ĐẦU TIÊN CỬA VÀO ĐOẠN 1 CAO SAU ĐO GIẢM CÒN ÁP SUẤT CỬA RA CAO NHIỆT ĐỘ HẠ THẤP XI LANH VA ĐẬP

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "ĐẦU TIÊN CỬA VÀO ĐOẠN 1 CAO SAU ĐO GIẢM CÒN ÁP SUẤT CỬA RA CAO NHIỆT ĐỘ HẠ THẤP XI LANH VA ĐẬP":

đồ án môn học tính toán động cơ

đồ án môn học tính toán động cơ

Nhiệt độ của môi trường cũng có ảnh hưởng đến chất lượng của quá trình trao đổi khí. T0 càng cao thì không khí càng loãng nên khối lượng riêng giảm. Giá trị của T0 thay đổi theo mùa và theo vùng khí hậu. Để tiện tính toán người ta lấy giá trị trung bình T0 cho cả năm. Giá trị trung bình T0 ở nước ta theo thống kê của nha khí tượng là 11Áp suất của môi trường p0: Giá trị của p0 phụ thuộc vào độ cao so với mực nước biển. Càng lên cao thì p0 càng giảm nên không khí càng loãng. Để tiện sử dụng trong tính toán người ta thường lấy giá trị của p0 ở độ cao của mức nước biển là: 12Hệ số nạp và áp suất cuối quá trình nạp pa: Hệ số nạp là tỷ số giữa lượng khí thực tế nạp vào xy lanh động cơ và lượng khí lý thuyết có thể nạp đầy vào xy lanh trong một hành trình của pít tông khi nhiệt độ, áp suất trong xy lanh bằng nhiệt độ và áp suất trước cửa nạp.Giá trị của vì khí nạp bị loãng do bị sấy nóng trên đường nạp vào xy lanh động cơ và do tổn thất thủy lực trong đường ống nạp.Khi tính toán, người ta có thể chọn trước giá trị của rồi tính giá trị của pa hoặc ngược lại. Ở đây ta chọn trước giá trị của hệ số nạp
Xem thêm

Đọc thêm

KHÁI QUÁT Về TRUYỀN ĐỘNG THUỶ LỰC.

KHÁI QUÁT Về TRUYỀN ĐỘNG THUỶ LỰC.

CHƯƠNG MỞ ĐẦU. Thủy lực là ngành khoa học về truyền lực và truyền chuyển động trong môI trường chất lỏng giới hạn.Đây chỉ là một phạm vi hẹp trong thuỷ lực , bởi vì thuỷ lực bao quát mọi nghiên cứu và ứng dụng chuyển động của chất lỏng từ hệ thống tưới tiêu đến các hệ thống thuỷ lực trong công nghiệp. Thuỷ lực đã được con người ứng dụng từ thời Hy Lạp cổ đại. Tên gọi hydraulics xuất phát từ tiếng Hy Lạp (hydrau có nghĩa là nước). Trước công nguyên nhà khoa học archimedes đã phát minh ra thiết bị dùng để bơm nước.Guồng nước archimedes gồm ống và vít xoắn quay để tảI nước , ngày nay vẫn được sử dụng trong hệ thôngs thoát nước ở Châu âu. Gàn với thừi kì của archimedes ,các chiến binh của thành Alexandra cũng chế tạ ra tua bin để khai thác nguồn năng lượng của chất lỏng chuyển động . Tuy nhiên , bánh xe nước hình thức của tua bin sơ khai có lã đã có từ 5000 năm trước ở Trung Hoa và Ai Cập. Vào thời kì phục hưng Leonảdo Da Vince đã có những sáng chế qun trọng về các máy móc hoạt động dựa trên dòng chảy , mặc dầu ông chưa có kháI niệm về áp suất .Hơn 1 năm sau, Evange Lýta Toricelli đã quan sát nguyên lí của khí áp kế thủy ngân và liên hệ với trọng lượng khí quyển. Dựa vào những khám phá của Toricelli, nhà khoa học người Pháp Blaise Pascal đã tìm ra nguyên lý đòn bẩy thuỷ lực, ngày nay được gọi là định luật Pascal. Từ định luật này ngành khoa học thuỷ lực đã phát triển trong vàI trăm năm..ứng dụng công nghiệp đầu tiên của thuỷ lực vào năm 1975,khi Toseph Bramah phát mimh ra máy ép thủy lực đầu tiên ,sử dụng nước làm môI chất thuỷ lực và áp dụng định luật Pascal để đạt được lực cơ học lớn.,được khuếch đạI nhiều lần. Ngày nay có hàng triệu các máy móc hoạt động bằng áp lực và với những thiết bị trước đây thuỷ lực được cia làm 2 loạI : Thuỷ lực động học và thủy lực tĩnh học..Thuỷ lực động học có thể gọi là khoa học của chấy lỏng chuyển động , thuỷ tĩnh học là khoa học dưới tác dụng của áp suất .Bánh xe nước hay tua bin (Hình 1) là thiết bị thuỷ động .Năng lượng được truyền đI nhừ tác động va đập của chất lỏng chuyển động vào các cách quạt làm quay bánh xe. Nói cách khác chúng ta sử dụng động năng kay năng lượng chuyển động của chất lỏng để chuyển đổi thành năng lượng cơ học.Trong thiết bị thuỷ tĩnh năng lượng được truyền đI bằng cách tác dụng lực lên chất lỏng giới hạn (Hình 2) .Chất lỏng phảI dịch chuyển và lưu động để tạo ra sự chuyển động ,nhưng sự chuyển động chỉ là thứ yếu với lực ở đầu ra. Sự chuyển đổi năng lượng được thực hiện do thể tích chất lỏng chịu tác động của áp suất . Hầu hết các máy móc thuỷ lực sử dụng ngày nay đều hoạt đọng bằng thuỷ tĩnh, tức là thông qua áp suất.Sụ nghiên cứu chúng về kỹ thuật chuyên môn quan tâm về thuỷ tĩnh học và thuỷ lực học về áp suất. I.Máy thuỷ lực. Máy thủ lực là các máy làm việc bằng trao đổi năng lượng với chất lỏng theo các nguyên lý thuỷ lực học nói riêng và cơ học chất lỏng nói chung. Như ta đã biết trong bất kỳ một dòng chất lỏng chuyển động nào cũng tiềm tàng một năng lượng nhất định. Tác dụng của máy thủy lực là trao đổi , nhận hay truyền năng lượng với dòng chảy chuyển động qua nó để kéo cáo máy làm việc hoặc vận chuyển chất lỏng.Ta có thể phân loại máy thuỷ lực như sau. Theo tính chất trao đổi năng lượng với chất lỏng máy thủy lực được chia thành 2 loại: Động cơ thủy lực:Là loại máy thuỷ lực tiếp thu năng lượng của dòng chất lỏng để kép các máy làm việc khác như (tua bin nước , xi lanh lực.....) Bơm: là loại máy thuỷ lực truyền cơ năng cho chất lỏng để tạo nên áp suất hoặc vận chuyển chất lỏng. Trong kỹ thuật có những máy làm việc thuận nghịch : vừa là động cơ vừa là bơm Theo nguyên lý tác dụng của máy thuỷ lực với dòng chất lỏng trong quá trình làm việc , người ta chia máy thuỷ lực thành nhiều loại khác nhau nhưng chủ yếu có 2 loại: Máy thuỷ lực cánh dẫn: Loại này việc trao đổi năng lượng giữa máy với chất lỏng được thực hiện bằng năng lượng thuỷ động của dòng chất lỏng chuyển động qua máy. Bộ phận chủ yếu của máy là bánh răng hoặc các bánh công tác, trên đó có gắn nhiều cánh dẫn để dẫn dòng. Năng lượng của dòng chất lỏng trao đổi với máy gồm 2 phần : động năng và áp năng .Hai thành phần này do năng lượng thuỷ động của dòng chả qua máy tạo nên , chúng có liên quan mật thiết với nhau. Máy cánh dẫn có tính năng kỹ thuật cao, phạm vi sử dụng rộng rãi. Máy thuỷ lực thể tích : Thực hiện sự trao đổi năng lượng với chất lỏng theo nguyên lý nén chất lỏng trong một thể tích kín dưới áp suất thuỷ tĩnh. Như vậy năng lượng trao đổi chủ yếu là áp năng còn động năng thường nhỏ có thể bỏ qua . Loại này có áp suất làm việc cao kích thước nhỏ gọn , được dùng nhiều trong các hệ thống truyền động. Ngoài ra còn có nhiều lọai máy thuỷ lực khác, làm việc theo những nguyên lý khác nhau như bơm phun tia , bơm nước.
Xem thêm

