CÁC VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ CHO 15

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "CÁC VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ CHO 15":

Tăng cường thu hút FDI Hàn Quốc vào ngành Công nghiệp Phụ trợ Việt Nam

TĂNG CƯỜNG THU HÚT FDI HÀN QUỐC VÀO NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ VIỆT NAM

Chương I: Lý luận chung về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và vai trò của nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự phát triển ngành công nghiệp phụ trợ Chương II: Thực trạng thu hút FDI của Hàn Quốc vào ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam Chương III: Một số giải pháp tăng cường thu hút FDI Hàn Quốc vào ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam.

86 Đọc thêm

NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ VÀ CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ THUỘC NGÀNH CÔNG NGHỆP ĐIỆN TỬ

NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ VÀ CÔNGNGHIỆP PHỤ TRỢ THUỘC NGÀNH CÔNG NGHỆP ĐIỆN

nhưng theo chiều ngược lại. Mặt khác, hoạt động của các tổ chức cấu thànhkhông chỉ hỗ trợ riêng cho hoạt động sản xuất kinh doanh của tổ chức chủ đạonào đó, mà còn có thể hỗ trợ thêm cho các hoạt động của tổ chức sản xuất kinhdoanh khác có liên quan. Một cách tổng thể, những tổ chức nắm giữ vai trò chủđạo trong quá trình sản xuất kinh doanh trên có thể chỉ nắm giữ vai trò là các tổchức hoạt động trong các phân ngành của một ngành công nghiệp nào đó.Mô hình sản xuất thứ hai và thứ ba thường phát triển ở khu vực Đông Á,đặc biệt là Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan, rồi gần đây là Trung Quốc và khuvực ASEAN.Nếu xét về tỷ lệ giá trị gia tăng trong nội bộ tổ chức thì thông thường tổchức nào có mức độ sản xuất tích hợp theo chiều dọc cao (cách thức một) thì cógiá trị gia tăng nội bộ cao hơn so với chiều ngang (cách thức hai, ba).Tuy nhiên cũng không thể phủ nhận hiệu quả của xu hướng tổ chức tổchức sản xuất tích hợp theo chiều ngang vì cách thức này dựa trên sự phân cônghợp tác sản xuất chặt chẽ, có mức độ chuyên môn hóa sâu, hoạt động và sửdụng hiệu quả nhiều nguồn lực từ tổ chức bên ngoài tổ chức chủ đạo, có khảnăng xử lý linh hoạt các biến động của thị trường, thay đổi mẫu mã nhanh vớichi phí giá thành thấp có khả năng cạnh tranh cao trong bối cảnh hội nhập, tự dohóa thương mại mạnh mẽ.Từ cách thức tổ chức thứ hai và thứ ba, dưới tác động của các tổ chức sảnxuất chủ đạo sẽ hình thành một loạt các cơ sở sản xuất vệ tinh, có nhiệm vụ sảnxuất những phụ tùng, nguyên liệu, linh phụ kiện, cấu kiện... được chuyên mônhóa cao về công nghệ sản xuất nhằm cung ứng cho nhà lắp ráp sản phẩm cuốinhững sản phẩm chất lượng với giá thành cạnh tranh cao.Đối với các cơ sở sản xuất vệ tinh này, trong quá trình sản xuất kinhdoanh, hoàn thiện, cải tiến công nghệ sản xuất của mình sẽ trở thành nhà sảnxuất, gia công các loại sản phẩm tương tự, cung ứng không chỉ riêng cho các tổchức sản xuất chủ đạo chính của mình mà còn có thể vươn ra đáp ứng nhu cầusản xuất của các tổ chức sản xuất khác.Vậy, công nghiệp phụ trợ (hay công nghiệp hỗ trợ) là hệ thống các nhà
Xem thêm

