ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ LẠM PHÁT MỤC TIÊU Ở VIỆT NAM

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ LẠM PHÁT MỤC TIÊU Ở VIỆT NAM":

Hoàn thiện các điều kiện để thực hiện chính sách tiền tệ theo khuôn khổ lạm phát mục tiêu tại Việt Nam

Hoàn thiện các điều kiện để thực hiện chính sách tiền tệ theo khuôn khổ lạm phát mục tiêu tại Việt Nam

MỞ ĐẦU 1. Lý do nghiên cứu Thực trạng biến động kinh tế của Việt Nam trong vòng 20 năm qua cho thấy những bằng chứng tiêu biểu về tình trạng lạm phát cao cũng như những thành tựu đạt được trong quá trình nỗ lực chống lạm phát thông qua các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam. Nhìn lại giai đoạn lạm phát phi mã với ba chữ số những năm 1976 -1986; lạm phát hơn 50% giai đoạn 1989 - 1991 với sự tàn phá nặng nề đẩy nền kinh tế rơi vào vòng xoáy trì trệ, sản xuất đình đốn, đời sống nhân dân khó khăn. Đứng trước hiện trạng trên, Chính phủ Việt Nam đã đưa ra các giải pháp kinh tế vĩ mô, đặc biệt chỉ đạo NHNN điều hành chính sách tiền tệ có hiệu quả để kiềm chế và kiểm soát lạm phát. Với sự cố gắng đó, lạm phát đã được đẩy lùi, năm 1995 ở mức 12,9%, sau đó giảm xuống mức thấp nhất năm 2000 (-0,5%). Tuy nhiên năm 2004 đánh dấu sự trở lại lần thứ nhất của lạm phát cao sau khi đã ổn định trong một thời gian dài trước đó, tỷ lệ lạm phát trong năm này là 9,5%, vượt xa so với chỉ tiêu kế hoạch là 4- 5%. Lạm phát tiếp tục biến động và tăng lên 12,7% năm 2007; tăng cao giai đoạn sau khủng hoảng tài chính với mức tăng lên tới 19,9% trong năm 2008 và 18,13% năm 2011. Số liệu đánh giá kinh tế 6 tháng đầu năm 2011 của Ngân hàng Phát triển Châu Á cho thấy Việt Nam có mức tăng CPI tháng 6/2011 lên tới 20,8% so với cùng kỳ năm 2010, cao nhất trong 14 nước Đông Á và gấp đôi so với nước đứng thứ 2 là Lào. Mặc dù từ năm 2012 đến nay cơ bản lạm phát đã được kiềm chế ở dưới mức một con số, tuy nhiên cho dù lạm phát ở mức thấp được duy trì lâu dài nhưng không có sự cam kết nào của NHNN về ổn định giá cả thì những kỳ vọng về tăng giá cả luôn là tiềm ẩn và có thể quay trở lại gây ảnh hưởng đến sự ổn định và phát triển bền vững kinh tế của Việt Nam. Hơn thế nữa, quá trình điều hành chính sách của NHNN thời gian qua cũng gặp nhiểu sức ép do cùng lúc phải đạt được nhiều mục tiêu như kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng, vừa ổn định lãi suất thị trường vừa ổn định tỷ giá, đảm bảo thanh toán, xử lý nợ xấu, hỗ trợ ngân sách nhà nước …Chính việc thực hiện quá nhiều mục tiêu (mặc dù thời gian qua NHNN cũng đã có thứ tự ưu tiên giữa các mục tiêu nhưng vẫn chịu nhiều sức ép và gặp khó khăn trong công tác xác định mục tiêu ưu tiên) và giữa các mục tiêu điều hành của chính sách tiền tệ (CSTT) cũng không được xác định một cách rõ ràng, chưa đảm bảo tính nhất quán giữa mục tiêu ngắn hạn và dài hạn, các mục tiêu trung gian và mục tiêu cuối cùng đã gây khó khăn và giảm tính hiệu quả trong điều hành CSTT thời gian qua, một số quyết định của NHNN còn mang nặng tính hành chính... Vấn đề này đặt ra cho Việt Nam tìm kiếm một cơ chế điều hành chính sách tiền tệ cho phép kiểm soát lạm phát hiệu quả hơn, đảm bảo vừa kiềm chế được lạm phát vừa tiếp tục giữ vững tăng trưởng ở mức hợp lý. Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế cho thấy cơ chế điều hành chính sách tiền tệ trên cơ sở LPMT (CSLPMT) đã từng thành công ở một số nền kinh tế mới nổi với các điều kiện kinh tế vĩ mô có nhiều khó khăn. Một điều tất nhiên là sẽ không có một khuôn khổ CSTT chung nào cho tất cả các quốc gia, có thể ở quốc gia này là thành công nhưng khi áp dụng ở quốc gia khác lại là thất bại, nguyên lý về chính sách tiền tệ chỉ là duy nhất, sự thành công còn phụ thuộc ở “nghệ thuật điều hành” của NHTW. Tuy nhiên, với nhiều ưu điểm của CSLPMT thì đây có thể là một lựa chọn hợp lý cho chính sách tiền tệ Việt Nam trong thời gian tới, theo đó duy trì mức lạm phát hợp lý và ổn định trở thành mục tiêu hàng đầu của chính sách tiền tệ để đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong phiên trả lời chất vấn đại biểu Quốc hội tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XIII nhấn mạnh trong thời gian tới sẽ “chủ động điều hành thực hiện CSLPMT”. Dự thảo Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng giai đoạn 2011 – 2020 cũng đã xác định việc từng bước thiết lập các điều kiện tiến tới điều hành chính sách tiền tệ theo CSLPMT là một trong các giải pháp hàng đầu nhằm đổi mới căn bản khuôn khổ điều hành chính sách tiền tệ, nâng cao hiệu quả hoạt động của NHNN. Để có thể đưa những định hướng như vậy trở thành hiện thực, trước tiên cần có sự lý giải đầy đủ về mặt lý thuyết khoa học để làm cơ sở cho từng bước thay đổi trong điều hành chính sách tiền tệ của NHNN. Do vậy, Nghiên cứu sinh lựa chọn chủ đề nghiên cứu “Hoàn thiện các điều kiện để áp dụng việc điều hành chính sách tiền tệ theo khuôn khổ LPMT tại Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho luận án. 2. Tổng quan nghiên cứu Về các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài Đã có nhiều công trình nghiên cứu về CSLPMT, trong đó nhiều công trình tập trung vào các nội dung cơ bản của khuôn khổ này bao gồm: (i) khái niệm, định nghĩa, và phân loại khuôn khổ CSLPMT; (ii) những điều kiện tiên quyết để áp dụng hiệu quả khuôn khổ CSLPMT; (iii) so sánh những lợi thế/bất lợi của việc áp dụng khuôn khổ CSLPMT so với các mục tiêu truyền thống (tỷ giá hối đoái, cung tiền, v.v.); (iv) tác động của việc áp dụng khuôn khổ CSLPMT đến các biến số vĩ mô chính; (v) hiệu lực và hiệu quả của khuôn khổ này trong việc ứng phó với các cú sốc bất thường (ví dụ: cú sốc giá hàng hóa, cú sốc khủng hoảng); (vi) kinh nghiệm thực tiễn của các quốc gia trong việc áp dụng khuôn khổ CSLPMT và bài học rút ra; và (vii) các nội dung liên quan khác. Lợi ích/bất lợi của khuôn khổ CSLPMT Trong giai đoạn hơn hai thập kỷ vừa qua, nhiều nước công nghiệp và các nền kinh tế thị trường mới nổi áp dụng khuôn khổ CSLPMT, dù có những biến đổi cho phù hợp với thực tiễn của mình. Các nghiên cứu đều chỉ ra lý do chung để các nước đưa ra áp dụng khuôn khổ CSLPMT là khó khăn trong việc sử dụng các neo danh nghĩa khác (mục tiêu tỷ giá và mục tiêu tiền tệ, trong khi các mục tiêu thực như tăng trưởng và thất nghiệp còn phụ thuộc nhiều chính sách khác). Quan trọng hơn, khuôn khổ này giúp neo kỳ vọng lạm phát của người dân và thị trường thông qua một mục tiêu đơn giản có thể quan sát được, qua đó góp phần tăng hiệu quả hoạt động kinh tế và các chính sách điều hành khác. Mishkin (2000, 2001) đã chỉ ra các lợi ích chính của khuôn khổ CS LPMT, như: (i) cho phép Ngân hàng Trung ương tập trung vào các vấn đề trong nước và phản ứng với các cú sốc tác động lên nền kinh tế; (ii) hiệu quả tương đối dù không cần có mối quan hệ ổn định giữa cung tiền và lạm phát; và (iii) niềm tin của công chúng và thị trường vào mục tiêu mà Ngân hàng Trung ương theo đuổi, do đó tăng tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của CSTT. Tuy vậy, nghiên cứu cũng chỉ ra những bất lợi chính của khuôn khổ CS LPMT, bao gồm: (i) việc đánh đổi mục tiêu tăng trưởng và việc làm để đạt được lạm phát ổn định; (ii) giảm trách nhiệm giải trình do lạm phát rất khó kiểm soát và độ trễ chính sách dài; (iii) khuôn khổ CS LPMT không giúp loại bỏ được tính lấn át của chính sách tài khóa; và (iv) khuôn khổ này đòi hỏi tính linh hoạt trong tỷ giá hối đoái, thế nhưng tỷ giá hối đoái linh hoạt có thể làm tăng bất ổn tài chính (ổn định lạm phát không nhất thiết đi kèm với môi trường vĩ mô/tài chính ổn định). Theo Debelle (1999), những chỉ trích cho rằng mục tiêu chỉ hướng về lạm phát của Ngân hàng Trung ương mà bỏ qua mục tiêu sản lượng và lao động là sai lầm. Trên thực tế, như ở Úc, khuôn khổ CS LPMT được thực hiện đủ linh hoạt để có thể đánh đổi ngắn hạn giữa sản lượng và lạm phát. Ổn định lạm phát trong trung hạn có thể vẫn được duy trì ngay cả khi cho phép những thay đổi lạm phát ngắn hạn. Chính ở đây, biến động về sản lượng sẽ thấp hơn nhiều. Freedman và Otker-Robe (2010) thì nhận định rằng khuôn khổ CS LPMT cùng với một cơ chế tỷ giá thả nổi sẽ góp phần củng cố nhận thức của các tác nhân kinh tế về rủi ro hai chiều trên thị trường ngoại hối. Theo đó, việc sử dụng và phát triển các công cụ tự phòng ngừa sẽ trở nên phổ biến hơn, giúp giảm sai lệch cơ cấu đồng tiền trên bảng tổng kết tài sản. Thị trường ngoại hối phát triển hơn cũng sẽ giúp các nền kinh tế mới nổi điều hành CS LPMT giải quyết các vấn đề tỷ giá. Kinh nghiệm vận dụng khuôn khổ CS LPMT trên thế giới Cho đến nay, các Ngân hàng Trung ương trên thế giới đã thực hiện nhiều nghiên cứu về kinh nghiệm của các nước trong việc đưa ra áp dụng và thực hiện CSTT theo LPMT. Đặc biệt, nhiều nghiên cứu đã tập trung vào tình hình ứng dụng ở các nước đang phát triển và mới nổi. Những nghiên cứu này đã được tổng thuật trong báo cáo của Tô Ánh Dương và cộng sự (2012), bao gồm Freedman (về trường hợp Canada), Vavra (về Cộng hòa Séc), Schmidt –Hebbel (về Chile), Csermely và Orban (về Hungary), Sokoler (về Israel), Borowski và Rozkrut (về Ba Lan), Bucsa và Codirlasu (về Romania), về Kara (về Thổ Nhĩ Kỳ), v.v. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cũng hết sức quan tâm đến các vấn đề của khuôn khổ CSTT theo LPMT. Một loạt các nghiên cứu của IMF, bao gồm Masson và cộng sự (1997), Schaechter và cộng sự (2000), Carare và cộng sự (2002), và Stone (2003), đã tập trung vào những khó khăn mà các nền kinh tế mới nổi phải đối mặt nếu/khi vận dụng khuôn khổ CSTT nói trên. Để hạn chế được các khó khăn này, các nghiên cứu đã chỉ ra các điều kiện tiên quyết đối với các nước áp dụng. Tuy nhiên, nhóm điều kiện này là không đồng nhất giữa các nghiên cứu khác nhau, cho thấy sự thiếu đồng thuận giữa các tác giả về khả năng ứng dụng hiệu quả ở các nền kinh tế mới nổi. Schaechter và cộng sự (2000) đã nghiên cứu kinh nghiệm áp dụng khuôn khổ CS LPMT của các nước công nghiệp và các nước thị trường mới nổi. Từ đó, các tác giả này đưa ra nhận định là những nền tảng để thực hiện khuôn khổ đầy đủ về LPMT là: vị thế tài chính vững mạnh và ổn định kinh tế vĩ mô vững chắc; hệ thống tài chính phát triển tốt; mức độ độc lập của ngân hàng trung ương và biện pháp truyền thông nhằm đạt ổn định lạm phát; hiểu biết thấu đáo về cơ chế truyền tải của CSTT; phương pháp luận dự báo lạm phát hợp lý nhằm hỗ trợ xác định mục tiêu lạm phát; và tính minh bạch của CSTT nhằm thiết lập trách nhiệm giải trình và niềm tin của thị trường. Quan trọng hơn, những yếu tố này không cần phải được thiết lập tất cả trước khi các nước bắt đầu chuyển đổi sang khuôn khổ LPMT hoàn toàn. Mishkin (2004) đã phân tích những khía cạnh khuôn khổ CSLPMT mà các nước có nền kinh tế chuyển đổi và mới nổi (điển hình là Chile và Bra-xin) có thể thực hiện, những khó khăn đã/có thể gặp phải. Những khó khăn và khác biệt chính là: (i) thể chế tài khóa yếu kém; (ii) các định chế tài chính yếu kém; (iii) thể chế tiền tệ không đạt được độ tin cậy cần thiết; (iv) tình trạng Đô la hóa; và (v) mức độ tổn thương của các nước trước sự suy giảm đột ngột của dòng vốn vào. Các nền kinh tế chuyển đổi và mới nổi nên tập trung vào củng cố/phát triển những thể chế này để đảm bảo chiến lược CSLPMT được thực hiện hiệu quả, góp phần tạo các kết quả vĩ mô tốt hơn. Schaechter và cộng sự (2000) cũng phân tích sự khác biệt giữa các nước công nghiệp và các nước thị trường mới nổi (Bra-xin, Chile, Ba Lan, Séc, Israel, và Nam Phi) trong việc chuẩn bị các nền tảng, các điều kiện để áp dụng khuôn khổ CS LPMT (và khuôn khổ toàn phần) trên các khía cạnh như: (i) khung thể chế; (ii) các vấn đề liên quan đến hoạt động điều hành CSTT; (iii) tổ chức của Ngân hàng Trung ương; và (iv) các vấn đề liên quan đến quá trình chuyển đổi sang khuôn khổ toàn phần. • Khung thể chế: Các nước thị trường mới nổi thường hướng tới một khuôn khổ thể chế chính thức nhằm hỗ trợ cho việc điều hành theo LPMT. Khuôn khổ pháp lý của tất cả các nước áp dụng khuôn khổ này đều xác định ổn định giá cả hay ổn định tiền tệ là mục tiêu chủ yếu của Ngân hàng Trung ương, và đảm bảo sự độc lập về công cụ của Ngân hàng Trung ương. Các nước thị trường mới nổi thường thay đổi khuôn khổ pháp lý của Ngân hàng Trung ương trước khi áp dụng LPMT, dù tất cả đều có tuyên bố rõ ràng về hạn chế tài trợ của Ngân hàng Trung ương cho thâm hụt ngân sách của Chính phủ.
Xem thêm