Đọc thêm

LAP CTHCHC THEO PHUONG PHAP KHOI LUONG

LAP CTHCHC THEO PHUONG PHAP KHOI LUONG

16 lít là N2 “Vì O2 bị hấp thụ bởi P dư” “Pứ P + O2 => P2O5” => VO2 dư = 16,5 – 16 = 0,5 lít16 lít N2 => V không khí = 16.5 / 4 = 20 lít “Vì N2 chiếm 4 /5 – do oxi chiếm 1/5”=> V O2 ban đầu = 4 lít => VO2 pứ = VO2 ban đầu – VO2 dư = 4 – 0,5 = 3,5 lít=> x + y/ 4 = VO2 pứ / VX = 3,5 = 2 + y/4 => y = 6 => C2H6 => AVí dụ 4: Đốt cháy hoàn toàn một hiđrocacbon trong 0,5 lít hỗn hợp của nó với CO2 bằng 2,5 lítO2 thu được 3,4 lít khí. Hỗn hợp này sau khi ngưng tụ hết hơi nước còn 1,8 lít, tiếp tục cho hỗnhợp khí còn lại qua dung dịch kiềm dư thì còn lại 0,5 lít khí. Các thể tích được đo ở cùng điềukiện nhiệt độ, áp suất. CTPT của hiđrocacbon là:A. C4H10.B. C3H8.C. C4H8.D. C3H6.Lời giảiHỗn hợp 3,4 lít khí gồm O2 dư “Có thể có” ; CO2”Tạo thành + dư” và H2O1,8 lít là CO2 và O2 dư vì H2O bị ngưng tụ => VH2O = 3,4 – 1,8 = 1,6 lít0,5 lít khí là O2dư vì CO2 bị kiềm dư hấp thụ => VCO2 sau pư = 1,8 – 0,5 = 1,3 lít=> V O2 pư = 2 lít “Chỉ có hidrocabon CxHy pứ với O2”Gọi a , b lần lượt là VCxHy và CO2 trước pứ a + b = 0,5 lít(1) (x +y/4) = VO2 pứ /VCxHy = 2 / a  a (x + y/4) = 2(2) “CT bài 66” VCO2 sau pứ = x. VCxHy + VCO2 trước pứ = xa + b = 1,3 lít(3) “BTNT C”
Xem thêm

7 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG KHÍ TƯỢNG ĐẠI CƯƠNG

ĐỀ CƯƠNG KHÍ TƯỢNG ĐẠI CƯƠNG

Câu 1: Cấu trúc thẳng đứng của khí quyển Căn cứ vào sự phân bố nhiệt độ theo phương thẳng đứng , chia khí quyển thành 5 tầng : tầng đối lưu , bình lưu , trung lưu , nhiệt quyển và tầng ngoại quyển • Tầng đối lưu Bề dày từ 0 – 9 km ở cực, 0 – 11 ở vĩ độ trung bình và 0 – 17 km ở vùng vĩ độ thấp Chiếm ¾ toàn bộ khối lượng khí quyển Nhiệt độ giảm theo độ cao với suất giảm khoảng 6 – 7oC1 km . Sự xáo trộn của không khí (theo chiều thẳng đứng ) và sự trao đổi nhiệt với bề mặt xảy ra đặc biệt rõ rệt, các hiện tượng thời tiết chủ yếu xảy ra ở đây • Tầng bình lưu : Bề dày 1150 km Nhiệt độ tăng theo độ cao hoặc gần như không đổi . Nhiệt độ thấp nhất của nó vào khoảng – 750C ở xích đạo và khoảng – 550C ở cực. Từ 35km trở lên, nhiệt độ tăng rất nhanh, tại đỉnh tầng hạn nhiệt độ xấp xỉ 00C • Tầng trung quyển : Bề dày 5080 km . Nhiệt độ tại tầng này giảm theo độ cao tại đỉnh tầng nhiệt độ chỉ khoảng 70oC (mùa hè ) và 50oC (mùa đông ) • Tầng nhiệt quyển : Bề dầy 80500 km Nhiệt độ tăng liên tục theo độ cao ( do các phân tử ôxy hấp thụ bức xạ cực tím của mặt trời ) . • Tầng ngoại quyển : Bề dày: 5003000 km Là nơi khí quyển tiếp giáp với các chất liên hành tinh nhiệt độ có thể lên tới 1500oK ít biển đổi theo độ cao Câu 2 : Càng lên cao nhiệt độ , hơi nước càng giảm: Theo chiều cao, nhiệt độ không khí biến đổi, ở những tầng khác nhau và trong những trường hợp khác nhau, nhiệt độ biến đổi khác nhau. Tính trung bình, nhiệt độ giảm đến độ cao 10 – 15km; sau đó tăng đến 50 – 60km, sau đó lại giảm. Càng lên cao thì không khí càng loãng, mật độ không khí giảm , áp suất giảm nên nhiệt độ giảm . Hơn nữa không khí hấp thụ bức xạ rất kém (do mật độ phân tử thấp), không khí ở gần mặt đất nóng hơn là do truyền nhiệt, bức xạ và cả phản xạ từ mặt đất . Hơi nước dần dần thâm nhập vào khí quyển từ phía dưới. Khi lan truyền lên cao, nó ngưng kết và tụ lại. Vì vậy, sức trương và mật độ hơi nước giảm theo chiều cao nhanh hơn sức trương và mật độ của các loại khí khác. Thêm vào đó, sức trương hơi nước giảm khi nhiệt độ giảm, mà càng lên cao nhiệt độ càng giảm . Vì vậy, lượng phần trăm của hơi nước chứa trong không khí cũng giảm theo chiều cao
Xem thêm

Đọc thêm

Soạn bài chiếc máy bơm

SOẠN BÀI CHIẾC MÁY BƠM

Câu 1. Nông dân tưới nước vất vả thế nào ?Câu 2. Ác-si-mét nghĩ ra cách gì để giúp nông dân ?Câu 3.Hãy tả lại chiếc máy bơm của ông ? Câu 1. Nông dân tưới nước vất vả thế nào ? Trả lời : Nông dân tưới nước cho ruộng nương rất vất vả. Họ phải múc nước sông vào ống, rồi vác lên tưới cho ruộng nương ở trên cao. Câu 2. Ác-si-mét nghĩ ra cách gì để giúp nông dân ? Trả lời : Ác-si-mét nghĩ cách chế tạo một cái máy bơm có thể đưa nước lên cao, giúp nông dân đỡ cực nhọc. Câu 3. Hãy tả lại chiếc máy bơm của ông ? Trả lời : Chiếc máy bơm của Ác-si-mét là một đường ống có 2 cửa : một cửa dẫn nước sông vào, một cửa dẫn nước chảy vào ruộng. Bên trong ống có trục xoắn. Bằng cách làm quay trục xoắn này, nước sẽ tự động chảy ngược từ thấp lên cao. Nội dung : Ca ngợi nhà bác học Ác-si-mét biết cảm thông với lao động vất vả của những người nông dân. Bằng óc sáng tạo và lao động cần cù, ông đã phát minh ra chiếc máy bơm đầu tiên của loài người.
Xem thêm