23 Đọc thêm

SỰ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ THUỘC NGÀNH CÔNG NGHIỆP ĐIỆN TỬ TRONG NHỮNG NĂM QUA

SỰ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ THUỘC NGÀNH CÔNG NGHIỆP ĐIỆN TỬ TRONG NHỮNG NĂM QUA

được đánh giá cao và hiện đang phải cạnh tranh rất gay gắt với các thương hiệu nổi tiếng nước ngoài. Tuy nhiên, chất lượng của một số sản phẩm điện tử mang thương hiệu Việt Nam (tivi, máy vi tính) đã đạt được mức ngang bằng với khu vực, một số các sản phẩm điện tử được sản xuất bởi các công ty liên doanh hoặc các công ty 100% vốn nước ngoài đã đạt được yêu cầu sản phẩm chất lượng cao. Công nghiệp điện tử hiện nay sử dụng trên 100.000 lao động với tốc độ thu hút nguồn nhân lực là 10%/năm, công việc chủ yếu tập trung vào lĩnh vực lắp ráp các loại sản phẩm điện tử tiêu dùng và các loại linh kiện điện tử xuất khẩu. Lao động có trình độ đại học tại các doanh nghiệp nhà nước chiếm tỷ lệ khá cao, từ 19-63%, trong khi tại các doanh nghiệp FDI chỉ từ 4-10%. Lao động Việt nam trong ngành công nghiệp điện tử , nhất là lao động trực tiếp, nhìn chung được các nhà đầu tư nước ngoài đánh giá cao về kỹ năng. 2.1.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến công nghiệp phụ trợ thuộc ngành điện tử của Việt Nam Với sự phân công lao động trên toàn thế giới như hiện nay, khu vực Đông Á đang là vùng đất tốt nhất cho sự phát triển của ngành công nghiệp điện tử, mặt khác việc tiêu dùng các loại máy móc đồ điện tử gia dụng, điện tử, nhiều ngành thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin phần cứng như điện thoại di động và các linh kiện của các sản phẩm điện tử có nhu cầu ngày càng lớn trên thế giới. Công nghệ trong ngành này lại dễ lan nhanh sang các nước khác nên những nước có nguồn lực lao động dồi dào, khéo tay và nhân công rẻ dễ trở thành những cứ điểm sản xuất có sức cạnh tranh lớn. Việt Nam là một nước rất có triển vọng cạnh tranh trong lĩnh vực này nhưng vẫn chưa trở thành một trong những nơi sản xuất chính tại Châu Á. Trong 15 năm qua, các cứ điểm sản xuất các sản phẩm trên cứ liên tục chuyển nhanh (theo mô hình đàn sếu bay) từ Nhật Bản sang Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, sau đó sang Malaixia và Thái Lan và gần đây là Indonexia và Trung Quốc. Công nghiệp phụ trợ điện tử bao gồm rất nhiều chủng loại mặt hàng, những loại có hàm lượng công nghệ cao thì Nhật và các nước NICs còn duy trì cạnh tranh vì họ có công nghệ tốt và vẫn đem lại giá
Xem thêm

36 Đọc thêm

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở HÀ NỘI

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở HÀ NỘI

Phát triển các khu công nghiệp đang là một hiện tợng nổi bật trong nền kinh tế đất nớc và đang đợc các địa phơng cả nớc ra sức đẩy mạnh trong những năm gần đây. Là một trong những địa phơng tích cực tiên phong, tham gia vào việc phát triển các khu công nghiệp nhằm phát triển kinh tế công nghiệp, Hà Nội đã tích cực xây dựng và phát triển các khu công nghiệp của mình. Tuy nhiên bài toán khu công nghiệp Hà Nội và hiệu quả vẫn đang là một vấn đề mang tính chiến lợc và cấp thiết đợc đặt ra. Đòi hỏi mỗi doanh nghiệp, mỗi cấp ngành quản lý phải trăn trở và tìm những giải pháp để gia tốc phát triển kinh tế công nghiệp của đất nớc. Nó cũng đòi hỏi phải có những nhận thức đúng đắn về vai trò và tầm quan trọng to lớn của việc phát triển các khu công nghiệp. Chính vì vậy, đợc sự hớng dẫn của thầy giáo Trơng Đức Lực và với nhận thức của bản thân em đã mạnh dạn chọn đề tài Một số vấn đề về phát triển các khu công nghiệp ở Hà Nội. Đề án có nhiệm vụ chủ yếu là tìm hiểu các khu công nghiệp trên địa bàn Hà Nội, sự cần thiết và khả năng phát triển của chúng hiện tại cũng nh tơng lai.Nội dung đề án gồm ba phần:2Đề án KT & QLCN I. Những vấn đề chung về khu công nghiệpII. Thực trạng xây dựng và phát triển các khu công nghiệp ở Hà NộiIII. Một số giải pháp và kiến nghị Do điều kiện thời gian cũng nh trình độ lí luận, nhận thức còn hạn chế nên bài viết này của em không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em mong đợc sự góp ý của thầy cô giáo để bài viết của em hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Th.S Trơng Đức Lực đã tận tình giúp đỡ em thực hiện đề án này! Hà Nội ngày 10/ 5/ 2003
Xem thêm

25 Đọc thêm

PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ - THỰC TRẠNG, ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP

PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ - THỰC TRẠNG, ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP

CNPT. Xây dựng và thực hiện các chương trình dự án hỗ trợ công nghệ chocác doanh nghiệp thông qua chuyên gia công nghệ hoặc các công ty FDI.Một số nước phát triển, đặc biệt là Nhật, có chương trình xúc tiến chuyểngiao công nghệ cho các DNNVV tại các nước đang phát triển. Việt Nam nênđặc biệt tiếp nhận nhanh sự hỗ trợ này để nhanh chóng tăng khả năng cungcấp các mặt hàng CNPT hiện có, nhất là các mặt hàng đang sản xuất tại cácDNNN.- Cho rà soát lại các cơ sở sản xuất các ngành phụ trợ tại các công ty nhànước, ưu tiên cấp vốn và tạo các điều kiện khác để đổi mới thiết bị, thay đổicông nghệ tại những cơ sở đã có quy mô tương đối lớn. Lập chế độ tư vấnkỹ thuật và quản lý để mời các chuyên gia nước ngoài vào giúp thay đổicông nghệ và cơ chế quản lý tại từng DNNN vừa nói.2.3. Các giải pháp về hạ tầng cơ sở để phát triển CNPT- Đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện các cơ sở giao thông, vận tải như các bếncảng, sân bay, đường sắt, đường bộ, giao thông đô thị. Hình thành các khotàng, điểm tập trung hàng hoá ở các vùng kinh tế trọng điểm để gia tăng điềukiện phát triển công nghiệp;- Tập trung xây dựng một số khu, cụm CNPT có trang thiết bị, công nghệtiên tiến gắn với các vùng có các ngành công nghiệp chính phát triển. Dồnhết mọi khả năng để kêu gọi FDI đầu tư vào việc sản xuất trong các ngànhCNPT. Cụ thể là chỉ định một số khu công nghiệp để ưu tiên giải quyết ngayvà triệt để các mặt về hạ tầng, về thủ tục hành chính, về cung cấp nguồnnhân lực cần thiết, v.v… và đặt ra các đội chuyên trách thường xuyên theodõi hoạt động đầu tư của doanh nghiệp nước ngoài để phát hiện ngay cácvướng mắc và giải quyết ngay.2.4. Các giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực- Tăng cường đào tạo cán bộ kỹ thuật các ngành thiết kế, chế tạo máy, luyệnkim, điều khiển tự động, điện tử tin học để làm chủ các công nghệ đượcchuyển giao, nghiên cứu thiết kế tạo ra công nghệ nguồn và kiểu dáng sảnphẩm riêng của Việt Nam;
Xem thêm

