TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM":

Khi gặp hiện tượng dẫn chiếu ngược và dẫn chiếu đến pháp luật nước thứ ba thì sẽ áp dụng pháp luật như thế nào

KHI GẶP HIỆN TƯỢNG DẪN CHIẾU NGƯỢC VÀ DẪN CHIẾU ĐẾN PHÁP LUẬT NƯỚC THỨ BA THÌ SẼ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT NHƯ THẾ NÀO

Khi gặp hiện tượng dẫn chiếu ngược và dẫn chiếu đến pháp luật nước thứ ba thì sẽ áp dụng pháp luật như thế nào Nhắc tới tư pháp quốc tế là nhắc tới vấn đề áp dụng các quy phạm xung đột. Một trong những vấn đề rất phức tạp trong việc áp dụng quy phạm xung đột đó là vấn đề dẫn chiếu ngược và dẫn chiếu đến pháp luật của nước thứ ba. Trong phạm vi bài viết này, em xin làm rõ vấn đề “khi gặp hiện tượng dẫn chiếu ngược và dẫn chiếu đến pháp luật nước thứ ba thì sẽ áp dụng pháp luật như thế nào”. NỘI DUNG. I. Khái quát về hiện tượng dẫn chiếu trong tư pháp quốc tế: 1, Dẫn chiếu: Dẫn chiếu ngược hay dẫn chiếu đến pháp luật của nước thứ ba là hiện tượng khi cơ quan có thẩm quyền của nước A áp dụng quy phạm xung đột dẫn chiếu đến pháp luật nước ngoài (nước B), nhưng pháp luật nước B lại quy định vấn đề phải được giải quyết theo pháp luật nước A hoặc được giải quyết theo pháp luật của một nước thứ ba. Theo BLDS Việt Nam “năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước nơi pháp nhân đó thành lập”. Doanh nghiệp A là doanh nghiệp nước ngoài và thành lập tại Đức. Vậy pháp luật Đức là pháp luật điều chỉnh năng lực pháp luật dân sự của doanh nghiệp A. Nhưng theo pháp luât Đức, vấn đề này được điều chỉnh bởi pháp luật nơi doanh nghiệp có trụ sở thực tiễn và trong thực tế thì doanh nghiệp A có trụ sở tại Bỉ. Do đó, pháp luật Đức dẫn đến pháp luật Bỉ. Vậy hiện tượng dẫn chiếu đến pháp luật nước thừ ba có thể xảy ra ở Việt Nam. 2, Nguyên nhân của hiện tượng dẫn chiếu: Thứ nhất, quy phạm xung đột có hai bộ phận cấu thành: phần phạm vi và phần hệ thuộc. Hiện tượng dẫn chiếu xuất hiện khi một vấn đề pháp lý thuộc phần phạm vi của hai quy phạm xung đột của hai nước có phần hệ thuộc khác nhau hay là do có sự quy định khác nhau trong các quy phạm xung đột của các nước về nguyên tắc chọn luật áp dụng cho cùng một vấn đề pháp lý. Nguyên nhân thứ hai có khả năng làm phát sinh dẫn chiếu là việc giải thích các hệ thuộc luật của các nước có thể rất khác nhau. có thể dẫn đến khả năng một vấn đề pháp lý sẽ được hệ thống pháp luật của hai nước đều cho rằng, sẽ được áp dụng (gọi là xung đột tích cực), hoặc cả hai nước đều từ chối áp dụng, cho ràng pháp luật của nước mình không có thẩm quyền áp dụng (gọi là xung đột tiêu cực). Một số tác giả cho rằng, có sự “ủy quyền” của pháp luật trong nước cho pháp luật nước ngoài trong việc áp dụng giải quyết tình huống pháp lý phát sinh. Và như vậy, có thể coi các quy phạm xung đột nước ngoài dẫn chiếu ngược chở lại pháp luật nước có tòa án thụ lý là một bộ phận cấu thành trong hệ thống pháp luật của nước có tòa án đó. II. Áp dụng pháp luật khi gặp hiện tượng dẫn chiếu ngược và dẫn chiếu đến pháp luật nước thứ ba. 1, Chấp nhận dẫn chiếu: Một số nước không chấp nhận dẫn chiếu như Siry (BLDS 1949), Ai Cập (BLDS 1948)… bởi quan điểm của họ thì khi dẫn chiếu là chỉ dẫn chiếu tới các quy phạm luật thực chất của nước đó chứ không phải toàn bộ hệ thống pháp luật của nước đó như các nước chấp nhận dẫ chiếu như Anh, Nhật Bản (BLDS 1898), Thụy Điển. Ở Việt Nam về nguyên tắc thì dẫn chiếu được chấp nhận. Khoản 3 Điều 759 BLDS 2005: “nếu pháp luật nước đó (pháp luật nước ngoài được quy định hoặc viện dẫn) dẫn chiếu trở lại pháp luật nước CHXHCN VN, thì áp dụng pháp luật CHXHCN VN”. Tương tự theo Điều 5 nghị định số 682002NĐCP ngày 1072002 cũng quy định về vấn đề này. Pháp luật Việt Nam chỉ đề cập đến dẫn chiếu ngược trở lại pháp luật VN và không cho biết dẫn chiếu đến pháp luật nước thứ ba có được chấp nhận hay không. Tuy nhiên theo quy định tại Khoản 3 Điều 4 nghị định số 1382006NĐCP thì dẫn chiếu ngược trở lại và dẫn chiếu đến pháp luật nước thứ ba được chấp nhận ở Việt Nam. Thực tế vấn đề này rất hiếm gặp, do các quy phạm xung đột cũng có giới hạn và nhìn chung các quy phạm xung đột của tư pháp quốc tế là thống nhất. Đa phần phụ thuộc vào cách giải thích và ý chí của tòa án thụ lý vụ việc. 2, Các trường hợp không chấp nhận dẫn chiếu: Thứ nhất là trong lĩnh vực hợp đồng, hầu hết tất cả các quốc gia trên thế giới đều không chấp nhận dẫn chiếu trong lĩnh vực này. Điều 15 Công Ước Rome 1961980 về quy phạm xung đột thống nhất trong lĩnh vực hợp đồng đối với một số nước châu Âu và Điều 2 Công Ước Lahaye 761955 về hợp đồng mua bán quốc tế động sản, dẫn chiếu không được chấp nhận bởi nó sẽ làm đảo lộn những dự tính, đi ngược lại ý chí của các bên khi họ thỏa thuận chọn pháp luật áp dụng (luật nội dung, luật thực chất của hệ thống luật này) cho hợp đồng. Khoản 1 Điều 769 BLDS 2005: “quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước mà các bên đã thỏa thuận chọn”. nhưng không phải sự loại trừ dẫn chiếu là đương nhiên, tự động mà cần dung hòa ý chí các bên và các quy phạm xung đột một cách thống nhất. Thứ hai là khi có Điều ước quốc tế quy định. Theo Điều 39 Hiệp đinh tương trợ tư pháp giữa Nga và Việt Nam, “quan hệ pháp luật về thừa kế động sản do pháp luật của bên ký kết mà người để lại thừa kế là công dân vào thời điểm chết điều chỉnh”. Ví dụ: một công dân Nga sống và làm ăn ở VN nhiều năm, công dân này có vợ người VN và có một số động sản ở VN và Nga. Công dân Nga qua đời đột ngột ở VN do tai nạn không để lại di chúc. Vậy pháp luật Nga điều chỉnh quyền thừa kế vì khi người chết để lại tài sản thừa kế là công dân của Nga dù tại Điều 1224 Khoản 1 BLDS Nga quy định: “thừa kế (động sản) được điều chỉnh bởi pháp luật của nước mà người để lại thừa kế có nơi cư trú cuối cùng”. KẾT LUẬN Qua việc tìm hiểu ở trên, có thể thấy dẫn chiếu là vấn đề rất quan trọng, phổ biến nhưng cũng rất khó, rất phức tạp trong tư pháp quốc tế. Trong thời gian tới, khi các Điều ước quốc tế ngày một gia tăng, việc thiết lập các quy phạm xung đột thống nhất trong các Điều ước này sẽ làm mất đi những điều kiện tồn tại của dẫn chiếu, có thể hiện tượng dẫn chiếu không cần phải đặt ra trong tư pháp quôc tế nữa. Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại, dẫn chiếu vẫn được áp dụng một cách thường xuyên và phổ biến, vì vậy chúng ta cần phải tìm hiểu kỹ về vấn đề này để có thể áp dụng pháp luật hiệu quả nhất.
Xem thêm

4 Đọc thêm

Đánh giá tình hình quản lí và sử dụng đất theo 15 nội dung quản lí Nhà nước vê đất đai theo luật đất đai 2013 tại huyện Tĩnh Gia – Tỉnh Thanh Hoá

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH QUẢN LÍ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT THEO 15 NỘI DUNG QUẢN LÍ NHÀ NƯỚC VÊ ĐẤT ĐAI THEO LUẬT ĐẤT ĐAI 2013 TẠI HUYỆN TĨNH GIA – TỈNH THANH HOÁ

MỤC LỤC PHẦN 1. MỞ ĐẦU 4 1.1.Tính cấp thiết của đề tài. 4 1.2. Mục đích – yêu cầu của đề tài. 5 1.2.1 Mục đích. 5 1.2.2 Yêu cầu 5 PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6 2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT 6 2.1.1 Sự cần thiết đánh giá tình hình quản lí và sử dụng đất. 6 2.1.1.1 Khái niệm đất đai. 6 2.1.1.2Một số vấn đê liên quan tới Quản lý Nhà Nước về đất đai. 6 2.1.1.3Một số vân đề liên quan tớiđánh giá hiện trạng sử dụng đất 10 2.1.1.5 Mối quan hệ giữa công tác quản lý nhà nước về đất đai với hiện trạng sử dụng đất. 12 2.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN 13 2.2.1 Tình hình nghiên cứu về quản lí và sử dụng đất trên thế giới 13 2.2.1.1 Pháp: 13 2.2.1.2 Australia 13 2.2.1.3 Trung Quốc 14 2.2.2. Tình hình quản lý, sử dụng đất ở Việt Nam 14 2.2.2.1. Sơ lược về ngành địa chính Việt Nam qua các giai đoạn 14 2.2.2.2 Tình hình quản lý đất đai và vấn đề sử dụng đất ở Việt Nam 17 PHẦN 3NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19 3.1 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 19 3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 19 3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19 3.3.1 Phương pháp điều tra thu thập tài liệu 19 3.3.2 Phương pháp minh hoạ bằng bản đồ 19 3.3.3 Phương pháp thống kê 19 3.3.4 Phương pháp phân tích, tổng hợp số liệu 19 3.3.5 Phương pháp chuyên gia 19 PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 20 4.1 ĐIÊU KIỆN TỰ NHIÊN KINH TẾ XÃ HỘI 20 4.1.1.Điều kiện tự nhiên 20 4.1.1.1. Vị trí địa lý 20 4.1.1.2. Địa hình, địa mạo 21 4.1.1.5 Các nguồn tài nguyên 22 4.1.1.6 Thực trạng môi trường 24 4.1.2.Thực trạng phát triển kinh tế xã hội 25 4.1.2.1 Tăng trưởng kinh tế 25 4.1.2.2 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế 26 4.1.2.3. Dân số, lao động, việc làm và thu nhập 28 4.1.4. Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn 29 4.1.5. Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng 30 4.1.5.8 Quốc phòng, an ninh 33 4.1.6. Đánh giá chung về thực trạng phát triển kinh tế – xã hội gây áp lực đối với đất đai 33 4.1.6.1 Thuận lợi 33 4.1.6.2 Khó khăn 34 4.2 ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH QUẢN LÍ VỀ ĐẤT ĐAI THEO 15 NỘI DUNG QUẢN LÍ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI THEO LUẬT ĐẤT ĐAI 2013 34 4.2.1 Ban hành các văn bản về quản lý sử dụng đất và tổ chức thực hiện các văn bản đó 35 4.2.2 Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ dịa giới hành chính, lập bản đồ hành chính 37 4.2.3 Khảo sát đo đạc, đánh giá phân hạng đất, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất 37 4.2.4 Quản lý quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất 41 4.2.5 Công tác giao đất, cho thuê đất và thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất 46 4.2.6 Quản lí việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất 54 4.2.7 Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hố sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 54 4.2.8 Công tác thống kê, kiểm kê đất đai 56 4.2.9 Xây dựng hệ thống thông tin đất đai 57 4.2.10 Quản lý tài chính về đất đai 57 4.2.11 Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất 58 4.2.12. Công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật đất đai và xử lý các vi phạm pháp luật về đất đất đai 58 4.2.13 Phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai 59 4.2.14 Công tác giải quyết tranh chấp đất đai, giải quyết khiếu nại và tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất 59 4.2.15 Quản lý hoạt động các dịch vụ về đất đai 60 4.3 ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT 60 4.3.4. Những tồn tại trong việc sử dụng đất 68 4.3.4.1 Một số tồn tại chủ yếu trong sử dụng đất 68 4.3.4.2 Nguyên nhân của những tồn tại trong sử dụng đất và một số giải pháp khắc phục: 68 4.4 NHẬN XÉT CHUNG VÊ TÌNH HINH QUẢN LÍ VÀ HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT 69 PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 71 1. Kết luận 71 2. Kiến nghị 71
Xem thêm