1 Đọc thêm

BÁO CÁO thực hành : TÌM HIỂU VỀ CÁC HỆ THỐNG LẠNH KTE1000BA, KTE2000EP, KTE5000LT, MÔ HÌNH KHO LẠNH

BÁO CÁO thực hành : TÌM HIỂU VỀ CÁC HỆ THỐNG LẠNH KTE1000BA, KTE2000EP, KTE5000LT, MÔ HÌNH KHO LẠNH

IV. Cách hiệu chỉnh thiết lập các thông số tác động bảo vệ áp suất thấp, áp suất cao của hệ thống 1. Thiết lập thông số tác động áp suất thấp Rơ – le áp suất trên hệ thống là dạng rơ – le áp suất kép, trong đó phía áp suất thấp nằm ở bên trái của rơ – le. Vít điều chỉnh thông số áp suất đặt Vít điều chỉnh thông số áp suất vi sai Thanh che áp suất đặt Thanh che áp suất vi sai Vì hệ thống hoạt động bình thường ở áp suất 3,6kgcm2,ta thiết lập áp suất để hệ thống dừng máy là 1kgcm2 Khi đó ta thiết lập các thông số trên rơ – le áp suất thấp như sau: Dùng tuốc nơ vít loại 4 cạnh hoặc 2 cạnh vặn vít điều chỉnh áp suất đặt trên đầu của rơle áp suất đến vị trí 1.5 trên thang đo Sau đó ta tiếp tục dùng tuốc nơ vít vặn vít điều chỉnh áp suất vi sai đến vị trí 0.5 kgcm2. 2. Thiết lập thông số áp suất cao: Rơ – le áp suất trên hệ thống là loại rơ – le áp suất kép trong đó phía áp cao nằm ở phía bên phải của rơ le. Trên rơ le áp suất cao bao gồm các thành phần như sau: Vít điều chỉnh thông số áp suất đặt Thanh chia áp suất đặt Nút ấn reset Do rơ le áp suất cao không phải là dạng tự phục hồi nên có thêm nút ấn reset Vì hệ thống hoạt động bình thường ở áp suất 18.4 kgcm2, nên để đảm bảo an toàn cho hệ thống ta thiết lập áp suất cao dừng máy là 19 kgcm2 Cách hiệu chỉnh: Dùng tuốc nơ vit vặn vít điều chỉnh áp suất đặt đến vị trí 19 kgcm2 trên thang đo
Xem thêm

Đọc thêm

Báo cáo Đồ An Môn HọcCông Nghệ Chế Tạo Máy: xi lanh bơm cao áp

Báo cáo Đồ An Môn HọcCông Nghệ Chế Tạo Máy: xi lanh bơm cao áp

1.Phân tích tính công nghệ trong kết cấu của chi tiết: Chi tiêt dạng bạc được chế tạo từ phôi thép thanh. Về tính công nghệ khi gia công cơ thì chi tiết có nhược điểm: + Rãnh R7 rất khó gia công đạt độ chích xác vị trí đã yêu cầu. + Do mặt lỗ 8 yêu cầu không có vết xước nên mặt lỗ này phải qua rất nhiều bước gia công tinh để đạt được yêu cầu. + Các bề mặt còn lại thì không có yêu cầu gì khi gia công để đạt được độ bóng và độ chính xác . Nhìn chung chi tiết xi lanh bơm cao áp có tính công nghệ trong điều sản xuất hàng loạt. 2.Phân tích chức năng và điều kiện làm việc của chi tiết: Dựa vào bản vẽ chi tiết ta thấy đây là chi tiết dạng bạc Chức năng của xi lanh bơm cao áp:Tạo ra dầu có áp suất cao Điều kiện làm việc:Chi tiết làm việc trong điều kiện có áp suất cao. 3.Xác định dạng sản xuất: Sản lượng hàng năm: N = 5000(chi tiết) Trọng lượng của chi tiết được xác định theo công thức sau đây: Q1= V. (kG) Trong đó: V:Thể tích của chi tiết V = .92.13 .72.27,5 .42.40,5 = .1053 .1323 .648 = 5505,64 (mm3) : Trọng lượng riêng của vật liệu 7,852 (kGdm3) Q1 = 5505,64.106 .7,852 = 0,04 (kG) Vậy dạng sản xuất : Hàng loạt vừa 4.Chọn phương pháp chế tạo phôi: Ta thấy Lỗ < 20 mm nên ta chọn dùng phôi thép thanh tiết diện tròn 5.Thứ tự các nguyên công: a.Tiến trình công nghệ: Nguyên công 1:Phay 2 mặt đầu Nguyên công 2:Tiện ngoài + Vát mép + Tiện vai Nguyên công 3:Tiện ngoài 18 +Vát mép Nguyên công 4:Khoan – Khoét – Doa –Vát – Vát mép lỗ 8 Nguyên công 5:Vát mép Nguyên công 6: Khoan lỗ 3 +Khoét lỗ côn 60 Nguyên công 7: Phay rãnh Nguyên công 8:Nhiệt luyện Nguyên công 9: Nghiền lỗ Nguyên công 10: Kiểm tra
Xem thêm

Đọc thêm

BÀI GIẢNG TUABIN TÀU THỦY NĂM 2016

BÀI GIẢNG TUABIN TÀU THỦY NĂM 2016

CHƯƠNG 2. CÁC HỆ THỐNG PHỤC VỤ TUA BIN HƠI TÀU THỦY2.1. Hệ thống bôi trơn tua bin2.1.1. Yêu cầu về dầu nhờn cho tua binSự công tác tin cậy của hệ thống dầu nhờn và các chi tiết được bôi trơn chỉ có đượckhi sử dụng dầu nhờn có chất lượng phù hợp. Việc lựa chọn mác dầu bôi trơn phù hợp cómột ý nghĩa lớn nên kiểu loại dầu tua bin ngày càng phong phú.Chức năng cơ bản của dầu nhờn tua bin:- Giảm ma sát cho các ổ đỡ.- Giảm mài mòn và ngăn ngừa xước các bề mặt ma sát.- Làm mát các vị trí bôi trơn.- Chống ăn mòn hóa học các bề mặt ma sát.Các chức năng trên xác định các yêu cầu cơ bản đối với dầu nhờn như sau:* Độ nhớt của dầu nhờn: Phải có độ nhớt thích hợp và đặc tính nhớt nhiệt thoải để tạothành lớp dầu bôi trơn đủ tin cậy, đảm bảo cho ổ trục làm việc ma sát ướt tương ứng ở chếđộ tải trọng và tốc độ xác định cần phải chọn đúng độ nhớt của dầu bôi trơn. Khi đó sẽđảm bảo được màng dầu trên các ổ đỡ ở các chế độ công tác. Tuy nhiên khó có thể tránhđược ma sát nửa khô trong các ổ đỡ tua bin, vì rằng sự hình thành màng dầu ở các chế độkhởi động, dừng và đảo chiều rất khó khăn.- Độ ổn định cao: Có khả năng chống lại được ô xi hóa trong không khí ở nhiệt độcao. Khi hâm nóng dầu tới nhiệt độ công tác 60 ÷ 800C khi có không khí, độ a xít của dầukhông được tăng quá rõ và lúc đó vẫn chưa chia tách các hạt bẩn ra khỏi dầu. Thử chấtlượng này bằng thí nghiệm.- Có khả năng khử nhũ tương cao: tức là nhanh chóng loại trừ (chia tách) nước khinước rơi vào hệ thống dầu nhờn.- Độ a xít và độ tro ban đầu thấp.- Không có các tạp chất cơ khí.Khi khia thác bình thường, việc thay dầu trong hệ thống phải phù hợp theo điều kiệnkhai thác thực tế và các qui tắc khai thác. Ngoài ra cần phải thay dầu nhờn khi:
Xem thêm

