1.2.2 Đặc trƣng cơ bản của văn hóa kinh doanh Văn hóa kinh doanh , là văn hóa của một lĩnh vực đặc thù trong xã hội, văn hóa kinh doanh là một bộ phận trong nền văn hóa dân tộc, văn hóa xã hội. Vì thế, nó cũng mang những đặc điểm chung của văn hóa nhƣ:  Tính tập quán Hệ thống các giá trị của văn hóa kinh doanh sẽ quy định những hành vi đƣợc chấp nhận hay không đƣợc chấp nhận trong một hoạt động hay môi trƣờng kinh doanh cụ thể. Có những tập quán kinh doanh đẹp tồn tại nhƣ một sự khẳng định những nét độc đáo đó là tập quán chăm lo đến đời sống riêng của ngƣời lao động trong các doanh nghiệp Nhật Bản, tập quán cung cấp các dịch vụ sau bán hàng cho khách của các doanh nghiệp hiện đại… Tuy nhiên cũng có những tập quán không dễ gì cảm thông ngay nhƣ tập quán đàm phán và ký kết hợp đồng trên bàn tiệc của nhiều doanh nghiệp tại Việt Nam.  Tính cộng đồng Kinh doanh bao gồm một hệ thống các hoạt động có tính chất đặc trƣng với mục tiêu là lợi nhuận của chủ và các nhu cầu đƣợc đáp ứng của khách,kinh doanh không thể tồn tại do chính bản thân nó mà phải dựa vào sự tạo dựng, tác động qua lại và củng cố của mọi thành viên tham gia trong quá trình hoạt động. Do đó, văn hóa kinh doanh thuộc tính vốn có của văn hoá kinh doanh sẽ là quy ƣớc chung cho các thành viên trong cộng đồng kinh doanh . Văn hóa kinh doanh bao gồm những giá trị, những lề thói, những tập tục … mà các thành viên trong cộng đồng cùng tuân theo một cách rất tự nhiên, không cần phải ép buộc. Nếu một ngƣời nào đó làm khác đi sẽ bị cộng đồng lên án hoặc xa lánh tuy rằng xét về mặt pháp lý những việc làm đó không trái pháp luật.  Tính dân tộc Tính dân tộc là một đặc trƣng tất yếu của văn hóa kinh doanh, vì bản thân văn hoá kinh doanh là một tiểu văn hoá nằm trong văn hoá dân tộc và mỗi chủ thể kinh doanh đều thuộc về một dân tộc cụ thể với một phần nhân cách tuân theo các giá trị của văn hóa dân tộc. Khi các giá trị của văn hóa dân tộc đƣợc thẩm thấu vào tất cả các hoạt động kinh doanh sẽ tạo nên nếp suy nghĩ và cảm nhận chung của những ngƣời làm kinh doanh trong cùng một dân tộc.  Tính chủ quan Văn hóa kinh doanh là sự thể hiện quan điểm, phƣơng hƣớng, chiến lƣợc và cách thức tiến hành kinh doanh của một chủ thể kinh doanh cụ thể. Tính chủ quan của văn hóa kinh doanh đƣợc thể hiện thông qua việc các chủ thể khác nhau sẽ có những suy nghĩ, đánh giá khác nhau về cùng một sự việc và hiện tƣợng kinh doanh.  Tính khách quan Mặc dù văn hóa kinh doanh là sự thể hiện quan điểm chủ quan của từng chủ thể kinh doanh, nhƣng do đƣợc hình thành trong cả quá trình với sự tác động của rất nhiều nhân tố bên ngoài nhƣ xã hội, lịch sử, hội nhập… nên văn hóa kinh doanh tồn tại khách quan ngay cả với chính chủ thể kinh doanh. Có những giá trị của văn hóa kinh doanh buộc chủ thể kinh doanh phải chấp nhận nó chứ không thể biến đổi chúng theo ý muốn chủ quan của mình.  Tính kế thừa Cũng giống nhƣ văn hóa, văn hóa kinh doanh là sự tích tụ của tất cả các hoàn cảnh. Trong quá trình kinh doanh, mỗi thế hệ sẽ cộng thêm các đặc trƣng riêng biệt của mình vào hệ thống văn hóa kinh doanh trƣớc khi truyền lại cho thế hệ sau. Thời gian qua đi, những cái cũ có thể bị loại trừ nhƣng sự sàng lọc và tích tụ qua thời gian sẽ làm cho các giá trị của văn hóa kinh doanh trở nên giàu có, phong phú và tinh khiết hơn.  Tính học hỏi Có những giá trị của văn hóa kinh doanh không thuộc về văn hóa dân tộc hay văn hóa xã hội và cũng không phải do các nhà lãnh đạo sáng lập ra. Những giá trị đó có thể đƣợc hình thành từ kinh nghiệm khi xử lý các vấn đề, từ kết quả của quá trình nghiên cứu thị trƣờng, nghiên cứu đối thủ cạnh tranh, hoặc đƣợc tiếp nhận trong quá trình giao lƣu với nền văn hóa khác… Tất cả các giá trị nêu đó đƣợc tạo nên là bởi tính học hỏi của văn hóa kinh doanh. Nhƣ vậy ngoài những giá trị đƣợc kế thừa từ văn hóa dân tộc và xã hội, tính học hỏi sẽ giúp văn hóa kinh doanh có đƣợc những giá trị tốt đẹp từ những chủ thể và những nền văn hóa khác.  Tính tiến hóa Kinh doanh rất sôi động và luôn luôn thay đổi, do đó, văn hóa kinh doanh với tƣ cách là bản sắc của chủ thể kinh doanh cũng luôn tự điều chỉnh cho phù hợp với trình độ kinh doanh và tình hình mới. Đặc biệt trong thời đại hội nhập, việc giao thoa với các sắc thái kinh doanh của các chủ thể khác nhằm trao đổi và tiếp thu các giá trị tiến bộ là điều tất yếu. Nhƣ vậy, tính tập quán, tính cộng đồng, tính dân tộc, tính chủ quan, tính khách quan, tính kế thừa, tính học hỏi và tính tiến hóa là tám đặc trƣng của văn hóa kinh doanh với tƣ cách là một bộ phận của văn hóa dân tộc và văn hóa xã hội. Tuy nhiên, kinh doanh cũng là một hoạt động có những nét khác biệt so với các hoạt động khác nhƣ chính trị, pháp luật, gia đình…nên ngoài tám đặc trƣng trên, văn hóa kinh doanh có những nét đặc trƣng phân biệt với văn hóa các lĩnh vực khác. Điều này đƣợc thể hiện rõ nét ở hai đặc trƣng sau của văn hóa kinh doanh Thứ nhất, văn hóa kinh doanh xuất hiện cùng với sự xuất hiện của thị trường Nếu nhƣ văn hóa nói chung (văn hóa xã hội) ra đời ngay từ thuở bình minh của xã hội loài ngƣời thì văn hóa kinh doanh xuất hiện muộn hơn rất nhiều. kinh doanh trở thành một hoạt động phổ biến và chính thức trở thành một nghề, lúc đó, xã hội sẽ ra đời một tầng lớp mới, đó là các doanh nhân. Chính vì vậy, ở bất kỳ một xã hội nào, khi có hoạt động kinh doanh thì đều có văn hóa kinh doanh, dù các thành viên của xã hội ấy có ý thức đƣợc hay không. Và văn hóa kinh doanh đƣợc hình thành nhƣ một hệ thống những giá trị, những cách cƣ xử đặc trƣng cho các thành viên trong lĩnh vực kinh doanh. Thứ hai, văn hóa kinh doanh phải phù hợp với trình độ kinh doanh của chủ thể kinh doanh. Văn hóa kinh doanh là sự thể hiện tài năng, phong cách và thói quen của các nhà kinh doanh, vì vậy nó phải phù hợp với trình độ kinh doanh của nhà kinh doanh đó. . Nhƣ vậy, về cơ bản, trình độ phát triển của văn hóa kinh doanh là do sự phát triển của kinh tế hàng hóa quy định. Trong một nền kinh tế hàng hóa đã phát triển nơi mà ở đó, các quan hệ kinh doanh đã đi vào chiều sâu, các chủ thể kinh doanh đã biết thực hiện mục đích tìm kiếm lợi nhuận một cách có văn hóa thì các giá trị tốt đẹp sẽ đƣợc thể hiện ngay từ ý thức, quan điểm kinh doanh cho đến những tri thức về sự lựa chọn mặt hàng, lựa chọn phƣơng thức hoạt động; từ hinh thức, nội dung của quảng cáo cho đến phong cách giao tiếp ứng xử trong mọi mối quan hệ… 1.1.2.3 Các nhân tố cấu thành văn hóa kinh doanh Văn hóa kinh doanh là một phƣơng diện của văn hóa trong xã hội và là văn hóa trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh. Văn hóa kinh doanh bao gồm toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần, những phƣơng thức và kết quả hoạt động của con ngƣời đƣợc tạo ra và sử dụng trong quá trình kinh doanh. Theo hƣớng tiếp cận này, để tạo nên hệ thống văn hóa kinh doanh hoàn chỉnh với bốn nhân tố cấu thành là triết lý kinh doanh, đạo đức kinh doanh, văn hóa doanh nhân, và các hình thức văn hóa khác, chủ thể kinh doanh phải kết hợp đồng thời hai hệ giá trị sau: Trƣớc hết, chủ thể kinh doanh sẽ lựa chọn và vận dụng các giá trị văn hóa dân tộc, văn hóa xã hội,… vào hoạt động kinh doanh để tạo ra sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ. Đó là tri thức, kiến thức, sự hiểu biết về kinh doanh đƣợc thể hiện từ việc chọn lựa nhân công, lựa chọn nguyên vật liệu, lựa chọn máy móc, dây chuyền, công nghệ…: ngôn ngữ đƣợc sử dụng trong kinh doanh: niềm tin, tín ngƣỡng và tôn giáo; các giá trị văn hóa truyền thống; các hoạt động văn hóa tinh thần... Đồng thời, trong quá trình hoạt động, các chủ thể kinh doanh cũng tạo ra các giá trị của riêng mình. Các giá trị này đƣợc thể hiện thông qua những giá trị hữu hình nhƣ giá trị của sản phẩm, hình thức mẫu mã sản phẩm; máy móc, thiết bị nhà xƣởng; biểu tƣợng, khẩu hiệu, lễ nghi, sinh hoạt, thủ tục, chƣơng trình, truyền thuyết, các hoạt động văn hóa tinh thần của doanh nghiệp (các phong trào văn nghệ, thể dục thể thao…). Đó còn là những giá trị vô hình nhƣ là phƣơng thức tổ chức và quản lý kinh doanh; hệ giá trị, tâm lý và thị hiếu tiêu dùng; giao tiếp và ứng xử trong kinh doanh; chiến lƣợc, sứ mệnh và mục đích kinh doanh; các quy tắc, nội quy trong kinh doanh, tài năng kinh doanh… Tuy nhiên, sự phân biệt hai hệ giá trị kể trên chỉ là tƣơng đối, các giá trị văn hóa dân tộc, văn hóa xã hội đã đƣợc chọn lọc và các giá trị văn hóa đƣợc tạo ra trong quá trình kinh doanh không thể tách bạch, chúng hòa quyện vào nhau thành một hệ thống văn hóa kinh doanh với bốn nhân tố cấu thành là:  Mô ̣t là, triết lý kinh doanh Triết lý kinh doanh là những tư tưởng triết học phản ánh thực tiễn kinh doanh thông qua con đường trải nghiệm, suy ngẫm, khái quát hóa của các chủ thể kinh doanh và chỉ dẫn cho hoạt động kinh doanh. Đó là một hệ thống bao gồm những giá trị cốt lõi có tính pháp lý và đạo lý tạo nên phong thái đặc thù của chủ thể kinh doanh và phƣơng thức phát triển bền vững của chủ thể kinh doanh và phƣơng thức phát triển bền vững của hoạt động này. Đôi khi, triết lý kinh doanh còn là cơ sở để các nhà quản trị đƣa ra các quyết định quản lý có tính chiến lƣợc quan trọng trong những tình huống mà sự phân tích lãi lỗ không thể giải quyết. Đồng thời, triết lý kinh doanh còn là phƣơng tiện để giáo dục và phát triển nguồn nhân lực cho hoạt động kinh doanh. Kết cấu nội dung của triết lý kinh doanh thƣờng gồm những bộ phận sau:  Sứ mệnh và các mục tiêu kinh doanh cơ bản  Các phƣơng thức hành động để hoàn thành đƣợc sứ mệnh và mục tiêu nhằm cụ thể hóa hơn cách diễn đạt đƣợc những sứ mệnh và mục tiêu.  Các nguyên tắc tạo ra một phong cách ứng xử, giao tiếp và hoạt động kinh doanh đặc thù của doanh nghiệp  Hai là, đạo đức kinh doanh Đạo đức kinh doanh là một tập hợp các nguyên tắc, chuẩn mực có tác dụng điều chỉnh, đánh giá, hướng dẫn và kiểm soát hành vi của các chủ thể kinh doanh. Đây là hệ thống các quy tắc xử sự, các chuẩn mực đạo đức, các quy chế, nội quy… có vai trò điều tiết các hoạt động của quá trình kinh doanh nhằm hƣớng đến triết lý đã định Ngày nay, hoạt động kinh doanh đòi hỏi các chủ thể phải có những hành vi phù hợp với đạo lý dân tộc và các quy chuẩn về cái thiện và cái tốt chung của toàn nhân loại. Do vậy, đạo đức kinh doanh sẽ góp phần phát triển mối quan hệ với ngƣời lao động, với chính quyền, với khách hàng, với đối thủ cạnh tranh, với nhà cung cấp và với cộng đồng xã hội, từ đó, góp phần tạo nên môi trƣờng kinh doanh ổn định.  Ba là, văn hóa doanh nhân Văn hóa doanh nhân là toàn bộ các nhân tố văn hóa mà các doanh nhân chọn lọc, tạo ra, sử dụng và biểu hiện trong hoạt động kinh doanh của mình. Tài năng, đạo đức và phong cách của nhà kinh doanh có vai trò quyết định trong việc hình thành văn hóa kinh doanh của chủ thể kinh doanh. Kinh doanh là một nghề phức tạp, đòi hỏi chủ thể kinh doanh phải vừa có đức vừa có tài, trong đó đức là cơ sở của tài. Hay nói cách khác thì đạo đức, tài năng, phong cách của chủ thể kinh doanh có vai trò quyết định trong việc hình thành văn hóa kinh doanh. Doanh nhân không chỉ là ngƣời quyết định cơ cấu tổ chức và công nghệ kinh doanh mà còn là ngƣời sáng tạo ra các biểu tƣợng, các ý thức hệ, ngôn ngữ, niềm tin, nghi lễ, huyền thoại… Do đó, trong quá trình xây dựng và phát triển kinh doanh, văn hóa của doanh nhân sẽ đƣợc phản chiếu lên văn hóa kinh doanh. Phong cách doanh nhân chính là sự tổng hợp các yếu tố diện mạo, ngôn ngữ, cách cƣ xử và cách hành động của doanh nhân. Phong cách của doanh nhân thƣờng đƣợc đồng nhất với phong cách kinh doanh của họ vì nhà kinh doanh thƣờng dành phần lớn thời gian và cuộc sống của học cho công việc. Đồng thời, phong cách của nhà kinh doanh thƣờng đƣợc biểu hiện rõ nét nhất ở lối ứng xử và hoạt động nghiệp vụ, do đó, phong cách của họ là yếu tố quan trọng hình thành nên phƣơng pháp kinh doanh. Đạo đức của doanh nhân trong quá trình hoạt động là một thành tố quan trọng tạo nên văn hóa của doanh nhân. Có thể khái quát một số tiêu chuẩn không thể thiếu đối với đạo đức của các doanh nhân nhƣ:  Tính trung thực: Đức tính này phải đƣợc thể hiện trong sự nhất quán giữa nói và làm, danh và thực. Tính cách này sẽ hƣớng dẫn cho các doanh nhân không dùng thủ đoạn xấu xa để kiếm lời, coi trọng sự công bằng, chính đáng và đạo lý trong kinh doanh.  Tôn trọng con người: Sự tôn trọng con ngƣời phải đƣợc thực hiện từ việc coi trọng những nhu cầu, sở thích và tâm lý khách hàng, tôn trọng phẩm giá và tiềm năng phát triển nhân viên cho đến việc coi trọng chữ tín trong giao tiếp, quan hệ và hoạt động kinh doanh  Vươn tới sự hoàn hảo: Nếu không có mục tiêu vƣơn tới sự hoàn hảo, chủ thể kinh doanh hay các khái niệm sẽ ngừng tu dƣỡng bản thân, sẽ không có hoài bão và không có lý tƣởng. Do vậy, đức tính này sẽ giúp các doanh nhân hình thành đƣợc lý tƣởng nghề nghiệp và quyết tâm vƣơn lên để thành đạt bằng kinh doanh.  