NÊU NHỮNG GIAI CẤP TẦNG LỚP MỚI XUẤT HIỆN TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM CUỐI THẾ KỈ XIX ĐẦU THẾ KỈ XX

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "NÊU NHỮNG GIAI CẤP TẦNG LỚP MỚI XUẤT HIỆN TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM CUỐI THẾ KỈ XIX ĐẦU THẾ KỈ XX":

Em có nhận xét gì về hình thức đấu tranh giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX

Em có nhận xét gì về hình thức đấu tranh giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX

Từ sau thế kỉ XIX, các nước đế quốc mở rộng và hoàn thành việc thống trị các nước Đông Nam Á. Hầu hết các nước trong khu vực này, trừ Xiêm (Thái Lan) đều trở thành thuộc địa. Sự áp bức bóc lột của chủ nghĩa thực dân là nguyên nhân thúc đẩy phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ngày càng phát triển ở khu vực này. Hiểu được trong khi giai cấp phong kiến trở thành tay sai cho chủ nghĩa đế quốc thì giai cấp tư sản dân tộc, mặc dù còn non yếu, đã tổ chức lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Đặc biệt, giai cấp công nhân ngày càng trưởng thành từng bước vươn lên vũ đài đấu tranh giải phóng dân tộc. Thấy rõ những nét chính về các cuộc đấu tranh giải phóng tiêu biểu cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX. Ở các nước Đông Nam Á: Inđônêxia, Philíppin, Campuchia, Lào, Việt Nam. Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, xã hội Inđônêxia có nhiều biến đổi, việc đầu tư của tư bản nước ngoài ngày càng mạnh mẽ, tạo nên sự phân hóa xã hội sâu sắc, giai đoạn công nhân và tư sản ra đời, ngày càng trưởng thành về ý thức dân tộc. Vì vậy, phong trào yêu nước mang màu sắc mới theo khuynh hướng dân chủ tư sản. Nhận xét về phong trào đấu tranh 3 nước Đông dương: + Phong trào đấu tranh ở Campuchia, Lào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỉ XX diễn ra liên tục sôi nổi, hình thức đấu tranh chủ yếu là khởi nghĩa vũ trang. + Mục tiêu chống Pháp, giành độc lập vì vậy phong trào mang tính chất của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc song còn ở giai đoạn tự phát. + Phong trào do sĩ phu hoặc nông dân lãnh đạo. + Kết quả phong trào thất bại do: tự phát, thiếu tổ chức vững vàng, thiếu đường lối đấu tranh đúng đắn. + Ý nghĩa: Thể hiện tinh thần yêu nước và tinh thần đoàn kết của nhân dân 3 nước Đông Dương trong cuộc đấu tranh chống Pháp. TÓM LẠI :Cuối thế kỉ XX phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á bùng nổ mạnh mẽ nhưng đều thất bại,vì còn mang tính tự phát, nổ ra lẻ tẻ chưa có sự đoàn kết giửa các dân tộc, song sẽ tạo điều kiện tiền đề cho những giai đoạn sau.
Xem thêm

Đọc thêm

BÀI 10. TRUNG QUỐC CUỐI THẾ KỈ XIX - ĐẦU THẾ KỈ XX

BÀI 10. TRUNG QUỐC CUỐI THẾ KỈ XIX - ĐẦU THẾ KỈ XX

Mời các em tham quan một đất nước ở châu ÁTIẾT 16 - BÀI 10TRUNG QUỐC GIỮA THẾ KỈXIX - ĐẦU THẾ KỈ XXBÀI 10: TRUNG QUỐC GIỮA THẾ KỈ XIX ĐẦU THẾ KỈ XXBản đồ các nước Châu ÁEm có nhận xét gì vềdiện tích lãnh thổ củaTrung Quốc?BÀI 10: TRUNG QUỐC GIỮA THẾ KỈ XIX ĐẦU THẾ KỈ XXBản đồ các nước Châu ÁBÀI 10: TRUNG QUỐC GIỮA THẾ KỈ XIX ĐẦU THẾ KỈ XXTrung Quốc là nước lớn. Diện tích: 9, 6 triệu km2 (¼ diện tíchChâu Á), đông dân, dân số 1,2 tỉ người (1996 chiếm 1/5 dân số thế
Xem thêm

47 Đọc thêm

BÀI 7. PHONG TRÀO CÔNG NHÂN QUỐC TẾ CUỐI THẾ KỈ XIX - ĐẦU THẾ KỈ XX

BÀI 7. PHONG TRÀO CÔNG NHÂN QUỐC TẾ CUỐI THẾ KỈ XIX - ĐẦU THẾ KỈ XX

Bài 6:Các nước Anh, Pháp, Đức, MĩCuối TK XIXĐầu TK XXNhóm 4Bài 6: Các nước Anh, Pháp, Đức, Mĩ cuối TK XIX- đầu TK XXBài 6: Các nước Anh, Pháp, Đức, Mĩ cuối TK XIX- đầu TK XX4. Mỹa.Kinh tế:b. Chínhtrị thế kỉ XIX, Mĩ đứng thứ 4 thế giới về sản xuất công nghiệp- Cuối-- Theopháp,là nướcdo hai đảng Dân chủ và Cộng hòa thay nhau cầm quyềnĐầu hiếnthế kỉXX,MĩMĩvươncộnglên hòadẫnliênđầubang,thế giới- Cuối TKXIX - đầu TKXX, các công ty độc quyền khổng lồ ra đời.- Giới cầm quyền Mĩ dùng sức mạnh tài chính và quân sự để tranh giành và xâm chiếm thuộc địa
Xem thêm

7 Đọc thêm

BÀI 12 NHẬT BẢN GIỮA THẾ KỈ XIX ĐẦU THẾ KỈ XX

BÀI 12 NHẬT BẢN GIỮA THẾ KỈ XIX ĐẦU THẾ KỈ XX

Quân sưTổ chức huân luyện theo kiểu phương Tây, chê độnghĩa vụ thay cho chê độ trưng binh.--Công nghiệp đóng tàu, sản xuât vũ khí được chú trọng.Nhật hoàng chứng kiên Quốc hội mới tuyên thệTàu sắt đầu tiên của Nhật sau cải cách Minh TrịPhương tiện giao thông sau cuôc Minh Trị duy tânXe lửa từ Tokyo đên YokohamaBưu điện TokyoDân chúng xem tàu bắn thủy lôi trên cầu AzumaNhà yêu nước

48 Đọc thêm

CÁC THUYẾT QUẢN LÝ THEO QUAN ĐIỂM HÀNH VI

CÁC THUYẾT QUẢN LÝ THEO QUAN ĐIỂM HÀNH VI

Quản lý là một dạng hoạt động đặc biệt quan trọng của con người, chứa đựng nội dung rộng lớn, đa dạng phức tạp và luôn vận động, biến đổi và phát triển.Khái niệm quản lý đã xuất hiện từ khá lâu. Cùng với sự phát triển của các hoạt động thương mại, nền sản xuất ngày một mở rộng về phạm vi và quy mô hoạt động dẫn đến các vấn đề quản lý cần được chú trọng nhiều hơn. Giữa thế kỉ XVIII, vai trò của quản lý được đặt thành vấn đề để tập trung nghiên cứu. Và đến những năm cuối của thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, thì các tư tưởng quản lý mới được nghiên cứu có cơ sở khoa học và sắp xếp thành hệ thống, hình thành những học thuyết quản lý.Trong tiến trình tìm kiếm các giải pháp cho vấn đề này đã nảy sinh ra nhiều tư tưởng và học thuyết quản lý khác nhau: tư tưởng quản lý cổ đại, các thuyết quản lý truyền thống, các thuyết quản lý theo quan điểm hành vi,…Trong những tư tưởng và học thuyết giúp ích cho công tác quản lý không thể không kể đến học thuyết quản lý theo quan điểm hành vi với các đại diện tiêu biểu như Mary Parker Follett, Abraham Maslow, Douglas. Mc. Gregor, Elton. W. Mayor. Học thuyết này nói về những quan điểm quản lý nhấn mạnh đến vai trò của yếu tố tâm lý, tình cảm, quan hệ xã hội của con người trong công việc. Tư tưởng này cho rằng, hiệu quả của quản lý do năng suất lao động quyết định, nhưng năng suất lao động không chỉ do các yếu tố vật chất quyết định mà còn do sự thoả mãn các nhu cầu tâm lý, xã hội của con người. Lý thuyết này bắt đầu xuất hiện ở Mỹ trong thập niên 30, được phát triển mạnh bởi các nhà tâm lý học trong thập niên 60 và hiện nay vẫn còn được nghiên cứu tại nhiều nước phát triển nhằm tìm ra những hiểu biết đầy đủ về tâm lý phức tạp của con người một yếu tố quan trọng để quản lý.Hy vọng những tìm hiểu của nhóm sẽ giúp ích được phần nào cho mọi người. Tuy nhiên bài làm không thể tránh khỏi thiếu sót, vậy nên, chúng em rất mong nhận được sự góp ý của cô cũng như các bạn để sản phẩm của nhóm được hoàn thiện hơn.Xin chân thành cảm ơn
Xem thêm

26 Đọc thêm

TUYỂN CHỌN 25 ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI MÔN LỊCH SỬ LỚP 8 CÓ ĐÁP ÁN VÀ THANG ĐIỂM

TUYỂN CHỌN 25 ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI MÔN LỊCH SỬ LỚP 8 CÓ ĐÁP ÁN VÀ THANG ĐIỂM

* Nội dung (0,75 điểm):- Năm 1868, Trần Đình Túc và Nguyễn Huy Tế xin mở cửa biển Trà Lí (NamĐịnh). Đinh Văn Điền xin đẩy mạnh khai khẩn ruộng hoang và khai mỏ, pháttriển buôn bán, chấn chỉnh quốc phòng.- Năm 1872, Viện Thương bạc xin mở ba cửa biển ở miền Bắc và miền Trungđể thông thương với bên ngoài.0,25- Từ 1863-1871, Nguyễn Trường Tộ đã gửi lên triều đình 30 bản điều trần, đềcập đến một loạt vấn đề như chấn chỉnh bộ máy quan lại, phát triển công,thương nghiệp và tài chính, chỉnh đốn võ bị, mở rộng ngoại giao, cải tổ giáodục...- Vào các năm 1877 và 1882, Nguyễn Lộ Trạch dâng hai bản “Thời vụ sách”lên vua Tự Đức, đề nghị chấn hưng dân khí, khai thông dân trí, bảo vệ đấtnước.* Nhận xét...(1 điểm):- Tích cực: Trong bối cảnh bế tắc của xã hội phong kiến Việt Nam cuối thế kỉXIX, một số sĩ phu, quan lại đã vượt qua những luật lệ hà khắc, sự nghi kị,ghen ghét, thậm chí nguy hiểm đến tính mạng của mình để đưa ra những đềnghị cải cách nhằm canh tân đất nước, nhằm đáp ứng phần nào yêu cầu củanước ta lúc đó, có tác động tới cách nghĩ, cách làm của một bộ phận quan lạitriều đình.- Hạn chế: Tuy nhiên, các đề nghị cải cách mang tính chất rời rạc, lẻ tẻ, chưaxuất phát từ những cơ sở bên trong, chưa giải quyết được hai mâu thuẫn cơbản của xã hội Việt Nam là mâu thuẫn giữa nhân dân ta với thực dân Pháp vàgiữa nông dân với địa chủ phong kiến.
Xem thêm

106 Đọc thêm

KHÁI QUÁT LỊCH SỬ TIẾNG VIỆT (TIẾP THEO)

KHÁI QUÁT LỊCH SỬ TIẾNG VIỆT (TIẾP THEO)