91 Đọc thêm

Lý thuyết sự chuyển thể của các chất

LÝ THUYẾT SỰ CHUYỂN THỂ CỦA CÁC CHẤT

I. Sự nóng chảy I. Sự nóng chảy Quá trình chuyển từ thể rắn sang thể lỏng của các chất gọi là sự nóng chảy. Quá trình chuyển ngược lại từ thể lỏng sang thể rắn của các chất gọi là sự đông đặc. Mỗi chất rắn kết tinh nóng chảy (hoặc đông đặc) ở một nhiệt độ xác định không đổi ứng với áp suất bên ngoài xác định. o chất rắn vô định hình không có nhiệt độ nóng chảy xác định. II. Nhiệt nóng chảy Nhiệt lượng Q cung cấp cho chất rắn trong quá trình nóng chảy gọi là nhiệt nóng chảy:                   Q = λm trong đó m là khối lượng riêng của chất rắn, λ là nhiệt nóng chảy riêng của chất rắn và đo bằng J/kg. II. Sự bay hơi Quá trình chuyển từ thể lỏng sang thể khí (hơi) ở bề mặt chất lỏng gọi là sự bay hơi. Quá trình chuyển ngược lại từ thể khí sang thể lỏng gọi là sự ngưng tụ. Sự bay hơi xảy ra ở nhiệt độ bất kì và luôn kèm theo sự ngưng tụ. Khi tốc độ bay hơi luôn lớn hơn tốc độ ngưng tụ, áp suất hơi tăng dần và hơi ở phía trên bề mặt chất lỏng là hơi khô. Hơi khô tuân theo định luật Bôi-lơ-Ma-ri-ốt. Khi tốc độ bay hơi bằng tốc độ ngưng tụ,hơi ở phía trên bề mặt chất lỏng là hơi bão hòa có áp suất đạt giá trị cực đại gọi là áp suất hơi bão hòa. Áp suất hơi bão hòa không phụ thuộc vào thể tích và không tuân theo định luật Bôi-lơ-Ma-ri-ốt,  nó chỉ phụ thuộc vào bản chất và nhiệt độ của chất lỏng. IV. Sự sôi Quá trình chuyển từ thể lỏng sang thể khí (hơi) xảy ra ở bên trong và bên trên bề mặt chất lỏng gọi là sự sôi. Mỗi chất lỏng sôi ở nhiệt độ xác định và không đổi. Nhiệt độ sôi của chất lỏng phụ thuộc vào áp suất chất khí ở phía trên bề mặt chất lỏng. Áp suất chất khí càng lớn, nhiệt độ sôi của chất lỏng càng cao. Nhiệt lượng Q cung cấp cho khối chất lỏng trong khi sôi gọi là nhiệt hóa hơi của khối chất lỏng, nhiệt độ sôi:                  Q = Lm trong đó m là khối lượng của phần chất lỏng biến thành hơi, L là nhiệt hóa hơi riêng của chất lỏng và đo bằng J/kg.
Xem thêm

2 Đọc thêm

ĐỀ TÀI: Hệ thống đo và điều khiển lưu lượng chất lưu

ĐỀ TÀI: HỆ THỐNG ĐO VÀ ĐIỀU KHIỂN LƯU LƯỢNG CHẤT LƯU

: Giới hạn điều kiện:Chất cần bơm là nước (điều kiện thường)Ống là kim loại cứng, đường kính trong 18cmDải đo lưu lượng (01500 lítgiờ)Bể chứa cao 2mThông số cần giám sát là lưu lượng nước chảy qua ống và mức nước trong bể chứaĐối tượng điều khiển Bơm và VanSai số yêu cầu 2%Yêu cầu:Trình bày tổng quan về phương pháp đo lưu lượng chất lưu?Mô tả nguyên lý vận hành hệ thống?Liệt kê các cảm biến có trong hệ thốngCác phương án lựa chọn cảm biến cho hệ thống?Trình bày về loại cảm biến lựa chọn ? (Nguyên lý hoạt động, số lượng cảm biến)Thiết kế vị trí lắp đặt, cảm biến và tính toán, xử lý, đo tín hiệu đầu ra của cảm biến để tác động đến các đối tượng điều khiển?Đánh giá về sai số của hệ thống (giớ hạn, nguyên nhân biện pháp khắc phục)LỜI CẢM ƠN Trên thực tế không có thành công nào mà không gắn liền với những sự hỗ trợ, sự giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác. Trong suốt thời gian học tập môn học Đo lường và cảm biến em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của các thầy cô bộ môn và đặc biệt là thầy Nguyễn Vũ Linh. Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin gửi đến quý thầy cô đã cho chúng em được tiếp cận với môn học mà theo em là rất hữu ích đối với sinh viên. Em xin chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Vũ Linh đã cùng với tri thức và tâm huyết của mình để truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho chúng em trong suốt thời gian học tập, cũng như những buổi nói chuyện, thảo luận. Nếu không có những lời hướng dẫn, dạy bảo của thầy thì em nghĩ đề tài này của em sẽ rất khó để hoàn thiện được. Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn thầy. Bài thu hoạch này được thực hiện trong khoảng thời gian khoảng ngắn. Bước đầu đi vào thực tế kiến thức của em còn hạn chế. Do vậy không thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của thầy để kiến thức của em trong lĩnh vực này được hoàn thiện hơn. Cuối cùng em xin chúc các thầy cô giảng dạy bộ môn Đo lường và cảm biến và đặc biệt là thầy Nguyễn Vũ Linh thật dồi dào sức khỏe, niềm tin để tiếp tục thực hiện sứ mệnh cao đẹp của mình là truyền đạt kiến thức cho thế hệ mai sau.Hà Nội, 062015Nhóm sinh viên thực hiệnNhóm 4CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP ĐO LƯU LƯỢNG CHẤT LƯU.Lưu lượng và đơn vị đoLưu lượng chất lưu là lượng chất lưu chảy qua tiết diện ngang của ống trong một đơn vị thời gian. Tuỳ theo đơn vị tính lượng chất lưu (theo thể tích hoặc khối lượng) người ta phân biệt: Lưu lượng thể tích (Q) tính bằng m3s, m3giờ ... Lưu lượng khối (G) tính bằng kgs, kggiờ ...Lưu lượng trung bình trong khoảng thời gian Δt = t2 t1 xác định bởi biểu thức:Q_tb= ∆V∆t hoặc Q_tb= ∆m∆t Trong đó ΔV, Δm là thể tích và khối lượng chất lưu chảy qua ống trong thời khoảng gian khảo sát.Lưu lượng tức thời xác định theo công thức:Q_ = dVdt hoặc Q_ = dmdt Để đo lưu lượng người ta dùng các lưu lượng kế. Tuỳ thuộc vào tính chất chất lưu, yêu cầu công nghệ, người ta sử dụng các lưu lượng kế khác nhau. Nguyên lý hoạt động của các lưu lượng kế dựa trên cơ sở: Đếm trực tiếp thể tích chất lưu chảy qua công tơ trong một khoảng thời gian xác định Δt. Đo vận tốc chất lưu chảy qua công tơ khi lưu lượng là hàm của vận tốc. Đo độ giảm áp qua tiết diện thu hẹp trên dòng chảy, lưu lượng là hàm phụ thuộc độ giảm áp.Tín hiệu đo biến đổi trực tiếp thành tín hiệu điện hoặc nhờ bộ chuyển đổi điện thích hợp.Các phương pháp đo lưu lượngPhương pháp đo lưu lượng bằng ống co.Phương pháp đo lun lượng bằng ống co dựa trên định luật liên tục và phương trình năng lượng của Bernoulli. Neu có một nơi nào đó trong một ống dẫn bị co lại, ở tất cả các vị trí khác lun lượng tính bằng thế tích và trọng khối đều bằng nhau. Với:A1: Diện tích trước vị trí coA2: Diện tích ở vị trí co.v1: Vận tốc trước vị trí co.v2: Vận tốc ở vị trí co.p1: Áp suất tĩnh trước vị trí co.p2: Áp suất tĩnh ở vị trí co.Phương trình liên tục:A1.v1.  = A2.v2.Phương trình Bernoulli: Ớ nơi diện tích ống bị thu nho lại, vận tóc dòng chảy ở đó phải gia tăng. Với phương trình năng lượng của Bernoulli, năng lượng của một dòng chảy gồm năng lượng (áp suất) tĩnh và động năng (vận tócc) là một hằng số. Khi vận tốc gia tăng áp suất tĩnh lập tức bị giảm đi. Sự giảm áp suất hay hiệu áp Ap là thước đo cho lưu lượng Q. p = p1 p2 = Phương trình trên được giải theo v2 và v1 được tính theo v2 với phương trình (1) ta có: Với tỷ lê m = và hằng số dòng chảy = Ta có thể viết phương trình trên dưới dạng: Suy ra Từ đó ta có lưu lượng tính theo thế tích và khối lượng như sau: Qv = A2.V2 = A2. Qm= A2.V2 .= A2. Như thế lưu lượng tỉ lệ với căn bậc hai của hiệu áp khi tỷ trịng là một hằng số. Ta có thể đo lưu lượng bằng ống co với cảm biến hiệu áp được ứng dụng rất rộng trong công nghiệp. Có 3 loại ống co định chuến tiêu biếu theo DIN 1952 là:BlendeỐng phunỐng phun VenturiTiêu chuấn đế lựa chon loại ổng co nào tùy thuộc vào môi trường đo, khả năng thiết kế, giá cả và sự hao hụt áp suất. Ớ ngõ ra của ống co có nhiều dòng xoáy làm tiêu hao năng lượng. Điều này làm cho ta không có được một áp suất tĩnh của dòng chảy trường hợp có không bị khuấy sau ống co. Sự hao hụt áp suất đo điều này cần phải giữ càng bé càng tốt.Hiệu chuấn tỷ trọng.Tỷ trọng của môi trường do ảnh hưởng đến phép đo lun lượng. Trong quá trình sản xuất, tỷ trọng của môi trường đo thường không là một hằng số và ta cần phải chú ý đến. Tỷ trọng của chất lỏng tùy thuộc vào nhiệt độ. Trường hợp này đế hiệu chuân sai số tỷ trọng đo nhiệt độ. Trong hơi nước bão hòa hai đại lượng áp suất và nhiệt độ làm thay đổi đường biếu diễn của hơi nước bão hòa. Cả hai có sự ảnh hưởng lẫn nhau, chỉ cần một đại lượng đủ đế hiệu chỉnh tỷ trọng. Trường hợp hơi nước bị nung thật nóng, tỷ trọng của nó phụ thuộc vào cả nhiệt độ và áp suất. Các đại lượng này cần phải được đo. Tỷ trọng định chuấn ở 0°c và áp suất khí quyến cần được xác định. Lưu lượng được tính theo tỷ trọng định chuẩn này.Sự chính xác của phép đo.Neu diện tích cắt ngang của dòng chảy và tỷ trọng của lun chất coi như cối định, trong phương trình:Q=α.k.√∆pCó hai yếu tố ảnh hưởng đến độ chính sác của phép đo đó là a và AP. Các thông số có thể ảnh hưởng đến trị số a là tỷ lệ điện tích, vị trí nơi đo áp suất Pi và p2, độ nhám của ống và sự mềm dẻo của lưu chất. Hiệu áp Ap tỷ lệ bình phương với lưu lượng. Khi lượng có 30% của thang đo, hiệu áp chỉ còn 9%. Hiệu áp càng thấp, sai số tương đối của càng lớn. Với hiệu áp 9% của thang đo ta có sai số tương đối lớn gấp 11 lần so với sai số ở cuối thang đo. Do đó khi thực hiện phép đo với lưu lượng thấp, sai số của phép đo tương đối lớn. Chỉ nên thực hiện việc đo lưu lượng bằng ống co từ 30% đến 100% của thang đo. Người ta có thế đo hiệu áp bằng các loại sensor bán dẫn. Ngoài ra các loại đo hiệu áp Ap theo cách cơ học cũng được dùng đến. + Cân hình vành khăn: Góc quay của cân là thước đo Ap. Phân nửa trống hình vành khăn được đố đầy nước, dầu hay thủy ngân tùy theo Ap và môi trường cần đo. Buồng phía trên chất lỏng được ngăn cách bởi một vách ngăn và có hai ống thông với Pi và p2. Dưới tác dụng của sự khác biệt về áp suất giữa Pi và p2 cân quay một góc cho đến khi có sự cân bằng với mômen của đối trọng. Đối trọng được treo bên cạnh 1 lá thép đàn hồi. Để cho việc đo và hiệu chỉnh lưu lượng của hai lưu chất cùng một lúc.Phương pháp đo lưu lượng bằng tần số dòng xoáy: Phương pháp này dựa trên hiệu ứng sự phát sinh dòng xoáy khi một vật cản nằm trong lun chất. Các dòng xoáy xuất hiện tuần tự và bị dòng chảy cuốn chôi đi. Hiện tượng này đã được Leonardo da Vinci ghi nhận và Strouhal trong năm 1878 đã cổ gắng giải thích lần đầu tiên, ông đã nhận thấy rằng một sợi dây nằm trong dòng chảy có sự dung động như một dây đờn. Sự dao động này tỷ lệ với vận tốc dòng chảy và tỷ lệ nghịch với đường kính sợi dây. Theo dor von Kàmàn đã tìm thấy nguyên nhân gây ra sự dao động này. Đó là sự sinh ra và biến mất cỷa các dòng xoáy bên cạnh vật cản. Một con đường dòng xoáy hình thành phía sau vật cản khi một vật cản được đặt trong một dòng chảy, phía sau nó các dòng xoáy không liên tục được tạo ra.Các dòng xoáy này rời bỏ vật cản tuần tự và trôi đi theo dòng chảy. Phía sau vật cản hình thành con đường của dòng xoáy được đặt tên là con đường dòng xoáy Kàrmàn. Các dòng xoáy ở hai cạnh bên của vật cản có chiều xoáy ngược nhau. Như thế với sự xuất hiện của dòng xoáy, năng lượng quay bị “chuyên chở đi mất”. Cuối cùng lực tác động vào vật cản được hình thành. Dựa dưới những điều kiện cần thiết một dao động phát sinh. Các dòng xoáy mạnh mẽ sinh ra rồi lại lần lượt biến mất theo dòng chảy. Tần số sự biến mất của sòng xoáy (và cả sự xuất hiện) là một hiệu ứng đế đo lưu lượng tính bằng thể tích.Lord Rayleigh đã tìm thấy sự liên hệ giữa kích thước nhình thành vật cản, vận tốc lưu chat V và tần số biến mất của dòng xoáy tần số dòng xoáy. Sự liên hệ này được diễn tả trong trị số Strouhal:
Xem thêm