13 Đọc thêm

PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ Ô TÔ GIẢI PHÁP VÀ BƯỚC DI

PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ Ô TÔ GIẢI PHÁP VÀ BƯỚC DI

đã đạt ngưỡng này và trở thành nhà xuất khẩu linh kiện cho nhiều hãng ôtô danh tiếng trên thế giới và các nước đó ngày càng thu hút thêm nhiều nhà ĐẦU TƯ VÀO ĐỂ PHÁT TRIỂN CÔNG nghiệp ph[r]

3 Đọc thêm

PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ Ô TÔ Ở VIỆT NAM

PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ Ô TÔ Ở VIỆT NAM.DOC

phụ liệu, phát huy ảnh hưởng của tác động “lan toả” trong phát triển hệ thống công nghiệp, góp phần tạo thêm việc làm và thu nhập cho người lao động;mở rộng khả năng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào phát triển công nghiệp.Việc phát triển công nghiệp phụ trợvấn đề phức tạp trong hoạch định chiến lược phát triển công nghiệp của mỗi quốc gia.Bỏi vì nó đóng vai trò xử lý mối quan hệ giữa một ngành công nghiệp với các ngành phụ trợ của nó,mà vấn đề này là vấn đề hết sức phức tạp.Mỗi quốc gia có cách thức riêng trong việc giải quyết mối quan hệ này.Với các nước 5đang trong quá trình công nghiệp hóa,khi nguồn lực còn hạn hẹp,quy mô các ngành kinh tế còn nhỏ bé,việc giải bài toán quan hệ giữa phát triển khu vực công nghiệp phụ trợ và khu vực hạ nguồn lại càng phức tạp.Do vậy yêu cầu cần phải phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển khu vực công nghiệp phụ trợ,như vậy sẽ tạo ra lập luận cứ khoa học để lựa chọn chiến lược phát triển công nghiệp thích hợp.Thực tế cho thấy rằng,một nước có nền công nghiệp phát triển thường gắn vơí ngành CNPT phát triển.Bởi vì CNPT là ngành công nghiệp hỗ trợ cho việc sản xuất một loại sản phẩm cuối cùng nhất định.Khi một ngành công nghiệp có đủ các yếu tố đầu vào cho sản xuất sản phẩm cuối cùng thì việc hoàn thiện nó sẽ có thể nhanh hơn những sản phẩm mà không có đủ các yếu tố để sản xuất, để hoàn thành nó.Mặc dù vậy việc tìm nhà cung ứng về các sản phẩm phụ trợ để phục vụ cho việc sản xuất là một vấn đề khó khăn khi đầu tư vào các nước đang trong quá trình công nghiệp hóa.Có thể là ngành công nghiệp phụ trợ ở các nước này chưa phát triển hoặc là không đáp ứng yêu cầu về sản phẩm phù trợ phục vụ cho việc sản xuất.Như khi công ty Canon muốn đầu tư vào VN nhưng mà việc sản xuất các linh kiện,phụ tùng trong nước vẫn không thể đáp ứng cho việc sản xuất của DN này,do vậy chúng ta vẫn phải thuê gia công hoặc nhập khẩu linh kiên từ nước ngoài vào. Như vậy,rõ ràng là việc phát triển công nghiệp phụ trợ có vai trò cực kỳ quan trọng trong chính sách phát triển công nghiệp của một quốc gia6II ) Tổng quan về công nghiệp phụ trợ ôtô1) Khái quát công nghiệp phụ trợ ôtô
Xem thêm

26 Đọc thêm

THỰC TRẠNG VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGHÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ Ở VIỆT NAM

THỰC TRẠNG VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGHÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ Ở VIỆT NAM