Đương đầu với thử thách: Đức tính này sẽ giúp các doanh nhân không ngại và quyết tâm vƣợt qua những khó khăn gian khổ mà nghề kinh doanh thƣờng gặp phải  Coi trọng hiệu quả gắn liền với trách nhiệm xã hội: Hiệu quả kinh tế xã hội là thƣớc đo sự thành công và thành đạt trong kinh doanh. Do vậy, để phát triển, các doanh nhân phải không ngừng nâng cao hiệu quả trong hoạt động kinh doanh, đồng thời phải có những đóng góp xứng đáng cho xã hội. Năm đức tính trên là năm đức tính không thể thiếu đối với một nhà kinh doanh. Tuy nhiên, để thành đạt trong nền kinh tế thị trƣờng thì ngoài những tiêu chủan không thể thiếu về đạo đức, các doanh nhân phải có tài năng kinh doanh. Có thể khái quát những tài năng của nhà kinh doanh thành những năng lực sau:  Sự hiểu biết về thị trường: Sự hiểu biết đó bao gồm những hiểu biết về thị trƣờng ngành hàng, hiểu biết về khách hàng mục tiêu, hiểu biết về đối thủ cạnh tranh và hiểu biết về các yếu tố ảnh hƣởng tới việc kinh doanh.  Những hiểu biết về nghề kinh doanh: đó là những kiến thức về chuyên môn và nghiệp vụ kinh doanh nhƣ kiến thức về công nghệ, phƣơng pháp quản trị, marketing, chất lƣợng sản phẩm, tài chính…  Hiểu biết về con người và có khả năng xử lý tốt các mối quan hệ: Năng lực hiểu biết về con ngƣời và khả năng xử lý tốt các mối quan hệ của nhà kinh doanh đƣợc thể hiện thông qua khả năng giao tiếp, khả năng nuôi dƣỡng và phát triển các mối quan hệ phục vụ cho công việc kinh doanh. Nếu có đƣợc năng lực này, các doanh nhân sẽ giải quyết tốt các mối quan hệ bên trong và bên ngoài, khả năng đạt đƣợc kết quả cao trong kinh doanh là điều không khó.  Nhanh nhạy, quyết đoán và khôn ngoan: Đây là những năng lực cốt yếu của nhà kinh doanh, đặc biệt là trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thị trƣờng. Nếu không có sự nhanh nhạy, quyết đoán và khôn ngoan, các doanh nhân khó có thể nắm bắt đƣợc những cơ hội thuận lợi để thực hiện mục đích tối đa hóa lợi nhuận đã định. Nhƣ vậy, đạo đức, tài năng, phong cách của doanh nhân là những thành tố quan trọng hình thành nền văn hóa doanh nhân nói riêng và văn hóa kinh doanh nói chung.  Bốn là, các hình thức văn hóa khác Các hình thức văn hóa khác bao gồm những giá trị của văn hóa kinh doanh, đƣợc thể hiện bằng tất cả những giá trị của văn hóa kinh doanh, đƣợc thể hiện bằng tất cả những giá trị trực quan hay phi trực quan điển hình. Có thể ví dụ một số hình thức biểu hiện khác của văn hóa kinh doanh nhƣ:  Giá trị sử dụng, hình thức, mẫu mã sản phẩm: Đây là một hình thức biểu hiện của văn hóa kinh doanh bởi vì con ngƣời luôn luôn khát vọng hƣớng đến chân thiện mỹ, tức là luôn vƣơn tới cái đúng, cái tốt, cái đẹp nên nhu cầu của khách hàng không đơn thuần chỉ là đƣợc đáp ứng những đòi hỏi vật chất mà song song với đó là tính thẩm mĩ, tính nghệ thuật trong giá trị và hình thức của sản phẩm cũng phải không ngừng đƣợc nâng cao.  Kiến trúc nội và ngoại thất cũng là một trong những giá trị quan trọng của văn hóa kinh doanh bởi vì kiến trúc nội và ngoại thất thƣờng tạo nên những ảnh hƣởng lớn đến hành vi con ngƣời về phƣơng diện cách thức giao tiếp, phản ứng và thực hiện công việc. Đồng thời, các công trình kiến trúc nội và ngoại thất cũng là một bộ phận hữu cơ quan trọng trong hệ thống các sản phẩm mà chủ thể kinh doanh tạo ra, trong mỗi công trình kiến trúc đó đều chứa đựng những giá trị lịch sử gắn liền với sự ra đời và trƣởng thành của doanh nhân, của đơn vị và các thế hệ nhân viên. Do vậy, nhiều công trình kiến trúc đƣợc coi là “linh vật” biểu thị một ý nghĩa hay giá trị nào đó hoặc biểu tƣợng cho phƣơng châm và chiến lƣợc kinh doanh hoặc nhằm mục tiêu tạo ấn tƣợng thân quen, thiện chí và ấm áp với các thành viên.  Nghi lễ kinh doanh: Nghi lễ kinh doanh là những hoạt động đã đƣợc dự kiến từ trƣớc và chuẩn bị kỹ lƣỡng, thƣờng đƣợc tổ chức dƣới hình thức các sự kiện và hoạt động văn hóa xã hội có tính chất nghiêm trang, chính thức và tình cảm. Nghi lễ kinh doanh thƣờng đƣợc thực hiện định kỳ hay bất thƣờng với mục đích thắt chặt các mối quan hệ và vì lợi ích của những ngƣời tham dự. Các nhà quản lý thƣờng sử dụng nghi lễ kinh doanh nhƣ một cơ hội quan trọng cho việc giới thiệu những giá trị mà họ coi trọng hoặc tạo cơ hội cho các thành viên cùng chia sẻ cách nhận thức về những sự kiện trọng đại hoặc để nêu gƣơng và khen tặng những tấm gƣơng điển hình đại biểu cho những niềm tin và cách thức hành động cần tôn trọng.  Giai thoại và truyền thuyết: Giai thoại và truyền thuyết thƣờng đƣợc thêu dệt từ những sự kiện có thực đƣợc mọi thành viên trong tổ chức cùng chia sẻ và nhắc lại với những thành viên mới. Đó có thể là những mẩu chuyện kể về những nhân vật anh hùng nhƣ những hình mẫu lý tƣởng về những chuẩn mực và giá trị chung, hoặc là những giai thoại do những sự kiện đã mang tính lịch sử và đƣợc thêu dệt thêm, hoặc là những huyền thoại chứa đựng những giá trị và niềm tin của chủ thể kinh doanh và không đƣợc chứng minh bằng các bằng chứng thực tế. Các giai thoại và truyền thuyết có tác dụng duy trì sức sống cho các giá trị ban đầu và giúp thống nhất về nhận thức của tất cả các thành viên.  Biểu tượng: Là một công cụ biểu thị đặc trƣng của văn hóa kinh doanh, nó biểu thị niềm tin giá trị mà chủ thể kinh doanh muốn gửi gắm. Các công trình kiến trúc, lễ nghi, giai thoại và truyền thuyết, khẩu hiệu, hình thức mẫu mã của sản phẩm, cách bố trí máy móc, dây chuyền công nghệ… đều chứa đựng những đặc trƣng của biểu tƣợng, bởi thông qua giá trị vật chất cụ thể, hữu hình, các biểu trƣng này đều muốn truyền đạt những giá trị, những ý niệm, những ý nghĩa tiềm ẩn bên trong, sâu xa cho ngƣời tiếp nhận theo các cách thức khác nhau. Ngoài ra, một hình thức khác của biểu tƣợng cũng có ý nghĩa quan trọng cho việc gửi gắm thông điệp chính là logo đây là một tác phẩm sáng tạo đƣợc thiết kế để thể hiện hình tƣợng về chủ thể kinh doanh bằng ngôn ngữ nghệ thuật. Logo thƣờng có sức mạnh rất lớn vì chúng có thể diễn đạt đƣợc giá trị chủ đạo mà chủ thể kinh doanh muốn tạo ấn tƣợng, muốn truyền đạt hay lƣu lại.  Ngôn ngữ, khẩu hiệu: Trong quá trình hoạt động, chủ thể kinh doanh có thể lựa chọn một hay nhiều ngôn ngữ khác nhau, nó có thể là ngôn ngữ bản địa hoặc ngôn ngữ quốc tế, là ngôn ngữ chính thống hay ngôn ngữ đời thƣờng. Do vậy, cách thức lựa chọn và sử dụng ngôn ngữ trong giao lƣu , giao tiếp kinh doanh cũng là một khía cạnh biểu trƣng quan trọng của văn hóa kinh doanh. Khẩu hiệu là hình thức dễ nhập tâm, ngắn gọn, xúc tích, dễ nhớ và là cách diễn đạt ngắn gọn nhất của triết lý kinh doanh. Không chỉ nhân viên mà cả các đối tác luôn nhắc đến khẩu hiệu. Khẩu hiệu thƣờng đƣợc sử dụng với các ngôn từ đơn giản nên để hiểu đƣợc ý nghĩa tiềm ẩn của chúng, cần liên hệ với bản tuyên bố sứ mệnh của chủ thể kinh doanh.  Ấn phẩm điển hình: Những ấn phẩm điển hình là những tƣ liệu chính thức có thể giúp những ngƣời hữu quan nhận thầy rõ hơn về văn hóa kinh doanh của chủ thể kinh doanh. Chúng có thể bao gồm: Bộ triết lý kinh doanh, các quy tắc, các chuẩn mực đạo đức trong kinh doanh, các tài liệu giới thiệu về đơn vị, sổ tay nhân viên, thẻ nhân viên… Những tài liệu này giúp làm rõ hơn về mục tiêu, phƣơng châm hành động, niềm tin, giá trị chủ đạo, thái độ với ngƣời lao động, khách hàng, ngƣời tiêu dùng và xã hội của chủ thể. Nó là một biểu trƣng quan trọng và là căn cứ quan trọng để nhận biết về văn hóa kinh doanh.  Lịch sử phát triển và truyền thống: Đây là một nhân tố cấu thành và có vai trò quan trọng trong việc xây dựng các đặc trƣng mới của văn hóa kinh doanh. Những truyền thống, tập quán, nhân tố văn hóa đã định hình và phát triển trong lịch sử vừa là chỗ dựa nhƣng cũng có thể là rào cản tâm lý không dễ vƣợt qua trong việc xây dựng và phát triển những đặc trƣng văn hóa mới. Tuy nhiên, thông qua việc khái quát lên quá trình vận động và thay đổi về tổ chức của văn hóa kinh doanh, lịch sử phát triển và truyền thống văn hóa sẽ giúp chủ thể kinh doanh có những thay đổi sao cho phù hợp với các giá trị truyền thống, vừa thích ứng đƣợc với hiện tại, đồng thời, chuẩn bị đƣợc hành trang vững chắc hƣớng tới tƣơng lai. Như vậy, triết lý kinh doanh, đạo đức kinh doanh, văn hóa doanh nhân và các hình thức văn hóa khác là 4 nhân tố cấu thành không thể thiếu và không thể tách rời của một hệ thống văn hóa kinh doanh hoàn chỉnh. Ứng với mỗi loại hình chủ thể kinh doanh cụ thể, bốn nhân tố này sẽ tạo nên hệ thống văn hóa kinh doanh đặc trƣng của mỗi loại hình chủ thể đó. 1.2 Văn hoá doanh nghiêp và văn hoá kinh doanh 1.2.1 Khái niệm về văn hoá doanh nghiệp Trong mô ̣t xã hô ̣i rô ̣ng lớn, mỗi doanh nghiê ̣p đƣơ ̣c coi là mô ̣t xã hô ̣i thu nhỏ, xã hội lớn có nền văn hoá lớn, xã hội nhỏ ( doanh nghiê ̣p) cũng cần xây dựng cho mình một nển văn hoá riêng biê ̣t. Nền văn hoá ấy chiu ảnh hƣởng và đồng thời cũng là mô ̣t bô ̣ phâ ̣n cấu thành nền văn hoá lớn. Đầu thập kỷ 90, ngƣời ta bắt đầu đi sâu nghiên cƣ́u tìm hiểu về nhƣ̃ng nhân tố cấu thành cũng nhƣ tác động to lớn của văn hoá với sự phát triển của doanh nghiệp .Đã có rất nhiều khái niê ̣m văn hoá doanh ngiê ̣p đƣơ ̣c đƣa ra , nhƣ tổ chƣ́c lao đô ̣ng quốc tế (International Labuor Organization ILO): “Văn hoá doanh nghiê ̣p là sƣ ̣ trô ̣n lân đă ̣c biê ̣t các giá trị, các tiêu chuẩn, các thói quen và truyền thống, nhƣ̃ng thái đô ̣ ƣ́ng xƣ̉ và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết” Theo Ông Georges de Saite Marie , chuyên gia ngƣời pháp về doanh nghiê ̣p vƣ̀a và nhỏ thì “ Văn hoá doanh nghiê ̣p là tổng hơp cá c giá tri ̣, biểu tương , huyền thoai , nghi thức, các điều cấm kỵ , các quan điểm triết học , đao đức tao nên nền móng sâu xa của doanh nghiê ̣p” (Dương Thi ̣LiêuBài giảng văn hoá kinh doanh , trường đai hoc kinh tế quốc dân2006, trang 59) Trên cơ sở kế thƣ̀a nhƣ̃ng nghiên cƣ́u của các ho ̣c giả và hê ̣thống nghiên cƣ́ulogic về văn hoá kinh doanh , văn hoá doanh nghiê ̣p đƣơ ̣c đinh nghia nhƣ sau : “Văn hoá doanh nghiê ̣p là toàn bô ̣ nhƣ̃ng nhân tố văn hoá đƣơ ̣c doanh n ghiê ̣p cho ̣n lo ̣c, tạo ra, sƣ̉ du ̣ng và biểu hiê ̣n trong hoa ̣t đô ̣ng kinh doanh, tạo nên bản sắc kinh doanh của doanh nghiệp đó” 1.2.2 Mối liên hê ̣giƣ̃a văn hoá doanh nghiêp và văn hoá kinh doanh Hiê ̣n tại có hai cách hiểu về văn hoa ki nh doanh,mô ̣t là nếu hiểu theo góc đô ̣ vi ̃ mô thì văn hoá kinh doanh là một phạm trù ở tầm cỡ quốc gia , thể hiê ̣n phong cách kinh doanh của mô ̣t dân tô ̣c, đƣơ ̣c đúc kết tƣ̀ văn hoá mô ̣t dân tô ̣c đó và đƣơ ̣c vâ ̣n du ̣ng vào giá trị, triết lý…kinh doanh của minh , theo cách hiểu này thì văn hoá doanh nghiê ̣p chỉ là mô ̣t phần của văn hoá kinh doanh . Hai là, nếu xét ở góc đô ̣ vi mô coi chủ thể của văn hoá kinh doanh là doanh nghiê ̣p thì văn hoá kinh doanh cũng chính là văn hoá doanh nghiệp , vì văn hoá doanh nghiệp chính là văn hoá kinh doanh ở cấp độ doanh nghiệp , nó chịu ảnh hƣởng bởi nền văn hoá quốc gia nhƣng la ̣i mang bản sắc riêng của doanh nghiê ̣p đó .Xét các định nghĩa củ a các học giả đƣa ra n hƣ trong khái niê ̣m về văn hoá kinh doanh nếu áp du ̣ng cho văn hoá doanh nghiê ̣p thì rất gần nhau, đó là “Văn hóa kinh doanh là toàn bộ các nhân tố văn hóa được chủ thể kinh doanh chọn lọc, tạo ra, sử dụng và biểu hiện trong hoạt động kinh doanh tạo nên bản sắc kinh doanh của chủ thể đó”. Dương Thi ̣LiêuBài giảng văn hoá kinh doanh , trường đai hoc kinh tế quốc dân2006, trang 59) Ở phạm vi trong luận văn nghiên cứu này ta sẽ chấp nhận theo cách hiểu v i mô , nghĩa là xem văn hoá kinh doanh và văn hoá doanh nghiệp là một do ta xem chủ thể của văn hoá kinh doanh là doanh nghiê ̣p. 1.2.3 Các cấp độ của văn hoá doanh nghiệp Văn hoá doanh nghiệp có thể chia làm ba cấp độ khác nhau , dùng để chỉ mức độ có thể cảm nhâ ̣n đƣơ ̣c của các giá tri ̣văn hoá trong doanh nghiê ̣p 1.2.3.1 Cấp đô ̣ thƣ́ 1Nhƣ̃ng quá trinh và cấu trúc hƣ̃u hinh của doanh nghiêp Bao gồm tất cả nhƣ̃ng hiê ̣n tƣơ ̣ng và sƣ ̣ vâ ̣t mà ta cò thể n hìn, nghe và cảm thấy khi tiếp xúc với mô ̣t doanh nghiê ̣p nhƣ : kiến trúc xây dƣng tru ̣ sở , nô ̣i thất ,thiết kế phòng ban làm viê ̣c , hê ̣thống dây chuyền công nghê ̣ , sản phẩm .Các hình thức lễ nghi , lễ hô ̣i hàng năm ,các biểu tƣợn g, khẩu hiê ̣u , tài liệu quảng cáo .Tiếp theo là các câu chuyê ̣n , huyền thoa ̣i của tổ chƣ́c , mâu mã của sản phẩm , thái độ và cách ứng xử của các thành viên trong tổ chƣ́c đó. Đây là cấp đô ̣ văn hoá có thể nhâ ̣n thấy ngay tron g lần tiếp xúc đầu tiên , nhất là nhƣ̃ng yếu tố vâ ̣t chất nhƣ : kiến trúc, bài trí, đồng phu ̣c…cấp đô ̣ m ột này chiu ảnh hƣởng nhiều của tinh chất công viê ̣c kinh doanh của công ty 1.2.3.2 Cấp đô ̣ thƣ́ 2 Nhƣ̃ng giá tri đƣơ ̣c tuyên bố ( bao gồm các chiến lƣơ ̣c , mục tiêu, triết lý của doanh nghiêp ) Doanh nghiê ̣p nào cũng có quy đinh , nguyên tắc , triết lý , chiến lƣơ ̣c và mu ̣c tiêu riêng, là kim chỉ nam hoạt động của toàn bộ nhân viên và thƣờng đƣợc công bố rô ̣ng rai ra công chúng .Đây cũng chinh là nhƣ̃ng giá tri ̣đƣơ ̣c công bố , mô ̣t bô ̣ phâ ̣n của nền văn hoá doanh nghiệp Nhƣ̃ng giá tri ̣đƣơ ̣c tuyên bố cũng có ti
Xem thêm

