GIÁO DỤC MẦM NON NĂM HỌC 2010 2011 CÓ 583 CHÁU ĐẾN TRƯỜNG ĐẠT 60 TRẺ Ở ĐỘ TUỔI VÀO HỌC 100 HỌC SINH ĐƯỢC HỌC BÁN TRÚ

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "  GIÁO DỤC MẦM NON NĂM HỌC 2010 2011 CÓ 583 CHÁU ĐẾN TRƯỜNG ĐẠT 60 TRẺ Ở ĐỘ TUỔI VÀO HỌC 100 HỌC SINH ĐƯỢC HỌC BÁN TRÚ":

SKKN: Một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục trẻ 5 6 tuổi trường Mầm non EaTung

SKKN: Một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục trẻ 5 6 tuổi trường Mầm non EaTung

HẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU Khi xây dựng một ngôi nhà, để ngôi nhà được bền và đẹp thì ta cần có một nền móng thật kiên cố và vững chắc. Cũng giống như xây dựng một con nguời mới phù hợp với cuộc sống mới và đầy đủ phẩm chất đạo đức tốt thì chúng ta phải xây một nền kiến thức vững vàng và việc chăm sóc giáo dục trẻ ở lứa tuổi mầm non là vô cùng cần thiết. Là nền móng nhân cách đầu tiên cho việc giáo dục cho trẻ thành một con người toàn diện.Là một giáo viên mầm non tôi luôn mong muốn và trăn trở làm cách nào để trẻ được chăm sóc một cách tốt nhất, được giáo dục một cách tốt nhất, bởi những điều tôi được học và thực tế trường tôi đang dạy, vì vậy tôi đã rút ra được một số biện pháp giáo dục trẻ 5 – 6 tuổi trường Mầm non EaTung đã đem lại kết quả tốt và rất mong được sự đóng góp ý kiến, những kinh nghiệm hay của những đồng nghiệp để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Bác Hồ đã từng nói “ Làm mẫu giáo tức là thay mẹ dạy trẻ, muốn làm đựợc thế thì trước hết phải yêu trẻ. Các cháu nhỏ hay quấy, phải bền bỉ, phải chịu khó mới nuôi dạy được các cháu. Dạy trẻ cũng như trồng cây non, trồng cây non được tốt thì sau này cây mới lớn tốt. Dạy các cháu tốt thì sau này cháu thành tốt”. Lời Bác nói để ta biết rằng bậc học mầm non rất quan trọng nhất là trẻ 5 6 tuổi giai đoạn mà trẻ đang phát triển mạnh mẽ về tính cách cũng như thể lực của trẻ.Trường Mầm non là nơi có trách nhiệm tổ chức thực hiện mục tiêu kế hoạch đào tạo những thế hệ trẻ mầm non, trở thành những đứa trẻ khỏe mạnh, nhanh nhẹn, cơ thể phát triển cân đối hài hòa, giàu lòng thương yêu, biết quan tâm nhường nhịn những người xung quanh, thật thà, lễ phép, mạnh dạn, hồn nhiên, thông minh, ham hiểu biết, yêu thích cái đẹp, quý trọng cái đẹp, nhất là trẻ 5 tuổi, cần được giáo dục chăm sóc trẻ có một số kỹ năng sơ đẳng như: quan sát, ghi nhớ, so sánh, phân tích, tổng hợp, suy luận, phán đoán để trẻ vào trường phổ thông, trẻ thích được đi học.Nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ là nhiệm vụ mục tiêu cơ bản nhất của trường mầm non. Thực hiện được mục tiêu này là góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục mầm non. Công tác giáo dục phải được nhân dân ta nhận thức rõ tầm quan trọng của ngành học mầm non. Chính vì vậy việc nâng cao công tác chăm sóc giáo dục trẻ, đặc biệt quan tâm đến chất lượng trẻ 5 tuổi để trẻ được phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ là nền móng hình thành nhân cách trẻ, làm cơ sở vững chắc cho các bậc học tiếp theo.Sự lớn lên và phát triển của trẻ đều phải trải qua những đặc điểm chung nhưng ta nhận thấy rằng trẻ em ngày nay phát triển sớm hơn cả về tâm sinh lý, tình cảm, trí tuệ, các khuynh hướng, nhu cầu, hứng thú, thị hiếu, thẩm mỹ của trẻ ngày càng trở nên đa dạng phong phú, trẻ phát triển sớm, hiểu biết nhiều, nói năng mạch lạc hơn.Là một giáo viên được nhà trường phân công dạy lớp mẫu giáo 5 6 tuổi đã 4 năm học liền. Trong quá trình chăm sóc nuôi dạy các cháu do tôi phụ trách, tôi càng thấy được trách nhiệm của mình là làm sao để chăm sóc giáo dục các cháu thật tốt, giúp trẻ phát triển toàn diện. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, tôi đã có nhiều suy nghĩ, thực hành và có những biện pháp để nâng cao chất lượng cho trẻ.Đó là những lý do mà tôi luôn hiểu và mong muốn có ở trẻ, nên tôi đã chọn : Đề tài :“ Một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục trẻ 5 6 tuổi trường Mầm non EaTung . Mong được tất cả các đồng nghiệp tham khảo và đóng góp ý kiến.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tàiMục đích nghiên cứu đề tài:Giúp trẻ phát triển toàn diện về các mặt : Phát triển thể chất, phát triển tình cảm xã hội, phát triển thẩm mĩ, phát triển nhận thức, phát triển ngôn ngữ, sáng tạo và đặc biệt hơn nữa rèn cho cháu một nè nếp lối sống tự tin trong sáng từ ngay những ngày đầu.Cháu có kiến thức cơ bản nhất định và được trang bị chu đáo sẵn sàng cho cháu bước vào lớp một. Đây cũng là một nhiệm vụ quan trọng nhất của bậc học mầm non đặc biệt là ở mẫu giáo lớn.Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài:Xây dựng hệ thống giảng dạy ở các lớp về nội dung kiến thức, phương pháp phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi của trẻ theo từng chủ đề, chủ điểm.Hệ thống hóa các lý luận có liên quan đến vấn đề nghiên cứu:Tầm quan trọng và đặc điểm phát triển của trẻVai trò của giao tiếp và của các tác phẩm văn học đối với sự phát triển nhân cách của trẻ.Môi trường cho trẻ hoạt động. Tìm hiểu thực trạng của vấn đề: Nâng cao chất lượng cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi ở lớp Lá 2 Trường Mầm Non EaTung. Trên cơ sở đó đề ra một số giải pháp để Nâng cao chất lượng cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi. Trò chuyện với trẻ mọi lúc mọi nơi giúp trẻ mạnh dạn, tự tin hòa đồng với cô và bạn, sưu tầm và làm đồ dùng, đồ chơi tranh ảnh phong phú, đa dạng, đẹp nhằm tạo hứng thú cho trẻ yêu thích đến lớp học đồng thời kích thích tính sáng tạo ham học hỏi tìm tòi khám phá thế giới xung quanh.3. Đối tượng nghiên cứuMột số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục trẻ 5 – 6 tuổi4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu Một số biện pháp nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ 5 – 6 tuổi tại trường Mầm non EaTung Xã EaNa, Huyện Krông Ana, Tỉnh DakLak.5. Phương pháp nghiên cứuĐể thực hiện nghiên cứu đề tài này tôi tiến hành có một số phương pháp sau: Phương pháp quan sát. Phương pháp trò chuyện. Phương pháp nghiên cứu tài liệu. Phương pháp kiểm tra, đánh giá.II. PHẦN NỘI DUNG1.Cơ sở lý luậnGiáo dục mầm non là một ngành học mở đầu trong hệ thống giáo dục Quốc dân, chiếm vị trí rất quan trọng nó có nhiệm vụ xây dựng những cơ sở ban đầu đặt nền móng cho việc hình thành nhân cách con người mới Xã Hội Chủ Nghĩa, chuẩn bị những điều kiện cần thiết để bước vào học phổ thông. Giáo dục có tầm quan trọng rất lớn đối với con người nhất là lứa tuổi mầm non khi mới đến trường, đòi hỏi những nhà giáo dục trẻ là những con người có đạo đức, mẫu mực, có trình độ, yêu nghề, mến trẻ. Bởi thế cho nên đòi hỏi chúng ta phải đổi mới giáo dục để đào tạo ra những con người mới phải có tri thức khoa học tốt để vươn lên cùng với sự phát triển của xã hội.Muốn đạt được mục tiêu giáo dục mầm non thì trước hết phải quan tâm đến chất lượng chuyên môn của giáo viên. Hoạt động chuyên môn có tầm quan trọng rất rớn trong nhà trường. Nng cao chất lượng dạy học để từng bước hướng tới mục tiêu phấn đấu đạt chuẩn quốc gia giai đoạn I là nhiệm vụ mũi nhọn mà tất cả giáo viên chúng tôi đang phấn đấu hiện nay.2. Thực trạng2.1. Thuận lợiGiáo viên đạt chuẩn về trình độ là một người giáo viên tôi luôn có sự ham thích, nhiệt tình, sáng tạo, có tinh thần tự học, tự rèn luyện, tìm tòi, học hỏi đồng nghiệp để khám phá nghiên cứu bài dạy tốt hơn. Đồ dùng dạy học tương đối đầy đủ, tất cả vì học sinh thân yêu.Được sự quan tâm của ban giám hiệu, cấp ủy chính quyền điạ phương, các đoàn thể đã hướng tới sự nghiệp giáo dục .“ Mẫu giáo tốt, mở đầu nền giáo dục tốt”Phòng học sạch sẽ thoáng mát, giáo viên nhiệt tình trong công tác, lập trường tư tưởng vững vàng và luôn có lòng yêu nghề mền trẻ.Ban giám hiệu và chuyên môn phòng giáo dục quan tâm và tạo điều kiện để giáo viên học tập, tập huấn kịp thời các chuyên đề.Lớp ở khu vực trung tâm, các cháu cùng một độ tuổi. Nhà trường rất quan tâm đến chất lượng toàn diện của trẻ. Cơ sở vật chất thường xuyên được tăng cường. Đa số phụ huynh quan tâm chăm lo cho sự học hành của trẻ. Bản thân tôi rất có trách nhiệm trọng công tác và được đào tạo trên chuẩn của ngành học mầm non.Khó khănNội dung chương trình tuy đã chú ý phát triển toàn diện nhưng trong nội dung chưa gắn kết tính đồng bộ, tích hợp các môn học, các lĩnh vực vào bài dạy. Các môn học còn độc lập, tách rời mang nặng cung cấp kiến thức cho trẻ, chưa phát huy tính tích cực, chủ động ở trẻ, giáo viên chưa biết tạo môi trường để trẻ được học tập, tham quan khám phá ở mọi lúc mọi nơi. Phương pháp tổ chức các hoạt động chương trình còn dựa vào bài soạn mẫu chưa sáng tạo thực hiện máy móc, cứng nhắc.Việc quan tâm chăm sóc con em của một số phụ huynh chưa đáp ứng với nhu cầu giáo dục ngày càng cao hiện nay. Nhu cầu về kinh tế, mưu sinh được quan tâm nhiều hơn nhu cầu học tập. Phụ huynh học sinh chưa nắm rõ quan điểm giáo dục hiện nay, thái độ hợp tác giáo dục trẻ chưa rõ ràng, chưa thống nhất với nhà trường.
Xem thêm

Đọc thêm

Sáng kiến kinh nghiệm hay về cách quản lý trường PTDBT THCS

Sáng kiến kinh nghiệm hay về cách quản lý trường PTDBT THCS

MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ, CHỈ ĐẠO HOẠT ĐỘNG Ở CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ Hiện nay, hệ thống trường phổ thông dân tộc bán trú đã và đang hình thành và phát triển mạnh; đạt được nhiều thành tích đáng kể trong sự nghiệp giáo dục ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn: Tỉ lệ học sinh dân tộc thiểu số trong độ tuổi ra lớp tăng, tỉ lệ học sinh bỏ học giảm, chất lượng giáo dục có sự chuyển biến rõ rệt; công tác phổ cập giáo dục đúng độ tuổi, phổ cập giáo dục Trung cơ sở chất lượng đã và đang phát triển ổn định, bền vững.Đề xuất một số biện pháp quản lý, chỉ đạo trường PTDTBT, tại các xã có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nhằm huy động tối đa số trẻ trong độ tuổi TH, THCS góp phần phát triển giáo dục phổ thông ở các địa phương này.
Xem thêm