32 Đọc thêm

Bài 13 trang 210 sgk Vật lý lớp 10

BÀI 13 TRANG 210 SGK VẬT LÝ LỚP 10

Ở trên núi cao người ta không thể luộc chín trứng trong nước sôi Ở trên núi cao người ta không thể luộc chín trứng trong nước sôi. Tại sao? Hướng dẫn giải: Ở trên núi cao áp suất nhỏ hơn áp suất chuẩn (1 atm) nên nước sôi ở nhiệt độ thấp hơn 100oC. Khi đó không thể luộc chín trứng được.

1 Đọc thêm

Thiết kế Hệ Thống Đều Khiển và Giám Sát Nhiệt Độ Lò

Thiết kế Hệ Thống Đều Khiển và Giám Sát Nhiệt Độ Lò

1.1Dựa vào hình vẽ công nghệ, phân tích yêu cầu và mô tả hoạt động.Yêu cầu: Đo nhiệt độ tại điểm đo T1 và T2với nhiệt độ ổn định làm việc tại 310ºC, do đó cần có hệ thống điều khiển được nhiệt độ chính xác và ổn định.Từ yêu cầu trên nhóm em đi xây dựng Hệ thống điều khiển và giám sát nhiệt độ lò bao gồm các thành phần:1. PC: Dùng lập trình, tạo giao diện, download chương trình cho PLC, hoạt động, điều khiển và giám sát sự hoạt động của cả hệ thống.2. PLC S7300: Điều khiển trực tiếp đối tượng.3. WINCC màn hình giao diện cho phép người sử dụng thiết lập thông số điều khiển đối tượng tại phân xưởng làm việc.4. Đối tượng điều khiển: Lò hơi Điều khiển sự hoạt động của đối tượng thông qua module điều khiển analog bao gồm việc xuất tín hiệu điều khiển và thu nhận tín hiệu phản hồi (module này được gắn trên bộ S7300).Trong lò có 2 cảm biến để đo nhiệt độ của lò :•T1: Điểm đo 1 có dải đo 0400 º C, điểm làm việc là 310ºC•T2: Điểm đo 2 có dải đo 0800 º CVà hệ thống đèn báo:•RUN : Đèn báo hệ thống đang làm việc•LA1: Đèn cảnh báo T1 nhiệt độ thấp ( nhỏ hơn 280ºC)•HA1: Đèn cảnh báo T1 nhiệt độ cao ( lớn hơn 340ºC)•HA2: Đèn cảnh báo T2 nhiệt độ cao ( lớn hơn 700ºC)Hoạt động của hệ thống: Hoạt động của hệ thống như sau: khi ấn START khởi động hệ thống, đèn báo hệ thống RUN sẽ sáng, van M mở cho hỗn hợp nhiên liệu vào lò đốt, khi đó đèn báo nhiệt độ thấp LA1 sẽ sáng cho tới khi nhiệt độ trong lò bằng hoặc lớn hơn 280 ºC . Hệ thống sẽ giám sát và điều khiển lò thông qua đóng mở van hỗn hợp nhiên liệu M để lò hoạt động ở nhiệt độ làm việc là 310 ºC. Khi nhiệt độ vượt quá điểm làm việc lớn hơn 340ºC , hệ thống sẽ đưa ra cảnh báo bằng đèn HA1và giảm tỉ lệ mở van . Điểm đo nhiệt độ hơi ra từ lò T2 sẽ cảnh báo khi nhiệt độ cao hơn 700ºC. Muốn dừng hệ thống ấn STOP . Tín hiệu đầu ra cảm biến đo nhiệt độ là tín hiệu tương tự sẽ được đưa và modul analog SM334 chuyển đổi tương tự số AD, tuân theo tín hiệu chuẩn công nghiệp. có hai loại chuẩn phổ biến là chuẩn điện áp và chuẩn dòng điện.•Điện áp 0 – 10V, 0 5V•Dòng điện 0 20mA, 4 20mA Truyền thông với thiết bị HMI ( WinCC, OPC ) để nhận tín hiệu điều khiển đồng thời truyền dữ liệu thu được hiển thị trên màn hình giám sát.
Xem thêm