Đọc thêm

LUẬN VĂN: BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC THÁI Ở HUYỆN QUAN HÓA - TỈNH THANH HÓA HIỆN NAY

LUẬN VĂN: BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC THÁI Ở HUYỆN QUAN HÓA - TỈNH THANH HÓA HIỆN NAY

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, 54 dân tộc anh em là 54 màu sắc văn hóa khác nhau tạo nên một nền văn hóa riêng đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam. Do sự khác nhau về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội cho nên đã hình thành các vùng văn hóa khác nhau. Văn hóa gắn liền với toàn bộ cuộc sống và sự phát triển của xã hội. Con người ra đời, trưởng thành là nhờ văn hóa, hướng tới tương lai cũng từ văn hóa. Giá trị văn hóa của một dân tộc thể hiện bản sắc của dân tộc ấy. Những giá trị văn hóa của con người là thước đo trình độ phát triển và thể hiện bản sắc riêng của mỗi dân tộc. Chính vì vậy, nghiên cứu đời sống văn hóa của mỗi dân tộc là nghiên cứu toàn bộ những sáng tạo, phát minh của dân tộc đó trong lịch sử phát triển của xã hội. Từ đó sẽ tìm ra được hệ thống giá trị văn hóa để tôn vinh, kế thừa và phát huy nhằm không ngừng phục vụ tốt hơn cho cuộc sống các thế hệ hôm nay và mai sau. Phát triển văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực để thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, ở mỗi khu vực, mỗi vùng miền khác nhau, văn hoá các dân tộc có những đặc trưng và sắc thái khác nhau. Miền núi Thanh Hóa nói chung và huyện Quan hóa nói riêng là khu vực có nhiều dân tộc thiểu số cùng sinh sống. Trong lịch sử cùng tồn tại và phát triển, các dân tộc ở đây đã tạo dựng được nên những giá trị văn hoá hết sức đặc sắc cần phải được bảo tồn và phát huy. Song, cũng phải thừa nhận là bên cạnh những giá trị tốt đẹp, văn hoá truyền thống các dân tộc còn có những yếu tố lạc hậu, lỗi thời không còn phù hợp với cuộc sống mới và xu hướng phát triển của thời đại. Mặt khác, trước sự tác động của cơ chế thị trường, của các quá trình giao lưu hội nhập văn hoá nhiều giá trị truyền thống của các dân tộc đang bị mai một, pha trộn, lai căng không còn giữ được bản sắc. Chính vì vậy, việc nghiên cứu văn hoá truyền thống các dân tộc ở miền núi Thanh Hóa nói chung, ở huyện Quan Hóa nói riêng là yêu cầu khách quan khi chúng ta bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Với riêng người Thái, việc nghiên cứu về dân tộc này đã trở thành một vấn đề mang ý nghĩa quốc tế và được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm. Ở Việt Nam, các Hội nghị về Thái học do Chương trình Thái học thuộc Trung tâm nghiên cứu Việt Nam và giao lưu văn hóa (nay là Viện Việt Nam học và khoa học phát triển thuộc Đại học quốc gia Hà Nội) tổ chức vào các năm 1991, 1998, 2002, 2006 và 2009; trên thế giới, các Hội nghị quốc tế về Thái học được tổ chức trong những thập kỷ gần đây (năm 1981 ở Ấn Độ, năm 1984 ở Thái Lan, năm 1987 ở Ôxtrâylia, năm 1990 ở Trung Quốc, năm 1993 ở Anh, năm 1996 ở Thái Lan, năm 1999 ở Hà Lan, năm 2002 ở Thái Lan, năm 2005 ở Mỹ và năm 2008 ở Thái Lan) đã chứng minh điều đó.
Xem thêm

