ĐẠI NAM NHẤT THỐNG CHÍ DOWNLOAD

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "ĐẠI NAM NHẤT THỐNG CHÍ DOWNLOAD":

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP XÂY LẮP TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH HÀ NỘI TT

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP XÂY LẮP TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH HÀ NỘI TT

một trường đại học tư thục đóng trên địa bàn Hà Nội. Việc thu hút và giữ chân nhữnggiáo viên có trình độ, kinh nghiệm là một công việc quan trọng với Nhà trường. Tuy Nhàtrường đã quan tâm và có các chính sách tạo động lực cho giảng viên, nhưng hiệu quảcủa chính sách đó đến đâu là một vấn đề quan tâm của Hội đồng quản trị nhà trường. Từnhững lý do đó, luận văn của tác giả tiếp tục tiến hành nghiên cứu về công tác tạo độnglực lao động với mong muốn khắc phục những hạn chế đó để hoàn chỉnh vấn đề nghiêncứu và tìm ra giải pháp có thể vận dụng vào thực tiễn tại Trường Đại học Đại Nam.2. Hệ thống hóa được cơ sở lý luận về động lực làm việc và các biện pháp tạođộng lực làm việc làm cơ sở để phân tích thực trạngCó nhiều khái niệm khác nhau về động lực làm việc: động lực làm việc là nhữngnhân tố bên trong, kích thích con người làm việc, qua đó tạo ra năng suất hiệu quả cao.Khi có động lực lao động, người lao động sẽ nỗ lực, quyết tâm trong công việc, cố gắnghoàn thành mục tiêu của tổ chức qua đó thỏa mãn nhu cầu của người lao động. Một kháiniệm khác, động lực làm việc là tất cả những yếu tố tác động đến con người, thôi thúccon người làm việc. Một số tác giả định nghĩa động lực làm việc là sự khao khát và tựnguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt được các mụctiêu của tổ chức.Các yếu tố ảnh hưởng đến động lực lao động có thể chia thành ba nhóm yếu tố, đólà: Các yếu tố thuộc về người lao động và các yếu tố thuộc về tổ chức, nhóm yếu tố môitrường bên ngoài. Nhóm các yếu tố thuộc về người lao động như:Mục tiêu cá nhân, nhucầu của người lao động, các giá trị và thái độ, kỹ năng và kinh nghiệm làm việc. Nhómcác yếu tố thuộc về tổ chức như: Công việc của tổ chức, điều kiện làm việc, môi trườngvà điều kiện làm việc, văn hóa tổ chức, phong cách lãnh đạo nhà quản trị, chính sáchquản trị nhân sự của tổ chức. Nhóm yếu tố thuộc về môi trường: văn hóa xã hội, chính trịpháp luật.Tạo động lực cho người lao động là tổng hợp các biện pháp quản trị nhằm kíchthích, tạo ra các động lực vật chất và tinh thần cho người lao động. Những công cụ này sẽcó những tác dụng khác nhau trong các hoàn cảnh, điều kiện. Các công cụ vật chất có tác
Xem thêm

10 Đọc thêm

THUYẾT MINH LĂNG KHẢI ĐỊNH MINH MẠNG

THUYẾT MINH LĂNG KHẢI ĐỊNH MINH MẠNG

- Thưa quý khách, con đầu của vua Gia Long là Hoàng tử Cảnh, mất sớm vào năm 1801.Triều đình có người đề nghị cho con của Hoàng tử Cảnh nối ngôi để giữ đúng dòng đích, nhưngGia Long không đồng ý. Năm 1815, Nguyễn Phúc Đảm được phong Hoàng Thái Tử và từ đó ởtrong điện Thanh Hòa để quen việc trị nước. Minh Mạng lên ngôi năm 1820. Ông là người sùngnho học và ghét phương Tây, đây là một lựa chọn để trừ hậu họa của vua Gia Long trong lúc mìnhít nhiều có mang ơn người phương Tây. Ông đã có những cải đổi lớn lao các định chế công quyền,hành chính, pháp luật, thuế khóa, đình điền, tu soạn sử sách địa lý và lập các cơ sở dưỡng tế. MinhMạng cũng đã cho thành lập quốc tử quán, ấn định học hiệu và thi cử, cải đổi cơ cấu triều đìnhthành Nội các và cơ mật viện, đổi trấn thành tỉnh và chia vị trí đất nước thành 31 tỉnh.- Kính thưa quý khách, Minh Mạng có tư chất thông minh, hiếu học, năng động và quyếtđoán. Từ khi lên ngôi, ông ra coi chầu rất sớm, xem xét mọi việc trong triều và tự tay "châu phê"rồi mới cho thi hành - Thuật ngữ "châu phê" bắt đầu có từ đây. Minh Mạng muốn quan lại các cấpphải có đức độ và năng lực, nên khi mới lên ngôi đã đặt ra lệ mà về sau khó ai thực hiện nổi. Quanlại ở Thành, Dinh, Trấn, văn từ Hiệp trấn, Cai bạ, Ký lục, Tham hiệp; võ từ Thống quản cơ đếnPhó vệ uý... ai được thăng điện; bổ nhiệm... đều cho đến kinh gặp vua trước khi nhậm chức để nhàvua hỏi han công việc, kiểm tra năng lực và khuyên bảo...- Kính thưa quý khách, Minh Mạng chủ trương mở mang thế lực rộng ra ngoài. Ông đổi tênnước Việt Nam thành Đại Nam và muốn nước mình trở thành một quốc gia hùng mạnh. Ông lậpcác phủ Trấn Ninh, Lạc Biên, Trấn Định, Trấn Man nhằm khống chế Ai Lao, và thực sự kiểm soátChân Lập, đổi Nam Vang ( tức Phnôm Pênh ngày nay) là Trấn Tây Thành. Quan lại Đại Nam đãđược cử sang các vùng đó làm quan cai trị, và tất nhiên đã gây nhiều bất bình với dân chúng khiếncho tình hình rối loạn cứ liên tiếp xảy ra.- Thưa quý khách, Minh Mạng đặc biệt chú ý thần phục nhà Thanh, nhận sự phong vươngcủa nhà Thanh. Còn đối với các nước phương Tây, ông không có thiện cảm. Năm 1832 tổng thốngMỹ đã đưa quốc thư sang xin đặt quan hệ, nhưng nhà vua cũng không tiếp. Chính sách thụ độngnhư vậy đã kìm hãm sự phát triển của Đại Nam. Ông cũng không có thiện cảm với Thiên chúagiáo, chủ trương phải cấm đạo để giữ gìn văn hóa và bản sắc truyền thống của nước nhà. Nhưngmột mặt, ông vẫn cho người đi các nước ở vùng biển Đông để thông thương, mua bán hàng hóa và
Xem thêm

Đọc thêm

Vẻ đẹp hình tượng người anh hùng áo vải Quang Trung qua hồi 14 Hoàng Lê Nhất Thống chí

VẺ ĐẸP HÌNH TƯỢNG NGƯỜI ANH HÙNG ÁO VẢI QUANG TRUNG QUA HỒI 14 HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ

Vẻ đẹp hình tượng người anh hùng áo vải Quang Trung qua hồi 14 Hoàng Lê nhất thống chí. Trong hồi 14 của tác phẩm hình tượng người anh hùng Quang Trung hiện lên thật cao đẹp khí phách hào hùng và tài cao hơn người. 1. Quang Trung là người con mạnh mẽ quyết đoán. Từ đầu đến cuối đoạn trích, Nguyễn Huệ là con người mạnh mẽ, xông xáo, nhanh gọn có chủ đích và quyết đoán. Nghe tin giặc chiếm đến thành Thăng Long mất cả một vùng đất rộng lớn mà ông không hề nao núng. Đích thân chinh cầm quân đi ngay. Chỉ trong vòng một tháng, Nguyễn Huệ đã làm được rất nhiều việc lớn: + “Tế cáo trời đất”. + “ lên ngôi Hoàng đế”. + Rồi đốc xuất đại binh ra Bắc. + Gặp gỡ người cống sĩ La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp. + Mở cuụoc duyệt binh lớn ở Nghệ An, phục vụ các tướng sĩ.
Xem thêm