Đọc thêm

TÀI LIÊU THỰC TẬP CHUYÊN MÔN KHOA CƠ KHÍ Ô TÔ

TÀI LIÊU THỰC TẬP CHUYÊN MÔN KHOA CƠ KHÍ Ô TÔ

BÁO CÁO THỰC TẬP CHUYÊN MÔNMở đầuTrong thời gian thực tập vừa qua, tôi đã hiểu rõ hơn phần lý thuyết được học tạitrường và các thao tác trong công việc tại xưởng sửa chữa.Đã nhận thấy côngviệc sữa chữa đòi hỏi phải có sự hiểu biết và trình độ cao mới hoàn thành tốtcông việc. Công việc đạt hiệu quả phụ thuộc nhiều vào trình độ tay nghề củatừng người sửa chữa, yêu cầu độ chính xác rất cao, thế nên, dù một chi tiết nhỏcũng đòi hỏi sự tập trung và chính xác trong công việc.Để hoàn thành bài báo cáo thực tập chuyên môn này, tôi xin cảm ơn TrườngĐHGTVT TP Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện và giúp đỡ trong thời gian vừa qua,đồng thời, xin cảm ơn quý thầy cô đã cung cấp những kiến thức chuyên môn cầnthiết.Mặc dù cố gắng nhưng do còn thiếu kinh nghiệm thực tế nên vẫn còn nhiều thiếusót, kính mong được sự chỉ bảo hướng dẫn thêm của quý thầy cô.SVTH: LÊ THÀNH TUẤNMSSV: 1151110221Page 1BÁO CÁO THỰC TẬP CHUYÊN MÔNA. HỆ THỐNG1. Nhiệm vụ:LÀM MÁTKhi động cơ nóng lên, hệ thống làm mát sẽ truyền nhiệt ra không khí xung
Xem thêm

34 Đọc thêm

Báo cáo thực tập cơ khi: tìm hiểu về động cơ Trường ĐHSPKT Hưng Yên

Báo cáo thực tập cơ khi: tìm hiểu về động cơ Trường ĐHSPKT Hưng Yên

Ι. Các bộ phận tĩnh của động cơ. 1. Nắp máy 1.1. Vai trò: Là nắp xy lanh, cùng với xy lanh, piston tạo thành buồng cháy nhiều bộ phận của động cơ được lắp trên đó như bugi, vòi phun, cụm xupap...còn có các đường nạp thải, các đường dầu bôi trơn, đường nước làm mát... 1.2. Điều kiện làm việc: Nhiệt độ cao, áp suất khí thể lớn, bị ăn mòn hóa học bởi các chất trong sản phẩm cháy 1.3. Vật liệu: Động cơ diezel làm mát bằng nước thường đúc bằng gang hợp kim, làm mát bằng gió thường chế tạo bằng hợp kim nhôm Động cơ xăng thường dùng hợp kim nhôm với ưu điểm nhẹ, tản nhiệt tốt 1.4. Kết cấu: Tùy thuộc loại động cơ,kiểu buồng cháy. Trên nắp máy có bố trí các đường nạp, thải, cụm xupap, bugi(vòi phun)... 1.5. Hiện tượng hư hỏng và sửa chữa 1.5.1. Hư hỏng, nguyên nhân và tác hại: Nắp máy làm việc trong điều kiện chịu nhiệt độ cao, áp suất lớn, lại phân bố không đều. Do đó thường bị những hư hỏng như cong vênh, rạn nứt ,vùng buồng đốt bị cháy rỗ, bám muội than, khoang chứa nước bị ăn mòn do trong nước có lẫn nhiều tạp chất ăn mòn. Các mối ren bị hỏng do tháo lắp không đúng kỹ thuật. Các đệm bị hỏng do làm việc lâu ngày. Tất cả các hư hỏng trên gây ra hiện tượng dò hơi, lọt nước, chảy dầu và làm giảm tỷ số nén của động cơ. Nước lọt vào buồng cháy gây nên vỡ piston, sự cố cho cơ cấu trục khuỷu – thanh truyền. Muội than bám trên buồng cháy gây kích nổ, muội than rơi xuống làm cào xước xilanh, bó kẹt piston,xecmang. Như vậy động cơ bị giảm công suất nếu nặng thì động cơ có thể không làm việc được.
Xem thêm

Đọc thêm

Bài 8 trang 166 sgk vật lý 10

BÀI 8 TRANG 166 SGK VẬT LÝ 10

Tính khối lượng riêng của không khí 8. Tính khối lượng riêng của không khí ở đỉnh núi Phăng-xi-păng cao 3 140 m. Biết rằng mỗi khi lên cao thêm 10 m thì áp suất khí quyển giàm 1 mmHg và nhiệt độ trên đỉnh núi là 20C. Khối lượng riêng của không khí ở điều kiện chuẩn (áp suất 760 mmHg và nhiệt độ 00C) là 1,29 kg/m3 . Bài giải: + Trạng thái 1: p1 = (760 – 314) mmHg T1 = 273 + 2 = 275 K V1 = Trạng thái 2: p0 = 760 mmHg T0 = 273 K V = Phương trình trạng thái: = => = => p1 = = p1 = 0,75 kg/m3            
Xem thêm