24 Đọc thêm

Bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam

Bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam

1. Bản là cái gốc cái căn bản cái lõi cái hạt nhân của một sự vật Sắc là thể hiện ra ngoài. Nói bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam tức là nói những giá trị gốc căn bản cốt lõi những giá trị hạt nhân của dân tộc Việt Nam. Nói những hạt nhân giá trị hạt nhân tức là không phải nói tất cả mọi giá trị mà chỉ là nói những giá trị tiêu biểu nhất bản chất nhất chúng mang tính dân tộc sâu sắc đến nỗi chúng biểu hiện trong mọi lĩnh vực của nền Việt Nam trong các lĩnh vực văn học nghệ thuật sân khấu hội họa điêu khắc kiến trúc trong sinh hoạt giao tiếp ứng xử hằng ngày của người Việt Nam. Những giá trị hạt nhân đó không phải tự nhiên mà có mà được tạo thành dần dần và được khẳng định trong quá trình lịch sử xây dựng củng cố và phát triển của nhà nước dân tộc Việt Nam. Những giá trị đó không phải là không thay đổi trong quá trình lịch sử. Có những giá trị cũ lỗi thời bị xóa bỏ và có những giá trị mới tiến bộ được bổ xung vào. Có những giá trị tiếp tục phát huy tác dụng dưới những hình thức mới. Dân tộc Việt Nam với tư cách là chủ thể sáng tạo thường xuyên kiểm nghiệm những giá tri hạt nhân đó quyết định những thay đổi và bổ sung cần thiết tái tạo những giá trị đó từ thế hệ này sang thế hệ khác. Không nên có tư tưởng tĩnh và siêu hình đối với những giá trị hạt nhân đó thậm chí đối với những giá trị mà chúng ta vốn cho là thiêng liêng nhất. Nếu dân tộc không có ý thức giữ gìn bồi dưỡng tái tạo để trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thì chúng cũng bị mai một và tàn lụi đi. Chúng ta thử so sánh bản sắc chủ nghĩa yêu nước Việt Nam trong những người cuộc Cách mạng Tháng tám sôi sục trong cuộc kháng chiến chống Pháp Nhật Mỹ với cái gọi là Bản sắc chủ nghĩa yêu nước Việt Nam trong những năm tháng cuối đời nhà Nguyễn thì thấy rõ. Hay là đối với chủ nghĩa yêu nước Việt Nam thời kỳ Lê Mạt với chủ nghĩa yêu nước Việt Nam thời LýTrần. Không thể nói đấy là cùng một bản sắc chủ nghĩa yêu nước được Có người hỏi có thể có những giá trị bản sắc là tiêu cực hay là đã nói bản sắc là nói cái gì tiến bộ tích cực xứng đáng được trao truyền và thừa kế. Như trên vừa nói không nên có cái nhìn tĩnh tại và siêu hình đối với bản sắc dân tộc. Cái gì sống đều thay đổi và phải thay đổi. Bản sắc dân tộc cũng vậy. Giai cấp lãnh đạo phải sáng suốt và chủ động đối với quá trình diễn biến của bản sắc dân tộc. Những giá trị nào lỗi thời phải xóa bỏ những giá trị mới nào cần bổ sung thêm vào những giá trị nào cần kế thừa nhưng dưới một hình thức mới và hình thức mới đó thêm ra sao? Trong những bước chuyển cách mạng những sự kiện đổi đời của dân tộc ta như cuộc cách mạng Tháng tám chiến thắng của Ngô Quyền kết thúc đêm dài mười thế kỷ Bắc thuộc sự kiện Tây Sơn v.v... bộ phận lãnh đạo của dân tộc thời bấy giờ phải nghiêm túc kiểm nghiệm lại những giá trị bản sắc đương thời của dân tộc. Không phải không có lý do mà sau 10 thế kỷ Bắc thuộc bộ phận lãnh đạo của dân tộc thời bấy giờ đã gạt bỏ Nho giáo và chấp nhận tư tưởng Phật giáo. Cũng với những lý do xác đáng dân tộc ta kinh qua cuộc cách Mạng tháng tám đã chấp nhận hệ tư tưởng MácLênin như là dòng tư tưởng chủ lưu hiện nay của mình. Những cuộc kiểm nghiệm như thế cũng cần được tiến hành khi xảy ra giao tiếp văn hóa rộng rãi giữa các nền văn hóa khác nhau thí dụ giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa Xô Viết văn hóa Việt Nam và văn hóa Ấn Độ Trung Hoa văn hóa Việt Nam và văn hóa Âu Mỹ...không có biên giới. Thời đại hiện nay là thời đại của kỹ thuật giao thông liên lạc và thông tin cực kỳ phát triển. Trái đất như bị thu nhỏ lại hàng mấy trăm lần so với chục năm về trước. Do đó sự tiếp xúc văn hóa giữa các dân tộc sống cách xa nhau là tất nhiên và tất yếu. Qua những cuộc tiếp xúc đó bản sắc văn hóa của cac dân tộc đều có sự thay đổi bên cạnh những cái khẳng định. Thật là vô lý nếu chúng ta gạt bỏ mọi yếu tố tiến bộ và hay đẹp của văn hóa nước khác chỉ vì chúng là ngoại lai. Nhưng cũng sẽ là vô lý hơn nếu chúng ta tiếp thu hàng loạt không có phê phán mọi yếu tố của văn hóa nước ngoài chỉ vì chúng là mới lạ tân kỳ. Những yếu tố tiến bộ của văn hóa nước ngoài một khi đã được dân tộc ta chấp nhận và biến thành sở hữu của mình rồi thì chúng có thể trở thành một bộ phận của giá trị bản sắc văn hóa Việt Nam của dân tộc Việt Nam. Không ai có thể phủ nhận rằng nhiều yếu tố Phật giáo Nho giáo cũng như MácLênin mặc dù bắt nguồn từ nước ngoài nhưng đã trở thành bộ phận khăng khít của bản sắc dân tộc và văn hóa Việt Nam đã được dân tộc Việt Nam biến thành sở hữu thật sự của mình. Nói tóm lại cái lỗi thời nhưng không được cải tiến cái tốt nhưng lại bị cường điệu cái tốt ngoại lai nhưng không được bản địa hóa nhuần nhuyễn đều có thể biến thành tiêu cực và tạo trở ngại cho sự phát triển bình thường của nền văn hóa dân tộc. Vì vậy mà chúng tôi khẳng định những giá trị bản sắc của dân tộc Việt Nam của nền văn hóa Việt Nam cần phải được bộ phận lãnh đạo của dân tộc thường xuyên kiểm nghiệm theo dõi gìn giữ cải tiến bổ sung gạt bỏ những cái lỗi thời đổi mới những hình thức không còn thích hợp tiếp thu và bản địa hóa mọi tinh hoa của văn hóa nước ngoài... khiến cho những giá trị gọi là bản sắc văn hóa của dân tộc ta phát huy tới mức cao nhất của hai tác dụng xúc tác và hội tụ đối với sự phát triển toàn diện và mọi mặt của dân tộc Việt Nam chúng ta. Tác dụng xúc tác là tác dụng thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển. Tác dụng hội tụ là tác dụng gắn bó kết hợp với mặt các yếu tố thành một hệ thống nhất.
Xem thêm