5 Đọc thêm

ĐẠI NAM LIỆT TRUYỆNTẬP 4

ĐẠI NAM LIỆT TRUYỆNTẬP 4

ĐẠI NAM LIỆT TRUYỆNTập 4 : CHÍNH BIÊN - NHỊ TẬPBiên soạn : QUỐC SỬ QUÁN TRIỀU NGUYỄNNgười dịch : TRƯƠNG VĂN CHINH,NGUYỄN DANH CHIÊNNgười hiệu đính : CAO HUY GIU, PHAN ĐẠI DOÃNVIỆN SỬ HỌC VIỆT NAMNHÀ XUẤT BẢN THUẬN HÓA, HUẾ 2006Tái bản lần thứ haiQUYỂN 26TRUYỆN CÁC QUAN - MỤC XVINguyễn Quốc HoanĐào TríCao Hữu BằngNguyễn Đức HoạtVũ PhanTô TrânNgụy Khắc TuầnNgụy Khắc ĐảnHoàng Tế MỹTướng HiệpĐặng KhảiVũ Đức MẫnChuNgô Bỉnh Đức

574 Đọc thêm

CƠ SỞ VĂN HÓA BỘ MÔN KHOA HỌC XÃ HỘI KHÔNG BAO GIỜ TÔI CÓ THỂ PHAI NHẠT VỚI NHỮNG BUỔI HỌC SÂU SẮC TRÊN LỚP CÙNG VỚI NHỮNG TRAO ĐỔI TRUYỀN THỤ KINH NGHỆM KHÔNG THỂ THIẾU TRÊN TỪNG PHÚT

CƠ SỞ VĂN HÓA BỘ MÔN KHOA HỌC XÃ HỘI KHÔNG BAO GIỜ TÔI CÓ THỂ PHAI NHẠT VỚI NHỮNG BUỔI HỌC SÂU SẮC TRÊN LỚP CÙNG VỚI NHỮNG TRAO ĐỔI TRUYỀN THỤ KINH NGHỆM KHÔNG THỂ THIẾU TRÊN TỪNG PHÚT

Cơ sở văn hóa♥Đại Nam Văn HiếnCơ sở văn hóa bộ môn khoa học xã hội một bộ môn khá lý thú không thểphai nhạt trong tôi với những buổi học sâu sắc trên lớp cùng với những trao đổitruyền thụ kinh nghệm không thể thiếu trên từng phút , từng giờ và từng buổi họccủa thầy Nguyễn Quang Nam .Không những hiểu biết về sơ bộ trên từng trang giấymà trên cơ sở đó thầy cùng bộ môn còn tạo điều kiện cho học viên một buổi thamquan thực tế tại khu du lịch Đại Nam Văn Hiến khu du lịch thực tiễn nhất bổ íchnhất cho môn học này với nhưng nền văn hóa đa dạng với những công trình đicùng với thời gian. Tuy học tập trên lớp là một phần, nhưng trong học tập chúng taphải luôn biết kết hợp với thực tế nữa thì chất lượng môn học mới cao và các họcviên mới nhớ nhanh vào trong đầu nhưng kiến thức về văn hóa trong thực tế đờisống được.Cũng như những lần tham quan thực tế trước một niềm háo hức trong tôicũng như toàn thể các học viên trong lớp lại được nâng lên trên mỗi người khi xebắt đầu chạy cũng như những suy nghĩ về những điều cần biết trỗi dậy trong từngcon người những ý tưởng cho một Đại Nam thật khó có thể biết nổi những bànluận nói ra suy nghĩ của mình thế nào về một Đại Nam Văn Hiến?Và như những suy nghĩ đó một Đại Nam hiện ra trước mắt mỗi học viên mộtĐại Nam nguy nga tráng lệ khi xe vừa tới .Đầu tiên là dải tường thành bao bọcchung quanh quảng trường, hình ảnh cột cờ Cổ Loa có hình dáng của một đài sen,trụ cờ cao với hình Long Đầu Trượng - biểu tượng cho sự thanh cao và quyềnquý.Nơi đây hội tụ đầy đủ núi non, sông hồ tạo nên một quần thể thắng cảnh tuyệtđẹp. Cổng chính của đền được chạm trổ một cách công phu,Chánh điện là nơi thờ3 vị: Phật tổ, vua Hùng và Bác Hồ, phía bên trái là bàn thờ quốc mẫu Âu Cơ vàBách gia trăm họ, bên phải là khu vực thờ hai họ Huỳnh - Lê và Trần Nguyễn.Bước sâu thêm vào bên trong một kim điện theo như được biết và nhìnthấy thì Kim Điện được xây dựng theo mô típ vuông tròn. Mái vòm hình tròn biểu
Xem thêm

4 Đọc thêm

ĐẠI NAM LIỆT TRUYỆN TẬP 1

ĐẠI NAM LIỆT TRUYỆN TẬP 1

Tống ThịBùi Đăng TườngPHỤ CHÉP CÁC TRUYỆN NGHỊCH THẦN, GIAN THẦNHiệp, TrạchAnh, TrungHuệ và ThôngTrương Phước LoanLỜI NÓI ĐẦUĐại Nam liệt truyện là một bộ sách có quy mô khá đồ sộ trong kho tàng thư tịch cổviết bằng chữ Hán của Việt Nam, do cơ quan làm sử chính thức của nhà Nguyễn làQuốc sử quán biên soạn vào giữa thế kỷ XIX.Đại Nam liệt truyện gồm 87 cuốn, 2000 trang bản thảo, chia làm hai phần chính:Tiền biên và Chính biên, ghi chép tương đối đầy đủ về sự tích , công trạng các côngthần , liệt nữ, danh tăng... và gia phả nhà Nguyễn trước và sau khi "Gia Long lậpquốc". Bộ sách đã được các nhà dịch thuật nghiên cứu sắp xếp tại làm 4 tập:Tập 1 : Tiền biên: Từ cuốn đầu tiên cuốn 6.Tập 2: Chính biên (Sơ tập): Từ cuốn đầu đến cuốn 33.Tập 3: Chính biên (Nhị tập): Từ cuốn đầu đến cuốn 25.Tập 4: Chính biên (Nhị tập): Từ cuốn 26 đến cuốn 46.Trước đây, các nhà nghiên cứu cũng nhận thức rõ tầm quan trọng của Liệt truyệnnên một vài phần của bộ sách đã được dịch và xuất bản nhưng chỉ phục vụ trongphạm vi hẹp. Hiện nay việc lưu hành rộng rãi bản dịch toàn bộ Đại Nam liệt truyện làrất cần thiết. Do đó, Viện Sử học phối hợp với Nhà xuất bản Thuận Hóa đã cố gắng đểbộ sách quý này được xuất bản trọn vẹn một lần mong đáp ứng nhu cầu bạn đọc.Được kết quả này, Viện Sử học đã làm hết sức mình để giữ gìn và phát huy hơn 2000trang bản thảo trong những điều kiện rất hạn hẹp. Các nhà Hán học kỳ cựu đã làmviệc tại Viện Sử học như Hoa Bằng, Đỗ Mộng Khương, Ngô Hữu Tạo, Cao Huy Giu,
Xem thêm

221 Đọc thêm

DOC1

DOC1

Xe đơn vị đưa chúng tôi từ trường sỹ quan kỹ thuật quân sự đi Khu Du lịchLạc Cảnh Đại Nam Văn Hiến (tên đầy đủ, nhưng thường được gọi tắt là Khu dulịch Đại Nam, Bình Dương). Hành trình kéo dài khoảng 60 phút, vì toàn là bộ độinên chúng tôi ai nấy đều rất háo hức, được chứng kiến tận mắt tượng đài, kim điện.Cổng Kim Điện .Từ lối vào cổng ngoài cho đến bãi đậu, khu du lịch Đại Nam đã tạo cho tôi ấntượng tốt, đẹp và bề thế dù vẫn còn một vài nơi có vẻ vẫn còn đang tiếp tục đượchoàn thiện. Đoạn đường ngắn để vào bến xe trong khu du lịch này đi qua Kháchsạn Thành Đại Nam, thể hiện một lối kiến trúc cổ phương Đông, nhưng tôi khôngđủ sức nhận biết nó mang phong cách gì, Việt hay Tàu. Tiếc rằng vị trí ngồi của tôitrên xe không thuận tiện để chụp được cảnh đường đi vào này.Trong khu du lịch Đại Nam có ba nơi phải mua vé: Khu đền thờ (với kiến trúctrung tâm là Kim Điện), Biển Đại Nam và Khu vườn thú. Vé vào cửa mỗi nơi là 50ngàn đồng. Tôi mua một vé kiểu combo (vào cả ba nơi) hết 105 ngàn. Hơi "sang"một chút, nhưng nghĩ đã đến nơi thì ... ráng đi cho hết! Còn bốn nơi khác khôngphải mua vé, nhưng dĩ nhiên muốn sử dụng dịch vụ gì trong đó thì du khách sẽphải trả tiền riêng: Khu quảng trường, Khu trò chơi, Khu dã ngoại và Khách sạnThành Đại Nam.Ngay trước bến xe buýt trong khu du lịch Đại Nam du khách sẽ nhìn thấy một đàitháp cao và quần thể tượng Âu Cơ-Lạc Long Quân. Phòng bán vé vào cửa và lốivào chính tham quan khu du lịch ở đây. Đứng trước quần thể tượng du khách đã cóthể nghe tiếng hát rền vang của ca sĩ Tạ Minh Tâm qua ca khúc Kỳ đài Đại NamVăn Hiến (nhạc Kiều Tấn phổ thơ Huỳnh Uy Dũng - một cái tên mà du khách sẽ"phải" nghe nhắc mãi khi đến tham quan tại đây).Sau khi qua khâu xét vé, du khách có thể đi bộ tham quan hay leo lên xe lửa để điđến những điểm khác nhau. Nếu so với những khu vui chơi ở Mỹ như Disneyland
Xem thêm