Đọc thêm

Giải quyết tình huống khiếu nại về dạy thêm học thêm tại trường học

Giải quyết tình huống khiếu nại về dạy thêm học thêm tại trường học

I. MÔ TẢ TÌNH HUỐNG. Ngày 13 tháng 3 năm 2008 tại trường Tiểu học Bồ Đề, đồng chí Hiệu trưởng đã triệu tập một cuộc họp khẩn cấp sau khi nhận được một lá đơn khiếu nại của phụ huynh lớp 4A về việc dạy thêm sai quy định của cô giáo Vũ Thị Hằng giáo viên lớp 4A với nội dung như sau: CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc Hà Nội, ngày 12 tháng 3 năm 2008 ĐƠN KHIẾU NẠI Kính gửi: Ông Hiệu trưởng Trường Tiểu học Bồ Đề Chúng tôi gồm: 1 Nguyễn Thị Thanh Nhàn – Trú quán tại Tổ 1 Phường Bồ Đề. 2 Nguyễn Văn Bách – Trú quán tại Tổ 12 Phường Bồ Đề. 3 Lê Thị Thu – Trú quán tại Tổ 6 Phường Đồ Đề. Là phụ huynh học sinh lớp 4A năm học 2007 2008 của Trường Tiểu học Bồ Đề. Chúng tôi thống nhất làm đơn tố cáo cô giáo Vũ Thị Hằng là đảng viên, giáo viên chủ nhiệm lớp 4A của Trường Tiểu học Bồ Đề, với những sai phạm sau: Cô Hằng đã thuê phòng tổ chức dạy thêm cho học sinh ở nhà bà Lưu Hương Giang; tổ 1 Phường Bồ Đề, dưới hình thức mở lớp chất lượng cao rồi bắt ép con chúng tôi và một số học sinh khác phải đi học. Cô đã tự đưa ra mức thu lệ phí cao; 50.000 đồng1 học sinh 1buổi. Cô đã bắt các cháu đi học thêm 1 tuần 2 buổi, mà không trao đổi với chúng tôi. Nhưng điều quan trọng hơn là cơ sở vật chất ở phòng học rất kém không đảm bảo cho 1 lớp học bình thường, bàn ghế quá thấp, không phù hợp với độ tuổi của các cháu, diện tích phòng chật hẹp và thiếu ánh sáng. Đặc biệt giờ học của các cháu không ổn định, mỗi hôm học 1 giờ khác nhau, khi thì học buổi chiều, khi lại học buổi tối. Chúng tôi rất khó khăn trong việc quản lý các cháu. Chúng tôi nhận thấy cô không còn giữ được tư cách của một nhà giáo. Cô đã dùng nhiều thủ đoạn để ép buộc, lôi kéo con chúng tôi phải học thêm lớp cô dạy... Cô đã tự chỉ định những học sinh phải đi học thêm. Đó phải là học sinh đạt loại giỏi, tiên tiến, gia đình phải có điều kiện kinh tế ổn định. Nếu học sinh phản đối thì bị cô trù dập.
Xem thêm

Đọc thêm

Biện pháp quản lý thực hiện chuyên đề “Giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh cho học sinh Hà Nội” trườngTHCS Phúc Xá, Ba Đình, Hà Nội

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ THỰC HIỆN CHUYÊN ĐỀ “GIÁO DỤC NẾP SỐNG THANH LỊCH, VĂN MINH CHO HỌC SINH HÀ NỘI” TRƯỜNGTHCS PHÚC XÁ, BA ĐÌNH, HÀ NỘI

1. Lý do chọn đề tài1.1. Mục tiêu của giáo dục là giúp cho người học phát triển toàn diện, hình thành kiến thức, kỹ năng sống để có thể chủ động, tự tin trong mọi hoàn cảnh. Nhờ giáo dục, con người đã tiếp thu những tinh hoa của nhân loại cho bản thân, rồi tiếp tục sáng tạo làm thăng tiến bản thân để trở thành con người tiến bộ về: thể chất tri thức tinh thần. 1.2. Văn hóa nhà trường là một dạng văn hóa tổ chức, là sự tổng hợp các giá trị nhân văn, các chuẩn mực, các niềm tin và hành vi ứng xử của các thành viên trong nhà trường. Từ lâu, vấn đề xây dựng nhà trường văn hóa (văn hoá học đường) phải được coi là trọng tâm, quan trọng nhất. Đó là môi trường quan trọng và cần thiết để rèn luyện nhân cách và giáo dục thế hệ trẻ sống có hoài bão, có lý tưởng tốt đẹp. Vì vậy, môi trường giáo dục lành mạnh là điều kiện tiên quyết để đào tạo thế hệ trẻ trở thành những công dân tốt có tài năng, đạo đức. 1.3. Hội nghị lần thứ 8 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI ban hành Nghị quyết về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Đại hội XI của Đảng khẳng định: “Bồi dưỡng các giá trị văn hóa trong thanh niên, học sinh, sinh viên, đặc biệt là lý tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh con người Việt Nam”. Giáo dục Việt Nam trong những năm gần đây có nhiều yếu kém, bất cập, như đánh giá của Đảng trong các kì Đại hội IX, X và Đại hội XI: giáo dục đào tạo chưa thực sự là quốc sách hàng đầu; nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục còn lạc hậu; chất lượng giáo dục có mặt bị buông lỏng, giảm sút, nhất là giáo dục đạo đức, lối sống… 1.4. Nhắc đến người Hà Nội là nhắc đến những nét văn minh thanh lịch, từ cử chỉ, lời ăn tiếng nói đến phong cách ứng xử. Phó Chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội Ngô Thị Thanh Hằng đã khẳng định: nét thanh lịch vốn là một tính cách rất Hà Nội, phải làm sao cho người dân có ý thức gìn giữ và phát huy tính cách thanh lịch như một tài sản quý của Thủ đô. Tuy nhiên, trước những tác động của đời sống kinh tế hiện nay, nhiều nét văn hóa tinh tế của người Hà Nội đang mai một dần, nhất là trong lớp trẻ. Nhằm góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, truyền thống Thủ đô, giáo dục cho học sinh lòng tự hào về Thăng Long Hà Nội, chuyên đề “Giáo dục nếp sống thanh lịch,văn minh cho học sinh Hà Nội” đã được vào triển khai tại các trường học trên địa bàn thành phố Hà Nội từ Học kỳ II năm học 2011 2012. Tính cần thiết của chương trình đã được khẳng định, không chỉ cần cho việc học của học sinh mà còn có tác dụng với toàn xã hội trong việc xây dựng nếp sống có văn hóa. Chuyên đề đã thể hiện quyết tâm giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh thủ đô; giúp học sinh có những thay đổi về nhận thức để có những hành động văn minh, góp phần tô đẹp thêm hình ảnh người Hà Nội. Đứng ở góc độ tâm sinh lý lứa tuổi thì độ tuổi học sinh của cấp THCS từ 11 14 tuổi là thời kỳ có nhiều biến động, không ổn định nhất. Giáo viên dạy ở cấp học này gặp nhiều khó khăn trong việc “rèn chữ, dạy người”. Cùng với môn Giáo dục công dân, phong trào “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”, và các tiết hoạt động ngoài giờ lên lớp… thì chuyên đề “Giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh cho học sinh Hà Nội” như một “phương thuốc” hữu hiệu góp phần cải biến, xây dựng nếp sống đẹp cho thế hệ trẻ của thành phố Hà Nội nói chung cũng như cho học sinh trường THCS Phúc Xá, Ba Đình nói riêng, hướng tới thực hiện mục tiêu giáo dục một cách hiệu quả.1.5. Trải qua ba năm thực hiện chuyên đề “Giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh cho học sinh Hà Nội”, trường THCS Phúc Xá, Ba Đình bước đầu đã có những chuyển biến tích cực về nhận thức, lối sống, ứng xử, giao tiếp… không chỉ ở học sinh mà còn ở bản thân giáo viên cũng như các bậc phụ huynh… Tuy nhiên, là người trực tiếp thực hiện chuyên đề, bản thân có cơ sở thực tế để đánh giá, đúc kết và đề xuất những biện pháp giúp cho việc thực hiện chuyên đề giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh cho học sinh Hà Nội của trường THCS Phúc Xá, Ba Đình đạt được hiệu quả cao hơn.Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên, chúng tôi chọn đề tài: Biện pháp quản lý thực hiện chuyên đề “Giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh cho học sinh Hà Nội” trườngTHCS Phúc Xá, Ba Đình, Hà Nội nhằm góp phần giải quyết những bất cập, hạn chế trong việc định hướng, chỉ đạo, từ đó nâng cao chất lượng thực hiện chuyên đề “Giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh cho học sinh Hà Nội” trường THCS Phúc Xá, Ba Đình, Hà Nội.
Xem thêm

122 Đọc thêm

MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ Ở TRƯỜNG THPT KIM SƠN B TỈNH NINH BÌNH

MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ Ở TRƯỜNG THPT KIM SƠN B TỈNH NINH BÌNH

1.Lý do chọn đề tàiĐất nước ta đang trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Để thực hiện được các mục tiêu đã đề ra chúng ta phải xây dựng một xã hội có nền văn hóa phát triển. Chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá sự phát triển đó trước hết phải là một xã hội học tập; ở đó mọi người được học, học được, được phát triển tài năng; ở đó mọi người tâm niệm giáo dục thường xuyên, đào tạo liên tục, học tập suốt đời; ở đó tổ chức việc giáo dục dạy học theo nguyên tắc giáo dục cho tất cả, tất cả cho giáo dục, ở đó trụ cột cho việc học bao gồm: học để biết, học để làm, học để bảo vệ đất nước, học để biết cách chung sống với nhau, học để tồn tại.Phát triển Giáo dục đào tạo là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để góp phần phát triển cho đất nước như trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011 – 2020 của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định:“Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt. Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng lập nghiệp. Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục. Thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục, đào tạo ở tất cả các bậc học. Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội”.Với tinh thần của Đại hội Đảng các cấp đặc biệt quan tâm về phát triển ngành giáo dục như vậy, ngày 12 tháng 8 năm 2011 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phạm Vũ Luận đã ra chỉ thị năm học 2011 2012 số 3398CTBGDĐT cho toàn ngành Giáo dục và đào tạo nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ trọng tâm của năm học đặc biệt là việc chăm lo, đầu tư phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục với những nội dung cụ thể như: tăng cường công tác xây dựng, thực hiện quy hoạch đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Tổ chức bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên các cấp học. Đặc biệt chú trọng nội dung bồi dưỡng về đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh gía. Triển khai thực hiện chuẩn nghề nghiệp giáo viên và chuẩn hiệu trưởng. Tiếp tục thực hiện Đề án “Đào tạo giáo viên giáo dục quốc phòng an ninh cho các trường THPT giai đoạn 2010 2011 “ theo Quyết định số 472QĐTTg ngày 1242010 của Thủ tướng Chính phủ. Triển khai chương trình phát triển các trường sư phạm giai đoạn 2011 2020. Trong rất nhiều những nội dung nhằm phát triển giáo dục đào tạo thì xây dựng và phát triển đội ngũ là một trong những nội dung quan trọng nhất, vấn đề đặt ra là phải phát triển đội ngũ giáo viên đảm bảo về số lượng, chất lượng, đồng bộ về cơ cấu tạo hiệu quả cao trong giáo dục là một trong những giải pháp chiến lược của Đảng và Nhà nước. Thực trạng đội ngũ giáo viên ở các trường THPT hiện nay còn nhiều bất cập. Về số lượng giáo viên các trường không đồng đều, cơ cấu chưa hợp lý, chất lượng đội ngũ không đồng đều, sự quan tâm của các cấp chính quyền ở một số nơi vẫn chưa thật tốt. Từ những thực trạng trên ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giáo dục đào tạo. Vậy các nhà quản lý giáo dục phải suy nghĩ, trăn trở như thế nào để tìm ra những giải pháp tháo gỡ. Chính vì những khó khăn về việc xây dựng và phát triển đội ngũ ở trường THPT nói chung cho nên tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Một số biện pháp quản lý nhằm xây dựng và phát triển đội ngũ ở trường THPT Kim Sơn B Tỉnh Ninh Bình ”.
Xem thêm

29 Đọc thêm

SKKN Một số biện pháp giúp trẻ 56 tuổi người dân tộc thiếu số học tốt môn Khám phá khoa học Tại trường MN Bình Minh Buôn Tuôr A Đray Sáp Krông Ana Đăk Lăk

SKKN Một số biện pháp giúp trẻ 56 tuổi người dân tộc thiếu số học tốt môn Khám phá khoa học Tại trường MN Bình Minh Buôn Tuôr A Đray Sáp Krông Ana Đăk Lăk