Á trung và dài hạn, hay để chỉ các SMEs “sản xuất linh phụ kiện”. Mục đích củaMITI tại thời điểm đó là thúc đẩy quá trình CNH và phát triển các SMEs ở các nướcASEAN, đặc biệt là ASEAN 4, gồm Inđônêxia, Malayxia, Philipines và Thái Lan.Từ năm 1987, các nước Châu Á đã bắt đầu biết đến và sử dụng thuật ngữCNPT, đó là nhờ “ Kế hoạch phát triển Công nghiệp Châu Á mới” (New AID Plan).Đây là một chương trình hợp tác kinh tế toàn diện ba phương diện : viện trợ, đầu tưvà thương mại. Cũng trong khuôn khổ của kế hoạch này, chương trình “ Phát triểnCNPT Châu Á” ra đời năm 1993 nhằm giải quyết các vấn đề về thâm hụt thươngmại, thiếu hụt lao động chuyên nghiệp ở các nước ASEAN 4 và thúc đẩy quan hệhợp tác công nghiệp giữa Nhật Bản với các nước này. Trong chương trình này,CNPT mới chính thức được định nghĩa là “các ngành công nghiệp cung cấp nhữnggì cần thiết như nguyên vật liệu thô, linh phụ kiện và hàng hoá Tư bản cho nhữngngành công nghiệp lắp ráp”2. Như vậy có thể thấy phạm vi định nghĩa của kháiniệm đã được mở rộng : từ các SMEs tới công nghiệp sản xuất hàng hoá trung gianvà hàng hoá tư bản cho ngành công nghiệp lắp ráp mà không phân biệt quy mô DN.Mặc dù thuật ngữ CNPT mới xuất hiện từ thập niên 1980 cùng với dòngchảy FDI từ Nhật Bản sang các nước ASEAN 4, song thực tế thì ngành công nghiệpchuyên sản xuất linh phụ kiện đã xuất hiện từ lâu, gắn với quá trình chuyên mônhoá trong sản xuất và được gọi là hình thái xuất hiện cuả CNPT trong quá khứ 3.Theo đó, khi quy mô sản xuất của một công ty lớn lên tất yếu kéo theo mức độ phứctạp hoá trong sản xuất sản phẩm (sản phẩm đòi hỏi nhiều chức năng mới hơn, kỹthuật trong từng công đoạn cần được tăng cường và chuyên môn hoá). Điều này dẫn1Từ tháng 01/2001, MITI đã đổi tên thành METI- Bộ Kinh tế, Thương mại và Côngnghiệp Nhật Bản2Trích từ hiệp hội các doanh nghiệp hải ngoại Nhật Bản JOEA
Xem thêm

20 Đọc thêm

PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ

PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ

được các công ty đa quốc gia đầu tư trực tiếp sản xuất các loại hàng điện tử giadụng, các sản phẩm của công nghệ thông tin phần cứng như máy tính cá nhân,điện thoại di động, các loại xe hơi, xe máy, v.v…Việc thiếu ngành CNPT còn làm tăng nhập siêu. Theo các chuyên gia kinh tế,việc thiếu ngành CNPT dẫn đến trong cơ cấu nhập khẩu, nguyên vật liệu sản xuấtchiếm tỉ trọng lớn, đặc biệt là các ngành dệt may, da giày, điện tử, gỗ... phải nhậpnguyên, phụ liệu từ 70%-90%.Ngoài ra, theo phân tích của các chuyên gia, trong những năm gần đây, tuytốc độ phát triển của công nghiệp Việt Nam vẫn duy trì ở mức trên 16%/nămnhưng chất lượng tăng trưởng đã bộc lộ nhiều vấn đề. Sự yếu kém của CNPTnhững năm qua đã trở thành một trong những nguyên nhân quan trọng nhất khiếntỷ lệ giá trị gia tăng trong giá trị sản xuất của toàn ngành công nghiệp nước ta đãvà đang có xu hướng giảm. Nghiên cứu của Viện Nghiên cứu chiến lược chínhsách công nghiệp (Bộ Công Thương) cho thấy, tỷ lệ giá trị gia tăng trong giá trịsản xuất của toàn ngành công nghiệp năm 1995 đạt 42,5%, đến năm 2000 giảmxuống còn 38,45%, năm 2005 là 29,63% và năm 2007 còn 26,3%.5 Tương tự, giátrị gia tăng của ngành công nghiệp cũng có chiều hướng đi xuống, năm 2007 là9,96% đến 2008 còn khoảng 8,3%6. Điều này được lý giải là do hệ quả của ngànhCNPT kém phát triển đã nói ở trên và hàm lượng chất xám thấp trong sản phẩmcủa Việt Nam.3. Nguyên nhân của các yếu kém3.1. Sự yếu kém và thiếu liên kết của bản thân các DNNguyên nhân của những yếu kém kể trên trước hết xuất phát từ sự kém năngđộng và nhạy bén của các nhà cung cấp Việt Nam trong việc tiếp cận khách hàng,chưa tự tin và chưa có khái niệm “xây dựng quan hệ” trong kinh doanh. Nhiềutrường hợp khách hàng lại là người tìm đến DN để đề nghị cung cấp sản phẩm.Sức cạnh tranh của các cơ sở sản xuất CNPT ở Việt Nam còn thấp, sự liênkết kinh doanh giữa các DN còn yếu, thiếu tính chuyên nghiệp, thậm chí nhiều DNcạnh tranh không lành mạnh, thiếu sự phối kết hợp giữa nhà sản xuất chính vớicác nhà thầu phụ cũng như giữa các nhà thầu phụ với nhau hay giữa các DN FDI
Xem thêm