8 Đọc thêm

LUẬN VĂN THỰC TRẠNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CỦA NHÂN VIÊN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN ĐẠI NAM

LUẬN VĂN THỰC TRẠNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CỦA NHÂN VIÊN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN ĐẠI NAM

Luận văn thực trạng và các giải pháp thúc đẩy động lực làm việc của nhân viên tại công ty cổ phần chứng khoán đại namLuận văn thực trạng và các giải pháp thúc đẩy động lực làm việc của nhân viên tại công ty cổ phầ DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ vii LỜI MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CỦA NHÂN VIÊN TRONG DOANH NGHIỆP 7 1.1. Bản chất và vai trò của động lực làm việc 7 1.1.1. Động lực và vấn đề tạo động lực cho người lao động 7 1.1.2. Vai trò của động lực làm việc 8 1.2. Một số mô hình nghiên cứu động lực làm việc cho người lao động 9 1.2.1. Thuyết nhu cầu của Maslow 11 1.2.2. Thuyết hai nhân tố của Frederic Herzberg 13 1.2.2.1 Các nhân tố duy trì: 15 1.2.2.2. Các nhân tố động viên 16 1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc 18 1.3.1. Các yếu tố thuộc về bản thân người lao động 18 1.3.2. Các yếu tố thuộc về công việc 19 1.3.3. Các yếu tố thuộc về tổ chức 20 1.3.4. Các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài 22 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CỦA NHÂN VIÊN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN ĐẠI NAM 23 2.1. Giới thiệu chung về Công ty cổ phần Chứng khoán Đại Nam 23 2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển Công ty cổ phần chứng khoán Đại Nam 23 2.1.2. Cơ cấu tổ chức DNSE 25 2.1.3. Thực trạng hoạt động kinh doanh tại DNSE 26 2.1.4. Cơ cấu lao động tại DNSE 28 2.1.5. Một số chính sách đối với người lao động 31 2.1.6. Tiền lương và công thức tính lương 32 2.2. Phân tích thực trạng động lực làm việc của nhân viên tại công ty 38 2.2.1. Giới thiệu về phương pháp khảo sát điều tra và phỏng vấn 38 2.2.1.1. Giới thiệu về phương pháp khảo sát điều tra 38 2.2.1.2. Giới thiệu về phương pháp phỏng vấn 38 2.2.2. Phân tích thực trạng động lực làm việc của nhân viên DNSE theo tháp nhu cầu của Maslow 39 2.2.3. Phân tích thực trạng động lực làm việc của nhân viên DNSE theo các yếu tố duy trì của Herzberg 41 2.2.3.1. Các chính sách và chế độ quản trị của công ty 42 2.2.3.2. Sự giám sát trong công việc 46 2.2.3.3. Tiền lương 47 2.2.3.4. Các quan hệ lãnh đạo, đồng nghiệp 50 2.2.3.5. Các điều kiện làm việc 51 2.2.4. Phân tích thực trạng động lực làm việc của nhân viên DNSE theo các yếu tố động viên của Herzberg 53 2.2.4.1. Sự thành đạt 55 2.2.4.2. Sự thừa nhận thành tích 56 2.2.4.3. Bản chất bên trong công việc 58 2.2.4.4. Trách nhiệm lao động 60 2.2.4.5. Sự thăng tiến 61 2.3. Đánh giá chung về động lực làm việc của nhân viên DNSE 63 2.3.1. Những yếu tố tạo động lực cho nhân viên 65 2.3.2. Những yếu tố không tạo động lực cho nhân viên 66 2.3.3. Nguyên nhân của những yếu tố không tạo động lực 67 CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NHÂN VIÊN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN ĐẠI NAM 70 3.1. Định hướng phát triển nguồn nhân lực công ty trong thời gian tới 70 3.1.1. Phương hướng phát triển của Công ty cổ phần Chứng khoán Đại Nam 70 3.1.2. Chiến lược phát triển nguồn nhân lực của công ty 70 3.2. Một số giải pháp nâng cao động lực làm việc cho nhân viên tại DNSE 71 3.2.1. Xây dựng chế độ lương, thưởng cạnh tranh, tương xứng với mức độ cống hiến của từng người 71 3.2.2. Xây dựng chương trình đào tạo, nâng cao trình độ nhân viên 73 3.2.3. Xây dựng các tiêu chí đánh giá kết quả công việc rõ ràng 74 3.2.4. Tạo cơ hội thăng tiến, phát triển nghề nghiệp cho nhân viên 76 3.2.5. Xây dựng văn hóa động viên, khuyến khích 77 3.3. Kiến nghị về điều kiện thực hiện các giải pháp nâng cao động lực làm việc cho nhân viên tại DNSE 78 3.3.1. Đối với công ty 78 3.3.2. Đối với nhân viên công ty 79 KẾT LUẬN 80 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81 PHỤ LỤC 82 TÓM TẮT LUẬN VĂN 97 n chứng khoán đại nam
Xem thêm

123 Đọc thêm

THÔNG báo dược đại nam 2016

THÔNG BÁO DƯỢC ĐẠI NAM 2016

THÔNG BÁO TUYỂN SINH ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG TỪ TRUNG CẤP, CAO ĐẲNG LÊN ĐẠI HỌC HỆ CHÍNH QUY Căn cứ vào thông tư số: 55 2012TTBGDĐT ngày 25 tháng 12 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc Quy định đào tạo liên thông trình độ cao đẳng, đại học; Căn cứ Công văn số 5835QĐ BGDĐT ngày 12122014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo gửi Trường Đại học Đại Nam thực hiện đào tạo liên thông trung cấp lên đại học hệ chính quy ngành Dược học; Trường Đại học Đại Nam thông báo tuyển sinh liên thông Trung cấp lên Đại học ngành Dược học hệ chính quy như sau: 1 Đối tượng tuyển sinh: Mọi công dân Việt Nam làm việc trong các thành phần kinh tế, các tổ chức xã hội, có đủ các điều kiện sau thì được tham gia dự tuyển: Có bằng tốt nghiệp Trung cấp ngành Dược học hệ chính quy Có đủ sức khỏe theo học, không mắc bệnh truyền nhiễm, tâm thần. Nộp hồ sơ tuyển sinh đúng quy định. 2 Thời gian đào tạo: TC 4.0 năm (8 kỳ) CĐ: 2.5 năm ( 5 kỳ) 3 Phương thức đào tạo: Chính quy 4 Hình thức tuyển sinh: Thi viết 3 môn o Môn cơ bản: Toán thống kê o Môn cơ sở ngành: Hóa phân tích o Môn chuyên ngành: Tích hợp các học phần (Quản lý Dược, Hóa Dược, Dược liệu, Bào chế) 5 Hồ sơ tuyển sinh gồm: 1. Phiếu đăng ký học Đại học 2. Hồ sơ tuyển sinh có dán ảnh (có đóng dấu xác nhận của địa phương hoặc cơ quan đang công tác) 3. Bản sao hợp lệ giấy chứng nhận ưu tiên (nếu có) 4. Bản sao hợp lệ bằng tốt nghiệp Trung cấp (có công chứng) 5. Bản sao bảng điểm cả khóa học Trung cấp (có công chứng) 6. Phong bì ghi địa chỉ có dán tem (03 cái) 7. 4 ảnh chân dung cỡ 4 x 6 cm (Trong thời hạn 6 tháng tính từ ngày chụp đến ngày nộp hồ sơ đăng ký dự thi) Tất cả các giấy tờ trên đựng trong phong bì “hồ sơ tuyển sinh” (mẫu phát hành của Bộ GDĐT). 6 Học phí: Học phí thu khi nhập học Thu theo quy định hiện hành của Trường Đại học Đại Nam. 7 Kế hoạch nhận hồ sơ, kế hoạch thi tuyển: Thời gian nhận hồ sơ đến hết ngày : 1503 2016 Dự kiến thời gian thi tuyển: 2627 03 2016 8. Địa điểm nhận hồ sơ dự thi: Trung tâm Đào tạo liên tục ngành Dược Phòng Đào tạo Trường Đại học Đại Nam Số 56 Vũ Trọng Phụng Thanh Xuân Hà Nội 70 Phố Giáp Nhất – Nhân Chính – Thanh Xuân – Hà Nội ĐT: 09458856090975598229 ( Ms: Thảo) HIỆU TRƯỞNG PGS.TS Phan Trọng Phức
Xem thêm