I. PHẦN MỞ ĐẦU1. Lý do chọn đề tài. Khám phá khoa học là một trong những nội dung đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc cung cấp những kiến thức, kỹ năng sống cho trẻ và nó có tầm quan trọng đặc biết đối với con người, nhất là đối với trẻ mầm non. Thế giới xung quanh luôn là điều mới lạ, lúc nào trẻ cũng muốn được tìm tòi, được quan sát, tiếp xúc, sờ vào vật, trẻ luôn muốn được hiểu biết nhiều hơn về mối quan hệ đơn giản giữa các sự vật, hiện tượng xung quanh. Từ đó phát triển ngôn ngữ, vốn từ của trẻ ngày càng phong phú, đa dạng về câu từ và phát triển năng lực hoạt động trí tuệ, tư duy của trẻ. Đối với trẻ đây là thời điểm mấu chốt và quan trọng nhất, thời điểm này tất cả mọi việc đều bắt đầu và trở thành những thói quen, trong đó có thói quen tốt và cả những thói quen xấu. Chính vì vậy chúng ta đang ở thế kỷ nền văn minh trí tuệ, nền khoa học tiên tiến hiện đại, do vậy con người cần phải năng động sáng tạo để phù hợp với sự phát triển của thời đại. Muốn được như vậy ngay từ tuổi ấu thơ trẻ Mầm non, đặc biệt là trẻ 5 6 tuổi đang ở những bước phát triển mạnh về nhận thức, tư duy, ngôn ngữ, tình cảm ..... Thế giới khách quan xung quanh thật bao la rộng lớn, có biết bao điều mới lạ hấp dẫn và còn bao lạ lẫm khó hiểu, trẻ tò mò muốn biết, muốn được khám phá. Từ những vấn đề trên tôi đã có suy nghĩ cần tổ chức cho trẻ khám phá khoa học như thế nào và khám phá những gì để tạo hứng thú kích thích trẻ chú ý góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.Tại các trường mầm non hiện nay, hoạt động khám phá khoa học cho trẻ 56 tuổi mặc dù đã được chú trọng nhưng chưa đạt được kết quả cao. Thực tiễn hiện nay ở trường Mầm non Bình Minh tôi đang công tác, hoạt động khám phá khoa học cho trẻ 56 tuổi người dân tộc thiểu số, một số hoạt động khám phá còn rất tẻ nhạt, giáo viên còn lúng túng trong việc cho trẻ khám phá về thế giới xung quanh, một số hoạt động trẻ chưa có hứng thú học tập. Từ những suy nghĩ trên tôi thấy cần phải có một số biện pháp để giúp trẻ học tốt môn khám phá khoa học, nhằm nâng cao chất lượng môn học, vận dụng linh hoạt trong hình thức đổi mới một cách khoa học. Chính vì vậy tôi mạnh dạn chọn đề tài “Một số biện pháp giúp trẻ 56 tuổi người dân tộc thiểu số học tốt môn Khám phá khoa học tại trường MN Bình Minh buôn Tuôr A Dray Sáp Krông Ana Đăk Lăk”2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài.a.Mục tiêu của đề tàiGiúp trẻ phát triển toàn diện về các mặt: thể chất, trí tuệ, ngôn ngữ, tình cảm xã hội, thẩm mĩ, hình thành tình yêu đối với thiên nhiên cuộc sống xung quanh trẻ.b. Nhiệm vụ của đề tài:Nghiên cứu nhằm tìm ra một số biện pháp giúp trẻ học tốt môn khám phá khoa học và giúp giáo viên có những định hướng phù hợp trong công tác chăm sóc cho trẻ Mầm non ở độ tuổi 5 6 tuổi, sau khi vận dụng đề tài sẽ góp phần giúp trẻ học tốt môn Khám phá khoa học.3. Đối tượng nghiên cứu Một số biện pháp giúp trẻ 56 tuổi người dân tộc thiểu số học tốt môn Khám phá khoa học.4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu Trẻ 5 – 6 tuổi người dân tộc thiểu số tại trường Mầm non Bình Minh Xã Dray sap Huyện Krông AnaTỉnh Dăk Lăk. 5. Phương pháp nghiên cứua. Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu tài liệu tâm lý học và gáo dục học để hiểu đặc điểm tâm lý trẻ. b. Phương pháp thực nghiệmPhương pháp quan sátPhương pháp đàm thoại (trao đổi với gia đình trẻ)c. Phương pháp thống kê giáo dụcII. PHẦN NỘI DUNG1. Cơ sở lý luậnMục tiêu của giáo dục mầm non mới trong thời kì hiện nay là giúp trẻ phát triển toàn diện (thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm quan hệ xã hội). “Học mà chơi” “chơi mà học”. Trẻ mầm non vốn ham hiểu biết, thích khám phá, tìm tòi các sự vật, hiện tượng xung quanh. Hoạt động khám phá khoa học thỏa mãn nhu cầu phát triển đó của trẻ. Qua hoạt động khám phá, trẻ có khả năng quan sát, so sánh, phân loại…Từ đó, trẻ phát hiện và giải quyết vấn đề đơn giản theo nhiều cách khác nhau. Trẻ có một số hiểu biết ban đầu về con người, sự vật, hiện tượng xung quanh. Việc giúp trẻ học tốt hoạt động khám phá khoa học là hết sức cần thiết và quan trọng, quyết định đến cả quá trình trẻ tiếp thu bài tốt hay không. Thực tế hiện nay, việc giúp trẻ học tốt hoạt động khám phá khoa học ở trường mầm non còn rất hạn chế về hình thức, phương pháp và nội dung vào bài. Vì vậy khi vào bài trẻ chưa hứng thú tham gia vào hoạt động do vậy hoạt động chưa đạt kết quả cao. Khám phá khoa học là một trong những nội dung đóng vai trò hết sức quan trọng trong cung cấp những kiến thức, kỹ năng sống cho trẻ trước khi vào lớp 1.2. Thực trạng.Tình hình của lớp: Tổng số trẻ trong lớp: 30 , Dân tộc: 30 , Nữ dân tộc: 14Trong quá trình giảng dạy tôi thấy tỉ lệ trẻ có khả năng, quan sát, so sánh, phân loại, giải quyết vấn đề, những hiểu biết ban đầu về con người, sự vật, hiện tượng xung quanh còn thấp, hạn chế.. Vì vậy, tôi thường xuyên chú trọng tổ chức cho trẻ tham gia vào các hoạt động khám phá khoa học theo các chủ đề, chủ điểm. Tuy nhiên trong quá trình giảng dạy tôi đã gặp một số thuận lợi và khó khăn sau:2.1. Thuận lợi, khó khăn. Thuận lợi.Được sự quan tâm tạo điều kiện của Phòng GDĐT huyện cùng Ban giám hiệu nhà trường, lãnh đạo xã và sự quan tâm nhiệt tình của Ban tự quản thôn, buôn nơi tôi đang công tác mua sắm trang thiết bị, đồ dùng đồ chơi phục vụ cho các hoạt động tương đối đầy đủ, sạch sẽ bảo đảm an toàn cho trẻ.Ban giám hiệu nhà trường đã thường xuyên sắp xếp tạo điều kiện cho tôi được tham dự các buổi tập huấn bồi dưỡng chuyên môn và đi dự giờ các đợt chuyên đề hoạt động khám phá khoa học cũng như chuyên đề của các môn học khác do cấp trên tổ chức.Bản thân có trình độ chuẩn về chuyên môn, nhiệt tình yêu nghề mến trẻ. Có khả năng dạy trẻ tham gia vào các hoạt động khám phá khoa học và biết định hướng cho trẻ tham gia vào các hoạt động có hiệu quả, tạo môi trường hoạt động ở lớp tương đối phong phú. Có trình độ sử dụng vi tính, tạo các bài giảng điện tử thu hút trẻ hứng thú tham gia vào các hoạt động ở trường, lớp tích cực. Giáo viên trong trường đoàn kết, giúp đỡ nhau nhiệt tình trong các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ.Phụ huynh học sinh tín nhiệm và tin cậy nhà trường, giáo viên khi gửi con em mình đến lớp.
Xem thêm

Đọc thêm

Một số biện pháp quản lý chỉ đạo nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ ở trườngMN EaTung

Một số biện pháp quản lý chỉ đạo nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ ở trườngMN EaTung

PHỤ LỤCNội dung TrangPHỤ LỤC ............................................................................................... 01I. PHẦN MỞ ĐẦU 02 1.1. Lý do chọn đề tài :1.2.Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài031.3. Đối tượng nghiên cứu 1.4. Phạm vi nghiên cứu 1.5. Phương pháp nghiên cứu04II. PHẦN NỘI DUNG 1.1. Cơ sở lý luận 1.2. Thực trạng 05 a) Thuận lợi, khó khăn.06b) Thành công, hạn chế 07c) Mặt mạnh, mặt yếu 08d) Các nguyên nhân, các yếu tố tác độnge) Phân tích đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đặt ra091.3. Giải pháp, biện phápa) Mục tiêu của biện pháp, giải pháp.b) Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp10c) Điều kiện để thực hiện giải pháp, biện pháp ....................................... 24d) Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp e) Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu1.4. Kết quả25III.PHẦN KÉT LUẬN, KIẾN NGHỊ271.1. Kết luận1.2. Kiến nghịI. PHẦN MỞ ĐẦU 1.1. Lý do chọn đề tài :Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển nhân cách con người. Phát triển giáo dục mầm non là trách nhiệm chung của các cấp, các ngành và toàn xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước Điều 23 luật giáo dục 2005 nêu rõ chăm sóc nuôi dưỡng là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong các trường mầm non: “Giáo dục mầm non phải bảo đảm phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em, hài hòa giữa nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục; giúp trẻ em phát triển cơ thể cân đối, khoẻ mạnh, nhanh nhẹn”.Muốn vậy, ngay từ bé việc chăm sóc nuôi dưỡng trẻ ở gia đình đến trường mầm non là vô cùng quan trọng, các cháu phải được sự chăm sóc giáo dục toàn diện.Giáo viên mầm non đóng vai trò rất quan trọng trong công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ, không chỉ đơn thuần là “dạy” mà còn phải “nuôi”, vì thế công việc của giáo viên mầm non có đặc thù riêng, không chỉ thể hiện ở vai trò người thầy, người cô mà còn thể hiện ở vai trò là người mẹ thứ hai của trẻ. Mọi hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng trẻ như: ăn, ngủ, vệ sinh, vui chơi…ở trường mầm non nếu không được quan tâm chăm sóc tốt thì đứa trẻ sẽ không phát triển toàn diện.Chính vì vậy, khi đánh giá giáo viên, nhân viên không thể thiếu được kỹ năng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ của cô. Thực tế ở trường mầm non EaTung huyện Krông Ana, tỉnh Đăk Lăk, đa số giáo viên quan tâm nhiều đến nghệ thuật lên lớp, còn chủ quan đến chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ.Bên cạnh đó, nhân viên nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non cũng giữ vai trò quan trọng không kém, bởi chế độ dinh dưỡng hàng ngày của trẻ có được tốt, trẻ ăn có ngon miệng, hợp khẩu vị hay không phải phụ thuộc vào người nhân viên nuôi dưỡng giỏi, tâm huyết với nghề, yêu nghề, đảm bảo chất lượng bữa ăn sao cho đủ chất dinh dưỡng, đủ năng lượng cần thiết để trẻ lớn lên khoẻ mạnh và phát triển một cách toàn diện về đức trí thể mỹ.Trước thực trạng như vậy, là một Hiệu trưởng nhà trường, tôi luôn trăn trở phải làm sao để xây dựng được tập thể cán bộ giáo viên trường Mầm non EaTung “ Vừa hồng vừa chuyên”. Có kỹ năng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ tốt. Chính vì vậy mà tôi chọn đề tài “Một số biện pháp quản lý, chỉ đạo nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ ở trường Mầm non EaTung”.1.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài: Mục tiêu Nhằm nâng cao nhận thức cho bản thân, cán bộ, giáo viên nhân viên, quản lý chỉ đạo tốt công tác chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ, hướng tới mục tiêu chung xây dựng hội đồng sư phạm, “Vừa hồng vừa chuyên”, thực hiện tốt công cuộc đổi mới của đất nước, thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đất nước. Nhiệm vụ của đề tài Tìm hiểu thực tế cán bộ, giáo viên, nhân viên, từng lớp, phân hiệu, tìm hiểu nguyên nhân một số đồng chí còn chủ quan chưa chú ý nhiều đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ, chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng chưa đồng đều. Đề ra biện pháp phù hợp, kết hợp với các đoàn thể, tuyên truyền cán bộ giáo viên làm tốt công tác chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ để nâng tỉ lệ trẻ phát triển bình thường theo độ tuổi, giảm tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường.1.3. Đối tượng nghiên cứu.Công tác quản lý, chỉ đạo, chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ ở trường Mầm non EaTung.1.4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu. Đối tượng và nội dung của công tác quản lý, chỉ đạo, chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ rất đa dạng và phong phú. Ở đây tôi xin trình bày. “Một số biện pháp quản lý chỉ đạo nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ ở trường Mầm non EaTung”. Huyện Krông Ana Tỉnh Đăk Lăk. 1.5. Phương pháp nghiên cứu. Phương pháp quan sát Phương pháp điều tra Phương pháp nghiên cứu lý thuyết Phương pháp nghiên cứu thực tiễn Phương pháp kiểm tra đánh giá II. PHẦN NỘI DUNG 1.1 Cơ sở lý luận
Xem thêm