2 Đọc thêm

5 BÍ QUYẾT GIẢM HÓA ĐƠN TIỀN ĐIỆN

5 BÍ QUYẾT GIẢM HÓA ĐƠN TIỀN ĐIỆN

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Mùa hè đến là lúc thời tiết trở nên vô cùng oi nóng. Để đáp ứng nhu cầu làm mát, đồ dùng làm mát được các gia đình sử dụng hết công suất. Thế nhưng, trái ngược với những giây phút được thư giãn mát mẻ, bạn sẽ phải “nhăn nhó” khi nhìn thấy hóa đơn tiền điện mỗi cuối tháng. Vậy, có cách nào vừa làm mát vừa tiết kiệm tiền điện cho bạn trong mùa hè không? Cùng tìm hiểu 5 bí quyết tuyệt vời sau giúp bạn giảm thiểu tối đa chi phí tiền điện nhé. 1. Thay bóng đèn chiếu sáng Bóng đèn sợi đốt huỳnh quang hay CFL có thể tiết kiệm rất nhiều điện năng và giảm thiểu chi phí hóa đơn tiền điện hàng tháng cho bạn. Các sản phẩm bóng đèn CFL cung cấp ánh sáng mạnh như các loại bóng đèn chiếu sáng thông thường nhưng nó chỉ sử dụng 1/5 – 1/3 lượng điện. Tuổi thọ của bóng CFL cao hơn tới 15 lần so với các loại bóng đèn thông thường. Sử dụng sản phẩm bóng CFL giúp bạn tiết kiệm khoảng 5 lần chi phí tiền điện.   Bóng đèn huỳnh quang và CFL tiết kiệm điện năng.   Tuổi thọ của bóng CFL cao hơn 15 lần so với các loại bóng chiếu sáng thông thường. Cũng phải nói thêm rằng, việc thay đổi bóng đèn chiếu sáng cũng chưa thể giảm hết chi phí bạn phải bỏ ra để trả tiền điện. Vì, lượng điện năng tiết kiệm được sẽ dành cho việc sử dụng các sản phẩm làm mát khác như điều hòa nhiệt độ… 2. “Niêm phong” ngôi nhà Không khí lạnh thoát ra qua những lỗ hổng dù là rất nhỏ, vì thế, hạn chế những chỗ hở có thể giúp bạn tiết kiệm tiền điện. Hãy kiểm tra các cửa ra vào và cửa sổ khi bạn sử dụng điều hòa nhiệt độ để đảm bảo rằng không khí lạnh không bị thoát ra ngoài một cách lãng phí. Bạn có thể lấp các lỗ hổng, các rãnh hở trên cửa bằng những miếng cao su dẻo có bán ở các cửa hàng đồ điện gia dụng.   Cao su dẻo, keo dính bít kín các khe hở, lỗ hổng trên tường, cửa sổ, cửa ra vào.   Hoặc sử dụng miếng đệm cao su để tránh không khí lạnh bị thoát ra ngoài. 3. Vệ sinh bộ lọc của máy  điều hòa nhiệt độ Sau thời gian dài sử dụng, bụi bẩm sẽ bám lại, cáu bẩn trong bộ lọc của máy điều hòa nhiệt độ. Không khí không thể lưu thông tốt khi bộ lọc bị bẩn. Vì thế, vệ sinh bộ lọc hoặc thay thế bộ lọc mới có thể giữ nhiệt độ trong nhà bạn mát hơn. Cùng với đó, nó cũng giúp bạn tiết kiệm được kha khá tiền điện.   Bộ lọc của máy điều hòa nhiệt độ nên được vệ sinh hàng tháng để lọc không khí tốt hơn. 4. Tháo, rút các đồ điện tử khi không sử dụng Bạn nên biết về cơ chế tiêu thụ điện của các thiết bị điện trong gia đình, cách này giúp hóa đơn tiền điện của bạn không bị cộng thêm vài con số. Đối với các thiết bị điện, ngay khi được cắm vào ổ điện là chúng sẽ sử dụng điện năng. Các giải quyết đơn giản nhất chính là tháo hoặc rút hết các thiết bị điện trong nhà khi không dùng đến.   Nên tháo, rút các thiết bị điện khi không sử dụng.   5. Không sử dụng các sản phẩm làm mát Mặc dù các sản phẩm làm mát như máy điều hòa không khí, quạt đá, máy thông gió… luôn cám dỗ bạn trong mùa hè, nhưng hãy tập thói quen sử dụng quạt, tắt hết các bóng đèn vào ban ngày. Thường xuyên đóng kín cửa và tắt điện cũng giúp ngôi nhà bạn mát mẻ hơn. Khi ra khỏi nhà hay ra khỏi phòng, đừng quên tắt hết các thiết bị làm mát. Điều này sẽ giúp bạn giảm được chi phí tiền điện rất nhiều.   Cố gắng không sử dụng các thiết bị làm mát quá nhiều vào mùa hè.   Sử dụng quạt, thường xuyên đóng kín cửa và tắt điện cũng giúp ngôi nhà bạn mát mẻ hơn. Kết: Bằng cách tiết kiệm điện năng ở một không gian nhỏ, bạn có thể giúp chính mình không sử dụng thiết bị làm mát ở nhiều phòng trong nhà. Mỗi khi không ở nhà, luôn chắc chắn rằng tất cả các thiết bị điện đều được tắt. Nó không thể giúp bạn cắt giảm chi phí tiền điện đáng kể, nhưng quan trọng là nó giúp bảo vệ ngôi nhà của bạn khỏi những sự cố đáng tiếc như chập điện, cháy nổ… Hãy sử dụng những bí quyết hữu ích này để giúp bạn và gia đình luôn được hưởng không khí mát mẻ và tránh được nguy cơ “viêm màng túi” vào cuối tháng.
Xem thêm

2 Đọc thêm

BAI 24 CO CAU PHAN PHOI KHI 6

BAI 24 CO CAU PHAN PHOI KHI 6

NhiÖt liÖt chµo mõngCÁC THẦY, CÔ GIÁO ĐẾN DỰ GIỜ MÔNCÔNG NGHỆ LỚP 11A7Giáo viên thực hiện: NGUYỄN TRỌNG QUYẾNTrường THPT Gia Bình số 1Bài 24I/ Nhiệm vụ và phân loại1/ Nhiệm vụ:Đóng mở các cửa nạp, thải đúng lúc để nạp đầykhí mới vào và thải sạchkhí chocháybiếtra ngoàixi lanhEm hãykhi độngcơ củađộng cơlàm việc các cửa nạp, thải mởEmhãyliêntụcnêuhay theo từng quá2/ Phân loại:nhiệm

12 Đọc thêm

8 sai lầm nhà nào cũng mắc khi dùng điều hòa

8 SAI LẦM NHÀ NÀO CŨNG MẮC KHI DÙNG ĐIỀU HÒA

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} 1. Chọn sai kích thước điều hòa Nhiều người cứ nghĩ rằng kích thước của máy điều hòa càng lớn thì càng mát nhanh, mát lâu. Tuy nhiên, dung tích của máy quá lớn so với diện tích căn phòng sẽ khiến gia đình lãng phí một lượng điện năng rất lớn. Do vậy, bạn nên hỏi các chuyên gia điện máy tư vấn để lựa chọn cho nhà một chiếc điều hòa đúng kích cỡ - vừa nhanh mát mà vẫn tiết kiệm điện. Thông thường, những căn phòng tầng thấp hoặc ở vị trí ít nắng chỉ cần điều hòa dung tích bé hơn so với các căn phòng 'hứng' nhiều nắng. 2. Lắp đặt máy điều hòa ở góc tường nóng Rất nhiều nhà lắp điều hòa ở bức tường nóng nhất trong phòng. Mọi người cho rằng như vậy căn phòng sẽ nhanh chóng giảm nhiệt. Tuy vậy, quan niệm như vậy hoàn toàn sai lầm khi máy điều hòa phải chạy quá tải khi phải làm mát bức tường quá nhiệt trước rồi mới đến không khí trong phòng. Do vậy, chính xác bạn nên lắp điều hòa ở những góc râm để nhiệt độ trong phòng giảm nhanh rồi mới từ từ mát những bức tường xung quanh. Như vậy, nhiệt độ trong phòng sẽ mát nhanh, mát lâu.   3. Không bảo trì máy điều hòa thường xuyên  Không ít gia đình thường bỏ qua bước bảo trì định kì vì thấy máy điều hòa hoạt động vẫn trơn tru, không có tiếng ồn. Tuy vậy, máy điều hòa cần được vệ sinh và thay bộ lọc 3 tháng/lần. Dây làm mát cũng cần được kiểm tra thường xuyên để tránh rò rỉ. Nếu không làm sạch định kì, bụi bẩn bám lâu ngày sẽ khiến nóng máy và lâu dần ảnh hưởng tới hoạt động của máy điều hòa. 4. Mở máy điều hòa cả ngày Mùa hè oi bức khiến bạn bật máy điều hòa liên tục trong suốt cả ngày. Tuy nhiên, điều này ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe khi ở lâu trong phòng kín bật điều hòa. Bạn chỉ nên ngồi trong phòng điều hoà không quá 2 giờ. Khi ra khỏi phòng nên mở cửa to và đứng ở cửa vài phút để cơ thể kịp thích nghi với không khí mới. Ngoài ra, nếu nằm ngủ máy lạnh thì lưu ý càng về đêm, cơ thể thiếu sự vận động, dễ bị cảm lạnh nên bạn cần điều chỉnh máy lạnh tăng nhiệt độ lúc đêm khuya.   5. Để nhiệt độ điều hòa quá thấp  Bật máy điều hòa ở nhiệt độ quá thấp khiến bạn dễ bị cảm do chênh lệch nhiệt độ quá cao giữa bên trong và ngoài nhà. Đặc biệt, người già và trẻ nhỏ với sức đề kháng yếu rất dễ đau đầu, viêm họng, ngạt mũi,...Do vậy thông thường, nhiệt độ điều hoà khoảng 25oC là tốt nhất. Bạn cũng nên chú ý để tránh thay đổi nhiệt độ đột ngột. Không nên bước vào phòng điều hòa ngay khi vừa từ ngoài nắng về hay vừa vận động mạnh ra nhiều mồ hôi. Trước khi ra khỏi phòng, bạn nên đứng ở cửa mở to một vài phút để cơ thể kịp thích nghi với không khí nóng bên ngoài. Tuy vậy, cũng cố gắng tránh ra ra vào vào liên tục để hạn chế cơ thể bị xáo trộn do phải thường xuyên điều chỉnh để thích ứng với nhiệt độ.   6. Sử dụng quạt trong nhà Những loại điều hòa nhiệt độ hiện nay đều có chế độ hút mùi và làm sạch không khí. Do vậy, khi đang bật điều hòa nhiệt độ nên hạn chế bật các loại quạt hút mùi, quạt thông gió,...để tránh đẩy không khí mát ra bên ngoài khiến tiêu hao nhiều năng lượng. 7. Đóng kín cửa cả ngày Nhiều gia đình đóng kín cửa suốt cả ngày để giữ không khí mát trong nhà. Tuy nhiên, các chuyên gia cho biết không khí trong phòng điều hòa dễ ô nhiễm hơn bên ngoài gấp hơn ba lần. Việc đóng kín cửa khiến bụi bẩn, vi khuẩn tích tụ trong không gian không thoát ra bên ngoài được. Do vậy, khi chiều tối mát mẻ, bạn có thể mở cửa sổ, bật quạt một lúc để thông gió trong nhà. 8. Tắt điều hòa khi phòng đã đủ lạnh Nhiều người tắt máy điều hòa ngay khi phòng vừa đủ mát và bật lại khi nóng để tiết kiệm điện. Tuy nhiên, ít ai ngờ điều này gây ra tác dụng ngược lại. Máy điều hòa cần tiêu thụ rất nhiều điện năng khi khởi động. Do vậy, thay vì bật xuống 16oC rồi tắt ngay sau vài phút thì bạn nên để ổn định ở ngưỡng 25oC trong thời gian dài.
Xem thêm