I – KIẾN THỨC CƠ BẢN 4. Quá trình phát triển của tiếng Việt 4.1. Tiếng Việt thời kì cổ đại Tiếng Việt thời kì thượng cổ đã có một kho từ vựng khá phong phú và một bản sắc riêng về ngữ pháp, ngữ âm. Đến thời kì tiếp theo, trong sự tiếp xúc ngôn ngữ Việt – Hán, với sức sống tiềm tàng, được sự chăm lo gìn giữ của nhân dân, tiếng Việt chẳng những không bị mai một mà trái lại vẫn tồn tại và phát triển không ngừng cả về ngữ âm, từ vựng. 4.2. Tiếng Việt thời kì từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX Dưới sự thống trị của phong kiến Trung Hoa, tiếng Việt chưa có chữ viết. Nhưng khi ý thức độc lập, tự chủ và tự cường của dân tộc lên cao, khi yêu cầu phát triển văn hoá và kinh tế của đất nước trở nên bức thiết, trên cơ sở chữ Hán, cha ông ta đã sáng chế ra một lối chữ để ghi tiếng Việt: chữ Nôm. Chữ Nôm bước đầu được sử dụng vào khoảng thế kỉ X – XIII; đến khoảng thế kỉ XV đã có thơ văn “quốc âm”, “quốc ngữ” viết bằng chữ Nôm. Từ thế kỉ XV trở về sau, nhất là ở thế kỉ XVIII – XIX, trào lưu văn chương Nôm phát triển mạnh mẽ, đạt được những thành tựu rực rỡ, tiếng Việt càng có những bước tiến rõ rệt, đạt đến trình độ tinh luyện và đậm đà bản sắc dân tộc. 4.3. Tiếng Việt thời kì từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám 1945 Ở thời kì này, tiếng Việt bước vào giai đoạn phát triển hiện đại, với chữ quốc ngữ. Được đặt ra từ thế kỉ XVII, đến cuối thế kỉ XIX, nhất là từ đầu thế kỉ XX, chữ quốc ngữ mới được truyền bá rộng rãi và trở thành phương tiện thông dụng trong mọi lĩnh vực. 4.4. Tiếng Việt thời kì từ Cách mạng tháng Tám (1945) đến nay Với vai trò một ngôn ngữ văn hoá phát triển toàn diện, kể từ Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, tiếng Việt không ngừng phát huy tác dụng to lớn trong sự nghiệp cách mạng của đất nước. II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Lược đồ hoá các thời kì phát triển của tiếng Việt. 2. Đã có những loại chữ viết nào dùng để ghi âm tiếng Việt? Những loại chữ viết ấy có vai trò quan trọng như thế nào đối với quá trình phát triển của tiếng Việt? Gợi ý: - Để ghi âm tiếng Việt, đã có hai loại chữ viết: chữ Nôm và chữ quốc ngữ; - Trong lịch sử phát triển của tiếng Việt, các hình thức chữ viết không những làm cho bản thân ngôn ngữ Việt hoàn thiện, phát triển mà còn có vai trò to lớn trong việc giúp cho tiếng Việt thành một ngôn ngữ văn hoá, là phương tiện văn hoá, tham gia một cách toàn diện vào đời sống xã hội. loigiaihay.com
Xem thêm