Đọc thêm

Ôn tập cuối học kì II: Tiết 3

ÔN TẬP CUỐI HỌC KÌ II: TIẾT 3

1. Ôn luyện tập đọc và học thuộc lòng. 2. Dựa vào các số liệu dưới đây, em hãy lập bảng thống kê về tình hình phát triển giáo dục tiểu học của nước ta từ năm học 2000 - 2001 đến năm học 2004 - 2005. 1. Ôn luyện tập đọc và học thuộc lòng. 2. Dựa vào các số liệu dưới đây, em hãy lập bảng thống kê về tình hình phát triển giáo dục tiểu học của nước ta từ năm học 2000 - 2001 đến năm học 2004 - 2005. a)   Năm học 2000 - 2001 -  Số trường :13859 -  Số học sinh: 9 741 100 -   Số giáo viên: 355 900 -  Tỉ lệ học sinh dân tộc thiểu số: 15,2% b)   Năm học 2001 - 2002 -  Số trường: 13 903 -  Số học sinh: 9 315 300 -   Số giáo viên: 359 900 -  Tỉ lệ học sinh dân tộc thiểu số: 15,8% c)   Năm học 2002 -  Số trường: 14 163 -  Số học sinh: 8 815 700 -  Số giáo viên: 363 100 -  Tỉ lệ học sinh dân tộc thiểu số: 16,7% d)   Năm học 2003 - 2004 -   Số trường: 14 346 -  Số học sinh: 8 346 000 -   Số giáo viên: 366 200 -  Tỉ lệ học sinh dân tộc thiểu số: 17,7%   e)   Năm học 2004 - 2005 -   Số trường: 14 518 -   Số học sinh: 7 744 800 -   Số giáo viên: 362 400 -  Tỉ lệ học sinh dân tộc thiểu số: 19,1% 3. Qua bảng thống kê trên, em rút ra những nhận xét gì ? Chọn ý trả lời đúng: a)   Số trường hằng năm tăng hay giảm ? - Tăng                            - Giảm                         - Lúc tăng lúc giảm b)   Số học sinh hằng năm tăng hay giảm ? - Tăng                           - Giảm                         - Lúc tăng lúc giảm c)   Số giáo viên hằng năm tăng hay giảm ?  - Tăng                             - Giảm                         - Lúc tăng lúc giảm d)   Tỉ lệ học sinh dân tộc thiểu số hằng năm tăng hay giảm ?  - Tăng                            - Giảm                         - Lúc tăng lúc giảm   Gợi ý: *  Bài tập 1 Học sinh ôn luyện tập đọc và học thuộc lòng theo sự hướng dẫn của thầy cô. *  Bài tập 2: Lời giải: THỐNG KÊ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC TIỂU HỌC VIỆT NAM (Từ NÃM HỌC 2000 - 2001 ĐẾN 2004 - 2005)   *  Bài tập 3. Lời giải: Chọn ý trả lời đúng a)   Tăng b)   Giảm c)   Lúc tăng lúc giảm d)   Tăng
Xem thêm

3 Đọc thêm

Nghiên cứu sự thích ứng của trẻ 5-6 tuổi trong các hoạt động chuẩn bị đến trường phổ thông

Nghiên cứu sự thích ứng của trẻ 5-6 tuổi trong các hoạt động chuẩn bị đến trường phổ thông

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài 1.1. Trước cuộc sống xã hội đang vận động và biến đổi không ngừng như hiện nay, để tồn tại và phát triển được, mỗi con người cần phải có sự thích ứng tốt. Ở mọi cá nhân, mọi lứa tuổi khác nhau, có khả năng thâm nhập vào các điều kiện hoạt động, biết nắm bắt, thay đổi cho phù hợp với những quy tắc và yêu cầu của hoạt động nghĩa là phải có sự thích ứng với hoạt động. Như vậy, thích ứng là một trong những điều kiện để con người tham gia vào đời sống xã hội đầy biến động một cách có hiệu quả. Do vậy, việc nghiên cứu sự thích ứng là một trong những vấn đề mà tâm lý học ứng dụng rất quan tâm. Nhiều công trình nghiên cứu tâm lý học trước đây đã cho thấy, sự thích ứng, ngoài việc giúp cho mọi công việc đạt hiệu quả cao hơn, tăng năng suất lao động xã hội còn giúp giảm stress và góp phần tích cực vào quá trình phát triển nhân cách con người. Sự thích ứng chỉ xuất hiện khi con người gặp phải môi trường, hoàn cảnh sống mới hoặc xuất hiện những trở ngại, khó khăn trong cuộc sống đòi hỏi con người phải vượt qua. Khi các cá nhân có được sự thích ứng với môi trường sống mới họ sẽ tồn tại và phát triển trong môi trường đó. Theo nghiên cứu của J.Piaget [53], đặc trưng của cả hoạt động sinh học và hoạt động tâm lý là tổ chức kinh nghiệm nhằm tạo ra sự thích nghi giữa cơ thể với môi trường. Ông cũng định nghĩa “thích nghi là sự thay đổi hoặc sửa lại cho hợp với một sơ đồ, một ý tưởng hay một quan niệm hiện có để theo một kiến thức mới” và ông tin rằng trẻ em học bằng cách tự sửa cho hợp với hoàn cảnh, để tồn tại và phát triển bao gồm đồng hoá và điều ứng [11, tr. 93]. Thật vậy, trẻ em nói chung và trẻ 5 - 6 tuổi nói riêng là một thành phần trong nhóm xã hội yếu thế. Trẻ non nớt về thể chất, yếu đuối về tinh thần và dễ dàng gặp phải những khó khăn, trở ngại, những nguy hiểm trong cuộc sống. Trong khi đó, trẻ càng nhỏ thì tốc độ phát triển cả về thể chất, tâm lý càng rõ rệt và nhanh chóng. Đặc biệt, 6 tuổi là thời điểm trẻ chuyển qua một bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời đó là việc vào học ở trường phổ thông. Trẻ bước vào một môi trường xã hội mới, với những hoạt động mới. Chính vì vậy, việc trẻ 5-6 tuổi có được sự thích ứng nhằm vượt qua những khó khăn, sự yếu thế của bản thân để hòa nhập, tồn tại và phát triển trong môi trường xã hội mới là một điều hết sức quan trọng. 1.2. Chuẩn bị cho trẻ 5-6 tuổi vào học ở trường phổ thông được các bậc cha mẹ và nhà trường hết sức quan tâm. Đề án phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ mầm non 5 tuổi giai đoạn 2010 - 2015 của Bộ giáo dục và đào tạo đã ban hành và đi vào thực tiễn với mục tiêu: chuẩn bị tốt về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ, tiếng Việt và tâm lý sẵn sàng đi học, bảo đảm chất lượng để trẻ em vào lớp 1 [60]. Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay, vẫn còn có bậc cha mẹ quan niệm rằng chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 chủ yếu là dạy cho các cháu biết đọc, biết viết, biết làm vài phép tính…[82], [83]. Quan niệm đó dẫn đến tình trạng “nhồi nhét” kiến thức, cho trẻ 5 tuổi học trước kiến thức lớp 1, gây ra áp lực học tập khiến trẻ sợ đi học. Bên cạnh đó, nhiều trẻ em do không được chuẩn bị chu đáo các điều kiện cần thiết cho hoạt động học tập, nên khi bước vào lớp 1 trẻ gặp nhiều khó khăn, bỡ ngỡ, khó thích ứng với cuộc sống và hoạt động mới ở trường phổ thông [1]. Những khó khăn tâm lý mà trẻ đầu lớp 1 thường gặp phải đó là: khó khăn trong việc thực hiện nề nếp sinh hoạt và học tập, sự tự chủ khi chuyển trạng thái từ học sang chơi và ngược lại… [21]. Do đó, giúp trẻ có được một tâm thế sẵn sàng, một hành trang đầy đủ về mặt kiến thức để có thể thích ứng nhanh nhất với hành trình mới này cần đến sự chuẩn bị công phu, tỷ mỷ của cha mẹ, cô giáo và những nhà nghiên cứu. Trong thực tế, có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu về sự thích ứng của trẻ khi bước vào học lớp 1 [45], hay những khó khăn tâm lý của trẻ khi học ở lớp 1 [21], những nội dung chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 [64]. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào về sự thích ứng của trẻ 5-6 tuổi trong các hoạt động chuẩn bị đến trường phổ thông. 1.3. Việc nghiên cứu và tìm ra các phương pháp khác nhau để làm thước đo mức độ thích ứng của trẻ, đồng thời, đề ra những biện pháp tác động nhằm hình thành và phát triển sự thích ứng của trẻ trong các hoạt động chuẩn bị đến trường phổ thông là việc làm cần thiết. Xuất phát từ những yêu cầu được đặt ra cả về lý luận và thực tiễn, tôi lựa chọn vấn đề: “Nghiên cứu sự thích ứng của trẻ 5 - 6 tuổi trong các hoạt động chuẩn bị đến trường phổ thông” làm đề tài luận án tiến sĩ của mình. Với nghiên cứu này, các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra là: - Sự thích ứng của trẻ 5-6 tuổi trong các hoạt động chuẩn bị đến trường PT có các biểu hiện gì và ở mức độ nào? Liệu có sự khác nhau về mức độ giữa các biểu hiện đó? - Liệu có những yếu tố nào tác động đến các biểu hiện thích ứng của trẻ 5-6 tuổi trong các hoạt động chuẩn bị đến trường PT không? - Liệu có thể có những biện pháp tác động nào giúp trẻ 5-6 tuổi thích ứng tốt hơn với các hoạt động chuẩn bị đến trường PT không?
Xem thêm

Đọc thêm

ĐỀ TÀI NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM

ĐỀ TÀI NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY TRẺ MẪU GIÁO 4 – 5 TUỔI ĐỌC THƠ DIỄN CẢM PHẦN I: MỞ ĐẦU I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI. 1.Vai trò của văn học đối với giáo dục trẻ em. Mỗi chúng ta ai cũng biết “Trẻ em là tờ giấy trắng”.Chính vì vậy việc phát triển vốn từ cho trẻ là nhiệm vụ hàng đầu của giáo dục mầm non, như Bác Hồ đã nói : “Dạy trẻ cũng giống như trồng cây non Trồng cây non được tốt thì sau này các cháu thành tốt” Một trong những bộ môn của ngành học mầm non mà tôi quan tâm để đầu tư thực hiện nhiệm vụ trên đó là bộ môn cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học. Đặc biệt là việc giúp trẻ có vốn từ phong phú và khả năng đọc diễn được tôi quan tâm nhất khi cho trẻ tiếp xúc với tác phẩm văn học. Đối với tôi thì việc đọc diễn cảm có nghệ thuật lại có ý nghĩa to lớn hơn nhằm giúp trẻ cảm thụ tác phẩm một cách trọn vẹn và đầy đủ hơn. Qua đó trẻ tái tạo lại bằng hình ảnh những gì đã nghe được và gợi lên ở trẻ những tình cảm cảm xúc nhất định; trẻ chú ý say mê với cốt truyện và các hình tượng của tác phẩm tự sự với âm thanh nhịp điệu, nhạc vần của thơ ca. Điều đó là tiền đề cho sự hình thành và phát triển nhân cách, đạo đức cho trẻ thơ. Mặt khác đọc, kể tác phẩm văn học một cách diễn cảm là một trong những nội dung cơ bản của môn văn học và phương pháp cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học ở lớp mẫu giáo. Vì vậy không những đọc, kể diễn cảm cho trẻ nghe mà còn phải rèn luyện cho trẻ kỹ năng đọc, kể diễn cảm tác phẩm văn học để tạo điều kiện cho trẻ phát triển vốn từ và thể hiện những kỹ năng, kiến thức mà mình đã học. 2. Thực tiễn. Trong quá trình thực tiễn ở trường mầm non tôi thấy kỹ năng đọc diễn cảm của trẻ mẫu giáo chưa được tốt và còn nhiều hạn chế: Giáo viên thực hiện chưa đạt kết quả do thiếu tài liệu,chưa nhận thức đúng đắn. Về phía trẻ chỉ có một số ít trẻ biết đọc kể diễn cảm, việc đọc kể tác phẩm còn mang tính chất thuộc lòng chứ chưa thể hiện một cách diễn cảm, thậm chí có trẻ còn đọc chưa đúng, một số trẻ còn ngọng lắp… do đó gây rất nhiều khó khăn đối với việc luyện kỹ năng đọc kể diễn cảm cho trẻ, từ đó dẫn đến kết quả giáo dục chưa cao. Từ thực tiễn này nên tôi đã chọn đề tài : “Một số biện pháp rèn kỹ năng đọc diễn cảm cho trẻ mẫu giáo 4 5 tuổi” làm đề tài của mình. Hy vọng góp một ý kiến nhỏ để việc thực hiện này trên lớp đạt kết quả cao. II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Một số biện pháp dạy trẻ 4 – 5 tuổi đọc thơ ở trường mầm non nhằm nâng cao chất lượng trong việc dạy trẻ đọc thuộc thơ và đọc diễn cảm . Từ đó trẻ cảm thụ được chọn vẹn một tác phẩm văn học. Để nhằm mục đích hệ thống hóa và đề xuất một số biện pháp để giúp trẻ 4 – 5 tuổi đọc diễn cảm. III. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU. 1. Xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài: Trên cơ sở tổng hợp các tư liệu về lý thuyết có liên quan đến đề tài, để xây dựng cơ sở lý luận cho việc xây dựng một hệ thống các biện pháp dạy trẻ đọc thơ diễn cảm. 2. Điều tra thực trạng: Việc thực hiện hoạt động dạy trẻ đọc thơ diễn cảm ở một số trường mầm non. 3. Hệ thống hóa một số biện pháp và thực hiện dạy trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi đọc thơ diễn cảm bài thơ: “Làm bác sĩ”. IV . ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU. 1. Đối tượng nghiên cứu. Một số biện pháp dạy trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi đọc diễn cảm thơ. 2. Khách thể nghiên cứu. Phương pháp dạy trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi đọc diễn cảm. PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU. CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI I. CƠ SỞ TÂM SINH LÝ TRẺ EM (4 – 5 tuổi) 1. Đặt điểm sinh lý trẻ 4 – 5 tuổi. Kích thước và trọng lượng não của trẻ tăng dần theo độ tuổi. Đặc điểm chính của não bộ của trẻ là: + Các tế bào thần kinh chưa được biệt hóa hoàn toàn + Các sợi thần kinh chưa mielin hóa đầy đủ. + Hệ thống mao mạch của trẻ phát triển nhiều. + Trong não có chứa nhiều nước. Trẻ ở độ tuổi 4 – 5 tuổi cường độ và tính linh hoạt của các quá trình thần kinh phát triển. Trẻ có thể tập trung chú ý vào một đối tượng nhất định trong thời gian từ 1520 phút. Tư duy bằng từ phát triển, ngôn ngữ bên trong xuất hiện, chức năng khái quát hóa của từ đã có bước nhảy vọt và gần như giống ở người lớn. Chính vì vậy việc dạy trẻ đọc thơ diễn cảm ở giai đoạn này rất thích hợp. Giúp trẻ phát triển tốt hơn về mặt ngôn ngữ và củng cố vốn từ đã học. Cơ quan thính giác của trẻ cũng đã hoàn thiện, trẻ có thể nghe va phát âm đúng những gì người khác nói. Trẻ ở tuổi mẫu giáo lớn đã nắm được và phát âm đúng tất cả các âm vị của tiếng mẹ đẻ phát âm đúng hầu hết các thanh điệu. Biết phát âm đúng và rõ các từ các câu, biến đổi cường độ, ngữ điệu phù hợp, sử dụng các phương tiện biểu cảm phát âm phù hợp. Trẻ 4 5 tuổi vốn từ đã phát triển gần 700 từ, giai đoạn này hoàn thiện một bước cơ cấu từ loại trong vốn từ của trẻ.
Xem thêm