Đọc thêm

THS01 161 TÁC ĐỘNG LẠM PHÁT ĐẾN TĂNG TRUOG KINH TẾ VÀ LỘ TRÌNH ÁP DỤNG CHÍNH SÁCH LẠM PHÁT MỤC TIÊU TẠI VIỆT NAM

THS01 161 TÁC ĐỘNG LẠM PHÁT ĐẾN TĂNG TRUOG KINH TẾ VÀ LỘ TRÌNH ÁP DỤNG CHÍNH SÁCH LẠM PHÁT MỤC TIÊU TẠI VIỆT NAM

Thời gian qua, lạm phát và tăng trƣởng kinh tế vẫn luôn là vấn đề quan tâmhàng đầu đối với các nhà hoạch định chính sách tại Việt Nam, nhất là kể từ khi quátrình hội nhập và tự do hóa tài chính diễn ra mạnh mẽ trong khi những nền tảng vĩmô còn lỏng lẽo khiến việc kiểm soát lạm phát nhiều lúc vƣợt khỏi tầm kiểm soátcủa NHNN. Nếu thời gian trƣớc năm 2011, Việt Nam luôn là một quốc gia có tỷ lệlạm phát thuộc hàng cao nhất trong khu vực đi cùng tốc độ tăng trƣởng có chiềuhƣớng suy giảm thì kể từ năm 2012 trở lại đây, lạm phát lại liên tục giảm dần. Theođó, dễ thấy rằng trong điều kiện lạm phát quá thấp cũng có thể gây ra những khókhăn nhất định đối với tình hình kinh tế trong nƣớc.Với việc chuyển hƣớng điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) sang tập trungmục tiêu ổn định giá cả, kiểm soát lạm phát hay nói cách khác thực thi chính sáchlạm phát mục tiêu (CSLPMT), nhiều quốc gia áp dụng chính sách này trên thế giớiđã cho thấy những kết quả đáng kể khi lạm phát đƣợc giữ mức thấp trong thờigian dài đồng thời chất lƣợng tăng trƣởng cũng đƣợc cải thiện rất tốt. Theo đó, tạiViệt Nam đến nay cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này, điển hình:Phí Trọng Hiển (2005), “Lạm phát mục tiêu: Kinh nghiệm thế giới và giảipháp cho Việt Nam” [7]. Dựa trên kinh nghiệm các quốc gia áp dụng CSLPMT, tácgiả đã làm rõ một số các vấn đề quan trọng về CSLPMT nhƣ: Lý do lựa chọn, đặctính cơ bản và khả năng vận dụng tại các nƣớc đang phát triển. Nhìn chung, nghiêncứu cho rằng việc áp dụng chính sách này tại Việt Nam là chƣa khả thi và dừng lạiở việc đề xuất một số gợi ý nhằm điều chỉnh lạm phát cho phù hợp trong khi vẫnchƣa làm rõ đƣợc sự cấp thiết của việc điều hành CSTT kiểm soát lạm phát cũngnhƣ lộ trình chuyển đổi áp dụng CSLPMT.Le Anh Tu (2006), “Moneytary in Viet Nam: Alternatives to InflationTargeting” [58]. Nghiên cứu chủ yếu xem xét khả năng áp dụng CSLPMT trongmối tƣơng quan với cơ chế điều hành tỷ giá và đã chỉ ra rằng việc áp dụngxii
Xem thêm

133 Đọc thêm

HOÀN THIỆN CÁC ĐIỀU KIỆN ĐỂ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ THEO KHUÔN KHỔ LẠM PHÁT MỤC TIÊU TẠI VIỆT NAM

HOÀN THIỆN CÁC ĐIỀU KIỆN ĐỂ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ THEO KHUÔN KHỔ LẠM PHÁT MỤC TIÊU TẠI VIỆT NAM

những bằng chứng tiêu biểu về tình trạng lạm phát cao cũng như những thành tựuđạt được trong quá trình nỗ lực chống lạm phát thông qua các giải pháp điều hànhchính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam. Nhìn lại giai đoạnlạm phát phi mã với ba chữ số những năm 1976 -1986; lạm phát hơn 50% giai đoạn1989 - 1991 với sự tàn phá nặng nề đẩy nền kinh tế rơi vào vòng xoáy trì trệ, sảnxuất đình đốn, đời sống nhân dân khó khăn. Đứng trước hiện trạng trên, Chính phủViệt Nam đã đưa ra các giải pháp kinh tế vĩ mô, đặc biệt chỉ đạo NHNN điều hànhchính sách tiền tệ có hiệu quả để kiềm chế và kiểm soát lạm phát. Với sự cố gắngđó, lạm phát đã được đẩy lùi, năm 1995 mức 12,9%, sau đó giảm xuống mức thấpnhất năm 2000 (-0,5%). Tuy nhiên năm 2004 đánh dấu sự trở lại lần thứ nhất củalạm phát cao sau khi đã ổn định trong một thời gian dài trước đó, tỷ lệ lạm pháttrong năm này là 9,5%, vượt xa so với chỉ tiêu kế hoạch là 4- 5%. Lạm phát tiếp tụcbiến động và tăng lên 12,7% năm 2007; tăng cao giai đoạn sau khủng hoảng tàichính với mức tăng lên tới 19,9% trong năm 2008 và 18,13% năm 2011. Số liệuđánh giá kinh tế 6 tháng đầu năm 2011 của Ngân hàng Phát triển Châu Á cho thấyViệt Nam có mức tăng CPI tháng 6/2011 lên tới 20,8% so với cùng kỳ năm 2010,cao nhất trong 14 nước Đông Á và gấp đôi so với nước đứng thứ 2 là Lào. Mặc dùtừ năm 2012 đến nay cơ bản lạm phát đã được kiềm chế dưới mức một con số, tuynhiên cho dù lạm phát mức thấp được duy trì lâu dài nhưng không có sự cam kếtnào của NHNN về ổn định giá cả thì những kỳ vọng về tăng giá cả luôn là tiềm ẩnvà có thể quay trở lại gây ảnh hưởng đến sự ổn định và phát triển bền vững kinh tếcủa Việt Nam. Hơn thế nữa, quá trình điều hành chính sách của NHNN thời gianqua cũng gặp nhiểu sức ép do cùng lúc phải đạt được nhiều mục tiêu như kiểm soátlạm phát, hỗ trợ tăng trưởng, vừa ổn định lãi suất thị trường vừa ổn định tỷ giá, đảmbảo thanh toán, xử lý nợ xấu, hỗ trợ ngân sách nhà nước …Chính việc thực hiện quánhiều mục tiêu (mặc dù thời gian qua NHNN cũng đã có thứ tự ưu tiên giữa cácFormatted: Line spacing: 1.5 linesFormatted: Header distance from edge: 1.8 cm, Footerdistance from edge: 1.8 cm
Xem thêm

248 Đọc thêm

Tác động của Chính sách tài khóa đến tăng trưởng và lạm phát.Liên hệ áp dụng thực tiễn

Tác động của Chính sách tài khóa đến tăng trưởng và lạm phát.Liên hệ áp dụng thực tiễn

Bài tập lớn,tiểu luận Triết cho sinh viên năm nhất:Tác động của CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA đến tăng trưởng và lạm phát,Liên hệ thực tiễn(thực tiễn trong bài là ở VIỆT NAM) Thành tựu kinh tế vĩ mô của một đất nước thường được đánh giá theo ba dấu hiệu cấp bách như lạm phát, tăng trưởng và công bằng xã hội. Sự ổn định kinh tế là kết quả của việc giải quyết tốt những vấn đề kinh tế cấp bách như lạm phát suy thoái, thất nghiệp trong thời kỳ ngắn hạn. Tăng trưởng kinh tế đòi hỏi phải giải quyết tốt những vấn đề dài hạn hơn, có liên quan đến tăng trưởng kinh tế. Như vậy, để có thể đạt được sự ổn định, tăng trưởng và công bằng, các chính sách kinh tế vĩ mô phải hướng tới các sản lượng, việc làm, ổn định giá cả, kinh tế đối ngoại và phân phối công bằng. Vậy để đạt được những mục tiêu kinh tế vĩ mô nêu trên, Nhà nước có thể sử dụng nhiều công cụ chính sách khác nhau. Hai trong những chính sách chủ yếu đang được Chính phủ ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển nói chung và Việt nam nói riêng sử dụng là CHÍNH SÁCH TÀI KHOÁ VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ. Chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ đều hướng nền kinh tế vào mức sản lượng và việc làm mong muốn. Song mỗi chính sách lại có những công cụ riêng biệt và có cách tiếp cận mục tiêu riêng. Nghiên cứu chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ giúp chúng ta phân biệt được mục tiêu, công cụ của từng chính sách; thấy được sự tác động của mỗi chính sách tới đường AS=AD. Qua đó, biết được cách mà Việt Nam áp dụng các chính sách vào nền kinh tế như thế nào. Vận dụng vào những năm thực tế sẽ cho chúng ta biết được CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA có ảnh hưởng như thế nào đối với một quốc gia,nó có tác động như thế nào đối với nền kinh tế và những chính sách tài khóa làm thay đổi nền kinh tế như thế nào.Kết quả chúng mang lại và còn những hạn chế gì.Trong bài tiểu luận lần này,chúng ta sẽ làm rõ những vấn đề đó. Để hoàn thành bài tiểu luận,một mặt nhóm sinh viên dựa vào giáo trình “Tài liệu học tập kinh tế vĩ mô” của Học viện Ngân hàng ban hành năm 2016,mặt khác có tham khảo nhiều cuốn giáo trình Kinh tế học vĩ mô của các trường kinh tế trong nước và các cuốn sách Nguyên lý kinh tế học được sử dụng rộng rãi trong nước và trên thế giới. Nội dung bài tiểu luận gồm ba phần,giới thiệu đầy đủ về chính sách tài khóa cũng như tác động của CSTK tới tăng trưởng kinh tế và lạm phát.Vận dụng để giải thích tình huống cụ thể trong thực tiễn. Bài tiểu luận tuy tập thể nhóm đã cố gắng,song không tránh khỏi thiếu sót,chúng em mong nhận được sự đóng góp chân thành từ giảng viên và các bạn đọc để nhóm rút kinh nghiệm cho những lần sau.
Xem thêm

Đọc thêm

ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TRONG BỐI CẢNH LẠM PHÁT CAO Ở VIỆT NAM

ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TRONG BỐI CẢNH LẠM PHÁT CAO Ở VIỆT NAM

Ngân hàng Trung ương bằng chính sách tiền tệ có thể chủ động tiến hành mởrộng hay thu hẹp cung tiền qua các công cụ: tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất cơbản, nghiệp vụ thị trường mở. Nhưng như trên đã phân tích trên, nhu cầusố lượng tiền lưu thông lại chịu tác động khách quan của nền kinh tế bao gồmchi tiêu chính phủ trong chính sách tài khóa, của doanh nghiệp mở rộng hoạtđộng kinh doanh và cuối cùng là tác động của dòng vốn nước ngoài chảy vàovới sự chuyển đổi từ ngoại tệ sang nội tệ. Những vấn đề này gây không ít khókhăn cho Ngân hàng Trung ương trong việc điều hành chính sách tiền tệ và dođó cần phải có một sự phối hợp đồng bộ giữa chính sách tiền tệ và chính sáchtài khóa trong việc đạt được mục tiêu cuối cùng của nền kinh tế.2. Tình hình lạm phát trên thế giới và Việt Nam hiện nay2.1. Bối cảnh lạm phát thế giớiThế giới bước vào năm 2008 với một viễn cảnh kinh tế không hề sáng sủa.Những nền kinh tế lớn như Mỹ và EU đang phải đối phó với tình trạng lạmphát và thất nghiệp gia tăng, tăng trưởng kinh tế đình đốn. Lạm phát trong khuvực các thành viên EU sử dụng đồng euro trong tháng 6/2008 là 4%, vượt mứcđộ lạm phát kỷ lục 3,7% trong tháng 5.2008 và gấp đôi so với mục tiêu củaECB là kiềm chế mức độ lạm phát trong khu vực sử dụng đồng euro của EUdưới 2%. Mỹ cũng đang đối mặt với lạm phát tăng hơn 3% trong năm nay,mức cao gấp đôi so với nhiều năm trước.11Hầu hết những nước đang phát triển và những nền kinh tế mới nổi sau mộtthời kỳ tăng trưởng nhanh gần một thập kỷ đã bất ngờ gặp phải lạm phát tăngcao và đối mặt với nguy cơ tăng trưởng chậm lại. Sau một thời gian dài vắngbóng kể từ cuộc khủng hoảng dầu lửa đầu những năm 1970, bóng ma lạm phátphi mã đã quay trở lại và trở thành mối nguy hiểm thực sự mang tính toàn cầu.Lạm phát tại Trung Quốc hiện mức 8,5%, cao nhất trong vòng 12 năm trở lạiđây, so với con số 3% thời điểm cách đây 1 năm. Lạm phát tại Nga đã nhảy
Xem thêm