71 Đọc thêm

tóm tắt luận án tiến sĩ đánh giá phê bình bản dịch anh việt trong lĩnh vực văn học

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐÁNH GIÁ PHÊ BÌNH BẢN DỊCH ANH VIỆT TRONG LĨNH VỰC VĂN HỌC

Thời đại toàn cầu hóa đặt ra nhu cầu trao đổi văn hóa và văn học to lớn giữa các dân tộc. Kết quả là trong khoảng hơn mƣời năm qua, cùng với sự phát triển của mạng Internet, một số lƣợng lớn tác phẩm văn học đƣợc dịch sang tiếng Việt. Trần Đăng Khoa (trích trong CPV, 11 August 2012) nhận xét: “Phần lớn trên thị trƣờng sách Việt Nam hiện nay là sách dịch, nhờ vậy mà ngƣời đọc Việt Nam không bị lạc hậu so với tình hình văn học thế giới. Nhiều bản dịch đƣợc xuất bản song song với tác phẩm mới của nƣớc ngoài.” Nhiều sách dịch có giá trị và chất lƣợng tốt đã đƣợc nhận giải thƣởng của Hội nhà văn Việt Nam. Tuy nhiên, cũng có bản dịch tiểu thuyết nổi tiếng thế giới có chất lƣợng kém, nhƣ Mật mã Da Vinci (Đỗ Thu Hà dịch năm 2005), Hạt Cơ Bản, và Bản đồ và vùng đất (Cao Việt Dũng dịch năm 2012), v.v. Những bản dịch này thậm chí còn bị coi là “thảm họa dịch thuật”. Các nhà phê bình và nghiên cứu dịch thuật Việt Nam đã chỉ ra nguyên nhân của tình trạng dịch ẩu nêu trên nhƣ dịch giả kém năng lực, thiếu vắng khung lí luận dịch thuật, không có phê bình bản dịch, và một phần là sự vô trách nhiệm của các nhà xuất bản. Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên (trích trong Ngọc Duy, 2012) nhấn mạnh rằng để nâng cao chất lƣợng dịch văn học cần thiết phải có phê bình dịch thuật. Nhƣng ở Việt Nam hiện chƣa có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về dịch thuật (theo Nguyễn Văn Dân, 2013), cũng nhƣ phê bình dịch thuật. Có ngƣời lập luận rằng đã có một số luận văn thạc sĩ về nghiên cứu dịch thuật đƣợc hoàn thành tại Trƣờng Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội. Tuy nhiên, các luận văn này, do hạn chế về phạm vi nghiên cứu, chỉ có thể nghiên cứu một vấn đề của dịch thuật nhƣ tƣơng đƣơng dịch thuật, hoặc đánh giá chất lƣợng dịch của một chƣơng tiểu thuyết mà thôi. Đặc biệt, các luận văn áp dụng mô hình phê bình bản dịch của Julian House để đánh giá chất lƣợng bản dịch AnhViệt, đã không đƣa ra đƣợc cơ sở lý thuyết cho mô hình này. Cụ thể nhƣ: không có giải thích hoặc giải thích sơ qua lý do chọn mô hình (1997) của House làm công cụ đánh giá bản dịch, đồng thời các bƣớc tiến hành mô hình cũng không đƣợc tuân thủ cho đúng cách. Hai trong số các luận văn thạc sĩ này áp dụng mô hình đầu tiên của House công bố năm 1977, chứ không phải mô hình cải biên năm 1997. Phần trình bày trên đã chỉ ra rằng ở Việt Nam hiện rất cần có các nghiên cứu chuyên sâu về phê bình chất lƣợng dịch thuật, và đây cũng chính là lý do nghiên cứu của luận án này.
Xem thêm

27 Đọc thêm

THỰC TRẠNG XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ VỚI CHƯƠNG TRÌNH MÁY TÍNH VÀ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ VIỆC XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ VỚI CHƯƠNG TRÌNH MÁY TÍNH Ở VIỆT NAM

THỰC TRẠNG XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ VỚI CHƯƠNG TRÌNH MÁY TÍNH VÀ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ VIỆC XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ VỚI CHƯƠNG TRÌNH MÁY TÍNH Ở VIỆT NAM

Để làm rõ hơn về những quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề bảo vệ quyền tác giả trong giai đoạn hiện nay và có cái nhìn tổng thể tình hình vi phạm quyền tác giả, quyền liên quan ở Việt Nam. Vì thế, người viết chọn đề tài: “Thực trạng xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan với chương trình máy tính và giải pháp hạn chế việc xâm phạm quyền tác giả với chương trình máy tính ở Việt Nam” để làm bài tiểu luận và làm rõ vấn đề này.

17 Đọc thêm

ĐIỀU CHỈNH HỢP ĐỒNG KHI HOÀN CẢNH THAY ĐỔI

ĐIỀU CHỈNH HỢP ĐỒNG KHI HOÀN CẢNH THAY ĐỔI

LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đã từ lâu pháp luật về hợp đồng chiếm một vị trí rất quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bởi hầu hết các giao dịch trong xã hội, dù có mục đích kinh doanh hay nhằm đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt thông thường, đều liên quan đến hợp đồng. Mục đích của pháp luật về hợp đồng là bảo vệ quyền tự do ý chí của các bên, quyền tự do ý chí này chỉ bị hạn chế khi bảo vệ trật tự công hoặc để bảo đảm quyền lợi hợp pháp của bên thứ ba. Hợp đồng được thiết lập hợp pháp thì có hiệu lực ràng buộc với các bên, một bên không được tự ý sửa đổi hoặc không tuân theo hợp đồng. Đây chính là yêu cầu mang tính bản chất của hiệu lực hợp đồng và là nội dung cơ bản của nguyên tắc hiệu lực bất biến (pacta sunt servanda) trong lĩnh vực hợp đồng. Điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi chưa từng được nhắc đến trong Bộ luật Dân sự năm 1995 cũng như Bộ luật Dân sự năm 2005. Trong quá trình xây dựng Bộ luật Dân sự năm 2015 và ngay cả khi vấn đề này được chính thức ghi nhận, các nhà nghiên cứu thực sự dành nhiều sự quan tâm, bàn luận cũng như đóng góp ý kiến liên quan đến nội dung này. Điều khoản liên quan đến Điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi được xem như sự thay đổi đáng kể trong chế định hợp đồng, là bước tiến mới mẻ trong tiến trình lập pháp nước ta. Do vậy, việc nghiên cứu về vấn đề này là hết sức cần thiết và cấp bách, không chỉ làm rõ nội dung cũng như hệ quả của quy định này, mà còn là nền tảng để tìm hiểu thêm về những hạn chế hay bất cập có thể xuất hiện trong thực tiễn áp dụng pháp luật sau này. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Xét từ phương diện lý luận nói chung, điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi không phải là vấn đề hoàn toàn mới, vì nội dung này được xem là nằm trong quy định về sửa đổi hợp đồng nói chung. Tuy nhiên, khi Bộ luật Dân sự năm 2015 lần đầu tiên đưa ra điều khoản cụ thể hóa các khía cạnh của điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản, trong đó trường hợp áp dụng cũng như quyền và nghĩa vụ của mỗi bên được xác định rõ hơn rất nhiều thông qua những quy định pháp luật mới, điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi trở thành nội dung nổi bật đòi hỏi được nhìn nhận và xem xét kỹ càng hơn trước. Những bài viết nghiên cứu trong nước liên quan đến điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi chủ yếu được đăng tải trong khoảng thời gian lấy ý kiến về dự thảo Bộ luật Dân sự năm 2015. Vấn đề này thu hút được nhiều sự quan tâm của các học giả, một số nhà nghiên cứu đã trình bày ý kiến của mình trong các bài phỏng vấn, buổi tọa đàm,… chứ không chỉ thông qua những tác phẩm được giới thiệu trong tạp chí chuyên ngành, ví dụ như trọng tài viên Đỗ Văn Đại của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam đã giới thiệu bài tham luận về “Điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi” trong hội thảo “Chế định hợp đồng trong Dự thảo Bộ luật Dân sự sửa đổi” tổ chức tại Hà Nội tháng 3 năm 2015. Những công trình nghiên cứu không chỉ giới thiệu nội dung mới của pháp luật mà còn phân tích ảnh hưởng của quy định đó trong thực tiễn áp dụng, đồng thời có liên hệ pháp luật nước ngoài. Một trong những tác phẩm tiêu biểu có giá trị tham khảo lớn khác có thể được kể đến là bài viết “Điều khoản điều chỉnh hợp đồng do hoàn cảnh thay đổi trong pháp luật nước ngoài và kinh nghiệm cho Việt Nam” của tác giả Lê Minh Hùng đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp điện tử. Trong khi số lượng tài liệu về điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi của Việt Nam không nhiều, thì trên thế giới đây lại là đề tài nghiên cứu có nguồn tài liệu tham khảo rất phong phú. Nội dung này thực sự là chủ đề hấp dẫn và tạo ra nhiều tranh luận giữa các học giả từ hơn 200 năm trước đến nay. Bên cạnh việc giới thiệu lịch sử hình thành và phát triển của quyền điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi, phân tích các trường hợp áp dụng, quyền và nghĩa vụ của các bên, hệ quả pháp lý,… các bài viết còn so sánh để làm rõ sự khác biệt của quy định này giữa các quốc gia hoặc hệ thống pháp luật trên thế giới, thu thập các vụ việc thực tế nổi bật ở mỗi nơi để làm rõ cách áp dụng pháp luật. Một trong những tác phẩm được đánh giá là chi tiết, dễ hiểu, dễ tiếp cận để tham khảo có thể được kể đến là cuốn sách “The effect of a change of circumstances on the binding force of contracts Comparative perspectives”, độ dày khoảng 300 trang, của nhà nghiên cứu người Chi lê Rodrigo Momberg Uribe phát hành năm 2011. 3. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn Luận văn nghiên cứu về các nội dung liên quan đến điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi, chủ yếu dựa trên điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015 về “Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản” và các quy định chung về chế định hợp đồng trong pháp luật Việt Nam hiện hành. Luận văn không đề cập đến trường hợp điều chỉnh nội dung hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi ở giai đoạn trước khi hợp đồng được ký kết, hay nói cách khác là trong quá trình các bên vẫn đàm phán để soạn thảo nội dung hợp đồng. 4. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn Luận văn hướng đến làm rõ các khía cạnh của điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi, trong nội dung về thực hiện hợp đồng của chế định hợp đồng, cụ thể là: đưa ra được khái niệm về điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi, các trường hợp thay đổi của hoàn cảnh khiến một bên có quyền yêu cầu điều chỉnh hợp đồng, cách thức điều chỉnh hợp đồng, hệ quả của việc điều chỉnh hợp đồng. Đồng thời, luận văn muốn giới thiệu về nội dung này trong pháp luật của một số quốc gia trên thế giới với mục đích tham khảo. Bên cạnh đó, qua quá trình phân tích và nghiên cứu, luận văn đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam liên quan đến vấn đề này. 5. Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn Luận văn lần lượt làm rõ những nội dung chính sau đây: Điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi là gì? Pháp luật Việt Nam quy định thế nào về điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi? Quy định pháp luật về điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi có vấn đề gì cần sửa đổi? 6. Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn Các phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng trong luận văn bao gồm: phương pháp phân tích quy phạm; phương pháp diễn dịch; phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh luật học; phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn. Các phương pháp này được sử dụng trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng. 7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn Luận văn có thể được xem như công trình nghiên cứu bước đầu về điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi trong pháp luật Việt Nam, có dẫn chiếu đến pháp luật nước ngoài. Luận văn là kết quả của quá trình tổng hợp và nghiên cứu công phu của người viết, do vậy luận văn có thể được sử dụng như nguồn tài liệu tham khảo liên quan đến vấn đề này, giúp cho việc nghiên cứu chuyên sâu về đề tài này trong tương lai được thuận lợi hơn. 8. Bố cục của luận văn Luận văn gồm có ba chương như sau: Chương 1: Lý luận chung về hợp đồng và điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi Chương 2: Quy định pháp luật về điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi Chương 3: Áp dụng pháp luật và hoàn thiện pháp luật về điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi
Xem thêm