Đọc thêm

SKKN: Một số biện pháp nhằm giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp 3 dân tộc thiểu số qua môn tiếng Êđê’’

SKKN: Một số biện pháp nhằm giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp 3 dân tộc thiểu số qua môn tiếng Êđê’’

Lý do chọn đề tài Thực hiện Quyết định số 2994/QĐ-BGDĐT ngày 20 tháng 7 năm 2010 của Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai giáo dục kỹ năng sống trong một số môn học và hoạt động giáo dục ở các cấp học; dựa trên cơ sở những định hướng của đợt tập huấn Tăng cường giáo dục kỹ năng sống trong các môn học của Bộ GD&ĐT cho các cấp học trong hệ thống giáo dục phổ thông . Ở Việt Nam, để thực hiện việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế và nhu cầu phát triển của người học. Giáo dục phổ thông đã và đang từng bước đổi mới, phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học, phù hợp với từng lớp học, tăng cường khả năng làm việc theo nhóm, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh. Nhận thức rõ tầm quan trọng, cần thiết của việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh phổ thông nói chung, học sinh tiểu học nói riêng. Giáo dục kĩ năng sống trong các môn học ở tiểu học nhằm đạt mục tiêu trang bị cho học sinh những kiến thức, giá trị, thái độ và kỹ năng phù hợp; tạo cơ hội thuận lợi cho học sinh sử dụng quyền và bổn phận của mình và phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức. Giáo dục kỹ năng sống trong các môn học ở tiểu học nói chung và môn học tiếng Ê đê nói riêng. Bộ GD&ĐT đưa nội dung giáo dục kỹ năng sống lồng ghép vào các môn học ở bậc tiểu học. Đây là một chủ trương cần thiết và đúng đắn. Tuy nhiên, để giáo dục kĩ năng sống cho học sinh đạt hiệu quả đòi hỏi nhiều yếu tố chứ không chỉ từ các bài giảng. Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh là một nội dung được đông đảo cha mẹ HS và dư luận quan tâm, bởi đây là một chương trình giáo dục hết sức cần thiết đối với học sinh. Nhiều ý kiến cho rằng, các trường học hiện nay đã quá nặng về dạy kiến thức, ít quan tâm đến việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh dẫn đến có một bộ phận học sinh trong các trường thiếu hụt hiểu biết về môi trường xung quanh, ứng xử cần thiết trong cuộc sống. Điều này cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến bất cập trong hành vi, lối sống cách ứng xử và đạo đức của nhiều học sinh. Chính sự cần thiết ấy, bản thân tôi đã cố gắng thử nghiệm nhiều biện pháp, song việc giáo dục và rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh dân tộc Êđê tại điểm trường của tôi được thể hiện rõ nét nhất trong môn học tiếng Êđê. Vì thế tôi đã chọn đề tài: “Một số biện pháp nhằm giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp 3 dân tộc thiểu số qua môn tiếng Êđê’’
Xem thêm

Đọc thêm

SKKN: MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỂ TỔ CHỨC TỐT TRÒ CHƠI DÂN GIAN CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 TUỔI

SKKN: MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỂ TỔ CHỨC TỐT TRÒ CHƠI DÂN GIAN CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 TUỔI

Chủ điểm " Tết và mùa xuân" là thời điểm thích hợp để giới thiệu cho trẻcác trò chơi truyền thống của dân tộc trong dịp lễ Tết như : " Ném còn", " Cướpcờ", " Bịt mắt đập niêu", " Đẩy gậy", " Chơi đu"," Múa lân"...* Động viên tất cả các trẻ tham gia vào trò chơi.Một ưu thế của trò chơi dân gian chính là chỗ nó có thể dung nạp tất cảnhững ai muốn chơi. Không bao giờ trò chơi dân gian quy định số người chơinhất định. Vì vậy tôi luôn khuyến khích, động viên tất cả các trẻ tham gia chơicàng đông càng vui. Nếu chơi " Bịt mắt bắt dê", mỗi khi có một người vào thêm,vòng chỉ rộng ra một chút chứ trò chơi không thay đổi. Còn trò chơi " Rồng rắnlên mây" thì thêm một người, " cái đuôi" sẽ dài ra một chút và tất cả mọi ngườiđều được chơi, được chạy như nhau. Những trò chơi " Thả đỉa ba ba", " Chi chichành chành", " Nhảy lò cò",... cũng tương tự như vậy. Trong khi chơi, mọi trẻđều bình đẳng như nhau. Qua đó tinh thần tập thể của các trẻ được nâng lên rấtnhiều.3.2 Kết quả thực hiện:Qua việc áp dụng một số kinh nghiệm của bản thân vào việc tổ chức chotrẻ lớp MG Lớn Tân đi 1- Trường Mầm non ... làm quen với các trò chơi dângian, tôi đã thu được nhiều kết quả tốt:3.2.1.Đối với cô:14Giáo viên được cung cấp đủ về tài liệu tham khảo, sách hướng dẫn tổchức trò chơi, trang bị đầy đủ về đồ dùng đồ chơi cho cô và trẻ.Giáo viên mạnh dạn, tự tin, tận tâm, nhiệt huyết, ham học hỏi, tìm tòi,khám phá, chuyền đạt những kiến thức hay và bổ ích về cách tổ chức trò chơidân gian cho trẻ. Đã nắm vững đặc điểm tâm sinh lý và khả năng nhận thức vàkỹ năng hoạt động của trẻ để lựa chọn phương pháp thích hợp.3.2.2.Đối với trẻ:
Xem thêm

Đọc thêm

SKKN: MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỂ NÂNG CAO KẾT QUẢ PCGDTHĐĐT MỨC ĐỘ 2, TIẾN TỚI ĐẠT CHUẨN PCGDTHĐĐT MỨC ĐỘ 3

SKKN: MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỂ NÂNG CAO KẾT QUẢ PCGDTHĐĐT MỨC ĐỘ 2, TIẾN TỚI ĐẠT CHUẨN PCGDTHĐĐT MỨC ĐỘ 3

MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỂ NÂNG CAO KẾT QUẢ PHỔ CẬP GIÁO DỤC TIỂU HỌC ĐÚNG ĐỘ TUỔI MỨC ĐỘ 2, TIẾN TỚI ĐẠT CHUẨN PHỔ CẬP GIÁO DỤC TIỂU HỌC ĐÚNG ĐỘ TUỔI MỨC ĐỘ 3.I. PHẦN MỞ ĐẦU:1. Lý do chọn đề tài:Tại diễn đàn về các mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc, Bác Nguyễn Minh Triết – Chủ tịch Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đã tuyên bố trước toàn thế giới từ năm 2000 đến 2020 Việt Nam có nhiều mục tiêu lớn trong đó có mục tiêu đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 1, mức độ 2 và mức độ 3.Là thành viên của Ban chỉ đạo phổ cập tiểu học đúng độ tuổi của xã Quảng Điền, trong những năm qua được tham gia kiểm tra công tác phổ cập tiểu học đúng độ tuổi của nhiều xã, thị trấn trong Huyện. Là người trực tiếp tham mưu, xây dựng Kế hoạch tiến tới đạt chuẩn và duy trì kết quả đạt chuẩn phổ cập tiểu học đúng độ tuổi của Ban chỉ đạo phổ cập xã Quảng Điền trong những năm qua. Từ những thực tế đó, tôi đã đúc rút những kinh nghiệm viết thành sáng kiến: “Một số biện pháp để nâng cao kết quả Phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2, tiến tới đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 3”. 2. Mục tiêu, nhiêm vụ của đề tài: Mục tiêu: Phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi nhằm duy trì một cách bền vững phổ cập giáo dục trung học cơ sở, củng cố kết quả phổ cập giáo dục tiểu học và xóa mù chữ, ngăn chặn tình trạng tái mù chữ tiến đến đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học phổ thông. Từ đó giúp nâng cao mặt bằng dân trí một cách toàn diện, nâng cao nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hoà nhập kinh tế toàn cầu. Nhiệm vụ: Đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng và cấp bách của toàn Đảng, toàn dân cả nước, của tỉnh Đăk Lăk, của huyện nhà nói chung và của Đảng bộ, của nhân dân xã Quảng Điền nói riêng. Chính vì vậy Ban chỉ đạo phổ cập xã Quảng Điền và trường tiểu học Nguyễn Văn Trỗi phải có trách nhiệm thực hiện tốt nhiệm vụ này.3. Đối tượng nghiên cứuMột số biện pháp để nâng cao kết quả Phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2, tiến tới đạt chuẩn Phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 3.4. Giới hạn phạm vi nghiên cứuTất cả trẻ em trong độ tuổi từ 6 đến 14 tuổi đi học tiểu học và số trẻ đúng 11 tuổi hoàn thành chương trình tiểu học. Công tác xây dựng đội ngũ, công tác dạy học và xây dựng cơ sở vật chất trường tiểu học của toàn xã hàng năm.5. Phương pháp nghiên cứuPhương pháp nghiên cứu lý luận.Phương pháp nghiên cứu thực tế công tác điều tra cập nhật trình độ văn hóa toàn xã, công tác tham mưu, chỉ đạo thực hiện của Ban chỉ đạo Phổ cập giáo dục, công tác xây dựng CSVC, công tác xây dựng đội ngũ, công tác dạy và học của trường TH Nguyễn Văn Trỗi trong những năm qua.Phương pháp thống kê số liệu.II. PHẦN NỘI DUNG1. Cơ sở lý luậnThực hiện kết luận của Bộ chính trị trong thông báo 242TBTƯ ngày 15 tháng 4 năm 2009 về mục tiêu của Phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, Thông tư 362009TTBGDĐT ngày 04 tháng 12 năm 2009 về công tác kiểm tra đánh giá các mức độ đạt chuẩn Phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và Nghị định số 202014TTg CP ngày 24 tháng 3 năm 2014 về thực hiện Phổ cập giáo dục, xóa mù chữ. Thực hiện theo Nghị quyết tỉnh Đảng bộ, chương trình hành động của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Nghị quyết của Huyện Đảng bộ và Nghị quyết của Đảng ủy, HĐND, UBND xã Quảng Điền về phổ cập tiểu học đúng độ tuổi hàng năm.2. Thực trạng Được sự chỉ đạo của Phòng GDĐT huyện, Ban chỉ đạo phổ cập giáo dục tất cả các xã, thị trấn phát huy thành tích đã đạt được bắt tay vào triển khai chỉ đạo các ban ngành đoàn thể, các nhà trường phối hợp thực hiện công tác duy trì và nâng cao tỷ lệ phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2 tiến đến đạt chuẩn mức độ 3. Trong những năm đầu thực hiện còn gặp nhiều khó khăn, lúng túng, chưa mạnh dạn thực hiện, tỷ lệ trẻ 11 tuổi hoàn thành chương trình tiểu học chưa cao, hiện tượng lưu ban còn nhiều, tỷ lệ còn thấp không thể tránh khỏi những mặt tồn tại yếu kém do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan cần phải khắc phục. Ban chỉ đạo đã xây dựng Kế hoạch tham mưu cho chính quyền địa phương và chỉ đạo các đoàn thể và trường tiểu học Nguyễn Văn Trỗi có biện pháp duy trì bền vững phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2 và phấn đấu đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 3Trong Nghị quyết của Đảng ủy, của Hội đồng nhân dân xã Quảng Điền qua các nhiệm kì vừa qua, về lĩnh vực văn hóa giáo dục đã nêu quyết tâm: duy trì bền vững phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2 và phấn đấu đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 3. Muốn thực hiện thành công những quyết tâm trên là một vấn đề trăn trở của toàn thể nhân dân, của cán bộ và Đảng viên. Trước tình hình kinh tế và đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, một số bộ phận nhân dân chưa nhận thức được tầm quan trọng của sự nghiệp giáo dục, còn trông chờ vào sự hỗ trợ của nhà nước về xây dựng CSVC... Nhớ lời Bác dạy: “Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền. Đào núi và lấp biển, quyết chí ắt làm nên”. “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Kế hoạch xây dựng cơ sở vật chất, cảnh quan trường tiểu học đạt chuẩn, được Chính quyền tham mưu với UBND huyện, với phòng GDĐT huyện xin chủ trương và nhiều lần xin sự hỗ trợ của nhà nước. Được sự chỉ đạo của UBND huyện và Phòng GDĐT việc xây dựng trên là nhà nước và nhân dân cùng làm. Từ đó vấn đề xây dựng cơ sở trường lớp, cảnh quan của trường tiểu học đảm bảo đạt chuẩn được tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân bằng nhiều hình thức: Chính quyền đã phân công những đồng chí có năng lực, uy tín, trách nhiệm đến từng thôn đưa vấn đề xây dựng nói trên ra trước dân, để nhân dân bàn bạc cách đóng góp, cách xây dựng và chính quyền chỉ đạo trường tiểu học tổ chức họp Ban đại diện cha mẹ học sinh từng lớp, Ban đại diện toàn trường. Những bàn tay và khối óc của nhân dân, của cán bộ, Đảng viên xã nhà đã đồng tâm hợp lực vượt lên nghèo khó, quyết tâm xây dựng cơ sở vật chất, cảnh quan trường tiểu học đảm bảo đạt chuẩn bằng cách đóng góp theo 108 và nghị định 24. Hàng năm được nhân dân đóng góp trên 100 triệu đồng để tu sửa trường lớp xuống cấp, cảnh quan trước khi bước vào năm học mới. Nhân dân đã tự nguyện đóng góp để đền bù diện tích đất mới mở rộng và cùng với sự hỗ trợ của nhà nước trên 4 tỷ đồng để xây dựng cơ sở vật chất trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia. Đến nay trường tiểu học Nguyễn Văn Trỗi đã xây dựng thêm 8 phòng tầng lầu, cải tạo nâng cấp nhiều phòng đảm bảo đủ phòng học để dạy 2 buổi trên ngày, đủ các phòng chức năng, có tường rào kiên cố, có khu vệ sinh sạch đẹp riêng cho CBGVNV và HS, có sân chơi bãi tập, có bồn hoa cây cảnh và hệ thống thoát nước hợp vệ sinh. Đảm bảo trường học xanh – sạch – đẹp góp phần vào việc duy trì, nâng cao kết quả đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi.Ðể góp phần nâng cao chất lượng giáo dục học sinh một cách toàn diện, ngăn ngừa tệ nạn xã hội thâm nhập vào trường học, chấn chỉnh kịp thời các biểu hiện không tốt của học sinh, động viên giúp đỡ học sinh có hoàn cảnh khó khăn vươn lên học tập tốt, đồng thời tăng cường xã hội hóa công tác xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm thiết bị phục vụ dạy học đáp ứng yêu cầu phổ cập giáo dục hiện nay. Nhà trường đã tập trung chỉ đạo một số nội dung sau:Tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước về giáo dục, phối kết hợp để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện học.Tổ chức thi đua thực hiện caùc cuộc vận động lôùn, các phong trào của ngành như: Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, cuộc vận động “Hai không”, cuộc vận động “Mỗi Thầy giáo, cô giáo là tấm gương tự học và sáng tạo” và phong trào “xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Từ đó đã tạo được sự đồng thuận trong mọi tầng lớp nhân dân, trong PHHS và toàn thể CBGVNV, học sinh toàn trường.Nhà trường thường xuyên tổ chức các hoạt động nhằm nâng cao chất lượng dạy và học như: Thao giảng, dự giờ, chuyên đề, hội giảng, thi ĐDDH, thi viết sáng kiến kinh nghiệm ... Từ đó có những phương pháp dạy học phù hợp. Mỗi năm nhà trường tổ chức nhiều hoạt động thi đua cho học sinh toàn trường như: Thi vở sạch, chữ đẹp, điểm tốt, báo tường, văn nghệ, thể thao... nhằm kích thích tính tích cực của học sinh góp phần nâng cao chất lượng, duy trì sĩ số.
Xem thêm

Đọc thêm

KE HOACH GIAO DUC NAM HOC 20162017 THCS

KE HOACH GIAO DUC NAM HOC 20162017 THCS

PHÒNG GD ĐT TRÀ ÔN TRƯỜNG THCS XUÂN HIỆP Số: 93KHTHCS CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập Tự do Hạnh phúc Xuân Hiệp, ngày 24 tháng 9 năm 2016   KẾ HOẠCH GIÁO DỤC NĂM HỌC 2016 2017 Căn cứ Hướng dẫn số 1312HDSGDĐT ngày 13 tháng 9 năm 2016 của Sở Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục trung học năm học 2016– 2017; Căn cứ hướng dẫn số 400HDPGDĐT ngày 07 tháng 9 năm 2016 của Phòng Giáo dục và Đào tạo: Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục trung học cơ sở năm học 2016 – 2017; Căn cứ tình hình thực tế, trường Trung học cơ sở Xuân Hiệp xây dựng Kế hoạch giáo dục năm học 2016 – 2017 như sau: A. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH CHUNG I.ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ GIÁO DỤC NĂM 20152016. 1.Kết quả đạt được 1.1 Về chất lượng giáo dục: Tỉ lệ huy động học sinh lớp 5 vào lớp 6 : 101101; tỉ lệ 100%. Hiệu quả đào tạo: 119133, Tỉ lệ: 89.47%. Học sinh được xét công nhận TNTHCS tỉ lệ 100% . Học sinh lên lớp thẳng : 95. 38%. Tỉ lệ HS Khá Giỏi : 334498, tỉ lệ: 68.36 %. Hạnh kiểm: Khá Tốt: 99,54 %, 0.46% TB Tỉ lệ học sinh bỏ học thấp: 3448; tỉ lệ: 0.66 %. Duy trì sĩ số : 99.34 % HS Giỏi trường 115 học sinh, Giỏi huyện: 17 học sinh, Giỏi tỉnh: 03 học sinh. Tỉ lệ tuyển sinh vào lớp 10 năm học 2016 2017 có điểm 5 trở lên của môn Toán và môn Ngữ văn cao hơn mặt bằng của huyện, tỉnh. Nhà trường thực hiện tốt việc đổi mới công tác quản lý, đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng quản lý, chất lượng giáo dục: 100% GV thực hiện tốt việc soạn, giảng theo đổi mới PP DH. Tham gia Hội thi giáo viên giỏi huyện đạt 55, có 1 giải Nhì. Trong năm đơn vị có 25 sáng kiến kinh nghiệm, thực hiện được 12 chuyên đề cấp trường, 01chuyên đề cấp huyện. Công tác xã hội hoá giáo dục đạt kết quả tốt: BGH phối hợp tốt với Ban đại diện cha mẹ HS, Hội khuyến học vận động được: 74 3000 000 đồng để hỗ trợ học bổng cho HS nghèo và hỗ trợ cơ sở vật chất cho trường. Phong trào Đoàn, Đội, hoạt động văn thể mỹ trong nhà trường hoạt động đi vào nề nếp đạt hiệu quả khá tốt, đạt nhiều giải thưởng các cấp. Tập thể CBGVVNV hoàn thành tốt nhiệm vụ năm học. Trường đạt danh hiệu “Tập thể lao động xuất sắc”, đạt hạng II khối thi đua. Thực hiện tốt cuộc vận động “Hai không” của Bộ GD ĐT. Chấp hành tốt ATGT, cả năm học không có CBGV vi phạm. Chi bộ đạt trong sạch vững mạnh tiêu biểu. Công đoàn đạt vững mạnh xuất sắc. Đoàn TNCS HCM: Xuất sắc. Đội TNTP HCM: xuất sắc. Phong trào xây dựng Trường học TT HSTC xếp loại: xuất sắc. Trường đạt danh hiệu tập thể LĐXS, đạt hạng Nhì khối thi đua THCS, đề nghị UBND tỉnh tặng bằng khen. Về danh hiệu TĐ cá nhân đề nghị khen thưởng: 39 LĐTT, 7 CSTĐCS; trường đề nghị 11BK cấp Tỉnh( huyện xét chọn 811 đề nghị UB tỉnh tăng BK), 01 CSTĐ cấp tỉnh, 01 chiến thi đua toàn quốc. 2.Những hạn chế tồn tại chính của năm học qua: Công tác phối hợp giữa nhả trường và gia đình còn hạn chế, còn một số ít PHHS chưa quan tâm đúng mức đến việc giáo dục quản lí con mình hoặc. Các tác động tiêu cực của xã hội ảnh hưởng nhiều đến công tác giáo dục. Tỉ lệ học sinh yếu kém còn cao: 4.62 %. Vẫn còn một số HS trốn học, thiếu ý thức học tập tốt ở trường, ở nhà, mê chơi, bỏ học chơi games, chưa ngoan, thường vi phạm nội quy nhà trường. II. TÌNH HÌNH, BỐI CẢNH NĂM HỌC 2016 2017 Học sinh. Khối Số lớp Học sinh Sĩ số TB HSlớp Số HS
Xem thêm

Đọc thêm

Đào tạo nghiệp vụ GIÁO DỤC MẦM NON có lớp học ngay

Đào tạo nghiệp vụ GIÁO DỤC MẦM NON có lớp học ngay

Đào tạo nghiệp vụ GIÁO DỤC MẦM NON có lớp học ngay, chứng chỉ cấp tốc. Bạn yêu trẻ, bạn muốn làm tại các cơ sở giáo dục mầm non, bạn không học chuyên ngành sư phạm mầm non nhưng vẫn muốn dạy mầm non... Hãy đến với chúng tôi, chúng tôi sẽ giúp bạn, chỉ cần bạn tốt nghiệp trung học cơ sở trở lên. Đăng kí học nghiệp vụ giáo dục mầm non, bảo mẫu, cấp dưỡng, cô nuôi dạy trẻ, Quản lý mầm non, Hiệu trưởng trường mầm non tại HCM, Đà Nẵng, Hà Nội qua số điện thoại: 0981 116 775 hoặc Zalo: 01265 260 483 (Ms Thảo)
Xem thêm