1 Đọc thêm

Hoàn cảnh lịch sử ra đời đảng cộng sản việt nam

Hoàn cảnh lịch sử ra đời đảng cộng sản việt nam

Hoàn cảnh lịch sử ra đời đảng cộng sản Việt Nam1.Hoàn cảnh quốc tế cuối thế kỷ XIX đầu thế kỉ XXa. Sự chuyển biến của chủ nghĩa tư bản và hậu quả của nóTừ cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã chuyển từ tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền. Các nước tư bản đế quốc, bên trong thì tăng cường bóc lột nhân dân lao động, bên ngoài thì xâm lược và áp bức nhân dân các dân tộc thuộc địa. Sự thống trị tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc làm cho đời sống nhân dân lao động các nước trở nên cùng cực. Mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa thực dân ngày càng gay gắt, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc diễn ra mạnh mẽ ở các nước thuộc địa.Bìa cuốn Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (còn gọi là Tuyên ngôn Cộng sản), được xuất bản lần đầu ngày 21 tháng 2 năm 1848, là một trong các văn kiện chính trị có ảnh hưởng lớn nhất của thế giới.b. Ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác LêninVào giữa thế kỉ XIX, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân phát triển mạnh, đặt ra yêu cầu bức thiết phải có hệ thống lý luận khoa học với tư cách là vũ khí tư tưởng của giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản. Trong hoàn cảnh đó, chủ nghĩa Mác ra đời, về sau được Lênin phát triển trở thành chủ nghĩa Mác Lê nin.Chủ nghĩa Mác Lê nin chỉ rõ, muốn giành được thắng lợi trong cuộc đấu tranh thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình, giai cấp công nhân phải lập ra đảng cộng sản. Sự ra đời đảng cộng sản là yêu cầu khách quan đáp ứng cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống áp bức, bóc lột. Tuyên ngôn của Đảng cộng sản (1848) xác định: những người cộng sản luôn luôn đại biểu cho lợi ích của toàn bộ phong trào; là bộ phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở các nước; họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả của phong trào vô sản. Những nhiệm vụ chủ yếu có tính quy luật mà chính đảng của giai cấp công nhân để thực hiện mục đích giành lấy chính quyền và xây dựng xã hội mới. Đảng phải luôn đứng trên lập trường của giai cấp công nhân, mọi chiến lược, sách lược của Đảng đều luôn xuất phát từ lợi ích của giai cấp công nhân. Nhưng, Đảng phải đại biểu cho quyền lợi của toàn thể nhân dân lao động. Bởi vì giai cấp công nhân chỉ có thể giải phóng được giai cấp mình nếu đồng thời giải phóng cho các tầng lớp nhân dân lao động khác trong xã hội. Chủ nghĩa Mác Lênin đã lôi cuốn quần chúng nhân dân và cả những phần tử ưu tú, tích cực ở các nước thuộc địa vào phong trào cộng sản.Kể từ khi chủ nghĩa Mác Lênin được truyền bá vào Việt Nam, phong trào yêu nước và phong trào công nhân phát triển mạnh mẽ theo khuynh hướng cách mạng vô sản, dẫn tới sự ra đời của các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc đã vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác Lênin vào thực tiễn cách mang Việt Nam, sáng lập ra Đảng cộng sản Việt Nam. Chủ nghĩa Mác Lênin là nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam.c. Tác động của Cách mạng Tháng Mười Nga và Quốc tế Cộng sảnNăm 1917, cách mạng tháng Mười Nga giành được thắng lợi. Nhà nước Xôviết dựa trên nền tảng liên minh công nông dưới sự lãnh đạo của Đảng Bonsêvich Nga ra đời. Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười, chủ nghĩa Mác Lênin từ lý luận đã trở thành hiện thực, đồng thời mở đầu một thời đại mới “ thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc”. Cuộc cách mạng này cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, nhân dân các nước và là một trong những động lực thúc đẩy sự ra đời nhiều đảng cộng sản: Đảng Cộng sản Đức, Đảng cộng sản Hungari (năm 1918), Đảng Cộng sản Pháp (năm 1919)…Đối với các dân tộc thuộc địa, Cách mạng Tháng Mười nêu tấm gương sáng trong việc giải phóng các dân tộc bị áp bức. Về ý nghĩa của Cách mạng Tháng Mười, Nguyễn ái Quốc khẳng định: Cách mạng Tháng Mười như tiếng sét đã đánh thức nhân dân châu Á tỉnh giấc mê hàng thế kỉ nay. Và “Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”.Tháng 3 1919, Quốc tế Cộng sản được thành lập. Sự ra đời của Quốc tế Cộng sản có ý nghĩa thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin được công bố tại Đại hội II Quốc tế cộng sản vào năm 1920 đã chỉ ra phương hướng đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa, mở ra con đường giải phóng các dân tộc bị áp bức trên lập trường cách mạng vô sản.Đối với Việt Nam, Quốc tế Cộng sản có vai trò quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác Lênin và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc không những đánh giá cao sự kiện ra đời Quốc tế Cộng sản đối với phong trào cách mạng thế giới, mà còn nhấn mạnh vai trò của tổ chức này đối với cách mạng Việt Nam “An Nam muốn cách mệnh thành công, thì tất phải nhờ Đệ tam quốc tế”.2. Hoàn cảnh trong nướca. Xã hội Việt Nam dưới sự thống trị của thực dân Pháp Chính sách cai trị của thực dân PhápNăm 1858, thực dân Pháp nổ súng tấn công xâm lược Việt Nam. Sau khi tạm thời dập tắt được các phong trào đấu tranh của nhân dân ta, thực dân Pháp từng bước thiết lập bộ máy thống trị ở Việt Nam.Về chính trị, thực dân Pháp áp đặt chính sách cai trị thực dân, tước bỏ quyền lực đối nội và đối ngoại của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn; chia Việt Nam ra thành ba xứ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ và thực hiện ở mỗi kỳ một chế độ cai trị riêng. Đồng thời với chính sách nham hiểm này, thực dân Pháp câu kết với giai cấp địa chủ trong việc bóc lột kinh tế và áp bức chính trị đối với nhân dân Việt Nam.Về kinh tế, thực dân Pháp thực hiện chính sách bóc lột về kinh tế: tiến hành cướp đoạt ruộng đất để lập đồn điền; đầu tư khai thác tài nguyên; xây dựng một số cơ sở công nghiệp; xây dựng hệ thống đường giao thông, bến cảng phục vụ cho chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp. Chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đã tạo nên sự chuyển biến của nền kinh tế Việt Nam (hình thành một số ngành kinh tế mới...) nhưng cũng dẫn đến hậu quả là nền kinh tế Việt Nam bị lệ thuộc vào tư bản Pháp, bị kìm hãm trong vòng lạc hậu.Về văn hóa, thực dân Pháp thực hiện chính sách văn hóa, giáo dục thực dân; dung túng, duy trì các hủ tục lạc hậu... Nguyễn Ái Quốc đã vạch rõ tội ác của chế độ cai trị thực dân ở Đông Dương: “Chúng tôi không những bị áp bức và bóc lột một cách nhục nhã, mà còn bị hành hạ và đầu độc một cách thê thảm... bằng thuốc phiện, bằng rượu... chúng tôi phải sống trong cảnh ngu dốt tối tăm vì chúng tôi không có quyền tự do học tập”. Tình hình giai cấp và mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam.Dưới tác động của chính sách cai trị và chính sách kinh tế, văn hóa, giáo dục thực dân, xã hội Việt Nam diễn ra quá trình phân hóa sâu sắc.Giai cấp địa chủ: Giai cấp địa chủ câu kết với thực dân Pháp tăng cường bóc lột, áp bức nông dân. Tuy nhiên, trong nội bộ địa chủ Việt Nam lúc này có sự phân hóa, một bộ phận địa chủ có lòng yêu nước, căm ghét chế độ thực dân đã tham gia đấu tranh chống Pháp dưới các hình thức và mức độ khác nhau.Giai cấp nông dân: giai cấp nông dân là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội Việt Nam, bị thực dân và phong kiến áp bức bóc lột nặng nề. Tình cảnh khốn khổ, bần cùng của giai cấp nông dân Việt Nam đã làm tăng thêm lòng căm thù đế quốc và phong kiến tay sai, làm tăng thêm ý chí cách mạng của họ trong cuộc đấu tranh giành lại ruộng đất và quyền sống tự do.Giai cấp công nhân Việt Nam: Ra đời từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp. Đa số công nhân Việt Nam, trực tiếp xuất thân từ giai cấp nông dân, nạn nhân của chính sách chiếm đoạt ruộng đất mà thực dân Pháp thi hành ở Việt Nam. Vì vậy, giai cấp công nhân có quan hệ trực tiếp và chặt chẽ với giai cấp nông dân. Giai cấp công nhân Việt Nam bị đế quốc, phong kiến áp bức, bóc lột. Đặc điểm nổi bật của giai cấp công nhân Việt Nam là ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc Việt Nam, và vừa lớn lên nó đã sớm tiếp thụ ánh sáng cách mạng của chủ nghĩa Mác Lênin, nhanh chóng trở thành một lực lượng chính trị tự giác, thống nhất khắp Bắc Trung Nam…Giai cấp tư sản Việt Nam: Bao gồm tư sản công nghiệp, tư sản thương nghiệp… Trong giai cấp tư sản có một bộ phận kiêm địa chủ.Ngay từ khi ra đời, giai cấp tư sản Việt Nam đã bị tư sản Phảp và tư sản người Hoa cạnh tranh, chèn ép, do đó, thế lực kinh tế và địa vị chính trị của giai cấp tư sản Việt Nam nhỏ bé và yếu ớt. Vì vậy, giai cấp tư sản Việt Nam không đủ điều kiện để lãnh đạo cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ đi đến thành công.Tầng lớp tiểu tư sản Việt Nam: bao gồm học sinh, trí thức, viên chức và những người làm nghề tự do… Trong đó, giới trí thức và học sinh là bộ phận quan trọng của tầng lớp tiểu tư sản. Đời sống của tiểu tư sản Việt Nam bấp bênh và dễ bị phá sản trở thành những người vô sản. Tiểu tư sản Việt Nam có lòng yêu nước, căm thù đế quốc, thực dân, lại chịu ảnh hưởng của những tư tưởng tiến bộ từ bên ngoài truyền vào. Vì vậy, đây là lực lượng có tinh thần cách mạng cao và nhạy cảm chính trị. Được phong trào cách mạng rầm rộ của công nông thức tỉnh và cổ vũ, họ bước vào hàng ngũ cách mạng ngày càng đông và đóng một vai trò quan trọng trong phong trào đấu tranh của nhân dân, nhất là ở thành thị.Tóm lại, chính sách thống trị của thực dân Pháp đã tác động mạnh mẽ đến xã hội Việt Nam trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội. Trong đó đặc biệt là sự ra đời hai giai cấp mới là công nhân và tư sản Việt Nam. Các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Việt Nam lúc này đều mang thân phận người bị mất nước và ở những mức độ khác nhau, đều bị thực dân Pháp áp bức, bóc lột. Vì vậy, trong xã hội Việt Nam, ngoài mâu thuẫn cơ bản giữa nhân dân, chủ yếu là nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến, đã nẩy sinh mâu thuẫn vừa cơ bản, vừa chủ yếu và ngày càng gay gắt trong đời sống dân tộc, đó là: mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập cho nhân dân, tự do cho nhân dân; hai là, xóa bỏ chế độ phong kiến, giành lại dân chủ cho nhân dân, chủ yếu là ruộng đất cho nông dân. Trong đó, chống đế quốc, giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu.b. Phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỷ XXNguyên văn Chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi Nhóm khởi nghĩa của Đề Thám (hình chụp của trung úy RomainDesfossés) Phan Bội Châu là một danh sĩ và là nhà cách mạng Việt Nam, người sáng lập Duy Tân hội và phát động Phong trào Đông Du Phan Châu Trinh (còn được gọi Phan Chu Trinh; 1872–1926) là nhà yêu nước ôn hòa với chủ trương Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinhTrước sự xâm lược của thực dân Pháp, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc theo khuynh hướng phong kiến và tư sản diễn ra mạnh mẽ. Những phong trào tiêu biểu diễn ra trong thời kỳ này là:Phong trào Cần Vương (1885 – 1896): Ngày 1371885, Vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần Vương. Phong trào Cần Vương phát triển mạnh ra nhiều địa phương ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ. Ngày 01111888, vua Hàm Nghi bị Pháp bắt nhưng phong trào Cần Vương vẫn tiếp tục đến năm 1896.Cuộc khởi nghĩa Yên Thế (Bắc Giang) diễn ra từ năm 1884, nghĩa quân Yên Thế đã đánh thắng Pháp nhiều trận và gây cho chúng nhiều khó khăn, thiệt hại. Cuộc chiến đấu của nghĩa quân Yên Thế kéo dài đến năm 1913 thì bị dập tắt.Trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 – 1918): các cuộc khởi nghĩa vũ trang chống Pháp của nhân dân Việt Nam vẫn tiếp diễn, nhưng đều không thành công.Thất bại của các phong trào trên đã chứng tỏ giai cấp phong kiến và hệ tư tưởng phong kiến không đủ điều kiện để lãnh đạo phong trào yêu nước, giải quyết thành công nhiệm vụ dân tộc ở Việt Nam.Bên cạnh các cuộc khởi nghĩa nêu trên, đầu thế kỉ XX, phong trào yêu nước dưới sự lãnh đạo của tầng lớp sĩ phu tiến bộ chịu ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ tư sản diễn ra sôi nổi. Về mặt phương pháp, tầng lớp sĩ phu lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc đầu thế kỉ XX có sự phân hóa thành hai xu hướng. Một bộ phận chủ trương đánh đổi thực dân Pháp giành độc lập dân tộc, khôi phục chủ quyền quốc gia bằng biện pháp bạo động; một bộ phận khác lại coi cải cách là giải pháp để tiến tới khôi phục độc lập.Đại diện của xu hướng bạo động là Phan Bội Châu ( 18671941)quê Nghệ An với chủ trương dùng biện pháp bạo động để đánh đuổi thực dân Pháp khôi phục nền độc lập cho dân tộc.Sự nghiệp cách mạng của Phan Bội Châu trải qua nhiều bước thăng trầm, đi từ lập trường quân chủ lập hiến đến lập trường dân chủ tư sản, nhưng đều bị thất bại. Vào nửa đầu của thế kỉ XX, Phan Bội Châu chịu ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga. Nguyễn Ái Quốc đánh giá “Phan Bội Châu là tiêu biểu cho chủ nghĩa quốc gia”. Việc cụ dựa vào Nhật để đánh Pháp chẳng khác nào đuổi hổ cửa trước rước beo cửa sau”.