Đọc thêm

VĂN HÓA KINH DOANH MICROSOFT

VĂN HÓA KINH DOANH MICROSOFT

Lời mở đầu Trong thời buổi kinh tế hiện nay, kinh doanh không chỉ là vấn đề bán gì, mua gì và với ai, mà nó còn là sự bảo đảm chữ tín, thái độ phục vụ và giá trị mang lại cho người tiêu dùng. Nói chung đó chính là “văn hoá trong kinh doanh” của những doanh nghiệp, công ty muốn tồn tại lâu dài. Thực tế Việt Nam còn có khuynh hướng làm ăn chộp giật, chưa thực sự kinh doanh từ cái tâm nên dễ dàng đánh mất “chữ tín” và các giá trị đạo đứa trong kinh doanh. Chính vì thế nhóm 08 quyết định lựa chọn công ty Microsoft để nghiên cứu văn hoá kinh doanh của công ty nước ngoài để thấy rõ “văn hóa kinh doanh” của các nước phát triển như thế nào ? Sau đây, nhóm 08 đi nghiên cứu và tìm hiểu về đề tài” Văn hoá kinh doanh của công ty Microsoft”. Bên cạnh đó cũng tìm hiểu thêm về văn hoá doanh nhân và văn hoá doanh nghiệp của công ty để làm rõ hơn về đề tài. A. Cơ sở lí thuyết I. Khái niệm văn hóa kinh doanh. Văn hóa kinh doanh là một hệ thống các giá trị, các chuẩn mực, các quan điểm và hành vi do chủ thể kinh doanh tạo ra trong quá trình kinh doanh, được thể hiện trong cách ứng xử của họ với xã hội, tự nhiên ở một cộng đồng hay một khu vực.Văn hóa kinh doanh không chỉ là văn hóa mà các chủ thể kinh doanh sử dụng trong kinh doanh của họ mà còn là giá trị sản phẩm văn hóa mà các chủ thể kinh doanh sáng tạo ra trong hoạt động kinh doanh của họ. Bản chất của văn hóa kinh doanh là làm cho cái lợi gắn bó chặt chẽ với cái đúng, cái tốt, cái đẹp. Văn hóa kinh doanh là một phương diện của văn hóa xã hội, kinh doanh có văn hóa đòi hỏi chủ thể của nó không chỉ đạt được mục tiêu lợi nhuận cá nhân mà còn mang đến cái lợi, cái thiện, cái đẹp cho khách hàng, đối tác và xã hội. 1.1 Vai trò của văn hóa kinh doanh. Thứ nhất, văn hóa kinh doanh là phương thức phát triển sản xuất kinh doanh bền vững. Trong kinh doanh có hai quan điểm kinh doanh đó là: kinh doanh với mục đích đạt được lợi nhuận cao là chính bất chấp các thủ đoạn, có thể gọi đây là kiểu kinh doanh phi văn hóa, bên cạnh đó cũng có kiểu kinh doanh có văn hóa, nó có thể được hiểu là họ không chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân họ mà còn quan tâm đến lợi ích của cộng đồng. Kinh doanh có văn hóa họ chú trọng tới việc đầu tư lâu dài, giữ chữ tín. Kiểu kinh doanh này ban đầu có thể không đem lại hiệu quả ngay, nhưng khi đã vượt qua giai đoạn khó khăn thì những nguồn lực trong doanh nghiệp sẽ phát huy tác dụng và các chủ thể kinh doanh sẽ có bước phát triển lâu dài, bền vững. Hơn nữa, thông tin thị trường được cập nhật nhanh chóng, chính xác, đầy đủ, khách hàng sẽ dễ dàng xác thực được hình thức kinh doanh của các doanh nghiệp, và khi đó, các doanh nghiệp kinh doanh phi văn hóa sẽ dần bị đào thải, bị tẩy chay. Thứ hai, văn hóa kinh doanh là nguồn lực phát triển kinh doanh. Áp dụng văn hóa trong tổ chức và quản lí kinh doanh thể hiện ở sự lựa chọn phương hướng kinh doanh, về quan hệ giữa con người với nhau trong tổ chức, việc tuân thủ các quy tắc và quy luật của thị trường, hướng tới khách hàng…Điều này định hướng cho mỗi cá nhân trong tổ chức làm việc, gắn bó với nhau cùng đưa tổ chức, doanh nghiệp mình phát triển và tạo nên phong cách kinh doanh trung thực, ngay thẳng, tạo nên mối quan hệ thân thiết, gắn bó với khách hàng. Trong giao lưu, giao tiếp kinh doanh, văn hóa kinh doanh làm tăng mối quan hệ gắn bó lâu dài với khách hàng thông qua cách ứng xử, thái độ trong giao tiếp với khách hàng, các dịch vụ hậu mãi thích hợp. Đối với các đối thủ cạnh tranh, đối tác làm ăn, văn hóa kinh doanh cũng tạo ra được môi trường cạnh tranh lành mạnh, tạo cơ hội cho sự tồn tại và phát triển lâu dài. Văn hóa kinh doanh còn thể hiện trong trách nhiệm của chủ thể kinh doanh với xã hội. Điều này được thể hiện trong nghĩa vụ đóng thuế cho nhà nước, trách nhiệm bảo vệ môi trường, các hoạt động từ thiện… Thứ ba, văn hóa kinh doanh là điều kiện đẩy mạnh kinh doanh quốc tế. Hiện nay các doanh nghiệp không chỉ kinh doanh trong nước, họ còn hướng hoạt động kinh doanh ra nước ngoài. Tuy nhiên những khách hàng, nhà đầu tư nước ngoài họ luôn đòi hỏi doanh nghiệp cần kinh doanh có văn hóa như: doanh nghiệp có thực hiện đầy đủ trách nhiệm xã hội, không sử dụng lao động trẻ em…Vì vậy doanh nghiệp kinh doanh có văn hóa sẽ dễ dàng đáp ứng những yêu cầu khắt khe đó. Từ đó làm cho khách hàng nước ngoài nhanh chóng chấp nhận hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp. 1.2 Các yếu tố cấu thành văn hóa kinh doanh Văn hóa kinh doanh là văn hóa của nghề kinh doanh, là văn hóa của cộng đồng kinh doanh, là văn hóa của giới doanh nhân. Nó không chỉ có tác dụng trong công tác quản trị nội bộ mà còn cả trong quan hệ của doanh nghiệp với xã hội. 1.2.1. Triết lí kinh doanh. Theo cách thức hình thành: Triết lí kinh doanh là những tư tưởng triết học phản ánh thực tiễn kinh doanh qua con đường trải nghiệm, suy ngẫm và khái quát hóa của các chủ thể kinh doanh và chỉ dẫn cho hoạt động kinh doanh. Triết lí kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm các nội dung cơ bản sau: Sứ mệnh của doanh nghiệp là bản tuyên bố lí do tồn tại của doanh nghiệp, còn gọi là quan điểm, tôn chỉ, nguyên tắc, mục đích kinh doanh của doanh nghiệp. Các mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp là những điểm cuối của nhiệm vụ của doanh nghiệp, mang tính cụ thể và khả thi cần thực hiện thông qua hoạt động của doanh nghiệp. Việc xây dưng các mục tiêu cơ bản rất có ý nghĩa đối với sự thành công và tồn tại lâu dài của doanh nghiệp. Hệ thống các giá trị của doanh nghiệp là những niềm tin căn bản thường không được nói ra của những người làm việc trong doanh nghiệp. Hệ thống các giá trị của doanh nghiệp xác định thái độ của doanh nghiệp với những người sở hữu, những nhà quản trị, người lao động, khách hàng và các đối tượng hữu quan. 1.2.2. Đạo đức kinh doanh. Đạo đức kinh doanh là một tập hợp các nguyên tắc, chuẩn mực có tác dụng điều chỉnh, đánh giá, hướng dẫn và kiểm soát hành vi của các chủ thể kinh doanh. Các nguyên tắc, chuẩn mực của đạo đức kinh doanh: Tính trung thực: trung thực trong chấp hành luật pháp của nhà nước( không trốn thuế, lậu thuế, không sản xuất, buôn bán hàng hóa nhà nước cấm), trung thực trong giao tiếp với bạn hàng( không làm hàng giả, quảng cáo sai sự thật, vi phạm bản quyền..) Tôn trọng con người: tôn trọng phẩm giá, quyền lợi, hạnh phúc, tiềm năng của nhân viên, quan tâm đúng mức, tôn trọng quyền tự do của nhân viên, tôn trọng nhu cầu, sở thích , tâm lí khách hàng, tôn trọng lợi ích của đối thủ cạnh tranh. Gắn lợi ích của doanh nghiệp với lợi ích của khách hàng và xã hội, coi trọng hiệu quả gắn với trách nhiệm xã hội. 1.2.3. Văn hóa ứng xử trong kinh doanh. Ứng xử trong kinh doanh không chỉ là thái độ ứng xử trong các mối quan hệ với khách hàng, đối tác kinh doanh của doanh nghiệp mà còn là thái độ ứng xử giữa cấp trên và cấp dưới, giữa những đồng nghiệp trong doanh nghiệp. Ứng xử có văn hóa trong doanh nghiệp tạo nên môi trường làm việc sôi nổi, đoàn kết, thoải mái từ đó thúc đẩy năng lực làm việc của mỗi cá nhân trong doanh nghiệp. Ứng xử có văn hóa với khách hàng tạo niềm tin, sự trung thành của khách hàng với doanh nghiệp. Ứng xử có văn hóa đối với đối tác nhằm tạo sự tin tưởng lẫn nhau, tiến tới làm ăn lâu dài. II. Văn hóa doanh nhân. Văn hóa doanh nhân là một hệ thống các giá trị, các chuẩn mực, các quan niệm và hành vi của doanh nhân trong quá trình lãnh đạo và quản lí doanh nghiệp. Văn hóa doanh nhân có ảnh hưởng sâu sắc đến văn hóa kinh doanh và văn hóa doanh nghiệp. Văn hóa kinh doanh nào cũng mang đậm sắc thái nhân cách của những người sáng lập và người lãnh đạo doanh nghiệp trong thời kì đầu tiên. Nó chịu ảnh hưởng bởi tầm nhìn, triết lí kinh doanh, những giá trị cốt lõi và phong cách hoạt độngcủa người chủ và điều hành doanh nghiệp đó. Doanh nhân tạo ra môi trường cho các cá nhân phát huy tính sáng tạo, là người góp phần mang đến không gian tự do, bầu không khí ấm cúng cho doanh nghiệp. Văn hóa doanh nhân quyết định văn hóa doanh nghiệp thông qua việc kết hợp hài hòa các lợi ích để doanh nghiệp trở thành ngôi nhà chung của tất cả mọi người. III. Văn hóa doanh nghiệp. Văn hóa doanh nghiệp là một hệ thống các giá trị, các chuẩn mực, các quan niệm và hàng vi của doanh nghiệp, chi phối hoạt động của mọi thành viên trong doanh nghiệp và tạo nên bản sắc kinh doanh riêng của doanh nghiệp. Văn hóa doanh nghiệp có 2 cấp độ: Các quá trình và cấu trúc hữu hình như: kiến trúc, cách bài trí, cơ cấu tổ chức, các biểu tượng, logo, đồng phục… Những giá trị chung được tuyên bố( chiến lược kinh doanh, mục tiêu, triết lí của doanh nghiệp…) và những quan niệm chung( những niềm tin, nhận thức, suy nghĩ và tình cảm có tính vô thức, mặc nhiên được công nhận trong doanh nghiệp). Văn hóa doanh nghiệp tạo nên sắc thái riêng của doanh nghiệp, giúp phân biệt giữa doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác, tạo nên lực hướng tâm chung cho toàn doanh nghiệp. C. Thực trạng văn hóa kinh doanh của Microsoft. I. Giới thiệu sơ lược về Microsoft. 1.1 Giới thiệu chung về Microsoft Microsoft là một tập đoàn đa quốc gia của Hoa Kỳ đặt trụ sở chính tại Redmond, Washington, chuyên phát triển, sản xuất, kinh doanh bản quyền phần mềm và hỗ trợ trên diện rộng các sản phẩm và dịch vụ liên quan đến máy tính. Công ty được sáng lập bởi Bill Gate và Paul Allen vào ngày 04041975. Nếu tính theo doanh thu thì Microsoft là hãng sản xuất phần mềm lớn nhất thế giới. Nó cũng được gọi là “một trong những công ty có giá trị nhất trên thế giới”. Được thành lập để phát triển phần mềm trình thông dịch BASIC cho máy Altair 8800, Microsoft vươn lên thống trị thị trường hệ điều hành cho máy tính gia đình với MS DOS giữa những năm 1980. Cổ phiếu của công ty sau khi được phát hành lần đầu ra thị trường đã tăng giá nhanh chóng và tạo ra 4 nhà tỷ phú và 12000 nhà triệu phú trong công ty. Kể từ thập kỷ 90, công ty bắt đầu đa dạng hóa hoạt động và tiến hành mua lại nhiều công ty khác. Trong năm 2011, Microsoft mua thành công Skype với giá lớn nhất từ trước đến nay là 8.5 tỷ . Trong năm 2012, Microsoft chiếm ưu thế trên cả hai thị trường hệ điều hành PC và bộ phần mềm văn phòng ( đứng thứ hai với Microsoft Office). Công ty sản xuất trên quy mô lớn những phần mềm cho máy tính để bàn và máy chủ, hoạt động trong lĩnh vực tìm kiếm trực tuyến (với Bing), tham gia ngành công nghiệp video game ( với máy chơi game Xbox 360), thị trường dịch vụ kỹ thuật số ( với MSN) , và điện thoại di động ( với hệ điều hành Windows Phone). Trong tháng 6 năm 2012, Microsoft tuyên bố họ sẽ trở thành nhà cung cấp PC cho thị trường với sự kiện cho ra đời máy tính bảng Microsoft Surface. 1.2. Sản phẩm nền tảng và bộ phận dịch vụ. a) Windows. Sản phẩm trụ cột của Microsoft. Công ty đã cho ra đời nhiều phiên bản gồm Windows 3.1, Windows 95, Windows 98, Windows 2000, Windows Me, Windows XP, Windows Vista, Windows 7, Windows 8, Windows 8.1. Mới đây nhất Microsoft đã cho ra mắt toàn thế giới phiên bản mới nhất của Windows: Windows 10. b) Dành cho hệ thống máy chủ. Microsoft đưa ra bộ phần mềm dành cho máy chủ là Microsoft Servers, HDH máy chủ Windows Server 2008, Windows Server 2012 và các sản phẩm như: SQL Server, Exchange Server, BizTalk Server, Systems Management Server, Small Business Server. c) Công cụ phát triển. Microsoft Visual Studio bộ công cụ môi trường phát triển tích hợp, giúp đơn giản hóa các chức năng tạo, sửa lỗi và triển khai phần mềm cho Windows, Microsoft Office và trang Web. d) Dịch vụ trực tuyến. Bao gồm MSN và nhóm dịch vụ Windows Live gồm: Bing, Windows Live Mail, Windows Live Messenger,…. 1.3. Phạm vi hoạt động. Microsoft có mặt tại hầu hết các quốc gia và Microsoft đặt chi nhánh ở hơn 102 quốc gia (2007) và được phân loại thành 6 khu vực: (1) Bắc Mỹ. (2) Châu Mỹ Latinh. (3) Châu Âu, Trung Đông, Châu Phi. (4) Nhật Bản. (5) Châu Á Thái Bình Dương. (6) Trung Quốc. II. Văn hóa kinh doanh của Microsoft. 2.1 Triết lý kinh doanh của Microsoft. Điểm nổi bật đầu tiên bên trong văn hóa kinh doanh của Microsoft chính là triết lý kinh doanh của công ty. Triết lý này có thể được chia làm 5 yếu tố chính: 1) Chính sách phát triển dựa trên nền tảng lâu dài. 2) Hướng đến các thành quả. 3) Tinh thần tập thể và động lực cá nhân. 4) Thái độ trân trọng đối với sản phẩm và khách hàng. 5) Thông tin phải hồi thường xuyên của khách hàng. Để thực hiện triết lý này, công ty luôn tuyển dụng những người thông minh, có óc sáng tạo và giữ chân họ bằng cách kết hợp 3 yếu tố: hứng thú, thách thức liên tục và điều kiện làm việc tuyệt hảo. Ngoài ra, họ còn có cơ hội được hưởng các chính sách ưu đãi như có quyền mua cổ phiếu dưới mức giá giao dịch bình thường để trở thành đồng chủ nhân của công ty chính sách này có tác dụng rất tốt. Về sứ mệnh và mục tiêu Mới đây,người đứng đầu Microsoft Nadella đã nhắc tới lộ trình trong năm tài khóa sắp tới của Microsoft, đặt nền tảng cho màn ra mắt Windows 10 và tiết lộ sứ mệnh chính thức mới: “Trao sức mạnh cho mọi người và mọi tổ chức trên hành tinh để đạt được nhiều thành tựu hơn”.Sứ mệnh mới này làm sáng rõ tầm nhìn của ông đối với công ty và đặc biệt dễ hiểu hơn sứ mệnh mà người tiền nhiệm Steve Ballmer từng đặt ra tạo ra một gia đình các thiết bị và dịch vụ cho các cá nhân và doanh nghiệp để trao quyền cho mọi người trên khắp thế giới ở nhà, nơi làm việc và trên đường đi, cho các hoạt động giá trị nhất. Sứ mệnh trên của Nadella được xây dựng trên một vài khẩu hiệu marketing ở Microsoft mà ông đưa ra kể từ khi ông nhậm chức hồi tháng Hai năm 2014. Ví dụ, cá nhân hơn máy tính đó là cách Microsoft chấp nhận cho tất cả mọi người kết nối các thiết bị với nhau qua Internet. Giải pháp này là một trong những chiến lược cốt lõi mà Nadella tin rằng nó sẽ giúp Gã khổng lồ phần mềm trở thành nhân vật chính trong thế giới điện thoại di động đầu tiên, điện toán đám mây đầu tiên. Trong thư gửi nhân viên, Nadella vạch rõ chiến lược mới của Microsoft với ba hướng chủ lực. Thứ nhất và trên hết, Microsoft sẽ “tái sáng tạo các dịch vụ năng suất trong thế giới số, có khả năng chạy trên mọi thiết bị”, và điều đó sẽ hấp dẫn khách hàng cả trong công việc và đời sống thường ngày. Những trải nghiệm này sẽ được hỗ trợ bởi nền tảng điện toán đám mây của công ty, và được thể hiện tốt nhất với nền tảng thiết bị Windows. Để đạt được điều này, Nadella cho biết công ty cần “một nền văn hóa trong phát triển tư duy”. Trong lá thư của mình, ông nêu ra ba lĩnh vực Microsoft nên tập trung vào: “khách hàng trên hết”, “đa dạng và toàn diện”, và làm việc cộng tác trên tinh thần “One Microsoft”. Lĩnh vực cuối cùng chính là chiến lược trong kế hoạch tái cấu trúc Microsoft mà người tiền nhiệm Steve Ballmer đề xuất hồi năm 2013 nhằm gắn kết các bộ phận của công ty làm việc hợp tác cùng nhau. “Tôi tin rằng văn hóa không tĩnh tại. Nó diễn tiến hàng ngày dựa trên hành vi của tất cả mọi người trong tổ chức. Chúng ta đang ở vị trí không thể tin được để nắm lấy tăng trưởng mới trong năm nay.Chúng ta cần đổi mới trong các lĩnh vực mới, hoàn thành các kế hoạch, đưa ra một số quyết định khó khăn trong các lĩnh vực không hiệu quả và xử lý các vấn đề khó để gia tăng giá trị cho khách hàng”.Đó là những gì mà ông Nadella muốn gửi tới nhân viên của mình. Đặt mục tiêu chiếm lĩnh thị trường là trên hết, Microsoft đã xác định một chính sách có thể gọi là: sẵn sàng trả giá gây rủi ro lợi nhuận để làm tăng thị phần của công ty. Tinh thần này ngấm vào mọi nhân viên của công ty động viên họ chấp nhận mọi rủi ro trong cuộc đấu tranh. Về hệ thống các giá trị Các giá trị của mỗi nhân viên trong Microsoft phải tỏa sáng trong mọi mối tương tác. Chính trực và trung thực: sự chính trực và trung thực có thể được thể hiện theo nhiều cách. Sự chính trực và trung thực không chỉ được thể hiện trong tình huống đặc biệt mà còn trong tất cả các quyết định hàng ngày của mỗi nhân viên. Là nhân viên, mỗi người đều phải lỗ lực vì sự xuất sắc ngay cả khi không có ai nhìn vào. Cởi mở tôn trọng: những người cởi mở và tôn trọng người khác hiểu rằng cách hoàn thành công việc cũng quan trọng như chính công việc đó. Chính vì vậy mỗi nhân viên của Microsoft không bao giờ hành động theo cách có thể bị coi là đe dọa, không khoan dung hoặc phân biệt đối xử. Tinh thần trách nhiệm: mỗi nhân viên đều giữ đúng lời hứa và chịu trách nhiệm về những cam kết mà mình đưa ra. Niềm tin trong mỗi nhân viên được tạo dựng theo thời gian chỉ bằng cách này. Trung thực và có trách nhiệm. Đam mê: sự đam mê có ở khắp nơi khi bạn nhìn vào Microsoft. Mỗi nhân viên đều có tâm huyết với công nghệ và những gì mà công nghệ giúp khách hàng của họ làm được. Mỗi nhân viên đều nỗ lực đáp ứng kỳ vọng của khách hàng và đối tác về chất lượng, tính bảo mật, quyền riêng tư, độ tin cậy và sự chính trực trong kinh doanh. Thách thức lớn: ngay từ đầu Microsoft đã cố gắng vượt qua những thách thức lớn. Thách thức lớn không liên quan đến một công việc cụ thể mà liên quan tới tầm nhìn, nghị lực và sự dũng cảm trong con người mỗi nhân viên. Tự phê bình: sự cống hiến vì chất lượng của Microsoft không chỉ dành riêng cho sản phẩm. Mỗi nhân viên đều hoàn thiện chính mình theo thời gian, liên tục hỏi bản thân và đồng nghiệp: “ tôi có thể làm gì tốt hơn? Lần sau, tôi có thể làm tốt hơn như thế nào?”. 2.2. Đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội. 2.2.1. Đạo đức kinh doanh. Microsoft cam kết tuân thủ đầy đủ các luật và quy định liên quan khi thực hiện kinh doanh: Tuân thủ các quy định quản lý về kinh doanh, cũng như tất cả các luật và quy định liên quan về xuất khẩu, tái xuất, và nhập khẩu, trong việc thực hiện kinh doanh, chấp hành đầy đủ pháp luật về chống độc quyền và cạnh tranh lành mạnh, không tham gia vào các hoạt động tẩy chay quốc tế không được phê chuẩn bởi chính phủ Hoa Kỳ hay pháp luật được áp dụng, không tham gia vào bất kỳ hoạt động hối lộ hoặc lót tay nào, cho dù khi làm việc với công chức hay cá nhân trong mảng tư nhân. Microsoft cam kết thực hiện các tiêu chuẩn ứng xử quy định trong Đạo luật Chống Tham nhũng tại Nước ngoài của Hoa Kỳ (FCPA) và pháp luật về chống tham nhũng và chống rửa tiền tại các quốc gia mà Microsoft có hoạt động. Microsoft cam kết về nhân quyền và bình đẳng về cơ hội tại nơi làm việc, cụ thể như sau: (1) Không có sự quấy rối và phân biệt đối xử bất hợp pháp tại nơi làm việc, thừa nhận và tôn trọng sự khác biệt về văn hóa, Tôn trọng các quyền tự do lập hội và thương lượng tập thể của người lao động theo yêu cầu của pháp luật. (2) Chỉ sử dụng lao động tự nguyện, không sử dụng lao động trẻ em, không kỷ luật hoặc ngược đãi về thể chất, đe doạ lạm dụng thể chất, quấy rối tình dục hoặc các các hành vi quấy rối khác, và ngược đãi bằng lời nói hoặc các hình thức hăm dọa khác. (3) Không yêu cầu người lao động làm việc nhiều hơn số giờ làm việc tối đa của một ngày lao động như được quy định bởi luật hoặc quy định của địa phương và quốc gia. Trả các khoản tiền lương hợp pháp theo các điều kiện nhân đạo. Tất cả người lao động được cung cấp thông tin rõ ràng và bằng văn bản về điều kiện làm việc của họ cùng với tiền lương trước khi vào làm việc và khi cần thiết trong suốt thời gian làm việc của họ. Không trừ bất kỳ khoản tiền nào từ lương mà không được quy định bởi luật quốc gia hoặc địa phương khi không có sự đồng ý bằng văn bản của người lao động có liên quan. (4) Cung cấp một môi trường làm việc an toàn và lành mạnh và tuân thủ đầy đủ pháp luật, quy định và thực hành về an toàn và sức khỏe bao gồm những quy định áp dụng cho các lĩnh vực an toàn nghề nghiệp, sẵn sàng ứng phó trường hợp khẩn cấp, tai nạn và bệnh nghề nghiệp, vệ sinh công nghiệp, công việc yêu cầu cao về thể lực, bảo vệ quanh máy móc, vệ sinh môi trường, thực phẩm, và nhà ở.
Xem thêm