Đọc thêm

Mô hình giáo dục đào tạo ở việt nam hiện nay

Mô hình giáo dục đào tạo ở việt nam hiện nay

Hệ thống giáo dục – đào tạo ở Việt Nam được chia thành các cấp bậc như sau:1.Giáo dục cấp nhà trẻ mẫu giáo Là nơi giữ trẻ không bắt buộc dành cho trẻ dưới độ tuổi đi học chính thức (dưới 6 tuổi). Nhà trẻ và mẫu giáo dành cho trẻ dưới 6 tuổi (thậm chí trẻ mới sinh vài tháng đã vào nhà trẻ) mục đích hình thành tư duy cho trẻ. Tạo những thói quen, tập tính ngay trong giai đoạn này hay là nơi giúp trẻ vui chơi để cha mẹ đi làm.2.Giáo dục cơ bảnGiáo dục cơ bản kéo dài 12 năm và được chia thành 3 cấp: cấp I (tiểu học), cấp II (trung học cơ sở), và cấp III (trung học phổ thông).Cấp tiểu họcCấp tiểu học hay còn được gọi là cấp I, bắt đầu năm 6 tuổi đến hết năm 11 tuổi. Cấp I gồm có 5 trình độ, từ lớp 1 đến lớp 5. Đây là cấp học bắt buộc đối với mọi công dân. Học sinh phải học các môn sau: Toán, Tiếng Việt, Tự nhiên và Xã hội (lớp 1, 2, và 3), Khoa học (lớp 4 và 5), Lịch sử (lớp 4 và 5), Địa lý (lớp 4 và 5), Âm nhạc, Mỹ thuật, Đạo đức, Thể dục, Tin học (tự chọn), Tiếng Anh (lớp 3, 4, và 5 một số trường cho học sinh học tiếng Anh bắt đầu từ năm lớp 1, lớp 2). Để kết thúc bậc tiểu học, học sinh phải trải qua kỳ thi tốt nghiệp tiểu học. Hiện nay đã chính thức bãi bỏ.Cấp trung học cơ sởCấp II gồm có 4 trình độ, từ lớp 6 đến lớp 9, bắt đầu từ 11 đến 15 tuổi. Đây là một cấp học bắt buộc để công dân có thể có một nghề nghiệp nhất định (tốt nghiệp cấp || có thể học nghề hay trung cấp chuyên nghiệp mà không cần học tiếp bậc Trung học phổ thông).Học sinh đến trường phải học các môn sau: Toán, Vật lý, Hoá học (lớp 8 và 9), Sinh học, Công nghệ, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Giáo dục Công dân, Ngoại ngữ (Anh, Pháp, Nga, Trung, Nhật), Thể dục, Âm nhạc, Mỹ thuật, Tin học (máy vi tính hoặc điện toán).
Xem thêm

Đọc thêm

MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 56 TUỔI TRƯỜNG MẦM NON KRÔNG ANA

MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 56 TUỔI TRƯỜNG MẦM NON KRÔNG ANA

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 56 TUỔI TRƯỜNG MẦM NON KRÔNG ANA I. Phần mở đầu 1. Lý do chọn đề tài Ngôn ngữ vừa là phương tiện vừa là điều kiện để con người hoạt động và giao lưu. Trong học tập, ngôn ngữ vừa là công cụ để tư duy, lĩnh hội kiến thức, vừa nói lên khả năng trí tuệ của con người. Ngôn ngữ được hình thành và phát triển tâm lý, nhân cách cá nhân. Ngôn ngữ nói, giao tiếp và đọc, viết có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển nhân cách của trẻ Mầm non nói riêng, của con người và xã hội nói chung. Lứa tuổi Mầm non là thời kỳ phát cảm ngôn ngữ. Đây là giai đoạn có nhiều điều kiện thuận lợi nhất cho sự lĩnh hội ngôn ngữ nói và các kỷ năng đọc viết ban đầu của trẻ. Ở giai đoạn này trẻ đạt được những thành tích vĩ đại mà ở các giai đoạn sau không thể có được, trẻ học nghĩa và cấu trúc của từ, cách sử dụng từ ngữ để chuyển tải suy nghĩ và cảm xúc của bản thân, hiểu mục đích và cách thức con người sử dụng chữ viết. Cùng với quá trình lĩnh hội ngôn ngữ, trẻ lĩnh hội và phát triển các năng lực tư duy như xây dựng và biểu đạt ý tưởng, chia sẻ thông tin và tiếp nhận, đáp lại ý tưởng, thông tin với người khác. Ngôn ngữ giúp trẻ bày tỏ ý kiến, đặt câu hỏi, phân loại và phát triển cách tư duy và tạo nên cầu nối giữa quá khứ, hiện tại và tương lai. Vygotsky đã nhấn mạnh rằng ngôn ngữ nói rất quan trọng trong việc giải quyết nhiệm vụ khó, tạo mối quan hệ xã hội và kiểm soát hành vi của những trẻ khác cũng như hành vi của bản thân. Phát triển ngôn ngữ và giao tiếp có ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực phát triển khác của trẻ. Ngôn ngữ là công cụ của tư duy vì thế ngôn ngữ có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển nhận thức, giải quyết vấn đề và chức năng tư duy ký hiệu tượng trưng ở trẻ. Sự lĩnh hội ngôn ngữ là rất cần thiết cho việc phát triển tình cảm, xã hội và nhận thức của trẻ. Sự phát ngôn ngữ của trẻ ảnh hưởng đến khả năng học tập trong trường Tiểu học, Trung học và cả trong tương lai. Ngôn ngữ và khả năng đọc viết là rất quan trọng cho những thành công trong tương lai của con người. Nâng cao chất lượng giáo dục phát triển ngôn ngữ và chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ theo nguyên tắc cơ bản của Giáo dục có chất lượng. Trẻ em được học trong một môi trường học tập thân thiện, phương pháp giảng dạy tích cực, cởi mở và thân quen gần gũi. Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em phụ thuộc rất lớn vào sự giao tiếp của trẻ em và người lớn và trẻ em với nhau. Trong công tác giáo dục trẻ mầm non, giáo viên cần phải có ý thức rèn luyện và phát triển ngôn ngữ cho trẻ một cách thường xuyên, liên tục ở mọi lúc mọi nơi, mọi hoạt động với nhiều biện pháp khác nhau. Biện pháp phát triển hoạt động ngôn ngữ cho trẻ 5 6 tuổi là cách thức thực hiện các nội dung phát triển các kỷ năng ngôn ngữ nhằm giúp trẻ có khả năng diễn đạt rõ ràng mạch lạc, có văn hóa và chuẩn bị cho trẻ vào lớp một. Phát triển khả năng phát âm, rèn ngữ điệu lời nói, hình thành và phát triển vốn từ, phát triển ngôn ngữ mạch lạc, nghệ thuật cho trẻ 5 6 tuổi ở trường mầm non là một trong những hoạt động giáo dục hữu hiệu nhất để phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Trên thực tế có những giáo viên còn cứng nhắc, rập khuôn, máy móc, chưa linh hoạt, sáng tạo trong việc tổ chức cho trẻ hoạt động, hạn chế cho trẻ thực hành trãi nghiệm. Dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi. Giúp giáo viên hiểu biết thêm về những hình thức tổ chức thực hiện, tích cực đổi phương pháp dạy học, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Bản thân tôi chọn đề tài “Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 6 tuổi ở trường Mầm non Krông ANa ” để nghiên cứu và áp dụng nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy cho đội ngũ giáo viên ở trường. 2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài Mục tiêu của đề tài này nhằm bồi dưỡng cung cấp thêm cho giáo viên một số kiến thức, kỹ năng để tổ chức hoạt động nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ có hiệu quả hơn. Kiến thức cung cấp cho trẻ phải có trình tự, hợp lý và thống nhất, đồng thời phải chính xác, thiết thực và mang tính ứng dụng cao. Nhiệm vụ của đề tài là giúp giáo viên biết cách tổ chức xây dựng môi trường tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ. Phát triển ngôn ngữ cho trẻ là giúp trẻ lĩnh hội cả ba thành phần của ngôn ngữ đó là phát âm, phát triển vốn từ, nói đúng ngữ pháp. Nhiệm vụ quan trọng nhất phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 – 6 tuổi là phát triển ngôn ngữ mạch lạc, lời nói nghệ thuật. Trẻ là chủ thể của phát triển ngôn ngữ. Ngôn ngữ của trẻ được phát triển thông qua quá trình giao tiếp của trẻ với những người xung quanh, với môi trường tự nhiên và xã hội. Để phát triển ngôn ngữ, trẻ phải được nghe, được bắt chước lời nói, được chủ động nói những lời nói diễn cảm, mạch lạc, rõ ràng, nghệ thuật. 3. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 – 6 tuổi trường Mầm non Krông Ana. 4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu của đề tài là một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng phát triển ngôn ngữ Phạm vi đối tượng: Học sinh 5 – 6 tuổi trường Mầm non Krông Ana Phạm vi thời gian: Năm học 2015 2016 5. Phương pháp nghiên cứu Khi thực hiện đề tài này đã sử dụng: + Phương pháp điều tra + Phương pháp nghiên cứu tài liệu + Phương pháp trao đổi đàm thoại + Phương pháp trải nghiệm thực tiễn. II. Phần nội dung 1. Cơ sở lý luận
Xem thêm

Đọc thêm

188KH PGD Tuyển sinh vào các trường mầm non, lớp 1, lớp 6 năm học 20162017 Kh188

188KH PGD Tuyển sinh vào các trường mầm non, lớp 1, lớp 6 năm học 20162017 Kh188

KẾ HOẠCH Tuyển sinh vào các trường mầm non, lớp I, lớp 6 năm học 2016 2017 Căn cứ vào Điều lệ trường mầm non; Điều lệ trường tiểu học; Điều lệ trường trung học cơ sả, trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học; Căn cứ Công văn số 1979SGDĐTQLT ngày 2942016 của Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội về việc hướng dẫn tuyển sinh vào các trường mầm non, lớp 1, lớp 6 năm học 20162017; Can cứ Công văn số 821ƯBNDGDĐT ngày 1252016 của UBND quận Hoàng Mai về việc chuẩn bị công tác tuyển sinh vào các trường mầm non, lớp 1, lớp 6 nãm học 20162017; Cãn cứ vào kết quả điều tra số trẻ trong độ tuồi tuyển sinh trên địa bàn, căn cứ vào tình hình thực tế về cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ giáo viên của các trường;
Xem thêm