Đại diện cho khuynh hướng cải cách là Phan Châu Trinh, với chủ trương vận động cải cách văn hóa, xã hội; động viên lòng yêu nước cho nhân dân; đả kích bọn vua quan phong kiến thối nát, đề xướng tư tưởng dân chủ tư sản; thực hiện khai dân trí, chấn dân trí, hậu dân sinh, mở mang dân quyền; phản đối đấu tranh vũ trang cầu viện nước ngoài.Hoạt động cách mạng của Phan Châu Trinh đã góp phần làm thức tỉnh lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam. Tuy nhiên, về phương pháp, “Cụ Phan Châu Trinh chỉ yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương… điều đó là sai lầm, chẳng khác gì đến xin giặc rủ lòng thương”.Ngoài ra, trong thời kỳ này ở Việt nam còn nhiều phong trào đấu tranh khác như: Phong trào Đông Kinh nghĩa thục (1907); Phong trào “tẩy chay Khách trú” (1919); Phong trào chống độc quyền xuất nhập ở cảng Sài Gòn (1923); đấu tranh trong các hội đồng quản hạt, hội đồng thành phố… đòi cải cách tự do dân chủ…Từ trong phong trào đấu tranh, các tổ chức đảng phái ra đời: Đảng lập hiến (năm 1923); Đảng Thanh niên (tháng 3 – 1926); Đảng thanh niên cao vọng (năm 1926); Việt Nam nghĩa đoàn (năm 1925), sau nhiều lần đổi tên, tháng 7 1928 lấy tên là Tân Việt cách mạng Đảng; Việt Nam quốc dân Đảng (tháng 121927). Các đảng phái chính trị tư sản và tiểu tư sản trên đây đã góp phần thúc đẩy phong trào yêu nước chống Pháp, đặc biệt là Tân Việt cách mạng Đảng và Việt Nam quốc dân Đảng.Tân Việt cách mạng Đảng ra đời và hoạt động trong bối cảnh Hội Việt Nam cách mạng thanh niên phát triển mạnh, đã tác động mạnh mẽ đến Đảng này. Trong nội bộ Đảng diễn ra cuộc đấu tranh giữa hai khuynh hướng: tư tưởng cách mạng vô sản và tư tưởng cải lương. Cuối cùng khuynh hướng cách mạng theo quan điểm vô sản thắng thế. Một số đảng viên của Tân Việt chuyển sang Hội Việt Nam cách mạng thanh niên. Số đảng viên tiên tiến còn lại trong Tân Việt tích cực chuẩn bị để tiến tới thành lập một chính đảng theo chủ nghĩa MácLênin.Việt Nam quốc dân Đảng là một đảng chính trị theo xu hướng dân chủ tư sản. Điều lệ Đảng ghi mục tiêu hoạt động là: trước làm dân tộc cách mạng, sau làm thế giới cách mạng; đánh đuổi giặc Pháp, đánh đổ ngôi vua, thiết lập nền dân quyền. Sau vụ ám sát Ba Danh, trùm mộ phu đồn điền cao su của Pháp (tháng 21929), Đảng bị khủng bố dữ dội, tổ chức đảng bị vỡ ở nhiều nơi. Trước tình thế nguy cấp, lãnh đạo Việt Nam quốc dân Đảng đã quyết định dốc hết lực lượng vào trận đấu tranh sống mái với kẻ thù. Cuộc khởi nghĩa của Việt Nam quốc dân Đảng bắt đầu từ đêm ngày 9 2 – 1930 ở Yên Bái, Phú Thọ, Hải Dương, Thái Bình… trong tình thế hoàn toàn bị động nên đã bị thực dân Pháp nhanh chóng dập tắt.Tóm lại, trước yêu cầu lịch sử của xã hội Việt Nam, các phong trào đấu tranh chống Pháp diễn ra sôi nổi. Mục tiêu của các cuộc đấu tranh ở thời kỳ này đều hướng tới giành độc lập cho dân tộc, nhưng trên các lập trường giai cấp khác nhau nhằm khôi phục chế độ phong kiến, hoặc thiết lập chế độ quân chủ lập hiến, hoặc cao hơn là thiết lập chế độ cộng hòa tư sản. Các phong trào đấu tranh diễn ra với các phương thức và biện pháp khác nhau: bạo động hoặc cải cách; với quan điểm tập hợp lực lượng bên ngoài khác nhau; dựa vào Pháp để thực hiện cái cách, hoặc dựa vào ngoại viện để đánh Pháp… nhưng cuối cùng các cuộc đấu tranh đều thất bại.Một số tổ chức chính trị theo lập trường quốc gia tư sản ra đời và đã thể hiện vai trò của mình trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và dân chủ. Nhưng các phong trào và tổ chức trên, do những hạn chế về giai cấp, về đường lối chính trị, hệ thống tổ chức thiếu chặt chẽ; chưa tập hợp được rộng rãi lực lượng xã hội cơ bản (công nhân và nông dân), nên cuối cùng đã không thành công. Sự thất bại của các phòng trào yêu nước theo lập trường quốc gia tư sản ở Việt Nam đầu thế kỷ XX đã phản ánh địa vị kinh tế và chính trị yếu kém của giai cấp này trong tiến trình cách mạng dân tộc, phản ánh sự bất lực của họ trước những nhiệm vụ do lịch sử dân tộc Việt Nam đặt ra.Mặc dù bị thất bại, nhưng sự phát triển mạnh mẽ của phong trào yêu nước cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX có ý nghĩa rất quan trọng. Nó là sự tiếp nối truyền thống yêu nước, kiên cường bất khuất vì độc lập tự do của dân tộc Việt Nam và chính sự phát triển của phong trào yêu nước đã tạo cơ sở xã hội thuận lợi cho việc tiếp nhận chủ nghĩa Mác Lênin, quan điểm cách mạng Hồ Chí Minh. Phong trào yêu nước trở thành một trong ba nhân tố dẫn đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.Sự thất bại của các phong trào yêu nước chống thực dân Pháp cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX đã chứng tỏ con đường cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến và hệ tư tưởng tư sản đã bế tắc. Cách mạng Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc về đường lối, về giai cấp lãnh đạo. Nhiệm vụ lịch sử đặt ra là phải tìm một con đường cách mạng mới, với một giai cấp có đủ tư cách đại biểu cho quyền lợi của dân tộc, của nhân dân có đủ uy tín và năng lực để lãnh đạo cuộc cách mạng dân tộc dân chủ đi đến thành công.c. Phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sảnNguyễn Ái Quốc chuẩn bị các điều kiện về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.Năm 1911, Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước. Trong quá trình tìm đường cứu nước, Người đã tìm hiểu kỹ các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới. Người đánh giá cao tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái và quyền con người của các cuộc cách mạng tư sản tiêu biểu như Cách mạng Mỹ (1776), Cách mạng Pháp (1789)… nhưng cũng nhận thức rõ những hạn chế của các cuộc cách mạng tư sản. Từ đó, Nguyễn Ái Quốc khẳng định con đường cách mạng tư sản không thể đưa lại độc lập và hạnh phúc cho nhân dân các nước nói chung, nhân dân Việt Nam nói riêng.Nguyễn Ái Quốc đặc biệt quan tâm tìm hiểu Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917. Người rút ra kết luận: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật”.Tháng 7 – 1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin đăng trên báo Nhân đạo. Người tìm thấy trong Luận cương của Lênin lời giải đáp về con đường giải phóng cho nhân dân Việt Nam: về vấn đề thuộc địa trong mối quan hệ với phong trào cách mạng thế giới… Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác –Lênin.Tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp (121920) Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế Cộng sản và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Sự kiện này đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người từ người yêu nước trở thành người cộng sản và tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn “Muốn cứu nước phải giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.Từ đây cùng với việc thực hiện nhiệm vụ đối với phong trào cộng sản quốc tế, Nguyễn Ái Quốc xúc tiến truyền bá chủ nghĩa Mác Lênin, vạch phương hướng chiến lược cách mạng Việt Nam và chuẩn bị điều kiện để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.Quá trình Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị các điều kiện thành lập Đảng được đánh dấu bằng việc Người tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác LêNin vào Việt Nam thông qua những bài đăng trên các báo Người cùng khổ, Nhân đạo, Đời sống công nhân và đặc biệt là tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp (năm 1925). Tác phẩm này đã vạch rõ những âm mưu và thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc che dấu tội ác dưới cái vỏ bọc “khai hóa văn minh”, từ đó khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, thức tỉnh tinh thần dân tộc nhằm đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược. Mùa hè 1923 từ Pháp sang Liên Xô, Người tham gia nhiều Đại hội quốc tế và học tập nghiên cứu chủ nghĩa Mác Lê nin.Một trang báo tuần Thanh niên do Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên phát hành để tuyên truyền cho Hội.Với tư cách là đại diện của quốc tế cộng sản, tháng 111924, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu (Trung Quốc). Tháng 61925, người thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên. Chương trình và Điều lệ của Hội nêu rõ mục đích là: làm cách mạng dân tộc và cách mạng thế giới. Sau khi cách mạng thành công. Hội chủ trương thành lập Chính phủ nhân dân; mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân; tiến lên xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa; thực hiện đoàn kết với giai cấp vô sản các nước, với phong trào cách mạng thế giới.Từ năm 1925 1927, Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đã mở các lớp huấn luyện chính trị cho cán bộ cách mạng Việt Nam. Hội đã xây dựng được nhiều cơ sở ở các trung tâm kinh tế, chính trị trong nước. Năm 1928, Hội thực hiện chủ trương “vô sản hóa”, đưa hội viên vào nhà máy, hầm mỏ, đồn điền để rèn luyện lập trường, quan điểm giai cấp công nhân; để truyền bá chủ nghĩa Mác Lênin và lý luận giải phóng dân tộc nhằm thúc đẩy sự phát triển của phong trào cách mạng Việt Nam.Ngoài việc trực tiếp huấn luyện cán bộ của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên Nguyễn Ái Quốc còn lựa chọn những thanh niên Việt Nam ưu tú gửi đi học tại trường Đại học Phương Đông và trường Lục quân Hoàng Phố nhằm đào tạo cán bộ cho cách mạng Việt Nam.Cùng với việc đào tạo cán bộ, Nguyễn Ái Quốc đã tổ chức ra các tờ báo Thanh niên, Công nông, lính cách mệnh, Tiền phong nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác Lênin vào Việt Nam. Quan điểm cách mạng của Nguyễn Ái Quốc đã thức tỉnh và giác ngộ quần chúng, thúc đẩy phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân phát triển theo con đường cách mạng vô sản.Năm 1927, Bộ Tuyên truyền của Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức xuất bản tác phẩm Đường cách mệnh .Bìa cuốn Đường Kách mệnh, tập sách gồm những bài giảng của Nguyễn Ái Quốc cho những thanh niên Việt Nam được Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tuyển mộ và giác ngộ.Nội dung tác phẩm Đường cách mệnh: Đường cách mệnh chỉ rõ: tính chất và nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là cách mạng dân tộc mở đường tiến lên chủ nghĩa xã hội. Hai cuộc cách mạng này có quan hệ mật thiết với nhau; cách mạng là sự nghiệp của quần chúng chứ không phải việc một hai người, do đó phải đoàn kết toàn dân. Nhưng cái cốt của nó là công nông và phải luôn ghi nhớ rằng công nông là người chủ cách mệnh, công nông là gốc cách mệnh.Về vai trò của Đảng, Nguyễn Ái Quốc khẳng định: Cách mạng muốn thắng lợi thì phải có một đảng lãnh đạo. Đảng có vững, cách mạng mới thành công cũng như người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt. Chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin.Về vấn đề đoàn kết quốc tế, Người nói: “Cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận trong cách mệnh thế giới. Ai làm cách mệnh trong thế giới đều là đồng chí của dân An Nam cả”.Về phương pháp cách mạng, Người nhấn mạnh đến việc phải giác ngộ và tổ chức quần chúng cách mạng, phải làm cho quần chúng hiểu rõ mục đích cách mạng, biết đồng tâm hiệp lực để đánh đổ giai cấp áp bức mình, làm cách mạng phải biết cách làm, phải có “mưu chước”, có như thế mới bảo đảm thành công cho cuộc khởi nghĩa với sự nổi dậy của toàn dân…Như vậy: Tác phẩm Đường cách mệnh đã đề cấp những vấn đề cơ bản của một cương lĩnh chính trị, chuẩn bị về tư tưởng chính trị cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Đường cách mệnh có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn đối với cách mạng Việt Nam.Sự phát triển phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản.Từ đầu thế kỷ XX, cùng với sự phát triển của phong trào dân tộc trên lập trường tư sản, phong trào công nhân chống lại sự áp bức bóc lột của tư sản thực dân cũng diễn ra dưới các hình thức đình công, bãi công, tiêu biểu như các cuộc bãi công của công nhân Ba Son (Sài Gòn) do Tôn Đức Thắng tổ chức (1925) và cuộc bãi công của công nhân nhà máy sợi Nam Định ngày 3041925, đòi chủ tư bản phải tăng lương, phải bỏ đánh đập, giảm đuổi thợ…Nhìn chung, phong trào công nhân những năm 1919 1925 đã có bước phát triển mới so với trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Hình thức bãi công đã trở nên phổ biến, diễn ra trên quy mô lớn hơn và thời gian dài hơn.Trong những năm 1926 1929, phong trào công nhân đã có sự lãnh đạo của các tổ chức như Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, Công hội đỏ và các tổ chức cộng sản ra đời từ năm 1929. Từ năm 1928 đến năm 1929, có khoảng 40 cuộc đấu tranh của công nhân diễn ra trong toàn quốc.Các cuộc đấu tranh của công nhân Việt Nam trong những năm 1926 1929 mang tính chất chính trị rõ rệt. Mỗi cuộc đấu tranh đã có sự liên kết giữa các nhà máy, các ngành và các địa phương. Phong trào công nhân có sức lôi cuốn phong trào dân tộc theo con đường cách mạng vô sản.Cũng vào thời gian này, phong trào yêu nước phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là phong trào nông dân diễn ra ở nhiều nơi trong cả nước, dân cày cũng đã tỉnh dậy, chống đế quốc và địa chủ rất kịch liệt. Năm 1927, nông dân làng Ninh Thanh Lợi ( Rạch Giá) đấu tranh chống bọn thực dân và địa chủ cướp đất, đòi chia ruộng công… Phong trào nông dân và công nhân đã hỗ trợ lẫn nhau trong cuộc đấu tranh chống thực dân, phong kiến.Sự ra đời các tổ chức cộng sản ở Việt Nam.Trần Văn Cung (1906–1977) là bí thư Chi bộ Cộng sản đầu tiên tại Việt Nam. Năm 1957 ông trở thành Bí thư Đảng ủy trường Đại học Nhân dân (sau này là trường Đại học Kinh tế Quốc dân)Trước sự phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước, cuối tháng 3 1929, tại 5D Hàm Long Hà Nội, một số hội viên tiên tiến của tổ chức Thanh niên ở Bắc Kỳ đã lập ra Chi bộ Cộng sản đầu tiên ở Việt Nam gồm 7 đồng chí do đồng chí Trần Văn Cung làm Bí thư Chi bộ.Tại Đại hội lần thứ nhất của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên (51929) đã xảy ra bất đồng giữa các đoàn đại biểu về vấn đề thành lập đảng Cộng sản, mà thực chất là sự khác nhau giữa những đại biểu muốn thành lập ngay một đảng cộng sản và giải thể tổ chức Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, với những đại biểu cũng muốn thành lập đảng cộng sản, nhưng “không muốn tổ chức đảng ở giữa Đại hội thanh niên và cũng không muốn phá thanh niên trước khi lập được đảng”. Trong bối cảnh đó, các tổ chức cộng sản ở Việt Nam ra đời.Đông Dương Cộng sản Đảng: Ngày 1761929, tại 312 Khâm Thiên Hà Nội, đại biểu các tổ chức cộng sản ở Bắc Kỳ họp Đại hội quyết định thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng. Tuyên ngôn của Đảng nêu rõ: Đảng Cộng sản Đông dương tổ chức đại đa số và thực hành công nông liên hiệp mục đích để đánh đổ đế quốc chủ nghĩa; đánh đổ tư bản chủ nghĩa; diệt trừ chế độ phong kiến; giải phóng công nông; thực hiện xã hội bình đẳng, tự do, bác ái, tức là hội cộng sản.An Nam Cộng sản Đảng: Trước sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng và để đáp ứng yêu cầu của phong trào cách mạng, mùa thu năm 1929, các đồng chí trong Hội Việt Nam cách mạng thanh niên hoạt động ở Trung Quốc và Nam Kỳ đã thành lập An Nam Cộng sản Đảng về điều kiện kết nạp đảng viên, Điều lệ của Đảng viết “Ai tin theo chương trình của Quốc tế Cộng sản, hăng hái phấn đấu trong một bộ phận đảng, phục tùng mệnh lệnh đảng và góp nguyệt phí, có thể cho vào đảng được”.Đông Dương Cộng sản Liên đoàn: Việc ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng đã làm cho nội bộ Đảng Tân Việt phân hóa mạnh mẽ, những đảng viên tiên tiến của Tân Việt đã thành lập Đông Dương Cộng sản Liên đoàn. Tuyên đạt của Đông Dương Cộng sản Liên đoàn( 91929), nêu rõ : “Đông Dương Cộng sản Liên Đoàn lấy chủ nghĩa Cộng sản làm nền móng, lấy công, nông, binh liên hiệp làm đối tượng vận động cách mệnh cộng sản trong xứ Đông Dương, làm cho xứ sở của chúng ta hoàn toàn độc lập, xóa nạn bóc lột áp bức người, xây dựng chế độ cộng sản chủ nghĩa trong toàn xứ Đông Dương”.Mặc dù giương cao ngọn cờ chống đế quốc, phong kiến, xây dựng chủ nghĩa cộng sản Việt Nam, nhưng ba tổ chức cộng sản trên đây hoạt động phân tán, chia rẽ đã ảnh hưởng xấu đến phong trào cách mạng ở Việt Nam lúc này. Vì vậy, việc khắc phục sự chia rẽ, phân tán giữa các tổ chức cộng sản là yêu cầu khẩn thiết của cách mạng nước ta, là nhiệm vụ cấp bách trước mắt của tất cả những người cộng sản Việt Nam.
Xem thêm