32 Đọc thêm

BÀI TẬP HẾT MÔN KINH TẾ QUẢN LÝ 116

BÀI TẬP HẾT MÔN KINH TẾ QUẢN LÝ 116

tiếp thị cụ thể đối với từng nhóm khách hàng gồm quảng cáo, tiếp cận trực tiếp để giới thiệu sảnphẩm đối, tiếp thị thông qua môi giới bán sản phẩm và xác định nguồn chi phí, dự kiến hiệu quảmang lại để triển khai trong giai đoạn 2009 – 2012.+Giao đối tượng khách hàng đến từng bộ phận, cán bộ và lịch trình gặp gỡ, giới thiệusản phẩm, đàm phán, đảm bảo mội khách hàng tiềm năng phải có một đầu mối tiếp thị, giới thiệusản phẩm và phục vụ khi khách hàng có yêu cầu.-Phát triển công nghệ: Xây dựng các phần mềm hỗ trợ tính toán hiệu quả từng kháchhàng, quản lý thông tin khách hàng, phân nhóm khách hàng, quản lý các chỉ tiêu kinh doanh...nhằm tạo công cụ quản lý thuận lợi, hiệu quả, tăng năng suất lao động.IV.KẾT LUẬN.Trong bối cảnh lạm phát trong nước mức cao, chính sách tiền tệ thắt chặt, hệ thốngkhách hàng doanh nghiệp gặp khó khăn về sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và thanh toán thì việc kiểmsoát và nâng cao chất lượng tín dụng là mục tiêu ưu tiên hàng đầu của BIDV Quảng Bình, kết quảđạt được của mục tiêu này là nhân tố quyết định để đạt được các mục tiêu cơ cấu lại nguồn thu hợplý, đảm bảo tốc độ tăng trưởng lợi nhuận của BIDV Quảng Bình hoàn thành kế hoạch kinh doanh2010-2012, đảm bảo cho sự phát triển bền vững. Để đạt được mục tiêu đó ngoài việc BIDV QuảngBình triển khai đồng bộ các giải pháp thực hiện kế hoạch kinh doanh năm 2009 – 2011 cần có sựnổ lực quyết tâm cao của Ban giám đốc, toàn thể người lao động, sự phối hợp chặt chẽ giữa cácPhòng trong chi nhánh, sự hỗ trợ tích cực từ Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, sự quantâm tạo điều kiện của Ngân hàng nhà nước Quảng Bình, UBND tỉnh Quảng Bình, đặc biệt là sự
Xem thêm

8 Đọc thêm

Thực trạng điều hành lãi suất ở Việt Nam trong thời gian qua

Thực trạng điều hành lãi suất ở Việt Nam trong thời gian qua

Một số giải pháp cho lãi suất trong thời gian tới: Hoàn thiện hệ thống ngân hàng, hoàn thiện hệ thống chính sách Cần có sự phối hợp đồng bộ giữa CSLS và các chính sách kinh tế vĩ mô khác Hoàn thiện những điều kiện cơ bản để hướng tới chính sách lạm phát mục tiêu trong dài hạn

Đọc thêm

CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ - CÁC CÔNG CỤ CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ÁP DỤNG Ở VIỆT NAM

CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ - CÁC CÔNG CỤ CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ÁP DỤNG Ở VIỆT NAM

quan hệ chính trị; phân hoá giàu nghèo ngày càng tăng, bất công xã hội phát triển;phá huỷ môi trờng sinh thái; cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên,Thế giới văn minhngày nay càng thấy rõ hơn bao giờ các khiếm khuyết đó, vì vậy Nhà nớc đã khôngthể đứng ngoài cuộc, nó phải sử dụng bàn tay hữu hình, tức là hệ thống các chínhsách kinh tế của mình để tác động vào nền kinh tế và chính sách tiền quốc gia làmột trong những công cụ quản lý vĩ mô mang tính then chốt đối với mọi nhà nớc.Nh vậy vai trò của chính sách tiền tệ là rất lớn, nh Samuelson đã nói Chínhphủ phải biết cách dùng chính sách tiền tệ và các chính sách kinh tế khác để ngănchặn bất cứ cuộc suy thoái nào nổ ra, không cho chúng phát triển lên thành nhữngcuộc khủng hoảng mang tính kéo dài Có thể nói sứ mệnh mà chính sách tiền tệ đợcgiao phó là hết sức cao cả, đó là đa nền kinh tế thị trờng phát triển không ngừngphục vụ nhu cầu cuộc sống của con ngời.b. Mục tiêu của chính sách tiền tệ:Tuỳ theo cách phân chia cũng nh đặc điểm kinh tế từng thời kì của mỗiquốc gia mà họ xác định cho mình mục tiêu của chính sách tiền tệ sao cho phù hợp,Tuy nhiên mục tiêu chính sách tiền tệ hàu nh thống nhất các quốc gia, đó là kiểmsoát và đIều tiết lợng tiền cung ứng nhằm mục tiêu cuối cùng là ổn định giá trị củađồng tiền, trên cơ sở đó tạo công ăn việc làm, thúc đẩy nền kinh tế.b.1. ổn định giá trị đồng tiền:Đây là mục tiêu hàng đầu của chính sách tiền tệ. ổn định giá trị trị tiền tệchính là việc ổn định sức mua của đồng tiền, nó bao gồm việc ổn định sức mua đốinội và ổn định sức mua đối ngoại của đồng tiền .b.1.1. ổn định sức mua đối nội cuả đồng tiền.Trong đIều kiện lu thông các dấu hiệu giá trị thì lạm phát luôn là khả năngtiềm tàng,t hậm chí khó tránh khỏi .Vì vậy khi mà chế độ bản vị vàng cũng nh tiềntín dụng chuyển đổi ra vàng không còn nữa thì ngân hàng trung ơng luôn coi việckiểm soát lạm phát, ổn định tiền tệmục tiêu hàng đầu trong chính sách tiền tệ củamình. Kiểm soát lạm phát nhằm ổn định giá cả hàng hoá là tiền đề cho nền kinh tếphát triển bình thờng, bảo đảm đời sống cho ngời dân. Giá trị đối nội của đồng tiềnlà sức mua của nó đối với hàng hoá và dịch vụ .Sức mua của đồng tiền biến đổi tỷ lệ
Xem thêm