18 Đọc thêm

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT: PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM QUA THỰC TIỄN TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT: PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM QUA THỰC TIỄN TỈNH THÁI NGUYÊN

MỤC LỤCMục Lục1Lời Cảm Ơn3Lời Nói Đầu4Bảng từ viết tắt trong bài luận văn.5Phần Mở Đầu61. Tính cấp thiết của đề tài.62. Tình hình nghiên cứu đề tài.7CHƯƠNG 1: PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ.10I. Vài Nét Về Hội Nhập Kinh Tế Và Khái Niệm Đầu Tư Nước Ngoài.101. Khái niệm đầu tư.102. Khái niệm pháp luật đầu tư.123. Khái niệm hội nhập kinh tế.12II. Đầu Tư Nước Ngoài Tại Việt Nam Và Những Vấn Đề Pháp Lý Liên Quan141. Cơ sở kinh tế của pháp luật đầu tư Việt Nam.142. Cơ sở chính trị pháp lý của pháp luật đầu tư Việt Nam.153. Sự ra đời và phát triển của luật đầu tư tại Việt Nam.19CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM QUA THỰC TIỄN TỈNH THÁI NGUYÊN32I. Một Số Vấn Đề Pháp Lý Cơ Bản321. Quá trình thực tiễn phát triển của hoạt động đầu tư Thái Nguyên.321.1 Sơ lược về tỉnh Thái Nguyên321.2 Các hoạt động đầu tư trước đổi mới.341.3 Pháp luật về đầu tư từ năm 1986 – 2005.361.4 Khung pháp lý được điều chỉnh từ năm 2005 đến nay.37II. Tổng quan về hoạt động đầu tư tỉnh Thái Nguyên.411. Khái quát chung về các vấn đề pháp lý trong đầu tư tại Thái Nguyên412. Các vấn đề pháp lý về hoạt động đầu tư tại tỉnh Thái Nguyên.483. Thực trạng tình hình đầu tư nước ngoài vào tỉnh Thái Nguyên60CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỀ XUẤT TIẾP TỤC HOÀN THIỆN KHUNG PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM.72I. Đánh giá chung về đầu tư vào Việt Nam và tỉnh Thái Nguyên.721. Kết quả tổ chức các hoạt động xúc tiến đầu tư722. Quảng bá đầu tư733. Kết quả thu hút đầu tư trên địa bàn tỉnh744. Đánh giá chung75II. Các chính sách nhằm khuyến khích đầu tư tại Thái Nguyên.761. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật đầu tư hiện hành.762. Một số giải pháp tăng cường thu hút đầu tư, nâng cao hiệu quả đầu tư tại tỉnh Thái Nguyên.823. Các giải pháp thúc đẩy đầu tư.844. Các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư.864.1. Giải pháp về vốn864.2. Giải pháp về cơ chế chính sách874.3. Giải pháp về phát triến khu, cụm công nghiệp.90Kết Luận92Phụ Lục 193Phụ Lục 299Phụ Lục 3106Tài Liệu Tham Khảo……………………………………… ………………..110
Xem thêm

112 Đọc thêm

ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRONG LĨNH VỰC CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM

ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRONG LĨNH VỰC CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM

Mục tiêu tổng quát của đề tài là dựa trên cơ sở lý luận để nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn về vấn đề địa vị pháp lý của NĐTNN trong lĩnh vực chứng khoán tại Việt Nam và một số nước trên thế giới. Từ đó, phân tích những kinh nghiệm quốc tế để vận dụng vào thị trường chứng khoán Việt Nam, đưa ra những đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật của Việt Nam về địa vị pháp lý NĐTNN trong lĩnh vực chứng khoán. Nhiệm vụ của luận văn: Xác định nội dung và làm rõ một số vấn đề lý luận về khái niệm, đặc điểm có liên quan tới địa vị pháp lý của NĐTNN trong lĩnh vực chứng khoán. Phân tích, làm rõ các hạn chế, bất cập, đánh giá thực trạng xác định luật áp dụng về địa vị pháp lý của NĐTNN trong lĩnh vực chứng khoán tại Việt Nam và một số nước trên thế giới cụ thể là Brazil, Thái Lan, Hàn Quốc. Từ những vướng mắc, bất cập giữa lý luận và thực trạng đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật xác định luật áp dụng về địa vị pháp lý của NĐTNN trong lĩnh vực chứng khoán ở Việt Nam trong thời gian tới. Đối tượng nghiên cứu Cơ sở lý luận, các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam liên quan đến địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán, thực tiễn tham gia của nhà đầu tư nước ngoài. Những nội dung chính về địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán của một số nước trên thế giới. Phạm vi nghiên cứu Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu chuyên sâu về quy định của pháp luật Việt Nam đối với nhà đầu tư nước ngoài khi hoạt động trên thị trường chứng khoán Việt Nam và phân tích một số thị trường chứng khoán nước ngoài, giới hạn trong ba nước điển hình là Brazil, Thái Lan, Hàn Quốc, tiếp cận trên phương diện pháp lý.
Xem thêm