2 Đọc thêm

8 MẸO LÀM MÁT CHO GIA ĐÌNH KHÔNG CÓ ĐIỀU HÒA

8 MẸO LÀM MÁT CHO GIA ĐÌNH KHÔNG CÓ ĐIỀU HÒA

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Khi nhiệt độ lên đến 38-40 độ vào ban ngày thì quả thật là ác mộng khi trong nhà không lắp đặt máy điều hòa. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn rất nhiều gia đình không có đủ điều kiện để sắm sửa cho căn phòng một chiếc máy làm mát hoặc chẳng may điều hòa bị hỏng. Dưới đây là 10 cách để cản bớt sức nóng ngột ngạt trong căn nhà của bạn. 1. Thay đổi luân phiên tốc độ của quạt trần Thay đổi tốc độ của quạt nhanh chậm khác nhau giúp luồng không khí trong phòng được lưu thông đều và nhanh hơn, tạo ra làn gió mát. Nếu nhà có quạt cây thì nên bật chế độ xoay để thổi khí nóng ra ngoài cửa sổ.   2. Không để ánh sáng lọt vào trong nhà Đóng kín rèm, cửa sổ,...để cho ánh nắng không tràn vào trong nhà. Phương pháp này có thể làm giảm nhiệt độ bên trong ngôi nhà lên tới gần 10 độ. 3. Tự chế quạt phun sương Tạo hiệu ứng phun sương bằng cách đặt một chậu đá trước quạt. Bạn nên đặt nghiêng chậu đá để quạt thổi trực tiếp vào băng. Khi không khí va chạm vào đá băng sẽ tạo hơi nước mát làm giảm nhiệt độ không khí trong phòng.   4. Không đóng cửa phòng Đừng giam mình trong một chiếc hộp vuông bé tẹo. Hãy mở thông tất cả các cửa trong nhà để không khí di chuyển thông suốt trong các phòng. Bạn sẽ cảm thấy bớt bí bách và dễ thở hơn nhiều. 5. Chuẩn bị giường mát Trải chiếu trúc, chiếu điều hòa thay vì nằm nệm bông vào mùa hè. Trước khi đi ngủ, phun nước mát trước khi lên giường ngủ vào ban đêm hoặc dùng khăn lạnh lau một lượt lên bề mặt chiếu.  6. Ngủ một mình Đối tác của bạn có thể ngúng nguẩy nhưng chẳng ai thích ôm ấp vào thời điểm này để rồi mồ hôi toát hết ra. 7. Hạn chế sử dụng điện Hãy hạn chế sử dụng các đồ điện tỏa nhiệt. Tắt các loại đèn không cần thiết, tránh sử dụng lò nướng,...vào những ngày trời nóng 39-40 độ vì chỉ càng làm nhiệt độ trong nhà tăng cao. Ngoài ra, thay bóng đèn sợi đốt thành CFL cũng giảm kha khá hóa đơn tiền điện.    8. Ngủ trên sàn Không khí nóng sẽ bốc hơi lên trên  nên càng nằm gần sàn nhà thì càng mát. Thậm chí, nếu không phiền thì bạn có thể mắc võng nằm gần sát sàn nhà để không khí lưu thông cả trên, cả dưới lúc đang ngủ. Chiếc võng đu đưa nhẹ nhàng khiến bạn từ từ chìm vào giấc ngủ mà quên đi cái nóng đang hiện hữu.  
Xem thêm

2 Đọc thêm

bao cao tua bin nha may thuy dien

bao cao tua bin nha may thuy dien

Trong quá trình đấu tranh sinh tồn và cải tạo thế giới tự nhiên, loài người đã sớm biết sử dụng các động cơ thủy lực: từ những bánh xe nước dùng vào việc kéo máy xay xát nông sản đến phát triển chúng lên thành những turbin thuỷ lực hiện đại kéo máy phát điện để sản xuất ra điện năng ngày nay. Để sử dụng một cách có hiệu quả năng lượng dòng nước đặc trưng bởi tổ hợp cột nước và lưu lượng khác nhau cần phải có đủ những loại turbine khác nhau về cấu tạo, kích thước cũng như quá trình làm việc của chúng.Dựa vào việc sử dụng dạng năng lượng trong cơ cấu bánh xe công tác (BXCT) của turbine người ta chia turbine thủy lực ra làm hai loại: turbine xung kích và turbine phản kích. Trong các loại lại chia ra các hệ và các kiểu turbine.Viết phương trình Becnully cho cửa vào (chỉ số1) cửa ra (chỉ số2) của bánh xe công tác turbine, ta có năng lượng viết cho một đơn vị trọng lượng nước như sau:H=(Z1Z2) + Z1Z2 : là thành phần năng lượng do chênh lệch vị trí tạo ra, gọi là vị năng; : là áp năng; gộp vị năng và áp năng thành thế năng ( T ). : là động năng ( Đ ).Từ những thành phần năng lượng trên ta có những loại turbine thuỷ lực sau Turbine chỉ sử dụng phần động năng để làm quay BXCT gọi là loại turbine xung kích. Loại này còn gọi là turbine dòng chảy không áp vì dòng chảy trong môi trường khí quyển nên chuyển động của dòng tia trên cánh BXCT là chuyển động không áp, áp suất ở cửa vào và cửa ra như nhau và bằng áp suất khí trời. Turbine xung kích đuợc chia ra các hệ sau:+ Hệ turbine xung kích gáo (turbine Penton);+ Hệ turbine xung kích kiểu phun xiên;+ Hệ turbine xung kích hai lần (turbine Banki). Turbine sử dụng cả thế năng và động năng, trong đó phần thế năng là chủ yếu gọi là loại turbine phản kích . Loại này còn gọi là turbine dòng chảy có áp, áp lực dòng chảy ở cửa vào của BXCT luôn lớn hơn áp lực ở cửa ra của nó. Dòng chảy qua TB là dòng liên tục điền đầy nước trong toàn bộ máng cánh. Loại này được chia ra các hệ sau:
Xem thêm

Đọc thêm

Cùng chủ đề