24 Đọc thêm

Lạm phát, nguyên nhân gây lạm phát và tình hình lạm phát ở Việt Nam

Lạm phát, nguyên nhân gây lạm phát và tình hình lạm phát ở Việt Nam

Lạm phát, nguyên nhân gây lạm phát và tình hình lạm phát ở Việt Nam năm 2003 9 điểm Chuyên mục Bài tập học kỳ, Kinh tế học đại cương Mỗi nước, mỗi nền kinh tế đều có những căn bệnh vĩ mô chưa khi nào giải quyết được một cách triệt để như thất nghiệp, lạm phát, năng suất lao động tăng chậm, cán cân thanh toán thâm hụt triền miên…Trong đó lạm phát là một vấn đề nổi cộm, hết sức phức tạp đòi hỏi sự đầu tư lớn về thời gian và trí tuệ mới có thể mong muốn đạt được kết quả khả quan. Chống lạm phát không chỉ là việc của các doanh nghiệp mà còn là nhiệm vụ của Chính phủ. Lạm phát ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân, đến đời sống xã hội, đặc biệt là giới lao động. Ở nước ta hiện nay, tình hình lạm phát cũng như các giải pháp chống lạm phát, giữ vững nền kinh tế phát triển ổn định, cân đối là vấn đề quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. NỘI DUNG I. Lạm phát và nguyên nhân gây lạm phát 1. Lạm phát Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay sức mua của đồng tiền. Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá đồng tiền nội tệ so với các loại tiền tệ khác. Lạm phát nói chung có thể được hiểu là việc giá cả của hàng hóa tăng lên so với mức thời điểm trước (vật giá leo thang). Cần phải hiểu việc tăng giá ở đây là tăng giá chung của hầu hết các hàng hóa dịch vụ, chứ không phải tăng giá một hàng hóa cá biệt. 2. Tỉ lệ lạm phát Tỷ lệ lạm phát (tiếng Anh: Inflation rate) là tốc độ tăng mặt bằng giá của nền kinh tế. Nó cho thấy mức độ lạm phát của nền kinh tế. Thông thường, người ta tính tỷ lệ lạm phát dựa vào chỉ số giá tiêu dùng (CPI) hoặc chỉ số giảm phát GDP. Tỷ lệ lạm phát có thể được tính cho một tháng, một quý, nửa năm hay một năm.Tỷ lệ lạm phát là thước đo tỷ lệ giảm xuống sức mua của đồng tiền. Nó là một biến số được sử dụng để tính toán lãi suất thực cũng như để điểu chỉnh mức lương. 3. Nguyên nhân gây lạm phát Khi giá trị của hàng hóa và dịch vụ tăng lên, đồng nghĩa với sức mua của đồng tiền giảm đi. Khi đó, với cùng một lượng tiền nhưng người tiêu thụ mua được ít hàng hóa hơn so với trước đó. Lạm phát cũng có thể là do khối lượng tiền lưu hành trong xã hội tăng lên khi Chính phủ không quản lí được khối lượng tiền lưu hành, hoặc do Chính phủ phát hành thêm tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách. Trong khi đó, số lượng hàng hóa xã hôi sản xuất ra vẫn không hề tăng, dẫn đến thừa tiền. Khi thừa tiền sẽ kích thích người tiêu dùng tăng sức mua (tăng cầu) khiến giá cả tăng vọt, có khi đưa đến siêu lạm phát. Lạm phát cũng có thể do yếu tố bên ngoài, do dòng tiền nước ngoài đổ vào trong nước nhiều dẫn đến thừa tiền, hoặc do giá cả của một số mặt hàng thiết yếu nào đó trên thế giới tăng, chẳng hạn như giá dầu thô tăng, dẫn đến các nước có nhập khẩu dầu sẽ tăng giá điện, cước phí vận chuyển hàng hóa cũng tăng. Điện và cước phí vận chuyển tăng là những chi phí đầu vào chủ yếu của tất cả các ngành hàng sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, dẫn đến giá thành sản phẩm tăng theo. Lạm phát cũng có thể do nhiều nguyên nhân tác động khác nhau, kể cả chính sách tăng lương của Chính phủ cũng có phần tác động đến lạm phát, vì tăng lương, người lao động thu nhập được nhiều tiền hơn và mạnh tay chi tiêu, mua sắm, cầu vượt cung. Ngay cả trong trường hợp các nhà sản xuất, phân phối bản lẻ đua nhau khuyến mãi, kích cầu làm cho thị trường tăng sức mua, tạo ra đòn bẩy cầu tăng vượt cung, dẫn đến thị trường tự điều tiết tăng giá góp phần gây ra lạm phát, nhất là thời điểm giáp tết. II. Tình hình lạm phát ở Việt Nam năm 2013 Năm 2013, áp lực lạm phát trong nước được cải thiện không chỉ bởi quyết tâm thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát theo tinh thần Nghị quyết 01NQCP và Nghị quyết 02NQCP ngày 712013 của Chính phủ; bởi xu hướng giảm một số hàng hóa, nhất là giá lúa, gạo; bởi người dân tiếp tục thắt chặt chi tiêu khi thu nhập eo hẹp; và bởi sự tiếp tục giảm thuế nhập khẩu, mở cửa thị trường theo cam kết trong ASEAN, WTO; giảm thuế thu nhập doanh nghiệp và lãi suất ngân hàng, cũng như các nỗ lực giảm giá khác của danh nghiệp. Tuy nhiên cũng như mọi năm, CPI những tháng cuối năm 2013 chịu nhiều áp lực truyền thống, như chu kì tăng giá cuối năm gắn với đẩy mạnh các hoạt động kinh tế để hoàn tất hợp đồng và các dịp lễ, tết và tổng kết của các đơn vị, tổ chức xã hội. Hơn nữa, năm 2013, chu kì truyền thống này đã xuất hiện sớm, khi mức tăng CPI cao trở lại ngay trong tháng 7 so với thời điểm thường chỉ từ cuối quý 3 hằng năm do chịu áp lực mưa bão, đặc biệt là do áp lực tăng giá điện (điều chỉnh từ ngày 182013), giá than cho sản xuất điện (2042013), giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tại các cơ sở khám chữa bệnh của nhà nước, giá dịch vụ giáo dục ( học phí), dịch vụ văn hóa, nhà ở… CPI cuối năm còn chịu thêm áp lực từ sự mất cân đối thu chi ngân sách nhà nước các cấp, với mức bội chi trong chín tháng qua đã lên tới con số 100 nghìn tỉ đồng; trong khi trái phiếu Chính phủ đang khó bán so với đầu năm. Tăng trưởng và tiêu dùng kinh tế ở dưới tiềm năng có thể tạo sức ép cao nới lỏng chính sách tiền tệ và tài khóa, kể cả việc tăng mua ngoại tệ để cải thiện dự trữ ngoại hối quốc gia, dẫn đến gia tăng áp lực về lạm phát tiền tệ và cầu kéo. Ngoài ra, những căng thẳng và xung đột quân sự khu vực có thể tạo áp lực về dự trữ và giá xăng dầu thế giới, từ đó có tác động xấu đến giá xăng dầu trong nước và CPI cả nước cuối năm. CPI trong nước cũng chịu áp lực lạm phát ngoại nhập, do lạm phát khu vực và thế giới. Theo dự bão của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) tháng 7 2013, lạm phát tại các nước mới nổi và đang phát triển sẽ là 6,0% trong năm 2013 (tăng 0,1% so với dự báo tháng 4) và đạt 5,5% trong năm 2014 (giảm 0,1% so với dự báo tháng 4). Theo báo Dân trí số ra ngày 3082013 , tại báo cáo trình Chính phủ trong tháng 82013, Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia (UBGSTCQG) cho rằng, tình hình lạm phát cho đến thời điểm này vẫn đang tiếp tục được kiểm soát ở mức thấp so với các năm trước. So với đầu năm, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) 8 tháng đã tăng 3,53%. Trong đó, CPI tháng 8 tăng cao hơn tháng trước ở mức 0,83% chủ yếu do tác động của việc điều chỉnh giá (giá xăng dầu trong tháng 7 và giá dịch vụ y tế tại Hà Nội tăng mạnh trên 60%). Vừa rồi, nhóm thuốc và dịch vụ y tế trong cả nước có mức tăng cao đột biến xấp xỉ 55% (dịch vụ y tế tăng 75,79%). Riêng trong mức tăng 3,16% của CPI Hà Nội tháng 82013, nếu loại trừ yếu tố xăng dầu và y tế, CPI sẽ chỉ tăng khoảng 0,5%. Tính toán bóc tách thành phần mùa vụ, UBGSTCQG cho thấy, việc điều chỉnh giá hàng hóa cơ bản và dịch vụ, tỷ giá và dịch vụ công (y tế, giáo dục) là nhân tố chính chi phối lạm phát của năm nay. Cụ thể, trong tháng 8, lạm phát so với cùng kỳ ở mức khá cao so với các tháng trước (7,5%) nhưng lạm phát loại trừ yếu tố mùa vụ (xăng dầu, điện, dịch vụ công) chỉ ở mức 3,43%. Theo UBGSTCQG, nếu không có những thay đổi về giá các mặt hàng cơ bản thì nhiều khả năng lạm phát cả năm 2013 sẽ vào khoảng 5% (cao hơn so với mức tương ứng 4,3%) của năm 2012. Do đó, để đạt mục tiêu CPI cả năm không vượt quá mức 7%, công tác điều hành giá cả trong nững tháng cuối năm sẽ có tính quyết định. UBGSTCQG khuyến nghị Chính phủ, việc điều chỉnh giá các mặt hàng cơ bản và dịch vụ công cần có sự điều phối thống nhất, có bước đi và lộ trình thích hợp. Ngoài ra, Ủy ban cũng đánh giá, ở chỉ tiêu tăng trưởng GDP, việc thực hiện mục tiêu 5,5% trong năm 2013 là một thách thức lớn, nhiều khả năng tăng trưởng GDP cả năm 2013 chỉ ở mức 5,3%. Như vậy, về tổng thể, có thể khẳng định CPI năm 2013 chắc chắn là sẽ không quá 9% và sẽ giảm dần sau đó, ở mức 7% năm 2014 sẽ và giảm xuống 6,5% trong năm tiếp theo. Thực tế theo thống kê vào thời điểm cuối năm 2013, lạm phát được ghi nhận là mức tăng thấp nhất trong suốt 10 năm qua, với mức tăng chỉ số tiêu dùng 6,04% so với cuối năm 2012 (6,81%). Đó là con số được công bố tại Hội nghị trực tuyến của Chính phủ với các địa phương diễn ra ngày 23.12.2013. Báo cáo trước Chính phủ của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KHĐT) Bùi Quang Vinh cho thấy, lạm phát được kiềm chế, chỉ số gia tăng thấp, góp phần đảm bảo kinh tế vĩ mô ổn định. Về tốc độ tăng trưởng GDP, qua thống kê đã có sự gia tăng qua từng quý, cụ thể, GDP cả nước ước tính tăng 5,421%, thấp hơn kế hoạch đề ra là 5,5 % nhưng cao hơn năm 2012 (5,25%). Đánh giá tổng quan về tình hình kinh tếxã hội năm 2013, theo bộ KHĐT, bên cạnh kết quả đạt được vẫn còn tồn tại một số yếu kém, hạn chế như: tái cơ cấu các tổ chức tín dụng triển khai chậm và gặp nhiều khó khăn; nợ xấu của hệ thống ngân hàng cần được xử lý, tỷ lệ nợ xấu vẫn còn ở mức cao; thị trường chứng khoán và thị trương bất động sản giảm mà chưa có nhiều cải thiện; tiến độ sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước chậm…Đặc biệt, tăng trưởng xuất khẩu đạt 132,2 tỷ USD, tăng 15,4% so với chỉ tiêu 10% được giao, nhưng chủ yếu dựa vào khu vực FDI và thấp hơn 2012 (mức 18,2 %). III. Các giải pháp kiềm chế lạm phát Để kiềm chế lam phát một cách hiệu quả trong thời gian tới, Nhà nước cần thực hiện những biện pháp cụ thể như sau. Thứ nhất, tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ linh hoạt, chính sách tài khóa chặt chẽ. Điều hành lãi suất phù hợp với mục tiêu kiểm soát lạm phát. Tăng dư nợ tín dụng phù hợp và bảo đảm chất lượng tín dụng. Điều hành hiệu quả tỷ giá, thị trường ngoại hối, thị trường vàng, bảo đảm giá trị đồng tiền Việt Nam. Đẩy mạnh xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu. Tăng dự trữ ngoại hối. Thúc đẩy phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán. Tăng cường quản lý ngân sách nhà nước, tập trung chống thất thu, thực hiện triệt để tiết kiệm, kiên quyết cắt giảm các khoản chi chưa thật cần thiết. Tăng cường quản lý thị trường, giá cả, tiếp tục thực hiện cơ chế giá thị trường đối với các mặt hàng, dịch vụ công thiết yếu như điện, than, xăng dầu, nước, dịch vụ y tế... theo lộ trình phù hợp, bảo đảm yêu cầu kiểm soát lạm phát, công khai minh bạch và có hỗ trợ cho các đối tượng chính sách, người nghèo. Thứ hai, tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Chính phủ cũng cần có giải pháp cụ thể, giúp doanh nghiệp chuẩn bị và nâng cao tính cạnh tranh trong môi trường kinh doanh ngày càng cởi mở và tiệm cận với chuẩn mực quốc tế. Mặc dù các bước cải cách doanh nghiệp nhà nước đã được thực hiện từ nhiều năm, nhưng tốc độ còn chậm và hiệu quả còn thấp. Vì thế, các chương trình thoái vốn đầu tư ngoài ngành, cổ phần hóa doanh nghiệp cần phải được Chính phủ chỉ đạo thực hiện nhanh và mạnh hơn trong năm 2014. Cùng với đó, giải quyết hiệu quả hơn vấn đề nợ xấu, hoàn thành cơ bản việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, khơi thông dòng vốn tín dụng cho doanh nghiệp. Thứ ba, thúc đẩy phát triển thị trường trong nước và tiếp tục khai thác tìm kiếm mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hóa mang lại hiệu quả cao cho nền kinh tế. Trong những năm tới, cần xác định đầy đủ thách thức và lợi thế khi Việt Nam gia nhập Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) để từ đó tập trung đầu tư phát triển mạnh những mặt hàng có lợi thế cạnh tranh với thuế suất giảm sâu. ThứTư, thực hiện nghiêm Chỉ thị số 30CTTTg ngày 26112013 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hành tiết kiệm chống lãng phí. Theo đó, các cơ quan quản lý cần kiểm tra và rà soát kỹ các quy định, văn bản trước khi ban hành để tránh có lỗ hổng làm thất thu, lọt thuế. Bên cạnh đó, phải tăng cường kiểm tra, giám sát để kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm đối với các doanh nghiệp thực hiện hành vi chuyển giá gây thất thu cho ngân sách nhà nước, ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển kinh tế. Thực hiện tiết kiệm chi tiêu sao cho phù hợp với tình hình khó khăn hiện nay theo hướng ưu tiên cho các chương trình giảm nghèo, nông thôn mới. Bội chi ngân sách cần được kiểm soát chặt chẽ, nâng bội chi phải đi đôi với đầu tư công hiệu quả để tránh lạm phát. Rà soát những khoản chi thường xuyên không hợp lý, gây lãng phí. Bảo đảm tính hiệu quả và nâng cao chất lượng các khoản chi trong đó có chi cho phúc lợi xã hội. Thứnăm, việc điều chỉnh giá các mặt hàng cơ bản và dịch vụ công cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các ngành liên quan và lộ trình hợp lý về thời điểm tăng giá, mức tăng giá.Lạm phát rất nhạy cảm, thường không bền vững, dễ bị phá vỡ và nếu bùng phát trở lại sẽ rất khó kiểm soát. Do vậy, cần tập trung kiểm soát lạm phát ngay cả khi vẫn ở mức thấp để tránh rủi ro cho những năm tới. KẾT LUẬN Như vậy, năm 2013 là 1 bước tiến mới trên con đường đẩy lùi lạm phát, khắc phục tình trạng kinh tế chậm phát triển. Kinh tế ổn định sẽ làm tiền đề cơ sở cho sự thành công của các thành tựu trong lĩnh vực giáo dục, khoa học, chính trị…Để đảm bảo cho sự phát triển bền vững Đảng và Nhà nước cần nghiêm túc xem xét lại mô hình kinh tế vừa qua và sớm định hướng một mô hình mới, cùng những thể chế hỗ trợ phù hợp, nếu không các cuộc cải cách sẽ không có mục tiêu thực sự và Việt Nam sẽ bỏ lỡ cơ hội đi tới tương lai bằng con đường bằng phẳng. Với những giải pháp nêu trên, cùng với những kết quả bước đầu trong điều hành của Chính phủ năm qua, chúng ta có thể hy vọng CPI sẽ đạt được mục tiêu của Quốc hội đề ra trong năm 2014.
Xem thêm

Đọc thêm

TÁC ĐỘNG CỦA CÚ SỐC CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ LÊN CÁC BIẾN VĨ MÔ, NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000 2010

TÁC ĐỘNG CỦA CÚ SỐC CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ LÊN CÁC BIẾN VĨ MÔ, NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000 2010

2013Luận văn thạc sĩ kinh tếSim (1992) nghiên cứu phản ứng của cả lạm phát, tỷ giá và sản lượng…- làm giatăng tính tin cậy của việc lựa chọn biến. Thứ hai, các biến lạm phát, sản lượng và tỷgiá mang tính đại diện cao trong số các biến kinh tế vĩ mô, tác động chi phối mạnhmẽ đến tăng trưởng, phát triển kinh tế và quan hệ thương mại của Việt Nam. Đánhgiá tác động của cú sốc chính sách tiền tệ đến các biến này sẽ giúp nhà điều hành cóthể đưa ra những quyết định thích hợp phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế vĩ môkhác nhau. Một vấn đề cần lưu ý là tỷ giá cũng thường được xem là một công cụđiều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam, tuy nhiên trong phạm vi của nghiên cứunày chúng tôi không đề cập đến vai trò công cụ của chính sách tiền tệ mà chỉ xem tỷgiá là một biến chịu tác động của công cụ lãi suất và cung tiền.Trong quan hệ kinh tế với các quốc gia trên thế giới, quan hệ kinh tế thương mạigiữa Việt Nam với Hoa Kỳ luôn giữ vị trí quan trọng. Các dữ liệu vĩ mô của HoaKỳ cũng thường được sử dụng trong các nghiên cứu về chính sách tiền tệ của ViệtNam và nhiều quốc gia khác, điển hình như nghiên cứu của Nguyễn Phi Lân (2010),Kyungho Jang và Masao Ogaki (2003) hay Binder, Chen và Zhang (2010). Để phântích ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế vĩ mô Hoa Kỳ đến các biến vĩ mô tại ViệtNam, chuỗi lãi suất các quỹ liên bang có hiệu lực và sản lượng công nghiệp Hoa Kỳtừ tháng 1/2000 đến tháng 12/2010 được lựa chọn làm biến ngoại sinh trong môhình nghiên cứu.Các chuỗi dữ liệu đều được lấy log trước khi đưa vào mô hình nghiên cứu để tạosự thống nhất và dễ so sánh. Chuỗi sản lượng công nghiệp Việt Nam và sản lượngcông nghiệp Hoa Kỳ đã được điều chỉnh theo mùa vụ.3.2 Phương pháp nghiên cứuTừ trước đến nay mô hình VECM không được sử dụng phổ biến trong cácnghiên cứu về chính sách tiền tệ. Hai trong số rất ít nghiên cứu áp dụng mô hìnhnày là nghiên cứu của Asari, Baharuddin, Jusoh, Mohamad, Shamsudin và Jusoff
Xem thêm