2 Đọc thêm

Hoàn thiện kế toán tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả tiêu thụ tại công ty CP SX và TM Đại Nam

HOÀN THIỆN KẾ TOÁN TIÊU THỤ THÀNH PHẨM VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ TIÊU THỤ TẠI CÔNG TY CP SX VÀ TM ĐẠI NAM

MỤC LỤC Trang Lời nói đầu.....................................................................................................5 Chương I: Cơ sở lý luận chung về kế toán tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ trong các doanh nghiệp sản xuất.................................................7 1.1. Những vấn đề chung về kế toán tiêu thụvà xác định kết quả tiêu thụ trong doanh nghiệp sản xuất...........................................................................7 1.1.1. Quá trình tiêu thụ thành phẩm và kết quả tiêu thụ.........................7 1.1.2. Yêu cầu quản lý tiêu thụ thành và kết quả tiêu..............................8 1.1.3. Vai trò, nhiệm vụ của kế toán tiêu thụ thành phẩm, kết quả tiêu thụ....................................................................................................................8 1.1.4.Các khái niệm cơ bản.....................................................................9 1.2. Tổ chức kế toán tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả................11 1.2.1. Các phương thức tiêu thụ thành phẩm và thanh toán.....................11 1.2.2. Kế toán tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả tiêu thụ...........16 1.2.3. Các hình thức áp dụng trong doanh nghiệp...................................36 Chương II: Thực trạng công tác kế toán tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả tiêu thụ tại công ty CPSX và TM Đại Nam..................................44 2.1. Đặc điểm, tình hình chung của công ty CPSX và TM Đại Nam.....44 2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty............................44 2.1.2. Đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh và tổ chức quản lý doanh nghiệp.............................................................................................45 2.1.3.C ơ cấu quản lý doanh nghiệp.......................................................46 2.1.4. Tình hình chung về công tác kế toán...........................................48 2.1.5.Kết quả kinh doanh của công ty năm 2009 – 2010......................53 2.2. Thực trạng tổ chức kế toán thành phẩm, tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả tiêu thụ ở công ty CPSX và TM Đại Nam ...............................54 2.2.1.Tình hình công tác quả lý thành phẩm, tiêu thụ thành phẩm.......54 2.2.2. Kế toán thành phẩm....................................................................56 2.2.3. Kế toán tiêu thụ thành phẩm........................................................66 2.2.4. Hạch toán kết quả tiêu thụ ..........................................................79 Chương 3: Một số đánh giá, nhận xét và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác kế toán tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả tiêu thụ tại công CPSX và TM Đại Nam................................................................................84 3.1. Nhận xét về công tác kế toán tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả tiêu thụ ở công ty CPSX và TM Đại Nam...............................................84 3.1.1.Đánh giá thuận lợi và khó khăn trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.................................................................................84 3.1.2. Những nhận xét về công tác kế toán tiêu thụ tại công ty............85 3.2 Một số ý kiến khuyến nghị nhằm hoàn thiện công tác kế toán tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả tiêu thụ ở công ty CPSX và TM Đại Nam..87 3.2.1. ý kiến thứ nhất ............................................................................87 3.2.2. ý kiến thứ hai...............................................................................88 3.2.3. ý kiến thứ ba...............................................................................89 3.2.4. ý kiến thứ tư................................................................................89 3.2.5. ý kiến thứ năm............................................................................90 3.2.6. ý kiến thứ sáu..............................................................................90 Kết luận ………………………………………………………………..92 Tài liệu tham khảo………………………………………………………...93
Xem thêm

91 Đọc thêm

ĐẠI NAM THỰC LỤC TẬP 9

ĐẠI NAM THỰC LỤC TẬP 9

Đặt lễ nhạc pháp độ ở dương thế, dủ Phước lại cho đời sau.Sai Sử quán chúng tôi trông coi, sửa sang các kỷ lục của tiền triều, kính chép từ năm Tự Đứcthứ 36 [1883] Quý Mùi, đến phần tháng 8 năm ất Dậu [1885], chia làm hai phần chính vàphụ : khởi làm từ năm Thành Thái thứ 9, Đinh Dậu [1897] đến năm thứ 14 Nhâm Dần[1902], trước sau gồm 6 năm, xong việc hiệu chính. Sửa chép thành biên. Dâng vào kho sử,nối theo sách liệt thánh mà vẻ vang. Truyền để lâu dài, sánh với sử nghìn thu mà chói sáng.Vì có điển chương phép tắc, dành để về sau ; và hay nối chí noi làm, mới xưng là hiếu.Chính trị rõ ràng, công lao trời đất, sử sách đầy đủ, nghĩa suất xưa nay.Bọn tôi chỉ làm nổi được một chức, đâu có trên đủ ba điều((1) Nhà sử có ba điều sở trường :một là tài cao, hai là học rộng, ba là kiến thức nhiều.1). Thẹn không làm sách như Lưu TửChinh((2) Lưu Hướng đời Hán (Trung Quốc).2), học đòi viết sử theo như Hàn Xương Lê((3)Hàn Dũ, người đời Đường.3). Cầm nắm điều chủ chốt, tìm tòi gọi góp chuyện xưa, tác thuậtấy thánh minh, quyết định ngược trông gương sáng. Dám đâu là công sức của mình, vângnhờ ở lệnh trên tỏ bảo.Cúi mong : Gắng theo lòng hiếu, vâng học lời xưa. Noi gương răn trước ngừa sau, tôn sưnghe noi theo sự biết. Tưởng tượng nhìn tranh, đọc sử, nối lấy chí theo lấy việc làm. Đứcsáng tỏ bày, nghiệp lớn đấy, cháu con cùng giữ nghiệp to vâng chịu, đức tốt thay, Phước lộccàng nhiều. Bọn tôi khôn xiết vui mừng, hết lòng mong đợi, kính cẩn đem bộ Thực lục Đệngũ kỷ 8 quyển và mục lục 1 quyển, cộng 9 quyển kèm theo tờ dâng lên.Ngày 28 tháng 7 năm Thành Thái thứ 14 [1902] :Thần : Cao Xuân Dục.Thần : Ngô Huệ Liên.Thần : Trần Sĩ Trác.chính biênĐệ ngũ kỷ (và phụ biên)Phàm lệ
Xem thêm

526 Đọc thêm

Cảm nhận của em về Quang Trung qua hồi 14" Hoàng Lê nhất thống chí

CẢM NHẬN CỦA EM VỀ QUANG TRUNG QUA HỒI 14" HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ

Đến với đoạn trích hồi 14 trong " Hoàng Lê nhất thống chí" của Ngô gia văn phái thuộc dòng họ Ngô Thì. Đoạn trích làm lộ rõ bản mặt của bọn xâm lược và bọn bán nước cầu vinh. Sự thất bại thảm hại của chúng đặc biệt làm nổi rõ tính cách của người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ khí thế quật khởi thần tốc đại phá quân Thanh của nghĩa quân Tây Sơn là hình tương người anh hùng tiếp nối lịch sử, tin vào lich sử chống giặc ngoại xâm cua dân tộc nhưng ngoài ra lai có tính cách riêng là người anh hùng có tấm lòng yêu nước nồng nàn có tinh thần nhân ái, thông minh tài chí tuyệt vời. Trước hết Nguyễn Huệ là người có tấm lòng nồng nàn yêu nước. Trước khi tiến quân ra Bắc ông đã truyền đi một lời dụ có khí thế như một bài hịch. Trong lời lệnh dụ này Nguyễn Huệ thể hiện rõ ý thức tự chủ dân tộc:" Trong khoảng vũ trụ đất nào sao ấy đều đã phân biệt rõ ràng, phương Nam, phương Bắc chia nhau mà cai trị." Lời lệnh dụ chính là sự tiếp nối tinh thần " Nam quốc sơn hà nam đế cư" từ thơ Lý Thường Kiệt tinh thần quyết chiên quyết thắng kẻ thù xâm lược và mang hòa khí " Hịch tướng sĩ" của Trần Quốc Tuấn:" Các ngươi là những kẻ có lương tri nương năng hãy cùng ta đồng tâm hiệp lực để dựng lên công lớn". Niềm tự hào dân tộc của vua Quang Trung lại âm vang lời tuyên bố hào hùng chủ quyền dân tộc của " Bình Ngô đại cáo".Rõ ràng lời dụ của Nguyễn Huệ mang tiếng nói của hồn thiêng sông núi. Nguyễn Huệ là người có tinh thần quả quyết chí thông minh sáng suốt, có tài cầm quyền . Ngay cả những người trong triều đình Lê, những người đối lập với phong trào Tây Sơn cũng phải thừa nhận Nguyễn Huệ là người anh hùng dũng mãnh có tài cầm quân. Thể hiện ở khả năng biết địch biết ra. Nguyễn Huệ đã hiểu được chiến lược của quân Thanh vì chiếm được thành Thăng Long nhanh chóng nên ắt sẽ chủ quan khinh địch đặc biệt la trong nhưng ngày Tết vì thế vua Quang Trung đã tiến hành cuộc hành quân thần tốc đánh một trận tiêu diệt 20 vạn quân Thanh. Ông không chỉ có tài phán đoán mà còn có tài điều binh khiển tướng. Ông biết tập chung vào các điểm then chốt trực tiếp chỉ huy các trận đánh chiến thuật. Vua Quang Trung rất linh hoạt, xuất quỷ nhập thần, lúc thì nghi binh thanh thế. Nguyễn Huệ là người có tầm nhìn chiến lược lúc xuất quân ông đã định trước ngày chiến thắng trở về:" Lần này ta ra thân hành cầm quân, phương lược tiến đánh đã có tính sẵn. Chẳng qua mươi ngày có thể đuổi được người Thanh." Đang đi đánh giặc mà lòng đã nghĩ tới mối quan hệ hai nước và đời sống nhân dân 2 dân tộc:" Nhưnng nghĩ chúng là nước lớn gấp 10 lần nước mình, sau khi thua trận ắt lấy làm thẹn mà lo báo thù. Như thế việc binh đao không bao giờ dứt, không phải phúc cho dân, nỡ nào làm như vậy. Quả thực hình ảnh vua Quang Trung oai phong lẫm liệt vào thành Thăng Long sớm trước 2 ngày và chiếc áo bào đỏ sạm đen khói súng. Vị vua đó đã trở thành niềm tự hào của con dân đất Việt.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Soạn bài hoàng lê nhất thống chí hồi thứ 14

SOẠN BÀI HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ HỒI THỨ 14

Soạn bài hoàng lê nhất thống chí I. Đọc – hiểu văn bản Câu 1. Bố cục 3 phần. Đoạn 1: từ đầu đến “năm Mậu Thân” – Được tin báo quân Thanh đã chiếm Thăng Long, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng Đế, thân chinh cầm quân dẹp giặc. Đoạn 2: tiếp đến “nỗi  kéo vào thành” – Cuộc hành quân thần tốc và chiến thắng lẫy lừng của vua Quang Trung. Đoạn 3: Còn lại – sự đại bại của quân Thanh và tình cảnh thảm hại của vua tôi Lê Chiêu Thống. Câu 2. Phân tích hình tượng người anh hùng Quang Trung. - Con người hành động mạnh mẽ, quyết đoán: từ đầu đến cuối đoạn trích, Nguyễn Huệ luôn là con người hành động một cách xông xáo, nhanh gọn, có chủ đích và rất quả quyết. Nghe tin giặc đã chiếm Thăng Long, mà không hề nao núng “định thân chinh cầm quân đi ngay”. Chỉ trong vòng một tháng, Nguyễn Huệ đã làm được bao nhiêu việc lớn: “tế cáo trời đất” lên ngôi Hoàng Đế, “đốc xuất đại binh” ra Bắc, gặp gỡ “người công sỉ ở huyện La Sơn”, tuyển mộ quân lính, mở cuộc duyệt binh lớn ở Nghệ An, phủ dụ tướng sĩ, định kế hoạch hành quan, đánh giặc, bàn kế đối phó với nhà Thanh sau chiến thắng. - Trí tuệ sáng suốt, sâu xa, nhảy bén. Sáng suốt trong việc phân tích tình hình thời cuộc và thế tương quan chiến lược giữa ta và địch. Lời phủ dụ quân lính ở Nghệ An như bài hịch ngắn gọn mà ý tứ sâu xa, phong phú, kích thích lòng yêu nước, tăng thêm tinh thần tự hào dân tộc cho quân sĩ. Ông cũng sáng suốt trong việc xét đoán và dùng người, thể hiện cách xử trí với các tướng sĩ tại Tam Điệp: Ông rất hiểu sở trường sở đoạn tướng sĩ, khen chê đều đúng người, đúng việc. - Ý chí quyết thắng và tầm nhìn xa trông rộng: mới khởi binh đánh giặc, chưa giành lại một tấc đất nào, vậy mà vua Quang Trung đã nói chắc như đinh đóng cột “phương lược tiến đánh đã có tính sẵn”, lại còn tính sẵn cả kế hoạch ngoại giao sau khi chiến thắng đối với một nước lớn, để có thể dẹp “việc binh đao”. - Tài dụng binh như thần: cuộc hành quân thần tốc do vua Quang Trung chỉ huy đến nay vẫn còn làm chúng ta kinh ngạc. Ngày 25/12 bắt đầu xuất phát ở Phú Xuân (Huế) ngày 29 đã đến Nghệ An, vượt qua khoảng 340 km núi đèo. Tại đâu vừa tuyển quân, tổ chức đội ngũ, vừa duyệt binh lớn, chỉ trong một ngày. Hôm sau tiến ra Tam Điệp (150 km). Vậy mà đến 30 tháng Chạp đã lập tức lên đường tiến quân ra Thăng Long. Mà tất cả đều là đi bộ. Hành quân xa như vậy, nhưng cờ nào đội ấy vẫn chỉnh tề, cũng do tài tổ chức của người cầm quân. Hơn một vạn quân mới tuyển đặt ở trung tâm, còn quân tinh nhuệ thì bao bọc ở bến doanh tiền, hậu, tá, hữu. - Hình ảnh lẫm liệt trong chiến trận: Hoàng đế Quang Trung thân chinh cầm quân: tự thống lĩnh một mũi tiến công, cưỡi voi đốc thúc, xông pha tên đạn… trong trận đánh đồn Ngọc Hồi (cảnh “khóa hỏa mù trời” nổi bật hình ảnh nhà vua “cưỡi voi đi đốc thúc” – Có cuốn sử đã ghi vào đến Thăng Long, tấm áo bào đỏ của vua đã xạm đen khói súng). Đoạn văn trần thuật này không chỉ nhằm ghi lại những sự kiện lịch sử diễn ra gấp gáp, khẩn trương mà còn chú ý miêu tả cụ thể từng hành động, lời nói của nhân vật chính. Qua đó, hình ảnh người anh hùng được khắc họa khá đậm nét, có tính cách quả cảm, mạnh mẽ, có trí tuệ sáng suốt, nhạy bén có tài dụng binh như thần, là linh hồn của chiến công vĩ đại. Các tác giả có thể viết thực và hay như vậy, về người anh hùng Nguyễn Huệ, vì quan điểm phản ánh hiện thực của họ là tôn trọng sự thực lịch sử. Dù có cảm tình với nhà Lê, song ý thức dân tộc ở những người trí thức này khiến họ vẫn không thể bỏ qua sự thực là nhà Lê hèn yếu đã cõng rắn cắn gà nhà và chiến công lẫy lừng của vua Quang Trung là niềm tự hào lớn của cả dân tộc. Câu 3. Đoạn trích cũng miêu tả rõ sự thảm bại của bọn quân tướng nhà Thanh, tiêu biểu là Tôn Sĩ Nghị. Y là một tên tướng bất tài, kiêu căng, tự mãn, chủ quan khinh địch. Khi quân Tây Sơn đánh đến nơi thì tướng “sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặt áo giáp chuồn trước qua cầu phao” quân thì “run rời sợ hãi, bỏ chạy tán loạn, xéo lên nhau mà chết”. “Quân sĩ các doanh – nghe tin hoảng hồn, tan tác bỏ chạy, tranh nhau qua cầu, xô đẩy nhau rơi xuống sông… nước sông Nhị Hà tắc nghẽn không chạy đượ nữa…”. Số phận của bọn vua tôi phản dân, hại nước cũng thảm hại không kém Lê Chiêu Thống và bề tôi trung thành của ông ta vì mưu lợi riêng của dòng họ mà đem vận mệnh cả dân tộc đặt vào tay kẻ thù xâm lược, lẽ tất nhiên, kết cục cũng phải chịu số phận bi thảm của kẻ vong quốc. Lê Chiêu Thống “Chạy bán sống bán chết, cướp cả thuyền dân qua sông, mấy ngày không ăn”. Đoạn văn miêu tả chân thực tình cảnh khốn quẫn của vua Lê Chiêu Thống, nhưng tác giả gửi gắm ở đó một chút cảm xúc ngậm ngùi của người bề tôi cũ.
Xem thêm