34 Đọc thêm

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ NGÀNH Ô TÔ Ở VIỆT NAM

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ NGÀNH Ô TÔỞ VIỆT NAM

Trong bản quy hoạch tổng thể về phát triển ngành công nghiệp ô tô thì mụctiêu đề ra đối với lĩnh vực sản xuất xe buýt, xe khách và xe tải là đáp ứng đượckhoảng 40 – 50% nhu cầu thị trường trong nước về số lượng và đạt tỉ lệ nội địahoá 40% vào năm 2005, đáp ứng trên 80% nhu cầu thị trường trong nước và đạttỉ lệ nội địa hoá 60% vào năm 2006. Hiện nay, số lượng xe khách, xe buýt docác doanh nghiệp trong nước sản xuất đã đáp ứng được 30% nhu cầu thị trườngvới tỉ lệ nội địa hoá tới 50%. Ngoài ra, Tổng công ty công nghiệp ô tô Việt Namđã ký được hợp đồng xuất khẩu 300 chiếc xe buýt sang thị trường Dominica.Đối với xe tải, các doanh nghiệp trong nước đã sản xuất lắp ráp đáp ứng được85% nhu cầu thị trường và đạt tỉ lệ nội địa hoá khoảng 40%.Mục tiêu của bản quy hoạch để ra đối với lĩnh vực sản xuất các loại xe dulịch là phấn đấu đạt tỉ lệ nội địa hoá 20 – 25% vào năm 2005 và 40 – 45% vàonăm 2010. Việc đầu tư vào sản xuất xe du lịch chủ yếu do các doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài được cấp phép thực hiện. Khi làm thủ tục xin cấp phépđầu tư đã làm cam kết với Bộ kế hoạch đầu tư về tỉ lệ nội địa hoá đối với cácsản phẩm ô tô. Tuy nhiên, thực tế, tỉ lệ này đã không đạt được như đúng mụctiêu đã đề ra vì sản lượng tiêu thụ các loại xe do doanh nghiệp FDI sản xuất vàlắp ráp khá ít, bình quân chỉ đạt 5.000 – 10.000 xe/năm, chưa đủ quy mô kinh tếđể có thể đầu tư sản xuất các loại linh phụ kiện một cách có hiệu quả. Công nghiệp sản xuất phụ tùng ô tô tại Việt Nam là ngành mới nổi nên cơhội thì ít mà khó khăn thì nhiều, đặc biệt trong xu thế hội nhập và cạnh tranhhiện nay. Trong hơn 10 năm qua, Chính phủ đã có chủ trương bảo hộ cho cácliên doanh sản xuất ô tô, những hãng đã đưa ra cam kết ban đầu là sẽ nội địahoá 30% - 40% sau 10 năm đầu tư vào Việt Nam. Tuy vậy, cho đến nay, khôngmột doanh nghiệp nào thực hiện đúng như cam kết đấy. Tỉ lệ nội địa hoá củacác liên doanh sản xuất ô tô tại Việt Nam là rất thấp, mới chỉ đạt khoảng 5% -10% và chỉ cung cấp được vài sản phẩm đơn giản, giá trị thấp như: bộ dây điệntrong xe, ghế ngồi, một số chi tiết bằng nhựa hoặc kim loại …Phương pháp tính tỉ lệ nội địa hoá được sử dụng hiện nay là phương pháptính tỉ lệ nội địa hoá theo điểm, tức là toàn bộ phụ tùng linh kiện của một chiếc
Xem thêm

17 Đọc thêm

Một số giải pháp phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ trong chiến lược phát triển công nghiệp của Việt Nam

MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ TRONG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CỦA VIỆT NAM

sản phẩm cỗa ngành CNPT đối với ngành này là các nguyên liệu thép đã chế biến, phôi thép, Còn các sản phẩm cỗa ngành công nghiệp bổ trợ cho ngành thép không chỉ là những sản phẩm cỗa ngành công nghiệp phụ trợ mà còn bao gồm cả sản phẩm cỗa những ngành

89 Đọc thêm

MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ THUỘC NGÀNH CÔNG NGHIỆP ĐIỆN TỬ VN

MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ THUỘC NGÀNH CÔNG NGHIỆP ĐIỆN TỬ VN

3.2. Đề xuất các giải pháp phát triển công nghiệp phụ trợ cho ngành công nghiệp điện tử 3.2.1. Xây dựng cơ sở dữ liệu(CSDL) công nghiệp phụ trợ Một trong những nguyên nhân làm cho công nghiệp phụ trợ của Việt Nam không phát triển được đó là do khoảng cách về thông tin, bởi vậy thiết lập một cơ sở dữ liệu về công nghiệp phụ trợ là một giải pháp quan trọng giúp giải quyết vấn đề trên, giúp cho giao dịch giữa các nhà lắp ráp FDI và các nhà cung cấp được mở rộng, đồng thời khi có một cơ sở dữ liệu tốt sẽ giúp cho cả hai đối tác tiết kiệm được thời gian và chi phí giao dịch. Sơ đồ 3.1 sau sẽ chỉ rõ sự tiết kiệm về mặt thời gian khi có một cơ sở dữ liệu tốt cho công nghiệp phụ trợ. 2 đến 3 nămTìm kiếm ban đầuKiểm tra cơ sở sxĐánh giá mẫu Đặt hàng lần đầuĐặt hàng hàng loạtTìm kiếm ban đầuKiểm tra cơ sở sxĐánh giá mẫuĐặt hàng
Xem thêm

13 Đọc thêm

CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM BƯỚC VÀO HỘI NHẬP

CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM BƯỚC VÀO HỘI NHẬP

Trước hết là sức cạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp yếu; công nghiệp phụ trợ chưa phát triển; cơ cấu công nghiệp chưa hợp lý; hiệu quả đầu tư thấp; công nghệ kỹ thuật lạc hậu; trình[r]