Đọc thêm

KỸ NĂNG GIAO TIẾP, văn hóa CÔNG sở tại UBND huyện như xuân

KỸ NĂNG GIAO TIẾP, văn hóa CÔNG sở tại UBND huyện như xuân

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1 MỞ ĐẦU 3 1. Lý do chọn đề tài 3 2. Mục tiêu của đề tài 4 3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4 4. Nguồn tài liệu tham khảo 4 5. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 4 6. Phương pháp nghiên cứu 4 7. Bố cục của đề tài 4 PHẦN 1: KHẢO SÁT CÔNG TÁC VĂN PHÒNG CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG XUÂN TỈNH THANH HÓA. 5 1.1. Giới thiệu chung về huyện Thường Xuân 5 1.2. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của UBND huyện Thường Xuân. 7 1.2.1. Chức năng 7 1.2.2. Nhiệm vụ, quyền hạn 8 1.3. Cơ cấu tổ chức của UBND huyện Thường Xuân. 12 1.3.1. Ban lãnh đạo. 12 1.3.2. Các Ủy viên UBND huyện: 12 1.3.3. Các phòng chuyên môn thuộc UBND huyện Thường Xuân: Gồm 13 phòng: 12 1.3.3. Sơ đồ cơ cấu tổ chức UBND huyện Thường Xuân (Phụ lục 01) 13 1.4. Khảo sát tình hình tổ chức, quản lí, hoạt động công tác hành chính của văn phòng UBND huyện Thường Xuân 13 1.4.1. Tổ chức và hoạt động của văn phòng 13 1.4.1.1. Chức năng, nhiệm vụ của văn phòng UBND huyện Thường Xuân. 13 1.4.1.2. Nhiệm vụ của các vị trí công việc trong văn phòng. 16 1.4.1.3. Cơ cấu tổ chức và vị trí việc làm: 20 1.4.1.4. Bản mô tả công việc ( Mục lục 03) 22 PHẦN 2: CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP: KỸ NĂNG GIAO TIẾP, VĂN HÓA CÔNG SỞ 23 CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA CÔNG SỞ 23 1.1.Khái niệm văn hóa công sở. 23 1.1.1.Khái niệm văn hóa 23 1.1.2. Khái niệm công sở. 24 1.1.3. Khái niệm văn hóa công sở. 24 1.1.4. Khái niệm giao tiếp công sở. 25 1.2 Các yếu tố cấu thành văn hóa công sở. 25 1.3. Đặc trưng, bản chất của văn hóa công sở. 26 1.4. Vai trò của văn hóa công sở. 27 CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG VĂN HÓA CÔNG SỞ TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG XUÂN 30 2.1. Thực trạng về Văn hóa công sở tại UBND huyện Thường Xuân 30 2.1.1. Ứng xử nơi công sở. 30 2.1.2. Khi giao tiếp điện thoại. 32 2.1.3. Trang phục nơi công sở. 32 2.1.4. Bài trí công sở. 33 2.1.4. Phong cách làm việc. 34 2.2. Nhận định chung về môi trường văn hóa công sở tại UBND huyện Thường Xuân. 35 2.2.1 Ưu điểm. 35 2.2.2. Hạn chế. 37 Chương 3. NHẬN XÉT VÀ GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG VĂN HÓA CÔNG SỞ 38 3.1. Ưu điểm 38 3.2. Hạn chế 39 3.3. Giải pháp và đề xuất kiến nghị 40 3.3.1. Xây dựng hệ thống giá trị văn hóa công sở chuẩn thông qua hệ thống các văn bản, cụ thể. 40 3.3.2. Thường xuyên đào tạo và tuyên truyền nâng cao nhận thức về văn hóa công sở cho cán bộ, công chức và nhân dân. 41 3.3.3. Tạo bầu không khí làm việc cởi mở thân thiện, xây dựng tác phong chuyên nghiệp. 42 3.3.4. Phát động phong trào cuộc vận động xây dựng văn hóa công sở. 43 3.3.5. Tăng cường việc kiểm tra giám sát việc thực hiện quy chế văn hóa công sở. Có các chế tài và hình thức khen thưởng đúng mức đối với việc thực hiện văn hóa công sở tại cơ quan. 43 3.3.6. Tuyên truyền nâng cao nhận thức về văn hóa công sở cho cán bộ lãnh đạo, đội ngũ cán bộ công chức và nhân dân. 44 PHẦN 3: KẾT LUẬN 45 1.1. Nhận xét, đánh giá chung về những ưu, nhược điểm trong công tác văn phòng của cơ quan. 45 1.1.1. Về công tác văn phòng 45 1.1.2. Về công tác Văn thư – Lưu trữ 47 1.1.3. Về công tác quản trị mạng 49 1.2. Những giải pháp để phát huy ưu điểm, khắc phục những nhược điểm. 50 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 55 PHẦN PHỤ LỤC
Xem thêm

Đọc thêm

TÍCH HỢP KIẾN THỨC NGỮ VĂN TRONG DẠY HỌC BÀI “PHONG CÁCH NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT” (NGỮ VĂN 10 TẬP 2)

TÍCH HỢP KIẾN THỨC NGỮ VĂN TRONG DẠY HỌC BÀI “PHONG CÁCH NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT” (NGỮ VĂN 10 TẬP 2)