Đọc thêm

BÀI 11. CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á CUỐI THẾ KỈ XIX - ĐẦU THÊ KỈ XX

BÀI 11. CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á CUỐI THẾ KỈ XIX - ĐẦU THÊ KỈ XX

CHÀO MỪNGQUÝ THẦY CÔ VÀCÁC EM HỌC SINHTHÂN MẾNPhạm Trọng ĐứcDân tộc độc lậpDân quyền tự doDân sinh hạnh phúcTiÕt 14, bµi 11:CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á CUỐITHẾ KỈ XIXĐẦU THẾ KỈ XXI- QUÁ TRÌNH XÂM LƯỢC CỦA CHỦ NGHĨA THỰC DÂN Ở CÁC NƯỚC ĐÔNGNAM ÁLược đồ các nước Đông Nam á cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XXI- QUÁ TRÌNH XÂM LƯỢC CỦA CHỦ NGHĨA THỰC DÂN Ở CÁC NƯỚC ĐÔNGNAM Á- Đông Nam Á có một vị trí quan trọng, giàu tài nguyên.- Chế độ phong kiến đang suy yếu dần- Từ nửa cuối thế kỉ XIX tư bản phương tây đẩy mạnh xâm lược ĐôngNam Á
Xem thêm

16 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG tư TƯỞNG hồ CHÍ MINH

ĐỀ CƯƠNG tư TƯỞNG hồ CHÍ MINH

ĐỀ CƯƠNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 1. Bối cảnh lịch sử hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh Bối cảnh lịch sử VNcuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX 1858: Thực dân Pháp xâm lược VN, sự xâm lược của TD Pháp đã gây ra nhiều hậu quả cho XHVN. Triều đình nhà Nguyễn đã từng bước khuất phục đầu hàng Pháp. 1884: Hòa ước Patonot , triều đình nhà Nguyễn đã chính thức công nhận sự bảo hộ của Pháp trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Các phong trào vũ trang kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta nổ ra, dâng cao, lan rộng trong cả nước và lần lượt bị thất bại. Đầu thế kỉ XX: + Công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp từ 1895 đã làm cho XHVN có sự biến chuyển và phân hóa ( xã hội phong kiến chuyển sang XH thực dân nửa phong kiến, xuất hiện nhiều giai cấp tầng lớp XH mới: công nhân, tư sản, tiểu tư sản. Công cuộc khai thác thuộc địa là sự bóc lột về KT, áp bức về CT và nô dịch về VH) + Ảnh hưởng của các “tân văn”, “tân thư” và ảnh hưởng của các trào lưu cải cách ở Nhật Bản, Trung Quốc tràn vào VN. => Làm cho các phong trào yêu nước ở nước ta chuyển dần sang xu hướng dân chủ tư sản. Tất cả các phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đều không tránh khỏi hạn chế, đều không tránh khỏi sự đàn áp dã man và thất bại, đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng về đường lối cứu nước. Bối cảnh đó đặt ra một yêu cầu bức thiết về việc phải tìm ra con đường cứu nước. Bối cảnh thời đại: CNTB chuyển sang giai đoạn CNĐQ và xác lập sự thống trị của chúng trên phạm vi thế giới, trở thành kẻ thù chung của nhân dân các dân tộc thuộc địa, khiến cho các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc diễn ra ngày càng mạnh mẽ. Ở các nước tư bản là mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản. Ở các nước thuộc địa, ngoài mâu thuẫn vốn có là giai cấp nông dân và đại chủ còn xuất hiện mâu thuẫn mới: giữa nhân dân các thuộc địa và chủ nghĩa đế quốc. XH phân hóa: xuất hiện giai cấp, tầng lớp xã hội mới: công nhân, tư sản. Các trào lưu cải cách ở Nhật Bản và Trung Quốc đang diễn ra mạnh mẽ. Cách mạng Tháng Mười Nga nổ ra và thắng lợi có tác dụng thức tỉnh các dân tộc châu Á. Quốc tế cộng sản 3 ra đời (tháng 3 – 1919) đề cập tới vấn đề thuộc địa, bênh vực các dân tộc thuộc địa, ủng hộ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, giúp đỡ đào tạo cách mạng, vạch ra con đường giải phóng các dân tộc thuộc địa. =>Bối cảnh trong nước đặt ra yêu cầu bức thiết phải tìm ra con đường cứu nước mới, bối cảnh thời đại đã tạo ra con đường mà VN đang cần, tất nhiên nó không phải hoàn toàn có sẵn.
Xem thêm

Đọc thêm

Hình tượng người phụ nữ trong văn học 18 19

Hình tượng người phụ nữ trong văn học 18 19

HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG VĂN HỌC THẾ KỈ XVIII – NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX MỞ ĐẦU “Chị em tôi tỏa nắng vàng lịch sử Nắng cho đời nên cũng nắng cho thơ” Từ lâu hình ảnh người phụ nữ đã rất tự nhiên bước vào văn học như một định mệnh nghệ thuật tất yếu. Hình ảnh của một “nửa thế giới” ấy đã sớm phập phồng trong trái tim của người nghệ sĩ, hiện diện khắp nơi trong đứa con tinh thần của họ.Từ buổi hồng hoang của lịch sử với văn học dân gian cho đến khi văn học viết ra đời, nguồn mạch đó tựa dòng thủy lưu chưa bao giờ đứt mạch. Đến với đề tài hôm nay, xin được hòa mình vào hứng cảm bất tận ấy để tìm hiểu về những cuộc đời, những số phận mà hình tượng người phụ nữ trong văn học giai đoạn thế kỉ XVIIIXIX mang lại. CHƯƠNG 1:NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ THẾ KỈ XVIII – NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX 1.1 Cơ sở lý luận về hình tượng nghệ thuật Hình tượng là sự phản ánh hiện thực một cách khái quát bằng nghệ thuật dưới hình thức những hiện tượng cụ thể, sinh động, điển hình,... Nhân vật ấy phải có những nét chung nhất của tầng lớp, giai cấp... mà mình đại diện vào một thời điểm lịch sử nhất định. Hình tượng nhân vật trong văn học là nhân vật điển hình trong tác phẩm văn học, mang đậm nét khái quát của tầng lớp, giai cấp của nhân vật ấy, đồng thời là nhân vật có những nét riêng đặc biệt, xuất hiện trong bối cảnh điển hình mà tác phẩm văn học ấy thể hiện. 1.2. Bối cảnh ra đời hình tượng người phụ nữ thế kỉ XVIII – nửa đầu thế kỉXIX 1.2.1. Bối cảnh xã hội 1.2.1.1. Thời đại đầy biến động Nước Việt đi vào một trong những thời kì đen tối nhất của lịch sử. Vua chúa chỉ mải mê trong giấc mộng quyền quý mà quên đi trách nhiệm với nhân dân của mình. Thuế cao sưu nặng, mất mùa hạn hán, đời sống nhân dân vô cùng cơ cực Số phận con người mỏng mang chao đảo như một trò tạp kĩ trên không giữa lằn ranh của sốngchết. Những phong trào nông dân nổi dậy tất yếu. Những cuộc đàn áp diễn ra trong máu của người ra trận và nước mắt của gia quyến ở hậu phương. Chưa bao giờ vấn đề thân phận con người, bi kịch của cá nhân được đặt ra riết róng như thế. Có lẽ chính điều ấy chính chất xúc tác mạnh mẽ nhất để chuyển lay ngòi bút của tác giả để từ hình tượng người phụ nữ ra đời trong thấm đẫm tình người xót xa. 1.2.1.2. Xã hội nam quyền Trong các mối quan hệ với vua (quân), cha(phụ), chồng (phu), con (tử), người phụ nữ luôn là kẻ phụ thuộc và phục tùng, bất cứ lúc nào cũng có thể trở thành nạn nhân của sự chuyên quyền độc đoán của đàn ông. Nho giáo đề cao hình mẫu lý tưởng của người phụ nữ là liệt nữ. Song, những “tiêu chuẩn” đạt được bậc liệt nữ được ghi vào sổ sách nhiều khi đi đến mức phản nhân đạo. “Tam thê tứ thiếp” đã là điều quá bình thường cho mong muốn của một người đàn ông trong xã hội phong kiến.Song chẳng mấy ai hiểu được nỗi đơn lẻ đến khôn cùng của người thiếp lẽ mọn. Những người đẹp người xưa chỉ là công cụ phụ vụ cho ham muốn nhục dục và tham vọng về chính trị cho giới chức quyền, trước hết là vua chúa. Chỉ vài trong con số hàng trăm mỹ nhân được kén vào cung mỗi năm hóa phượng hoàng, còn lại sống cuộc đời bẽ bang nơi hậu cung cô quạnh. 1.2.1.3. Sự manh nha hệ ý thức mới mẻ trong xã hội. Sự sụp đổ của giai cấp thống trị phong kiến kéo theo sự phá sản ý thức hệ phong kiến, con người tiếp nhận luồng tư tưởng mới từ tư tưởng dân chủ với sự xuất hiện của tầng lớp thị dân. Các nhà Nho đã thoát khỏi tư tưởng chính thống để xem người phụ nữ như đối tượng chính của ngòi bút của mình. Con người đặc biệt là người phụ nữ ý thức được và muốn khẳng định giá trị cá nhân của mình. Họ đứng dậy nêu lên mong muốn về những gì mình xứng đáng nhận được, thẳng thừng phê phán mặt tối của xã hội. Đó là nét mới mẻ tạo nên sức hấp dẫn ở người phụ nữ thời đại này. 1.2.2. Bối cảnh nền văn học 1.2.2.1. Sự phát triển của đề tài người phụ nữ Đề tài người phụ nữ là đề tài lớn trong văn học Việt Nam. Nó đã từng xuất hiện nhưng chưa trở thành đối tượng trọng tâm của văn học mà chỉ xuất hiện lẻ tẻ trong văn xuôi lịch sử, trong thần phả, điếu vịnh, văn học dân gian… Đến XVI, đặc biệt là thế kỉ XVIII, phụ nữ đã trở thành một trong những đề tài lớn của văn học, người phụ nữ hiện lên một cách khá đầy đủ và toàn diện trên nhiều bình diện. Về Truyện Nôm có “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, “Hoa tiên” của Nguyễn Huy Tự,…Thơ ca viết về về phụ nữ là thơ của Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, “Chinh phụ ngâm khúc” của Đặng Trần Côn, bản diễn Nôm của Đoàn Thị Điểm hay “Cung oán ngâm” của Nguyễn Gia Thiều… 1.2.2.2. Sự phát triển của chủ nghĩa nhân đạo Tư tưởng này xuyên suốt chảy cùng năm tháng như một mạch nước ngầm trong văn học. Chỉ cho đến khi đến với thế kỉ XVIIIXIX với những yếu tố nhất định thúc đẩy tư tưởng này đã được nâng cao, phát triển thành chủ nghĩa nhân đạo với đầy đủ các biểu hiện của nó. Đó là sự xót thương đồng cảm với số phận con người,lên án, đả phá những thế lực làm hại con người, và đặt niềm tin đồng thời khẳng định giá trị tốt đẹp của con người. 1.2.2.3. Sự phát triển về mặt thi pháp của thể loại, ngôn ngữ của nền văn học Văn học trung đại thế kỉ XVIII –nửa đầu thế kỉXIX có sự phát triển về các thể loại văn học. Sự góp mặt đầy đủ của trữ tình, tự sự và ca vũ nhạc kịch trong đời sống văn học. Về mỗi thể loại, ta có thể nhận thấy sự phát triển về thi pháp được biểu hiện cụ thể ở cấu tứ, nhịp điệu, hình ảnh, sự lựa chọn đề tài,…Vốn từ ngữ được phong phú hóa từ nguồn chữ Nôm.Ý thức làm mới thể loại văn học bằng màu sắc dân tộc đã kích thích sức sáng tạo của lực lượng sáng tác tạo nên sức đột phát mới, khẳng định giá trị riêng biệt của văn chương Việt. CHƯƠNG 2: NỘI DUNG PHẢN ÁNH TRONG HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ THẾ KỈ XVIII – NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX 2.1. Người phụ nữhiện thân của cái Đẹp Thần thoại Hi Lạp kể rằng: “Thượng đế đã lấy vẻ đầy đặn của mặt trăng, đường uốn cong của loài dây leo, dáng run rẩy của các loài cỏ hoa,... nặn thành người phụ nữ”. Người phụ nữ ngày xưa xuất hiện trong văn học thường là những người phụ nữ đẹp. 2.1.1. Vẻ đẹp tài và sắc của người phụ nữ. 2.1.1.1.Về nhan sắc Nhắc đến vẻ đẹp của người phụ nữ hãy cùng thưởng lãm đến những đoạn tuyệt bút của Nguyễn Du khi viết về nhan sắc của Thúy Kiều và Thúy Vân. Có thể nói nét đẹp ấy với bút pháp ước lệ đã trở thành những chuẩn mực cho khuôn khổ ngoại hình của người con gái phong kiến:……………………. Vân mới đẹp làm sao Con người nàng toát lên vẻ trang trọng khác vời, từng đường nét dường như đều là một kỳ công của tạo hoá. Kiều đến với người đọc bằng ấn tượng đầu tiên: “sắc sảo mặn mà”. Các từ mang ý nghĩa so sánh:“càng”, “so bề”,“phần hơn”cho thấy nàng không chỉ có vẻ đẹp như Thuý Vân mà nàng còn đẹp hơn thế nữa. Tác giả chỉ tập trung đặc tả đôi mắt. Đôi mắt đẹp như làn nước mùa thu được điểm tô bằng đôi mày thanh nhẹ, tươi tắn như dáng núi mùa xuân. Phải chăng khi miêu tả đôi mắt của Thuý Kiều Nguyễn Du muốn người đọc hiểu rằng: đằng sau đôi mắt trong veo ấy là một tâm hồn đa cảm? Kiều đã thật sự hiện ra trước mắt người đọc với đầy đủ vẻ đẹp lộng lẫy của một trang quốc sắc thiên hương.
Xem thêm

Đọc thêm

BÀI GIẢNG NHẬT BẢN GIỮA THẾ KỈ XIX- ĐẦU THẾ KỈ XX

BÀI GIẢNG NHẬT BẢN GIỮA THẾ KỈ XIX- ĐẦU THẾ KỈ XX

I. CUỘC DUY TÂN MINH TRỊ.1. Hoàn cảnh.2. Nội dung.- Kinh tế:- Chính trị - xã hội:- Quân sự:3. Kết quả và ý nghĩa.- Nhật Bản trở thành một nước Tư bản chủ nghĩa.- Thoát khỏi nguy cơ là thuộc địa.- Cuộc Duy tân Minh Trị là cuộc cách mạng tư sản không triệt để,dưới hình thức một cuộc cải cách.-Ảnh hưởng đến phong trào giải phóng dântộc ở phương Đông đầu TK XX trong đó cóViệt Nam.…Toàn cõi Á Châu khi nghe tin khổng lồ Nga “con gấu trắng Bắc Cực” - bị “chú lùn da vàng”hạ thì nhảy múa, reo hò như chính mình đãthắng trận. Người Á có cảm tình ngay với Nhật vìNhật đã rửa cái nhục chung của giống da vàng.Trung Hoa mong lật đổ gấp nhà Thanh để duytân như Nhật; Ấn Độ, Việt Nam, Miến Điện, MãLai… đều mơ tưởng độc lập và cái tên Minh TrịThiên Hoàng vang lên trong miệng các nhà áiquốc .”Học giả: Nguyễn Hiến Lê.TIẾT 17. BÀI 12: NHẬT BẢN GIỮA THẾ KỈ XIXĐẦU THẾ KỈ XXI. CUỘC DUY TÂN MINH TRỊ.
Xem thêm