Đọc thêm

Tình hình nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam hiện nay

TÌNH HÌNH NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

tình hình nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam hiện nay, từ đó đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này Bài tập học kỳ Luật hôn nhân và gia đình Chuyên mục Bài tập học kỳ, Luật Hôn nhân và gia đình MỞ ĐẦU Có thể nói, trên thực tế, nuôi con nuôi là một quan hệ xã hội đặc biệt vốn đã xuất hiện từ rất lâu ở nước ta và đây cũng là một vấn đề mang tính nhân đạo sâu sắc. Hiện nay, vấn đề Nuôi con nuôi nói chung và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng đang có xu hướng ngày càng gia tăng và có những diễn biến hết sức đa dạng và phức tạp. Chính vì vậy với bài tập lần này, em xin đi sâu tìm hiểu đề tài: “ Đánh giá về tình hình nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam hiện nay. Từ đó đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này.” Sau đây là toàn bộ bài làm của em. NỘI DUNG I. Tình hình nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt nam hiện nay. 1. Tình hình ban hành và thực hiện các văn bản pháp luật trong nước. Có thể khẳng định rằng, pháp luật điều chỉnh về vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nc ngoài ở Việt Nam ngày càng trở nên hoàn thiện. Nếu như trc đây nuôi con nuôi đc quy định tản mạn trong các văn bản pháp luật và điều ước quốc tế khác nhau thì nay vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nc ngoài trong pháp luật việt nam đã được quy định thống nhất trong Luật nuôi con nuôi năm 2010. Việc điều chỉnh thống nhất trong một văn bản pháp luật đã khắc phục được tình trạng thiếu tập trung, không đồng bộ của các văn bản pháp luật. Việc ban hành Luật nuôi con nuôi năm 2010 nhằm đáp ứng các yêu cầu cơ bản sau: Thứ nhất, Tạo hành lang pháp lý đồng bộ và thống nhất trong công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực nuôi con nuôi nói chung và vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng. Thứ hai, Góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và mọi công dân về công tác bảo vệ trẻ em, giúp đỡ trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, không có gia đình có thể tìm thấy gia đình thay thế. Thứ ba, Thể hiện sự tôn trọng và quan tâm thực hiện các cam kết quốc tế mà nước ta đã đưa ra trong việc bảo vệ và giành những gì tốt đẹp nhất cho trẻ em, đảm bảo việc nuôi con nuôi được tiến hành trên nguyên tắc nhân đạo vì lợi ích tốt nhất cho trẻ em. Thứ tư, tạo ra cơ chế đồng bộ và thống nhất trong việc nuôi con nuôi trong đó giải pháp nuôi con nuôi quốc tế được xem như là giải pháp cuối cùng, sau khi đã cân nhắc và áp dụng mọi biện pháp chăm sóc, nuôi dưỡng thay thế ở trong nước cho thấy không có hiệu quả or không thể áp dụng được. Thứ năm, tạo cơ sở pháp lý nhằm thúc đẩy, khuyến khích và thu hút sự quan tâm của toàn xã hội đối với lĩnh vực này, đồng thời tranh thủ các nguồn hỗ trợ nhân đạo từ trong và ngoài nước phục vụ cho công tác chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt hướng tới việc nâng cao chất lượng cuộc sống cho trẻ em tại cộng đồng. 2. Tình hình kí kết và thực hiện các điều ước quốc tế về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Có thể thấy, Việt nam đã kí các Hiệp định tương trợ tư pháp với các quốc gia trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình thì vấn đề nuôi con nuôi luôn được các nước quan tâm và ghi nhận trong các Hiệp định. Để góp phần tạo ra một chế định pháp lý pháp lý kí kết thông thoáng, lành mạnh, nhà nước ta đã kí kết các hiệp định hợp tác về nuôi con nuôi với một số nước như:Pháp, Đan Mạch, ý, Thụy sĩ, tây ban nha….Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nuôi con nuôi ở việt nam trong những năm qua đã mang lại hiệu quả cao trong thực tế quan hệ nuôi cn nuôi có yếu tố nước ngoài. Thông qua các Hiệp định àm việt nam kí kết với các nước có thể thấy rõ cả phía người nhận nuôi và người được nhận làm con nuôi đều đặt dưới sự giám sát chặt chẽ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và đảm bảo tuân thủ pháp luật của cả hai nước: nước có trẻ em làm con nuôi và nước người nhận con nuôi thường trú. Do cơ chế kiểm soát chặt chẽ của việt nam và các nước đã tham gia kí kết hiệp định, việc giải quyết việc nuôi con nuôi đã đảm bảo tính nhân đạo và lành mạnh. Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi nêu trên, thì cơ chế xử lý đối với các khoản tài chính trong lĩnh vực nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài vẫn đang còn gặp những khó khăn, trở ngại đối với các đương sự và cơ quan giải quyết việc nuôi con nuôi. Điều đó dẫn đến tình trạng khó kiểm soát và ngăn chặn được hiện tượng môi giới, kiếm lời.. 3. Một số hạn chế, bất cập còn tồn tại trong lĩnh vực nuôi con nuôi có ytnn. Nhìn chung các văn bản pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở việt nam thời gian qua đã góp phần quan trọng điều chỉnh các quan hệ nuôi con nuôi tại việt nam với mục đích tìm cho trẻ em không nơi nương tựa một mái ấm gia đình thay thế, tôn trọng nguyên tắc ưu tiên cho nhận con nuôi trong nước, nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài chỉ là giải pháp cuối cùng. Tuy nhiên, Xét về mặt thực tế, khi chúng ta cùng nhìn nhận lại về vấn đề này cũng như đánh giá về tình hình nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở việt nam hiện nay, thì có thể thấy về lĩnh vực này ở việt nam vẫn còn tồn tại những hạn chế, vướng mắc nhất định ảnh hưởng không tốt đến vấn đề nuôi con nuôi nói chung và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng. Cụ thể là: 3.1 Nhận thức chưa đúng về vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Nuôi con nuôi quốc tế là vấn đề nhạy cảm và hệ trọng. Vấn đề này liên quan đến số phận của những trẻ em có hoàn cảnh thiệt thòi phải sống xa quê hương, đất nước nơi mình sinh ra. Tuy nhiên hiện nay một số cơ quan nhà nước kể cả ở trung ương và địa phương còn có sự nhận thức chưa đúng về vấn đề nuôi con nuôi nói chung và nuôi con nuôi quốc tế nói riêng, thậm chí còn mơ hồ về tính nhân đạo, nhân văn của lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế cũng như về các vấn đề pháp lý có liên quan. Một hành vi thiếu tính nhân đạo hoặc truc lợi sẽ gây hậu quả khôn lường không những đối với trẻ em, người nhận con nuôi, mà còn ảnh hưởng đến quan hệ giữa nước cho và nước nhận con nuôi. 3.2 Làm sai lệch nuồn gốc trẻ em. Thực tiễn tình hình nuôi con nuôi ở Việt nam cho thấy một số địa phương đã làm sai lệch nguồn gốc trẻ em để cho làm con nuôi đã làm ảnh hưởng đến tính trung thực, minh bạch trong hồ sơ, giấy tờ và có thể dẫn đến sự vi phạm quyền trẻ em, nhất là trẻ sơ sinh. Một số địa phương khác thời gian gần đây đã cho thấy tính phức tạp trong việc kiểm soát các giấy tờ liên quan đến nguồn gốc đích thực của trẻ em mà nguyên nhân là do sự buông lỏng quản lý ở các cơ sở nuôi dưỡng, chạy theo lợi ích vật chất kinh tế trong việc giới thiệu trẻ em làm con nuôi, thậm chí có sự câu kết giữa cơ sở nuôi dưỡng và những người môi giới bất hợp pháp bên ngoài để đưa trẻ em từ các nơi khác về cơ sở nuôi dưỡng và hợp thức hóa bằng hồ sơ trẻ e bị bỏ rơi để cho làm con nuôi nước ngoài. 3.3 Chưa quản lý chặt chẽ các hoạt động của văn phòng con nuôi nước ngoài tại Việt nam. Có thể thấy, kể từ năm 2009 trở về trước, trên phạm vi cả nước đã có 69 văn phòng con nuôi nước ngoài được cấp phép hoạt động trong đó có 42 văn phòng của Hoa kì. Việc số đông các tổ chức con nuôi vào việt nam hoạt động đã tạo ra sự cạnh tranh với các tổ chức con nuôi của các nước khác và làm cho tình hình giải quyết vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trở nên phức tạp va khó kiểm soát hơn. Văn phòng con nuôi của các nước hoạt động tại Việt Nam một mặt phải tuân theo pháp luật việt nam, mặt khác phải tuân theo pháp luật của nước nhận. Nhiều nước có các quy định rất khác nhau về hoạt động của tổ chức con nuôi nước ngoài, nhất là quy định về tài chính. Nhiều tổ chức lại có khả năng tài chính mạnh, cơ chế xử lý mềm dẻo liên quan đên việc nuôi con nuôi quốc tế. Trong nhiều trường hợp họ dùng tiền mặt để hỗ trợ cơ sở nuôi dưỡng. Trong khi đó các quy định của pháp luật nước ta về hỗ trợ nhân đạo, quản lý việc tiếp nhận, sử dụng các khoản hỗ trợ nhân đạo còn chưa cụ thể và rõ ràng, kỉ luật tài chính nhìn chung quy định còn chưa chặt chẽ. Đây chính là những sơ hở, thiếu sót về mặt pháp lý nên chưa đảm bảo được sự minh bạch, công khai và sử dụng đúng mục đích của các khoản hỗ trợ nhân đạo. III. GIẢI PHÁP 1. Tăng cường công tác quản lý văn phòng con nuôi nn tại vn Để khắc phục tình trạng chưa có cơ chế chặt chẽ quản lý văn phòng con nuôi tại Việt Nam thì cần phải có giải pháp cụ thể như thường xuyên kiểm tra, giám sát các hoạt động của văn phòng con nuôi nước ngoài, quy hoạch cụ thể số lượng, tổ chức con nuôi nước ngoài của mỗi nước được thành lập tại Việt nam, số lượng văn phòng con nuôi nước ngoài được phép hoạt động…qua đó để mỗi văn phòng con nuôi nước ngoài tại việt nam hoạt động có hiệu quả hơn, đảm bảo được lợi ích tối đa nhất cho trẻ em được nhận làm con nuôi. 2. Tăng cường vai trò của cơ quan con nuôi trung ương: Có thể nói việc tăng cường hơn nữa vai trò của cơ quan con nuôi trung ương là việc làm hết sức cần thiết, một mặt nhằm đáp ứng yêu cầu khi tham gia công ước Lahay mặt khác nhằm tập trung quản lý thống nhất lĩnh vực nuôi con nuôi vào một mối. Cơ quan con nuôi trung ương cần được củng cố, tăng cường cả về số lượng và chất lượng để có thể đảm nhận được trọng trách nặng nề hơn trong điều kiện nước ta tham gia công ước lahay. Trong cơ chế xử lý vấn đề nuôi con nuôi, coq quan con nuôi trung ương phải là đầu mối trong việc tìm mái ấm gia đình cho trẻ em, chịu trách nhiệm về hồ sơ của cha mẹ nuôi, bảo đảm trẻ em có đủ điều kiện để cho làm con nuôi theo quy định của pháp luật và có sự tự nguyện đồng ý của những người có quyền cho con nuôi. Bên cạnh đó, cơ quan con nuôi trung ương còn có trách nhiệm trực tiếp phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác tiến hành mọi biện pháp thích hợp khác nhằm ngăn chặn việc thu lợi bất chính liên quan đến nuôi con nuôi hoặc ngăn chặn mọi hành vi khác trái với mục đích của công ước. Đây là nhiệm vụ không đơn giản của việt nam trong giai đoạn hiện any khi mà các hoạt động trung gian, môi giới bất hợp pháp..trong lĩnh vực nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài diễn ra ngày càng tinh vi và nghiêm trọng hơn. Tuy nhiên trên thực tế thì cơ quan trung ương về con nuôi của nước ta – Cục con nuôi lại có thẩm quyền hạn chế. Cục con nuôi chỉ thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực nuôi con nuôi và tham gia một số khâu trong quá trình giải quyết hồ sơ mà chưa được trao thẩm quyền quyết định việc nuôi con nuôi. KẾT LUẬN Có thể thấy rằng, nuôi con nuôi là vấn đề mang tính nhân đạo sâu sắc. Tuy nhiên do việc chưa nhận thức đúng về vấn đề này nên trên thực tế đã xảy ra những hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của trẻ em. Và một trong những nguyên nhân gây ra vấn đề này là do sự thiếu hiểu biết pháp luật về nuôi con nuôi nói chung và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói chung. Chính vì vậy, đặc biệt trong tình hình hiện nay thì cần tăng cường hơn nữa việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho người dân hiểu một cách đầy đủ và cơ bản về vấn đề này để thực hiện tốt các quy định của pháp luật, cũng như có thể tham gia vào việc giám sát quá trình thực hiện việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Xem thêm

8 Đọc thêm

Đề thi thử THPTQG môn Địa THPT chuyên Hoàng Lê Kha 2015

ĐỀ THI THỬ THPTQG MÔN ĐỊA THPT CHUYÊN HOÀNG LÊ KHA 2015

Đề thi thử THPTQG môn Địa 2015 THPT chuyên Hoàng Lê Kha  Câu I (2,0 điểm)  1. Trình bày sự phân hóa đất theo đai cao ở nước ta. Tại sao ở miền Nam không có đai ôn đới gió mùa trên núi ? 2. Chứng minh rằng cơ cấu lao động theo ngành của nước ta đang có sự chuyển dịch theo hướng tiến bộ.  Câu II (3,0 điểm)  1. Phân tích những chuyển biến tích cực của hoạt động ngoại thương ở nước ta trong những năm qua. Tại sao trong những năm qua nước ta luôn nhập siêu ? 2. Chứng minh rằng nước ta có điều kiện thuận lợi để phát triển công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm?  Câu III (2,0 điểm)  Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam, trình bày sự phân bố các loại đất ở Đồng bằng sông Cửu Long. Giải thích tại sao ở đây diện tích đất phèn, đất mặn lớn.  Câu IV (3,0 điểm)  Cho bảng số liệu sau: TÌNH HÌNH SẢN XUẤT LÚA CỦA NƯỚC TA GIAI ĐOẠN 2005 – 2010 Năm Diện tícH (nghìn ha) Năng suất Tổng số Lúa Hè thu (tạ/ha) 2005 7329,2 2349,3 48,9 2008 7422,2 2368,7 52,3 2009 7437,5 2358,4 52,4 2010 7491,4 2436 53,4 (Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam 2012, nhà xuất bản thống kê, 2013) 1. Vẽ biểu đồ kết hợp (đường và cột) thể hiện tình hình sản xuất lúa của nước ta trong giai đoạn 2005 -2010. 2. Nhận xét tình hình sản xuất lúa của nước ta từ biểu đồ đã vẽ và giải thích. Đáp án đề thi thử THPTQG môn Địa THPT chuyên Hoàng Lê Kha 2015 
Xem thêm

2 Đọc thêm

TIỂU LUẬN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUAN HỆ THỪA KẾ THEO DI CHÚC CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

TIỂU LUẬN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUAN HỆ THỪA KẾ THEO DI CHÚC CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