Đọc thêm

tổng hợp các văn bản thi viên chức mầm non

tổng hợp các văn bản thi viên chức mầm non

THÔNG TƯ BAN HÀNH QUY CHẾ CÔNG NHẬN TRƯỜNG MẦM NON ĐẠT CHUẨN QUỐC GIA Căn cứ Luật Giáo dục ngày 14 tháng 6 năm 2005; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục ngày 25 tháng 11 năm 2009; Căn cứ Nghị định số 362012NĐCP ngày 18 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ; Căn cứ Nghị định số 322008NĐCP ngày 19 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Giáo dục và Đào tạo; Căn cứ Nghị định số 752006NĐCP ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục; Nghị định số 312011NĐCP ngày 11 tháng 5 năm 2011 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 752006NĐCP ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật giáo dục; Nghị định số 072013NĐCP ngày 09 tháng 01 năm 2013 của Chính phủ sửa đổi điểm b khoản 13 Điều 1 của Nghị định số 312011NĐCP ngày 11 tháng 5 năm 2011 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 752006NĐCP ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục; Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ Giáo dục Mầm non; Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư ban hành Quy chế công nhận trường mầm non đạt chuẩn quốc gia. Điều 1. Ban hành kèm theo Thông tư này Quy chế công nhận trường mầm non đạt chuẩn quốc gia. Điều 2. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25 tháng 3 năm 2014 và thay thế Quyết định số 362008QĐBGDĐT ngày 16 tháng 7 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế công nhận trường mầm non đạt chuẩn quốc gia. Điều 3. Chánh Văn phòng Bộ, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Mầm non, Thủ trưởng các đơn vị có liên quan thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Giám đốc các sở giáo dục và đào tạo chịu trách nhiệm thi hành Thông tư này.. Nơi nhận: Văn phòng Chính phủ; Văn phòng Quốc hội; Ban tuyên giáo TƯ; Ủy ban VH, GD, TN, TNNĐ của QH; Hội đồng Quốc gia Giáo dục; Kiểm toán nhà nước; Cục KTVBQPPL (Bộ Tư pháp); Công báo; Như Điều 3 (để thực hiện); Website Chính phủ; Website Bộ GDĐT; Lưu: VT, Vụ PC, Vụ GDMN. KT. BỘ TRƯỞNG THỨ TRƯỞNG Nguyễn Thị Nghĩa QUY CHẾ CÔNG NHẬN TRƯỜNG MẦM NON ĐẠT CHUẨN QUỐC GIA (Ban hành kèm theo Thông tư số 02 2014QĐBGDĐT ngày 08 tháng 02 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng 1. Quy chế này quy định về công nhận trường mầm non đạt chuẩn quốc gia, bao gồm: tiêu chuẩn, hồ sơ, quy trình công nhận trường mầm non đạt chuẩn quốc gia. 2. Quy chế này áp dụng đối với trường mầm non, trường mẫu giáo, nhà trẻ (sau đây gọi chung là trường mầm non) thuộc các loại hình trong hệ thống giáo dục quốc dân; các tổ chức, cá nhân có liên quan. Điều 2. Các mức độ công nhận Trường mầm non đạt chuẩn quốc gia được công nhận 2 mức độ: mức độ 1 và mức độ 2. 1. Mức độ 1: đạt các tiêu chuẩn cần thiết của trường mầm non đạt chuẩn quốc gia đảm bảo tổ chức các hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ có chất lượng toàn diện phù hợp với mục tiêu giáo dục mầm non. 2. Mức độ 2: đạt các tiêu chuẩn cần thiết của trường mầm non đạt chuẩn quốc gia để đảm bảo tổ chức các hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ có chất lượng toàn diện ở mức cao hơn mức độ 1, tạo điều kiện để tiếp cận với trình độ phát triển của trường mầm non ở các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới. Điều 3. Điều kiện công nhận Trường mầm non đạt danh hiệu trường tiên tiến của năm học liền kề và đạt các tiêu chuẩn quy định tại Chương II của Quy chế này. Điều 4. Thời hạn công nhận Quyết định công nhận trường mầm non đạt chuẩn quốc gia có thời hạn 5 năm kể từ ngày ký. Trong thời hạn 05 năm, nếu trường mầm non đã đạt chuẩn quốc gia vi phạm các tiêu chuẩn quy định tại văn bản này thì sẽ bị thu hồi Quyết định và Bằng công nhận trường mầm non đạt chuẩn quốc gia. Sau 5 năm kể từ ngày có quyết định công nhận, trường mầm non phải tự đánh giá, làm hồ sơ trình các cấp theo thẩm quyền để được kiểm tra, công nhận lại. Trình tự thủ tục công nhận lại thực hiện như công nhận lần đầu. Điều 5. Thẩm quyền công nhận Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Chủ tịch UBND cấp tỉnh) ra quyết định và cấp Bằng công nhận trường mầm non đạt chuẩn quốc gia. Mẫu Bằng công nhận theo quy định tại Thông tư này (phụ lục I). Chương II TIÊU CHUẨN TRƯỜNG MẦM NON ĐẠT CHUẨN QUỐC GIA Mục 1. TIÊU CHUẨN TRƯỜNG MẦM NON ĐẠT CHUẨN QUỐC GIA MỨC ĐỘ 1 Điều 6. Tổ chức và quản lý 1. Công tác quản lý a) Trường mầm non có kế hoạch hoạt động năm học, học kỳ, tháng và tuần; có biện pháp và tổ chức thực hiện kế hoạch đúng tiến độ; b) Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, các tổ trưởng chuyên môn nghiệp vụ, thực hiện quản lý, phân công hợp lý cán bộ, giáo viên, nhân viên theo quy định tại Điều lệ trường mầm non, Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức; c) Tổ chức và quản lý tốt các hoạt động hành chính, tài chính, quy chế chuyên môn, quy chế dân chủ, kiểm tra nội bộ, đổi mới công tác quản lý, quan hệ công tác và lề lối làm việc trong trường mầm non; d) Quản lý và sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ, đảm bảo cảnh quan xanh, sạch, đẹp, an toàn; đ) Lưu trữ đầy đủ và khoa học các hồ sơ, sổ sách phục vụ công tác quản lý của trường mầm non; e) Thực hiện đầy đủ các chế độ chính sách đối với người lao động theo quy định hiện hành; g) Thường xuyên tổ chức và duy trì các phong trào thi đua theo hướng dẫn của ngành và quy định của Nhà nước; h) Có biện pháp nâng cao đời sống cho cán bộ, giáo viên và nhân viên trong trường mầm non. 2. Công tác tổ chức a) Hiệu trưởng và các phó hiệu trưởng có thời gian làm công tác quản lý liên tục trong ngành giáo dục mầm non, ít nhất là 5 năm đối với hiệu trưởng và 3 năm đối với các phó hiệu trưởng; có bằng tốt nghiệp từ cao đẳng sư phạm mầm non trở lên, đã qua lớp bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý giáo dục và lý luận chính trị theo quy định; có ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý và chỉ đạo chuyên môn; Hằng năm, hiệu trưởng được cấp quản lý giáo dục trực tiếp đánh giá xếp loại từ khá trở lên theo quy định của chuẩn hiệu trưởng trường mầm non do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành; có đủ số lượng phó hiệu trưởng theo quy định. b) Hiệu trưởng và các phó hiệu trưởng có năng lực quản lý và tổ chức các hoạt động của trường mầm non, nắm vững Chương trình giáo dục mầm non; có phẩm chất đạo đức tốt, được giáo viên, cán bộ, nhân viên trong trường và nhân dân địa phương tín nhiệm; hằng năm đạt danh hiệu lao động tiên tiến trở lên. 3. Các tổ chức, đoàn thể và Hội đồng trong trường mầm non a) Hội đồng trường đối với trường mầm non công lập, Hội đồng quản trị đối với trường mầm non dân lập, tư thục và các hội đồng khác trong trường mầm non được tổ chức và thực hiện theo quy định tại Điều lệ trường mầm non; chú trọng công tác giám sát hoạt động của trường mầm non; giám sát việc thực hiện các nghị quyết và quy chế dân chủ trong các hoạt động của trường mầm non; b) Các tổ chức Đảng, Công đoàn, Đoàn Thanh niên của trường mầm non hoạt động hiệu quả có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của nhà trường, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ; c) Ban đại diện cha mẹ học sinh phối hợp chặt chẽ với trường mầm non trong các hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ, huy động được sự đóng góp của cộng đồng cho phong trào giáo dục mầm non của địa phương. 4. Chấp hành các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, sự chỉ đạo của cơ quan quản lý giáo dục các cấp a) Trường mầm non thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước liên quan đến giáo dục mầm non; chấp hành nghiêm chỉnh sự quản lý của chính quyền địa phương; chủ động tham mưu với cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương về kế hoạch phát triển và các biện pháp cụ thể để trường mầm non thực hiện mục tiêu giáo dục mầm non; b) Trường mầm non chấp hành sự chỉ đạo trực tiếp về chuyên môn, nghiệp vụ của phòng giáo dục và đào tạo, thực hiện đầy đủ các quy định về báo cáo với cơ quan quản lý cấp trên. Điều 7. Đội ngũ giáo viên và nhân viên 1. Số lượng và trình độ đào tạo Đủ số lượng giáo viên, nhân viên theo quy định. Đảm bảo 100% giáo viên và nhân viên đạt chuẩn trở lên về trình độ đào tạo, trong đó có ít nhất 40% số giáo viên đạt trên chuẩn về trình độ đào tạo. 2. Phẩm chất, đạo đức và năng lực chuyên môn, nghiệp vụ a) Có ít nhất 50% giáo viên đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp trường, trong đó ít nhất 20% giáo viên đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp huyện trở lên; b) Hằng năm, có ít nhất 70% số giáo viên, nhân viên đạt danh hiệu lao động tiên tiến và có chiến sĩ thi đua từ cấp cơ sở trở lên. Không có cán bộ, giáo viên, nhân viên nào bị kỷ luật từ hình thức cảnh cáo trở lên, không có giáo viên yếu kém về chuyên môn nghiệp vụ; c) Hằng năm, có ít nhất 50% số giáo viên đạt loại khá trở lên theo quy định của Chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, trong đó có ít nhất 50% số giáo viên đạt loại xuất sắc; không có giáo viên bị xếp loại kém. 3. Hoạt động chuyên môn a) Các tổ chuyên môn hoạt động theo quy định của Điều lệ trường mầm non; b) Trường mầm non tổ chức định kỳ các hoạt động: trao đổi chuyên môn, sinh hoạt chuyên đề, tham quan học tập kinh nghiệm và có báo cáo đánh giá cụ thể đối với từng hoạt động; c) Giáo viên tham gia đầy đủ các hoạt động chuyên môn, chuyên đề và hoạt động xã hội do trường
Xem thêm

Đọc thêm

MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM HUY ĐỘNG TRẺ VÀO BÁN TRÚ Ở TRƯỜNG MẦM NON VÙNG KHÓ KHĂN DTTS

MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM HUY ĐỘNG TRẺ VÀO BÁN TRÚ Ở TRƯỜNG MẦM NON VÙNG KHÓ KHĂN DTTS

II. NỘI DUNG1. Cơ sở lí luận để thực hiện đề tàiTrong xu thế giáo dục hiện nay Đảng, Nhà nước ta đã chỉ ra rằng: Giáo dục cùng với khoa học công nghệ là điều kiện tiên quyết để phát triển con người. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển. Chính vì vậy giáo dục thực sự được coi là “Quốc sách hàng đầu” Mục tiêu giáo dục Mầm Non đến năm 2020: “Thực hiện chăm sóc, giáo dục có chất lượng trẻ em từ 0 – 5 tuổi để trẻ phát triển toàn diện về thể lực, tình cảm, trí tuệ, xã hội, hình thành nhân cách trẻ em Việt Nam, trên cơ sở xây dựng một đội ngủ giáo viên giỏi về chuyên môn cũng như tư vấn tại gia đình và các loại hình giáo dục Mầm non đa dạng, phong phú, tương ứng với một hệ thống cơ sở vật chất phù hợp, hướng tới đảm bảo công bằng cho mọi trẻ em”.Song song với sự phát triển của nền giáo dục nước nhà, sở giáo dục và đào tạo Đăk Lăk đã có văn bản chỉ đạo cho các huyện đưa chỉ tiêu cụ thể phù hợp với vùng miền, trong đó chú trọng chỉ tiêu và chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ. Đặc biệt ngành học Mầm Non huyện Krông Ana đã xây dựng được nhiều trường chuẩn quốc gia Trường tiên tiến xuất sắc với yêu cầu về chỉ tiêu huy động trẻ bán trú phải đạt 80 100%. Như vậy về chỉ tiêu huy động trẻ vào bán trú đã rất cụ thể, yêu cầu về công tác chăm sóc, nuôi dưỡng đã được đặt ngang tầm với công tác giáo dục. Nghị quyết Đại hội Đảng Bộ xã Dur Kmăn, Nghị quyết HĐND xã khoá XVIII cũng đã chỉ rõ “ Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở cả 3 nhà trường, phát huy chất lượng trường chuẩn quốc gia, trường tiên tiến xuất sắc”Để thực hiện được nhiệm vụ của ngành, nhiệm vụ của địa phương giao cho như đã nói ở trên thì nhà trường phải tập trung giải quyết những vấn đề cơ bản sau:Tiếp tục công tác chăm sóc giáo dục trẻ, làm tốt công tác chăm sóc nuôi dưỡng mà vấn đề cốt lõi là: Làm sao để huy động phụ huynh gửi con vào bán trú đạt chỉ tiêu, yêu cầu của trường chuẩn quốc gia, trường tiên tiến xuất sắc. Để thực hiện các chỉ tiêu đó cũng như sự mong đợi của lãnh đạo các cấp và nhân dân trong toàn xã. Trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu khoa học cho thấy: sự tăng tốc trong qua trình phát triển thể lực của trẻ phụ thuộc vào mối liên quan chặt chẻ giửa dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe còn việc hình thành các kỹ năng vận động thô, vận động tinh, sự khéo léo và phối hợp các giác quan phụ thuộc rất nhiều vào môi trường GD cũng như quá trình tự rèn luyện của đứa trẻ có sự định hướng của người lớn. Cơ sở chính trị và và pháp lý: Ngay từ luật GD năm 1998, chúng ta thấy Đảng và nhà nước ta đã thực sự coi trọng GDMN, coi GDMN là nền móng then chốt chất lượng cho các bậc học tiếp theo. do vậy, từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra mục tiêu, chiến lược phát triển GDMN giai đoạn 20012020, mục tiêu được đặt ra đến năm 2020 là xây dựng hoàn chỉnh và phát triển bậc học MN cho hầu hết trẻ em trong độ tuổi đồng thời mục tiêu cụ thể là phải đảm bảo hầu hết trẻ 5 tuổi được học chương trình MG lớn chuẩn bọ vào lớp 1. Quyết định 161.2002QĐTTg của Thủ tướng chính phủ về một số chính sách phát triển GDMN cũng nêu rõ ưu tiên phát triển GDMN ở nơi có điều kiện khó khăn, các vùng nứi cao, vùng đồng bào dân tộc giảm sự chênh lệch về chất lượng giữa vùng khó khăn và các địa bàn thuận lợi khác 2. Thực trạng Trường Mẫu giáo Hoa Pơ Lang được thành lập năm 1996 thuộc xã Dur Kmăn; thuộc vùng đặc biệt khó khăn, được phong tặng xã Anh hùng Lực lượng vũ trang năm 2002; Đa số nhân dân là đồng bào DTTS; đời sống kinh tế của người dân còn nhiều khó khăn. Chủ yếu là trồng cây lúa nước. Nhà trường gồm có 8 điểm học nằm rãi rác ở các thôn buôn Đặc điểm về đội ngũ cán bộ GVNV: Tổng số có 42 cán bộ GVNV, trong đó: BGH có 03 đc, GV có 34 đc, NV phục vụ có 5 đc. Số CBVC biên chế: 25; Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: GV đứng lớp 100% đạt chuẩn, Trên chuẩn có 19 đc đạt 47,5%. Đặc điểm về CSVC: Có 17 lớp, bếp đảm bảo VSATTP, + Trang thiết bị chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ còn thiếu thốn nhiều đồ dùng đồ chơi trong trường đảm bảo an toàn vệ sinh đẹp, được sắp xếp hợp lý. Đặc điểm về học sinh:+ Tổng số có 405 cháu 17 lớp. Trong đó: Nhà trẻ 4 nhóm: 42 trẻ, MG bé + nhỡ 4 lớp: 264 trẻ, MG lớn 7 lớp – 99 trẻ + Phụ huynh học sinh: Đa số có trình độ dân trí thấp, ủng hộ mọi hoạt động của nhà trường.
Xem thêm

Đọc thêm

Cùng chủ đề