33 Đọc thêm

Chùa chiền trong thơ Hồ Xuân Hương và Phạm Thái

Chùa chiền trong thơ Hồ Xuân Hương và Phạm Thái

Nhìn vào lịch sử văn học của dân tộc ta thấy một hiện tượng rất mới lạ. Đó là khi nào xã hội rối ren, loạn lạc nhất thì văn học lại đạt được những thành tựu rực rỡ nhất. Văn học Việt Nam nữa cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX ra đời trong giai đoạn chế độ phong kiến tranh giành quyền lợi, đời sống nhân dân vô cùng cực khổ, đói kém. Đặc biệt giai đoạn này đã xuất hiện trào lưu nhân đạo chủ nghĩa với nội dung chủ yếu là nhân đạo chủ nghĩa với nội dung là giải phóng tình cảm, đấu tranh để được tự do yêu đương và hàng loạt những cây bút đậm dấu ấn cá nhân như Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Phạm Thái… Chính trong bối cảnh xã hội ấy, xã hội mà mọi giá trị bị đảo lộn, các nhà văn nhà thơ đã thực hiện rất tốt chức năng của mình, đó là phản ánh kịp thời cuộc sống xã hội lúc bấy giờ. Trong đó, có Hồ Xuân Hương và Phạm Thái. Về Hồ Xuân Hương, cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, người con gái họ Hồ quê ở Quỳnh Lưu, Nghệ An ấy đã xuất hiện trên thi đàn văn học như một cơn gió lạ, thổi tung lớp rêu phong cổ kính của chế độ phong kiến già nua và rải khắp nhân gian một mùi hương kì diệu: mùi hương của đất nước, của gió trăng, của đá, của rêu, của lạch, của khe, của những hội hè đình đám, của những sinh hoạt đời thường….Đó là mùi hương của sự sống, của khát khao,cháy bỏng, của nhựa sống… Và, cũng chính con người đầy sức sống ấy đã ném vào mặt xã hội phong kiến, “vạch rõ cái chân tướng của cả những kẻ hiền nhân quân tử, những bậc trượng phu, anh hùng và đã thẳng thắn đặt họ lại những chổ ngồi mà họ xứng đáng giữa lúc cả bọn đang múa may quay cuồng, tâng bốc bợ đỡ nhau” (Nguyễn Đức Bínhngười cổ nguyệt, chuyện Xuân Hương). Bà dám nhìn thẳng vào bản chất của cái xã hội thối nát và lên án một cách mạnh mẽ…Đối tượng chế giễu của Hồ Xuân Hương chủ yếu là bọn vua chúa, quan lại, nho sĩ nói chung và đặc biệt là giới sư sãi. Ta bắt gặp trong thơ bà sự phản kháng, sự không đồng tình, sự đả phá đối với những nhà sư “dởm” làm mất vẻ tôn kính của nhà chùa. Phạm Thái là người cùng thời với Hồ Xuân Hương, ông cũng sống trong cái oi bức của xã hội thời cuối Lê đầu Nguyễn. Nơi mà các trật tự, kỉ cương, đạo đức và lễ giáo phong kiến đều bị đảo lộn. Phạm Thái là người đã tìm đến nơi chùa chiền để lảnh tránh sự đời, lẩn tránh những đau khổ của tình ái cho nên, ông hiểu rõ hơn ai hết sự suy thoái của đạo Phật vào cái thời điểm ấy. Trong số ít những sáng tác của ông ta bắt gặp khá nhiều hình ảnh của những cảnh chùa, những nhà sư… Hồ Xuân Hương và Phạm Thái là những người cùng thời. Cùng sống trong một bối cảnh xã hội. Và cùng có những tiếng nói chung đối với vấn đề suy thoái, biến chất của các sư sãi trong các nhà chùa. Đó là tiếng nói “đả phá” không đồng tình. Trên cơ sở tiếp thu các công trình nghiên cứu, phê bình và các tài liệu có liên quan tôi quyết định chọn nghiên cứu đề tài “chùa chiền trong thơ Hồ Xuân Hương và Phạm Thái” với hy vọng được tìm hiểu, nghiên cứu sâu hơn về bối cảnh xã hội, sự suy thoái của Phật giáo trong xã hội cuối XVIII đầu XIX dưới góc nhìn của Hồ Xuân Hương và Phạm Thái.
Xem thêm

Đọc thêm

ĐỀ KIỂM TRA GIỮA KÌ I MÔN LỊCH SỬ LỚP 11

ĐỀ KIỂM TRA GIỮA KÌ I MÔN LỊCH SỬ LỚP 11

Tình bày ội dung cơ bản của cải cánh Minh Trị 1868? Nó có tính chất và ý nghĩanh thế nào?--------------------- Hết ----------------------ĐỀ KIỂM TRA GIỮA HỌC KÌ IĐỀMÔN: LỊCH SỬ – LỚP 11Thời gian: 45 PhútCâu 1: Tại sao nói cuộc Duy tân Minh Trị có ý nghĩa như một cuộc cách mạng tư sản?4đCâu 2: Trình bày những cuộc khởi nghĩa tiêu biểu trong phong trào chống Pháp của nhândân Lào, Campuchia từ cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX. 4đCâu 3: Kết cục của chiến tranh thế giới thứ nhất năm 1914-1918. 2đĐÁP ÁNCâu 1: Tại sao nói cuộc Duy tân Minh Trị có ý nghĩa như một cuộc cách mạng tư sản?− Cuối năm 1867 đần năm 1868, chế độ Mạc Phủ bị sụp đổ. Thiên Hoàng sau khi lênngôi đã tiến hành hàng loạt cải cách tiến bộ.− Kinh tế.− Chính trị.− Quân sự.− Giáo dục.+ Ý nghĩa, vai trò của cải cách: tạo nên những biến đổi xã hội sâu rộng trên tất cả lĩnhvực, có ý nghĩa như cuộc CMTS mở đường cho CNTB phát triển.+ CMTS chưa triệt để ? Chính trị Thiên Hoàng cầm quyền (vua phong kiến) ruộng đất
Xem thêm

19 Đọc thêm

ĐẶC ĐIỂM THƠ TRÀO PHÚNG CHỮ HÁN CỦA NGUYỄN KHUYẾN

ĐẶC ĐIỂM THƠ TRÀO PHÚNG CHỮ HÁN CỦA NGUYỄN KHUYẾN

1. Lí do chọn đề tài 1.1. Lí do khoa học Trải qua gần mười thế kỉ xây dựng và phát triển, văn học trung đại Việt Nam đã đạt được rất nhiều thành tựu to lớn trong việc phản ánh cuộc sống lao động, đời sống tinh thần người Việt và khẳng định được vị trí của mình trong nền văn học khu vực. Trong văn học trung đại, bên cạnh dòng văn chương nói chí tỏ lòng và văn chương thế sự có một bộ phận văn học vẫn âm thầm phát triển không ngừng từ văn học dân gian đến văn học viết đó là văn học trào phúng. Khởi nguồn từ văn học dân gian, bộ phận văn học này đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ trong văn học viết góp phần quan trọng thể hiện đời sống tinh thần phong phú của con người Việt Nam. Do đó, việc nghiên cứu và tìm hiểu văn học trào phúng nói chung và thơ chữ Hán trào phúng nói riêng trong giai đoạn này có ý nghĩa rất lớn trong việc khắc họa diện mạo nền văn học dân tộc. Cảm hứng trào phúng xuất hiện khá sớm trong văn học Việt Nam bắt đầu từ ca dao trào phúng, thơ Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát… Tuy nhiên phải đến giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX với những tác giả tiêu biểu như Nguyễn Khuyến, Tú Xương văn học trào phúng mới trở thành một trào lưu mạnh mẽ. Ra đời trong giai đoạn giao thời khi mà xã hội cũ, hệ tư tưởng cũ đang rạn nứt, xã hội mới với những tư tưởng mới, con người mới đang dần hình thành, văn học trào phúng nửa cuối thế kỉ XIX mang nét đặc trưng riêng biệt, đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của nền văn học dân tộc, giống như một đứa trẻ chỉ khi đã đủ lớn thì mới biết cười, và để có được tiếng cười trào phúng lại phải đợi đến khi nó thực sự trưởng thành, có đủ nhận thức về ngang trái của cuộc sống, có ý thức vị trí cá nhân trong xã hội. Có thể nói phải đến thế kỉ thứ XIX, khi con người cá nhân trong văn chương đã trưởng thành về nhận thức và trong thời buổi giao thời chứa đựng những mầm mống của một cuộc cách mạng xã hội thì văn chương trào phúng mới được khai sinh. Văn học trào phúng trong giai đoạn này không thể không kể đến Nguyễn Khuyến người có những bài thơ trào phúng sâu sắc nhất, là một trong những cây đại thụ của nền văn học dân tộc nửa cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX. Ông vừa là nhà thơ trữ tình xuất sắc, vừa là nhà thơ trào phúng hàng đầu; vừa là một đại khoa triều đình, vừa là một thôn dân thực thụ; vừa coi mọi chuyện trên đời như không có gì đáng bận tâm lại vừa mang trong lòng một mối ưu hoài năm canh nhỏ lệ. Ông sống trong thời kì xã hội Việt Nam đang trải qua những bước thăng trầm bi thương vào bậc nhất của lịch sử, tận mắt chứng kiến sự thất bại của triều đình nhà Nguyễn và các phong trào yêu nước trước một kẻ thù hoàn toàn xa lạ. Ông cũng là người nhận thấy một cách đau xót nhất sự sụp đổ của hệ tư tưởng đã lỗi thời cũng như sự bất lực đến hài hước của một loại trí thức đại diện cho hệ tư tưởng ấy trước thực tế lịch sử. Thơ văn ông là tấm gương phản ánh chân thực tình cảnh rối ren của xã hội lúc bấy giờ. Ông có một khối lượng tác phẩm đồ sộ, trong đó những vần thơ trào phúng chiếm một vị trí hết sức quan trọng. Đến mức, đã có một thời người ta biết đến ông như một nhà thơ chuyên về trào phúng. Do đó, việc nghiên cứu về Nguyễn Khuyến nói chung và thơ trào phúng chữ Hán của ông nói riêng là một điều rất cần thiết. Nguyễn Khuyến sáng tác nhiều thơ, văn, câu đối bằng cả chữ Hán và chữ Nôm trong đó thơ chữ Hán chiếm số lượng lớn. Song không vì vậy mà thơ ông trở nên khó hiểu, cứng nhắc trái lại thơ chữ Hán Nguyễn Khuyến bình dị, gần gũi ở đó người đọc đôi khi còn bắt gặp cả những tiếng cười trào lộng, hóm hỉnh của nhà thơ. Thơ chữ Hán từ xưa đến nay vẫn được coi là loại hình thơ chuẩn mực, ước lệ, Nguyễn Khuyến là một trong số ít các nhà nho đã đưa tiếng cười trào lộng vào thơ chữ Hán. Bởi vậy, mảng thơ này có một vị trí quan trọng trong sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Khuyến, thể hiện nét riêng độc đáo của nhà thơ khi viết về thơ trào phúng đồng thời bộc lộ tài năng cũng như chính con người tác giả.
Xem thêm

Đọc thêm

BÀI 11. CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á CUỐI THẾ KỈ XIX - ĐẦU THÊ KỈ XX

BÀI 11. CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á CUỐI THẾ KỈ XIX - ĐẦU THÊ KỈ XX

trào đấubạiravìđềuchưađườngdiễnthấtcóbạinhưnglối cứulàm cơ sởnướccho nhữngthắng lợiđúng đắn.sau này.Bài 11: CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á CUỐI THẾ KỈ XIXĐẦU THẾ KỈ XXI. Qúa trình xâm lược của chủ nghĩa thực dânở các nước đông Nam Á.1. Nguyên nhân:2. Kết qủa:II. Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc.1. Chính sách cai trị thực dân:2. Các phong trào đấu tranh tiêu biểu:Em hãy điền vào ô trống từ ô thứ 2 đến ô thứ 6?CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM ÁCUỐI THẾ KỈ XI-ĐẦU XX2
Xem thêm

18 Đọc thêm

NHỮNG GƯƠNG mặt TIÊU BIỂU PHONG TRÀO “THƠ MỚI”