LỜI NÓI ĐẦU1. Lý do chọn đề tài:Cùng với sự phát triển của xã hội và xu hướng hội nhập, toàn cầu hóa ngày một lớn mạnh tạo điều kiện giao lưu và hợp tác quốc tế. Trong bối cảnh đó, đã làm gia tăng hết sức mạnh mẽ các giao lưu về dân sự có yếu tố nước ngoài đòi hỏi phải được pháp luật điều chỉnh, trong đó có một số quan hệ thừa kế vượt ra khỏi phạm vi điều chỉnh của hệ thống pháp luật một quốc gia, đó là những quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài nói riêng. Khi vấn đề thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài phát sinh thì đặt ra vấn đề là có thể có nhiều pháp luật của các nước khác nhau liên quan đến quan hệ đó đều có thể được áp dụng để điều chỉnh quan hệ này, bởi vậy mà dẫn đến tình trạng xung đột pháp luật giữa các nước cần được giải quyết.Xuất phát từ những lý do trên đã tác động cho người viết chọn đề tài: “Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài” để làm đề tài nghiên cứu nhằm cung cấp những kiến thức pháp luật về thừa kế cho mọi người, đồng thời người viết cũng mong muốn góp phần nhỏ bé của mình vào hoàn thiện các chế định và thừa kế để điều chỉnh kịp thời những vấn đề về thừa kế thực tế phát sinh.2. Phạm vi nghiên cứu:Đối với đề tài “Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài”, người viết đi vào tìm hiểu những vấn đề lý luận chung về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài. Đặc biệt người việt đi sâu vào phân tích một số vấn đề liên quan đến thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành. Qua đó đề cập đến một số thực trạng trong qui định về các quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài ở nước ta hiện nay, đồng thời đưa ra một số đề xuất nhằm hoàn thiện một số vấn đề về quan hệ thừa kế đó.3. Mục đích nghiên cứu:Trong bối cảnh hội nhập, với thực trạng nền kinh tế thị trường và xây dựng nhà nước pháp quyền thì vấn đề tài sản thuộc sở hữu cá nhân ngày càng phong phú, các quan hệ về thừa kế có yếu tố nước ngoài ngày càng phát triển đa dạng và phức tạp. Trong khi đó, về vấn đề này pháp luật của các nước lại có quan điểm, giải pháp rất khác nhau, điều đó đã tạo ra hiện tượng xung đột pháp luật trong lĩnh vực này. Do đó việc nghiên cứu và tìm ra giải pháp để hoàn thiện hơn chế định này trong pháp luật mỗi quốc gia là điều hết sức cần thiết.Bởi vậy, nghiên cứu về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài có ý nghĩa sâu sắc về lý luận và đời sống thực tế. Với ý nghĩa đó và xuất phát từ những nhu cầu và thực tiễn của pháp luật hiện nay, đề tài này nhằm phân tích rõ các quy định của pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài, qua đó đánh giá thực trạng pháp luật về thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam hiện nay. Đồng thời nêu lên những quan điểm, và đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về quan hệ thừa kế ở nước ta hiện nay.4. Phương pháp nghiên cứu:Đề tài được hoàn thành dựa trên các phương pháp như: phân tích câu chữ của luật viết, so sánh, diễn dịch, tổng hợp các vấn đề đồng thời đưa ra các ví dụ cụ thể, thu thập thông tin dựa trên những qui định của pháp luật, các sách, tạp chí…, để làm sáng tỏ các vấn đề được đặt ra và giải quyết trong tiểu luận.5. Bố cục của đề tài:Ngoài lời nói đầu và kết luận, tiểu luận được chia ra làm 03 chương:Chương 1: Những lý luận về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài.Chương 2: Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài.Chương 3: Thực trạng và hướng hoàn thiện về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài.CHƯƠNG 1NHỮNG LÍ LUẬN CHUNG VỀ QUAN HỆ THỪA KẾ THEODI CHÚC CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI1.1. Khái niệm về quan hệ thừa kế theo di chúc và quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài1.1.1. Khái niệm về quan hệ thừa kế theo di chúcTheo pháp luật của Việt Nam thì chế định thừa kế hình thành từ rất sớm, thừa kế với ý nghĩa là một phạm trù kinh tế có mầm móng và xuất hiện ngay trong thời kì sơ khai của xã hội loài người. Ăng – ghen viết: “Theo chế độ mẫu quyền, nghĩa là chừng nào mà huyết tộc chỉ kể về bên mẹ và theo tập tục thừa kế nguyên thuỷ trong thị tộc mới được thừa kế những người trong thị tộc chết. Tài sản phải để lại trong thị tộc, vì tài sản để lại không có giá trị lớn, nên lâu nay trong thực tiễn có lẽ người ta vẫn trao tài sản đó cho những người cùng huyết tộc với người mẹ ”.Trong xã hội cộng xã nguyên thuỷ, dù chỉ là một nền sản xuất đơn giản nhưng cũng nằm trong một hình thái kinh tế xã hội nhất định. Mác đã chỉ ra rằng: “Bất cứ một nền sản xuất nào cũng là việc con người chiếm hữu những đối tượng của tự nhiên trong phạm vi một hình thái xã hội nhất định và thông qua hình thức đó”. Vì vậy, “Nơi nào, không có một hình thái sở hữu nào cả thì nơi đó cũng không thể có sản xuất và do đó cũng không có một xã hội nào cả ”. Và cũng chính vì thế mà sở hữu xuất hiện ngay từ khi có xã hội loài người và với thừa kế chúng phát triển cùng với xã hội loài người. Ở khía cạnh khác thì quan hệ sở hữu là một quan hệ giữa người với người về việc chiếm hữu của cải vật chất trong xã hội, sự chiếm hữu vật chất này thể hiện giữa người này với người khác, giữa tập đoàn người này với tập đoàn người khác, đó là tiền đề đầu tiên để làm xuất hiện quan hệ thừa kế.Theo pháp luật của tất cả các nước trên thế giới thì đều thừa nhận quyền thừa kế theo di chúc. Còn theo pháp luật ở Việt Nam, tại Điều 646 của Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”. Từ định nghĩa về thừa kế và di chúc ta có thể hiểu thừa kế theo di chúc như sau: Thừa kế theo di chúc là sự chuyển dịch tài sản (chuyển dịch di sản thừa kế) của người chết cho những người khác theo sự định đoạt một cách tự nguyện (bằng di chúc) của người đó khi còn sống. 1.1.2. Khái niệm về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoàiThừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài là thừa kế được nghiên cứu trong phạm vi Tư pháp quốc tế. Theo pháp luật Việt Nam, yếu tố nước ngoài trong quan hệ thừa kế được xác định theo quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài tại Điều 758 Bộ luật dân sự năm 2005: “Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài lá quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”. Như vậy, theo định nghĩa này thì quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài gồm có 3 yếu tố sau: Yếu tố thứ nhất về mặt chủ thể: Có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; Yếu tố thứ hai về mặt khach thể: Những căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài; và Yếu tố thứ ba về sự kiện pháp lý: Có tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài. Như vậy, có thể định nghĩa quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài là: “Quan hệ thừa kế theo di chúc mà trong đó có ít nhất một trong các bên tham gia vào quan hệ đó là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc quan hệ thừa kế theo di chúc giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó (di sản thừa kế) ở nước ngoài”.Từ định nghĩa trên thì quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài có những đặc trưng sau đây:Về chủ thểThứ nhất, cá nhân. Cá nhân thì bao gồm công dân Việt Nam và người nước ngoài. Công dân Việt Nam tức là người có quốc tịch Việt Nam, cụ thể theo Điều 49 – Hiến pháp Việt Nam năm 1992 quy định: “Công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam”. Người nước ngoài là người không có quốc tịch của nước nơi má họ đang cư trú, như vậy có thể nói bất kỳ người nào sống trên lãnh thổ của một nước nhất định mà không có quốc tịch của nước đó thì được gọi là người nước ngoài . Người nước ngoài theo pháp luật Việt Nam được giải thích cụ thể tại khoản 2 Điều 3 của Nghị định 1382006NĐCP ngày 15 tháng 11 năm 2006, quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài . Qua đây nói lên nếu cá nhân nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài một khi có tham gia vào quan hệ thừa kế theo di chúc thì đây là một đặc trưng để nhận biết rằng có yếu tố nước ngoài, tức đây là một quna hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài.Thứ hai, pháp nhân. Pháp nhân là một tổ chức được thành lập theo pháp luật của một nước nhất định, thông thường một tở chức được xem là một pháp nhân khi nó được thành lập theo một trình tự nhất định và có đầy đủ các điều kiện của một pháp nhân theo pháp luật mỗi nước. Pháp nhân bao gồm pháp nhân Việt Nam và pháp nhân nước ngoài, pháp nhân Việt Nam là pháp nhân được thành lập theo Điều 85 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về “thành lập pháp nhân” và phải đáp ứng đủ điều kiện để được công nhận là pháp nhân theo Điều 84 Bộ luật dân sự năm 2005 ; pháp nhân nước ngoài là một pháp nhân hoạt động ở một nước khác nhưng không có quốc tịch ở nước đó thì pháp nhân này được gọi là pháp nhân nước ngoài . Pháp nhân nước ngoài theo pháp luật Việt Nam được giải thích cụ thể tại khoản 5 Điều 3 của Nghị định 1382006NĐCP . Thứ ba, Quốc gia là chủ thể đặc biệt trong quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài. Quốc gia là một thực thể được hình thành bởi các yếu tố tự nhiên và xã hội, tức gốm có các thành phần như lãnh thổ, dân cư, chính phủ và chủ quyền quốc gia đã cấu thành một quốc gia. Quốc gia khác với các chủ thể khác trong tư pháp quốc tế, biểu hiện là quốc gia được xem là một chủ thể đặc biệt trong tư pháp quốc tế. Tính chất đặc biệt này được thể hiện ở chỗ quốc gia luôn luôn có chủ quyền, chủ quyền là một thuộc tính chính trị và pháp lý không thể tách rời khỏi một quốc gia độc lập. Cụ thể là khi quốc gia tham gia vào các quan hệ tư pháp quốc tế thì được hưởng quyền miễn trừ tư pháp, tức khi quốc gia tham gia vào quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài thì cũng được hưởng quyền miễn trừ về tư pháp tuyệt đối. Quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đối này được thể hiện trước hết là về quyền miễn trừ xét xử, nội dung của quyền này chủ yếu nói lên một quốc gia này sẽ không bị xét xử bởi Toà án của quốc gia khác nếu chưa được sự đồng ý của quốc gia này; quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đối của quốc gia còn thể hiện ở chỗ: Khi quốc gia đã đồng ý cho Toà án nước ngoài xét xử vụ tranh chấp về thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài mà quốc gia là bên bị đơn thì Toà án được quyền xét xử vụ tranh chấp này, nhưng Toà án này bị hạn chế là không được quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế sơ bộ đối với đơn kiện hoặc bảo đảm thi hành phán quyết của Toà án. Toà án nước ngoài chỉ được quyền cưỡng chế khi được quốc gia đó cho phép. Ngoài ra thì quốc gia còn có quyền đứng tên trong vụ tranh chấp về thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài với cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài với tư cách là bên nguyên đơn. Trong trường hợp này, Toà án nước ngoài được quyền giải quyết vụ tranh chấp. Tuy nhiên, bị đơn là cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài chỉ được phép phản kiện khi được sự đồng ý của quốc gia là bên nguyên đơn.Về mặt khách thểKhách thể là một trong các yếu tố cơ bản để xác định một quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài hay không có yếu tố nước ngoài. Dựa theo định nghĩa quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài, thì khách thể của quan hệ này lá tài sản thừa kế (di sản) theo di chúc đang tồn tại ở nước ngoài.Về sự kiện pháp lýTương tự như chủ thể và khách thể, thì sự kiện pháp lý cũng là một trong ba yếu tố đễ nhận biết một quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài. Sự kiện pháp lý trong định nghĩa thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài là sự kiện pháp lý có căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ thừa kế theo di chúc theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài. Và sự kiện pháp lý này phải phù hợp với pháp luật Việt Nam hoặc pháp luật nước ngoài.1.2. Nguồn luật điều chỉnh quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài1.2.1. Khái niệmNguồn luật được hiểu là phương thức tạo ra quy tắc pháp lý, đồng thời là hình thành chứa đựng quy tắc đó. Quy tắc được tạo ra, muốn được gọi là luật, phải mang đầy đủ tính chất của chuẩn mực ứng xử được người nắm quyền luật công thừa nhận và bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh của bộ máy công lực . Còn nguồn của tư pháp quốc tế, về mặt lý luận chung nguồn là nơi xuất phát, là nơi chứa đựng, cụ thể nguồn của tư pháp quốc tế là hình thức chứa đựng các quy phạm và nguyên tắc được áp dụng để điều chỉnh đối với các quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế . Dựa vào nguồn của Tư pháp quốc tế ta có thể định nghĩa nguồn luật điều chỉnh quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài nói riêng, vì quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài là một bộ phận thuộc đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế. Vì vậy, nguồn luật điều chỉnh quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài là các hình thức chứa đựng các quy phạm và nguyên tắc được áp dụng để điều chỉnh đối với các quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài.1.2.2. Các loại nguồn luậtDo là một bộ phận của tư pháp quốc tế, nên nguồn quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài hạn hẹp hơn so với nguồn của tư pháp quốc tế, chủ yếu gồm có hai loại nguồn sau: Điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia.1.2.2.1. Điều ước quốc tếĐiều ước quốc tế là văn bản pháp lý quốc tế thể hiện sự thoả thuận của các chủ thể pháp luật quốc tế (trước hết là các quốc gia) trên cơ sở bình đẳng, tự nguyện nhằm quy định, thay đổi, chấm dứt các quyền, nghĩa vụ của các bên ký kết trong quan hệ quốc tế, phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế .1.2.2.2. Pháp luật quốc giaPháp luật quốc gia là toàn bộ hệ thống pháp luật của một quốc gia nhất định, bao gồm tất cả các hình thức nguồn chứa đựng bên trong hệ thống: văn bản, tập quán và án lệ. Pháp luật quốc gia được coi là loại nguồn khá phổ biến của tư pháp quốc tế so với các loại nguồn khác nói chung và cũng lá nguồn luật điều chỉnh cơ bản của quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài nói riêng và được quy định rõ ràng trong hệ thống pháp luật quốc gia. Theo pháp luật Việt Nam, tại khoản 1 Điều 759 Bộ luật dân sự năm 2005 có quy định: “Các quy định của pháp luật dân sự Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu nước ngoài, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác”. Ở Việt Nam các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài không nằm ở một văn bản mà nằm rải rác ở các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau. Cụ thể như Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Bộ luật dân sự năm 2005 và Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, …. Trong Hiến pháp Việt Nam năm 1992 đã dành một số điều để quy định các nguyên tắc để điều chỉnh quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài, cụ thể các nguyên tắc đó là: Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam định cư ở nước ngoài (Điều 75), Người nước ngoài cư trú ở Việt Nam phải tuân thủ theo Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, được Nhà nước bảo hộ tính mạng, tài sản và các quyền lợi chính đáng theo pháp luật Việt Nam (Điều 81).1.3. Phương pháp điều chỉnh quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài1.3.1. Khái niệmPhương pháp điều chỉnh là cách thức ngành luật tác động lên các đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh nhằm đạt được mục tiêu mong muốn. Mỗi ngành luật có phương pháp điều chỉnh đặc thù khác nhau. Ví dụ: ngành luật dân sự: thoả thuận; ngành luật hành chính: mệnh lệnh; ngành luật hình sự: quyền uy phục tùng, … .Quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài nói riêng đều là một bộ phận của tư pháp quốc tế nên ta có thể dựa vào các phương pháp điều chỉnh của tư pháp quốc tế mà định nghĩa phương pháp điều chỉnh của quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài. Cụ thể, phương pháp điều chỉnh của tư pháp quốc tế là tổng hợp các biện pháp, cách thức mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các quan hệ dân sự (theo nghĩa rộng) có yếu tố nước ngoài (gọi là quan hệ tư pháp quốc tế) làm cho các quan hệ này phát triển theo hướng có lợi cho giai cấp thống trị . Tương tự, phương pháp điều chỉnh của quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài là tổng hợp các biện pháp, cách thức mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài làm cho quan hệ này phát triển theo hướng có lợi cho giai cấp thống trị.1.3.2. Các phương pháp điều chỉnhCác phương pháp điều chỉnh là các biện pháp, cách thức mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài được biểu hiện ở hai phương pháp cụ thể là: Phương pháp trực tiếp và phương pháp gián tiếp.1.3.2.1. Phương pháp trực tiếp (còn gọi là phương pháp thực chất)Đây là phương pháp dùng các quy phạm pháp luật thực chất nhằm giải quyết nội dung của các quan hệ pháp luật (quyền và nghĩa vụ của các bên) theo một hệ thống pháp luật nhất định . Hay nhằm tác động trực tiếp lên quan hệ tư pháp quốc tế nói chung, quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài nói riêng. Cụ thể, phương pháp này quy định một cách cụ thể cách thức hành xử của các chủ thể liên quan (trực tiếp phân định quyền và nghĩa vụ rõ ràng giữa các bên chủ thể), được xây dựng trên cơ sở hệ thống các quy phạm thực chất trực tiếp giải quyết các quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài. Các quy phạm thực chất có thể được xây dựng trong các điều ước quốc tế người ta gọi là các quy phạm thực chất thống nhất, còn các quy phạm thực chất xây dựng trong các văn bản pháp quy của mỗi nước gọi là quy phạm thực chất trong nước . Các quy phạm thực chất thống nhất tồn tại dưới dạng các tập quán quốc tế như: FOB (free on board), CIP (Cost Inssurance freight), CAF (Cost and freight) .1.3.2.2. Phương pháp gián tiếp (còn gọi là phương pháp xung đột)Đây là phương pháp dùng các quy phạm xung đột để giải quyết vấn đề. Các uy phạm xung đột không trực tiếp giải quyết cụ thể quyền và nghĩa vụ của các bên trong mối quan hệ nhất định mà nó chỉ làm động tác dẫn chiếu (chọn luật) đến một hệ thống pháp luật của một nước nào đó nhằm để giải quyết vấn đề quyền và nghĩa vị của các bên . Qua trên cho thấy quy phạm xung đột dẫn chiếu đến một hệ thống pháp luật mà các quy phạm thực chất giải quyết quan hệ một cách dứt điểm. Điều này chứng minh rằng giữa quy phạm thực chất và quy phạm xung đột có mối quan hệ mật thiết với nhau, cùng nhau phối hợp sẽ mang lại hiệu quả cao trong thực tế.
Xem thêm