2 Đọc thêm

BÀI GIẢNG NGỮ VĂN LỚP 9 TIET 23 ,24 HOANG LE NHAT THONG CHI

BÀI GIẢNG NGỮ VĂN LỚP 9 TIET 23 ,24 HOANG LE NHAT THONG CHI

Tiết 23 + 24HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍHồi thứ mười bốnĐánh Ngọc Hồi, quân Thanh bị thua trậnBỏ Thăng Long, Chiêu Thống trốn ra ngoài.Ngô gia văn pháiTiết 23 + 24HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍHồi thứ mười bốnĐánh Ngọc Hồi, quân Thanh bị thua trậnBỏ Thăng Long, Chiêu Thống trốn ra ngoàiI. Tìm hiểu chung:Ngô gia văn phái1.Tác giả :- Nhóm tác giả thuộc dòng họ Ngô Thì ở làng Tả Thanh Oai, Hà Tây. Hai tác giảchính là Ngô Thì Chí (1753-1788) và Ngô Thì Du (1772-1840)2. Tác phẩm:- Trích hồi thứ 14 – Hoàng Lê nhất thống chí- Phương thức biểu đạt: Tự sự.+ Thể loại: Thể chí (Tiểu thuyết chương hồi)- Bố cục :- Phần 1: Từ đầu ..... ra Bắc: quân Tây Sơnchuẩn bị tiến công ra Bắc
Xem thêm

7 Đọc thêm

Soạn bài: Hoàng Lê Nhất Thống Chí

SOẠN BÀI: HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ

Hướng dẫn soạn văn, soạn bài, học tốt bài HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ (Hồi thứ mười bốn) Ngô gia văn phái   I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Hồi thứ mười bốn là một trong những phần hay nhất của tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí. Qua hồi này, tác giả đã dựng lên hình ảnh người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ và sự thất bại thảm hại tất yếu của bọn xâm lược và lũ vua quan phản nước, hại dân một cách chân thực, sinh động. Nội dung này được cụ thể bằng những ý chính trong ba đoạn sau: - Đoạn từ đầu đến “hôm ấy nhằm vào ngày 25 tháng chạp năm Mậu Thân (1788).”: Được tin báo quân Thanh đã chiếm Thăng Long, vua Lê thụ phong, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, tự mình đốc suất đại binh ra Bắc dẹp giặc. - Đoạn từ “Vua Quang Trung tự mình đốc suất đại binh” cho đến “vua Quang Trung tiến binh đến Thăng Long, rồi kéo vào thành…”: cuộc hành quân thần tốc và chiến thắng lẫy lừng của vua Quang Trung đối với quân Thanh. - Đoạn từ “Lại nói, Tôn Sĩ Nghị và vua Lê” cho đến hết: Thất bại thảm hại của quân Tôn Sĩ Nghị và sự thảm hại của vua tôi Lê Chiêu Thống. 2. Hình tượng Quang Trung - Nguyễn Huệ được xây dựng chân thực, sinh động với hành động, trí tuệ, tài điều binh khiển tướng, mưu lược… của một vị anh hùng dân tộc: - Hành động mạnh mẽ, quyết đoán: + tiếp được tin báo quân Thanh chiếm đóng Thăng Long, liền họp các tướng sĩ, định thân chinh cầm quân đi ngay; + lên ngôi hoàng đế, đốc suất đại binh ra Bắc dẹp giặc; + gặp Nguyễn Thiếp để hỏi cơ mưu; + tuyển mộ quân lính ở Nghệ An, duyệt binh, phủ dụ quân sĩ, lên kế hoạch tiến quân đánh giặc; - Trí tuệ sáng suốt, mẫn cán, điều binh khiển tướng tài tình: + Phân tích tình hình, quyết định tiến quân tiêu diệt giặc; + Lời lẽ sắc bén, chặt chẽ, kích thích được tinh thần tự tôn dân tộc của tướng sĩ: lời phủ dụ; + Vạch kế hoạch đánh giặc, sử dụng chiến lược, chiến thuật hợp lí, độc đáo (cách hành quân thần tốc, cách chống lại súng của giặc, chiến thuật nghi binh…); + Biết dùng người đúng sở trường, ở đoản, đối đãi công bằng. - Ý chí quyết chiến quyết thắng, tầm nhìn xa trông rộng: mạnh bạo, tự tin trong kế sách đánh giặc, tính toán trước sau chu toàn (trước khi đánh giặc đã tính đến cả đối sách với giặc sau khi chiến thắng)… Hình tượng vua Quang Trung đã được miêu tả với đầy đủ những phẩm chất của một vị anh hùng, mang vẻ đẹp oai phong lẫm liệt. Tác giả Ngô gia văn phái vốn trung thành với nhà Lê mà vẫn viết về vua Quang Trung đầy tinh thần ngợi ca như vậy là vì họ đứng trên tinh thần dân tộc mà phản ánh. Nhờ vậy, càng tạo ra cho tác phẩm sức thuyết phục, tính chân thực cao, chứng tỏ tinh thần tôn trọng sự thật lịch sử. Đây cũng là điểm đặc sắc của thể loại tiểu thuyết lịch sử. 3. Sự thảm bại của quân tướng nhà Thanh và số phận bi đát của vua tôi Lê Chiêu Thống phản nước, hại dân: - Quân tướng nhà Thanh: + Tôn Sĩ Nghị bất tài, không nắm được tình hình thực tế, kiêu căng tự mãn, trễ nải quân cơ: “chỉ chăm chú vào yến tiệc, vui mừng, không hề lo chi đến việc bất trắc; khi quân Tây Sơn đánh đến thì “sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp, dẫn bọn lính kị mã của mình chuồn trước qua cầu phao”… + Quân tướng hèn nhát, thảm bại: khi nghe tiếng quân Tây Sơn, quân Thanh ở trong đồn Hạ Hồi “ai nấy rụng rời sợ hãi, liền xin ra hàng”; ở đồn Ngọc Hồi quân thì “bỏ chạy toán loạn, giày xéo lên nhau mà chết”, tướng thì tự thắt cổ chết; thấy nghi binh thì “đều hết hồn hết vía, vội trốn”;  khi nghe tin Tôn Sĩ Nghị bỏ chạy “đều hoảng hồn, tan tác bỏ chạy, tranh nhau qua cầu sang sông, xô đẩy nhau rơi xuống mà chết rất nhiều. Lát sau cầu lại bị đứt, quân lính đều rơi xuống nước, đến nỗi nước sông Nhị Hà vì thế mà tắc nghẽn không chảy được nữa.”… - Vua tôi Lê Chiêu Thống: + Vì lợi ích của dòng họ, vị thế nhà Lê mà trở thành những kẻ phản động, cõng rắn cắn gà nhà, đi ngược lại quyền lợi của dân tộc; + Đớn hèn, nhục nhã trước quân Thanh; + Tháo chạy thục mạng, cướp cả thuyền của dân mà qua sông, khi đuổi kịp Tôn Sĩ Nghị thì “nhìn nhau than thở, oán giận chảy nước mắt”, rồi chấp nhận phận vong quốc, sau này phải cạo đầu tết tóc như người Mãn Thanh… 4. Về bút pháp của tác giả khi miêu tả hai cuộc tháo chạy (một của quân tướng nhà Thanh, một của vua tôi Lê Chiêu Thống): - Cảnh tháo chạy của quân tướng nhà Thanh được miêu tả dưới cái nhìn hả hê, mãn nguyện của người thắng trận trước sự thất bại thảm hại của kẻ thù cướp nước: âm hưởng nhanh, gợi tả sự tán loạn, tan tác… - Cảnh bỏ chạy của vua tôi Lê Chiêu Thống được miêu tả dài hơn, âm hưởng chậm hơn, toát lên vẻ chua xót, ngậm ngùi. Sở dĩ có sự khác biệt đó là vì: mặc dù tôn trọng tính khách quan trong phản ánh, song không thể chối bỏ được thái độ chủ quan khi quan sát, nhìn nhận; đối với quân tướng nhà Thanh, tác giả miêu tả với một tâm thế khác với khi miêu tả cuộc tháo chạy của vua tôi Lê Chiêu Thống - dẫu sao thì cũng là vương triều mình đã từng phụng thờ. II. RÈN LUYỆN KỸ NĂNG Văn bản này được trích từ Hồi 14 - tiểu thuyết chương hồi của Ngô gia văn phái - tái hiện lại những diễn biến quan trọng trong cuộc đại phá quân Thanh của vua Quang Trung - Nguyễn Huệ. Mặc dù là một tiểu thuyết lịch sử nhưng Hoàng Lê nhất thống chí (biểu hiện cụ thể ở đoạn trích này) không chỉ ghi chép lại các sự việc, sự kiện mà đã tái hiện khá sinh động hình ảnh của vị anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ, sự thảm bại của quân xâm lược cùng với số phận bi đát của đám vua tôi nhà Lê phản dân, hại nước. Khi đọc, chú ý giọng đối thoại và giọng của tiểu thuyết chương hồi.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Ngôn ngữ trào phúng trong Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái.