NHỮNG GƯƠNG mặt TIÊU BIỂU PHONG TRÀO “THƠ MỚI”

THƠ MỚI là một trào lưu thơ Việt Nam xuất hiện từ khoảng 1932 đến khi nổ ra cuộc cách mạng Tháng Tám 1945. Đó là nền thơ mang phong cách hiện đại tương tự thơ phương Tây thế kỉ XIX và XX, khác hẳn thi ca Việt Nam trong tất cả các thời đại quá khứ. Như vậy, xét tổng thể lịch sử thi ca Việt Nam thành văn (không kể ca dao và thơ ca bình dân) thì từ xưa đến nay chỉ có ba nền thơ căn bản: Một là thơ chữ Hán (ra đời khoảng thế kỉ XI), chịu ảnh hưởng nặng của thơ Trung Hoa. Hai là thơ Nôm – dòng thơ đích thực của dân tộc ta, được sáng tạo bằng ngôn ngữ Việt ra đời vào khoảng thế kỉ XII – XIII và phát triển trong suốt một thời gian dài đến tận cuối thế kỉ XX. Sau khi chữ quốc ngữ được dùng phổ biến trong toàn quốc thì dòng thơ Nôm này dần dần được viết bằng chữ quốc ngữ thay vì bằng chữ Nôm (thi nhân đi đầu tiêu biểu cho cách viết mới mẻ này là Tản Đà). Ba là Thơ Mới, ra đời vào năm 1932 với bài “Tình già” của Phan Khôi. Thơ Mới kết quả của cuộc hội nhập giữa nền thơ truyền thống dân tộc với nền thơ phương Tây – có thể coi là một cuộc cách mạng ở nửa đầu thế kỉ XX, đã khép lại vĩnh viễn thời đại thơ cổ điển và “thơ cũ” nói chung trong quá khứ. Đối với danh từ THƠ MỚI: Nếu hiểu theo nghĩa rộng không chỉ là tên gọi của một trào lưu thơ Việt Nam ở nửa đầu thế kỉ XX, mà là một phương pháp sáng tác mới về căn bản thì hầu hết thơ Việt Nam cho đến tận đầu thế kỉ XXI này vẫn nằm trong khuôn khổ của Thơ Mới. Bởi vì, mặc dù có nhiều người cố tình tìm cách sáng tạo ra những kiểu thơ khác với nó (như thơ “chôn tiền chiến” của Trần Dần hay “thơ vụt hiện”…) nhưng đều hoặc là đi vào ngõ cụt, hoặc cũng chỉ là hành động “vẽ rắn thêm chân” cho chính Thơ Mới mà thôi. Cho đến nay hoàn toàn chưa xuất hiện một phương pháp sáng tác mới nào khả dĩ thay thế được Thơ Mới. Từ nửa cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX, cùng với cuộc xâm lược của thực dân Pháp, những nhân tố mới của chủ nghĩa tư bản phương Tây, của nền văn minh phương Tây nói chung, đã dần dần xâm nhập và ảnh hưởng đến xã hội Việt Nam. Nền khoa cử phong kiến dần dần bị bãi bỏ, chữ quốc ngữ được thay thế cho chữ Hán và chữ Nôm. Văn xuôi hiện đại, báo chí, ngành xuất bản xuất hiện. Một tầng lớp trí thức “Tây học” được Pháp đào tạo để phục vụ trong bộ máy nhà nước thuộc địa, trong đó có một số người được du học tại Pháp (như Nguyễn Tường Tam, Nguyễn An Ninh…). Tiếng Pháp chiếm địa vị quan trọng hơn tiếng Việt trong các nhà trường và trở thành tiếng nói khá phổ biến trong các xã hội thành thị, nhất là giới trí thức và giới công chức. Nói một cách dễ hiểu, vì chính quốc là một nước tư bản lớn nên thuộc địađương nhiên phải chịu ảnh hưởng về mọi mặt của chính quốc. Trong thời đại “Âu hoá” ấy, xã hội và con người Việt Nam, nhất là ở các đô thị, đã trải qua một sự biến cải sâu sắc phản ánh tính tất yếu lịch sử (từ phong kiến tiến lên tư bản, cho dù bị hạn chế rất nhiều tại thuộc địa). Từ những hoạt động kinh tế, những sinh hoạt vật chất và tinh thần của con người, những giá trị tinh thần hết sức mới mẻ như “tự do luyến ái”, vai trò của cái tôi nhân bản (sản phẩm đặc trưng của chủ nghĩa tư bản), tất cả đều khác xa với thời đại phong kiến trước đó. Khuynh hướng thường được tô vẽ bằng cụm từ rất kêu “văn minh Âu hoá” tỏ ra có sức cuốn hút mạnh mẽ không gì ngăn cản được. Sự “đua đòi” theo lối sống “tân thời” đã khiến nhà thi sĩ “chân quê” Nguyễn Bính lúc mới đầu phải hoảng sợ kêu van: Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng, Áo cài khuy bấm em làm khổ tôi… Nói ra sợ mất lòng em, Van em em hãy giữ nguyên quê muà… Trước ngưỡng cửa của một thời đại mới, nền văn minh và văn hoá truyền thống của Việt Nam đã gặp gỡ, giao thoa với nền văn minh và văn hoá phương Tây, tạo nên một nền văn minh, văn hoá mới chưa từng có. Có thể nói, một cuộc cách mạng văn hoá đã diễn ra trong nửa đầu thế kỉ XX trên mọi lĩnh vực: thi ca, văn xuôi, âm nhạc, kịch nghệ, hội hoạ, kiến trúc, báo chí… Thơ Mới xuất hiện trong cuộc cách mạng văn hoá ấy, đăng đàn vào năm 1932 và bước vào thời kì hoàng kim trong mười năm kế tiếp. Cùng với các loại hình văn hoá khác, Thơ Mới, mặc dù căn bản là thơ lãng mạn, vẫn phản ánh được thiên nhiên và đất nước Việt Nam, đặc biệt phản ánh cái “không khí của thời đại mới”, phản ánh số phận, đời sống vật chất và tinh thần của nhiều hạng người, phản ánh bộ mặt xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX. Thơ Mới xuất hiện với một khí thế hào hứng, sôi nổi chưa từng có, tựa như một dàn hợp xướng của trí tuệ và tâm hồn con người thời đại (với muôn màu muôn vẻ) nhất tề vang lên trong vẻ đẹp của một nghệ thuật hoàn toàn mới mẻ và tuyệt vời. Chính vì vậy, ngay khi mới ra đời, Thơ Mới đã mau chóng chiếm được tim óc của đông đảo người Việt Nam từ thành thị đến nông thôn (riêng ở nông thôn, thơ Nguyễn Bính được quần chúng ưa thích như một thứ ca dao mới). Phái “thơ cũ” của “các thầy đồ cổ” sau một thời gian tỏ thái độ chống đối kịch liệt hoặc dè bỉu, hoài nghi… rốt cuộc đã phải chấp nhận… cáo chung
Xem thêm

Đọc thêm

BÀI 22. XÃ HỘI VIỆT NAM TRONG CUỘC KHAI THÁC LẦN THỨ NHẤT CỦA THỰC DÂN PHÁP

BÀI 22. XÃ HỘI VIỆT NAM TRONG CUỘC KHAI THÁC LẦN THỨ NHẤT CỦA THỰC DÂN PHÁP

Pháp có tác động gì đến nền* Tiêu cực:kinhtếViệtNam?-Tài nguyên thiên nhiên bị vơ vét cạn kiệt,Việt Nam trởthành thị trường tiêu thụ hàng hoá cho Pháp…- Vẫn duy trì phương thức bóc lột PK trong mọi lĩnhvực…? So sánh sự khác nhau của kinh tế Việt Nam ở hai thờiđiểm cuối thế kỉ XIX- đầu TK XX.( theo mẫu).Trước cuộc khai thác (cuốiTK XIX)Trong cuộc khai thác ( đầuTK XX)- Chủ yếu thủ công nghiệp , - Công nghiệp,thương nghiệp,thương nghiệp, nông nghiệp giao thông vận tải bước đầuphát triển nhưng chủ yếu vẫnkém phát triển.là nôngnghiệp.? Trong cuộc khai thác thuộc địa lầnthứKINH
Xem thêm