48 Đọc thêm

TIẾN TRÌNH TỰ DO HÓA TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM

TIẾN TRÌNH TỰ DO HÓA TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM

TIẾN TRÌNH TỰ DO HÓA TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM . CHƯƠNG I: KHÁI NIỆM Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của mình, việc tự do hóa nên tài chính là không thể không thực hiện, đặc biệt là sau khi Việt Nam ra nhập WTO năm 2007. Việc có những hiểu biết sâu sắc về quá trình tự do hóa tài chính là điều hết sức cần thiết để có thể góp phần tiến hành một cách thành công quá trình tự do hóa tài chính của Việt Nam nói riêng và sự hội nhập của cả nền kinh tế vào hệ thống kinh tế toàn cầu nói chung. Việc nghiên cứu vấn đề này càng trở nên có ý nghĩa trong điều kiện hệ thống tài chính non trẻ của Việt Nam, với bối cảnh nền kinh tế quốc tế hiện tại, để có thể tận dụng được những lợi ích to lớn của tự do hoá tài chính đồng thời hạn chế những tác động tiêu cực của nó đến nền kinh tế. Xuất pháp từ những tiêu chí đó, nhóm sinh viên lựa chọn tìm hiểu đề tài về “Tiến trình tự do hóa tài chính ở Việt Nam” Theo NHNN Việt Nam, tự do hóa tài chính là quá trình giảm thiểu và cuối cùng là hủy bỏ sự kiểm soát của Nhà nước đối với hoạt động của hệ thống tài chính quốc gia, làm cho hệ thống này hoạt động tự do hơn và hiệu quả hơn theo quy luật thị trường. Bản chất của tự do hoá tài chính (TDHTC) là nhằm đưa hoạt động tài chính vận hành theo cơ chế nội tại vốn có của thị trường và chuyển vai trò điều tiết tài chính từ Chính phủ sang thị trường, chuyển từ quản lý bằng hành chính sang qui luật thị trường, mục tiêu là tìm ra sự phối hợp có hiệu quả giữa Nhà nước và thị trường trong việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế xã hội Nội dung của tự do hóa tài chính bao gồm: Tự do hóa lãi suất, tự do hóa hoạt động ngoại hối, tự do hóa các hoạt động của NHTM và định chế tài chính, tự do hóa giao dịch vốn. CHƯƠNG II: TỰ DO HÓA TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM: 1. Tự do hóa lãi suất 1.1 Khái niệm Lãi suất là giá của vốn, chi phí phải trả cho việc thuê vốn. Trong nền kinh tế luôn có những chủ thể tạm thời dư thừa vốn, cùng lúc đó có những người có cơ hội đầu tư sinh lợi, cần vốn song lại thiếu vốn, thị trường tài chính ra đời làm thông suốt quá trình chuyển vốn từ người thừa vốn sang người cần vốn, các chủ thể qua quan hệ vay mượn tín dụng hoặc mua bán các công cụ nợ đều đạt được mục đích của mình; người thừa vốn vừa bảo đảm được vốn vừa thu được lợi, người thiếu vốn vừa được đáp ứng đủ cho đầu tư Tự do hóa lãi suất là một bộ phận cơ bản của tự do hóa tài chính, tức là lãi suất được tự do biến động để phản ứng theo các lực lượng cung – cầu vốn trên thị trường, loại bỏ những áp đặt mang tính hành chính lên sự hình thành của lãi suất. Việc xác định lãi suất hợp lí sẽ là đòn bẩy thức đẩy sản suất và lưu thông hàng hóa phát triển và ngược lại Ở Việt Nam, chính sách lãi suất đã góp phần bình ổn giá cả, đẩy lùi và kiềm chế lạm phát, kích cầu, tăng trưởng thu nhập quốc dân. 1.2 Tự do hóa lãi suất ở Việt Nam Cùng với tiến trình mở của hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, thị trường tiền tệ cũng có sự biến động với những tác động từ thị trường quốc tế, trong đó biểu hiện rõ nhất là những diễn biến của lãi suất qua từng giai đoạn. Về cơ chế điều hành lãi suất mà Việt Nam , cũng như các nước đã làm, bao gồm 3 phương pháp: Phương pháp 1: Nhà nước quản lý trực tiếp lãi suất bằng cách công bố tất cả các loại lãi suất, gọi là cơ chế ấn định lãi suất. Các ngân hàng và các tổ chức tín dụng đều phải thực hiện một cách tuyệt đối cơ chế này đã tồn tại ơ VN trong thời kỳ nền kinh tế kế hoạch tập trung. Phương pháp 2: Nhà nước không ấn định các mức lãi suất, mà chỉ quy định các mức lãi suất tối đa gọi là lãi suất trần mức lãi suất tối thiểu (gọi là lãi suất sàn ) tạo thành khung giới hạn để trong đó các ngân hàng, các tổ chức tín dụng xác định lãi suất kinh doanh. Đây là cơ chế khống chế lãi suất. Phương pháp này không hoàn toàn cứng nhắc như phương pháp 1, nhưng vẫn giữ được vai trò điều hành lãi suất của nhà nước. Đây là phương pháp được áp dụng từ năm 1992 đến 1996 Phương pháp 3: Nhà nước không ấn định các mức lãi suất, đồng thời cũng không khống chế lãi suất, mà để cho lãi suất tự hình thành theo cơ chế thị trường, các ngân hàng được quyền xác định và công bố lãi suất kinh doanh để đem áp dụng trong việc huy động vốn và cho vay. Đây là cơ chế tự do hóa lãi suất. Như vậy tự do hoá lãi suất có thể được hiểu là việc tháo bỏ hoàn toàn các ràng buộc về lãi suất trong nền kinh tế, cho phép lãi suất trong nền kinh tế đạt tới điểm cân bằng của nó. Thực chất của tự do hoá lãi suất là một quá trình loại bỏ các quy phạm, giới h Tự do hóa lãi suất trong giai đoạn 2005 2008 Từ năm 2005 2008, có sự tăng lên nhịp nhàng giữa lãi suất huy động và cho vay tăng giảm nhịp nhàng. Chính sách bỏ trần sàn lãi suất, áp dụng lãi suất cơ bản làm cơ sở tham chiếu, nên các ngân hàng cũng như các tổ chức tín dụng (TCTD) đua nhau thiết lập lãi suất của mình. Trong 7 năm, mức lãi suất tăng lên lần lượt là 97% đối với lãi suất huy động vốn và 67% đối với lãi suất cho vay. Mức tăng kỷ lục này báo động một khoảng hở trong quản lý và điều hành lãi suất của NHNN, đẩy lãi suất tăng cao trên thị trường. Tuy nhiên, việc thiết lập lãi suất của các NHTM lại làm cho bài toán quản lý trở nên khó hơn trong vấn đề tự do hóa lãi suất. Năm 2008 là năm Việt Nam bị tác động gián tiếp bởi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu buộc NHNN phải “bơm” gói kích cầu 30.000 tỷ đồng để kích thích thị trường tiêu dùng. Cùng với việc tăng lãi suất 3 lần (đỉnh điểm của mức lãi suất huy động là 14% vào tháng 62008, cao nhất tại châu Á), NHNN cũng thực hiện giảm giá VND xuống 2% để giải tỏa áp lực của đồng tiền trong nước (NHNN, 2010). Việc thắt chặt chính sách tiền tệ cũng là giải pháp để giải cứu thị trường trước đà tăng của lạm phát, dù chưa đủ tạo áp lực giảm nhiệt của lãi suất cho vay. Cụ thể, Quyết định số 162008QĐNHNN về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam do NHNN ban hành nhằm điều hành lãi suất cho vay của các TCTD không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản. Diễn biến của thị trường lãi suất năm 2008 đã đi ngược với mong đợi của NHNN, lãi suất không phản ánh đúng quan hệ cungcầu, bất cập về trần lãi suất cũng đẩy các TCTD bước vào thời kỳ mất cân đối trong cầu vốn vay tín dụng trung dài hạn rất lớn, gia tăng rủi ro trong kỳ hạn vốn. Từ năm 2009 đến nay NHNN ban hành Thông tư 072010TTNHNN quy định về cho vay bằng đồng Việt Nam thu lãi suất thỏa thuận nhằm giải quyết vấn đề về lãi suất, cho phép ngân hàng được phép áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận với các khách hàng trung và dài hạn vay phục vụ cho mục đích kinh doanh, mở rộng sản xuất. Tình hình lãi suất năm 2011 không mấy khả quan, khi chịu ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng kinh tế cũng là một trong những lý do đẩy mức lãi suất huy động và cho vay tăng cao, trong khi lãi suất thực trên thị trường phải duy trì ở ngưỡng âm 3,55%.
Xem thêm

Đọc thêm

Truyền dẫn chính sách tiền tệ tại Việt Nam

Truyền dẫn chính sách tiền tệ tại Việt Nam

TÓM TẮT Luận án nghiên cứu tổng hợp các kênh trong truyền dẫn chính sách tiền tệ tại Việt Nam, đo lường mức độ tác động của từng kênh trong truyền dẫn chính sách tiền tệ. Kết quả cho thấy kênh lãi suất vẫn là kênh hiệu lực nhất bên cạnh kênh tỷ giá và kênh tín dụng. Ngoài ra luận án còn kiểm chứng cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ Việt Nam trước và sau khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO), kết quả cho thấy có sự khác biệt nhiều về mức độ truyền dẫn CSTT trước và sau gia nhập WTO. Thông qua kênh lãi suất, truyền tải chính sách tiền tệ thông qua lãi suất chính sách có mối tương quan với các biến trung gian như cung tiền, tín dụng và biến mục tiêu như tăng trưởng và lạm phát trong ngắn hạn lẫn dài hạn. Tăng trưởng giá trị sản lượng công nghiệp, lãi suất cho vay phản ứng mạnh trước cú sốc của lãi suất, trong khi đó phản ứng của lạm phát, cung tiền, tín dụng, chỉ số giá chứng khoán với mức độ yếu hơn. Thông qua kênh tỷ giá, truyền tải chính sách tiền tệ qua kênh tỷ giá cho thấy có tồn tại mối quan hệ giữa tỷ giá và tăng trưởng, tuy nhiên mức độ chưa cao. Truyền tải tỷ giá đến các hoạt động xuất nhập khẩu là có hiệu lực, xuất nhập khẩu phản ứng tích cực trước cú sốc của tỷ giá. Kết quả cũng cho thấy hoạt động xuất nhập khẩu có mối tương quan chặt chẽ với tăng trưởng và lạm phát. Thông qua kênh tín dụng, truyền tải chính sách tiền tệ cho thấy tồn tại mối quan hệ giữa tín dụng với tăng trưởng và lạm phát. Phản ứng của tăng trưởng sản lượng công nghiệp nhanh trước cú sốc của tín dụng trong khi với lạm phát thì chậm hơn. Ngoài ra cú sốc của tín dụng tư nhân tác động rất yếu đến cung tiền, tín dụng tư nhân phản ứng nhanh trước lãi suất cho vay. Kiểm chứng mối quan hệ giữa lãi suất chính sách và lãi suất cho vay cho thấy truyền tải từ lãi suất chính sách đến lãi suất cho vay là mạnh, tuy nhiên chưa hoàn toàn. Giữa lãi suất chính sách với tăng trưởng và lạm phát cho thấy NHNN điều hành lãi suất chính sách chủ yếu dựa vào thay đổi lạm phát. Ngoài ra, lãi suất trong nước có mối quan hệ dương với lãi suất của Fed. Giữa tăng trưởng tín dụng tư nhân với lãi suất chính sách có mối quan hệ nghịch biến. Tín dụng tư nhân chịu tác động mạnh bởi lãi suất thực, cung tiền và tăng trưởng giá trị sản lượng công nghiệp. Luận án dựa vào kết quả nghiên cứu đã đề suất một số giải pháp góp phần gia tăng hiệu quả trong điều hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam.
Xem thêm

Đọc thêm

TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ LẠM PHÁT NỀN KINH TẾ KHÁC VIỆT NAM

TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ LẠM PHÁT NỀN KINH TẾ KHÁC VIỆT NAM

mà cụ thể là bán trái phiếu chính phủ Mỹ kỳ hạn ngắn (đáo hạn dưới 3 năm) vàmua lại trái phiếu chính phủ Mỹ kỳ hạn dài (đáo hạn từ 6-30 năm).- Nới lỏng định lượng 3 (QE3, từ tháng 9 năm 2012): FED cam kết sẽ tiếp tục giữlãi suất ngắn hạn mức gần 0% ít nhất là cho đến giữa năm 2015; đồng thời, FEDsẽ tiến hành mua số lượng MBS trị giá 40 tỉ đôla mỗi tháng bằng cách phát hànhtiền và mua lại tài sản của các ngân hàng.Về mặt lý thuyết, khi đưa ra gói định lượng này, FED hi vọng sẽ có nhữngtác động tốt đến nền kinh tế thông qua việc ngân hàng thương mại sẽ cho vay nhiềuhơn. Điều đó cũng có nghĩa là người đi vay có nhiều tiền hơn để chi tiêu, xu hướngtiêu dùng tăng này mang lại nhiều việc làm hơn, tăng năng suất lao động, và cuốicùng là tăng áp lực lên lương và giá cả. Bên cạnh đó, lượng tiền này được bơm vàonền kinh tế và sẽ khiến lãi suất dài hạn giảm xuống trong tương lai. Khi lãi suất dàihạn giảm xuống, nhà đầu tư có nhiều lựa chọn hơn trong việc tiêu tiền, thị trườngchứng khoán trỗi dậy, gia tăng tài sản của hộ gia đình, thúc đẩy chi tiêu và phục hồixây dựng công trình khu dân cư.Tuy nhiên, thực tế đã đi ngược lại với kỳ vọng của FED, các ngân hàng lạikhông sẵn sàng trong việc cho vay tiền. Hệ thống ngân hàng hiện nay vẫn còn tồnlượng tiền dự trữ khổng lồ (ước tính khoảng 1.600 tỷ USD) không cho vay và bảnthân các ngân hàng cũng vẫn chưa sẵn sàng nới lỏng các tiêu chuẩn tín dụng vốncòn đang trong tình trạng thắt chặt sau cuộc khủng hoảng tài chính. Việc áp dụng10gói QE thực tế đang tạo ra tình trạng “bong bóng” về tài sản. Lượng cung tiền lớnthay vì được kỳ vọng để đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất, tạo ra giá trị của cải bềnvững thì lại được đầu tư vào các tài sản tài chính ngắn hạn khiến giá trị thị trườngcủa chúng vượt xa giá trị thực, đe dọa sự ổn định của nền tài chính Mỹ nếu khôngđược kiểm soát chặt chẽ.Biểu đồ mối quan hệ giữa tiền cơ sở và cung tiền Mỹ
Xem thêm