44 Đọc thêm

Đánh giá tình hình công tác bồi thường hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại một số dự án trên địa bàn quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TẠI MỘT SỐ DỰ ÁN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN i DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT ii DANH MỤC BẢNG iii DANH MỤC SƠ ĐỒ iv MỤC LỤC v MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4 1.1. Cơ sở lý luận về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 4 1.1.1. Khái niệm về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 4 1.1.2. Đặc điểm của quá trình bồi thường, hỗ trợ 5 1.1.3. Phân tích một số yếu tố tác động đến công tác bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất 6 1.2. Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của một số nước trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam 10 1.2.1. Chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở Nhật Bản 11 1.2.2. Chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở Thái Lan 11 1.2.3. Chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở Australia 12 1.2.4. Một số bài học từ chính sách của một số nước và tổ chức quốc tế về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 14 1.3. Chính sách bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất tại Việt Nam 16 1.3.1. Thời kỳ trước 1987 16 1.3.2. Thời kỳ từ 1987 đến năm 1993 16 1.3.3. Thời kỳ từ 1993 đến nay 17 1.4. Thực tiễn công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại Việt Nam 20 1.4.1. Thành phố Hà Nội 24 1.4.2. Tỉnh Đồng Nai 25 1.4.3. Thành phố Hồ Chí Minh 27 1.5. Thuận lợi và khó khăn 28 1.5.1. Thuận lợi 28 1.5.2. Khó khăn 30 1.6. Trình tự, nguyên tắc và thẩm quyền thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 32 1.6.1. Nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ 32 1.6.2. Trình tự, thẩm quyền thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 33 CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39 2.1. Đối tượng nghiên cứu 39 2.2. Phạm vi nghiên cứu 39 2.3. Nội dung nghiên cứu 39 2.4. Các phương pháp nghiên cứu 39 2.4.1. Phương pháp điều tra thu thập số liệu 39 2.4.2. Phương pháp xử lý số liệu điều tra 40 2.4.3. Phương pháp chuyên gia 40 2.4.4. Phương pháp kế thừa, tham khảo các tài liệu có sẵn 40 2.4.5. Phương pháp so sánh 40 CHƯƠNG III: TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÔNG TÁC HỖ TRỢ, BỒI THƯỜNG VÀ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN NAM TỪ LIÊM 41 3.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của Quận Nam Từ Liêm đến năm 2014 41 3.1.1. Điều kiện tự nhiên 3.1.1.1. Vị trí địa lý 41 3.1.1.3. Thực trạng môi trường 44 3.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội 3.1.2.1. Về thực trạng kinh tế 45 3.1.2.2. Về thực trạng xã hội 47 3.1.3 Đánh giá chung thực trạng phát triển kinh tế xã hội và áp lực đối với việc sử đụng đất đai 50 3.2. Tình hình quản lý và sử dụng đất của Quận Nam Từ Liêm 52 3.2.1. Tình hình công tác quản lý Nhà nước về đất đai 52 3.2.1.1. Tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về quản lý sử dụng đất đai 52 3.2.1.2. Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất 52 3.2.1.3. Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất 53 3.2.1.4. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai 53 3.2.1.5. Xử lý vi phạm pháp luật về đất đai 54 3.2.1.6. Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử dụng đất đai 54 3.2.1.7. Quản lý hoạt động dịch vụ công về đất đai 55 3.2.2. Hiện trạng sử dụng đất năm 2014 56 3.2.3. Đánh giá chung về hiện trạng sử dụng đất của Quận nam Từ Liêm 58 3.3. Đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại Quận Nam Từ Liêm 59 3.3.1. Tình hình công tác bồi thường hỗ trợ và tái định cư tại quận Nam Từ Liêm 3.3.1.1. Đặc điểm, tình hình a, Đặc điểm 59 3.3.2. Căn cứ pháp lý và quy mô của hai dự án A 63 3.3.2.1. Căn cứ pháp lý 63 3.3.3.2.Quy mô của hai dự án 64 3.3.3. Khái quát tinh hình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của hai dự án 65 3.3.3.1. Điều kiện và đối tượng được bồi thường tại dự án nghiên cứu 65 3.3.3.2. Bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất 68 3.3.3.3. Chính sách tái định cư 74 3.3.4. Đánh giá tình hình bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của 02 dự án nghiên cứu trên địa bàn quận Nam Từ Liêm 74 3.4. Đề xuất giải pháp 75 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77 1.Kết luận 77 2. Kiến nghị 78 TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Xem thêm

85 Đọc thêm

HỢP ĐỒNG ĐƯA NGƯỜI VIỆT NAM ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI

HỢP ĐỒNG ĐƯA NGƯỜI VIỆT NAM ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI

định liên quan vẫn bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế và dường như chưa đủ khả năng đểgiải quyết, khắc phục được những vấn đề khó khăn trên.Việt Nam hiện nay đang từng bước chuyển mình mạnh mẽ nhằm thực hiệnđúng lộ trình hội nhập với thế giới. Việc duy trì và phát triển hoạt động đưa ngườilao động đi làm việc nước ngoài theo hợp đồng của nước ta đang đứng trướcnhững thách thức to lớn bởi thị trường hạn hẹp, biến động khó lường, ngày càngcạnh tranh gay gắt. Chính vì vậy, cần phải có sự điều chỉnh pháp luật để khắc phụcvà giải quyết triệt để những hạn chế trong mối quan hệ giữa người lao động vàdoanh nghiệp hoạt động dịch vụ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triểnmột cách bền vững hoạt động đưa người lao động đi làm việc nước ngoài theo2hợp đồng. Chính từ những thực trạng đó, người viết đã chọn thực hiện đề tài: “HỢPĐỒNG ĐƯA NGƯỜI VIỆT NAM ĐI LÀM VIỆC NƯỚC NGOÀI”.2. Tình hình nghiên cứu đề tàiTrước yêu cầ u gi ải quyết việc làm trong nước và đáp ứng nhu cầu tuyểndụng lao động Việt Nam của phiá đối tác nước ngoài , đã có nhiều tổ chức, cơ quannghiên cứu và cá nhân tìm hiểu về pháp luật đưa người lao động Việt Nam đi làmviệc nước ngoài. Cho đến nay, đã có nhiề u cuô ̣c hô ̣i thảo , nhiề u công triǹ h , bàiviế t về vấ n đề đưa người lao đô ̣ng đi làm viê ̣c ở nước ngoài. Trong đó có mô ̣t sốcông trình đáng lưu ý như : các bài tham luận trong Hô ̣i thảo quố c tế về viê ̣c gianhâ ̣p tổ ch ức Thương mại quốc tế (WTO) đố i với thi ̣trường lao đô ̣ng Viê ̣t Nam dotrường ĐHKHXH và Nhân văn tổ chức ngày
Xem thêm

16 Đọc thêm

Đánh giá tình hình quản lý và sử dụng đất tại phường Đông Hương Thành phố Thanh Hóa Tỉnh Thanh Hóa

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT TẠI PHƯỜNG ĐÔNG HƯƠNG THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA

MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 1.Tính cấp thiết của đề tài 1 2. Mục đích yêu cầu của đề tài 3 2.1. Mục đích của đề tài 3 2.2. Yêu cầu của đề tài 3 2.3. Ý nghĩa của đề tài 3 CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4 1.1.Cơ sở lý luận 4 1.1.1. Khái niệm và vai trò của đất đai 4 1.1.2. Các nhân tố tác động đến việc sử dụng đất. 6 1.1.3. Khái niệm quản lý nhà nước về đất đai. 7 1.1.4. Đối tượng , mục đích, yêu cầu , nguyên tắc quản lý nhà nước về đất đai 7 1.1.5. Phương pháp quản lý đất đai. 9 1.1.6. Nội dung quản lý nhà nước về đất đai. 10 1.2. Cơ sở pháp lý. 11 1.3. Cơ sở thực tiễn. 12 1.3.1.Khái quát tình hình quản lý đất đai của một số nước trên thế giới. 12 1.3.2. Tình hình quản lý và sử dụng đất của Việt Nam qua các thời kỳ. 16 1.3.3. Khái quát về tình hình quản lý và sử dụng đất đai ở Việt Nam trong những năm qua. 22 1.3.4. Tình hình quản lý sử dụng đất của tỉnh Thanh Hóa 27 CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG , NỘI DUNG QUẢN LÝ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38 2.1. Đối tượng nghiên cứu 38 2.2 . Phạm vi nghiên cứu 38 2.3. Nội dung nghiên cứu 38 2.4. Phương pháp nghiên cứu 38 2.4.1. Phương pháp điều tra khảo sát, thu thập số liệu 38 2.4.2.Phương pháp phân tích và xử lý số liệu. 39 2.4.3. Phương pháp kế thừa, phương pháp so sánh 39 CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 40 3.1.Khái quát điều kiện tự nhiên , kinh tế xã hội Phường Đông HươngThành Phố Thanh HóaTỉnh Thanh Hóa 40 3.1.1. Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên 40 3.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội 41 3.1.3.Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng 44 3.1.4.Đánh giá chung về về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ảnh hưởng đến công tác quản lý và sử dụng đất 45 3.1.5.Tình hình tổ chức quản lý sử dụng đất phường Đông Hương 46 3.2.Đánh giá tình hình quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn Phường Đông Hương giai đoạn 20102015 47 3.2.1.Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện văn bản đó. 47 3.2.2.Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính. 48 3.3.3.Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng giá đất. 50 3.2.4. Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. 51 3.2.5. Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất. 52 3.2.6. Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất. 54 3.2.7. Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. 56 3.2.8. Thống kê, kiểm kê đất đai. 57 3.2.9. Xây dựng hệ thống thông tin đất đai. 58 3.2.10. Quản lý tài chính về đất đai và giá đất. 59 3.2.11. Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. 60 3.2.12. Thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai. 60 3.2.13. Phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai. 61 3.2.14. Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử dụng đất đai 62 3.2.15. Quản lý hoạt động dịch vụ về đất đai. 62 3.2.2. Những tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý đất đai 63 3.3.Đánh giá tình hình sử dụng đất trên địa bàn Phường Đông Hương 64 3.3.1.Hiện trang sử dụng đất 64 3.3.2.Biến động đất đai trên địa bàn phường Đông Hương giai đoạn 20102015 66 3.3.3.Đánh giá hiệu quả sử dụng đất trên địa bàn phường Đông Hương 74 3.3.4 Đánh giá chung về tình hình quản lý và sử dụng đất trên địa bàn Phường giai đoạn 20102015 75 3.4 Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý và sử dụng đất phường Đông Hương 76 3.4.1.Các giải pháp nâng cao hiệu công tác quản lý nhà nước về đất đai Phường Đông Hương 76 3.4.2.Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất 78 CHƯƠNG 4 : KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80 4.1.Kết luận. 80 4.2.Kiến nghị. 81 TÀI LIỆU THAM KHẢO 83  
Xem thêm

89 Đọc thêm

Đánh giá tình hình cấp giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH CẤP GIẤY CHỨNG NHẬNQUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở VÀ TÀI SẢN KHÁC GẮN LIỀN VỚI ĐẤT TẠI HUYỆN BẮC SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 1. Tính cấp thiết của đề tài 1 2. Mục đích và yêu cầu nghiên cứu 1 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2 1.1.Khái niệm, vai trò và ý nghĩa của Giấy chứng nhận 2 1.1.1.Khái niệm 2 1.1.2.Vai trò của công tác Giấy chứng nhận 2 1.1.3.Ý nghĩa của cấp Giấy chứng nhận 3 1.2.Cơ sở pháp lý về công tác cấp Giấy chứng nhận 3 1.2.1.Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật 3 1.2.2.Một số quy định chung về cấp Giấy chứng nhận 6 1.2.2.1.Nguyên tắc cấp Giấy chứng nhận 6 1.2.2.2.Các trường hợp cấp Giấy chứng nhận cho hộ gia đình, cá nhân 7 1.2.2.3.Mẫu Giấy chứng nhận 9 1.2.2.4.Thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận 13 1.3.Tình hình thực hiện công tác cấp giấy chứng nhận tại Việt Nam và của tỉnh Ninh Bình 16 1.3.1.Tình hình thực hiện công tác cấp giấy chứng nhận tại Việt Nam 16 1.3.2.Tình hình công tác cấp giấy chứng nhận tại tỉnh Ninh Bình Error! Bookmark not defined. Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18 2.1. Nội dung nghiên cứu 18 2.1.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thị xã Tam Điệp 18 2.1.2. Tình hình quản lý và sử dụng đất của thị xã Tam Điệp 18 2.1.3. Kết quả công tác cấp GCN cho hộ gia đình, cá nhân của thị xã Tam Điệp 18 2.1.4. Đánh giá tình hình cấp GCN và đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác cấp GCN tại địa bàn nghiên cứu 18 2.2. Phương pháp nghiên cứu 19 2.2.1. Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu 19 2.2.2. Phương pháp thống kê 19 2.2.3. Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu 19 2.2.4. Phương pháp kế thừa 19 Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 20 3.1.Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thị xã Tam Điệp 20 3.1.1.Điều kiện tự nhiên 20 3.1.2.Điều kiện kinh tế - xã hội 24 3.2.Tình hình quản lý, sử dụng đất đai của thị xã Tam Điệp 29 3.2.1. Tình hình quản lý nhà nước về đất đai 29 3.2.2.Hiện trạng sử dụng đất của thị xã Tam Điệp năm 2014 Error! Bookmark not defined. 3.3. Kết quả cấp Giấy chứng nhận cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn thị xã Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình 39 3.3.1. Kết quả cấp Giấy chứng nhận đối với đất nông nghiệp 39 3.3.2. Kết quả cấp Giấy chứng nhận đối với đất ở cho hộ gia đình, cá nhân tại thị xã Tam Điệp 49 3.4. Đánh giá tình hình cấp giấy chứng nhận cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn thị xã Tam Điệp và đề xuất một số giải pháp 53 3.4.1. Đánh giá chung 53 3.4.2. Đề xuất một số giải pháp 57 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Error! Bookmark not defined. TÀI LIỆU THAM KHẢO Error! Bookmark not defined.  
Xem thêm

63 Đọc thêm

Pháp luật về tự vệ thương mại và thực tiễn áp dụng tại việt nam

PHÁP LUẬT VỀ TỰ VỆ THƯƠNG MẠI VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM

đề tài tập trung nghiên pháp luật về tự vệ thương mại và vấn đề thực tiển tại Việt Nam bắt đầu từ việc tìm hiểu nội dung chế định tự vệ thương mại Tuy nhiên, trong khi nhiều quốc gia đã nhận thức được tầm quan trọng của các biện pháp tự vệ thương mại và có nhiều cách vận dụng khác nhau thì tại Việt Nam, việc áp dụng cơ chế này vẩn là một đề tài mới mẽ. Bởi vậy, muốn làm rỏ câu hỏi Việt Nam có thể áp dụng một cách hiệu quả biện pháp tự vệ thương mại nên đây là lý do em chọn đề tài “Pháp luật về tự vệ thương mại và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam” làm đề tài niên luận của mình. Công việc nghiên cứu bắt đầu từ việc tìm hiểu nội dung chế định tự vệ thương mại theo quy định của tổ chức thương mại thế giới, tìm hiểu lý thuyết và thực tiển áp dụng biện pháp tự vệ ở Việt Nam qua đó làm rõ nội dung các quy định của pháp luật về vấn đề này và từ đó đề xuất ra những giải pháp khắc phục, hoàn thiện hơn nữa cũng như góp phần minh bạch hóa chính sách và quy định pháp luật của Việt Nam.
Xem thêm

46 Đọc thêm

Pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán trong hoạt động thương mại -Thực tiễn áp dụng tại công ty TNHH đầu tư và thương mại Hùng Đăng.

PHÁP LUẬT VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI -THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI CÔNG TY TNHH ĐẦU TƯ VÀ THƯƠNG MẠI HÙNG ĐĂNG.