1. Lý do chọn đề tài 1.1. Vai trò quan trọng của ngôn ngữ và của phân môn Tiếng Việt Cùng với lao động, ngôn ngữ cũng góp phần hình thành và phát triển xã hội loài người. Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp phổ biến và thuận lợi nhất, được coi là “sáng tạo kỳ diệu của loài người”. Ngôn ngữ còn là công cụ tổ chức quá trình tư duy, giúp tư duy phát triển. Mặt khác, ngôn ngữ đóng vai trò là một trong những yếu tố cơ bản cấu thành cộng đồng dân tộc, duy trì và phát triển truyền thống văn hóa của dân tộc. Với người Việt Nam, tiếng Việt là ngôn ngữ bản địa, góp phần duy trì sự thống nhất quốc gia, dân tộc. Bên cạnh chức năng giao tiếp, chức năng tư duy, ngôn ngữ còn có chức năng thẩm mĩ, là phương tiện để tạo nên cái đẹp – hình tượng nghệ thuật. Đề cao chức năng thẩm mĩ của ngôn ngữ, môn Tiếng Việt trong nhà trường được chú trọng để hướng nhiều vào nội dung dạy ngôn ngữ nghệ thuật, học Tiếng Việt trong các tác phẩm nghệ thuật, học Tiếng Việt để hiểu nghệ thuật văn chương. Do đó, việc dạy cho HS biết sử dụng ngôn ngữ một cách chính xác là mục tiêu vô cùng quan trọng. Cũng vì thế, Tiếng Việt đã trở thành phân môn có vị trí đặc biệt; không chỉ cung cấp những kiến thức, kĩ năng cơ bản để phát triển khả năng giao tiếp, giúp các em hiểu được những giá trị “chân – thiện – mĩ” trong văn học, trong cuộc sống, mà còn trang bị cho các em công cụ thiết yếu để học tốt các môn khoa học khác. Đây chính là lý do vì sao Tiếng Việt là môn học (phân môn) được dạy xuyên suốt từ bậc Tiểu học đến THPT.
Xem thêm

Đọc thêm

QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI TƯ DUY CỦA ĐẢNG VỀ XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA

QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI TƯ DUY CỦA ĐẢNG VỀ XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA

CHỦ ĐỀ 5: QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI TƯ DUY CỦA ĐẢNG VỀ XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA 1. ĐỊNH NGHĨA VỀ VĂN HÓA Văn hóa gắn liền với lịch sử. Có rất nhiều định nghĩa văn hóa, ở mỗi góc độ khác nhau lại có một cách tiếp cận khác nhau, định nghĩa khác nhau về văn hóa. Năm 1943 chủ tịch Hồ Chí Minh đã định nghĩa về văn hóa: ‘‘Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật khoa học tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng.Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa.Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn’’. Định nghĩa này có nội dung gần với định nghĩa văn hóa của UNESCO 1986. Trong chương này khái niệm về văn hóa được sử dụng theo nghĩa rộng: “Văn hóa Việt Nam là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình dựng nước và giữ nước”. Theo đó, Văn hóa định tính một xã hội, phân biệt cộng đồng này với cộng đồng khác. Có sự phát triển tự thân, gắn với mục đích sống, những giá trị vật chất và tinh thần của con người. ......
Xem thêm

Đọc thêm

PHÂN TÍCH CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA ĐẶC TRƯNG CỦA VĂN HÓA VIỆT NAM

PHÂN TÍCH CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA ĐẶC TRƯNG CỦA VĂN HÓA VIỆT NAM

học tập xưa và nay”; Triển lãm: “Văn Miếu - Quốc Tử Giám và cácdi tích Nho học Bắc Ninh”; Triển lãm: “Văn Miếu- Quốc Tử GiámThăng Long và thầy giáo Chu Văn An” tại Chí Linh…Trung tâm luôn chú trọng công tác bảo tồn, tôn tạo di tích, giáodục, phát huy truyền thống, nâng cao hiểu biết cho người dân ViệtNam nhất là các em học sinh, chú trọng công tác bảo vệ, an ninhtrật tự, giữ gìn cảnh quan, môi trường luôn xanh, sạch, đẹp; chấnchỉnh tình trạng chèo kéo khách ở cổng ra vào, tăng cường kết nốivới các Công ty Lữ hành để đưa đón khách; xây dựng các sản phẩmlưu niệm đặc thù về Văn Miếu- Quốc Tử Giám; nâng cao chấtlượng của đội ngũ thuyết minh “ lành nghề” … Khu di tích Đền ĐôKhu di tích lịch sử đền đô ở làng Đình Bảng (Bắc Ninh), nguyên làThái miếu nhà Lý, do Lý Thái Tông khởi công xây dựng năm 1030..Đây chính là nơi thờ các vị vua Nhà Lý. Đây là một trong nhữngđiểm hấp dẫn khách du lịch nhất ở bắc ninh.Hằng năm, vào ngày 15-3 âm lịch, kỷ niệm ngày Lý Thái Tổ đăngquang, nhân dân Đình Bảng lại tưng bừng mở hội, đón du khách trênmọi miền Tổ quốc về chung vui và dâng hương tưởng niệm các nhàvua Lý. Trong lễ hội, phần lễ được bắt đầu với nghi thức rước 10 cỗkiệu với sự tham gia của hàng nghìn người, hàng trăm đoàn đại biểu.Nghi thức rước được thực hiện theo nghi thức cổ, tất cả những ngườitrực tiếp tham gia đoàn rước đều mặc trang phục cổ.Phần hội cónhiều hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao phong phú như hát diễntuồng, giao lưu thơ, đấu vật, biểu diễn thái cực quyền, cờ tướng, cờngười, thả chim bồ câu, thi đấu bóng chuyền, cầu lông, thi nấu cơmniêu đất, gói bánh phu thê… Bên cạnh đó, du khách về dự hội đềnĐô còn được đắm mình trong những làn điệu quan họ đằm thắm, vãncảnh vùng đất Kinh Bắc, vừa khơi dậy lòng tự hào về cội nguồn phụchưng và thăng hoa của đất nước từ thuở Đại Việt. Rất nhiều các công
Xem thêm

19 Đọc thêm

KHẢO SÁT VẤN ĐỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP TẠI CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN VIỆT NAM TRÊN ĐỊA BÀN TRUNG TÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHẢO SÁT VẤN ĐỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP TẠI CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN VIỆT NAM TRÊN ĐỊA BÀN TRUNG TÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

1.Kết luậnQua quá trình khảo sát và phân tích, người làm đề tài rút ra những kết luận về tình hình VHDN của các Công ty Cổ phần Việt Nam hoạt động trên địa bàn khu vực trung tâm TP.HCM. Điểm mạnh Phần lớn các DN bước đầu đã quan tâm đến xây dựng và phát triển văn hóa của DN mình. Minh chứng phần lớn DN đều đã quan tâm đến các biểu trưng tạo nên bản sắc văn hóa của Công ty mình. Hầu hết các nhân viên của các Công ty đều quan tâm đến quan tâm đến VHDN của Công ty, phần lớn cảm thấy hài lòng và tự hào về Công ty của mình. Phong cách lãnh đạo ở các Công ty là rất đa dạng và linh hoạt trong từng hoàn cảnh cụ thể. Rất nhiều Công ty chú trọng đến việc xây dựng hệ thống những chuẩn mực đạo đức và giá trị của Công ty. Hầu hết các Công ty đều quan tâm đến quyền lợi chính đáng của khách hàng, quan tâm đến lợi ích xã hội và việc bảo vệ môi trường. Hạn chế VHDN của rất nhiều Công ty Cổ phần Việt Nam trên địa bàn TP.HCM còn trong tình trạng yếu và trung bình yếu. Chưa có sự đồng thuận giữa các nhân viên trong một Công ty về những giá trị văn hóa cũng như những chuẩn mực đạo đức của DN mình. Các DN chỉ mới bước đầu phát triển những biểu trưng văn hóa mà chưa tạo ra được sự đồng thuận và chia sẽ giữa các nhân viên. Nhân viên của Công ty chưa hiểu rõ những giá trị truyền thống, xứ mệnh, chiến lược kinh doanh cũng như những giá trị mà DN coi trọng. Cho nên, mặc dù nhiều nhân viên hài lòng với công việc đang làm nhưng họ không dám chắc sẽ gắn bó lâu dài với Công ty. Rất ít Công ty đưa ra thảo luận công khai, rộng rãi các hình thức vi phạm đạo đức và khen thưởng đối với các hành vi đạo đức đúng đắn.
Xem thêm

110 Đọc thêm

Đề tài SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA

Đề tài SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA

Đề tài SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA Lựa chọn đề tài SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA, chúng tôi cố gắng làm rõ những nét đặc sắc của văn hoá Nam Bộ được thể hiện trong truyện ngắn và tiểu thuyết của Nguyễn Ngọc Tư. Đồng thời chỉ ra những nét kế thừa và đóng góp mới của chị khi viết về mảnh đất Nam Bộ so với các nhà văn khác. Trên cơ sở tìm hiểu khái niệm văn hoá, các thành tố văn hoá và mối quan hệ giữa văn hoá và văn học, luận văn đi sâu vào nghiên cứu sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư dưới góc nhìn văn hoá. Từ vấn đề trung tâm, chúng tôi mở rộng các mặt biểu hiện cơ bản của sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư trong tính thống nhất giữa nội dung và hình thức. Triển khai luận văn này, chúng tôi khảo sát toàn bộ sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư, trong đó trọng tậm tập trung vào 6 tập truyện ngắn và một cuốn tiểu thuyết đầu tay của Nguyễn Ngọc Tư. Cụ thể như sau: Các tập truyện ngắn: 1.Ngọn đèn không tắt (Tập truyện ngắn, NXB Trẻ, 2000) 2.Biển người mênh mông (Tập truyện ngắn, NXB Kim Đồng, 2003) 3.Giao thừa (Tập truyện ngắn, NXB Trẻ, 2003) 4.Cánh đồng bất tận (Tập truyện ngắn, NXB Trẻ, 2005) 5.Gió lẻ và 9 câu chuyện khác (Tập truyện ngắn, NXB Trẻ, 2008) 6.Khói trời lộng lẫy (Tập truyện ngắn, NXB Thời đại, 2010) Tiểu thuyết: Sông (Tiểu thuyết, NXB Trẻ, 2012) 4.Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp phân tích, tổng hợp: vận dụng những hiểu biết về ngôn ngữ học, tự sự học, thi pháp học hiện đại... kết hợp với cảm thụ truyền thống để khảo sát và nhận định tác phẩm theo quan niệm, hiểu biết của mình. - Phương pháp so sánh, đối chiếu: Để chỉ ra những đặc điểm giống nhau cũng như những nét riêng, tiêu biểu về văn hoá Nam Bộ được thể hiện trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư, chúng tôi sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu sáng tác của chị với một số nhà văn lớp trước và đương thời. Từ đó, khẳng định đóng góp của chị với nền văn học Việt Nam hiện đại. - Phương pháp thống kê, phân loại: khảo sát các hiện tượng lặp lại ở một số các yếu tố thuộc về nội dung và hình thức của tác phẩm và dựa vào tần số xuất hiện của các yếu tố đó để khái quát và hệ thống thành những đặc điểm riêng, nổi bật dưới góc nhìn văn hóa trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư. 5. Những đóng góp mới của luận văn Luận văn là công trình khảo sát về sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn văn hoá - văn học. Chúng tôi không đặt nhiều tham vọng đưa ra những kiến giải mới khác với nhận định của các nhà nghiên cứu trước đó mà chỉ vận dụng những thành tựu đã có để đưa ra những đánh giá có tính chất cụ thể bước đầu theo một hướng mới. Hy vọng kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ đem lại một cái nhìn khái quát, đầy đủ hơn về sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư. Từ đó thấy được những giá trị nghệ thuật, những tìm tòi, đổi mới, vận động và phát triển của văn chương chị mang đậm bản sắc văn hóa của vùng quê Nam Bộ. 6.Cấu trúc của luận văn Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn được triển khai thành ba chương chính : PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: GIỚI THUYẾT VỀ NGHIÊN CỨU VĂN HỌC DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA VÀ NHỮNG YẾU TỐ HÌNH THÀNH VĂN HÓA NAM BỘ TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ 1. Giới thuyết về nghiên cứu văn học dưới góc nhìn văn hoá 1.1. Một số khái niệm 1.1.1. Văn hoá Văn hoá là một khái niệm đã có từ lâu đời và có nội hàm rất rộng. Theo A.L. Kroeber và C.L. Kluckhohn trong cuốn Văn hóa: cái nhìn phân tích về khái niệm và định nghĩa có khoảng hơn 200 định nghĩa về văn hóa. Sở dĩ số lượng định nghĩa văn hóa phong phú như vậy vì một phần văn hóa là một phạm trù hết sức rộng. Phần khác, mỗi nhà nghiên cứu xuất phát từ mục đích và phương pháp nghiên cứu của mình đều có quyền đưa ra một định nghĩa thích hợp. Sau đây, chúng tôi xin phép điểm qua một số định nghĩa về văn hóa tiêu biểu. Cụ thể như: Theo Từ điển tiếng Việt, tác giả Hoàng Phê (chủ biên) định nghĩa: “Văn hoá là: 1.Tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử. Kho tàng văn hoá dân tộc. Văn hoá Phương Đông. Nền văn hoá cổ. 2.Những hoạt động của con người nhằm thoả mãn nhu cầucủa đời sống tinh thần (nói tổng quát). Phát triển văn hoá. Công tác văn hoá 3.Tri thức, kiến thức khoa học (nói khái quát). Học văn hoá. Trình độ văn hoá. 4.Trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh. Sống có văn hoá. Ăn nói thiếu văn hoá. 5.Nền văn hoá của một thời kì lịch sử cổ xưa, được xác định trên cơ sở một tổng thể những di vật tìm thấy được có những đặc điểm giống nhau. Văn hoá rìu hai vai. Văn hoá gốm màu. Văn hoá Đông Sơn. Trong Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam, NXB TP Hồ Chí Minh, 1997, Trần Ngọc Thêm đã đưa ra định nghĩa: “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”. (Dẫn theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, nguồn:hptt://vi.wikipedia.org Theo Đỗ Lai Thuý trong Văn hoá Việt Nam nhìn từ mẫu người văn hoá, NXB Văn hoá Thông tin, trang 15 thì theo nghĩa rộng: “Văn hoá là tất cả những gì phi tự nhiên”. Tác giả cũng cho rằng, đây là định nghĩa khái quát nhất, rộng lớn nhất. Định nghĩa về văn hóa có tính chất cấu trúc luận, tác giả Phan Ngọc cho rằng: “Văn hoá là quan hệ. Nó là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng và thế giới thực tại. Quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của một tộc người, một cá nhân so với một tộc người khác, một cá nhân khác. Nét khác biệt giữa các kiểu lựa chọn làm cho chúng khác nhau, tạo thành những nền văn hoá khác nhau là độ khúc xạ”. UNESCO – Tổ chức khoa học và giáo dục Liên hợp quốc đã đưa ra định nghĩa về văn hoá như sau: “Văn hoá hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm, quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội. Văn hoá bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng”. Các quan điểm chỉ đạo của Đảng cộng sản Việt Nam về văn hoá: “Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội; nền văn hoá mà chúng ta xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam; xây dựng và phát triển văn hoá là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó đội Đề tài SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA Đề tài SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA Đề tài SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA Đề tài SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA Đề tài SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA
Xem thêm