3 Đọc thêm

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP KHAI THÁC VÀ CHẾ BIẾN ĐÁ VÔI TRẮNG

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP KHAI THÁC VÀ CHẾ BIẾN ĐÁ VÔI TRẮNG

Sau khi được tinh chế thì mỗi khoáng vật sẽ được biến chế thành kim loại dưới dạng nhiều chủng loại hợp kim và được đúc và cán thành nhiều dạng khác nhau: những thỏi lớn hay nhỏ, những tấm dày hay mỏng, những thanh có mặt cắt khác nhau, những chất đốt với đủ loại chỉ số octane và chất phụ gia. Từ mỗi dạng có thể sản xuất ra vô số sản phẩm trung gian và sản phẩm cuối cùng.Như vậy, khi có nhiều quặng trên một mỏ sẽ giúp các doanh nghiệp có thể tiết kiệm được chi phí trong quá trình khai thác, chỉ khai thác một mỏ nhưng lại thu được nhiều loại quặng khác nhau. Từ đó có thể làm tăng lợi nhuận cho các nhà đầu tư. Tuy nhiên nó cũng gây khó khăn cho quá trình phân loại quặng. Vì có nhiều quặng khác nhau nên phải mất nhiều thời gian và trải qua nhiều công đoạn để phân loại nó.2. Khái niệm, đặc điểm ngành công nghiệp khai thác và chế biến đá vôi trắng2.1. Khái niệm ngành công nghiệp khai thác và chế biến đá vôi trắngNhư chúng ta đã biết ngành công nghiệp khai thác, chế biến đá vôi trắng là một bộ phận trong ngành công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản. Chính vì vậy để đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020 thì việc phát triển ngành công nghiệp khai thác và chế biến đá vôi trắng cũng hết sức quan trọng và cần thiết. Chúng ta có thể tiếp cận ngành công nghiệp này theo định nghĩa sau:Ngành công nghiệp khai thác và chế biến đá vôi trắng là ngành kinh tế bao gồm công tác thăm dò các mỏ đá vôi trắng, xây dựng cơ bản các hầm mỏ, khai đào cho đến khâu phân loại và tinh lọc đá vôi trắng để có sản phẩm tinh chế dùng làm nguyên vật liệu trong các ngành kinh tế khác.2.2. Đặc điểm ngành công nghiệp khai thác và chế biến đá vôi trắng2.2.1. Địa điểm khai thácKhác với các ngành công nghiệp khác, ngành công nghiệp KT & CB đá vôi trắng thường thực hiện tại các mỏ đá vôi trắng. Trong khi đó các mỏ đá thường tập trung tại các khu vực hẻo lánh, địa hình hiểm trở, cơ sơ hạ tầng và các tiện ích kèm theo kém phát triển. Theo số liệu thống kê của Cục địa chất khoáng sản Việt Nam thì có đến 80 % mỏ đá phân bố tại các vùng núi, địa hình khó khăn. Trong khi đó, một số mỏ phân bố rải rác, có trữ lượng nhỏ hàm lượng ít, chỉ có thể khai thác nhỏ, quy mô không đủ lớn để khai thác công nghiệp.
Xem thêm

9 Đọc thêm

Báo cáo thực tập tổng hợp tại Tổng công ty công nghiêp tàu thuỷ việt nam

BÁO CÁO THỰC TẬP TỔNG HỢP TẠI TỔNG CÔNG TY CÔNG NGHIÊP TÀU THUỶ VIỆT NAM

MỤC LỤC Mở đầu 1 I. Giới thiệu chung về Tổng công ty công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam 2 1. Quá trình hình thành và phát triển của Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam 2 2. Cơ cấu tổ chức của Tổng công ty. 4 3. Những ngành nghề kinh doanh chính của Tổng công ty Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam 5 4. Vốn kinh doanh. 6 5. Thị trường của Tổng công ty. 6 6. Sản phẩm, dịch vụ của Tổng công ty. 7 7. Đặc điểm nguồn nhân lực của Tổng công ty Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam tại thời điểm 30 6 2005. 7 8. Hoạt động bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực. 9 II. Kết quả sản xuất kinh doanh trong một vài năm gần đây. 11 1. Kết quả sản lượng doanh thu. 11 2. Hoạt động sản xuất đóng mới, sửa chữa tàu biển. 12 3. Sản xuất công nghiệp phụ trợ. 12 4. Các hoạt động xây dựng, vận tải, thương mại dịch vô . 12 5. Hoạt động tài chính. 13 III. Những hạn chế tồn tại. 14 IV. Định hướng chiến lược phát triển của Tổng công ty Công nghiêp tàu thuỷ Việt Nam 15 1. Mục tiêu phát triển. 15 2. Nhiệm vụ trọng tâm đến 2010. 15 3. Kế hoạch sản xuất kinh doanh và đầu tư phát triển đến năm 2010 16 V. Định hướng cho giai đoạn thực tập chuyên đề. 17 Kết luận 18
Xem thêm