LỜI MỞ ĐẦU 1 . Tính cấp thiết của đề tài Hợp đồng là Hoạt động mua bán hàng hóa chuyển quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận giữa các chủ thể thể nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ trong những quan hệ xã hội cụ thể. Hợp đồng được phát sinh trên nhiều lĩnh vực, nhưng phổ biến nhất và đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế. Hợp đồng nói chung và hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng là cơ sở pháp lý để doanh nghiệp và khách hàng cũng như đối tác được thực hiện các quy định đã được thỏa thuận trước và thể hiện trên hợp đồng , để các bên thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của mình. Tuy nhiên khi các mối quan hệ hợp đồng trở nên đa dạng và phức tạp thì việc vi phạm hợp đồng cũng diễn ra ngày càng nhiều và phổ biến hơn, với những hình thức tinh vi và gây thiệt hại lớn cho bên đối tác. Hợp đồng là cơ sở để doanh nghiệp xác định quyền và nghĩa vụ của mình. Trong một chừng mực nào đó, hợp đồng thương mại cho phép các doanh nghiệp tạo ra một luật lệ riêng – thông qua những điều khoản của thỏa thuận mà các bên đã giao kết – điều chỉnh mối quan hệ giữa doanh nghiệp và đối tác. Nền kinh tế Việt Nam hiện nay với chủ trương của Đảng và nhà nước luôn có mục tiêu nền kinh tế Việt Nam sẽ là “một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.Đây là một mục tiêu lâu dài và phải có sự đồng lòng ,quyết tâm rất cao của toàn xã hội , đó là mục tiêu của nhà nước. Để biến mục tiêu này thành hiện thực thì hiện nay nhà nước đã có rất nhiểu chủ trương chính sách để thúc đẩy cũng như khắc phục sai lầm còn tồn tại cản trở sự đi lên của nền kinh tế. Với vai trò quan trọng của hợp đồng như đã kể trên, một hệ thống pháp luật về hợp đồng cần hoàn thiện và phát triển để làm cơ sở cho sự giao lưu kinh tế trong môi trường kinh tế an toàn và lành mạnh. Trong đó phải kể hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại giữa các doanh nghiệp. Những đối tượng này có tầm ảnh hưởng và vai trò rất lớn tới sự phát triển nền kinh tế Việt Nam. Có thể thấy luật dân sự 2005 và luật thương mại 2005 và các bộ luật khác đã có nhiều quy định về hợp đồng, tuy nhiên, vẫn còn nhiều bất cập tồn tại, các quy định còn chồng chéo, nhiều điểm chưa phù hợp với thực tiễn. Luật dân sự vừa được thông qua và có hiệu lực ngày 01 tháng 1 năm 2017 đã đưa ra nhiều sửa đổi mang tính đột phá đối với vai trò là một đạo luật gốc về luật hợp đồng. Nắm bắt thực trạng này em đã lựa chọn nghiên cứu đề tài “ Pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại.Thực tiễn tại công ty TNHH Đầu Tư và Thương Mại Hùng Đăng” để làm đề tài khóa luận. 2 . Tổng quan tình hình nghiên cứu Hiện nay đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về hợp đồng nói chung và HĐMB nói riêng, tuy nhiên các đề tài chỉ tập trung nghiên cứu dưới góc độ kinh tế và nghiên cứu chung về Hợp đồng dân sự . Có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề hợp đồng , tuy nhiên công trình nghiên cứu chuyên sâu nhất, cụ thể nhất là những giáo trình của các trường đại học như Giáo trình Luật kinh tế Việt Nam (2001), Giáo trình Luật Thương Mại (2002), của Khoa Luật, Đại Học Quốc Gia Hà Nội, Giáo trình pháp luật kinh tế (2005), của khoa Luật kinh tế, Đại học kinh tế quốc dân, Giáo trình Luật kinh tế của đại học Luật Hà Nội. Tóm lại, các đề tài nghiên cứu hiện nay còn nhiều vấn đề chưa được đề cập tới, chưa có sự cập nhật của văn bản pháp luật mới, một số đề tài không còn cập nhật với tình hình thực tế hiện nay.
Xem thêm

39 Đọc thêm

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÁN BỘ VÀ VIỆC VẬN DỤNG TRONG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT CÁN BỘ, CÔNG CHỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÁN BỘ VÀ VIỆC VẬN DỤNG TRONG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT CÁN BỘ, CÔNG CHỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Nghị định số 21/2010/NĐ-CP về quản lý biên chế công chức, Nghị định18/2010/NĐ-CP về đào tạo, bồi dưỡng công chức…Những văn bản này tạotiền đề cho việc hình thành đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch vững mạnh,vừa hồng, vừa chuyên, đủ sức chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam đếnthắng lợi cuối cùng theo đúng tư tưởng Hồ Chí Minh.Hiện nay, cùng với những nỗ lực cải cách để phát triển, dân chủ và nhânquyền, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước cũng đã đang được ngàycàng hoàn thiện. Tuy nhiên, cũng cần phải thừa nhận rằng, bên cạnh nhữngmặt đã đạt được, công tác cán bộ, công chức nước ta hiện nay đang gặp phảinhiều vấn đề lớn mang tính chất lực cản cho sự phát triển chung của xã hội,quản lý nhà nước. Đó là vấn đề về năng lực, tiêu chuẩn, phẩm chất, thái độ vàvăn hóa ứng xử, tính trách nhiệm và bản lĩnh chính trị. Hiện tượng thamnhũng, hách dịch, cửa quyền, gây khó dễ, vô cảm, thiếu trách nhiệm, thiếutính tiên phong, liêm chính…dù không phải quá phổ biến, tràn lan nhưngcũng gây nên những bức xúc trong dư luận, phương hại đến thể chế, giảm sútlòng tin trong nhân dân vào Đảng, Nhà nước, cản trở quá trình hội nhập, dânchủ, pháp quyền của đất nước. Những biểu hiện đó một phần là do cơ chế thịtrường, nhưng cũng làm lộ rõ những yếu kém, bất cập, lổ hổng trong cơ chế,chính sách pháp luật về công tác cán bộ và việc thực thi trên thực tiễn. Do đóviệc tìm hiểu và nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ là một vấn đề cóý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Bên cạnh đó, nhìn tổng quan về hệ thốngpháp luật nước ta vẫn chưa đồng bộ, thiếu thống nhất, tính khả thi thấp,2chậm đi vào cuộc sống; các văn bản quy phạm pháp luật về cán bộ, công chứcvà hoạt động công vụ trong những năm qua cũng còn nhiều hạn chế, bất cập.Do đó, cần thiết phải nghiên cứu một cách kỹ lưỡng để xây dựng, ban hành,tiến tới hoàn thiện hơn pháp luật cán bộ, công chức, tạo cơ sở pháp lý vữngchắc cho việc hình thành đội ngũ cán bộ, công chức vừa có phẩm chất đạo
Xem thêm

15 Đọc thêm

tiểu luận :Công tác xã hội đối với trẻ em vi phạm pháp luật

TIỂU LUẬN :CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM VI PHẠM PHÁP LUẬT

2.Tình hình nghiên cứu đề tài.Nhìn chung mảng đề “ Công tác xã hội đối với Trẻ em vi phạm pháp luật” từ trước tới nay đã có rất nhiều học giả tập trung nghiên cứu và đạt được những kết quả đáng khích lệ. Với tư cách là sinh viên đang nghiên cứu về vấn đề này em xin được mạnh dạn đưa ra những ý kiến của mình về Công tác xã hội đối với trẻ em vi phạm pháp luật.

21 Đọc thêm

TIẾP NHẬN THI PHÁP HỌC TRONG NGHIÊN CỨU VĂN HỌC Ở VIỆT NAM SAU 1986

TIẾP NHẬN THI PHÁP HỌC TRONG NGHIÊN CỨU VĂN HỌC Ở VIỆT NAM SAU 1986

Tìm hiểu lịch sử tiếp nhận thi pháp học trong nghiên cứu văn học ở Việt Nam sau 1986 là một vấn đề rất quan trọng, Việc tiếp nhận thi pháp học sau 1986 ở Việt Nam đã có những đổi mới, vừa để tiếp cận với Thi pháp học của thế giới, vừa để phù hợp với sáng tác và tình hình nghiên cứu ở Việt Nam.

33 Đọc thêm

Tiểu luận môn pháp luật với quản lý xã hội tìm hiểu pháp luật về bảo vệ môi trường và góp phần làm rõ vai trò của pháp luật về các vấn đề xã hội trong quản lý xã hội ở nước ta hiện nay

Tiểu luận môn pháp luật với quản lý xã hội tìm hiểu pháp luật về bảo vệ môi trường và góp phần làm rõ vai trò của pháp luật về các vấn đề xã hội trong quản lý xã hội ở nước ta hiện nay

PHẦN MỞ ĐẦU Yêu cầu phát triển bền vững đòi hỏi Việt Nam tập trung xây dựng chiến lược, kế hoạch, chính sách, pháp luật và chương trình hành động quốc gia để các nhu cầu xã hội, môi trường và kinh tế được tổng hoà và đáp ứng một cách cân đối với nhau. Nghị quyết Đại hội Đảng cộng sản toàn lần thứ IX, khẳng định:‘‘Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” và ‘‘Phát triển kinh tế xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hoà giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn đưa dạng sinh học”.Điều này đặt ra yêu cầu tìm hiểu về vai trò của pháp luật trong giải quyết các vấn đề xã hội trong quản lý xã hội trong thời kỳ mới. Đất nước Việt Nam trải dài từ Bắc đến Nam, có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đất đai màu mỡ, địa hình đa dạng và tiềm năng kinh tế biển to lớn. Tuy vậy, với dân số trên 80 triệu người (đứng hàng thứ 14 trên thế giới), Việt Nam đang đứng trước những thách thức về tài nguyên thiên nhiên và môi trường, các hệ sinh thái đang suy thoái ở mức độ nghiêm trọng. Tình hình gia tăng dân số, thâm canh nông nghiệp, nhất là quá trình đô thị hóa trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đang ảnh hưởng lớn đến tài nguyên môi trường. Cần phải có những giải pháp để phát triển bền vững, ổn định tối đa tài nguyên, bảo vệ môi trường, bảo vệ thiên nhiên và đa dạng sinh học đang là vấn đề cấp thiết đặt ra hiện nay. Theo ước tính của Tổng cục Môi trường Bộ Tài nguyên và Môi trường” Tổng thiệt hại kinh tế của nước ta do ô nhiễm môi trường gây ra trong thời gian qua chiếm từ 1,53% GDP. Hầu hết môi trường từ đất, nước, không khí, các khu dân cư, khu công nghiệp từ thành thị đến nông thôn đã và đang bị xuống cấp, trở thành vấn đề bức xúc của toàn xã hội. Xuất phát từ tầm quan trọng của môi trường và thực trạng môi trường hiện nay, xuất phát từ vai trò của pháp luật với vấn đề xã hội nói chung và vấn đề bảo vệ môi trường nói riêng cho thấy pháp luật về bảo vệ môi trường là một công cụ hữu hiệu để quản lý và bảo vệ môi trường. Trong thời gian qua, pháp luật về bảo vệ môi trường ở nước ta từng bước được xây dựng và hoàn thiện góp phần quan trọng vào việc điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan trực tiếp tới lĩnh vực môi trường. Thực tiễn đã cho thấy vị trí, vai trò của pháp luật đối với sự nghiệp bảo vệ môi trường là công cụ đảm bảo thực hiện cho các biện pháp bảo vệ môi trường khác. Tuy nhiên, hiện tượng vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường vẫn diễn ra phổ biến với tính chất và mức độ khác nhau; môi trường ở nhiều nơi tiếp tục bị xuống cấp đến mức báo động. Việc xây dựng pháp luật về bảo vệ môi trường còn chậm, thực hiện chưa nghiêm, hiệu quả chưa cao. Thực trạng ô nhiễm và suy thoái môi trường ở nước ta hiện nay do nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó có lý do từ chính bản thân hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường còn những bất cập, hạn chế nhất định rất cần được nghiên cứu, xây dựng cho hoàn thiện hơn. Do vậy, việc nghiên cứu để: “Tìm hiểu pháp luật về bảo vệ môi trường và góp phần làm rõ vai trò của pháp luật về các vấn đề xã hội trong quản lý xã hội ở nước ta hiện nay” sẽ tìm hiểu về pháp luật bảo vệ môi trường qua đó góp phần làm rõ vai trò của pháp luật về các vấn đề xã hội trong quản lý xã hội ở nước ta hiện nay.
Xem thêm

Đọc thêm

Cùng chủ đề