NGÔN NGỮ TRÀO PHÚNG TRONG HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ CỦA NGÔ GIA VĂN PHÁI.

1.Lý do chọn đề tài1.1.“Văn hóa cười” (thuật ngữ do Bakhtin đề xuất) là một phương diện cốt yếu của đời sống văn hóa tinh thần nhân loại. Nếu con người, như Aristote nói, là một động vật biết cười, thì người Việt đậm đặc phẩm chất người như thế. Cái cười làm bộc lộ một nét đặc sắc trong hệ thống tính cách người Việt. Cười ở đây không chỉ là tiếng cười cơ học, tiếng cười sảng khoái vì vui thú, mà còn là những tiếng cười mỉa mai, đả kích những cái xấu xa trong xã hội. Khi con người ta biết “cười” như vậy đồng nghĩa với việc ý thức dân chủ, nhận thức chính trị xã hội đã chín muồi, trưởng thành. Tiếng cười ấy không chỉ thấp thoáng trong văn học dân gian, trong khu rừng tiếu lâm, lan tỏa trong các câu đố tục giảng thanh hay đố thanh giảng tục, rồi tiếng cười trong các bài ca dao nói ngược, các chú bờm, chú hề làm nghiêng ngả sân chèo dưới những mái đình, mái làng, mà còn đậm nét trong văn xuôi trung đại, hình thành nên khuynh hướng trào phúng trong văn học.Nói như nhà nghiên cứu Đỗ Bình Trị: “ Với sự khủng hoảng và suy sụp của chế độ phong kiến, chủ yếu ở xã hội quan trường, trước hết là trong môi trường quý tộc quan liêu, có những người, những việc mâu thuẫn một cách nực cười với những khuôn vàng thước ngọc bất di bất dịch như quân thần, thần trung, phụ tử, tử hiếu… Mặt khác, cùng với sự phát triển của cuộc đấu tranh của nhân dân chống lại ách chuyên chế phong kiến, ý thức phản đối xã hội và lý trí con người tựa như dòng sông đóng băng bấy lâu, đột nhiên thức tỉnh, trào lên mãnh liệt. Giáo điều Nho giáo như là cơ sở của tư duy, như là bờ đê của mọi luồng tư tưởng bị rung chuyển, rạn vỡ. Tư tưởng phóng túng lan tràn, kích động hạt nổ của cái cười”.Từ những mâu thuẫn lố bịch trong xã hội phong kiến ấy đã nảy sinh biết bao tiếng cười, tiếng cười hả hê, tiếng cười đả kích, tiếng cười để vĩnh biệt và tiễn đưa cái xấu xa xuống mồ.1.2.Văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII nửa đầu thế kỉ XIX đã xuất hiện nhiều tác phẩm văn học phản ánh những vấn đề lịch sử, xã hội rộng lớn như Nam triều công nghiệp diễn chí của Nguyễn Khoa Chiêm, Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ, Tang thương ngẫu lục của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án... Trong đó Nam triều công nghiệp diễn chí là bức tranh về chiến cuộc Nam Bắc triều trong ngót hơn một trăm năm từ 1559 đến 1689. Trong Vũ Trung tuỳ bút,với cốt truyện đơn giản, kết cấu tự do, Phạm Đình Hổ đã ghi lại một cách tự nhiên,chân thực những điều “trái tai gai mắt” từ lối sống xa hoa, hưởng lạc của vua chúa, sự tham nhũng, lộng hành của đám quan lại thừa cơ đục nước béo cò, cho đến chế độ thi cử, hay những hiện thực trớ trêu trong cuộc sống của nhân dân trong nhữngnăm tháng cuối cùng của triều đình Lê Trịnh. Đặt bên cạnh những tác phẩm đó, “Hoàng Lê nhất thống chí” rất nổi bật. Thành tựu của nó vừa mang tính chất kết tinh, vừa mở ra nhiều ý nghĩa, vừa đánh dấu sự thay đổi quan niệm truyền thống của một nền văn học vốn đã coi trọng văn vần, coi nhẹ văn xuôi như Việt Nam.Tác phẩm là sự kết hợp tài tình giữa nghệ thuật tự sự sinh động ở một tác phẩm tiểu thuyết và tính chính xác của khoa học lịch sử ở một tác phẩm sử học. Có thể nói, trong văn học Việt Nam trung đại, chưa có tác phẩm văn xuôi nào có được vị trí quan trọng như Hoàng Lê nhất thống chí. Nó không chỉ phản ánh tư duy sáng tạo văn học của các nhà văn thời bấy giờ, mà cùng với việc phản ánh những sự kiện lịch sử quan trọng với hàng trăm nhân vật, Hoàng Lê nhất thống chí đã đạt tới trình độ của một tác phẩm sử thi. Không những thế, Hoàng Lê nhất thống chí còn khẳng định sự trưởng thành của văn xuôi trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam trung đại. Vì vậy, tiểu thuyết này đã nhận được sự quan tâm, đón đọc, nghiên cứu của nhiều học giả trong và ngoài nước. Đa số các ý kiến cho rằng tác phẩm có “sức cuốn hút kỳ lạ”.Một trong những giá trị làm nên sức cuốn hút đó là nghệ thuật trào phúng điêu luyện, góp phần tô đậm giá trị hiện thực của tác phẩm. Có thể nói trước Hoàng Lê nhất thống chí, trong văn học trung đại chỉ xuất hiện tiếng cười trào phúng chứ chưa xuất hiện khái niệm nghệ thuật, bút pháp trào phúng. Chỉ đến tác phẩm này, tiếng cười trào phúng mới thực sự rõ nét và có những biểu hiện phong phú, đa dạng, tạo tiền đề cho văn xuôi trào phúng sau này. Nhắc đến nghệ thuật trào phúng trong Hoàng Lê nhất thống chí, một phương diện không thể bỏ qua đó là ngôn ngữ. M.Gorki đã từng khẳng định: “ Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học”, có thể nói ngôn ngữ vừa là chất liệu, vừa là phương tiện biểu hiện mang tính đặc trưng của tác phẩm văn chương. Với văn học trào phúng nói chung và văn xuôi trào phúng nói riêng, ngôn ngữ trào phúng đã trở thành một công cụ đắc lực trong việc thể hiện tiếng cười với tất cả những cung bậc và sắc thái khác nhau.1.3. Tìm hiểu vềHoàng Lê nhất thống chí từ trước đến nay, các nhà nghiên cứu có nhiều hướng khác nhau nhưng phần lớn thường thiên về vấn đề văn bản, tác phẩm, hoặc so sánh đối chiếu với tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc…Có một số công trình, luận án đã đề cập, đi sâu tìm hiểu những vấn đề nghệ thuật của tác phẩm, về bút pháp trào phúng…nhưng vấn đề ngôn ngữ trào phúng chưa được đào sâu một cách hệ thống, với tư cách là một chỉnh thể, một đối tượng nghiên cứu. Vì vậy, việc tìm hiểu về “Ngôn ngữ trào phúng trong Hoàng Lê nhất thống chí” chẳng những giúp ta hiểu hơn về nghệ thuật trào phúng dưới ngòi bút tài hoa của các tác giả Ngô gia mà còn một lần nữa chứng minh, khẳng định giá trị văn học đặc sắc của cuốn tiểu thuyết “hội tụ tinh hoa văn xuôi tự sự Việt Nam” này.Hoàng Lê nhất thống chí còn là tác phẩm được chọn giảng trong chương trình THCS (lớp 9), việc tìm hiểu về ngôn ngữ trào phúng trong tiểu thuyết chương hồi này sẽ có ý nghĩa thiết thực cho quá trình giảng dạy văn học trung đại nói chung và văn xuôi tự sự nói riêng của giáo viên, đồng thời ít nhiều giúp học sinh nắm được nét độc đáo của tác phẩm. Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu Ngôn ngữ trào phúng trong Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái.
Xem thêm