22 Đọc thêm

Xử lý chất thải công nghệ mạ

XỬ LÝ CHẤT THẢI CÔNG NGHỆ MẠ

Qua thực tế trong những năm gần nay cho thấy Việt Nam là một nước có tốc độ phát triển kinh tế cao trong khu vực. Bên cạnh sự phát triển mạnh mẽ của quá trình công nghiệp hóa đất nước, chất thải công nghiệp cũng ngày một gia tăng về khối lượng, đa dạng về chủng loại gây ảnh hưởng xấu đến môi trường cũng như sức khỏe của con người, đòi hỏi con người phải có nhận thức đúng đắn và đầu tư thích đáng cho vấn đề xử lý nhằm phát triển kinh tế song song với việc bảo vệ môi trường sống của chính mình. Ngày nay, kỹ thuật mạ kim loại đã trở thành một ngành kỹ thuật phát triển mạnh mẽ ở hầu hết các nước trên thế giới. Nước ta cũng đang tập trung phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ, trong đó kỳ vọng đặc biệt vào ngành gia công kim loại. Do vậy nhu cầu gia công mạ kim loại càng lớn và cũng từ đó việc xử lý chất thải trong gia công mạ – một yếu tố có nhiều khả năng phá hủy môi trường – là hết sức cần thiết và cần được giải quyết triệt để.
Xem thêm

13 Đọc thêm

PHÂN TÍCH CHIẾN LƯỢC MARKETING CỦA CÔNG TY BITI'S VÀO THỊ TRƯỜNG TRUNG QUỐC (2011)

PHÂN TÍCH CHIẾN LƯỢC MARKETING CỦA CÔNG TY BITI'S VÀO THỊ TRƯỜNG TRUNG QUỐC (2011)

Nhóm 8 Trang 3Marketing Qu c Tố ế GVHD: Ths. Huỳnh Tr AnịSản phẩm Biti's được UBND Thành phố Hồ Chí Minh chọn là một trong những sản phẩm công nghiệp chủ lực của Thành phố và liên tục 14 năm liền đạt Topten Hàng Việt Nam chất lượng cao do người tiêu dùng bình chọn.Tại Trung Quốc, Biti's đã thiết lập 4 văn phòng đại diện thường trú ở Quảng Châu, Côn Minh, Nam Ninh và Hà Khẩu. Thương hiệu "Biti's" đã được đăng ký tại nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vào năm 1999, được quyền bảo hộ thương phẩm và có 25 tổng kinh tiêu và hơn 300 nhà kinh tiêu.Theo xu hướng hội nhập, Biti’s cũng đã xây dựng thương hiệu Gosto thành sản phẩm giày dép thời trang, phục vụ cho đối tượng có thu nhập cao, phát triển dòng sản phẩm giày dép đặc chủng chơi thể thao; bên cạnh đó là việc tiếp tục khẳng định thương hiệu tại các thị trường truyền thống như Trung Quốc, hướng tới thị trường tiềm năng như Trung Đông, Campuchia, Nga, Hoa Kỳ. Tất cả những điều đó đều không nằm ngoài mục tiêu: giữ vững vị trí của một thương hiệu mạnh quốc gia.Không chỉ nghiêm túc thực hiện nghĩa vụ đóng thuế cho nhà nước, mà trong nhiều năm qua, đặc biệt là từ năm 2005, Biti’s đã kết hợp với Hội khuyến học Việt Nam, Qũy khuyến học Việt Nam xây dựng, phát triển Chương trình “Biti’s - Nâng niu tài năng Việt” nhằm trao học bổng cho các em học sinh nghèo vượt khó, học giỏi trên cả nước, với trị giá học bổng mỗi năm là 1,5 tỷ đồng; ủng hộ các Quỹ từ thiện xã hội khác như Quỹ tấm lòng đồng đội, Quỹ tấm lòng vàng … với mong muốn thể hiện một phần trách nhiệm của doanh nghiệp, của người lính doanh nhân nhằm cùng chung sức xây dựng một xã hội giàu mạnh. 1.2 Lĩnh vực hoạt động:Hiện nay Biti's là một Công ty hàng đầu của Việt Nam trong ngành sản xuất kinh doanh giày dép. Với mong muốn ngày càng đáp ứng được thị hiếu của người tiêu dùng, Biti’s đã đem ra thị trường hàng loạt các sản phẩm đa dạng, chất lượng cao. Với hệ thống sản xuất quy trình khép kín gồm 3 nhà máy có công suất trên 25 triệu đôi/năm được công ty trực tiếp tổ chức kinh doanh, đưa sản phẩm đến tận tay người tiêu dùng thông qua
Xem thêm