14 Đọc thêm

CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NHNN VIỆT NAM TỪ NĂM 2008 ĐẾN NAY

CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NHNN VIỆT NAM TỪ NĂM 2008 ĐẾN NAY

CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NHNN VIỆT NAM TỪ NĂM 2008 ĐẾN NAY Chính sách tiền tệ là một trong những điều tiết nền kinh tế vĩ mô cực kỳ quan trọng của nhà nước trong nền kinh tế thị trường vì nó có ảnh hưởng lớn đến các biến số vĩ mô như: công ăn việc làm, tốc độ tăng trưởng, lạm phát… Để đạt được các mục tiêu của chính sách tiền tệ thì việc sử dụng các công cụ của nó có vai trò cơ bản, quyết định. Ở Việt Nam kể từ khi đổi mới đến nay, chính sách tiền tệ đặc biệt là các công cụ của nó đang từng bước hình thành,hoàn thiện và phát huy tác dụng đối với nền kinh tế. với đặc điểm và vai trò của nền kinh tế Việt Nam thì việc lựa chọn các công cụ nào, sử dụng nó ra sao ở các giai đoạn cụ thể của nên kinh tế luôn là vấn thường xuyen phải quan tâm theo dõi và giải quyết đối với các nhà hoạch định và điều hành chính sách tiền tệ quốc gia, các nhà nghiên cứu kinh tế. Đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế trong nước và quốc tế như hiện nay thì việc nghiên cứu về chính sách tiền tệ cụ thể là các công cụ chính sách của nó là một vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao.
Xem thêm

Đọc thêm

Tác động của lãi suất đối với nền kinh tế Việt Nam

Tác động của lãi suất đối với nền kinh tế Việt Nam

Tác động của lãi suất đối với nền kinh tế Việt Nam CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU Lãi suất là một yếu tố rất nhạy cảm đối với nền kinh tế của các nước. Ở Việt Nam, Ngân hàng nhà nước đã rất linh hoạt trong việc sử dụng công cụ lãi suất nhằm tác động tích cực đến nền kinh tế trong quá trình chuyển đổi. Sau những thất bại kinh tế giai đoạn từ năm 1998 đến trước 2004, việc hạ lãi suất để kích thích đầu tư hầu như cũng không có hiệu quả. Cho đến 2004, sau những nỗ lực vực dậy, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước phục hồi tạo cơ sở cho việc tiếp tục phát triển, đổi mới hệ thống tài chính, cải cách chính sách lãi suất. Hiện nay, chúng ta đã nhận thức rõ tầm quan trọng của công cụ lãi suất trong nền kinh tế, tác động và ảnh hưởng của nó đến sự phát triển kinh tế trong bối cảnh đất nước đang tham gia ngày càng sâu rộng hơn và liên kết khu vực và hội nhập Quốc tế. Vì thế, chúng em quyết định chọn đề tài “Lãi suất và” nhằm nghiên cứu sâu hơn về lãi suất và chiều hướng diễn biến của nó, những thực trạng và tác động của nó đến nền kinh tế. Từ đó đưa ra được những giải pháp và những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong công cuộc phát triển hệ thống tài chính nói chung và cải cách chính sách lãi suất nói riêng. Phương pháp nghiên cứu : Phương pháp thống kê, mô tả Số liệu: Thứ cấp Bố cục nghiên cứu: gồm phần + Chương 1 : Mở đầu + Chương 2: Lý luận chung về lãi suất + Chương 3: Thực trạng chính sách lãi suất và tác động đến nền kinh tế Việt Nam + Chương 4: Những hạn chế của chính sách lãi suất ở Việt Nam và giải pháp   CHƯƠNG 2: LÝ LUẬN CHUNG VỀ LÃI SUẤT 2.1 Khái niệm và đặc điểm của lãi suất 2.1.1 Khái niệm về lãi suất Lãi suất được hiểu theo một nghĩa chung nhất đó là giá cả của tín dụng. Theo Samualson: “Lãi suất là giá của người đi vay phải trả cho người vay để sử dụng 1 khoản tiền trong 1 khoảng thời gian xác định”. 2.1.2 Đặc điểm của lãi suất Có hai đặc điểm chính: + Tính cạnh tranh: Lãi suất huy động vốn hình thành trên cơ sở cạnh tranh giữa các Ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng… Mỗi Ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng phải có lãi suất hấp dẫn để thu hút khách hàng trên nguyên tắc kinh doanh có hiệu quả và giữ được vị trí cạnh tranh với các Ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng khác. + Tính linh hoạt: Lãi suất tín dụng hình thành 1 cách linh hoạt, nhạy bén, thích ứng với mọi hoàn cảnh, đối tượng. Sự thay đổi thường xuyên của lãi suất tín dụng phù hợp với sự biến động của cung, cầu về vốn vay, tỷ lệ lạm phát, thu chi ngân sách Nhà nước, yếu tố tâm lý của người đi vay và người cho vay trên thị trường tiền tệ, tín dụng. 2.2 Phân loại và phân biệt lãi suất 2.2.1 Phân loại lãi suất • Theo tính cạnh tranh của công cụ nợ + Nhóm lãi suất chịu tác động của quan hệ cung cầu vốn. Lãi suất tín phiếu kho bạc đóng vai trò là lãi suất chuẩn, thấp nhất trên thị trường tiền tệ. Lãi suất các công cụ huy động vốn của các trung gian tài chính như tiền gửi, chứng chỉ tiền gửi, hối phiếu được Ngân hàng thương mại chấp nhận. Lãi suất vay vốn giữa các Ngân hàng thương mại trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng. Lãi suất của các khoản tín dụng ngắn hạn của các Ngân hàng thương mại cho các doanh nghiệp vay, là lãi suất cao nhất trên thị trường tiền tệ, lãi suất của các Ngân hàng thương mại lớn áp dụng cho các doanh nghiệp có uy tín là mức lãi suất thấp nhất trên thị trường này và thường gọi là lãi suất cho vay cơ bản. + Nhóm lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố được sử dụng để điều hành chính sách tiền tệ. Các lãi suất này không được xác định chủ yếu theo quan hệ cungcầu về vốn mà được Ngân hàng Nhà nước xác định tùy thuộc vào mục tiêu chính sách tiền tệ, diễn biến tiền tệ và kinh tế vĩ mô. Bao gồm lãi suất chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cho vay qua đêm, lãi suất định hướng thị trường liên ngân hàng, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở. • Theo nghiệp vụ kinh doanh của ngân hàng thương mại + Lãi suất huy động vốn: Là lãi suất thường do các Ngân hàng thương mại đưa ra để huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội, nhận tiển gửi của khách hàng, phát hành chứng chỉ tiền gửi,... + Lãi suất cho vay: là lãi suất thường do các Ngân hàng thương mại công bố hay thực hiện cho khách hàng vay vốn. Phân loại theo tiêu thức này nhằm giúp cho các tổ chức tín dụng, các Ngân hàng thương mại có thể quyết định nên ấn lãi suất huy động vốn và lãi suất cho vay là bao nhiêu. Quyết định này giúp cho các tổ chức tín dụng có thể huy động được nguồn vốn dồi dào, sử dụng hết nguồn vốn của mình để cho vay nhằm hướng đến mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận. Đồng thời giúp cho người gửi có thể lựa chọn đến nơi lãi suất cao nhất, người vay có thể đến nơi với lãi suất thấp nhất. • Phân loại theo thời gian: + Lãi suất ngắn hạn: Là lãi suất được áp dụng cho các khoản vay có thời hạn từ 12 tháng trở xuống. +Lãi suất trung hạn: Là lãi suất được áp dụng cho các khoản vay có thời hạn trên 1 năm cho đến 5 năm. +Lãi suất dài hạn: Là lãi suất được áp dụng cho các khoản vay có thời hạn trên 5 năm. Phân loại lãi suất theo thời gian giúp chúng ta ấn định lãi suất phù hợp với nguyên tắc: thời hạn càng dài thì lãi suất càng cao. 2.2.2 Phân biệt về lãi suất: • Lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa Lãi suất thực được định nghĩa là lãi suất danh nghĩa trừ đi mức lạm phát dự tính. Nó là một phép đo tốt hơn đối với những ý muốn đi vay hay cho vay so với lãi suất danh nghĩa và nó là công cụ chỉ bảo tốt hơn về độ căng thẳng của các điều kiện ở thị trường tín dụng so với lãi suất danh nghĩa. Tỉ lệ lạm phát hay tỉ lệ trượt giá của đồng tiền trong một khoảng thời gian nhất định luôn làm cho giá trị thực trở nên nhỏ hơn giá trị danh nghĩa. Vì vậy lãi suất thực luôn nhỏ hơn lãi suất danh nghĩa vì tỉ lệ lạm phát nói trên. • Lãi suất – Lợi tức Lãi suất là tỉ lệ phần trăm số tiền lãi trên số tiền vốn vay. Trong khi đó tỉ suất lợi tức là tỉ lệ phần trăm của số thu nhập của người có vốn trên tổng số vốn anh ta đưa vào sử dụng (đầu tư hay cho vay). 2.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới lãi suất Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, Nhà nước đóng vai trò trung tâm trong hầu hết tất cả các hoạt động kinh tế xã hội trong đó có thị trường tài chính. Vì lẽ đó, lãi suất trong các nước đó đều do Nhà nước quy định, thậm chí một số nước còn quy định đến cả mức chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay của các ngân hàng. Sự biến động của lãi suất trong các điều kiện như vậy phần lớn phụ thuộc vào ý chí của chính phủ và không vận động theo bất cứ một quy luật nào. Trái lại, trong các nền kinh tế thị trường, Nhà nước chỉ đóng vai trò là người điều tiết vĩ mô, thị trường tài chính hoạt động theo cơ chế tự do hoá, cơ chế hình thành lãi suất là cơ chế thị trường. Lãi suất vì vậy mà chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố kinh tế vĩ mô cũng như nhiều các nhân tố khác. Ảnh hưởng của lạm phát kỳ vọng Khi lạm phát được dự đoán tăng trong một thời kỳ nào đó, lãi suất sẽ có xu hướng tăng.Điều này là xuất phát từ mối quan hệ giữa lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa và để duy trì lãi suất thực không đổi, tỷ lệ lạm phát tăng đòi hỏi lãi suất danh nghĩa phải tăng lên tương ứng.Mặt khác, công chúng dự đoán lạm phát tăng sẽ dành phần tiết kiệm của mình cho việc dự trữ hàng hoá hoặc những dạng thức phi tài sản khác như vàng, ngoại tệ mạnh hoặc đầu tư vốn ra nước ngoài nếu có thể. Tất cả những điều này làm giảm cung quỹ cho vay và gây áp lực tăng lãi suất trên thị trường. Từ mối quan hệ này cho thấy ý nghĩa và tầm quan trọng của việc khắc phục tâm lý lạm phát đối với việc ổn định lãi suất, sự ổn định và tăng trưởng của nền kinh tế. Hình 2.1: Mô tả mối liên hệ giữa lạm phát dự tính và lãi suất. Lạm phát dự tính tăng dần đến cầu về tư bản cho vay từ D1 đến D2 đồng thời cung giảm từ S1 đến S2, lãi suất tăng từ i1 đến i2 Ảnh hưởng của tỷ suất lợi nhuận bình quân Tỷ suất lợi nhuận bình quân của các dự án đầu tư phải cao hơn lãi suất các khoản vay tài trợ cho dự án. Có như vậy các nhà đầu tư mới có lợi nhuận từ các dự án đầu tư và phấn khởi mở rộng đầu tư. Do đó, cách đánh giá, lựa chọn chính sách lãi suất phù hợp sẽ dựa trên cơ sở ước lượng tỷ suất lợi tức trung bình của nền kinh tế. Ảnh hưởng của bội chi ngân sách Bội chi ngân sách ở trung ương và địa phương trực tiếp làm cho cầu tiền tăng và làm tăng lãi suất. Sau nữa, bội chi ngân sách sẽ tác động đến tâm lý công chúng về gia tăng mức lạm phát và sẽ gây áp lực tăng lạm phát.Thông thường, Chính phủ thường tài trợ cho thâm hụt ngân sách bằng cách phát hành trái phiếu.Lượng cung trái phiếu trên thị trường tăng lên làm cho giá trái phiếu có xu hướng giảm và lãi suất thị trường có xu hướng tăng. Mặt khác, do tài sản có của Ngân hàng thương mại tăng ở khoản mục trái phiếu chính phủ, dự trữ vượt mức giảm nên lãi suất ngân hàng cũng sẽ tăng. Những thay đổi trong thuế: Thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp luôn có tác động đến lãi suất. Khi các hình thức thuế này tăng sẽ điều tiết đi một phần thu nhập của các cá nhân và tổ chức cung cấp dịch vụ tín dụng hay những người tham gia kinh doanh chứng khoán. Mọi người đều quan tâm đến thu nhập thực tế hơn là thu nhập danh nghĩa. Do vậy, để duy trì một mức lợi nhuận thực tế nhất định, họ phải cộng thêm vào lãi suất cho vay những thay đổi của thuế. Ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái kỳ vọng Khi đồng nội tệ yếu, bị những sức ép lớn do những dao động của các đồng ngoại tệ mạnh thì tâm lý phổ biến của người dân là coi ngoại tệ mạnh như một trong những loại tài sản tiết kiệm an toàn. Chẳng hạn, khi hiện tượng đô la hoá xảy ra, người dân sẽ ồ ạt chuyển sang tiết kiệm bằng ngoại tệ cụ thể là đô la Mỹ. Làm như vậy người gửi hưởng lợi kép gồm lãi suất tiền gửi và sự lên giá của đồng đô la Mỹ. Sự chuyển dịch này tạo ra sự khan hiếm nội tệ ở các Ngân hàng thương mại và buộc các ngân hàng này phải tăng lãi suất tiền gửi đồng nội tệ để huy động cho vay nền kinh tế. Như vậy, khi xây dựng chính sách lãi suất cần phải xem xét đến khía cạnh tỷ giá để giảm bớt mức chênh lệch giữa lợi tức lãi suất tiền gửi nội tệ và ngoại tệ hay lãi suất cho vay nội tệ và ngoại tệ. Điều này giúp giảm bớt sự dịch chuyển không mong đợi từ tiền gửi nội tệ sang đô la khi đồng đô la lên giá. Hình 2.2: Mô tả khi đồng nội tệ giảm giá, e(đ) giảm làm xuất khẩu tăng, S() tăng hay D(đ) tăng làm đồng nội tệ tăng giá và lãi suất nội tệ tăng Những thay đổi trong đời sống xã hội: Ngoài những yếu tố trên, sự thay đổi của lãi suất còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố thuộc về đời sống xã hội khác như tình hình về kinh tế, chính trị cũng như những biến động tài chính quốc tế như các cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trên thế giới, các luồng vốn đầu tư ra vào đối với các nước... Tất cả những điều này gợi ý cho những nhà nghiên cứu, soạn thảo và điều hành chính sách lãi suất phải có một cách nhìn và đánh giá một cách tổng thể trước khi đưa ra bất cứ một kết luận hay một quyết định nào có liên quan đến lãi suất. 2.4 Vai trò của lãi suất Lãi suất là công cụ kích thích lợi ích vật chất để thu hút các khoản tiền nhàn rỗi trong xã hội tập trung vào quỹ tín dụng. Lãi suất là công cụ để đo lường sức khỏe của nền kinh tế. Ở các nước kinh tế phát triển, giá trái khoán và lãi suất được yết giá hàng ngày trên các tờ báo của cơ quan chính phủ. Người ta có thể căn cứ vào sự biến động của lãi suất để dự báo các yếu tố khác của nền kinh tế như: tính sinh lời của các cơ hội đầu tư, mức lạm phát dự tính, mức thiếu hụt ngân sách. Các yếu tố này hợp thành chỉ tiêu trừu tượng sức khỏe của nền kinh tế.Người ta có thể dựa vào lãi suất trong một thời kỳ để dự báo tình hình kinh tế trong tương lai.Trên cơ sở đó các doanh nghiệp lập kế hoạch chi tiêu trong tương lai của họ, trong khi đó ngân hàng và các nhà đầu tư cần dự báo lãi suất để quyết định xem chọn mua tài sản nào. Vai trò của lãi suất thể hiện trên cả tầm vĩ mô và vi mô. Xét trên tầm vĩ mô, lãi suất tín dụng là công cụ thực hiện chính sách tiền tệ, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước. Ý nghĩa này của lãi suất tín dụng được thể hiện trên nhiều mặt. Thứ nhất, nhà nước có thể thông qua lãi suất tín dụng để thực hiện điều chỉnh lượng cung ứng tiền, từ đó tác động đến sự tăng giảm sản lượng để thực hiện điều tiết nền kinh tế (ổn định lạm phát, công ăn việc làm và phát triển sản xuất). Thứ hai, lãi suất tín dụng tác động tới tổng cung và tổng cầu thông qua tác động tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đến tiêu dùng và tiết kiệm của dân cư. Khi lãi suất tín dụng tăng cao, người dân sẽ hạn chế tiêu dùng, gửi tiết kiệm nhiều hơn và doanh nghiệp sẽ thận trọng trong các hoạt động đầu tư vì vậy tổng cầu và tổng cung đều có xu hướng giảm. Ngược lại, lãi suất tín dụng hạ thấp khuyến khích tiêu dùng, các khoản gửi tiết kiệm sẽ hạn chế hơn trong khi đó doanh nghiệp có điều kiện mở rộng sản xuất kinh doanh.Vì vậy, tổng cung và tổng cầu đều có xu hướng tăng cao. Thứ ba, lãi suất tín dụng được sử dụng làm công cụ điều hòa cung cầu ngoại tệ, góp phần cân bằng cán cân thanh toán quốc tế. Nâng cao lãi suất tín dụng sẽ hút ngoại tệ vào trong nước làm tăng cung ngoại tệ. Hạ thấp lãi suất tín dụng sẽ đẩy ngoại tệ ra ngoài nước, làm giảm cung và tăng cầu ngoại tệ. Thứ tư, trong chừng mực nhất định, người ta có thể sử dụng lãi suất để thực hiện điều chỉnh cơ cấu ngành, cơ cấu khu vực nhằm đảm bảo sự thích ứng của nền kinh tế với nhu cầu của thị trường trong nước và quốc tế.Nhà nước có thể thực hiện cho vay với lãi suất ưu đãi cho những doanh nghiệp thuộc những ngành nghề, khu vực kinh tế được khuyến khích nhờ vậy có thể kích thích sự phát triển của những ngành nghề và những khu vực này nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Xét trên góc độ vi mô, sự ảnh hưởng của thay đổi lãi suất tín dụng thể hiện ở hai góc độ: Một là, lãi suất tín dụng là công cụ thực hiện các hoạt động của các trung gian tài chính trong điều kiện cạnh tranh lành mạnh để đảm bảo tính tự chủ tài chính của các tổ chức này, tạo ra nguồn lực tài chính để các tổ chức này tồn tại và phát triển. Hai là, lãi suất tín dụng tác động tới hoạt động sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp và đời sống của dân cư.
Xem thêm