23 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN LỊCH SỬ 8 HỌC KÌ I

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN LỊCH SỬ 8 HỌC KÌ I

Câu 1: Trình bày nguyên nhân, kết quả, ý nghĩa cuộc chiến tranh giành độc lập 13 thuộc địa ở Bắc Mỹ Nguyên nhân: Thế kỉ XVIII, thực dân Anh đã thiết lập được 13 thuộc địa ở Bắc Mỹ và tiến hành chính sách cai trị, bóc lột nhân dân ở đây. Giữa thế kỉ XVIII, nền kinh tế TBCN ở 13 thuộc địa phát triển mạnh nhưng thực dân Anh ngăn cản, kìm hãm sự phát triển ở thuộc địa dẫn đến mâu thuẫn giữa nhân dân Bắc Mĩ và giai cấp tư sản, chủ nô với thực dân Anh trở nên gay gắt => chiến tranh bùng nổ Kết quả: Anh phải thừa nhận nền độc lập của 13 thuộc địa và Hợp chúng quốc Mĩ được ra đời. Năm 1787, Mĩ ban hành Hiến pháp, quy định Mĩ là nước cộng hòa liên bang, đứng đầu là Tổng thổng. Ý nghĩa: Cuộc chiến tranh thực chất là cuộc cách mạng tư sản, nó đã thực hiện được hai nhiệm vụ cùng một lúc là lật đổ ách thống trị của thực dân và mở đường cho CNTB phát triển. Tuy nhiên, cuộc cách mạng này không triệt để vì chỉ có giai cấp tư sản, chủ nô được hưởng quyền lợi, còn nhân dân lao động nói chung không được hưởng chút quyền lợi gì.Câu 2: Ý nghĩa lịch sử của cách mạng tư sản Pháp +Cách mạng tư sản Pháp đã lật đổ được chế độ phong kiến, đưa giai cấp tư sản lên cầm quyền, xóa bỏ nhiều trở ngại trên con đường phát triển của chủ nghĩa tư bản + Quần chúng nhân dân là lực lượng chủ yếu đua cách mạng đạt tới đỉnh cao với nền chuyên chính dân chủ Gia cô banh Tính chất, hạn chế của cách mạng tư sản Pháp + Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII được coi là cuộc cách mạng tư sản triệt để nhất + Tuy nhiên nó vẫn chưa đáp ứng được đầy đủ quyền lợi cho nhân dân, vẫn không hoàn toàn xóa bỏ được chế độ phong kiến, chỉ có giai cấp tư sản là được hưởng lợiCâu 3 : Ý nghĩa lịch sử, bài học kinh nghiệm của công xã Pa ri.+ Ý nghĩa: Tuy chỉ tồn tại 72 ngày nhưng công xã Pari có ý nghĩa lịch sử to lớn. Công xã là hình ảnh thu nhỏ của một chế độ xã hội mới, đem lại một tương lai tốt đẹp cho nhân dân lao động.+ Bài học: CM thắng lợi phải có Đảng lãnh đạo, liên minh công nông và kiên quyết trấn áp kẻ thù ngay từ đầu.Câu 4 : Những thành tựu chủ yếu về kĩ thuật THẾ KỈ 18 19. Cuộc CM công nghiệp đưa nền kinh tế tư bản các nước phát triển nhanh chóng. Việc phát minh ra máy hơi nước đã thúc đẩy ngành GTVT đường thủy và đường sắt ra đời.+ 1807 Phơntơn đóng được tàu thủy chạy bằng động cơ hơi nước.+ 1814 Xtiphenxơ chế tạo thành công xe lửa chạy trên đường sắt. Máy điện tín được phát minh ở Nga, Mĩ. Nông nghiệp: những tiến bộ về kĩ thuật, về phương pháp canh tác làm nâng cao năng xuất lao động. Quân sự : nhiều nước đã sản xuất ra nhiều loại vũ khí hiện đại như đại bác, súng trường bắn nhanh, ngư lôi, khí cầu,… phục vụ cho chiến tranh.Câu 5 : Những tiến bộ về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội. Khoa học tự nhiên: Đầu thế kỉ XVIII, Niutơn (người Anh) đã tìm ra thuyết vạn vật hấp dẫn. Giữa thế kỉ XVIII, Lônômôxốp (người Nga) tìm ra định luật bảo toàn vật chất và năng lượng, cùng nhiều phát minh lớn về vật lí, hóa học. Năm 1837, Puốckingiơ (người Séc) khám phá ra bí mật về sự phát triển của thực vật và đời sống của các mô động vật.. Năm 1859, Đácuyn (người Anh) nêu lên thuyết tiến hóa và di truyền, đập tan quan niệm về nguồn gốc thần thánh của sinh vật. Khoa học xã hội: Triết học: xuất hiện chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng của Phoiơbách và Hêghen (người Đức). Kinh tế học: Ađam Xmit và Ricácđô (người Anh) đã xây dựng thuyết chính trị kinh tế học tư sản. Tư tưởng: xuất hiện chủ nghĩa xã hội không tưởng, gắn liền với tên tuổi của Xanh Xi Mông, Phuriê và Ôoen. Đặc biệt là sự ra đời của học thuyết chủ nghĩa xã hội khoa học (năm 1848) do Mác và Ăngghen sáng lập, được coi là cuộc cách mạng trong lịch sử tư tưởng củaCâu 6: Nguyên nhân của chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918): Vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, sự phát triển không đều giữa các nước tư bản về kinh tế và chính trị đã làm thay đổi sâu sắc so sánh lực lượng giữa các nước đế quốc. Mâu thuẫn về vấn đề thuộc địa dẫn tới các cuộc chiến tranh đế quốc đầu tiên: chiến tranh Mĩ – Tây Ban Nha(1898); chiến tranh Anh – Bôơ (1899 – 1902) chiến tranh Nga Nhật (1904 – 1905) Để chuẩn bị cho cuộc chiến tranh nhằm tranh giành thị trường, thuộc địa các nước đế quốc đã thành lập hai khối quân sự đối lập: khối liên minh gồm Đức Áo – Hung (1882) và khối Hiệp Ước của Anh, Pháp và Nga (1907). Cả hai khối đều tích cực chạy đua vũ trang, nhằm tranh nhau làm bá chủ thế giới.Câu 7: Diễn biến của chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918): Giai đoạn thứ nhất: (1914 – 1916)+ Sau sự kiện thái tử Áo – Hung bị một người Xéc – bi ám sát ( ngày 2861914), từ ngày 1 đến ngày 38 Đức tuyên ciến với Nga và Pháp. Ngày 48 Anh tuyên chiến với Đức. chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ.+ Giai đoạn này, Đức tập trung lực lượng đánh phía Tây nhằm nhanh chóng thôn tính nước Pháp. Song nhờ có Nga tấn công quân Đức ở phía đông, nên nước Pháp được cứu nguy. Từ 1916, chiến tranh chuyển sang thế cầm cự đối với cả hai phe.+ Chiến tranh bùng nổ, cả hai phe đều lôi kéo nhiều nước tham gia và sử dụng nhiều loại vũ khí hiện đại, đã giết hại và làm bị thương hàng triệu người.Giai đoạn thứ hai: (1917 – 1918)+ Tháng 21917, Cách mạng tháng hai diễn ra ở Nga, buộc Mĩ phải sớm nhảy vào tham chiến và đứng về phe Hiệp ước 41917, vì thế phe Liên Minh liên tiếp bị thất bại. Từ cuối năm 1917, phe Hiệp Ước liên tiếp mở các cuộc tấn công làm cho đồng minh của Đức lần lượt đầu hàng.+ Ngày 11111918, Đức đầu hàng đồng minh vô điều kiện. Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc với sự thất bại của phe Liên minh.Câu 8: Kết cục của chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918): Chiến tranh gây nên nhiều tai họa cho nhân loại: 10 triệu người chết, hơn 20 triệu người bị thương, nhiều thành phố, làng mạc, đường sá bị phân hủy…chi phí cho chiến tranh lên tới 85 tỉ đô la. Chiến tranh chỉ đem lại lợi ích cho các nước đế quốc thắng trận nhất là Mĩ. Bản đồ thế giới đã bị chia lại; Đức mất hết thuộc địa; Anh, Pháp và Mĩ được mở rộng thêm thuộc địa của mình.. Tuy nhiên, vào giai đoạn cuối của chiến tranh, phong trào cách mạng thế giới tiếp tục phát triển, đặc biệt là sự bùng nổ và thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga.Câu 9: Vì sao Trung Quốc bị các n¬ước đế quốc xâu xé: Trung Quốc là quốc gia rộng lớn, đông dân, có nhiều tài nguyên khoáng sản, sớm trở thành mục tiêu xâm lược của các nước đế quốc. Từ năm 1840 đến năm 1842 thực dân Anh đã tiến hành cuộc chiến tranh thuốc phiện, mở đầu quá trình xâm lược Trung Quốc , từng bước biến Trung Quốc từ một nước phong kiến độc lập thành nước nửa thuộc địa, nửa phong kiến. Sau chiến tranh thuốc phiện các nước đế quốc từng bước xâu xé Trung Quốc. Đến cuối thế kỉ XIX, Đức chiếm vùng Sơn Đông; Anh chiếm vùng châu thổ sông Dương Tử; Pháp chiếm vùng Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông; Nga, Nhật chiếm vùng Đông Bắc.Câu 10: Cách mạng Tân Hợi 1911. Về Tôn Trung Sơn và học thuyết Tam dân:Giai cấp tư sản Trung Quốc ra đời vào cuối thế kỉ XIX và đã lớn mạnh rất nhiều vào đầu thế kỉ XX. Do bị tư bản nước ngoài chèn ép giai cấp tư sản Trung Quốc đã bước lên vũ đài chính trị và thành lập các tổ chức riêng của mình. Tôn Trung Sơn cùng với các đồng chí của ông đã thành lập Trung Quốc đồng minh hội – chính đảng của giai cấp tư sản Trung Quốc, đề ra học thuyết Tam dân ( Dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc). Nhằm đánh đổ Mãn Thanh, khôi phục Trung Hoa, thành lập dân quốc. Nguyên nhân: Ngày 591911, chính quyền Mãn Thanh ra sắc lệnh Quốc hữu hóa đường sắt, thực chất là trao quyền kinh doanh đường sắt cho các nước đế quốc, bán rẻ quyền lợi dân tộc .Sự kiện này đã châm ngòi cho CM Tân Hợi. Diễn biến:+ Ngày 10101911, Cách Mạng Tân Hợi bùng nổ và giành thắng lợi ở Vũ Xương, sau đó lan sang tất cả các tỉnh Miền Nam và Miền Trung của Trung Quốc.+ Ngày 2921911, chính phủ lâm thời tuyên bố thành lập Trung Hoa dân Quốc và bầu Tôn Trung Sơn làm Tổng thống.+ Tôn Trung Sơn đã mắc sai lầm là thương lượng với Viên Thế Khải( quan đại thần của nhà Thanh), đồng ý nhường cho ông ta lên làm tổng thống (21912). Cách Mạng coi như chấm dứt.Ý nghĩa: + CM Tân Hợi là một cuộc Cm dân chủ tư sản, đã lật đổ chế độ phong kiến chuyên chế Mãn Thanh, thành lập Trung Hoa dân Quốc, tạo điều kiện cho nền kinh tế tư bản chủ nghĩa ở Trung Quốc phát triển.+ Cm Tân Hợi có ảnh hưởng đến phong trào giải phóng dân tộc ở Châu Á, trong đó có Việt nam.Hạn chế:+ Không nêu vấn đề đánh đuổi đế quốc, không tích cực chống phong kiến đến cùng ( thương lượng với Viên Thế Khải), không giải quyết được vấn đề ruộng đất cho nông dân. Câu 11: Vì sao Đông Nam Á trở thành đối tượng xâm lược của chủ nghĩa thực dân ? Đông Nam Á là một khu vực có vị trí địa lí quan trọng, giàu tài nguyên, chế độ phong kiến lại đang lâm vào khủng hoảng, suy yếu nên không tránh khỏi bị các nước phương Tây nhòm ngó, xâm lược. Từ nửa sau thế kỉ XIX, tư bản phương Tây đẩy mạnh xâm lược Đông Nam Á: Anh chiếm Mã Lai, Miến Điện; Pháp chiếm Việt Nam, Lào, Campu chia, Tây Ban Nha, Mĩ chiếm Philíppin; Hà Lan và Bồ Đào Nha chiếm Inđônêxia. Xiêm (nay là Thái Lan) là nước duy nhất ở Đông Nam Á vẫn còn giữ được độc lập nhưng cũng trở thành “vùng đệm” của tư bản Anh và Pháp.Câu 12: Trình bày phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của các nước ĐNA: Ngay từ khi thực dân phương Tây nổ súng xâm lược, nhân dân Đông Nam Á đã nổi dậy đấu tranh để bảo vệ Tổ Quốc. Tuy nhiên do thế lực đế quốc mạnh , chính quyền phong kiến nhiều nước lại không kiên quyết đánh giặc đến cùng nên bọn thực dân đã hoàn thành xâm lược áp dụng chính sách chia để trị để cai trị vơ vét của cải của nhân dân. Chính sách cai trị của chính quyền thực dân càng làm cho mâu thuẫn dân tộc ở các nước Đông Nam Á thêm gay gắt , hàng loạt phong trào đấu tranh nổ ra:+Ở Inđônêxia, từ cuối thế kỉ XIX, nhiều tổ chức yêu nước của trí thức tư sản tiến bộ ra đời. Năm 1905, các tổ chức công đoàn được thành lập và bắt đầu quá trình truyền bá chủ nghĩa Mác, chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng cộng sản (1920).+ Ở Philíppin cuộc cách mạng 1896 – 1898, do giai cấp tư sản lãnh đạo chống thực dân Tây Ban Nha giành thắng lợi, dẫn tới sự thành lập nước cộng hòa Philíppin, nhưng ngay sau đó lại bị đế quốc Mĩ thôn tính+ Ở Campuchia, có cuộc khởi nghĩa của Acha Xoa lãnh đạo ở Takeo (1863 – 1866), tiếp đó là khởi nghĩa của nhà sư Pucômbô (1866 – 1867), có liên kết với nhân dân Việt Nam gây cho Pháp nhiều khó khăn. + Ở Lào, năm 1901, Phacađuốc lãnh đạo nhân dân Xavanakhét tiến hành cuộc đấu tranh vũ trang. Cùng năm đó, cuộc khởi nghĩa ở Cao Nguyên Bôlôven bùng nổ, lan sang cả Việt Nam gây nhiều khó khăn cho Thực dân Pháp trong quá trình cai trị đến năm 1907 mới bị dập tắt.+ Ở Việt Nam: Sau triều đình Huế đầu hàng, phong trào Cần Vương bùng nổ quy tụ thành nhiều cuộc khởi nghĩa lớn (1885 – 1896). Phong trào nông dân Yên thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo kéo dài 30 năm (1884 – 1913) cũng gây nhiều khó khăn cho thực dân Pháp.Câu 13: Cuộc Duy Tân Minh Trị Đến giữa thế kỉ XIX, chế độ phong kiến Nhật Bản lâm vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng, trong khi đó các nước tư bản phương Tây, đi đầu là Mĩ ra sức tìm cách xâm nhập vào nước này. Đầu năm 1868, thiên hoàng Minh Trị đã tiến hành một loạt cải cách tiến bộ.+ Về chính trị: Xác lập quyền thống trị của tầng lớp quý tộc tư sản: ban hành Hiến Pháp năm 1889, thiết lập chế độ quân chủ lập hiến.+ Về kinh tế: Thống nhất thị trường, tiền tệ, phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa ở nông thôn, xây dựng cơ sở hạ tầng, đường sá, cầu cống…+ Về quân sự: Tổ chức và huấn luyện quân đội theo kiểu phương Tây; thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự, phát triển kinh tế quốc phòng.+ Về giáo dục: thi hành chính sách giáo dục bắt buộc, chú trọng nội dung khoa học – kĩ thuật, cử học sinh ưu tú du học Phương Tây. Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, Nhật Bản trở thành một nước tư bản công nghiệp.
Xem thêm

Đọc thêm

KIẾN TRÚC TIỀN HIỆN ĐẠI (1880 – THẾ KỈ XX) PHẦN 01

KIẾN TRÚC TIỀN HIỆN ĐẠI (1880 – THẾ KỈ XX) PHẦN 01

Chủ nghĩa tư bản nảy sinh trong lòng chế độ phong kiến từ rất sớm (thế kỉ XIV) Đầu thế kỉ XIX, do hội tụ đủ các điều kiện phát triển nên chủ nghĩa tư bản đã lớn mạnh Tây Âu và Bắc Mĩ, trở thành giai cấp thống trị xã hội và phát huy ảnh hưởng trên phạm vi thế giới Đến những năm 1880, chủ nghĩa tư bản đã tiến lên chủ nghĩa đế quốc với sự xuất hiện của hình thức tư bản độc quyền và quá trình xâm chiếm thuộc địa ở châu Á, Phi và Mĩ La Tinh

103 Đọc thêm

Cùng chủ đề