28 Đọc thêm

VẤN ĐỀ ĐT CHO CÔNG NHÂN TRONG CÁC TỔ CHỨC

VẤN ĐỀ ĐT CHO CÔNG NHÂN TRONG CÁC TỔ CHỨC

phân tích công việc, mô tả công việc thì vấn đề đào tạo lúc này là đào tạo lại những công nhân cũ hoặc đào tạo mới cho công nhân mới đợc tuyển vào hoặc công nhân cũ làm công việc mới.Ngày nay, cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt giữa các doanh nghiệp. Do đó, doanh nghiệp nào mạnh sẽ đứng vững, doanh nghiệp yếu sẽ bị loại trừ. Để đứng vững trên thơng trờng, để đáp ứng nhu cầu xã hội, doanh nghiệp chỉ còn cách đào tạo ngời lao động của mình để theo kịp trình độ phát triển nhan chóng.Vậy tác dụng của đào tạo là giúp doanh nghiệp tạo ra lợi thế cạnh tranh cho mình.Khi ngời lao động đã đủ trình độ để thực hiện công việc của mình, nó sẽ làm cho năng suất lao động tăng lên cả về số lợng và chất lợng. Ngời lao động ý thức đợc hành vi lao động của mình ,điều đó sẽ giúp cho doanh nghiệp giảm bớt đợc số lợng cán bộ giám trong bộ phận giám sát - điều mà mọi tổ chức luôn mong đợi vì nó làm giảm chi phí cho tổ chức.Còn đối với ngời lao động, sau khi đợc đào tạo họ sẽ làm việc tự tin hơn với tay nghề của mình.Trình độ tay nghề của họ đợc cải tạo và nâng cấp để đáp ứng nhu cầu của công việc.Việc đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ cho ngời lao động tạo ra tính chuyên nghiệp cho họ.Nói tóm lại là ngời lao động đợc trang bị thêm kiến thức tạo ra sự thích ứng với công việc hiện tại cũng nh trong tơng lai. Đào tạo và phát triển lao động không chỉ có tác dụng đối với doanh nghiệp và lao động mà nó còn có tác dụng to lớn đối với nền kinh tế. Một nền kinh tế phát triển là nền kinh tế có ngành công nghiệp phát triển. Vì nó sẽ tạo ra nhiều của cải, vật chất cho xã hội, làm giàu cho xã hội. Và điều quan trọng hơn cả là nó nâng cao trình độ tay nghề cho đội ngũ lao động của cả nớc, làm cho nền kinh tế không bị tụt hậu mà theo kịp với thời đại.2. ý nghĩa.Với những tác dụng nh trên thì đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là có ý nghĩa vô cùng to lớn. Đối với một tổ chức thì quan hệ giữa tổ chức và ngời lao động sẽ đợc cải thiện, gắn kết với nhau hơn, nâng cao tính ổn định và năng
Xem thêm

28 Đọc thêm

NGHIÊN cứu KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG của PHÈN hỗn hợp TRONG xử lý COD và màu đối với nước THẢI XI mạ BẰNG PHƯƠNG PHÁP hóa lý

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CỦA PHÈN HỖN HỢP TRONG XỬ LÝ COD VÀ MÀU ĐỐI VỚI NƯỚC THẢI XI MẠ BẰNG PHƯƠNG PHÁP HÓA LÝ

ĐẶT VẤN ĐỀ Kỹ thuật mạ KL đã trở thành một ngành KT phát triển mạnh mẽ ở hầu hết các nước trên thế giới. VN cũng đang tập trung phát triển các ngành CN phụ trợ ngành gia công kim loại. Nhu cầu lớn chất thải nhiều ảnh hưởng đến sinh thái, con người

35 Đọc thêm

Luận văn: CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG TRONG QUÁ TRÌNH GIA NHẬP TỔ CHỨC WTO VÀ BIỆN PHÁP XỬ LÝ pdf

LUẬN VĂN: CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG TRONG QUÁ TRÌNH GIA NHẬP TỔ CHỨC WTO VÀ BIỆN PHÁP XỬ LÝ PDF

các “sản phẩm xanh” chưa được quan tâm đúng mức : Một số nhà quan lý và điều hành ở Việt Nam chưa được trang bị kiến thức hoặc có ít hiểu biết cập nhập về những yêu cầu “xanh” đối với sản phẩm dệt may xuất khẩu. Các danh nghiệp nhuộn vẫn còn sử dụng một số hoá chất , chất phụ trợ, thuốc nhuộm và công nghệ chưa tiên tiến , hiện đại gây ô nhiễm nặng tới môi trường nước thải. Chúng ta có thể đưa ra ví dụ : 13 Trong hồ sợi ngày càng sử dụng nhiều PAV làm tăng tải lượng COD trong nước thải và PVA khó sử lý vi sinh. Kỹ thuật “giảm trọng” polieste bằng kiềm được áp dụng phổ biến làm sản sinh một lượng terephtara và glycol trong nước thải sau sử dụng 5-6 lần đưa COD có thể lên tới 80000mg/l . Nước thải trong các công ty , nhà máy hiện nay khoản 300-400 mg/l COD (đủ vượt tiêu chuẩn nuớc thải loại B từ 3-4 lần). Dự đoán sẽ tăng lên khoảng 700-800 mg/l và có thể tăng hơn nữa trong tương lai. Nếu như tình hình ô nhiễm môi trường trước tiên là ô nhiễm nước thải không được kiểm soát thì các doanh nghiệp dệt nhuộm nói riêng và ngành dệt may nói chung phải đuơng đầu với nhiều vấn đề nghiêm trọng, phải tốn rất nhiều kinh phí cho việc xử lý mới đáp ứng được các tiêu chuẩn môi trường quy định và để phảttiểnt sản xuất, xuất khẩu bền vững thoả mãn các yêu cầu của “ tiêu chuẩn xanh” về môi trường Kế hoạch đầu tư ngành công nghiệp phụ trợ triển khai quá chậm cũng là vấn đề mà không ít doanh nghiệp dệt may lo lắng khi hội nhập. Bởi vì nó có vai trò quan trọng -> sản xuất các sản phẩm xanh - Giải pháp Sau đây là một số giả pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam đối phó với những sức ép về sinh thái và môi trường : Thứ nhất : Trước hết các doanh nghiệp làm xuất khẩu cần rà soát một cách kỹ lưỡng những hoá chất, chất trợ, thuốc nhuộm đang sử dụng ( bao gồm
Xem thêm

21 Đọc thêm

Cùng chủ đề