Đọc thêm

Một số câu hỏi vĩ mô và vi mô trong kinh tế học có đáp án

Một số câu hỏi vĩ mô và vi mô trong kinh tế học có đáp án

Câu 1: Thế nào là kinh tế học, kinh tế vi mô, vĩ mô, cho ví dụ?Quan điểm 1: Kinh tế học là một môn khoa học – xã hội nghiên cứu các thức xã hội để giải quyết 3 vấn đề kinh tế cơ bản: sản xuất cái gì, sản xuất cho ai và sản xuất như thế nào?Quan điểm 2: Kinh tế học nghiên cứu các hành vi ứng xử của các tác nhân (hộ gia đình, doanh nghiệp, chính phủ và người nước ngoài).VD: giá tăng ứng xử của người tiêu dùng như thế nào? giá tăng ứng xử của nhà sản xuất như thế nào?Quan điểm 3: Kinh tế học nghiên cứu các mối quan hệ giữa sản xuất, trao đổi và tiêu dùng trên cơ sở đó, tìm ra được mối quan hệ tối ưu nhất để thúc đẩy kinh tế phát triểnQuan điểm 4: Kinh tế học nghiên cứu các hiện tượng, các sự kiện phân tích để tìm hiểu nguyên nhân của các sự kiện, hiện tượng đó nhằm tìm ra các biện pháp để khắc phục.Tóm lại, kinh tế học là một môn KHXH, khoa học của sự lựa chọn nghiên cứu và giải quyết những vấn đề kinh tế cơ bản nhằm khai thác và sử dụng các nguồn lực khan hiếm sao cho có hiệu quả nhất và phân phối sản phẩm làm ra cho mọi thành viên của xã hội (hiện tại và tương lai).•Mọi nguồn lực đều khan hiếm, phải quản lý, khai thác và sử dụng có hiệu quảVD: Than là nguồn tài nguyên khan hiếmQuản lý, khai thác, và sử dụng như thế nào cho có hiệu quả•Khi tạo ra sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ rồi thì ta phải nghĩ đến việc hài hòa lợi ích giữa hiện tại và tương lai.VD: Vốn là khan hiếmQuản lý, khai thác, và sử dụng vốn như thế nào cho có hiệu quả (cả về mặt hiện tại và tương lai)Kinh tế học vi mô: là 1 bộ phận của kinh tế học, là một môn khoa học – xã hội, khoa học của sự lựa chọn, nghiên cứu và giải quyết các vấn đề kinh tế cơ bản, các tế bào của nền kinh tế. Nghiên cứu các hành vi, các hoạt động cụ thể của từng đơn vị kinh tế đơn lẻ (VD: doanh nghiệp, hộ gia đình, trang trại, chủ đất)VD: Doanh nghiệp này nên sử dụng bao nhiêu lao động thì có hiệu quả Trang trại này nên sản xuất ra bao nhiêu sản phẩm thì có hiệu quả Trang trại này sản xuất ra sản phẩm nào đó, thì ai sẽ là người tiêu thụ những sản phẩm đóKinh tế học vĩ mô: là 1 bộ phận của kinh tế học, là một môn khoa học – xã hội, khoa học của sự lựa chọn, nghiên cứu và giải quyết các vấn đề kinh tế cơ bản ở tầm quốc gia và nó nhấn mạnh đến mối quan hệ tương tác một cách tống thể như: cầu tiền, cung tiền, tăng trưởng, lạm phát, thất nghiệp.VD: tăng trưởng như thế nào là phù hợp. Năm 2013 chính phủ phải cứu đói lúc giáp hạt tại 1 số địa phương => CP phải xuất kho bao nhiêu tấn gạo để cứu đói. Câu 2: 3 vấn đề kinh tế cơ bản của nền kinh tếBất cứ một nền kinh tế nào cũng phải dựa trên 3 vấn đề kinh tế cơ bản là sản xuất cái gì, sản xuát cho ai và sản xuất như thế nào.Sản xuất cái gì:Sản xuất cái gì là câu hỏi của cầu => sản xuất cái gì đều phải dựa vào cầu của thị trường và xã hội nghĩa là thị trường và xã hội cần cài gì thì sản xuất cái đó, không nên sản xuất những cái mà thị trường và xã hội không cần.VD: Khi thu nhập của người dân tăng => người tiêu dùng muốn có rau sạch Khi thu nhập của người dân tăng => người tiêu dùng muốn vào siêu thị mua rau sạch.Để nhận biết được cầu thị trường thì người ta dựa vào nhiều tiêu thức (nhưng tiêu thức quan trọng nhất là dựa vào giá thị trường.VD: gà Tiên Yên giá cao Gà Công Nghiệp giá thấpDựa vào lợi thế so sánh của từng địa phương mà chúng ta nên sản xuất cái gì để có hiệu quảSản xuất như thế nào:Sản xuất như thé nào là câu hỏi của cung điều đó có nghĩa là sản xuất như thế nào thì có hiệu quả cao về kinh tế, chính trị, xã hội và môi trường sinh thái.Muốn có hiệu quả cao thì nhà nước và doanh nghiệp phải nghiên cứu nhiều vấn đề: lựa chọn công nghệ nào để sản xuất, ai sản xuất thì có lợi, nơi nào sản xuất thì có lợi, lựa chọn và phối hợp đầu vào như thế nào thì có hiệu quả.Để nhận biết được sản xuất như thế nào có hiệu quả cao thì có nhiều tiêu thức, nhưng tiêu thức quan trọng nhất là chất lượng sản phẩm (chất lượng của sản phẩm là vấn đề sống còn của doanh nghiệp, của quốc gia).Sản xuất cho ai:Ai là người được hưởng lợi từ những kết quả và thành quả do nhà nước và các tế bào trong nền kinh tế mang lại điều đó có nghĩa rằng sản xuất cho ai gồm 2 nội dung:Thị trường tiêu thụ sản phẩm: sản xuất thì ai tiêu dùng, nước nào tiêu dùngPhân phối sản phẩm, phân phối lợi ích giữa các tác nhân trong nền kinh tế phải đảm bảo hài hòa giữa các tác nhân (nhà nước, doanh nghiệp và NLĐ)3 vần đề kinh tế cơ bản này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tùy điều kiện của từng quốc gia, từng giai đoạn , từng doanh nghiệp mà lựa chọn và xắp xếp 3 vấn đề này như thế nào cho phù hợp.Câu 3: Trình bày những nội dung cơ bản của nền kinh tế (mô hình kinh tế hỗ hợp) và vận dụng ở nước ta như thế nào?Mô hình kinh tế hỗn hợp là mô hình kết hợp hài hòa giữa mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung và mô hình kinh tế thị trường; kết hợp giữa các yếu tố chủ quan và khách quan;Mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung: các vấn đề kinh tế cơ bản đều do nhà nước quyết địnhMô hình kinh tế thị trường: các vấn đề kinh tế cơ bản đều do thị trường quyết địnhƯu điểm: nó phát huy được thế mạnh (ưu điểm) của 2 mô hình trên.Kinh tế kế hoạch hóa tập trung: các vấn đề kinh tế cơ bản đều do nhà nước quyết định (chưa phân hóa giàu, nghèo, quan hệ giữa người với người là quan hệ bác ái)Kinh tế thị trường:Khai thác sử dụng các nguồn lực có hiệu quả hơn => LNThay đổi công nghệPhi tập trung hóa 1 số quyền lực vào quan chức chính phủ, quan chức nhà nướcCon người có quyền tự do lựa chọn > tính năng động, sáng tạo cao.Nếu kết hợp tốt 2 mô hình này, nền kinh tế phát triển cao, đời sống của nhân dân được ổn định và nâng lên. Nhưng nếu kết hợp không tốt, sẽ bộc lộ những nhược điểm.VD: Cơ chế xin – choNảy sinh phân hóa giàu – nghèo (khoảng cách phân hóa giàu – nghèo dãn ra).Rủi ro đạo đức, rủi ro về kinh tế (hàng nhái, hàng giả), bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp với nhau.Nếu quản lý không tốt, hỗ trợ của nhà nước sẽ không đúng đối tượngQuản lý không tốt: ô nhiễm môi trường, tham nhũng, tệ nạn xã hội...Vận dụng ở nước ta:Nước ta vận dụng nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩaCâu 4: Trình bày khái niệm, cách tính độ co giãn chéo của cầu hàng hóa dịch vụ đối với giá cả (Độ co giãn của cầu đối với giá cả của các hàng hóa có liên quan). Cho ví dụ và nêu ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này? Vận dụng ở địa phương hoặc danh nghiệp nơi anh (chị) đang công tác như thế nào?Độ co giãn chéo của cầu hàng hóa dịch vụ đối với giá cả được đo bằng % thay đổi lượng cầu của hàng hóa này (lượng cầu của hàng hóa A) khi có 1 lượng % giá thay đổi của hàng hóa kia (hàng hóa B).Ý nghĩa:Độ co giãn chéo của cầu đối với giá cả cho ta biết giá của hàng hóa kia (hàng hóa B) thay đổi thì ảnh hường đến cầu của hàng hóa A như thế nào. Do đó có ý nghĩa rất lớn đối với nhà nước và doanh nghiệp.Đường cầu của doanh nghiệp mình nhạy cảm đến mức độ nào khi có chiến lược định giá của các doanh nghiệp đối thủ, trên cơ sở đó mà có các đối sách trở lại cho phù hợp. Câu 5: Trình bày những nội dung cơ bản của ngân sách và thâm hụt ngân sách nhà nước? Theo anhchị để giảm bớt thâm hụt ngân sách phải áp dụng những giải pháp nào?1.Thế nào là ngân sách nhà nướcNgân sách nhà nước là tổng thể các kế hoạch hàng năm về chi tiêu và thu của chính phủ.B (Bud) = T G2.Ngân sách nhà nước thường xảy ra những tình huống sau:Nếu B (Bud) >0: thặng dư ngân sáchNếu B (Bud) = 0: cân bằng ngân sáchNếu B (Bud) < 0: thâm hụt ngân sách3.Thâm hụt ngân sách nhà nước: có 3 khái niệmThâm hụt ngân sách thực tế: thu thực tế < chi thực tế trong năm tài khóaThâm hụt ngân sách cơ cấu: là thâm hụt tính toán trong trường hợp nền kinh tế đang hoạt động ở mức sản lượng tiềm năng.Thâm hụt ngân sách chu kỳ: là thâm hụt ngân sách bị động trong chu kỳ kinh doanh4.Để giảm bớt thâm hụt ngân sách cần phải áp dụng những biện pháp sau:Tăng thu, giảm chiNếu tăng thu, giảm chi mà ngân sách vẫn thâm hụt thì phải có biện pháp tài trợ cho ngân sách nhà nước:+ Vay của dân+ Vay của nước ngoài+ Sử dụng dự trữ ngoại tệ+ Vay ngân hàng (in thêm tiền) Câu 6: Trình bày những nội dung cơ bản của chính sách tiền tệ? Chính sách tiền tệ vận dụng ở nước ta ntn khi nền kinh tế suy thoái? Trả lời: 1, Mục tiêu chính sách tiền tệ:Mục tiêu của chính sách tiền tệ: kiểm soát được lượng cung ứng tiền tệ trên thị trường trên cơ sở đó mà ổn định, phát triển kinh tế và thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô khác.Cơ quan thay mặt chính phủ để triển khai, chỉ đạo thực hiện chính sách tiền tệ là Ngân hàng Trung ương (ngân hàng Nhà nước).Công cụ tác động: Có hai công cụ chính là: mức cung tiền (MS) và lãi suất (r). Tuy nhiên để thực hiện chính sách tiền tệ thì ngân hàng Trung ương còn dùng một số các công cụ khác nhau như: nghiệp vụ thị trường mở, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất cơ bản, lãi suất chiết khấu, quy định trực tiếp lãi suất (lãi suất tiền gửi, lãi suất tiền vay)...Đối tượng tác động: tác động vào tổng cầu (AD) nhưng tác động gián tiếp vì phải thông qua thị trường tiền tệCơ chế tác động: + Trong ngắn hạn: Với mục tiêu là chống suy thoái thì có chế tác động là tăng lượng cung tiền, giảm lãi suất => đầu tư(l) tăng => tổng cầu (AD) tăng => sản lượng thực tế (Qa) tang => nền kinh tế suy thoát khỏi suy thoái.. Hay nói cách khác khi nền kinh tế suy thoái thì chính phủ sử dụng chính sách tiền tệ nới lỏng.Với mục tiêu là chống lạm phát thì cơ chế t ác động là giảm lượng cung tiền, tăng lãi suất => đầu tư (l) giảm => tổng cầu (AD) giảm => sản lượng thực tế (Qa) giảm=> kìm chế được lạm phát nhưng sản lượng bị sụt giảm nghiêm trọng. Nói cách khác, khi nền kinh tế có lạm phát cáo thì áp dụng chính sách tiền tệ thắt chặt.Trong dài hạn: với mục tiêu là tăng sản lượng tiềm năng (Qp,Yp). Do vậy, cơ chế tác động là giảm lượng cung tiền hoặc giảm lãi suất trong dài hạn, từ đó mà đầu tư dài hạn tăng làm tổng cầu dài hạn tăng thì sản lượng tiềm năng cũng tăng.2, Vận dụng khi nền kinh tế suy thoái, chính phủ nước ta cần thực thi chính sách tiền tệ nới lỏng. Cụ thể năm 2008, 2012 nền kinh tế nước ta suy thoái (suy giảm) chính phủ đã áp dụng chính sách tiền tệ nới lỏng thông qua các công cụ giảm lãi suất – Năm 2012, chính phủ ấn định trần lãi suất gửi và vay thấp (giảm lãi suất huy động và lãi suất cho vay); giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc, giảm lãi suất chiết khấu, giảm lãi suất tái cấp vốn... Với chính sách này đã đưa nước ta thoát khỏi suy thoái (2008) và tăng trưởng. Trong năm 2012, nước ta cũng đã vượt qua tạo đà cho năm 2013 tăng trưởng cao. 
Xem thêm