93 Đọc thêm

GIỚI THIỆU TÁC GIẢ TÁC PHẨMHOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ

GIỚI THIỆU TÁC GIẢ TÁC PHẨMHOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ

Ngô gia văn Phái là một nhóm tác giả thuộc dòng họ Ngô Thì ở làng Tả Thanh Oai nay thuộc huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây. Trong đó hai tác giả chính là Ngô Thì Chí, Ngô Thì Du làm quan thời Lê Chiêu Thống... Ngô Thì Chí ( 1753 – 1788) là em ruột Ngô Thì Nhậm, làm quan dưới thời Lê Chiêu Thống. Ông tuyệt đối trung thành với nhà Lê, từng chạy theo Lê Chiêu Thống khi Nguyễn Huệ sai Vũ Văn Nhậm ra Bắc diệt Nguyễn dẹp loạn. Sau đó Lê Chiêu Thống cử ông đi Lạng Sơn chiêu tập kẻ lưu vong chống lại TS, nhưng trên đường đi bị mất ở Gia Định – Bác Ninh. Nhiều người nói ông viết 7 hồi đầu của tác phẩm
Xem thêm

2 Đọc thêm

Tóm tắt Hoàng Lê nhất thống chí hồi thứ 14

TÓM TẮT HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ HỒI THỨ 14

Tóm tắt tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí hồi thứ 14. Lê Chiêu Thống sợ uy danh của quân Tây Sơn, sang cầu cứu nhà Thanh. Quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị cầm đầu kéo quân vào Thăng Long. Ngô Văn Sở, tướng của Tây Sơn cho quân lui về núi Tam Điệp để bảo tồn lực lượng và cho quân cấp báo với Nguyễn Huệ. Thuận theo lòng tướng sĩ Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế lấy niên hiệu là Quang Trung sau đó tiến quân ra Nghệ An. Ở Nghệ An nhà vua lấy thêm quân mở cuộc duyệt binh lớn, huấn dụ quân sĩ ai nấy đều đồng sức đồng lòng rồi tiến quân ra Bắc. Đến núi Tam Điệp gặp hai tướng Lân, Sở, Ngô Thời Nhiệm bàn kết hoạch sau khi đánh xong quân Thanh, mở tiệc khao quân. Hẹn với tướng sĩ tối 30 lên đường, ngày 7 Tết tới Thăng Long. Giặc trấn thủ ở đó chưa đánh đã tan vỡ. Toán quân do thám bị bắt sống hết. Nửa đêm ngày mồng 3 Kỉ Dậu bắt đầu tấn công đồn Hạ Hồi quân giặc sợ hãi xin hàng. Sau đó tiếp tục dang thành chữ nhất tiến công đồn Ngọc Hồi, quân Thanh chống không nổi bỏ chạy tán loạn, rơi vào kế nghi binh của Tây Sơn, bị dồn xuống đầm vực, bị vui giày đạp chết hàng vạn người. Giữa trưa hôm ấy quân Tây Sơn kéo vào Thăng Long. Tôn Sĩ Nghĩ nghe tin sỡ hại không kịp mặc áo giáp chạy trốn. Vua Lê Chiêu Thống đem hoàn thân quốc thích rời bỏ kinh thành chạy theo quân Thanh đại bại.
Xem thêm

1 Đọc thêm

ĐẠI NAM

ĐẠI NAM

Nét đặc sắc thể hiện trên những công trình đồ sộ trong khu vui chơi giải trí với những trò cảm giác mạnh, trò chơikhám phá… lần đầu tiên xuất hiện ở VN. Để có được những giây phút khám phá kỳ thú cho du khách , các chuyêngia kỹ thuật nước ngoài đã phải bỏ nhiều công sức thi công lắp đặt, vận hành với tiêu chí đảm bảo an toàn cho chongười chơi được đặt lên hàng đầu. Một hình thái vô cùng hấp dẫn khác là quy mô vườn bách thú với trên 500 loài,trong đó có những loại thú hoang dã, quý hiếm đã có tên trong sách đỏ (Sư tử trắng, tê giác, cọp Đông Dương) đượcnuôi dưỡng trong môi trường sinh thái phù hợp. Vườn thú không chỉ là trực quan sinh động giáo dục ý thức gìn giữvà bảo tồn thiên nhiên của con người mà ở đó, khách du lịch còn được thưởng thức những pha biểu diễn độc đáo,ngộ nghĩnh của những xiếc thú được huấn luyện công phu, bài bản. Đến với Đại Nam, du khách như lạc vào một thếgiới du ngoạn, khám phá không kém phần gay cấn, hồi hộp nhưng vẫn đầy chất nhạc, chất thơ bởi những giá trịnguồn cội mang tính nhân bản sâu sắc.Dễ dàng nhận thấy nhiều loại hình du lịch: vui chơi, khám khá, nghỉ dưỡng, văn hoá, lịch sử… được thể hiện tronghệ thống dịch vụ của Đại Nam. Một khách sạn có chiều dài kỷ lục tới 13,5km với trên 300 phòng ngủ tiêu chuẩn 3sao kiến trúc theo kiểu tường thành sẵn sàng chờ đón du khách trong thời gian tới. Bên cạnh đó là không gian muasắm với một siêu thị lớn có tổng diện tích sàn trên 8.000m2 phục vụ nhu cầu mua sắm cho cả người tiêu dùng khuvực trung tâm tỉnh lị Bình Dương. Khu phố đi bộ, ẩn thực, mua sắm với những rạp chiếu phim 4D, rạp chiếu vòm…nhằm thoả mãn nhu cầu đa rạng của khách tham quan du lịch. Sau những giờ phút vui chơi thoả thích, các nhàthám hiểm có thể ngâm mình thư giãn trong biển Đại Đồng (diện tích 11,5ha), ở đó có những bể tạo sóng kép, khuvui chơi liên hợp, khu công viên nước, khu trượt cỏ… và nhiều hạng mục trò chơi nước kỳ thú.Không gian vui chơi có một không hai ở VN bắt đầu đưa vào khai thác sẽ góp phần tạo nên nét phong phú, đa dạngcho ngành du lịch VN. Đại Nam không chỉ tạo tiềm năng khai thác lượng khách du lịch khổng lồ trong nước mà còncó khả năng thu hút hàng vạn du khách quốc tế đến VN bởi những điểm nhấn trong quần thể Lạc Cảnh Đại NamVăn Hiến. Với khát vọng làm nên điều kỳ diệu cho du Việt Nam trong vương quốc Đại Việt thu nhỏ, ông Huỳnh PhiDũng- chủ nhân đích thực của công trình thế kỷ này đang ấp ủ kế hoạch làm dòng sông nhân tạo để đón đưa dukhách đến Đại Nam trên những chiếc du thuyền.
Xem thêm

4 Đọc thêm

Cùng chủ đề