Đọc thêm

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG THCS CỦA HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG THCS CỦA HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

đương đầu với những khó khăn, và cách vượt qua những khó khăn đó cũngnhư cách tránh những mâu thuẫn, xung đột, bạo lực giữa người và người.Tại Hàn quốc, học sinh tiểu học được học cách đối phó thích ứng với cáctai nạn như cháy, động đất, thiên tai... tại Trung tâm điều hành tình trạngkhẩn cấp Seoul.Tại Vỉẽt Nam, kỹ năng sống đang được quan tâm, tuy nhiên trong nhàtrường chủ yếu học sinh chỉ được dạy kỹ năng học tập và chính trị, còn việcgiáo dục kỹ năng sống chưa được quan tâm nhiều. Theo chuyên viên tâm lýHuỳnh Văn Sơn, cố vấn Trung tâm chăm sóc tinh thần Ý tưởng Việt: "hiệnnay, thuật ngữ kỹ năng sống được sử dụng khá phổ biến nhưng có phần bị"lạm dụng" khi chính những người huấn luyện hay tổ chức và các bậc cha mẹcũng chưa thật hiểu gì về nó". Theo Vụ trưởng Vụ Công tác Học sinh Sinhviên (Bỏ Giáo Duc và Đào tao) Phùng Khắc Bình, trong tương lai và về lâudài cần xây dựng chương trình môn học giáo dục kỹ năng sống cho học sinhlóp 1 đến lóp 12.11Đến năm 1979 Bộ Chính trị và T ư Đảng CSVN đã ra Nghị quyết cảicách giáo dục, theo đó : “Nội dung đạo đức cần được giáo dục cho học sinh từmẫu giáo đến đại học, nội dung chủ yếu dựa vào 5 điều Bác Hồ dạy. Tiếp sauđó có nhiều nhà khoa học, giáo dục là tác giả nghiên cứu về vấn đề giáo dụcđạo đức, kĩ năng sống cho học sinh như : Hà Nhật Thăng viết bài “Thực trạngđạo đức, tư tưởng chính trị, lối sống của Thanh niên - Học sinh - Sinh viên” Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 39/2002. Đặng Quốc Bảo có bài “Những vấnđề cơ bản về quản lý giáo dục”, Hà Nội, 1998. Nguyễn Thanh Bình tác giảcủa “Giáo trình chuyên đề Giáo dục kỹ năng sống”, Hà Nội, 2011...Trong giai đoạn hiện nay của đất nước ta, đang trong quá trình hội nhậpvới quốc tế và khu vực, việc giáo dục nhân cách học sinh là nhiệm vụ, là mụctiêu cơ bản của sự nghiệp giáo dục đào tạo.
Xem thêm

46 Đọc thêm

BAI VIET DU HOI THAO GD KY NANG SONG DHTG

BAI VIET DU HOI THAO GD KY NANG SONG DHTG

Nói t óm l ại, KNS là khả năng để mỗi người có thể ứng phó một cách thíchhợp, chắc chắn với từng điều kiện kinh tế, xã hội và văn hóa khác nhau.3. Vài ý kiến về việc giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên:Qua những quan niệm về kỹ năng sống, có thể rút ra một số điều cơ bản vềvấn đề giáo dục kỹ năng sống:+ Kỹ năng sống là điều cần thiết cho mọi người ở mọi lứa tuổi. Đối với lứatuổi học sinh sinh viên, điều này càng cần thiết vì đây là lứa tuổi chuẩn bị vào đời,tham gia hoạt động của xã hội với tư cách những người trưởng thành.5+ Việc giáo dục kỹ năng sống là việc cần được tiến hành thường xuyên, liêntục, phù hợp với đặc điểm về tâm sinh lý lứa tuổi, hoàn cảnh, hoạt động của từngloại đối tượng cụ thể.Với ý nghĩa đó, việc giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên các trường đạihọc, cao đẳng là một việc làm cấp thiết hiện nay nhằm giúp cho họ có những nănglực cần thiết để vào đời và thành đạt trong công việc, trong cuộc sống.Do KNS thuộc phạm trù năng lực ( kỹ năng hiểu theo nghĩa rộng ), cho nênviệc giáo dục KNS cho sinh viên ở các trường đại học, cao đẳng cũng mang tínhlinh hoạt, mềm dẻo và có thể được tiến hành dưới nhiều hình thức, thông qua nhiềukênh hoạt động khác nhau. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin đề xuất mộtvài hình thức hoạt động mang tính chất tham khảo:+ Hiện nay đã có nhiều website có nội dung chuyên về giáo dục KNS như:kynangsong.org, kynang.edu.vn…và nhiều website cá nhân ( blog ) của giáo viêncũng tham gia khá hiệu quả trong lĩnh vực này.+ Tổ chức các câu lạc bộ kỹ năng sống ở các trường đại học, cao đẳng trongđó nên có một số hoạt động như :- Diễn đàn thanh niên về kỹ năng sống;- Các lớp tập huấn nhằm giới thiệu,nâng cao nhận thức, hiểu biết và ý
Xem thêm

6 Đọc thêm

Triết lý cải cách của nguyễn trường tộ và ý nghĩa của nó dối với sự nghiệp đổi mới ở việt nam tiểu luận cao học

Triết lý cải cách của nguyễn trường tộ và ý nghĩa của nó dối với sự nghiệp đổi mới ở việt nam tiểu luận cao học

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Các tư tưởng cải cách trong lịch sử dân tộc đều có những giá trị thời đại nhất định và do đó, có mối liên hệ biện chứng với sự phát triển của Việt Nam hiện nay. Công cuộc đổi mới đất nước đã đi được chặng đường 25 năm. Rất nhiều thành tựu về kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục đạt được sau khoảng thời gian này đã khẳng định tính đúng đắn của sự nghiệp đổi mới đất nước. Tuy nhiên, nhiều vấn đề bất cập cũng đã xuất hiện và bộc lộ ngày càng rõ nét, gây cản trở quá trình phát triển đất nước theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Thực tiễn ấy đòi hỏi các nhà lý luận cần có những nghiên cứu tổng kết, đánh giá khách quan nhằm, một mặt, khắc phục, điều chỉnh những bất cập nảy sinh trong quá trình tiến hành công cuộc đổi mới; mặt khác, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện triết lý phát triển của Việt Nam trong thời đại mới. Trong quá trình xây dựng triết lý phát triển hiện nay ở nước ta, việc nghiên cứu các giá trị tư tưởng cải cách trong lịch sử dân tộc, xem xét những kết quả và bài học kinh nghiệm từ quá khứ nhằm tìm ra những hạt nhân hợp lý là một điều không thể bỏ qua, bởi giữa truyền thống và hiện đại luôn có mối quan hệ biện chứng với nhau. Trong các tư tưởng cải cách đó, rất đáng kể là tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ. Từ khi nhà tư tưởng cải cách xuất sắc Nguyễn Trường Tộ qua đời cho đến nay đã trải qua 140 năm. Đó là một thời gian đủ dài để có thể đưa ra một sự đánh giá đầy đủ và khách quan về tư tưởng cải cách của ông, cũng như giá trị của nó đối với tiến trình lịch sử. Toàn bộ các đề nghị cải cách của Nguyễn Trường Tộ đã thể hiện bốn phương diện đổi mới cơ bản trong tư duy, đó là tư duy chính trị mới, tư duy ngoại giao mới, tư duy kinh tế mới và tư duy văn hóa giáo dục mới. Không những thế, Nguyễn Trường Tộ còn đóng góp nhiều phương pháp mới trong việc tiếp cận và nghiên cứu khoa học, đặc biệt là triết học. Nguyễn Trường Tộ không chỉ là một nhà cải cách nổi tiếng, một người Công giáo yêu nước tha thiết, mà còn là một nhà tư tưởng lớn của Việt Nam trong thế kỷ XIX. Mặc dù bị hạn chế bởi thế giới quan duy tâm tôn giáo, nhưng Nguyễn Trường Tộ đã có những tư tưởng triết học đặc sắc về nhân sinh, xã hội… so với các nhà tư tưởng Việt Nam cùng thời. Bên cạnh đó, ông còn đưa ra không ít những kiến nghị trong nhiều lĩnh vực, từ khoa học tự nhiên đến khoa học xã hội, quốc phòng, ngoại giao… Đã có nhiều nghiên cứu về Nguyễn Trường Tộ và khẳng định ông là người có tư duy vượt thời đại, đồng thời là một người công giáo yêu nước. Sở dĩ như vậy là vì, có những điều ông viết cách đây đã hơn 150 năm mà đến nay vẫn còn đậm tính thời sự, như chống tham nhũng, buôn lậu, mở cửa đầu tư với nước ngoài, về việc cải cách giáo dục… Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình là “Triết lý cải cách của Nguyễn Trường Tộ và ý nghĩa của nó dối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam’’.
Xem thêm

Đọc thêm

Báo cáo kiến tập quản lý văn hóa tại HUYỆN văn QUAN TỈNH LẠNG sơn

Báo cáo kiến tập quản lý văn hóa tại HUYỆN văn QUAN TỈNH LẠNG sơn

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN 1 PHẦN MỘT. GIỚI THỆU CHUNG VỀ CƠ QUAN KIẾN TẬP 2 1. Thành Lập 2 2. Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan 3 PHẦN HAI. TÓM TẮT QUÁ TRÌNH KIẾN TẬP 7 I. Những quy định chung , mục đích và phương pháp kiến tập 7 1. Những quy định chung : 7 2. Thời gian kiến tập : 8 3. nhật ký kiến tập : 8 III. Tự nhận xét đánh giá bản thân qua quá trình kiến tập 9 1. Ưu điểm 9 2. Hạn chế 9 PHẦN BA. BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ 10 MỞ ĐẦU 10 1. Lý do chọn đề tài 10 2. Mục đích nghiên cứu 11 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11 4. Phương pháp nghiên cứu 11 5. Đóng góp của đề tài 11 6. Bố cục của đề tài 12 CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN KINH TẾ VĂN HÓA XÃ HỘI VÀ CON NGƯỜI Ở HUYỆN VĂN QUAN TỈNH LẠNG SƠN 13 I. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên: 13 1.Vị trí địa lý: 13 2. Địa hình: 13 3. Khí hậu: 13 4. Kinh tế Văn hóa : 13 5. Con người và lịch sử cư trú 14 6. Mối quan hệ giữa các dân tộc 15 7. Đời sống văn hóa của người tày 15 CHƯƠNG 2: PHONG TỤC LỄ CƯỚI CỦA DÂN TỘC TÀY Ở KHU VỰC HUYỆN VĂN QUAN, TỈNH LẠNG SƠN 17 CHƯƠNG 3: GIÁ TRỊ, GIẢI PHÁP, BẢO TỒN,TRONG LỄ CƯỚI TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC Ở HUYỆN VĂN QUAN TỈNH LẠNG SƠN 27 I. Giá trị văn hóa. 27 1. Giá trị văn hóa tinh thần. 27 2. Giá trị văn hóa xã hội. 27 3. Giá trị bản sắc văn hóa dân tộc. 28 4. Giá trị lịch sử. 28 5. Bảo tồn và phát huy lễ cưới truyền thống. 28 KẾT LUẬN 29 DANH MỤC THAM KHẢO 30 PHẦN 4 : KẾT LUẬN 31
Xem thêm

Đọc thêm

Cùng chủ đề