Đọc thêm

Thực trạng nguyên nhân và giải pháp biến động của lãi suất trong năm 2011

Thực trạng nguyên nhân và giải pháp biến động của lãi suất trong năm 2011

1. Thực trạng lãi suất Việt Nam năm 2011. Bước sang năm 2011 lãi suất tiếp tục lên ở mức rất cao, lãi suất cho vay tiêu dùng đã lên tới 2530%, còn lãi suất cho vay sản xuất cũng quanh mức 20% trong 2 tháng đầu năm. Mặc dù lãi suất cao như vậy nhưng dưới sức ép của lạm phát cao Ngân hàng nhà nước (NHNN) vẫn buộc phải tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ. NHNN đã hạ mục tiêu tăng trưởng tín dụng từ mức 23% xuống còn dưới 20%, tăng trưởng cung tiền cũng được điều chỉnh giảm 1516%. Để thực hiện mục tiêu trên ngày 08032011, NHNH ban hành quyết định tăng lãi suất tái chiết khấu, tái cấp vốn và lãi suất cho vay qua đêm lên 12%. Mức lãi suất tái chiết khấu chỉ còn kém 1% so với mức đỉnh 13% của thời kỳ ”siêu lạm phát” năm 2009. Cùng với việc nâng lãi suất chính sách, chỉ trong vòng tháng 2 và tháng 3 vừa qua NHNN đã hút về gần 80 nghìn tỷ đồng trên thị trường mở.
Xem thêm

Đọc thêm

Chính sách tiền tệ và vai trò điều tiết của Ngân hàng Trung ương

Chính sách tiền tệ và vai trò điều tiết của Ngân hàng Trung ương

Trong bất kỳ nền kinh tế nào, tiền tệ là vấn đề quan trọng trong việc điều tiết nền kinh tế vĩ mô. Như chúng ta đã biết, từ lâu tiền tệ đã là cầu nối giữa các hình thái kinh tế khác nhau, theo thời gian tầm quan trọng của nó ngày càng định vị rõ hơn và tồn tại một cách khách quan. Ngày nay trong nền kinh tế thị trường, chính sách tiền tệ xuất phát từ ngân hàng trung ương. Chính sách tiền tệ được xây dựng và khởi động từ ngân hàng trung ương, lan ra đến mọi ngóc ngách của nền kinh tế thông qua hoạt động dây chuyền của hệ thống ngân hàng trung gian và các tổ chức tài chính trong nước. Chính sách tiền tệ là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô quan trọng trong quá trình điều hành các hoạt động của nền kinh tế, thực hiện nó có tác dụng rất lớn trong việc góp phần vào việc kìm chế, đẩy lùi lạm phát, ổn định tiền tệ, góp phần tăng trưởng kinh tế và giải quyết vấn đề công ăn việc làm. Xuất phát từ ý nghĩa khách quan trên, qua thời gian học tập và tìm hiểu em nhận thấy được tầm quan trọng của chính sách tiền tệ. Vì vậy em chọn đề tài “Chính sách tiền tệ và vai trò điều tiết vĩ mô của ngân hàng trung ương’’.
Xem thêm

Đọc thêm

Lạm Phát ở Việt Nam giai đoạn 2003 2013

LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2003 2013

Vậy nguyên nhân gây ra lạm phát cao ở Việt Nam: Nguyên nhân trực tiếp và ngắn hạn: • Các cú sốc thâm hụt ngân sách • Các cú sốc tăng tổng cầu một số lĩnh vực phát triển nóng • Các cú sốc về điều chỉnh giá và tăng giá nguyên liệu đầu vào của hàng nhập khẩu Nguyên nhân cơ bản và dài hạn: • Các yếu tố gây nên lạm phát cơ cấu • Các yếu tố gây nên lạm phát tiền tệ Nguyên nhân khách quan: Lạm phát cơ cấu  Lạm phát chi phí đẩy • Hình thức của lạm phát do chi phí đẩy xuất phát từ phía cung, do chi phí sản xuất cao hơn đã được chuyển sang người tiêu dùng .Điều này chỉ có thể đạt trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế khi người tiêu dùng sẵn sàng trả với giá cao hơn • Bên cạnh đó giá cả nhập khẩu cao hơn được chuyển cho người tiêu dùng nội địa cũng là một yếu tố gaay lên lạm phát .Nhập khẩu càng trở lên đắt đỏ khi đồng nội tệ yếu đi hợac mất giá so với đồng tiền khác. Nguyên nhân chủ quan: Lạm phát cầu kéo và lạm phát tiền tệ • Đây chính là sự mất cân đối trong quan hệ cung – cầu. Nguyên nhân chính là do tổng cầu tăng quá nhanh trong khi tổng cung không tăng hoặc tăng không kịp. • Việc tăng cung ứng tiền tệ là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc tăng cầu về hàng hoá và dịch vụ. Nhưng đây không phải là nguyên nhân duy nhất làm tăng cầu
Xem thêm

4 Đọc thêm

Đề tài: LẠM PHÁT - TỪ LÝ THUYẾT ĐẾN THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM

Đề tài: LẠM PHÁT - TỪ LÝ THUYẾT ĐẾN THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM

Đề tài: LẠM PHÁT- TỪ LÝ THUYẾT ĐẾN THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM PHẦN I CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LẠM PHÁT 1. Khái niệm: 1.1 Định nghĩa: Trong kinh tế học, lạm phát là hiện tượng giảm mãi lực của đồng tiền. Trong một nền kinh tế, điều này đồng nghĩa với “vật giá leo thang”, giá cả hàng hóa, dịch vụ tăng cao khiến với cùng một số lượng tiền, người tiêu dùng mua được ít hàng hóa hơn, hay phải trả một giá cao hơn để hưởng cùng một loại dịch vụ. Cần chú ý là sự tăng giá của một vài mặt hàng cá biệt nào đó trong ngắn hạn ngoài thị trường không có nghĩa là đã xảy ra lạm phát. Khi so sánh với một nền kinh tế khác thì lạm phát là sự “phá giá tiền tệ” của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác. . Thông thường theo nghĩa đầu tiên thì người ta hiểu là lạm phát của đơn vị tiền tệ trong phạm vi nền kinh tế của một quốc gia, còn theo nghĩa thứ hai thì người ta hiểu là lạm phát của một loại tiền tệ trong phạm vi thị trường toàn cầu. Một khái niệm khác về lạm phát là khối lượng tiền lưu hành trong dân chúng tăng lên do Nhà nước in và phát hành thêm tiền vì những nhu cầu cấp thiết (chiến tranh, nội chiến, thâm thủng ngân sách…). Trong khi đó, số lượng hàng hóa không tăng thêm khiến dân chúng cầm trong tay quá nhiều tiền sẽ dẫn đến tranh mua, điều này làm cho giá cả tăng vọt, có khi còn dẫn đến siêu lạm phát. Những ví dụ điển hình của siêu lạm phát đã xảy ra tại Đức trong những năm đầu thập niên 1920, khi tỉ lệ lạm phát lên tới 3.25 x 106 mỗi tháng, có nghĩa là giá cả tăng gấp đôi mỗi 49 tiếng đồng hồ, hoặc tại Hungary sau Thế chiến thứ hai với tỉ lệ lạm phát 4.19 x 1016 (giá cả tăng gấp đôi mỗi 15 giờ đồng hồ). Một khái niệm cũng rất hay được đề cập trong kinh tế là tỉ lệ lạm phát cơ bản. Lạm phát cơ bản chính là lạm phát thể hiện việc thay đổi mức giá mang tính chất lâu dài, loại bỏ những biến động giá mang tính chất tạm thời trong chỉ số giá tiêu dùng. Lạm phát cơ bản là một chỉ báo quan trọng đối với xu hướng lạm phát hiện hành và trong
Xem thêm

Đọc thêm

Cùng chủ đề